BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2)

Đăng bởi hoangtran204 on 13/02/2009

Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!



TIME

————————————————————————————————————

Một cuộc chiến

của những người

anh em họ hàng

cáu giận nhau


Thứ Hai, ngày 2-3-1979

(Tiếp theo số 65)


Mối căng thẳng gia tăng dọc theo tuyến biên giới với Việt Nam

Trung Quốc đưa ra luận điệu rằng các lực lượng vũ trang của Hà Nội đã xâm nhập vào lãnh thổ của mình 1.100 lần. (Bên phía ) Việt Nam cáo buộc Trung Quốc về các hành động xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam gần như là hàng ngày.

Những lời buộc tội và phản công được làm sôi nổi thêm bằng một loạt pháo kích nặng nề và bắn qua bắn lại bằng các súng nhỏ, chưa kể các vụ bắt cóc, ăn trộm gia súc và cắm cọc tre có tẩm thuốc độc. Trong việc quãng cáo ầm ỉ về chính trị dành cho cuộc xâm lược của họ, Trung Quốc đã nhấn mạnh thêm những tình huống xấu trên tuyến biên giới cho bất cứ ai muốn lắng nghe – tại Liên hiệp quốc, trong những trao đổi ngoại giao, và trong một đống của các cuộc thông báo chính thức. Bắc Kinh còn quả quyết rằng Việt Nam đang huy động cho cuộc chiến bằng cách bắt quân dịch các tân binh với một tốc độ vượt quá thời cao điểm của cuộc chiến chống lại chế độ Sài Gòn và Hoa Kỳ, và bằng cách gọi tái ngũ 200.000 cựu bộ đội.

Vào một ngày trước khi nổ ra cuộc chiến, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng tư lệnh Văn Tiến Dũng và các thành viên nội các khác đã bay tới Phnom-Penh để ký kết một hiệp ước hữu nghị với chế độ mới của Heng Samrin. Sự vắng mặt của các giới chức chóp bu của Việt Nam tại Hà Nội có thể đã giúp quyết định yếu tố thời gian cho cuộc tấn công của Bắc Kinh.

Đối với nhiều nhà Hán học, cuộc xâm lăng của Bắc Kinh là bức tranh minh hoạ khác cho “tâm lý Vạn lý Trường thành” của Trung Quốc: nỗi lo sợ luôn ám ảnh của họ về các cuộc xâm lấn, thực sự hoặc do tưởng tượng, chống lại vùng biên giới của họ. Trạng thái tâm lý (cho rằng mình đang) bị vây hãm này đã thúc đẩy Trung Quốc bước vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên 1953. Tâm lý cho rằng mình bị vây hãm đó đã và đang góp phần làm bùng nổ các cuộc xung đột theo chu kỳ giữa quân đội Trung Quốc và Liên Xô dọc theo các con sông Ussuri và Amur. Trạng thái tâm lý ấy cũng là lý do đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc chống lại Ấn Độ năm 1962.

Trong cuộc tấn công đó, quân Trung Quốc đã thọc sâu vào lãnh thổ Ấn Độ 160 km trên một mặt trận rộng lớn song đã rút lui với vẻ tử tế một tháng sau đó, đã được xem xét bởi một số người như là một hành động tập dượt trước theo đúng kế hoạch chi tiết (trước khi xúc tiến) hành động trừng phạt hiện nay [dành cho Việt Nam].

Bằng việc xâm lăng Việt Nam, Bắc Kinh rõ ràng đã có khuynh hướng lấy lại một vài thanh thế đã bị mất và chứng minh họ không phải là con cọp giấy.

Cuộc xâm lăng có lẽ cũng có một mục tiêu chiến thuật: thu hút các lực lượng quân sự của Việt Nam ra khỏi Cambodia cốt để làm nhẹ bớt sức ép lên các lực lượng Pol Pot còn sót lại.

Thế nhưng những nguy cơ liên quan trong cuộc xâm lăng Việt Nam là lớn hơn nhiều so với những gì liên quan trong cuộc chiến tranh biên giới với Ấn Độ. Ngoài một cú trả đũa có khả năng xảy ra của Liên Xô có thể đến bất cứ lúc nào, Trung Quốc đã phải trải qua một bước thụt lùi về chính trị trong con mắt thế giới. Người Nhật, từng gia nhập cùng Trung Quốc trong sự phản đối công khai về “quyền bá chủ” khi họ ký một hiệp ước với Bắc Kinh vào năm ngoái, đã lấy làm khó chịu khi cho rằng Trung Quốc rõ ràng là đang thực hành mộng bá chủ mà không cần che đậy của riêng họ.

Một số nhà làm chính sách của Mỹ đã lấy làm hài lòng một cách thô thiển trước cuộc trình diễn trùng hợp của năm quốc gia Cộng sản – Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Cambodia và Lào – đã bị cuốn hút vào một mối hận thù gia tộc đẫm máu. Thế nhưng chẳng có gì nhiều để hài lòng. Hình ảnh sáng ngời của Trung Quốc như là một người bạn mới có khuynh hướng dốc lòng cho việc xúc tiến hoà bình và ổn định tại châu Á đang bất ngờ bị hoài nghi một cách đáng hổ thẹn.

Không thoát khỏi chuyện ấy, (uy tín của) Việt Nam đã và đang giảm xuống nhiều hơn nữa. Sự bành trướng của Hà Nội sang Lào và cuộc xâm chiếm của Việt Nam vào Cambodia đã phá hủy nhiều hình ảnh phổ biến của Việt Nam trong Thế giới thứ Ba như là một quốc gia nhỏ bé can đảm chống chủ nghĩa thực dân và đang lộ dần ra như một chính- quyền-thành-phố-Spata-của- nước Hy- lạp-nổi-tiếng-có-quân-đội –chuyên-đi-đánh-nhau của phương Đông trong thế kỷ 20 đang có khuynh hướng trở thành tên cảnh sát và kẻ thống trị của tất cả những quốc gia nào mà họ có thể thâu tóm được.

Có một điều bí ẩn là: Làm thế nào mà người Việt Nam có được một ước muốn đánh nhau mạnh mẻ như vậy sau hơn 30 năm chiến tranh triền miên? Một phần của câu trả lời xuất phát từ người có quyền hành cao cấp trong ban lãnh đạo tập thể kế tục Hồ Chí Minh.

Bộ chính trị 11 người được chia làm hai nhóm, nhóm những nhân vật thực dụng muốn tập trung vào việc tái xây dựng đất nước, và những người theo đường lối cứng rắn muốn làm một cuộc phiêu lưu quân sự, bất chấp những gian khổ chết chóc và thương vong có liên quan. Những nhân vật cứng rắn, được dẫn dắt bởi ông Trùm của Đảng ủng hộ Liên Xô Lê Duẩn và Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, đang nắm quyền kiểm soát.

Theo lời một nhà ngoại giao quen biết với Hà Nội từ lâu thì: “Các nhà lãnh đạo Việt Nam tự coi mình như là những người đại diện của đấng cứu tinh của hành động cách mạng trong sáng nhất trên thế giới. Họ bị ảnh hưởng, nếu như bạn chấp nhận, bởi một thói kiêu ngạo quyền lực.”

Được kết hợp với thói kiêu ngạo là sự khuyến khích của Moscow, quốc gia đã bắt đầu chiếm cái khoảng trống quyền lực được để lại từ sự rút lui của Hoa Kỳ.

Có một số bào chữa nho nhỏ cho việc biện minh rằng Hoa Kỳ có thể đã và đang dồn Việt Nam vào trong vòng ôm ấp của Liên Xô vào mùa thu năm ngoái 1978 khi họ từ chối những nỗ lực nhún nhường của Hà Nội muốn hòa giải. [1]

Tuy nhiên, những căn nguyên phức tạp của Cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam cũng đã và đang bén rễ từ trong mối oán thù lịch sử giữa hai dân tộc anh em họ hàng này, chuyện nầy có nguồn gốc từ 21 thế kỷ trước liên quan tới sự đô hộ vương quốc Nam Việt của người Trung Hoa trên vùng Châu thổ Sông Hồng.

Vào năm 39 trước Công nguyên, hai chị em nữ Vương Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy kéo dài bốn năm chống lại Vương quyền Trung Hoa; một cuộc phản công dữ dội đã phá tan các đội quân người Việt tại Sông Đáy. Thay vì đầu hàng quân Trung Hoa, hai nữ vương nầy đã nhảy xuống sông tự vẫn – một cuộc tuẫn tiết vẫn còn được vinh danh bởi các phụ nữ Việt Nam vào mỗi tháng Ba hàng năm vào Ngày lễ Hai Bà Trưng.

Những cuộc nổi dậy khác có quy mô lớn vào những thế kỷ thứ 3, 6 và 10, đã giúp những người Việt xây dựng một tinh thần thượng võ, thứ cần thiết để tránh khỏi các cuộc tấn công từ các dân tộc Thái, Lào ở phía tây và dân tộc Chăm ở phía nam.

Hơn mười mấy cuộc chiến tranh nữa và một cuộc chiếm đóng thô bạo khác của người Trung Quốc vào đầu thế kỷ 15 đã tái củng cố cho tinh thần độc lập của nước Việt và bừng cháy tinh thần chống đối và thù địch hướng tới người Trung Quốc trong tâm trí họ rất nhiều.

Trước cuộc Đệ nhị Thế chiến, nước Trung Hoa Dân quốc đã cho những người Việt Nam chống Pháp lánh nạn chính trị nương náu, thế nhưng ngay cả sự quan tâm này cũng không xóa bỏ được tình trạng thù địch.[2]

Trong cuộc chiến kế tiếp chống lại người Pháp, ông Hồ Chí Minh đã được cung cấp sự trợ giúp từ quân đội Cộng sản có nhiều lợi thế hơn của Mao Trạch Đông, sự hổ trợ nầy có khả năng mang lại chiến thắng nhanh chóng. Nhưng ông Hồ đã khước từ [3]. Sau đó, với lời lý luận ngắn gọn, ông đã giải thích lý do vì sao ông ưa thích tự chiến đấu trong cuộc chiến tranh du kích kéo dài: “Chúng ta thà ngửi phân của người Pháp trong một thời gian ngắn còn hơn là ăn cứt của Trung Quốc suốt cả đời.”

Cuộc trình diễn vào tuần trước của hai cường quốc Cộng sản khổng lồ, Trung Quốc và Liên Xô, từ giọng lưỡi của mỗi bên đều đang ở sát bên bờ vực của một cuộc chiến tranh ác liệt có thể xảy ra – trong khi Hoa Kỳ, kẻ thù chung của họ, đang chờ đợi một cách thụ động – cận kề bên một Hí trường Ngu xuẩn toàn cầu.

Sau một số bối rối ban đầu, các phong trào cộng sản quốc tế đang ngày càng bị bể ra từng mãnh đã quay ngoắt một cách mạnh mẻ chống lại Trung Quốc. Tại Đông Âu, nước Nam Tư độc lập vẫn duy trì bản chất trung lập theo lệ thường của mình. Maverick của Rumania đã khẩn khoản đề nghị cả hai bên “chấm dứt ngay các hành động quân sự.”

Các nước còn lại trong khối Hiệp ước Warsaw, có thể đoán trước được, đã ủng hộ Moscow trong việc kết tội như những gì mà Bulgaria đã gọi là “những hành động hiếu chiến và mạo hiểm” của Trung Quốc. Thậm chí Albania đã phá vỡ tình trạng cách ly từ lâu bằng việc chỉ trích người đồng minh Trung Quốc vừa mới trở nên xa lạ gần đây của mình.

Tại Pháp, Ý và Tây Ban Nha, các đảng Cộng sản Tây Âu đều cùng lên tiếng chống lại Trung Quốc, với một sự khác biệt không đoán được: Như một người nhắc nhở về quyền được tự trị đối với Moscow, Thủ lĩnh Đảng Cộng sản Tây Ban Nha Santiago Carrillo đã so sánh hành động gây hấn của Trung Quốc chống lại Việt Nam với hành động xâm lược của Liên Xô đối với Tiệp Khắc.

Khắp châu Mỹ Latin, những nhóm cánh tả đã cất cao dàn đồng ca chống Trung Quốc. Hàng ngàn sinh viên đã xuống đường phố Paseo de la Reforma của Thành phố Mexico với những biểu ngữ :Việt Nam Vạn Tuế – Nước Lãnh đạo của cuộc Cách Mạng Thế giới].

Cuộc xung đột giữa những nước láng giềng Cộng sản đã có một tác động làm tan vỡ ảo tưởng của một số giới trí thức tả khuynh Âu châu. Trong một bài báo viết cho tờ Corriere della Sera của Milan, Nhà báo Giuliano Zincone gợi lại việc ông đã tuần hành phản đối sự có mặt của người Mỹ ở Việt Nam và đã đóng góp tiền bạc cho Việt Cộng ra sao. Trung Quốc đã từng ở bên phe của Việt Nam, cũng như Che [Ghevara], cùng đoàn kết trong cuộc đấu tranh.” Nhưng rồi đã xảy ra rối loạn ở Bắc Kinh: quần chúng công kích Bè lũ Bốn tên, sự hồi sinh của “người mê chủ nghĩa tư bản” kỳ cựu Đặng Tiểu Bình. Bằng việc xâm chiếm Cambodia, Việt Nam đã phản bội những nguyên tắc của mình. “Giờ đây cái vòng tuần hoàn đã khép lại,” Zincone viết. “Nước Trung Hoa lịch thiệp, vững chắc, có trách nhiệm, đã gửi những chiếc xe tăng tới để “trừng phạt” người anh em cũ của mình, với nguy cơ châm ngòi một cuộc mâu thuẩn lan tỏa. Chúng ta đang bắt đầu từ con số không. Với những đứa trẻ mồ côi.”

Với một lợi thế tuyên truyền hiển nhiên như thế, Liên Xô vào cuối tuần này đã hạn chế một cách chủ yếu cuộc phản công của họ bằng hàng loạt ngôn từ của mình chống lại Trung Quốc. Tờ Pravda đã bàn luận về “sự phẫn nộ và căm giận” của Liên Xô trước cuộc xâm lăng của Trung Quốc.

Không đưa ra một lời đe doạ rõ ràng nào, Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô Ustinov đã tái khẳng định một lần nữa rằng Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết sẽ tôn trọng những nghĩa vụ của mình theo hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Việt Nam.” Báo chí và đài phát thanh nhà nước này cũng đã buộc tội Hoa Kỳ về thái độ đồng lõa trong cuộc tấn công của Trung Quốc.

Nhấn mạnh rằng cuộc xâm lược của Trung Quốc đã được phát động “hầu như vào ngày tiếp theo” sau chuyến trở về của Đặng Tiểu Bình từ Washington, tờ Pravda đã quả quyết rằng “không có những biểu hiện tuyên truyền bóp méo sự thật và sự thay đổi nào sẽ giúp che đậy được trách nhiệm của những nhóm lãnh đạo Hoa Kỳ đã giúp đỡ, trực tiếp hoặc gián tiếp, cho các hành động của Bắc Kinh.”

Cuộc tấn công vào Hoa Kỳ là hết sức vô lý, song sự giận dữ của Liên Xô là có thể hiểu được và có thể đoán trước được. Mối quan hệ mới giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc không làm cho Liên Xô vui vẻ.

Chừng nào mà các lực lượng quân sự của Việt Nam còn có thể tự cầm cự được, thì người Liên Xô hầu như sẽ có lẻ là ưa thích thu thập những lợi ích của việc tuyên truyền có kiềm chế của mình.

Mối nguy hiểm là nếu như quân Trung Quốc thúc đẩy cuộc chiến nầy đi quá xa, di chuyển về hướng Hà Nội hoặc Hải Phòng hay tỏ ý định sẽ trụ lại trên phần đất của Việt Nam, thì bản thân người Liên Xô sẽ không muốn thể hiện là mình yếu thế và sẽ cảm thấy bắt buộc phải hành động. Nếu vậy, thì họ sẽ làm gì? Các chuyên gia của chính phủ cho là Liên Xô có nhiều lựa chọn. Họ có thể gia tăng việc tái cung cấp cho quân đội Việt Nam với mức độ lớn, phái đi với số lượng đông đảo các cố vấn quân sự, hoặc thậm chí tham gia hoạt động quân sự trực tiếp tại Việt Nam. Đáng ngại hơn nữa, là họ cũng có thể đe doạ tới cảm giác của Bắc Kinh về an ninh bằng cách di chuyển quân dọc theo tuyến biên giới Liên Xô-Trung Quốc dài 4.500 dặm, với 44 sư đoàn Hồng Quân đang sẵn sàng giao chiến.

Quân đội Liên Xô có thể đánh vào những địa hình giá lạnh, không thể ở được tại Sinkiang, song có một mục tiêu gần như thích hợp hơn là Manchuria (Mãn Châu), khu trung tâm công nghiệp của Trung Quốc.

Các nhà phân tích không tin một cuộc tấn công bằng không lực vào cơ sở hạt nhân của Trung Quốc tại vùng Lop Nor như là một lựa chọn “ngày tận thế”, một lựa chọn có lẽ được ưa thích bởi những sĩ quan cao cấp của Moscow, chứ không phải bởi những người trong Bộ chính trị Liên Sô.

Hoa Kỳ bị loại ra một bên với vai trò là nhà quan sát ngoài cuộc, cũng không có nhiều ảnh hưởng lên việc tham chiến. Lập trường của Chính quyền Mỹ là cuộc xâm nhập của Trung Quốc là một hậu quả trực tiếp từ hành động xâm chiếm Cambodia của Việt Nam được Liên Xô khuyến khích, mà hành động này, lần lượt, lại được thừa nhận như là phản ứng của Moscow đối với việc bình thường hóa các quan hệ Trung Quốc- Mỹ.

Chính sách của Hoa Kỳ đặt cơ sở trên ý niệm rằng quốc gia này không nên trở thành dính líu vào một cuộc xung đột giữa các quốc gia Cộng sản xa xôi. Bởi vậy, với một thái độ công bằng, Washington đã hối thúc Bắc Kinh và Hà Nội hãy rút quân đội của mình khỏi Việt Nam và Cambodia.

Theo đuổi vai trò người hòa giải với lòng thành thật của mình, Hoa Kỳ cũng đã gây áp lực để có được một cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, hy vọng tập hợp đủ phiếu cho một nghị quyết kêu gọi rút quân cả đôi bên.

Trong cuộc tranh luận mở đầu cuộc họp hôm thứ Sáu, Đại sứ Hoa kỳ, ông Andrew Young, đã coi tình hình tại Đông nam Á là “nguy hiểm” và thúc dục các bên tham chiến “hãy đưa cuộc tranh cãi lên bàn thương lượng.” Các quốc gia không liên kết có vẻ như ủng hộ nghị quyết mà Hoa Kỳ đề nghị, trong khi Trung Quốc và Liên Xô đã đưa ra những nghị quyết đối nghịch nhau, một bên lên án cuộc xâm lược của Việt Nam, một bên kia lên án sự gây hấn của Trung Quốc.

Vào ngày thứ Bảy, trong một hành động phản kháng chống lại quyết định của hội đồng cho phép đại diện của chế độ Pol Pot đã sụp đổ ở Cambodia quyền phát biểu ý kiến, Đại biểu của Liên Xô Mikhail Kharlamov đã hiên ngang bước ra khỏi phòng họp. Tiếp bước theo ông trong chốc lát là đại diện Czechoslovak. Kharlamov đã cẩn thận để lại một người trợ lý có mặt tại bàn họp, song đây là lần đầu tiên người đại diện của Liên Xô bước ra khỏi phòng họp của Hội đồng Bảo an kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

Một số nhà ngoại giao đã ám chỉ Bắc Kinh sử dụng Washington như là một công cụ trong chiến lược xâm chiếm của mình.

Các viên chức trong Nội các [Hoa Kỳ] đã phủ nhận với thái độ nhạo báng bất cứ những gì tương tự như sự đồng lõa với hành động sai trái [của Trung Quốc] được Moscow viện dẫn, và nhấn mạnh đầy thuyết phục rằng chính quyền Carter quả thực đã cố ngăn cản bất cứ hành động “không khôn ngoan” nào từ ông Đặng.

Câu hỏi là liệu có phải Washington, đang háo hức để bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh, có thể đã hợp tác một cách không chủ ý trong việc chuẩn bị về ngoại giao của Trung Quốc cho cuộc tấn công đó. “Giờ đây chúng ta biết được lý do vì sao Trung Quốc đã tỏ ra vội vã đến như vậy trong việc bình thường hóa các quan hệ với Hoa Kỳ,” theo nhận xét của Thượng nghị sĩ Charles Percy sau cuộc xâm chiếm đó.

Vào cuối tuần nay, đã có những dấu hiệu cho thấy rằng quân Trung Quốc đang đối diện với địa hình hiểm trở hơn và chạm trán với sự kháng cự mãnh liệt hơn là những gì có thể họ đã trông đợi. Có lẽ, họ đã có sức mạnh và số đông để thọc sâu tới mức họ chọn lựa. Thế nhưng liệu họ có thể tự thoát khỏi vũng lầy lịch sử với sự dễ dàng tương tự hay không? Những nấm mồ tại Điện Biên Phủ. Những xác trực thăng Hải quân gần Đà Nẵng. Những địa danh khác, những dấu mốc khác chứng tỏ cho số phận bi kịch của những kẻ ngoại bang từng thăm viếng Việt Nam trong quá khứ và sau đó ước mong rằng họ đừng bao giờ đến (thì tốt hơn). Trong việc đưa ra “bài học” của mình, người Trung Quốc – giống như người Pháp và người Mỹ trước họ – có thể tìm thấy ở Việt Nam là một lớp học ngang ngược  (mà họ không thể nào dạy được).


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Theo các tài liệu vừa mới được giải mật trong 5 năm gần đây, thì câu chuyện thực sự đã khác hẳn với những gì mà tác giả bài nầy viết. Theo tài liệu mới giải mật của chính phủ Hoa Kỳ năm 2005, thì VN chẳng có nhún nhường một chút nào hết trong chuyện bang giao. Bang giao Mỹ Việt bị thất bại ngay sau 1975 vì trình độ lãnh đạo VN quá hạn hẹp, họ đã không biết nhìn xa trông rộng trong thời kỳ 1975-1986.

Ngay sau 30-4-1975 cho đến 1976, thật sự là TT Phạm văn Đồng đã diễn tả ước muốn bang giao với Mỹ, nhưng cứ khăng khăng đưa điều kiện tiên quyết đòi Mỹ phải bồi thường chiến tranh. Theo hiệp định 27/1/73, miền  Bắc VN đã vi phạm hiệp định ấy khi tiến quân chiếm miền Nam. Ở Mỹ, bất cứ món tiền nào mà TT muốn chi ra, phải có sự đồng ý trước của quốc hội. Lúc ấy,  Quốc Hội Mỹ và dân chúng Mỹ rất chán ghét VN, họ muốn quên VN, và họ đang bận rộn đối phó với tình trạng suy thoái kinh tế và thất nghiệp trong nước. Trong cuộc bầu cử TT tiếp theo năm 1976, đảng cộng hòa  đã thua vì lý do kinh tế suy thoái (Năm 75 và 76 đang diễn ra cuộc vận động tranh cử TT Mỹ.)

Sau khi lên nhậm chức 20-1-1977, TT Jimmy Carter đã phái một đoàn ngoại giao qua Paris tiếp xúc mật với các nhà ngoại giao VN cộng sản để thiết lập bang giao. Để thể hiện quyết tâm và lòng thành thật, TT Jimmy Carter đã hổ trợ cho VN vào Liên Hiệp Quốc 1977.

Tuy nhiên, lãnh đạo VN đã không hiểu biết mình, mà không biết người, lại tiếp tục giữ vững quan điểm đòi bồi thường chiến tranh! Tuy vậy, cuộc thương lượng của chính phủ Jimmy Carter để bang giao với Hà Nội vẫn tiếp diễn từ đầu năm 1977 và kéo dài đến cuối năm 1978, gần 24 tháng, và chấm dứt khi VN xâm lăng Kampuchea tháng 12-1978. Việc bang giao hoàn toàn bị thất bại. (Đại sứ Phan Hiền và thứ trưởng Holdbrook là hai người được nhắc đến trong tài liệu nầy).

Tiếp theo là giai đoạn suốt 10 năm (1978-1988) VN bị cấm vận bởi tất cả các nước Tây Âu, Mỹ Nhật, Đông Nam Á. VN đã luôn bị túng bấn vì lãnh đạo VN trước đó cứ nghĩ rằng VN có thể tự lực cánh sinh, và VN có thể sống nổi bất cứ điều kiện nào. Thật sự thì lãnh đạo lo thu lượm chiến lợi phẩm ở miền Nam trong đó có được 16 tấn vàng (khoảng 590.000 lượng vàng, tài liệu báo Tuổi Trẻ đăng 2003 trong cuộc phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo), vì vậy chỉ có gia đình các viên chức cao cấp có gạo, thịt, để ăn nên họ không sống kham khổ như dân chúng. Họ ở nhà tốt, sử dụng xăng dầu và điện theo tiêu chuẩn của họ. Các gia đình con cái của họ và các nhân vật cao cấp khác  ăn uống tiệc tùng quá phí phạm đến nổi TT Phạm văn Đồng phải lên tiếng trên báo Nhân Dân về sự hoang phí của họ (bạn đọc tìm đọc lại trên trang nầy 3 ngày trước đây có đăng bài báo nói về việc nầy ở đoạn cuối).

Tình hình VN 1975-1989 là cả nước không có điện, không có vật liệu lọc nước, thiếu xăng, thuốc men, thực phẩm, và dân chúng đói kém phải ăn bo bo, khoai lang, khoai mì, bột mì. Kết quả như vậy vì suốt 14 năm (1975-1988) làm kinh tế sai lầm,  lấy ruộng đất của nông dân chuyển vào hợp tác xã, và tiến lên Nông Xã. Bắt nông dân làm ruộng và nộp lúa quá cao (cụ thể là thuế nộp là 10 giạ /1 công,  trong khi nông dân chỉ sản xuất được 20-25 giạ/ 1. Để đối phó lại,  nông dân bỏ ruộng không sản xuất, họ  chỉ làm để đủ gia đình của họ có đủ gạo ăn, cả nước ở bên lề nạn đói. Về công nghiệp, chính quyền tịch thu máy móc của tư bản, vào quản lý nhưng không thể điều hành nhà máy chạy được;  và thành lập các Công xã, tổ hợp, liên hiệp xã …những nơi nầy làm ra sản phẩm nhưng chẳng ai mua vì quá xấu và dân chúng không có tiền. Tiếp đó 1981-1988, bị Liên Xô và Đông Âu cắt dần viện trợ, VN bị cô lập về chính trị và kinh tế.

Nhưng chỉ khi ông Lê Duẫn chết đi năm1986, bộ chính trị mới bắt đầu thấy sự bất lực của họ đã 11 năm trôi qua mà tình hình ngày càng xấu đi nên đã không hùng hổ nữa. Ông Nguyễn văn Linh lên thay, VN nhận ra các hiểm họa nạn đói đang ở trước mắt, dân chúng ở nhiều làng miền Bắc quá đói nổi lên đánh lại chính quyền, 1985-1988;  và VN đã bắt đầu thay đổi chính sách và giảm bớt hung hăng cứng rắn.

Nguyễn văn Linh lên thay LD làm tổng bí thư và Đỗ Mười có ý thích đổi mới (Phạm Hùng thay Phạm văn Đồng làm thủ tướng trong 2 năm 87 và 88, nhưng rồi bị bệnh và Đỗ Mười lên làm TT 1988).  VN buộc phải thay đổi hẳn chính sách kinh tế và chính trị kể từ cuối năm 1988. Phó TT VV Kiệt bắt đầu được nhắc đến trong giai đoạn đổi mới nầy. Mối quan hệ đối ngoại từ đơn phương bị cô lập tới đa phương (quan hệ với các nước Thái, Mã, Singapore, Đài Loan…khối ASEAN). Trung Quốc biết VN bị suy yếu cùng cực nên đã  tấn công chiếm  Trường  sa và núi  Lão Sơn 1988, càng làm Việt  Nam phải nhanh chóng chuyển hướng và tuyên bố rút khỏi Kampuchea trong thời gian 3 năm.

Để khuyến khích Hà nội đổi mới, Mỹ bắt đầu cung cấp dụng cụ y khoa và thuốc men 1987; bật đèn xanh cho Thái, Singapore, Mã Lai, Đài Loan đầu tư chút chút vào VN nhưng tư bản các nước nầy chỉ đầu tư vào miền Nam mà thôi.

Một mặt, để làm dịu bớt quốc hội luôn dị ứng với  VN và tranh thủ cảm tình của dân chúng Mỹ, hành pháp Mỹ đã bắt đầu thương thuyết với Hà Nội 2 vấn đề lớn. Trước hết thúc đẩy  Hà Nội hợp tác tìm hài cốt hơn 2800 lính Mỹ bị chết trong chiến tranh VN. Kế đó là yêu cầu Hà Nội thả các tù nhân cải tạo VN và để Mỹ tiếp nhận tất cả các cựu tù nhân và gia đình của các viên chức trong chính quyền miền Nam Việt Nam đang ở tù cải tạo (chương trình  H.O. lập ra vào thời Reagan và thi hành thời Bush cha)

Khi Hà Nội đồng ý 2 vấn đề về hài cốt và bốc tù cải tạo ra khỏi VN, Mỹ đã viện trợ tiền bạc cho Hà Nội hàng năm (từ 1987-1994) để thay thế viện trợ của Liên Xô.

Đồng thời Mỹ bật đèn xanh cho các nước Thái Lan, Mã, Singapore, Nhật, Đài Loan đầu tư vào VN làm hàng hóa sản xuất qua Mỹ. Đồng thời, Mỹ viện trợ cứ vài trăm triệu đô la và mỗi năm tìm 3, 4 cách viện trợ kiểu nhân đạo nhiều lần như thế kể từ 1987-1994. Mỹ gởi các chuyên gia từ Harvard đến thảo hiến pháp và soạn luật pháp cho VN. VN chỉ có làm mỗi việc là dịch từ tiếng Mỹ ra tiếng Việt mà thôi, cắt xén và thay đổi chút ít.

Mỹ còn ra lệnh cho World Bank và ADB cho VN mượn tiền lãi suất thấp, và khuyến khích các công ty nước ngoài vào  hợp tác với VN làm đường xá, cầu cống, hải cảng để phát triển kinh tế…

Trở lại chuyện 1987. Cuối cùng,VN đã chịu ngồi xuống với LHQ năm 1987 và đưa kế hoạch rút quân khỏi Kampuchea từ 1988-1991.

Khi điều kiện (rút quân khỏi Kampuchea) được thỏa mãn, biết quốc hội Mỹ không còn chống đối vì thỉnh thoảng Hà Nội lại tìm ra các hài cốt và giao cho Mỹ đàng hoàng, và nhất là vấn đề nhức nhối âm thầm trong lương tâm của quốc hội Mỹ là làm thế nào nhận được 300.000 cựu tù nhân cải tạo VN cộng thêm với gia đình của họ (từ 1989-1998 tổng số người ra đi trong chương trình nầy là khoảng gần 800.000 người) được đến Mỹ, chính sách nầy từng được TT Reagan khởi xướng 1981-1988, và Bush (cha) xúc tiến để làm lương tâm của người Mỹ được thanh thản, và lỗi lầm của họ phần nào được cứu chuộc (người Mỹ vốn rất sùng đạo). Bên cạnh đó tình hình kinh tế của Mỹ đang cải thiện, hành pháp Mỹ do TT Clinton lãnh đạo chính thức trở lại bang giao với VN năm 1994.

[2] Tác giả không chú ý đến  lịch sử của Trung Hoa giai đoạn trước đệ nhị thế chiến là rất hỗn loạn. Trung cộng giúp người Cộng sản VN là có ý đồ và đang bận đánh nhau với Trung Hoa quốc gia của Tưởng giới Thạch. Hơn nữa các đảng phái quốc gia chống Pháp cũng chạy qua Trung Hoa nương náu là chuyện thường. Và trong giai đoạn trước và sau đệ nhị thế chiến, nhiều người Trung Hoa cũng chạy qua Chợ Lớn để nương náu.

Sách viết về chiến tranh Việt -Trung 1979 (chưa đọc):

Chiến tranh Việt Trung 1979

http://books.google.com/books?hl=en&lr=&id=vY4tBfqGvZ4C&oi=fnd&pg=PP9&dq=%22Chen%22+%22China%27s+War+With+Vietnam,+1979:+Issues,+Decisions,+and+…%22+&ots=zG0CxrJ1s5&sig=GdJ3G1UeyXy3zy3j1xMsKfTlb7Q#PPA23,M1

———————————————————

Tension mounted meanwhile along the border with Viet Nam.(part 2)

China alleged that Hanoi’s troops had intruded into its territory on 1,100 different occasions. Viet Nam accused China of almost daily incursions. Charges and countercharges enlivened every artillery barrage and exchange of small-arms fire, not to mention kidnaping, livestock rustling and planting of poisoned bamboo stakes. In its loud political build up to the invasion, China underscored the border aggravations to anyone who would listen—at the U.N., in diplomatic exchanges, and in a shower of communiques. Peking also claimed that Viet Nam was mobilizing for war by drafting recruits at a rate that surpassed the height of the war against Saigon and the U.S., and by calling 200,000 ex-servicemen back under arms.

On D-day minus one, Pham Van Dong, Army Chief of Staff General Van Tien Dung and other Cabinet members flew to Phnom-Penh to sign a friendship treaty with the new Heng Samrin regime. The absence of Viet Nam’s top officialdom from Hanoi may have helped determine the timing of Peking’s attack.

For many Sinologists, Peking’s invasion was another illustration of China’s “Great Wall mentality”: its obsessive fear of encroachments, real or imagined, against its borders. This siege mentality compelled China to enter the Korean War. It has contributed to periodic flare-ups between Chinese and Soviet troops along the Ussuri and Amur rivers. It may also have been behind China’s attack against India in 1962. That assault, in which the Chinese penetrated up to 100 miles inside Indian territory on a broad front but withdrew benignly one month later, was regarded by some as a possible blueprint precedent for the current punitive action.

By invading Viet Nam, Peking clearly intended to regain some lost prestige and prove it is no paper tiger. The invasion also presumably had a tactical goal: drawing Vietnamese troops away from Cambodia in order to ease the pressure on Pol Pot’s surviving forces. But the risks involved in the Viet Nam invasion were far greater than those involved in the border war with India. Besides a possible Soviet retaliation that could come at any time, China already has suffered a political setback in world eyes. The Japanese, who joined them in decrying “hegemony” when they signed a treaty with Peking last year, were upset that China was practicing such blatant hegemony of its own. Some American policymakers took grim satisfaction at the ironic spectacle of five Communist countries—the Soviet Union, China, Viet Nam, Cambodia and Laos— caught in a bloody family feud. But there is not much to be satisfied about. China’s shining image as a new friend intent on furthering peace and stability in Asia is suddenly badly tarnished.

Not that Viet Nam has come off much better. Hanoi’s expansion into Laos and its invasion of Cambodia did much to demolish Viet Nam’s widespread image in the Third World as a brave anticolonial underdog and show it up more as an Oriental 20th century Sparta intent on becoming gendarme and ruler of all it can grasp. One mystery: How do the Vietnamese maintain that martial impulse after more than 30 years of constant warfare? Part of the answer derives from who has the upper hand in the collective leadership that succeeded Ho Chi Minh. The eleven-man Politburo is divided between pragmatists who want to concentrate on internal reconstruction and hard-liners who are bent on military adventure, despite the gruesome hardships involved. The hardliners, led by pro-Soviet Party Boss Le Duan and Defense Minister Vo Nguyen Giap, are in control. Says a diplomat long acquainted with Hanoi:

“The Vietnamese leaders regard themselves as messianic representatives of the purest revolutionary movement in the world. They are affected, if you will, by an arrogance of power.” Combined with the arrogance is the urging of Moscow, which moved into the power vacuum left behind by the U.S. retreat. There is some small justification for the argument that the U.S. may have driven Viet Nam into the Soviet embrace last summer when it spurned Hanoi’s modest attempts at reconciliation.

The complex causes of the China-Viet Nam War are also rooted, however, in the historic animosity between the two ethnic cousins, which dates back 21 centuries to the Chinese colonialization of the kingdom of Nam Viet in the Red River Delta. In A.D. 39 two sister queens named Trung Trac and Trung Nhi led a four-year revolt against the Middle Kingdom; a wrathful counterattack smashed the Vietnamese troops at the River Day. Rather than surrender to the Chinese, the two queens jumped in the river and drowned—a martyrdom still honored by Vietnamese girls every March on Hai Ba Trung Day.

Other major revolts, in the third, sixth and tenth centuries, helped the Viets build a martial spirit, which was needed to ward off attacks from Tais in the west and Chams in the south. A dozen more wars and another ruthless Chinese occupation in the early 15th century reinforced the Viets’ independent spirit and burned hostility toward the Chinese into their minds for good. Before World War II, Nationalist China gave shelter to anti-French Vietnamese political refugees, but even this consideration failed to erase the enmity. In his subsequent war against the French, Ho Chi Minh was offered the support of Mao Tse-tung’s advancing Communist army, which might have meant quick, joint victory. Ho declined. Later, with pithy logic, he explained why he had preferred to fight a protracted guerrilla war on his own: “It is better to sniff the French dung for a while than to eat China’s all our lives.”

The spectacle last week of the two big Communist powers, China and the Soviet Union, at each other’s throats on the brink of a possible shooting war— with the U.S., their once common adversary, passively standing by— bordered on a global Theater of the Absurd. After some initial confusion, the increasingly fragmented international Communist movement swung overwhelmingly against China. In Eastern Europe, independent Yugoslavia maintained its customary neutrality. Maverick Rumania appealed to both sides to “stop military actions immediately.” The rest of the Warsaw Pact countries, predictably, supported Moscow in condemning what Bulgaria called China’s “adventurous and aggressive actions.” Even Albania broke out of its longstanding isolation to condemn its recently estranged Chinese ally.

In France, Italy and Spain, the major Eurocommunist parties all lined up against China, with one quirky difference: as a reminder of his vaunted autonomy from Moscow, Spanish Communist Party Boss Santiago Carrillo compared China’s aggression against Viet Nam to the Soviet invasion of Czechoslovakia. Throughout Latin America, leftist groups raised an anti-Chinese chorus. Thousands of students marched down Mexico City’s Paseo de la Reforma with banners that said VIVA VIET NAM— VANGUARD OF THE WORLD REVOLUTION.

The conflict between Communist neighbors had a disillusioning impact on some leftist European intellectuals. In an article for Milan’s Corriere della Sera, Journalist Giuliano Zincone recalled how he had marched in protest against the American presence in Viet Nam and had contributed money to the Viet Cong. China was “on the side of Viet Nam, like Che, united in the struggle.” But then came Peking’s turmoil: the masses attacking the Gang of Four, the resurgence of the old “capitalist reader,” Teng. By invading Cambodia, Viet Nam betrayed its principles. “Now the circle has closed,” Zincone wrote. “Gentle China, the solid, the responsible, sends its tanks to ‘punish’ its former brothers, with the risk of triggering catastrophic conflict. We are starting from zero. Orphans.”

With so obvious a propaganda advantage, the Soviet Union at week’s end had essentially limited its counterattack against China to a fusillade of words. Pravda ventilated Soviet “wrath and indignation” at the Chinese aggression. Without making a specific threat, Soviet Defense Minister Ustinov reaffirmed that the U.S.S.R. “will honor its obligations under the treaty of friendship and cooperation with Viet Nam.” Official press and radio also charged the U.S. with connivance in the Chinese attack. Emphasizing that the Chinese invasion was launched “almost the next day” after Teng Hsiao-p’ing’s return from Washington, Pravda protested that “no propaganda twists and turns will help cover up the responsibility of those circles in the U.S.A. that facilitated, directly or indirectly, Peking’s actions.” The attack on the U.S. was preposterous, but the Soviet ire was understandable and predictable. Nothing about the new U.S.-China relationship has pleased them.

As long as the Vietnamese forces can hold their own, the Soviets will probably prefer to reap the propaganda benefits of restraint. The danger is that if the Chinese were to press the war too far, moving against Hanoi or Haiphong or indicating an intention to stay on Vietnamese soil, the Soviets themselves would not want to appear weak and would feel compelled to act. If so, what would they do? Administration experts say the Soviet options are many. They could mount a major resupply of Vietnamese forces, dispatch large numbers of military advisers, or even take direct military action in Viet Nam.

More ominous, they could also threaten Peking’s sense of security by moving along the 4,500-mile Soviet-Chinese border, which is bristling with 44 divisions of the Red Army. Soviet troops could strike into the frozen, inhospitable terrain of Sinkiang, but a more likely target is Manchuria, China’s industrial heartland. Analysts hopefully discount an air attack on China’s nuclear faculty at Lop Nor as a “doomsday” option, one perhaps favored by Moscow’s military brass, but not by the Politburo.

The U.S. has been relegated to the role of sideline observer, without much influence on either combatant. The Administration’s position was that the Chinese intrusion was a direct result of the Soviet-encouraged Vietnamese invasion of Cambodia, which, in turn, was seen as Moscow’s response to the normalization of

Chinese-American relations. U.S. policy was based on the notion that this country should not become involved in a conflict among far-off Communist states. Thus Washington evenhandedly urged Peking and Hanoi to withdraw their troops from both Viet Nam and Cambodia. Pursuing its honest-broker role, the U.S. also pressed for an urgent meeting of the United Nations’ Security Council, hoping to rally enough votes for a resolution calling for reciprocal withdrawal.

In the opening debate Friday, U.S.

Ambassador Andrew Young called the Southeast Asia situation “dangerous” and urged the combatants “to move the dispute to the negotiating table.” Unaligned nations seemed to be lining up behind the proposed U.S. resolution, while China and the Soviet Union offered diametrically opposed resolutions, one condemning the aggression by Viet Nam, the other condemning aggression by China. On Saturday, in protest against the council’s decision to give the floor to the representative of Pol Pot’s defeated regime in Cambodia, Soviet Delegate Mikhail Kharlamov stalked out. He was followed moments later by the Czechoslovak delegation. Kharlamov was careful to leave an aide in attendance at the table, but it was the first Soviet walkout from the Security Council since the Korean War.

Some foreign diplomats referred to Peking’s possible use of Washington as a tool in its invasion strategy. Administration officials scoffingly denied anything like the connivance alleged by Moscow, and persuasively insisted that Carter had indeed tried to deter Teng from any “unwise” action. The question was whether Washington, eager to normalize relations with Peking, might not have been inadvertently enlisted in China’s diplomatic preparation for the attack. “Now we know why China showed such haste to normalize relations with the U.S.,” said Senator Charles Percy after the invasion.

At week’s end, there were indications that the Chinese were encountering tougher terrain and tougher resistance than they had perhaps expected. Presumably, they had the might and numbers to penetrate as far as they chose. But could they extricate themselves from the historic quicksand with similar ease? The gravestones at Dien Bien Phu. The carcasses of Marine helicopters near Danang. Other place names, other landmarks testify to the tragic fortunes of outsiders who visited Viet Nam in the past and later wished they had never come. In meting out their “lesson,” the Chinese—like the French and Americans before them—could find Viet Nam to be an unruly classroom.

4 phản hồi tới “67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2)”

  1. [...] + 67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2); [...]

  2. [...] + 67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2); [...]

  3. [...] + 67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2); [...]

  4. [...] + 67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2); [...]

Gửi phản hồi

XHTML: Bạn có thể sử dụng những thẻ sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <pre> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>