BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

376. Quần đảo Trường Sa 101

Đăng bởi anhbasam on 25/11/2009

Inquirer.Net

Quần đảo Trường Sa 101 [1]

Bài của Raul Pangalangan

Nhật báo Philippines Inquirer

Ngày 14-3-2008

MANILA, Philippines – Các Thỏa thuận Cùng Phát triển Khai khoáng không phải là chuyện có thể gây tranh cãi trong công pháp quốc tế. Điều gây nghi ngờ ở bản Cam kết Chung về Địa chấn trên Biển (JMSU), nếu như không hoàn toàn phi pháp, là nó đã được ký kết trong sự vi phạm đối với Hiến pháp của Philippines, và có thể đã được ký kết trong sự đổi chác để được các khoản vay mượn có tính chất hối lộ. Không phải là chúng ta đã bán những bờ biển giàu nguồn dầu lửa tiềm tàng, mà chúng ta đã đổi chác linh hồn của mình.

Một, chúng ta phải phân biệt giữa quyền đối với đất đai và quyền đối với những vùng biển bao quanh đất liền (hay để cho rõ ràng hơn, đối với những vùng lãnh thổ trên biển, nơi sẽ bao gồm những đất đai ngập dưới nước biển và những tài nguyên nằm bên dưới những nơi được gọi là thềm lục địa). Mỗi loại quyền được bắt nguồn từ một xuất phát điểm khác nhau.

Quyền của chúng ta đối với các đảo của mình có xuất phát điểm từ Hiệp ước Hòa bình 1898 giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ: “Tây Ban Nha nhượng cho Hoa Kỳ quần đảo được biết như là các hòn Đảo của Philippines, và bao gồm những đảo nằm trong phạm vi đường ranh giới dưới đây: ….” Điều này có ý nghĩa đặc biệt, vì Trường Sa nằm trong những đường ranh giới được phân chia đó thuộc phạm vi quy định của hiệp ước đó. (Hoa Kỳ đã trả cho Tây Ban Nha tổng cộng 20 triệu dola). Nó có thể không phải là một thỏa thuận mua bán bất động sản nguyên nghĩa, trừ phi là chúng ta, những dân bản xứ có nước da ngăm ngăm, chỉ ngẫu nhiên nằm trong cái thỏa thuận cả gói – và khởi sự gây chiến tranh một cách đầy kiêu hãnh.)

Mặt khác, yêu sách chủ quyền của chúng ta đối với những vùng mặt nước và vùng biển bắt nguồn từ Hiệp ước dựa trên Luật Biển 1982, cho phép chúng ta độc quyền khai thác đối với những nguồn tài nguyên thiên nhiên nằm trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (được mở rộng tới 200 hải lý xung quanh vùng duyên hải quốc gia) và, thích đáng hơn nữa là việc khai thác các nguồn nhiên liệu hóa thạch, trong thềm lục địa của chúng ta (được xác định rõ như là “sự nối dài thêm một cách tự nhiên của khu vực lãnh thổ rộng lớn” cũng lên tới giới hạn tương tự là 200 hải lý đó) [2].

Bên trong khuôn khổ đó, “những khu vực cùng phát triển” không phải là một vấn đề. Thực vậy, về phần chúng ta trước thế giới, ở đó đã có những thể thức hợp tác khác tương tự như vậy: Thái Lan với Malaysia; Đông Timor với Australia; Malaysia với Brunei; và Trung Quốc với Việt Nam.

Điều này trên thực tế được thúc đẩy như là những thể thức tạm thời để từ đó các quốc gia có thể tiếp cận nguồn tài nguyên khoáng sản của họ mà không cần phải chờ đợi cho tới một “sự phân định ranh giới” cuối cùng là điều với bản chất đặc trưng của nó sẽ phải mất tới một hai thế hệ mới giải quyết được.

Nó hoàn toàn đúng với những gì mà người Trung Quốc đang tuyên bố: JMSU là một biện phương cách “tạm xếp lại những bất đồng và hướn tới việc cùng hợp tác phát triển.” Đó là điều mà bản Tuyên bố Manila của ASEAN năm 1992 đã nói: “Những vấn đề về Biển Nam Trung Hoa liên quan tới những câu hỏi nhạy cảm” và vì vậy các thành viên của nó sẽ phải xem xét khả năng hợp tác … mà không gây tổn hạn với chủ quyền quốc gia [của mình].” Đó cũng là điều mà bản Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc năm 2002 trong phần Chỉ dẫn cho Các bên trên Biển Nam Trung Hoa đã nhấn mạnh: “sử dụng biện pháp tự chủ [và] tự kiềm chế [bằng việc cam kết] đối với những hoạt động có thể gây phức tạp thêm tình hình hay leo thang xung đột.”

Hơn nữa, những khu vực hợp tác không gây nên mất mát về lãnh thổ. Quả thực, xét rằng Philippines vừa không có khả năng tài chính vừa yếu kém công nghệ, thì việc duy nhất mà nó có thể làm là chia sẻ với các đối tác những quyền khai thác đối với phần lãnh thổ của mình. Đó là lý do tại sao JMSU chưa đựng sự chối bỏ sau: bản thỏa thuận “sẽ không làm suy yếu địa vị căn bản của mỗi bên trong vấn đề Biển Nam Trung Hoa,” nó lưu tâm tới cuộc tranh cãi dai dẳng về việc ai là người sở hữu Quần đảo Trường Sa đang tranh chấp, nơi mà một số chuyên gia Trung Quốc gọi là “một cái ao của Trung Hoa.”

Vấn đề thực chất lại nằm ở chỗ khác. Nó nằm trong bản Hiến pháp Philippines, trong đó giữ cho quốc gia cái quyền lực độc nhất trong “khai thác, phát triển, và sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên,” nhưng nó có thể lựa chọn thực hiện điều đó thông qua những thỏa thuận hợp tác với các công ty của Philippines. Điều khoản đó được kết thúc với việc yêu cầu một báo cáo – chứ không phải là sự tuân thủ theo – cụ thể là: đối với Tổng thống phải cho Quốc hội biết về mỗi hợp đồng như vậy trong vòng 30 ngày.

Đường ranh giới chính thức Malacañang[3] lúc này là JMSU chỉ “thuần túy có tính khoa học tự nhiên” – chứ không thăm dò – và chỉ duy nhất tập hợp dữ liệu địa chất phục vụ việc phân tích một phần của Trường Sa đối với trữ lượng dầu nếu như có. Tuy nhiên, kẻ thù tệ hại nhất lại là chính bản thân nó, thông qua bản tuyên bố của nó trên website của Bộ Thông tin Philippines (PIA).

Theo như PIA, Thư ký Báo chí Ignacio Bunye đã nói trong lời chỉ dẫn cho báo chí tại Khách sạn Shangri-La như sau: “Cuộc thảo luận (giữa Tổng thống Arroyo với Thủ tướng Ôn [Gia Bảo]) đặt trọng tâm vào việc cùng thăm của ba nước … Giai đoạn thứ nhất hay giai đoạn thăm dò đã được hoàn thành và Thủ tướng Trung Quốc bày tỏ hy vọng rằng ba nước có thể tiếp tục việc hợp tác ở mức độ phát triển.” Cuối cùng, những tuyên bố cùng lúc bởi các đối tác khác, Trung Quốc và Việt Nam, và bởi chính Malacañang, đã lặp lại nhiều lần cái từ “thăm dò.”

Rốt cuộc, nó đã không như là việc nếu có một sự phân biệt rõ ràng tách rời “khoa học” ra khỏi “thăm dò.” Eduardo Mañalac, cựu chủ tịch Philippines National Oil Co., đã tuyên bố như vậy dướic góc độ của một nhà thiết kế, những gì mà JMSU ngắm nghía là sẵn sàng “thăm dò” với tất cả những mục đích thiết thực. Song Palace [4]đã có thể được tin cậy hơn nếu như việc nghiên cứu khoa học đã được đảm trách bởi một cơ quan hàn lâm hay nghiên cứu khoa học. Điều tạo nên cái ranh giới đáng ngờ là bản thỏa thuận đã được ký kết bởi ba công ty thương mại dính dáng tới hoạt động thăm dò dầu khí hiện thời. Một công việc nghiên cứu địa chất không trở thành “khoa học” đơn thuần bởi vì nó sử dụng những phương cách lão luyện. Nó trở nên như vậy bởi vì nó nhắm vào khám phá những sự thật nằm bên dưới cái bề mặt, nhưng tham thì thâm[5]. Y như những người biểu tình trên Phố Mendiola[6] thì trở nên khoa học, trong khi bọn thuộc hạ của bà Arroyo thì lại bị thăm dò.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


Ba Sàm chú thích:

 

[1] 101: trên answers.com, wikipedia, Encyclopia có nhiều lựa chọn để giải nghĩa chữ nầy. Nhưng có một khả năng phải chăng tác giả muốn nhắc tới sự kiện đã đi vô lịch sử Philippines hồi Đệ nhị Thế chiến ? Đó là vào tháng 4-1942, một cuộc di chuyển cấp tốc 70.000 tù binh Mỹ và Phi do quân Nhựt tại Phi bắt giữ. Từ cực nam Bataan, những tù binh ốm yếu đói khát bịnh tật đã phải lê lết trên quãng đường 101 km để tới trại giam. Chỉ còn 45.000 tù binh sống sót tới trại; 10.000 chết trên đường và số còn lại trốn thoát vào rừng. Năm 1946, viên tướng Nhựt chỉ huy cuộc di chuyển nầy đã bị hội đồng quân sự Hoa Kỳ xử và hành quyết. (Bà con nào cao kiến mách giùm coi trúng trật– mẹc xi trước).

[2] Nghĩa là Vùng Đặc quyền Kinh tế 200 hải lý được “bổ dọc” từ trên mặt biển xuống tới dưới lòng đất.

[3] Malacañang Place:Tên tòa lâu đài của tổng thống Philippines, tựa như Tòa Bạch Ốc của Mỹ.

[4] (Như trên)

[5] Nguyên văn; “whoever profits or loses”

[6] Mendiola Street: đoạn phố dẫn thẳng tới phủ tổng thống ở Manila

Gửi phản hồi

XHTML: Bạn có thể sử dụng những thẻ sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <pre> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>