BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Author Archive

643. Hoạt động buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã ở Việt Nam bị phơi bày

Đăng bởi anhbasam on 03/09/2010

Discovery News

Hoạt động buôn bán bất hợp pháp

động vật hoang dã ở Việt Nam bị phơi bày


Jennifer Viegas
Thứ Năm, ngày 2-9-2010

Hơn 850 pound (khoảng trên 400 kg) động vật hoang dã bất hợp pháp từ gần 20 loài vừa bị tịch thu từ các nhà hàng tại Việt Nam, theo Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã (WCS) cho biết.

Đây là chiến dịch thực thi pháp luật lớn nhất cho loại hình này tại tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.

Sau khi quét qua Thành phố Đà Lạt và thị xã xung quanh, hơn 100 cán bộ thuộc Cục Kiểm lâm Lâm Đồng đã tịch thu các loại động vật hoang dã, là thứ có thể sẽ được kết thúc số phận trong những bữa ăn tại nhà hàng.

Các mặt hàng bị tịch thu bao gồm thịt từ lợn rừng, cầy hương, tê tê, nhím, hươu chuột, thằn lằn, bàn chân gấu, chuột tre, rắn, và hươu nai. Những miếng lông voọc đen, beo mây, rái cá vuốt ngắn, sơn dương, mang, mèo báo, lông sóc bay, cầy hương, cầy mực, và cầy hương nhỏ Ấn Độ cũng đã được thu giữ.

Hơn một tá các chủ nhà hàng đã bị bắt và bị phạt.

“Việc phát hiện và truy tố các nhà hàng cung cấp trái phép thức ăn từ động vật hoang dã là một bước quan trọng trong cuộc chiến bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam”, ông Trần Thanh Bình, Cục trưởng kiểm lâm Lâm Đồng cho biếtt. “Chiến dịch hôm nay là tiếng súng cảnh báo của chúng tôi đối với những hoạt động buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp để cho thấy tỉnh Lâm Đồng sẽ không tha thứ cho bất cứ kẻ nào xâm phạm tới động vật hoang dã.”

Ông Scott Roberton, Trưởng đại diện WCS tại Việt Nam cho biết, “WCS hoan nghênh các hành động mạnh mẽ và dứt khoát của tỉnh Lâm Đồng xử lý hoạt động buôn bán động vật hoang dã tại Đà Lạt và hy vọng những vụ tịch thu này sẽ được theo dõi với những cuộc điều tra để xác định và truy tố những người buôn bán bất hợp pháp phía sau nhà hàng . Tương lai của động vật hoang dã tại Việt Nam đang treo lơ lửng, nhưng với việc có nhiều thêm các điểm kiểm soát cho thấy một cam kết mạnh mẽ chẳng hạn như Cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, mọi sự có thể thay đổi tốt hơn rất nhanh chóng.”

“Buôn bán bất hợp pháp là mối đe dọa lớn nhất cho động vật hoang dã ở châu Á,” ông Joe Walston, giám đốc Chương Trình Châu Á của WCS, cho biết thêm. “Việc thực thi nghiêm ngặt pháp luật hiện hành, như những gì đang xảy ra ở Lâm Đồng, là rất quan trọng để ngăn chặn tình trạng khủng hoảng này, do đó động vật hoang dã có thể phát triển mạnh cho các thế hệ tương lai.”

WCS cũng đã làm việc với các chương trình truyền hình nổi tiếng của Mỹ , cho thấy rằng các loại động thực vật đặc biệt được tiêu thụ cho các món ăn không bình thường ở các nước khác nhau. Những chương trình về Việt Nam đó đã được tái bản, song không bao gồm các động vật hoang dã bất hợp pháp.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Nguồn: Discovery News

Voọc chân vá và động vật khác bị tịch thu

Cầy hương

Kiểm lâm của Cục Kiểm lâm tịch thu các sản phẩm từ một nhà hàng

Sơn dương và các loại khác

Đăng trong Gia đình/Xã hội | Tagged: , , | 1 Comment »

642. Vào lúc kết thúc cuộc Chiến tranh, tàu của Hải quân Mỹ đã cứu Hải quân Nam Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 02/09/2010

National Public Radio

Vào lúc kết thúc cuộc Chiến tranh, tàu của

Hải quân Mỹ đã cứu Hải quân Nam Việt Nam

Joseph Shapiro và Sandra Bartlett

Tàu của Nam Việt Nam theo sau chiếc USS Kirk tới Vịnh Subic,  Philippines. Nhiệm vụ cuối cùng của chiếc Kirk vào thời điểm kết thúc cuộc  Chiến tranh Việt Nam là  đưa số còn lại của hải quân miền Nam tới Philippines một cách an toàn.

Ngày 01 tháng 9 năm 2010

Phần cuối của bài gồm ba phần


Ngày 30 tháng 4, năm 1975, quân đội Bắc Việt tiến vào các đường phố vắng vẻ của Sài Gòn. Những chiếc xe tăng đã phá toang cánh cổng vào dinh tổng thống và những người lính đã kéo lên lá cờ hai màu vàng và đỏ của Việt cộng.

Chỉ vài giờ trước, những người Mỹ cuối cùng đã được sơ tán, được giải cứu và bay đi trên những chiếc trực thăng tới tàu sân bay của Hải quân Mỹ đang chờ ngoài khơi.

Chiến tranh Việt Nam đã chính thức kết thúc. Lúc này những con tàu của Hải quân đã nhổ neo rời khỏi Việt Nam.

Nhưng có một ngoại lệ. Đêm đó, thuyền trưởng của một tàu khu trục hộ tống cỡ nhỏ, tàu USS Kirk, đã nhận một mệnh lệnh bí ẩn để quay đầu trở lại Việt Nam.

Hải quân Nam Việt Nam: “Chúng tôi đã quên ‘họ’ “

Chiếc Kirk đến Đảo Côn Sơn, ngoài bờ biển nam Việt Nam, vào ngày 1-5-1975. Tại đó, nó đã gặp 30 chiếc tàu của hải quân Nam Việt Nam và hàng chục tàu cá, tàu vận tải và tới  30,000 người tị nạn Việt Nam.


Paul Jacobs, vị thuyền trưởng, đã nhận được chỉ thị từ Đô đốc Donald Whitmire, chỉ huy của sứ mệnh di tản-có tên là Operation Frequent Wind. Ông được lên tàu USS Blue Ridge, con tàu chỉ huy của Hạm đội 7 Hải quân.

Jacobs nhớ lại bức diện tín gây ngạc nhiên của Whitmire: “Ông ấy nói: ’Chúng tôi sẽ phải phái anh trở lại để giải cứu hải quân Việt Nam. Chúng ta đã quên mất họ. Và nếu chúng ta không đưa được họ hoặc bất cứ thành phần nào trong họ đi, thì có thể tất cả họ sẽ bị giết.’ “

Chiếc Kirk đã được phái đến một hòn đảo cách xa đất liền của Việt Nam. Và có một điều kỳ lạ hơn, là viên đô đốc đã nói với Jacobs: ông ấy muốn được nhận các lệnh từ một nhân viên dân sự.

Richard Armitage đã lên chiếc Kirk vào đêm muộn, ông mặc một chiếc áo khoác thể thao mượn của ai đó. Nhiều năm sau, Armitage đã trở thành nhân vật thứ hai dưới quyền chỉ huy của Colin Powell trong Bộ Ngoại giao của chính quyền Bush. Nhưng ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, ông được giao một nhiệm vụ đặc biệt từ bộ trưởng quốc phòng. Ông mới hơn 30 tuổi vào cái tuần đó.

Armitage nhớ lại việc mình lên chiếc tàu đó và nhanh chóng được hộ tống tới chỗ nhóm các sĩ quan, nơi ông đã gặp gỡ Jacobs và Thiếu tướng Hải quân Donald Roane, chỉ huy đội tàu nhỏ của những chiếc khu trục hạm Hải quân.

“Thiếu tướng Roane nói đại để là, ‘anh bạn trẻ, tôi không quen việc có những chuyên viên dân sự xa lạ lên tàu của tôi vào lúc nửa đêm và đưa ra cho tôi những mệnh lệnh’ “, Armitage nhớ lại. “Tôi nói, ‘thưa ông, tôi cũng chưa quen việc leo lên những chiếc tàu lạ vào giữa đêm khuya và đưa ra những mệnh lệnh cho ông. Thế nhưng hãy nhổ neo hướng tới Côn Sơn..’ Và thế là họ đã tuân theo.”

Kế hoạch bí mật giải cứu không chỉ những con tàu

Chiếc Kirk cùng thủy thủ đoàn khoảng 260 sĩ quan của nó và người đàn ông đã được lệnh tới đảo Côn Sơn, cách bờ biển Nam Việt Nam khoảng 50 dặm và chưa bị người Bắc Việt chiếm đóng. Côn Sơn là một nhà tù khét tiếng. Lúc này, bến cảng của nó là nơi ẩn náu cho số tàn quân còn lại của hải quân Nam Việt Nam.

Armitage đã đưa ra kế hoạch cho họ tập hợp ở đó.

Armitage, tốt nghiệp trường Annapolis, từng là một sĩ quan tình báo Hải quân, được bổ nhiệm vào hoạt động trong các đơn vị Việt Nam. Ông đã giành được sự tôn trọng đối với người Việt Nam trong thời gian làm việc cùng với họ và trở nên thông thạo tiếng [Việt]. Sau đó ông từ chức và rời khỏi Hải quân để phản đối khi chính quyền Nixon ký hiệp định hoà bình Paris. Thỏa thuận năm 1973 đó giữa tất cả các bên tham chiến tại Việt Nam đã chấm dứt sự dính líu trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Armitage cảm thấy Mỹ đã bán đứng miền Nam Việt Nam.

Nhưng khi vấn đề trở nên rõ ràng rằng chính phủ miền Nam Việt Nam đã gần như sụp đổ, một quan chức Lầu Năm Góc đã yêu cầu Armitage bay về Việt Nam với một sứ mệnh nguy hiểm. Nhiệm vụ của ông là: loại bỏ hoặc phá hủy các con tàu và công nghệ hải quân  để chúng không rơi vào tay những người Cộng sản.

Một vài tuần trước khi Sài Gòn thất thủ, Armitage đã có mặt tại văn phòng của một người bạn cũ, Đại uý Đỗ Kiểm, Chỉ huy phó toán hải quân Nam Việt Nam. Họ cùng nhau đặt ra kế hoạch bí mật giải cứu các con tàu của Việt Nam khi chính phủ Nam Việt Nam đầu hàng, bởi vì điều này đang ngày càng rõ hơn là sẽ xảy ra.

Đỗ Kiểm nhớ lại lời nhắc nhở Armitage rằng họ muốn cứu được nhiều hơn là những con tàu.

“Tôi đã nói với anh ta, tôi đã nói, ‘Vâng, thủy thủ đoàn của chúng tôi sẽ không rời khỏi Sài Gòn mà không có gia đình của họ, bởi vậy  sẽ có rất nhiều người dân,’” ông Kiểm nhớ lại.

Ông cho biết là Armitage vẫn giữ im lặng. “Anh ta không nói là đồng ý; cũng không nói là không. Vì vậy, tôi tức khắc coi nó như là sự chấp thuận.” Ông kể.

Armitage đã không nói cho các sếp của mình ở Lầu Năm Góc biết là sẽ có những người tị nạn trên tàu. Ông lo sợ chính quyền Mỹ sẽ không muốn có họ.

Tuy nhiên, cả Armitage lẫn Đỗ Kiểm đều không thể dự đoán được có bao nhiêu người tị nạn sẽ xuất hiện ở Côn Sơn.

Hỗn loạn trên đảo Côn Sơn

Năm 1975, Richard Armitage là một chuyên viên dân sự 30 tuổi được giao nhiệm vụ với một sứ mệnh nguy hiểm: tháo rời và phá hủy những con tàu và công nghệ của hải quân Nam Việt Nam để chúng khỏi rời vào tay những người Cộng sản. Sau đó, Armitage đã phục vụ trong vai trò thứ trưởng ngoại giao từ năm 2001 tới 2005, dưới thời Ngoại trưởng Colin Powell trong chính quyền George W. Bush.

Chiếc Kirk chạy suốt đêm để tới Côn Sơn và đến đảo khi mặt trời mới mọc vào ngày 1 Tháng 5. Có 30 chiếc tàu hải quân Nam Việt Nam, và hàng chục tàu thuyền đánh cá và tàu hàng. Tất cả đều đầy ứ những người tị nạn đang tuyệt vọng để có được cách nào ra khỏi Việt Nam.

Các con tàu “đã được nhồi nhét đầy những người dân”, ông Kent Chipman, người mà vào năm 1975 là một phụ máy 21 tuổi trong phòng máy và ngày hôm nay làm việc tại một  nhà máy lọc nước tại Texas. “Tôi không thể nhìn thấy bên dưới sàn tàu, nhưng ở trên boong tàu thì mọi người đã bị nêm chặt sát sạt vào nhau tới mức có thể.”

Không có con số chính xác là bao nhiêu người trên các con tàu đó. Một số ghi chép lịch sử cho rằng đã có 20.000 người. Các hồ sơ khác cho rằng có tới 30.000. Jan Herman, một nhà sử học thuộc Ban Y tế Hải quân Mỹ, người đang ghi lại câu chuyện của Kirk, thì sử dụng con số cao hơn.

Các kỹ sư của Kirk được phái đến một số các tàu thuyền để giúp chạy máy.

“Chúng han rỉ, xấu xí, bầm dập”, ông Chipman kể. “Một số tàu trong đó thậm chí không chạy nổi; chúng phải kéo nhau. Và một số trong đó thực sự đã được lôi đi trên mặt nước và chúng tôi đã đưa chúng đi được và có được chúng theo cái cách có thể vận hành được.”

Một tàu chở hàng quá nặng nên bị chìm. Người dưới sàn tàu đã phải dùng giày để tát nước ra.

Stephen Burwinkel, lính cứu thương của chiếc Kirk – trong Hải quân có vai trò như một y tá quân y viện – đã lên con tàu đó để khám cho các bệnh nhân và người bị thương. Ông đã trông thấy một đại úy hải quân Việt Nam đang giúp hành khách rời khỏi con tàu chìm chuyển sang con tàu khác, trên một tấm ván gỗ nhỏ. Khi mọi người xô đẩy nhau để thoát khỏi con tàu đang chìm dần, thì một người đàn ông đã đánh một phụ nữ bỗng dừng lại  trước mặt anh ta. Cô này đã rơi khỏi tấm ván và chìm xuống biển.

Người phụ nữ này nhanh chóng được cứu sống. Nhưng Burwinkel lo là những người khác trên tàu sẽ hoảng sợ. Ông ra lệnh cho viên đại úy hành động nhanh chóng.

“Viên đại úy Việt Nam này không chần chừ, ông đã tức khắc tiến tới phía sau người đàn ông, rút súng ra và chĩa vào đầu bắn ông này chết ngay, rồi đá cái xác qua một bên. Mọi cảnh hỗn loạn tại đây đã chấm dứt ngay từ khi đó,” Burwinkel nhớ lại . Phát đạn gây sốc, ông nói, nhưng nó rất phù hợp để ngăn chặn một cuộc náo loạn.

Chạy về hướng Philippines

Sau khi sửa chữa những gì có thể sửa được trên các con tàu có thể chịu được sóng gió và chuyển những người trên các tàu phải bỏ lại, chiếc Kirk dẫn đầu đội tàu nhỏ của hải quân, các thuyền đánh cá và tàu vận chuyển hàng hóa chạy về phía Philippines.

Chiếc USS Cook, một tàu khu trục hộ tống, tựa như chiếc Kirk, đã giúp các tàu thuyền rời khỏi Côn Sơn. Thủy thủ đoàn của chiếc Cook đã cung cấp gạo, và đưa y tá của mình qua giúp Burwinkel và trợ lý của ông trên chiếc Kirk chăm sóc các bệnh nhân và người bị thương nữa.

Khi đội tàu hướng ra biển, trên đường đến Philipines, các tàu Hải quân khác đã tham gia vào và rời khỏi cuộc hộ tống, theo Herman cho biết. Trong số những con tàu đó có USS Mobile, USS Tuscaloosa, USS Barbour County, USS Deliver và USS Abnaki.


Nhưng rõ ràng qua các máy đo tốc độ hàng ngày trên chiếc Kirk và các tàu khác thì thủy thủ đoàn của chiếc Kirk đã đóng vai trò dẫn đường.

“Đối với tôi, Kirk là lý tưởng”, ông Armitage, người đã chuyển từ chiếc Kirk sang chiếc tàu đô đốc của hải quân Việt Nam, cho biết. “Nó có thể liên lạc với phần còn lại của hạm đội Mỹ. Họ cùng chúng tôi qua tới Philippines và có khả năng cứu bất cứ người nào có thể đang gặp nguy hiểm. Một số người đã bị thương. Một số đang có thai. Tất cả đều bị bệnh sau một thời gian. Và chúng ta cần có cách để chăm sóc những người này.”

Các thủy thủ của Kirk bận rộn cung cấp thực phẩm, nước và thuốc uống cho những người trên các con tàu của Nam Việt Nam.

Burwinkel đã dành thời gian di chuyển từ tàu này samg tàu khác để điều trị cho các bệnh nhân và người bị thương. Với hàng ngàn người – đa số là trẻ sơ sinh và trẻ em – ông đã làm việc gần như không nghỉ.

“Khi người ta trao cho tôi tấm mề đay tưởng thưởng cho tất cả thành tích này, tôi khá thẳng thắn mà gọi nó là tấm mề đay ‘không ngủ’ của tôi,” đó là lời ông Burwinkel, người đã có một sự nghiệp trong lực lượng Hải quân và hiện đang nghỉ hưu và sinh sống tại Pensacola, Florida. “Tôi có thể tới đó, và làm những công việc của mình và lúc trời tối, chúng tôi trở về với chiếc Kirk và cố gắng  kiếm được một chút gì đó để ăn và làm vài chầu rượu – tập hợp kiến thức xung quanh, cung cấp lại cho bản thân mình và sẵn sàng cho ngày hôm sau.”

‘Chủ quyền lãnh thổ cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa’

Một con tàu đưa những người tị nạn Việt Nam tới chiếc Kirk gần Đảo Côn Sơn. Tàu của Hoa Kỳ đã đảm trách những sứ mệnh nhân đạo lớn lao nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.

Trong số 30.000 người tị nạn trên những chiếc tàu mà Kirk hộ tống trong sáu ngày, chỉ có ba người chết.

Nhưng khi các đội tàu nhỏ tới gần Philippines, hạm trưởng Kirk đã nhận được một số tin xấu. Sự hiện diện của các tàu thuyền miền Nam Việt Nam tại một bến cảng Philippines sẽ đặt ra một tình trạng khó khăn về ngoại giao cho chính phủ ở Manila.

“Chính phủ Philippines sẽ không cho phép chúng ta vào, bởi vì những con tàu này giờ đây đã thuộc về người Bắc Việt Nam và họ không muốn xúc phạm quốc gia mới đó”, thuyền trưởng Jacobs nhớ lại.

Chính phủ của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos là chính phủ đầu tiên công nhận các nhà cai trị cộng sản giờ đây kiểm soát một nước Việt Nam duy nhất, và Jacobs đã được yêu cầu buộc các con tàu này phải trở về.

Armitage và người bạn Nam Việt Nam của mình, Thuyền trưởng Đỗ Kiểm, đã đưa ra một giải pháp mà Marcos phải chấp nhận.

Ông Kiểm nhớ lại kế hoạch: “Chúng tôi sẽ kéo lên cao lá cờ Mỹ và hạ cờ Việt Nam xuống như là một dấu hiệu của sự chuyển nhượng con tàu lại cho Hoa Kỳ, bởi vì trong chiến tranh những con tàu này được trao cho chính phủ Việt Nam như là một khoản vay, nếu như người ta muốn, từ Hoa Kỳ, để chiến đấu với những người Cộng sản. Bây giờ chiến tranh kết thúc, chúng ta trả chúng lại cho Hoa Kỳ. “

Một cuộc lục soát điên cuồng để tìm ra 30 lá cờ Mỹ. Hai sĩ quan từ chiếc Kirk đã được gửi tới mỗi chiếc tàu Việt Nam để chỉ huy một buổi lễ phỏng theo một nghi thức chào cờ trang trọng.

Rick Sautter là một trong những sĩ quan của Kirk đã thực hiện mệnh lệnh trên một con tàu Việt Nam.

“Đó là dấu tích cuối cùng của miền Nam Việt Nam khi những lá cờ được hạ xuống và những lá cờ Mỹ được kéo lên. Bởi vì một con tàu của Hải quân là chủ quyền lãnh thổ và vì vậy mà con tàu đó là chủ quyền lãnh thổ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa”, ông nói.

“Hàng ngàn người trên những con thuyền bắt đầu hát quốc ca [miền Nam Việt Nam]. Khi người ta hạ lá cờ xuống, họ đã khóc, khóc, và khóc,” ông Đỗ Kiểm hồi tưởng.

‘Thời khắc quan trọng trong sự nghiệp của tôi’

Ngày 7 tháng 5, các tàu mang cờ Mỹ được phép vào Vịnh Subic.

Đối với những người tị nạn, đó mới chỉ là sự khởi đầu cho cuộc hành trình dài, đưa họ đến Guam, sau đó tái định cư tại Hoa Kỳ.

Đối với các thủy thủ của Kirk, sự kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam bằng việc cứu vớt được từ 20.000 đến 30.000 người là rất mãn nguyện.

“Đây là đỉnh cao của sự nghiệp của tôi và tôi rất tự hào về những gì chúng tôi đã làm, những gì chúng tôi hoàn thành, cái cách mà chúng tôi đã thực hiện”, Jacobs nói. “Tôi cảm thấy dường như chúng tôi đã xử lý công việc đó thật sự chuyên nghiệp và đó phần nào như một thời khắc buồn thảm.”

Armitage nói rằng ông “ghen tị” với các sĩ quan và những người đàn ông của con tàu USS Kirk. Con tàu đã không được trải qua các trận đánh trong chuyến đi của mình tới Việt Nam. Nhưng nó đã kết thúc với cuộc giải cứu hàng chục ngàn người tị nạn, một trong những nhiệm vụ nhân đạo lớn nhất trong lịch sử của quân đội Mỹ.

Armitage nói: “Họ đã không phải chịu gánh nặng liên quan tới những bất hạnh trước đây ở Việt Nam.”


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Nguồn: National Public Radio

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , , | 21 phản hồi »

641. Quân đội Trung Quốc liều lĩnh giẫm chân lên chính sách

Đăng bởi anhbasam on 01/09/2010

Đa thê cực ghê! (Daily Mail) Nhưng đa đảng thì … sướng … Hề hề!

“Vừa đa thê, vừa đa đảng thì sẽ CỰC SƯỚNG” (độc giả Xe Đạp Địa Hình)

Reuters

Quân đội Trung Quốc liều lĩnh

giẫm chân lên chính sách

  • Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) phối hợp với chính quyền dân sự kém tinh tế
  • Ngân sách gia tăng làm cho quân đội có quyền hành hơn
  • Quân đội trung thành song nổi rõ “kẽ hở về kinh nghiệm”

By Chris Buckley

31-08-2010

Bắc Kinh, ngày 31-8 (Reuters) – Quân đội Trung Quốc, táo bạo và đầy tham vọng để được nể trọng, liều lĩnh dẫn dắt một lối cư xử bất đồng với chính sách đối ngoại mềm dẻo của đất nước, làm gia tăng rủi ro về sự rối loạn và sai lầm trong một lĩnh vực vốn đã được cảnh báo về sự mở rộng tầm ảnh hưởng của nó.

Các viên chức PLA đã lớn tiếng cảnh báo rằng lợi ích quốc gia bị đe dọa do các tuyên bố chủ quyền của các đối thủ láng giềng trên Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông], và công khai chỉ trích các cuộc tập trận được lên kế hoạch của Mỹ và Nam Hàn, giữa Triều Tiên và Trung Quốc ở Hoàng Hải.

Một đất nước cần được tôn trọng, và quân đội cũng cần sự kinh phục”, Thiếu tướng Lạc Nguyên (Luo Yuan) đã viết trong bài thuyết trình của PLA.

Làm căng thẳng thêm cho quan điểm này, Hải quân Trung Quốc sẽ tổ chức các cuộc diễn tập pháo binh ở Hoàng Hải từ thứ Tư.

Bên trong sự quyết đoán công khai đó, là những câu hỏi về thay đổi trong quan hệ quân sự với dân sự ở Trung Quốc, một khu vực u ám với những dính líu rõ ràng hơn đối với chính sách đối ngoại, đặc biệt là ở châu Á.

Quân đội Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào Đảng Cộng sản cầm quyền, nhưng nó phát triển ít ăn khớp với các nhà lãnh đạo dân sự, và điều đó có ý nghĩa đối với việc phối hợp và truyền đạt chính sách, đặc biệt là phải chịu sức ép.

Quan hệ quân sự với dân sự ở Trung Quốc rất khác so với trước đây. Trước đây thường có sự hợp tác. Bây giờ là hai lĩnh vực riêng biệt”, ông Nan Li, giáo sư Trường Cao đẳng Hải chiến Mỹ ở Rhode Island, người chuyên nghiên cứu về PLA, cho biết.

Sự phối hợp giữa các cơ quan là một vấn đề lớn“, ông nói.

Với Trung Quốc việc thăm dò để biết cách đối xử với đội quân đang phát triển nhanh chóng, cùng những tình thế dễ thay đổi bên trong nội bộ như thế có thể gây nên những hậu quả trong khu vực, nơi có sự hiện diện quân sự rất lớn của Hoa Kỳ.

Rõ ràng là có các hệ quả rất lớn cho các lựa chọn chính sách đúng đắn, cả ở Bắc Kinh lẫn ở nước ngoài“, ông David Finkelstein, chuyên gia về quân đội Trung Quốc tại CNA, một viện nghiên cứu tại Virginia về các vấn đề an ninh, đã nhận xét về quan hệ giữa PLA với phía dân sự.

Các lợi ích an ninh toàn cầu của Trung Quốc đã mở rộng nhanh hơn so với năng lực của các thể chế quan liêu truyền thống đang điều khiển chúng“, ông nói.

Việc vận động hành lang hoặc ngăn chặn trong số các viên chức dân sự và quân sự có thể làm cho việc hoạch định chính sách của Trung Quốc thậm chí không giống với một dàn nhạc được luyện tập chặt chẽ, mà tựa như một ban nhạc với các thành viên cạnh tranh nhau để gây sự chú ý, liều lĩnh với những sai lầm hoặc rối loạn.

Một nhà chiến lược PLA gần đây đã cảnh báo tương tự.

Khi không có sự lãnh đạo kiên định đối với an ninh quốc gia, khi có nhiều ban bệ tham gia, sự phối hợp gặp khó khăn, các phản ứng có khuynh hướng chậm trễ, các biện pháp phản hồi thiếu tập trung, và liên tục xuất hiện những nan đề trong các mối liên hệ nào đó giữa các thể chế trong việc đối phó với các sự kiện“, chiến lược gia hồi hưu, Đề đốc Dương Nghị đã viết trong một nghiên cứu xuất bản hồi cuối năm ngoái.

ĐÒI HỎI TÔN TRỌNG

PLA đã nhận được khoản ngân sách chính thức gia tăng hàng năm trong hai thập kỷ qua, trung bình tăng 12,9% mỗi năm. Sự gia tăng đó đã làm cho họ mạnh hơn, và thiếu kiên nhẫn hơn với áp lực từ nước ngoài, Đại tá PLA, ông Lưu Minh Phúc cho biết.

Trong quá khứ, do tập trung phát triển kinh tế và ngân sách của chúng tôi thì thấp và chúng tôi đã bị đẩy ra ngoài lề. Nhưng bây giờ thì khác. Chúng tôi hiểu rằng một đất nước thịnh vượng cần có một quân đội vững mạnh“, ông nói với Reuters hồi đầu năm nay.

Hồi tháng 6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Robert Gates đã thấy những điều mà ông cho là sự huênh hoang của PLA. Ông tuyên bố nó đang cản trở các nỗ lực cải thiện quan hệ quân sự, đi ngược lại các nỗ lực của chính phủ Trung Quốc để giảm bớt căng thẳng.

Lời than phiền của ông Gates đưa ra sau khi các sĩ quan PLA chỉ trích kịch liệt  Washington, và khước từ các hy vọng về chuyến thăm Bắc Kinh của ông Gates và làm sống lại các mối quan hệ quân sự bị Trung Quốc đình chỉ do Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan, hòn đảo tự trị mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Bình luận của các sĩ quan PLA gần đây đã đưa ra nhiều từ ngữ cứng rắn nhằm vào Washington. Những tiếng lầm bầm này xuất hiện nhắm vào đối tượng ở trong nước đang thèm khát tiếng nói mạnh mẽ. Ông Li, phân tích gia thuộc trường Cao đẳng Hải quân Hoa Kỳ cho biết như vậy.

Nhưng bằng cách tạo ra các kỳ vọng cho công chúng và giới tinh hoa xã hội rằng Trung Quốc sẽ có lập trường cứng rắn, cách nói như thế có thể giới hạn khả năng cho các cuộc trao đổi hòa dịu, hoặc gieo rắc ở nước ngoài nhận thức về tính hay thay đổi của người đang chỉ đạo chính sách ở Bắc Kinh.

So với trước đây, ảnh hưởng hoặc vai trò chế ngự  của công luận  Trung Quốc lên chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay là đáng chú ý“, theo nhận xét của ông Wang Wen, bình luận gia cao cấp của Global Times, tờ báo của những người theo chủ nghĩa dân tộc nồng nhiệt.

KHÔNG ĐƯỢC LÀ MỘT LỰC LƯỢNG CÁ BIỆT

Tại Trung Nam Hải, khu vực Đảng Cộng sản Trung Quốc  trú đóng có tường rào bao quanh, là nơi mà các quyết định lớn được thi hành, nan đề thực sự có lẽ là việc thiếu sự phối hợp, chứ không phải là không trung thành hoặc hoàn toàn bất đồng.

Đảng đòi hỏi lòng trung thành không hề thay đổi của quân đội, đặc biệt đối với giới lãnh đạo cao nhất, mà hiện nay ông Hồ Cẩm Đào, người đồng thời là Chủ tịch Quân ủy Trung ương, nhóm chóp bu trên các vấn đề của PLA.

PLA vẫn là quân đội của Đảng. Họ không thể thực hiện một chính sách đối ngoại riêng rẽ “, ông Finkelstein, phân tích gia của CNA, nói.

Tuy nhiên, bên dưới bức mành trướng của đoàn kết nhất trí giữa Đảng và PLA, một “kẽ hở về kinh nghiệm” đã hiện ra, ông Finkelstein, nhà phân tích của CAN nhận xét.

Kể từ sự ra đi của những nhà cách mạng lão thành Trung Quốc là Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, với sự can dự sâu của cả hai vào việc chỉ huy quân đội, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã không có mấy công việc để làm với PLA cho đến khi họ lên đến đỉnh cao quyền lực. Đổi lại, các tướng lĩnh PLA tập trung nhiều hơn vào các ưu tiên bên ngoài.

Ông Li, phân tích gia về hải quân đã đã đưa ra một ví dụ về những rắc rối có thể tạo ra, đó là cuộc thử nghiệm chống vệ tinh của Trung Quốc hồi năm 2007, khi Bộ Ngoại giao cho thấy cuộc thử nghiệm này đã không được chuẩn bị tốt, gây ra những lo ngại quốc tế đối với các mảnh vỡ ngoài không gian và các kế hoạch chinh phục vũ trụ của Bắc Kinh.

Khi nói rằng Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] cũng là một khu vực có “lợi ích quốc gia cốt lõi” của Trung Quốc, các nhà hoạch định chính sách của đất nước này cũng đã đánh liều với uy tín của họ, bởi vì hải quân của họ không đủ mạnh để thực thi kiểm soát trên biển, ông Li nói.

Khi nâng nó lên thành lợi ích quốc gia cốt lõi mà không có phương tiện để bảo vệ nó, sự răn đe của Trung Quốc bị suy yếu“, ông khẳng định.


Ngọc Thu dịch

Nguồn: Reuters

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: , | 23 phản hồi »

640. PHẢN ỨNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Đăng bởi anhbasam on 30/08/2010

Thử đứng lên thẳng lưng làm người như anh đây coi … chú em! (Hình:Daily Mail, bình: BS)

———————

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 30/8/2010

PHẢN ỨNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

TTXVN (Bắc Kinh 22/8)

Với tựa đề “Tin đồn về khả năng Trung Quốc tìm kiếm liên minh hai bờ cùng phòng vệ Biển Đông, tờ “Tin tức tham khảo” số ra ngày 20/8/2010 trích đăng các nguồn tin báo chí từ bên ngoài cho thấy những biểu hiện về khả năng Trung Quốc Đại lục đang muốn tìm kiếm liên minh với Đài Loan để phòng vệ Biển Đông như sau:


+ Dẫn tin từ báo Manichi Shimbun của Nhật Bản số ra ngày 19/8, “Tin tức tham khảo” viết: Theo tiết lộ của nhân vật hữu quan trong ngành quốc phòng Đài Loan, từ năm ngoái đến nay Trung Quốc đã nhiều lần không chính thức thăm dò xem Đài Loan có ý định hợp tác (với Trung Quốc Đại lục) trong vấn đề phòng vệ Biển Đông hay không. Phía Trung Quốc gần đây cũng xác định Biển Đông là phần “lợi ích cốt lõi” liên quan đến toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc. Phía Đài Loan tuy bề ngoài từ chối, nói rằng “trước mắt không thể thương thảo được”, nhưng cùng với quan hệ kinh tế hai bờ được cải thiện, không loại trừ khả năng hai bên sẽ hợp tác với nhau trong vấn đề Biển Đông.

Về vấn đề chủ quyền Biển Đông, Đài Loan luôn tuyên bố, xét từ các góc độ lịch sử, địa lý và luật pháp quốc tế, các quần đảo Nam Sa (Trường Sa), Tây Sa (Hoàng Sa), Trung Sa và Đông Sa cùng với vùng biển xung quanh các quần đảo đó vốn vẫn là phần lãnh thổ và lãnh hải của “Trung Hoa dân quốc”. Trung Quốc cũng tuyên bố có chủ quyền ở phạm vi nói trên. Nhân vật hữu quan cho biết “nếu loại bỏ vấn đề giữa Đài Loan và Trung Quốc, ai là chủ thể có chủ quyền thì lập trường của cả hai về vấn đề chủ quyền Biển Đông là thống nhất với nhau”.

Phía Đài Loan tiếp nhận lời đề nghị của Trung Quốc cho biết, sau khi Chính quyền Mã Anh Cửu được thành lập, quan hệ Trung Quốc – Đài Loan không ngừng được cải thiện, Trung Quốc đã đề xuất như trên với phía Đài Loan. Quan chức này đã từ chối bằng cách nói rằng “các ông quản lý Nam Sa là được rồi, chúng tôi chỉ quản lý khu vực biển Nam Sa mà chúng tôi đã tự kiểm soát được trên thực tế ở đảo Thái Bình” (đảo Ba Bình). Quan chức này còn nói thêm “quan hệ của chúng tôi với Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông là quan hệ hợp tác, hợp tác với Nhật Bản là điều hết sức quan trọng đối với chúng tôi”.

Ngoài ra, quan hệ Trung Quốc – Đài Loan được cải thiện cũng ẩn chứa khả năng thay đổi hiện trạng ở đảo Điếu Ngư (Senkaku). Cả Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố có chủ quyền ở vùng quần đảo này. Ông Lâm Chính Nghĩa, Nghiên cứu viên của Phòng nghiên cứu Âu – Mỹ thuộc Viện nghiên cứu trung ương trực thuộc Phủ Tổng thống Đài Loan cho rằng đảo Senkaku là đối tượng quan tâm thuộc “Hiệp ước bảo vệ an ninh Nhật – Mỹ” nên Chính phủ Mã Anh Cửu luôn từ chối hợp tác với phía Trung Quốc. Tuy nhiên, ông này cũng cho biết “cùng với việc quan hệ Trung Quốc – Đài Loan được cải thiện, không loại trừ khả năng Trung Quốc và Đài Loan cùng hợp tác với nhau trong lĩnh vực phòng vệ, đây là điều trước đây không thể tưởng tượng được”.

+ Dẫn bài viết “La Viện: Hai bờ cần phải bảo vệ tổ quyền” đăng trên “Báo Liên hợp” của Đài Loan ngày 14/8, “Tin tức tham khảo” cho biết: Nghiên cứu viên thuộc Viện khoa học quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Tổng thư ký Học hội khoa học quân sự Trung Quốc – Thiếu tướng La Viện đã kêu gọi Đài Loan như sau: Đứng trước vấn đề về Biển Đông, Biển Hoa Đông và đảo Senkaku, quân đội hai bờ cần có hành động chung bảo vệ “tổ quyền”, cùng bảo vệ tài sản chung mà tổ tiên để lại. Thiếu  tướng La Viện cho biết ông không dùng từ “chủ quyền” mà dùng từ “tổ quyền” vì đó là tài sản chung do tổ tiên để lại mà hai bên cùng có quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm phải bảo vệ.

+ Tờ “Tín báo” ở Hồng Công ngày 9/8 đăng bài “Nút thắt Biển Đông tháo gỡ bằng cách nào?” của Tiết Lí Thái, Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm hợp tác và an ninh quốc tế – Đại học Stanford ở Mỹ (FSI-CIAC), “Tin tức tham khảo” dẫn báo trên cho biết: Tại diễn đàn Hội nghị ASEAN tháng trước, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói rõ Mỹ không ủng hộ bất cứ một nước nào trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông. Xu thế quốc tế  hóa tranh chấp chủ quyền Biển Đông ngày càng cho thấy rõ, rằng nếu nói về tác động đối với an ninh của Trung Quốc thì mức độ tác động của chính sách được tuyên bố này đã vượt xa tập trận quân sự ở Hoàng Hải. Từ đó đến nay, Trung Quốc chỉ hành động theo tình thế, còn về hoạch định chiến lược cục bộ, tự phải coi việc bắt tay hợp tác hai bờ trong vấn đề Nam Sa là mục đích chính. Đảo Thái Bình nằm ở cực Bắc của quần đảo Nam Sa, là đảo chính ở Nam Sa, trên đảo có nước ngọt, là đảo duy nhất mà một cộng đồng người có thể sinh sống lâu dài ở đó, hiện do Đài Loan quản lý.

Việt Nam vẫn nhấn mạnh chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Nam Sa. Tuy nhiên, nếu Việt Nam không có được Đảo Thái Bình thì vẫn có nguy cơ một ngày nào đó sẽ mất đi toàn bộ quyền và lợi ích ở Biển Đông. Mấy năm trước đây, Đài Loan đã mở rộng sân bay trên đảo, Việt Nam lập tức phản đối.

Các nước đều đã khai thác tài nguyên ở Biển Đông trên quy mô lớn, Đài Loan lại không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế như các nước thành viên Liên Hợp Quốc, hơn nữa về mặt chiến lược chỉ biết tự bảo vệ chứ không nghĩ đến việc gây chuyện, vì thế chỉ có thể ngồi yên nhìn các nước khác kiếm những món tiền lớn. Nếu hai bờ bắt tay hợp tác sẽ có thể bổ sung ưu thế cho nhau.

*

*        *

Báo chí Trung  Quốc gần đây có nhiều bài phân tích, nhận định thể hiện cố gắng của Trung Quốc trong xu thế hòa bình, hòa dịu và ổn định ở khu vực Biển Đông và Đông Nam Á. Sau khi Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Robert Willard có bài phát biểu tại Philippin liên quan đến khu vực Biển Đông. “Nhân dân nhật báo” của Trung Quốc ngày 20/8 có bài phê phán, phản bác quan điểm của Robert Willard cũng như của Mỹ nói chung, đồng thời khẳng định xu thế hòa bình ở Biển Đông là không thể đảo ngược. Bài báo viết:


Ngày 18/8 tại Philippin, Tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ Robert Willard có bài phát biểu với hàm ý sâu xa liên quan đến vấn đề Nam Hải (Biển Đông). Trong khi phát biểu cho rằng Trung Quốc gây nên mối lo ngại cho các nước trong khu vực, R. Willard cũng đồng thời cho biết Mỹ sẽ duy trì lâu dài sự hiện diện quân sự của họ ở Biển Đông để đảm bảo an ninh cho tuyến đường biển và không phận ở vùng biển này. Sự quy kết của R. Willard đối với Trung Quốc và nhận định của ông này về tình hình Biển Đông như vậy là không đúng với sự thực.

Từ mười mấy năm nay, các nước Đông Nam Á đã tích cực thúc đẩy tiến trình nhất thể hóa khu vực, nỗ lực xây dựng khuôn khổ hợp tác khu vực ở nhiều cấp độ khác nhau, trên cơ sở đó sẽ xây dựng cộng đồng Đông Á như một mục tiêu lâu dài. Thực tế tin cậy lẫn nhau và quá trình hợp tác phát triển liên tục giữa các nước là do môi trường ổn định và tích cực ở khu vực này quyết định, trong đó Biển Đông trở thành vùng biển an toàn, hòa bình là một điều kiện quan trọng.

Dựa theo nguyên tắc “gác lại tranh chấp, cùng khai thác”, trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, Chính phủ Trung Quốc đã tăng cường đối thoại và hợp tác an ninh với các nước liên quan. Năm 2002 Trung Quốc đã cùng với các nước ASEAN ký kết bản “Tuyên ngôn về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình, cùng giữ gìn ổn định khu vực, đạt tiếng nói chung cũng như xây dựng một loạt khuôn khổ hợp tác song phương và đa phương ở Biển Đông.

Trung Quốc đã cùng với Việt Nam thúc đẩy khuôn khổ hợp tác “hai hành lang một vành đai”; Hợp tác đa phương tiểu vùng sông Mê Công phát triển thuận lợi; Hợp tác kinh tế ở khu vực phía Đông ASEAN với Trung Quốc và hợp tác kinh tế tiểu khu vực Vịnh Bắc Bộ có được tiến triển tốt; Trung Quốc và khối ASEAN đã xây dựng quan hệ đối tác chiến lược hướng tới hòa bình và phồn vinh, kế hoạch hành động cụ thể từng bước được thực hiện; Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN đã khởi động thành công. Ngoài ra, với sự chủ đạo của ASEAN, thỏa thuận hợp tác về nhiều lĩnh vực trong khuôn khổ “10+3” ở khu vực Đông Á tiến triển thuận lợi, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á cũng phát huy vai trò tích cực.

Những thành quả nói trên có lợi cho quá trình hợp tác Đông Á, thậm chí cho cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương, giúp cho quá trình này phát triển thuận lợi, bản thân sự thực đó đã chứng tỏ xu thế hòa bình, ổn định và phát triển căn bản ở khu vực Biển Đông. Trong bối cảnh chung đó, cái được gọi là “tình hình căng thẳng” ở Biển Đông là một sự bày đặt cố ý, bằng mọi cách tạo bầu không khí lo ngại vì một mục đích riêng nào đó.

Trước đây khi Chiến tranh Lạnh vừa kết thúc, Biển Đông đã từng bị một số người miêu tả là điểm châm ngòi xung đột hiện thực. Hiện nay ảnh hưởng can dự của nước lớn ngoài khu vực lại dẫn đến tâm lý bất an mới. Biển Đông liệu có thực sự do vậy mà rơi vào tình trạng rối ren?

Biển Đông là biển của hòa bình và ổn định, biển của giao lưu thông hiểu lẫn nhau, là vùng biển thúc đẩy cùng phát triển. Ở đây có nguyện vọng chung giữ gìn hòa bình và phồn vinh, có không gian hợp tác trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, an ninh… , có trào lưu hợp tác song phương và đa phương cùng có lợi. Biển Đông sẽ tiếp tục trở thành sân chơi giúp củng cố ổn định khu vực Đông Á, thậm chí thúc đẩy hòa bình phát triển ở cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

An ninh ở Biển Đông không thể được bảo vệ bằng cách dựa vào việc gây ra phiền phức, xu hướng lớn ở Nam Hải cũng không thể vì một số người nào đó tự theo ý mình mà bị đảo ngược.

Cũng cùng chủ đề nói trên, bài “Phía sau ‘cú trượng ngã’ trong quan hệ Trung – Mỹ” đăng trên “Tuần tin tức Trung Quốc” ra ngày 23/8/2010, viết như sau:


Nếu nói tranh cãi giữa Mỹ và Trung Quốc xung quanh sự kiện tàu Cheonan đã kéo theo rất nhiều nhân tố tức giận về tâm lý, thì thái độ của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton thể hiện ngày 23/7 đã đẩy quan hệ Trung – Mỹ vào trạng thái xung đột tiềm tàng.

Bà Hillary nói: “Mỹ ủng hộ chủ trương giải quyết các hình thức tranh chấp lãnh thổ bằng phương thức hiệp thương thông qua trình tự ngoại giao, hợp tác lẫn nhau trong điều kiện các bên đòi hỏi chủ quyền không chịu sức ép từ bên ngoài. Chúng tôi cho rằng các bên cần căn cứ theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển để đưa ra đòi hỏi của mình về quyền lợi đối với lãnh thổ và khu vực phụ cận, cũng như quyền lợi đối với khu vực biển”. Tuyên bố của bà Clinton có nghĩa lần đầu tiên Mỹ công khai can dự vấn đề Biển Đông. Trước đó Trung Quốc vẫn luôn phản đối việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông và nhấn mạnh vấn đề này là thuộc phạm trù tranh chấp lãnh thổ song phương giữa Trung Quốc với các nước hữu quan, cần thông qua thảo luận song phương để giải quyết một cách hợp lý. Báo chí nước ngoài đưa tin, trên hội trường, cách bày tỏ thái độ như vậy của Mỹ khiến Trung Quốc bất ngờ không kịp trở tay, các quan chức Trung Quốc tham gia hội nghị cảm thấy hết sức kinh ngạc. Phần lớn các nhà quan sát cho rằng tuyên bố nói trên của Ngoại trưởng H. Clinton là bước chuyển ngoặt trong quan hệ Trung – Mỹ. Ủy viên Ủy ban quan hệ ngoại giao của Mỹ Josh Kurlantzick nói với “Tuần tin tức Trung Quốc” rằng “trong năm nay quan hệ Trung – Mỹ liên tục va chạm, vấn đề này (tức cách thức bày tỏ thái độ trong vấn đề Biển Đông) xuất hiện không hề có lý do nào. Ít nhất về ý nghĩa tượng trưng, cách bày tỏ thái độ của phía Mỹ trong vấn đề Biển Đông đã thực sự đánh dấu bước chuyển ngoặt trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc”.

Động cơ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông hết sức phức tạp. Xét một cách cụ thể, có một nhân tố trực tiếp nhất là Mỹ phải tranh thủ được quyền lực kiểm soát các hoạt động trinh sát hải phận và không phận. Trong vấn đề này, nguồn gốc bất đồng giữa Mỹ và Trung Quốc đã có từ lâu – Trung Quốc đã nhiều lần phản đối tàu quân sự Mỹ triển khai các hoạt động trinh sát ở vùng biển gần và không phận liền kề của Trung Quốc, trong khi Mỹ vẫn giữ quan điểm đó là quyền lợi và lợi ích của Mỹ.

Chuyên gia về chiến lược quốc tế của Trung Quốc, Giáo sư Trường Đại học nhân dân Trung Quốc Thời Ân Hoằng nói rằng, tuyên bố của Ngoại trưởng H. Clinton cho biết các bên đương sự trong vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông cần thông qua khuôn khổ quốc tế đa phương, cần thử nghiệm giải quyết vấn đề này dưới sự dàn xếp của Mỹ, nếu không thì vấn đề tự do lưu thông sẽ bị đe dọa. Nếu xem xét từ góc độ của Mỹ thì cái gọi là tự do lưu thông ở đây trên thực tế sẽ là các hoạt động trinh sát của Mỹ. “Mỹ có ý đồ áp dụng phương pháp này để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của một số nước Đông Nam Á, nếu Mỹ và Trung Quốc có tranh chấp về vấn đề chiến lược, các nước Đông Nam Á sẽ đứng về phía Mỹ”.

Nếu xem xét một cách sâu sắc hơn theo ý nghĩa chiến lược thì Mỹ muốn tăng cường sự có mặt của họ ở châu Á. Đầu năm nay khi trình bày chính sách của Mỹ đối với châu Á, H. Clinton tuyên bố Mỹ phải trở lại châu Á, phải đóng vai trò lãnh đạo trong quá trình lập lại cục diện ở châu Á, vì thế Mỹ sẽ coi trọng vai trò của ASEAN hơn. Trong bài phát biểu, Clinton đặc biệt nói rằng “Mỹ sẽ dốc toàn lực ủng hộ Việt Nam triển khai công tác với tư cách là Chủ tịch ASEAN”.

Điều này cũng dễ hiểu đối với việc Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông như thế nào, hơn nữa lần đầu tiên còn diễn tập quân sự chung với Việt Nam. Ngoài ra Mỹ còn tuyên bố hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực hạt nhân.

Trả lời phỏng vấn của “Tuần tin tức Trung Quốc”, các chuyên gia, học giả Mỹ nghiên cứu quan hệ Trung – Mỹ tuy có cảm thấy trắc trở, khó khăn nhưng phần lớn không tỏ ra bi quan đối với hiện trạng quan hệ Trung – Mỹ hiện nay. Quan hệ Trung – Mỹ dù có xảy ra tình trạng thế nào, cuối cùng lãnh đạo cấp cao hai nước vẫn đều nhận thức một cách sâu sắc được ý nghĩa “lớn lao không thể đảo ngược”, rằng quan hệ hai nước cần phải hướng về tương lai phía trước.

Bắt đầu từ những va chạm do Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, cho đến gần đây Mỹ mạnh bạo tuyên bố can thiệp vào vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cho rằng vấn đề lớn nhất trong quan hệ Trung – Mỹ là Mỹ không nhìn nhận “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Mặc dù Mỹ luôn nói cách hiểu của mỗi bên về “lợi ích cốt lõi” có khác nhau, nhưng Mỹ phải tôn trọng mối quan tâm về an ninh của Trung Quốc, như vậy hai bên mới có thể trên cơ sở đó đưa quan hệ Mỹ – Trung trở lại quỹ đạo bình thường bằng thái độ thực tế hơn.

Ngoài thái độ thực tế, lý trí cũng hết sức quan trọng. Cũng giống như một số dư luận trong nước Mỹ làm rộ lên “thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, những tiếng nói không mang tính lý trí và cảm tính hóa cũng không giúp gì cho sự phát triển quan hệ song phương.

Không nghi ngờ gì, vấn đề trong quan hệ Trung – Mỹ sẽ còn tồn tại lâu dài, vấn đề đó sẽ là một phần trong quan hệ song phương. Một số học giả cho rằng quan hệ Trung – Mỹ tất nhiên quan trọng nhưng không phải là toàn bộ trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Học giả Thời Ân Hoằng nhận xét: “có lẽ trong một, hai năm vừa qua Trung Quốc đã mất quá nhiều thời gian cho quan hệ với Mỹ. Quan hệ với Mỹ đương nhiên hết sức quan trọng, nhưng Trung Quốc là một nước lớn. Thế giới rất rộng, chúng ta cần phải có đường lối ngoại giao toàn diện, phải học cách từng bước xóa bỏ những trở ngại mà chúng ta phải đối mặt ở khu vực Đông Nam Á”./.

—-

BS chú thích: bản dịch trên là của TTXVN, những đoạn mà bản gốc trên báo Trung Quốc ghi là “Biển Nam Trung Hoa”/”Nam Hải” thì hầu như đều được sửa lại trên bản dịch là “Biển Đông”. Cách này theo BS là không nên, nó làm sai lệch ít nhiều bản chất một bài viết theo giọng điệu chính quyền Trung Quốc.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , , , , , | 31 phản hồi »

639. Kế hoạch đường sắt của Việt Nam bị đình lại nhưng vẫn còn trông mong ở Nhật Bản

Đăng bởi anhbasam on 29/08/2010

Đầu tuần, cuối tháng, mừng ngày Độc lập, Ba Sàm xin gởi tặng các ông bà nghị bức hình, mong là kỳ họp tới-tháng 10- các vị được như bầy chim non đây, cùng nhau mở miệng (nhưng là để NÓI chớ không phải để … ĂN, nha!) trước cái đại dựa án đường sắt cao tốc, nếu như  chánh phủ lại cố liều một lần nữa.

(Daily Mail)

The Japan Times

Kế hoạch đường sắt của Việt Nam bị đình lại

nhưng vẫn còn trông mong ở Nhật Bản

Quốc hội đình hoãn dự án trị giá hơn 5 ngàn tỉ yên nhưng vẫn có các nghiên cứu khả thi để bắt đầu trên hai đoạn

By MAYA Kaneko

Thứ Bảy, ngày 28-8-2010
Kyodo News

Trong nhu cầu phải nâng cao chất lượng: Một tuyến đường sắt chạy ngang qua một khu dân cư tại khu buôn bán của Hà Nội. Cuối tháng 7-2010 (Ảnh: Kyodo)

HÀ NỘI – Mặc dù một kế hoạch xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam nối Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tại Việt Nam đã gặp một trở ngại bất ngờ sau một động thái bất thường của cơ quan lập pháp nhà nước cộng sản, không phê duyệt mà để nghiên cứu thêm, song người đứng đầu ngành đường sắt nước này đang kêu gọi sự hỗ trợ tiếp tục từ phía Nhật Bản.

Ông Nguyễn Hữu Bằng, Chủ tịch và là giám đốc điều hành Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, đã cho biết trong một cuộc phỏng vấn gần đây rằng ông hy vọng Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản sẽ bắt đầu nghiên cứu khả thi về hai đoạn đường sắt cao tốc riêng biệt trong tương lai gần để đặt nền tảng cho dự án.

Việt Nam đã bày tỏ ý định của mình lựa chọn hệ thống shinkansen cho dự án 5 ngàn tỉ yên của nước này để xây dựng một tuyến đường sắt tốc độ cao dài 1.600-km nối liền hai thành phố chỉ trong 5 giờ rưỡi.

JICA đã tiến hành một nghiên cứu sơ bộ như là một phần của một cuộc khảo sát toàn diện về toàn bộ hệ thống giao thông của Việt Nam và nói rằng đường sắt sẽ mang tính khả thi về kinh tế với điều kiện nó sẽ được bắt đầu trong hoặc sau năm 2036 và phát triển đô thị dọc theo tuyến đường này tăng nhanh, thúc đẩy một làn sóng gia tăng dân số.

Mặc dù dự án đã không được sự ủng hộ của đa số tại cơ quan lập pháp vào tháng Sáu, song ông Bằng cho biết chính phủ dự kiến sẽ lại đưa ra đề nghị sau khi các nhà lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản được lựa chọn vào năm tới.

Cơ quan lập pháp đã không đưa ra thông báo chính thức nào, nhưng theo báo chí cho hay các thành viên Quốc hội Việt Nam đã tỏ ra quan ngại về khả năng tài chính nếu dự án được thực hiện, khi mà các chi phí ước tính của nó lên tới khoảng hai phần ba sản phẩm quốc nội GDP của nước này.

Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu tổ chức đại hội đảng toàn quốc, năm năm một lần, vào tháng Giêng để chọn ban lãnh đạo mới. Tuyến đường sắt cao tốc là một trong những dự án ưu tiên đang được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thúc đẩy mạnh mẽ.


Ông Bằng nói rằng ông không nản lòng trước những yêu cầu của cơ quan lập pháp để có được “”chi tiết bổ sung” của dự án và rằng ông hy vọng JICA nghiên cứu kỹ lưỡng tính khả thi của hai đoạn đường sắt ưu tiên – một đoạn dài 295 km ở phía bắc từ Hà Nội đến Vinh và một đoạn dài 362 km phần ở phía Nam từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Nha Trang.

Ông nói rằng hoạt động của hai đoạn đường này có thể bắt đầu sớm hơn so với việc bắt đầu toàn bộ tuyến đường bắc-nam trong hoặc sau năm 2036.

Nghiên cứu khả thi của JICA sẽ cung cấp thông tin cơ bản cho [chính phủ ở] Tokyo trong việc đưa ra một quyết định về việc có nên mở rộng các khoản vay bằng đồng yên cho dự án này hay không.

Người đứng đầu ngành đường sắt cho biết Việt Nam mong muốn đưa công nghệ Nhật Bản vào sử dụng bởi vì nước này có ý định kế tục cái gọi là mẫu tàu chạy điện phức hợp, thứ đã được sử dụng ngày càng nhiều cho các hệ thống đường sắt cao tốc trên thế giới.

Ông Shuji Eguchi, giám đốc cơ quan các vấn đề quốc tế tại văn phòng Bộ giao thông đường sắt, đã cho biết Việt Nam “đánh giá cao” sự an toàn và đúng giờ của hệ thống shinkansen. Kể từ khi khởi động dịch vụ của mình vào năm 1964, đã không xảy ra tai nạn nào liên quan đến thương vong.

Tuy nhiên, ông Eguchi nói, chính phủ vẫn chưa quyết định chính thức cho việc bắt đầu nghiên cứu khả thi của JICA khi mà Tokyo tin rằng không nên vội vàng trong dự án đường sắt này, mà sẽ là một quá trình lâu dài.

Mặc dù chính phủ gần đây đã đặt ra một trọng tâm cho việc xuất khẩu các hệ thống cơ sở hạ tầng của nước này, bao gồm đường sắt cao tốc shinkansen, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của riêng mình, song quan chức về Đất đai, Giao thông vận tải, Cơ sở hạ tầng và Du lịch đã cho biết Nhật Bản đang “không tự thúc đẩy mình” liên quan tới dự án của Việt Nam.

“Chúng ta cần một cách tiếp cận từng bước một. Tuyến đường sắt của Việt Nam thông thường là loại ray đơn và chưa được điện khí hóa,” ông nói. “Để nhảy từ giai đoạn đó đến loại shinkansen, Việt Nam cần đào tạo cán bộ và ban hành luật pháp cần thiết.”

Việc thu lại lợi nhuận từ tuyến đường này cũng sẽ là công việc khó khăn, ông nói thêm. Một tuyến đường sắt mới phải được xây dựng riêng rẽ với tuyến đường hiện có để các đoàn tàu cao tốc được sử dụng riêng biệt.

Ông Eguchi nói rằng người Việt Nam trước hết phải làm quen với “văn hóa đường sắt” sau sự ra đời của các hệ thống tàu điện đô thị đã được lên kế hoạch tại hai thành phố lớn của nước này trong tương lai gần. Hiện nay, tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các cư dân thường đi lại bằng xe gắn máy.

Ông Toshio Nagase, đại diện cao cấp của Văn phòng JICA Việt Nam tại Hà Nội, đã cho biết hiện không có nhiều người đang sử dụng các dịch vụ đường sắt cho các hành trình đường dài ở Việt Nam, nhưng ông tin rằng có nhu cầu đáng kể về tàu cao tốc.

Đi du lịch đường dài bằng xe buýt được coi là nguy hiểm do điều kiện đường xấu trên các xa lộ và chỉ có một ít người là có xe hơi riêng của mình, ông nói. Du khách thường xuyên bay giữa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bởi vì phải mất hơn 30 giờ để đi du lịch bằng tàu hỏa.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Nguồn: The Japan Times

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: | 35 phản hồi »

638. Hội nghị Thượng đỉnh Đông Nam Á là một “thử nghiệm quan trọng” đối với Hoa Kỳ

Đăng bởi anhbasam on 28/08/2010

Bloomberg

Hội nghị Thượng đỉnh Đông Nam Á

là một “thử nghiệm quan trọng” đối với Hoa Kỳ,

một Nhóm Doanh nghiệp nhận định

Bloomberg News

Ngày 28-8-2010


Tổng thống Barack Obama nên hoàn thành các kế hoạch đăng cai tổ chức gặp gỡ các nhà lãnh đạo Đông Nam Á trong năm nay, giữa lúc có những lời chỉ trích Hoa Kỳ do việc đã bỏ qua một cuộc họp các Bộ trưởng thương mại  vào tuần này tại Việt Nam, người đứng đầu một nhóm doanh nghiệp Mỹ cho biết.

Các nhà lãnh đạo của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang chờ để biết địa điểm và thời gian diễn ra một hội nghị thượng đỉnh với Tổng thống Obama, ông Alexander Feldman đã cho biết hôm qua tại hội nghị Asean, nơi cũng có sự tham dự của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, Liên minh châu Âu, New Zealand và Nga. Sự vắng mặt của Mỹ là “một thất vọng”, Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan nhận xét.

Các nhà lãnh đạo Asean “không biết họ sẽ đến Washington hay New York; họ không biết liệu họ sẽ tới vào tháng chín hay tháng mười”, Feldman, chủ tịch Hội đồng Thương mại Hoa Kỳ-ASEAN (US-ASEAN Business Council), đã cho biết trong một cuộc phỏng vấn. “Đây là một thử nghiệm quan trọng cho chính quyền, để xem họ có thể cân bằng các vấn đề chính trị trong nước với quốc tế.”

Ông Obama, người đã trở thành nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đầu tiên họp mặt với 10 thành viên Asean vào năm ngoái, có thể gặp gỡ các đối tác trong nhóm này vào cuối năm nay, ông Surin đã cho các nhà báo biết như vậy, tại thành phố Đà Nẵng, Việt Nam ngày 26 tháng 8. Tổng thống đã cam kết tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ trong vòng năm năm tới, và Asean là thị trường lớn thứ tư đối với hàng hóa Mỹ, ông Feldman nói.

Động cơ cho sự hồi phục

“Kinh tế thế giới ngày càng chuyển hướng về phía” châu Á, Cao ủy Thương mại Âu châu Karel De Gucht nói với các nhà báo tại Đà Nẵng ngày hôm qua. “Đối với tôi rõ ràng Asean không chỉ là một đầu máy cho tăng trưởng mà nó sẽ còn là một động cơ của sự phục hồi cho các khu vực khác của thế giới.”

Trong khi chính quyền Obama đã có những bước đi để thúc đẩy quan hệ giữa Mỹ và Đông Nam Á, việc thiếu một sự hiện diện của chính phủ Mỹ tại Đà Nẵng là điển hình cho một cơ hội bị đánh mất, ông Feldman đánh giá.

“ASEAN có tầm quan trọng đặc biệt đối với những vấn đề trong nước của chúng tôi, đối với thế chủ động xuất khẩu quốc gia của tổng thống”, ông Feldman nói.

Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Chen Deming đã sử dụng chuyến công du của ông tới hội nghị tại Đà Nẵng như là một cơ hội để biện luận cho việc sử dụng đồng nhân dân tệ trong thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN, trong khi Liên minh châu Âu đưa ra một tuyên bố bày tỏ mong muốn của mình cho “cam kết kinh tế và chính trị lớn hơn” với khối này.

Toàn bộ trao đổi thương mại của Trung Quốc với ASEAN đã vượt qua Hoa Kỳ trong thập niên qua, tăng lên tới 178 tỉ USD vào năm ngoái. Đóng góp của Trung Quốc trong toàn bộ giao dịch buôn bán của Đông Nam Á đã tăng từ mức 4% lên đến 11,6% trong thời gian đó, trong khi tổng mức của Mỹ từ 15% giảm xuống còn 9,7%,  theo số liệu thống kê của Asean.

Hoàn tất những sắp xếp cho một hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Asean “là quan trọng chắc chắn không chỉ từ một quan điểm chiến lược và quốc tế, mà còn từ một quan điểm trong nước thuần túy, vì những cơ hội tuyệt vời” để xuất khẩu sang khu vực này, ông Feldman nói. “Đây là một cuộc chơi đòi hỏi sự khéo léo, và đây là những khoản đặt cược lớn.”


- Jason Folkmanis từ Đà Nẵng, với sự hỗ trợ từ Phạm Ngọc Diệp tại Đà Nẵng. Biên tập viên: Nate Hosoda, Jim McDonald

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Nguồn: Bloomberg

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , | 25 phản hồi »

637. Kỷ niệm nghìn năm Thăng Long …Nhìn lại

Đăng bởi anhbasam on 27/08/2010

Cuối tuần, hầu bà con mấy hình ảnh vui lượm được trên trang Daily Mail, những nhân vật nổi tiếng, trong đó có 2 vị lãnh tụ cộng sản. May không có các lãnh đạo nhà ta. Các nhà báo đừng học theo lối nầy mà đi … bóc lịch liền nha:

You’re Havana laugh: Revolutionary Che Guevara

Chairman Mao fails to see the joke

——————————————————————————————

Kỷ niệm nghìn năm Thăng Long …Nhìn lại

HOÀNG LẠI GIANG *


1/ Với dân, hãy trong sáng và minh bạch.

Có một số quan chức hay nhấn mạnh mối quan hệ truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc… Truyền thống ở đây được hiểu theo mối quan hệ anh em, đồng chí, mối quan hệ “môi răng”. “Môi hở răng lạnh”.

Từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi còn ngồi trên ghế nhà trường tôi vẫn nghĩ như vậy, tin son sắt mối quan hệ “Núi liền núi, sông liền sông”, mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” như vậy.

Nhưng rồi, qua năm tháng tôi dần nhận ra, không có sự giúp đỡ vô tư giữa các dân tộc. Giữa các dân tộc chỉ có quyền lợi. Một thời ấu trĩ, chúng ta  chưa một lần hoài nghi ,chưa một lần biết cảnh giác ! Trong không khí cách mạng sôi sục tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa tư bản chúng ta luôn  tự hào là người lính ở tuyến đầu chống Mỹ, là tiền đồn xã hội chủ nghĩa, là ba dòng thác cách mạng! là đội quân cảm tử giữ thành trì chủ nghĩa xã hội!

Giá tỉnh táo hơn, chúng ta không khó để nhận ra chúng ta đang bị những nước lớn có cùng thể chế chính trị biến thành phên dậu, thành người lính xung trận trên tuyến đầu chống đế quốc. Chúng ta đã gắn kết công cuộc chống đế quốc và giải phóng dân tộc làm một , cái này là tiền đề cho cái kia . Ở thời điểm sau 1945 không dễ nhận ra nhầm lẫn lịch sử này … Công cuộc giải phóng dân tộc là cao cả là thiêng liêng. Vì nó mà chúng ta sẵn sàng  đương đầu với cả phe đế quốc  dù phải hy sinh tất cả, kể cả xương máu. Và sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác là vô cùng quý giá. Uống nước nhớ nguồn! Đấy là tư tưởng Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi đã dạy chúng ta. Biết ơn để trả ơn chứ không phải trả oán.

Nhưng nếu vì ơn nghĩa mà nhân nhượng, mà im lặng, hoặc không dám nói rõ, không dám làm sáng tỏ, công khai minh bạch mọi âm mưu của kẻ thù khi lợi dụng lòng tin của nhân dân ta để “cho Việt Nam bài học!” để lấn đất, lấn biển của chúng ta, thì đấy lại là sự xúc phạm đến lòng tự tôn của dân tộc ta.

Kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long là cơ hội tốt nhất để tôn vinh tổ tiên đã vượt qua mọi thử thách, gian lao hết đời này đến đời khác giữ vững giang sơn, gấm vóc như ngày nay chúng ta thừa hưởng. Và đây cũng là dịp ôn lại những bài học mà cha ông đã đúc kết qua trường kỳ lịch sử. Một trong những bài học ấy là không bao giờ được mơ hồ trước kẻ thù.

2/ Kẻ thù của chúng ta …

Lịch sử còn ghi lại rành rẽ  chúng ta có hai kẻ thù chính. Đó là “nghìn năm đô hộ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây!”

Về thời gian, giặc Tàu đô hộ dân ta gấp mười lần giặc Tây, và tàn bạo chắc cũng nhiều lần hơn giặc Tây. Đơn giản, một đằng là sự tàn bạo phong kiến, một đằng là sự tàn bạo  của tư bản.

Tổng kết một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, may mắn chúng ta chưa bị biến thành phiên bang của họ.

Nhưng về mặt văn hóa tư tưởng, chúng ta bị ảnh hưởng rất nặng Khổng giáo. Ảnh hưởng ấy đã thấm vào máu thịt, xương cốt của từng người Việt cho đến hôm nay – cả mặt mạnh và mặt yếu của nó.

Một trăm năm đô hộ giặc Tây, dẫu sao ngoài sự bóc  lột tàn bạo, người Pháp vẫn còn để lại cho chúng ta một nền văn hóa phương Tây, một nền triết học phương Tây, một nền tư tưởng phương Tây tôn trọng Tự do – Bình đẳng – Bác ái, tôn trọng quyền con người… Ở mặt vật thể, người Pháp để lại cho chúng ta một đất nước tiền công nghiệp với những quy hoạch kiến trúc khoa học, tiến bộ, chặt chẽ hòa hợp từ hệ thống hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển với các cảng, hệ thống thoát nước và các đô thị từ Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Cần Thơ, An Giang… Hôm nay nhìn lại, những nhà kiến trúc, quy hoạch Việt Nam vẫn còn không hết lời ca ngợi.

Đấy là sự thực khách quan không ai tôn trọng  sự thực mà nói khác được!

3/ Âm mưu và tội ác của kẻ thù

Không ai hơn Nguyễn Trãi, khi ông tổng kết tội ác của giặc Tàu trong “Đại cáo bình ngô”. Trong Bình Ngô, Nguyễn Trãi chỉ ra nguyên nhân việc mất nước, đó là

“Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.”

Bọn này thời nào cũng có. Đừng nghĩ chỉ có thời   cổ, cận đại mới xuất hiện bọn ôm chân kẻ thù mà thời hiện đại không có. Đúng ra ở thời hiện đại nhờ mạng Internet, nhờ toàn cầu hóa, nhân dân nhận ra chân tướng bọn này dễ hơn, rõ hơn, chính xác hơn. Thật ấu trĩ khi nghĩ rằng  trong thời  đại bùng nổ tin học hôm nay mà hy vọng dấu được dân những điều ẩn khuất!

Và đây là bản án mà Nguyễn Trãi đã tố cáo trước bàn dân thiên hạ tội ác của giặc phương Bắc:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Dối Trời, lừa dân đủ muôn ngàn kế”

………

Độc ác thay trúc Nam Sơn khôngi ghi hết tội,

Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất dung tha

Ai bào thần dân chịu được”.

(Bản dịch của Bùi Kỷ)

Ở thời cận đại, giữa lúc thực dân Pháp đang xâm chiếm nước ta thì Tổng đốc lưỡng Quảng Trương Thụ Thanh tâu với Thanh Triều: “Nước Nam và nước Tàu tiếp giáp với nhau, mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa,  vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ ở các tỉnh thượng du. Đợi khi có biến thì ta  chiếm lấy các tỉnh bắc  sông Hồng.” Và cũng chính Thanh triều sau đó lại ký hòa ước Giáp thân (1884) với Pháp giao cho nước Pháp tự do  xếp đặt mọi việc ở nước Nam” (1)

Đến thời hiện đại.  Ai quyết định ở hiệp định Giơ ne vơ chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, tấp kết, chuyển quân,…Hai năm sau tổng tuyển cử … Pham Văn Đồng hay Chu Ân Lai? Có thể Phạm Văn Đồng còn cả tin sau hai năm tổng tuyển cử, đất nước sẽ thuộc về ta, chứ Chu  Ân Lai thì hiểu rõ điều này … Tại cuộc họp ở Liễu Châu, đầu tháng 7 năm 1954 khi nghe Chu Ân Lai trình bày việc phân chia Việt Nam thành hai miền từ vĩ tuyến 17 “Bác và chúng tôi đều ngỡ ngàng” (2).

Hãy chưa muộn , nếu nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan với trách nhiệm trước lịch sử cho những thế hệ sau biết rõ vì sao, sau hiệp định Giơ ne vơ khi khôi phục con đường sắt từ Đông Anh đến  cửa ải  Nam Quan do người anh em “môi răng”giúp lại làm ga Đồng Đăng cách ải Nam Quan 500 m, như ông đã nói với hơn 200 nhà văn chúng tôi ở hội trường Ban tuyên huấn TW, 10 Nguyễn  Cảnh Chân Hà Nội trước đây. (lúc ấy Vũ Khoan là thứ trưởng bộ ngoại giao).

-          Rồi việc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974.

-          Xúi dục , hỗ trợ Khơ me Đỏ quấy phá biên giới Tây Nam Việt Nam sau 1975.

-          Năm 1979 đem quân qua “dạy cho Việt Nam bài học!”

-          Năm 1988 tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa!

…………

Cho đến hôm nay, lúc tôi viết bài này, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc như một dòng sông êm ả… ở bên trên, nhưng ở dưới tầng sâu thì đang dậy sóng. Đúng ra, chưa bao giờ mối quan hệ Việt – Trung mang tính hữu nghị thực lòng. Mọi sự giúp đỡ  của Trung Quốc đối với Việt Nam bao giờ cũng ẩn chứa những ý đồ, những mưu toan cho quyền lợi dân tộc họ.

Trong lúc hết mình giúp ta đánh Mỹ như vậy, cuộc họp “ bóng bàn” ở Thượng Hải năm 1972 diễn ra tưởng như vu vơ, nhưng hàm chứa sự mở đường cho Mỹ đánh phá nước ta. Ở mặt nào đó, cuộc họp bóng bàn không khác hòa ước năm Giáp thân 1884: “Nước Tàu để cho nước Pháp được tự do xếp đặt mọi việc ở đất nước Việt Nam” (3)

Tôi hiểu, bây giờ là thời “nhạy cảm” để đòi lại đất và đòi lại đảo. Nhưng trước lịch sử chúng ta phải chịu trách nhiệm về đất và đảo đã mất. Và bằng mọi cách chúng ta phải đòi lại cho được những gì mà “người đồng chí, anh em chung một chiến hào” một thời và cho đến nay vẫn đang cùng một thể chế chính trị cùng với những khẩu hiệu thật đẹp: “16 chữ vàng”, “4 tốt” đã dùng vũ lực để chiếm và đang hợp thức hóa và khai thác tài nguyên trên biển đảo của ta.

Lịch sử quan hệ Việt – Trung chưa bao giờ mang thực chất tính truyền thống tốt đẹp như một số người nào đó cố tình “ép dòng sông chảy ngược”.

Nếu có lúc nào đó, chúng ta thấy mối quan hệ Việt – Trung mang truyền thống hữu hảo, thì đấy là sự ngộ nhận, hoặc là sự nhầm lẫn vì cả tin, vì vô tư, vì trái tim trong sáng … của ta. Nhưng với Trung Quốc, trước sau, tư tưởng đại Hán vẫn là tư tưởng chính thống!

Lúc này đòi hỏi việc giữ toàn vẹn lãnh thổ đất nước – khi đã bị Trung Quốc đánh chiếm, hay lươn lẹo mà lấn chiếm rồi hợp thức hóa bằng nhiều con đường – là điều cực khó. Nhưng vì cực khó mà chúng ta không có kế sách, thiếu bản lĩnh và trách nhiệm trước lịch sử mà e dè, ấp úng… thì mối nguy hại thật khôn lường! Bác Hồ đã từng dạy: “Việc khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

4/  Lòng yêu nước là thứ của quý được hun đúc qua ngàn năm lịch sử

Con đường cứu nước là con đường khơi dậy lòng yêu nước trong nhân dân. Mỗi người có cách yêu nước của riêng mình. Có người bức xúc mang khẩu hiệu đến đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam. Có người viết báo, viết sách lên án hành động cướp đảo, bắt tàu đánh cá của ngư dân đánh bắt cá trên lãnh hải của mình. Có những cuộc hội thảo của các nhà khoa học, lịch sử… về Hoàng Sa và Trường Sa… Đấy là tiếng nói của một nhân dân có trách nhiệm trước đất nước bị xâm phạm. Đấy là điều đáng tự hào, đáng trân trọng và tôn vinh. Nhà nước nên khuyến khích và tôn vinh họ hơn là ngăn cản họ.

Con đường của nhà nước ta hôm nay là phải tìm cách của mình để, không phải chỉ giữ đất nước ổn định mà trước tiên đủ lực để đòi lại đất của tiền nhân để lại. Một tấc đất cũng là xương máu của tiền nhân. Vì thấy khó mà đùn đẩy cho thế hệ sau là thiếu trách nhiệm. Người thiếu trách nhiệm với đất nước không thể gọi là người yêu nước!

Người yêu nước là người khi đất nước lâm nguy, biết lắng nghe ý kiến muôn dân, phải hiểu sâu sắc dân là nước, lật thuyền là nước và đỡ thuyền cũng là nước. Phải coi dân là gốc của nước. Còn dân là còn nước. Khi dân ngoảnh mặt đi với chính quyền đấy là lúc vận nước lâm nguy. Trước họa nước nhân dân mong được minh bạch và trong sáng. Đừng bao giờ có thể nghĩ ngăn được sức mạnh của lòng yêu nước trong nhân dân. Khi đến đỉnh điểm, lòng yêu nước là những ngọn thác! Nguyễn Trãi từng nói:Chìm thuyền mới biết dân như nước ,Chở thuyến ,đắm thuyền cũng lại là dân.

Kỷ niệm nghìn năm Thăng Long gợi ta nhớ về cha ông trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước. Ta nhớ chí căm thù mãnh liệt vượt qua tính cách  yếu đuối của thân phận nữ nhi. Trưng Trắc và Trưng Nhị lật đổ ách đô hộ man rợ của nhà Đông Hán đầu công nguyên (năm 40-43). Lý Thường Kiệt và Tôn Đản mang quân qua đất Tống chặn ngay âm mưu cướp nước ta của Tống Thần Tôn và Vương An Thạch. Rồi cuộc chiến tranh dữ dội nhất trong lịch sử 3 lần chống đế quốc Nguyên Mông của triều Trần gợi cho Trần Hưng Đạo những suy nghĩ sâu sắc về kế sách giữ nước “cách ấy cốt phải tự lúc  bình thì khoan sức cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả”“… Khi thấy công danh khó thành, việc dễ hỏng, thì cần nghĩ việc giữ nước trước khi có nguy.” (5) Quang Trung đại phá quân Thanh chỉ có 3 ngày đêm. Trở về Phú Xuân Người nhờ Trần Văn Kỷ, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp thảo ngay “chiếu lập học” và “chiếu cầu hiền”. Thời hiện đại, Hồ Chí Minh vừa diệt giặc đói, vừa diệt giặc dốt vừa diệt ngoại xâm. (4) . Lê Lợi và Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật hàng chục năm để đuổi quân Minh về nước. Nguyễn Trãi đã đúc kết cho muôn đời nhiều bài học vô giá. Điều quan trọng là lòng phải thành, tâm phải sáng. Tôi đọc đi đọc lại bài “Chiếu giáng tư tề làm quận vương mệnh thứ tử Nguyên Long ; kế vị” mà cảm như Nguyễn Trãi đang đọc hết lòng dân thời hiện đại;

Giặc đói, giặc dốt nay đã tạm ổn, điều còn lại là ngoại xâm. Ai là kẻ thù hôm nay? Câu hỏi không khó trả lời mà vì… tế nhị… vì nhạy cảm. Lịch sử vẫn còn rõ như in những anh hùng  trong suốt chiều dài lịch sử  dựng nước và giữ nước : Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Tôn Đản, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi – Nguyễn Trãi, Quang Trung… Đến thời hiện đại là  Hồ Chí Minh là Võ Nguyên Giáp … Thế hệ như chúng tôi sinh ra và trưởng thành trong chế độ mới, đáng lẽ phải thõa mãn với nền độc lập vừa giành được,nhưng sao lòng vẫn man mác  buồn , bởi nền độc lập ấy chưa trọn vẹn . Hãy bắt đầu từ Hiệp định Giơ-ne-vơ,  rồi đến câu chuyện  con đường sắt Đông Anh-Ải Nam Quan,  thời chống Mỹ là cuộc hội nghị bóng bàn Thượng Hải, là cuộc chiến giành lấy đảo Hoàng sa năm 1974 giết hại hơn 50 chiến sĩ Việt Nam Cộng  hòa.  Thời sau chiến tranh năm 1975 là Khơ me Đỏ với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, là cuộc chiến  tranh biên giới phía Bắc năm 1979, cuộc chiến năm 1988 chiếm một số đảo ởTrường Sa giết hại hơn 80 binh  sĩ của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa  VN!!!

Lịch sử quan hệ  giữa Việt Nam và Trung Quốc  là lịch sử  giữa nước lớn và nước nhỏ. Nước lớn luôn tìm mọi cơ hội để thôn tính nước nhỏ, nếu không thì cũng bắt lệ thuộc, cống nạp như thới phong kiến. Thời hiện đại thì tinh tế hơn, khôn ngoan hơn …Nhưng chương cuối cùng của  thể chế chính trị vẫn là bắt  nước nhỏ lệ thuộc  và  làm phên dậu cho nước lớn , chờ khi có điều kiện  thì hoặc dùng mưu mẹo ,hoặc dùng vũ lưc  xâm chiếm.

Bây giờ thì tôi lại nhớ nỗi lo sợ từ “Diễn biến hòa bình”. Chính thái độ không rõ ràng, thiếu minh bạch của một số quan chức như nêu trên là mối nguy hiểm to lớn từ “Diễn biến hòa bình”.

Nguyễn Trãi đã nói :Triều đình mà đặt lòng tin không đúng chỗ thì đấy  là cái họa vô cùng của đất nước!

Và CẢNH GIÁC, đấy là bài học không bao giờ cũ!


TP.HCM ngày 19/8/2010

HLG

_______________________________________________

(1)     An Nam sử lược – Trần Trọng Kim tr 540 – Tân Việt – Sài Gòn.

(2)     Điểm hẹn lịch sử – Võ Nguyên Giáp . Tr 407

(3)     An Nam sử lược – Trần Trọng Kim tr 540 – Tân Việt – Sài Gòn

(4)     An Nam sử lược – Trần Trọng Kim . tr161

(5)     Ức Trai tập – tạp thượng – tr167

——

* Nhà văn Hoàng Lại Giang – Tiểu sử.

- Các bài viết liên quan: Tôi đang viết về ông Sáu Dân (Người lao động – 28/6/2008); Nhà văn Hoàng Lại Giang:Người  chiêu tuyết  cho Trương Vĩnh  Ký (Văn nghệ Trẻ/Phong Diệp); Số phận của ‘Chân dung Nhà văn’ (BBC News – 5/6/2008); Hành trình tìm lại cội nguồn : một công trình lịch sử đáng được quan tâm (Văn chương Việt – 10/11/2008); Kỉ niệm trong một chuyến đi với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Tuần VN-29/5/2009).

- Các bài trên trang BS:  + 450. Đôi lời gởi hai ông đại sứ TQ tại VN;   + 556. BẢN CHẤT CỦA LỊCH SỬ.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , , , , | 26 phản hồi »

636. XUNG QUANH NHỮNG “LỢI ÍCH CỐT LÕI” CỦA TRUNG QUỐC

Đăng bởi anhbasam on 27/08/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt – Thứ sáu, ngày 27/8/2010

XUNG QUANH NHỮNG “LỢI ÍCH CỐT LÕI” CỦA TRUNG QUỐC

TTXVN (Hồng Công 20/8)

Báo Hồng Công “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” ngày 12/8 đăng bài bình luận cho rằng Trung Quốc đang ngày càng mạnh bạo hơn về các lợi ích mà họ cho là “cốt lõi”. Phần còn lại của thế giới đang quan tâm xem điều gì sẽ xảy ra sau đó? Dưới đây là nội dung bài viết:


Trong hơn hai thập kỷ, chính sách ngoại giao của Trung Quốc luôn khiêm tốn, theo châm ngôn nổi tiếng của cố lãnh đạo Đặng Tiểu Bình là “giấu mình chờ thời”. Nhưng giờ đây, dưới một châm ngôn cộng sản mới là “tiến bộ với thời cuộc”, các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như đang điều chỉnh cách tiếp cận của họ, khi sức mạnh của sự giàu có ngày càng tăng đang khích lệ quốc gia này trên trường quốc tế.

Cuộc khẩu chiến ăn miếng trả miếng gần đây nhất xung quanh cái gọi là “những lợi ích quốc gia” giữa các nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc và Mỹ tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) diễn ra hồi tháng trước tại Hà Nội, cũng như các cuộc tập trận chung cấp cao Mỹ-Hàn, các cuộc tập trận của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tại Đông Bắc Á cho thấy chính sách ngoại giao của Bắc Kinh đang dần chuyển dịch từ thận trọng sang một quan điểm hùng hổ hơn. Một số cho rằng kỷ nguyên “giấu mình chờ thời” đã kết thúc.

Trong vị thế mạnh bạo hơn, được đánh giá lại hơn, Trung Quốc đã đặt Biển Đông vào hạng mục “các lợi ích cốt lõi quốc gia” về những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ không thể thương lượng – khái niệm tương tự như Đài Loan và Tây Tạng. Phản ứng lại, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đưa ra một thách thức đối với Bắc Kinh tại hội nghị ARF, nói rằng Oasinhton có “một lợi ích quốc gia” ở Biển Đông.

Trong khi không quan chức Trung Quốc nào cho biết “các lợi ích cốt lõi quốc gia” nghĩa là gì, thì đang có một điệp khúc ngày càng tăng trong dư luận nước này cho rằng PLA cần bảo vệ các lợi ích cốt lõi ở khu vực tranh chấp. Các tin tức gần đây đã đưa thuật ngữ “lợi ích cốt lõi quốc gia” vào tầm chú ý ngang với “chủ quyền quốc gia” và “toàn vẹn lãnh thổ”, đồng thời nêu lên vấn đề Trung Quốc sẽ xác định như thế nào về thuật ngữ này và nó bao gồm những gì.

Giáo sư David Shambaugh, phụ trách Chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington (Mỹ) cho rằng từ lâu Bắc Kinh đã dùng thuật ngữ này khi đề cập đến Tây Tạng và Đài Loan để tuyên bố những vấn đề mang tính trọng tâm của chủ quyền quốc gia. Shambaugh cho biết: “Thực tế, Chính phủ Trung Quốc lần đầu tiên áp đặt thuật ngữ lợi ích cốt lõi quốc gia với Biển Đông là hồi tháng 3 trong chuyến thăm Bắc Kinh của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James Steinberg và Giám đốc phụ trách khu vực châu Á thuộc Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ Jeffey Badner”.

Trung Quốc từ lâu đi theo chính sách gác tranh chấp chủ quyền lãnh hải với các láng giềng sang một bên, cùng hợp tác phát triển các nguồn tải nguyên thiên nhiên. Giới phân tích cho rằng giờ đây Bắc Kinh đang thúc đẩy mở rộng phạm vi quyền lực của mình trên biển. Giáo sư Shambaugh cho rằng những mục tiêu cụ thể của sự khẳng định mới này nằm trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về lãnh thổ: “Theo tôi nhận thấy, đang có 4 “lợi ích cốt lõi quốc gia” mà Chính phủ Trung Quốc đã xác định: Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương và Biển Đông. Tất cả đều giống nhau ở điểm đều là những nơi mà Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các quốc gia khác hoặc thực thể chính trị khác có tuyên bố chủ quyền cạnh tranh và/hoặc nơi có những phong trào chủ trương ly khai”.

Theo Shambaugh, “xác định những vùng lãnh thổ này là lợi ích cốt lõi quốc gia, Trung Quốc sẽ không cho phép bất cứ sự can thiệp hay tranh cãi nước ngoài nào về tuyên bố chủ quyền của họ”.

Tiến sĩ Steve Tsang, một nhà phân tích về Trung Quốc tại Cao đẳng St Antony thuộc Đại học Oxford, nhận định lợi ích cốt lõi quốc gia là một thuật ngữ chủ chốt trong chính sách của Bắc Kinh: “Khi một điều gì đó được nâng lên mức này, Bắc Kinh sẽ giữ vững quan điểm xung quanh các lợi ích cốt lõi quốc gia và cho rằng những nước khác phải tôn trọng điều đó – giống như trong các trường hợp Tây Tạng và Đài Loan”.

Tại sao Trung Quốc làm vậy, Thiếu tướng hải quân Trương Hoa Thần, phó chỉ huy hạm đội Đông Hải của PLA, tuyên bố: “Với sự mở rộng của các lợi ích kinh tế quốc gia, hải quân muốn bảo vệ tốt hơn các tuyến vận chuyển cũng như sự an toàn của các tuyến hàng hải lớn của Trung Quốc”.

Từ Quang Dụ, một tướng về hưu, nhận xét: “Trước đây, Trung Quốc giữ yên lặng về tranh chấp lãnh thổ với các láng giềng vì hải quân khi đó chưa đủ khả năng bảo vệ các vùng đặc quyền kinh tế. Nhưng giờ đây, hải quân đã có thể thực hiện nhiệm vụ đó của mình”.

Với thế giới bên ngoài, vấn đề lo ngại hơn là điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Gần đây, các câu hỏi thường được nêu lên về việc liệu Bắc Kinh có dùng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi quốc gia” thường xuyên hơn không và mở rộng nó ra những lĩnh vực tranh cãi khác như nhân quyền, tỷ giá hối đoái của đồng nhân dân tệ cũng như các vấn đề liên quan đến an toàn kinh tế quốc gia.

Một tin tức chưa được khẳng định cho biết gần đây, Ủy viên Quốc vụ Đới Binh Quốc đã định nghĩa “các lợi ích cốt lõi quốc gia” là “giữ gìn hệ thống cơ bản và an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ phát triển xã hội và kinh tế bền vững”.

Tuy nhiên, một số học giả Trung Quốc bác bỏ thông tin trên cũng như những lo ngại rằng Bắc Kinh sẽ mở rộng định nghĩa này ra các vấn đề rộng hơn. Họ nói rằng “các lợi ích cốt lõi quốc gia” sẽ chỉ giới hạn liên quan đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Giáo sư Kim Xán Vinh thuộc Đại học Nhân dân, cho biết: “Ít nhất là cho đến lúc này, có một sự đồng thuận trong giới ngoại giao và các học giả cố vấn của Trung Quốc rằng thuật ngữ trên sẽ chỉ áp dụng với hai lĩnh vực: chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.

Trong một bài báo trên tạp chí “Outlook” mới đây, giáo sư Hàn Húc Đông thuộc Đại học Quốc phòng Trung Quốc cảnh báo rằng sẽ là không khôn ngoan đối với Bắc Kinh nếu họ công khai phạm vi của “các lợi ích cốt lõi quốc gia”. Học giả này nhận xét: “Công khai phạm vi các lợi ích cốt lõi quốc gia sẽ phản tác dụng cho nỗ lực bảo vệ chúng”. Theo Hàn Húc Đông, lí do đơn giản là Trung Quốc chưa có quân đội hoặc sức mạnh quốc gia đủ mạnh để bảo vệ các lợi ích này và vì thế không nên để lộ chính sách của mình.

Hàn Húc Đông dẫn chứng ngay cả Mỹ và Nga – có hai lực lượng quân đội hùng mạnh nhất thế giới – cũng không công bố phạm vi lợi ích cốt lõi quốc gia của họ. Oasinhton chỉ xác định 16 tuyến hàng hải quan trọng nhất về chiến lược như là “các lợi ích quan trọng”, mức thứ hai so với “các lợi ích quan trọng sống còn”. Học giả này cho rằng trong hoàn cảnh đó, Trung Quốc cần bảo vệ tất cả những lợi ích quốc gia khác, không chỉ là những “lợi ích cốt lõi”.

Hàn Húc Đông cũng cảnh báo rằng quá nhấn mạnh vào “các lợi ích cốt lõi” sẽ tạo ra cảm giác rằng Trung Quốc chỉ quan tâm về chúng và chấp nhận trả giá bằng “các lợi ích không cốt lõi”: “Chúng ta không nên dùng thuật ngữ lợi ích cốt lõi quốc gia để bảo vệ tất cả các lợi ích quốc gia, vì nó sẽ ảnh hưởng đến những nỗ lực gìn giữ tất cả các lợi ích này”.

Tiến sĩ Steve Tsang của Đại học Oxford lưu ý rằng cách tiếp cận mạnh bạo ngày càng tăng bằng những tuyên bố về “lợi ích cốt lõi quốc gia” có thể gây ra những phản ứng tiêu cực: “Mặt trái của cách tiếp cận này là nó sẽ dẫn đến những phản ứng tiêu cực mạnh mẽ từ khu vực và sẽ ảnh hưởng đến chính sách trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc”.

Trong khi đó, học giả Hàn Húc Đông cũng cảnh báo nguy cơ xung đột quân sự vì quan điểm xác định lại của Trung Quốc: “Nó sẽ khiến cả hai bên căng thẳng dữ dội… với một khả năng lớn phải giải quyết tranh chấp qua các cách thức quân sự, khi cả hai đều tuyên bố đó là lợi ích cốt lõi của họ”.

Mặc dù vậy, Steve Tsang lại cho rằng vẫn có sự linh hoạt đối với Bắc Kinh mà Đài Loan là một minh họa rõ ràng: “Nếu tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không bị thách thức trong một quãng thời gian, thì tuyên bố đó sẽ được sự chấp nhận không chính thức của quốc tế, như trong trường hợp của Tây Tạng và Đài Loan”.

Có lẽ, nguy cơ trực tiếp nhất xuất phát từ thực tế rằng cả Trung Quốc và Mỹ đều tuyên bố Biển Đông nằm trong lợi ích quốc gia của họ và giữa hai cường quốc này lại không tồn tại một hệ thống quản lý khủng hoảng quân sự. Bắc Kinh ngừng các liên lạc quân sự sau khi Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan hồi đầu năm nay. Trong số những hoạt động bị đóng băng đó có Thỏa thuận tư vấn hàng hải quân sự Mỹ-Trung, được lập ra để thúc đẩy một nhận thức chung trong việc tiến hành các chiến dịch hải quân và không quân trong khuôn khổ luật pháp quốc tế.

Giáo sư Thời Ân Hồng, một chuyên gia an ninh quốc tế của trường Đại học Nhân dân, nhận xét rằng giờ đây, sau khi hai bên đã coi một lãnh thổ tranh chấp là lợi ích cốt lõi quốc gia của mình, sẽ rất khó cho bên nào rút lại.

Một vấn đề rất quan trọng đối với Bắc Kinh trong việc mở rộng các lợi ích cốt lõi quốc gia lên vùng lãnh thổ tranh chấp với các nước láng giềng cũng như các vùng biển lân cận là Trung Quốc và phương Tây do Mỹ đứng đầu có quan điểm bất đồng gay gắt về tự do hàng hải – không chỉ của các tàu thuyền dân sự mà còn là các quyền của tàu quân sự, máy bay nước ngoài trong các vùng biển và không phận.

Tiến sĩ Steve Tsang nói rằng tình hình hiện nay trái ngược với tình hình ở Mỹ Latinh dưới Học thuyết Monroe hồi thế kỷ 19 là đa số các cường quốc thời đó không có những lợi ích sống còn ở Mỹ Latinh và họ, những quyền lực châu Âu với điều kiện hạn chế để vươn tầm sức mạnh ra xa như vậy, không thấy cần phải thách thức sự mạnh bạo của Mỹ.

Chuyên gia này nhận xét: “Trung Quốc có thể là cường quốc lớn nhất trong khu vực, nhưng không phải là cường quốc duy nhất. Trong tình huống như vậy, Trung Quốc nên luôn có suy nghĩ rằng thực tế một hành động sẽ dẫn đến một phản ứng hoặc thậm chí là nhiều phản ứng”.

Nhưng Giáo sư Kim Xán Vinh của Đại học Nhân dân cho rằng lịch sử đã thể hiện là bất cứ cường quốc đang nổi nào cũng thúc đẩy các lợi ích quốc gia của mình cùng với những kế hoạch đang phát triển và Trung Quốc là một trường hợp như vậy: “Thế giới cần quen với vị thế đang nổi của Trung Quốc trên trường quốc tế. Quốc gia này đang ngày càng thịnh vượng hơn và phát triển hơn. Tuy nhiên, còn quá sớm để cho rằng Bắc Kinh không còn chờ thời và sẽ hành động để đòi quyền lợi của họ”./.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , , , , , , | 4 phản hồi »

635. ĐÁNH GIÁ VỀ GIỚI LÃNH ĐẠO KẾ CẬN CỦA TRUNG QUỐC

Đăng bởi anhbasam on 27/08/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt – Thứ sáu, ngày 27/8/2010

ĐÁNH GIÁ VỀ GIỚI LÃNH ĐẠO KẾ CẬN CỦA TRUNG QUỐC

TTXVN (Luân Đôn 23/8)

Chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc Kerry Brown của Viện Hoàng Gia các vấn đề quốc tế  Anh và Loh Suhsing, chuyên gia nghiên cứu của viện Sciences – Pro tại Pari (Pháp) vừa có bài viết với tựa đề  “Giới lãnh đạo kế cận của Trung Quốc : 2012 và sau đó ’’ đăng trên trang tin của Viện Dân Chủ Mở (Anh). Hai tác giả cho rằng sự chuyển đổi hướng tới một giới lãnh đạo mới tại Trung Quốc đã và đang bắt đầu .Những đòi hỏi quốc tế và trong nước đối với Trung Quốc sẽ lớn hơn bao giờ hết. Tuy nhiên với những đặc tính hiện nay thì có vẻ như thế hệ lãnh đạo đang nổi lên sẽ khó có thể đáp ứng được các đòi hỏi đó. Dưới đây là nội dung bài viết :


Điều dễ thấy là quan hệ giữa Mỹ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới trong đầu thế kỉ 21. Nhưng điều ít được biết đến là mùa Thu năm 2012, cả hai quốc gia sẽ trải qua một tiến trình lựa chọn tầng lớp lãnh đạo chĩnh trị mang tính chất sống còn để dẫn dắt họ trong những năm tới. Một điều dễ thấy khác là kết quả của việc lựa chọn tại Mỹ ảnh hưởng rất lớn không những vỡi nước Mỹ mà với cả thế giới. Sự lớn mạnh của Trung Quốc trên thế giới có nghĩa là vào năm 2012, hơn bao giờ hết, vấn đề trên cũng đúng với cuộc chạy đua tại Bắc Kinh.

Phương thức lựa chọn người lãnh đạo ở hai quốc gia là một bài học rõ ràng về sự khác biệt chính trị. Sự tương phản của quá trình được nhấn mạnh chính ở vị thế trước công chúng mà những ứng cử viên tổng thống Mỹ phải theo đuổi cũng như sự cố gắng của người đang tại vị nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi nhất cho việc tái cử của mình. Cuộc tranh cử giữa Barack Obama và đối thủ Cộng hòa của ông sẽ là một cuộc bầu cử nổi tiếng đầy kịch tính (cũng có những nhân tố của một vở kịch nhiều kỳ), với những nhà tài trợ khổng lồ, hoạt động trên hệ thống truyền thông 24/7 và được theo sát bởi những cuộc thăm dò liên tục.

Ở Trung Quốc, phương pháp lựa chọn giống như một ván cờ kéo dài, đầy rẫy những quyết định chiến thuật mơ hồ và không rõ ràng, và tất nhiên là tất cả mọi thứ trừ việc công khai với công chúng. Khi các thành viên trong giới lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc bước ra khỏi bức mành của Đại lễ đường Nhân dân vào tháng 10/2012 (thời điểm đúng nhất có thể) – bao gồm cả người kế nhiệm Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo – thì kết quả của ván cờ vĩ đại và rắc rối mới được tiết lộ.

Thế hệ cuối cùng

Làm sao để bạn trở thành một nhà lãnh đạo của Trung Quốc hôm nay? Bạn cần phải làm những gì? Ai phải ủng hộ bạn, và bạn phải đánh bại ai? Bạn phải chấp hành những luật lệ gì?

Việc đầu tiên cần lưu ý là các nhà chính trị Trung Quốc có một nền tảng chính trị hạn hẹp đến khác thường. Họ đều có chung những kinh nghiệm, cùng sống trong một thế giới quan như nhau, và có xu hướng sống và làm việc gần gũi nhau. Trong khi các chính khách phương Tây luôn cố gắng để chứng tỏ rằng họ là “một trong số chúng ta” thì các nhà lãnh đạo ở Trung Quốc luôn luôn và mãi mãi là “một trong số họ”. Và “họ” ở đây là những thành viên của một nhóm được xác định một cách chặt chẽ, nơi mà nguyên tắc vàng dường như không có gì nổi bật.

Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ là một thời điểm vô cùng quan trọng đối với Trung Quốc. Những nhân vật quyền lực nhất của nước này sẽ nghỉ hưu căn cứ theo quy định tự đặt ra của giới lãnh đạo hiện tại. Có khoảng 7 thành viên trong Ủy ban Thường trực Bộ Chính trị gồm 9 người sẽ rời khỏi chính trường, trong đó có Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và Ngô Bang Quốc. Hầu như chắc chắn là Tập Cận Bình sẽ thay thế Hồ Cẩm Đào giữ chức vụ Chủ tịch và Tổng Bí thư, và Lý Khắc Cường sẽ thay thế Ôn Gia Bảo làm Thủ tướng. Tuy nhiên, một số vị trí then chốt trong Ủy ban Thường trực vẫn nằm trong sự phỏng đoán căng thẳng, và Bộ Chính trị gồm hai mươi lăm thành viên sẽ được thay thế với những khuôn mặt mới.

Trong quá trình tìm hiểu về tiến trình này thì khó khăn lớn nhất là không có các cơ chế rõ ràng. Tại những quốc gia dân chủ, có những đảng phái chính trị khác nhau, có chính phủ và phe đối lập, có những làn sóng tả và hữu, và có hệ thống truyền thông mở. Tại quốc gia độc đảng lớn nhất trên thế giới (Trung Quốc) thì những điều này đều không có. Trong những năm gần đây, các nhà phân tích Trung Quốc đã tiến tới sử dụng các khái niệm như “những người theo chủ nghĩa dân túy” và “những người theo chủ nghĩa tinh túy”, và họ đã sáp nhập thành những nhóm cụ thể, chẳng hạn như “Nhóm Thượng Hải”. Tuy vậy, những điểm sáng này ngày nay có vẻ như không còn đáng tin cậy.

Một phần, điều này là bởi thế hệ lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc dường như đồng nhất hơn bất kỳ thế hệ nào trước đây. Những nhà lãnh đạo này không có những kinh nghiệm về Trung Quốc trong giai đoạn trước 1949; là sản phẩm của thời đại Cách mạng văn hóa 1966-1976; và toàn bộ được tạo ra bởi nền văn hóa của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Kết quả tổng thể cuối cùng là sự đồng nhất và không có một khuôn mặt nổi bật nào. Đặc điểm nổi bật nhất trong cách thức lãnh đạo của thế hệ hiện nay chính là việc làm Trung Quốc thực sự gắn kết với phương Tây. Sự nắm quyền của giới kỹ trị đang chấm dứt, và giới luật sư và khoa học chính trị đang tiến đến quyền lực.

Tầng lớp lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc cũng khác so với những người tiền nhiệm bởi họ thiếu những kinh nghiệm quốc tế. Việc này có thể gây trở ngại thật sự khi mà sức mạnh và tầm quan trọng của Trung Quốc ngày càng gia tăng trên tất cả các lĩnh vực và giới lãnh đạo của Trung Quốc giờ đây cũng có một tầm quan trọng toàn cầu. Vị Chủ tịch nước sẽ lãnh đạo Trung Quốc từ năm 2012 sẽ phải là một nhân vật chính trị quốc tế tầm cỡ, hơn cả tầm của Hồ Cẩm Đào trước đây. Về khía cạnh này, thế hệ kế nhiệm dường như có vẻ kém cỏi hơn.

Các nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc, đại diện cho những gì mà guồng máy chính trị yêu cầu, có vẻ như thiếu sự gần gũi, kỹ năng giao tiếp và khả năng đối thoại với công chúng. Họ luôn tuân thủ đường lối của Đảng trong tất cả các lần xuất hiện trước công chúng, đọc những bài diễn văn khuôn mẫu được chuẩn bị trước, và luôn giữ vẻ ngoài trang trọng và xa cách khi giao thiệp cá nhân. Tất cả những điều này củng cố thêm ấn tượng về một nhà lãnh đạo không có gì nổi bật, thiếu phong cách cá nhân – ít được biết đến ngay cả đối với dân chúng trong nước, và đều xa cách với phần còn lại của thế giới. Điều đáng lưu ý là chỉ có Lý Nguyên Triều và Bạc Hy Lai trong Bộ Chính trị là có thể nói tiếng Anh lưu loát; và tất cả các thành viên của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đều được đào tạo ở trong nước; và không ai trong số 62 vị lãnh đạo cấp tỉnh có được bằng cấp từ nước ngoài.

Thế hệ kế cận

Tầng lớp lãnh đạo sẽ nắm giữ quyền lực trung ương vào mùa Thu năm 2012 thuộc một thế hệ mà việc học hành bị gián đoạn bởi những tháng năm hỗn loạn của cuộc Cách mạng văn hóa. Họ sẽ phải đối diện với sự chất vấn căng thẳng và mạnh mẽ về khả năng đối phó với những thách thức to lớn của nước này mà họ sẽ phải đối mặt. Thập niên tới của Trung Quốc sẽ vô cùng khó khăn và những thách thức to lớn sẽ bao gồm việc bảo vệ tính hợp pháp của giới lãnh đạo trong bối cảnh xã hội Trung Quốc ngày càng trở nên biến động, và vạch ra một viễn cảnh cho Trung Quốc mà có thể có sức hấp dẫn được cả trong nước lẫn quốc tế. Bản chất của quá trình chuyển đổi lãnh đạo có nghĩa là những người cầm quyền tương lai của Trung Quốc, những người vốn đã trải qua trận chiến để được đề bạt, sẽ không đưa ra những chi tiết về kế hoạch của mình cho đến khi họ bước ra khỏi bức màn.

Điều gây khó khăn hơn cho lớp lãnh đạo tương lai ở Bắc Kinh là họ không được quyền đứng yên tại chỗ. Yêu cầu của quốc tế đối với Trung Quốc ngày càng trở nên cấp bách và đa diện, tham vọng của dân chúng ngày càng cao và đa dạng hơn (vì sự thay đổi diện mạo của quốc gia). Đảng Cộng sản, với sự tồn tại sau hai thập niên kể từ sau cuộc Chiến tranh Lạnh đã phản ánh khả năng thích ứng cũng như tính vững bền của mình, cũng cần phải phát triển lớn mạnh một cách tương ứng.

Yêu cầu cấp bách trong thập niên tới là phải có một tầng lớp lãnh đạo mạnh mẽ hơn, hiểu được sự thay đổi của xã hội trong nước và phải hiểu được thê giới. Để đạt được điều này, Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện đang phải đối diện với một thách thức cấp bách to lớn, đó là gạt qua một bên tư tưởng bảo thủ cố hữu của mình và bắt đầu đề bạt những cán bộ trong lứa tuổi 30-40 lên những chức vụ quan trọng hơn.

Thử thách không thể tránh khỏi này đưa ra một triển vọng bao trùm cả ván cờ lớn của năm 2012. Một điều khó có thể xảy ra là giới lãnh đạo sắp tới sẽ là một thế hệ lạc lõng. Tuy nhiên, phải tới năm 2017 hoặc 2022 mới có một lớp người mới trẻ trung hơn với tư tưởng quốc tế mà Trung Quốc và cả thế giới đều cần lên nắm quyền lực. Có vẻ như đó là một quãng thời gian dài phải chờ đợi khi xét tới mức độ thay đổi xã hội nhanh chóng hiện nay. Nhưng điều đó phải xảy ra, nếu không thì tất cả những sự đánh cược sẽ đều mong manh./.

Đăng trong Trung Quốc | Tagged: , , , | 1 Comment »

634. Như thế nào mới là “có cái gì mới”, thưa ông Chủ tịch Quốc hội?

Đăng bởi anhbasam on 26/08/2010

Như thế nào mới là “có cái gì mới”, thưa ông Chủ tịch Quốc hội?

Đinh Kim Phúc *


Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 25-8-2010, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – an ninh Lê Quang Bình đề nghị Chính phủ có báo cáo về tình hình biển Đông và tình hình an ninh trước Đại hội Đảng để các đại biểu thảo luận, tạo sự đồng thuận. Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng kết luận chưa cần báo cáo tình hình biển Đông vì so với báo cáo của Bộ Ngoại giao tại kỳ họp thứ 6 (cách đây một năm – NV), đến nay không có gì mới(1)

Trước đó khi tiếp xúc với Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc phụ trách về tình báo và đối ngoại Mã Hiểu Thiên, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã nói:Trên tinh thần đồng chí, anh em, chúng tôi đã có cuộc trao đổi thân tình, cởi mở, thẳng thắng tất cả các vấn đề.

Tình hình trên Biển Đông hiện nay vẫn yên tĩnh. Chúng ta vẫn hoạt động kinh tế bình thường, hàng hải bình thường, du lịch bình thường, không có vấn đề gì trở ngại cả”.(2)

Mới đây, ông Nguyễn Chí Vịnh vừa dẫn đầu đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng thăm Trung Quốc trong 4 ngày, từ 22 đến 25/8, chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) diễn ra tại Hà Nội giữa tháng 10 tới.

Trong thời gian ở thăm, Thứ trưởng Quốc phòng đã hội đàm với Phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng Trung Quốc Mã Hiểu Thiên và gặp Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt.

“Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh nói, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có đại cục quan hệ tốt đẹp, Việt Nam ủng hộ và vui mừng trước sự phát triển của Trung Quốc, trong đó có phát triển quốc phòng…”.(3)

Đọc tin trên thấy lòng mình phấn khởi, nay lại được củng cố thêm:

Theo tin Đài phát thanh quốc tết Trung Quốc ngày 10/6/2010: Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nói: “Trung Quốc không gây đe dọa đối với người khác, cũng không xâm lược nước khác, Trung Quốc phản đối chủ nghĩa bá quyền. Trung Quốc là nước đang phát triển, cho dù sau này Trung Quốc phát triển, cũng sẽ kiên định đi theo con đường phát triển hòa bình, mãi mãi không xưng bá, đây là sự tuyên bố trịnh trọng trước thế giới của Chính phủ Trung Quốc”.

Nhưng: Trong tám tháng đầu năm 2010, Trung Quốc đã:

- Ngày 30/04, Trung Quốc đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá trên vùng biển Đông từ 12h trưa ngày 06/0512010 và sẽ kéo dài đến 12h trưa ngày 01/08/2010.

Được biết, khu vực cấm đánh bắt mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố có nhiều phần nằm trong lãnh hải của Việt Nam (Bắt đầu từ 12 độ Vĩ Bắc đến 113 độ Kinh Đông – khu vực này sẽ kéo dài từ Hải Nam đến vùng biển Nha Trang của Việt Nam). Trong đó bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phía Trung Quốc còn đưa ra mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm luật cấm đánh bắt trên. Ví dụ sẽ tiến hành áp dụng mức phạt lên tới 50000 NDT trở xuống đối với các hành vi vi phạm thông thường, đối với các tình tiết nghiêm trọng sẽ tích thu giấy phép đánh bắt, ngoài ra sẽ tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.(4)

- Theo tin từ mạng báo điện tử Tân Hoa Xã, tính đến trưa ngày 25/05, các khâu cuối cùng của công tác lắp đặt trạm thu phát sóng điện thoại đầu tiên trên đảo Chữ Thập (thuộc quần đảo Trường Sa) đã hoàn thành.

Được biết, ngay từ đầu tháng 5 Trung Quốc đã cử cán bộ nhân viên kỹ thuật ra hòn đảo này nhằm tiến hành các công tác lắp đặt. Đến ngày 25/05 thì trạm phục vụ điện thoại di động này chính thức bắt tín hiệu và đưa vào sử dụng. Đây là trạm phục vụ điện thoại di động đầu tiên được phía Trung Quốc cho lắp đặt tại quần đảo này. Theo đó, số binh lính Trung Quốc đồn trú tại các đảo của Việt Nam trong phạm vi quần đảo này có thể gọi điện thoại trực tiếp vào đất liền.

Bên cạnh đó, ngoài đảo Chữ Thập ra thì phía Trung Quốc cũng đang tiến hành lắp đặt thêm một số trạm thu phát sóng nữa, đồng thời dự kiến các trạm phát sóng này sẽ được đưa vào sử dụng trong thời gian ngắn tiếp theo.(5)

- Ngày 06/06, một loạt báo chí Malaisia đưa tin nghi ngờ khả năng Trung Quốc có thể sẽ bố trí tên lửa đạn đạo Trường Kiếm 10 tại khu vực quần đảo Trường Sa. Nếu như điều này xảy ra sẽ gây lo ngại cho một số nước và can thiệp đến việc tranh chấp biển Đông hiện nay.

Được biết, trước đó Trung Quốc đã tiến hành bố trí loại tên lửa đạn đạo này tại 3 khu vực trọng yếu phía nam đó là Quý Châu, Quảng Tây và Giang Tây nhằm đối phó với mối đe dọa có thể xảy ra từ các nước như Ấn Độ, Việt Nam và Đài Loan. Chính vì thế, một số nguồn tin lo ngại trong thời gian tới Trung Quốc sẽ tiếp tục triển khai loại tên lửa đạn đạo này xuống khu vực sâu hơn, trong đó có các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam.(6)

- Vào giữa tháng 6 gần đây, Trung Quốc đã xây dựng Cương lĩnh quy hoạch phát triển đảo “Tầm nhìn 2020″ – trong đó “quy hoạch” cả các vùng biển và hải đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Dư luận cho rằng, bản chất “Tầm nhìn 2020″ của Trung Quốc là, bất chấp luật pháp quốc tế, từng bước thôn tính biển Đông. Những hành động  trong một thời gian dài đó còn nham hiểm ở chỗ nó định hướng tâm lý rằng đó là “sự đã rồi”, rằng Trung Quốc có danh phận và do đó có quyền giành chủ quyền của mình trên các vùng biển đã nêu.(7)

- Từ cuối tháng 5/2010 đến nay, phía Trung Quốc đã sử dụng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa, và tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn với mục đích xây dựng công trình trên đảo này.

Ngày 5/8/2010, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Trung Quốc tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa, san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga cho biết, từ cuối tháng 5/2010 đến nay, phía Trung Quốc đã sử dụng tàu khảo sát M/V Western Spirit cùng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa và tại các lô dầu khí 141, 142 và 143 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 90 – 116 hải lý. Phía Trung Quốc còn tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn với mục đích xây dựng công trình trên đảo này… Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay và không để tái diễn các hoạt động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông, thúc đẩy quan hệ Việt – Trung phát triển ổn định, lành mạnh.


Ngày 6/8, khi trả lời báo giới về việc người phát ngôn bộ ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga đã lên tiếng phản đối Trung Quốc tiến hành khảo sát tại đảo Tri Tôn và các vùng biển lân cận thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, người phát ngôn bộ ngoại giao Trung Quốc, bà Jiang-Yu lên tiếng phản đối đồng thời cho biết, Trung Quốc “có chủ quyền không thể tranh cãi” đối với quần đảo Hoàng Sa. Sự thật về cái gọi là chủ quyền mà Trung Quốc nói tới này là kết quả của việc Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, sử dụng vũ lực đánh chiếm và hiện vẫn đang chiếm giữ bất hợp pháp nhiều đảo và quần đảo của Việt Nam.(8)

- Trong những ngày gần đây, “Bất chấp những phản ứng và tuyên bố chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang nhiên cho tổ chức hoạt động diễn tập quân sự của hải quân tại khu vực này.

Một số báo chí Hồng Kong đưa tin, vừa qua Trung Quốc đã cho hàng trăm xe bọc thép lưỡng cư, pháo tự hành, xe chở quân với hàng ngàn binh lính ra quần đảo Hoàng Sa tiến hành diễn tập thực binh.


Theo đó, nội dung chủ yếu của cuộc diễn tập lần này đó là diễn tập tấn công và phòng ngự đối với các cụm đảo mà Trung Quốc đã chiếm đóng của Việt Nam tại quần đảo này.

Trong đó, báo chí Trung Quốc nhấn mạnh, điều đặc biệt đáng chú ý trong lần diễn tập này đó chính là lần đầu tiên hải quân nước này đưa vào sử dụng tác chiến trên đảo một khối lượng lớn các trang thiết bị vũ khí mới mà trước nay Trung Quốc chưa từng cho vào tham gia các cuộc diễn tập trước đó. Bên cạnh đó, các xe thiết giáp chở quân lưỡng cư tham gia diễn tập này cũng hoàn toàn được trang bị mới.


Cũng theo tờ báo này, mục đích của cuộc diễn tập này của hải quân Trung Quốc đó là nhằm “đối kháng” với cuộc diễn tập trên biển Đông sắp tới với sự tham gia của Mỹ và Nhật, bên cạnh đó đây còn là một “lời cảnh báo không lời” của Bắc Kinh.


Ngoài ra, cuộc diễn tập lần này còn huy động sự tham gia của một sư đoàn phòng không Trung Quốc đóng tại quân khu Quảng Châu. Theo đó, nội dung mà quân khu này tham gia diễn tập bao gồm khoa mục tiếp dầu trên không, tấn công đánh chiếm đảo, diễn tập phòng không…”(9)

Tạm kết:

Hôm nay, ngày 26/8/2010, đọc xong bài “Đề nghị báo cáo Quốc hội tình hình Vinashin” của tác giả Lê Kiên trên báo Tuổi Trẻ tôi sợ mình nhầm nên đã đọc lại nhiều lần từng câu, từng chữ, nhưng tôi không nhầm vì trên báo Lao Động Online cũng đăng lại như thế.(10)

Cho nên, tôi mạo muội xin hỏi một câu: Như thế nào mới là “có cái gì mới”, thưa ông Chủ tịch Quốc hội?

Thưa ông, cái tin này có mới không: “Hôm thứ Năm 26/8, chính quyền Trung Quốc tuyên bố một tàu ngầm nhỏ, có người điều khiển của họ đã “cắm lá quốc kỳ dưới đáy biển Nam Hải”, tức Biển Đông theo cách gọi của Việt Nam.

Hãng Reuters cùng ngày trích nguồn Trung Quốc nói đây là vùng biển “Trung Quốc va chạm với Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á vì lý do tranh chấp lãnh thổ”.(11)

—-

Chú thích:

(1) Đề nghị báo cáo Quốc hội tình hình Vinashin (Tuổi trẻ, 26/8/2010)

(2) Mỹ không đứng về phía nào, TQ tuyên bố không bành trướng (VNN, 9/6/2010)

(3) Thứ trưởng Quốc phòng: ‘Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào’ (VNN, 26/8/2010)

(4) 南海海域16日起休渔 (News.cn, 15/5/2010)

(5) 南沙守礁部队首次开通手机服务(News.cn, 25/5/2010)

(6) 马媒担心中国在南沙部署长剑10巡航导弹(图) (war news)

(7) “Tử huyệt” của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông (Vit, 26/8/2010)

(8) Trung Quốc phản đối phản ứng của Việt Nam đối với vấn đề Hoàng Sa (Vit, 7/8/2010)

(9) Hải quân Trung Quốc lại tổ chức diễn tập tại Hoàng Sa (Vit, 20/8/2010)

(10) Đề nghị báo cáo Quốc hội tình hình Vinashin (Lao động, 26/8/2010)

(11) Tàu ngầm TQ cắm cờ ở đáy Biển Đông (BBC)

—-

- Đinh Kim Phúc – Tổng số tác phẩm: 50 (Văn chương Việt)

* Cùng một tác giả:


+ Phủ nhận hoàn toàn quan điểm của nhà nước Trung Quốc về vấn đề hai quần đảo Hoàng sa-Trường sa của Việt Nam (Sách hiếm)

+ Những lập luận mâu thuẫn của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa (Đại đoàn kết)

+ 295. Hai trang web: ĐCSVN và ĐSQ Hàn Quốc

+ 296. Mục Lân, An Lân, Phú Lân? (Vanchuongviet.org)

+ 299. TRUNG QUỐC VI PHẠM CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ!

+ 303. TAM GIÁC TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN-PHILIPPINES TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

+ 305. QUAN HỆ TRUNG-NHẬT-BÀI HỌC CHO VN.

+ 318. THÀNH NGỮ “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ”

+ 321. “THẤT TRẢM SỚ”

+ 333. VẤN ĐỀ TÊN GỌI BIỂN ĐÔNG TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

+ 343. ĐỔI TÊN GỌI BIỂN ĐÔNG CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

+ 366. TỪ BÃI CÁT VÀNG CHO ĐẾN HOÀNG SA-TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

+ 423. KẾ HOẠCH “TẰM ĂN DÂU”

+ 438. HOÀNG SA-TRƯỜNG SA MÃI MÃI LÀ CỦA VIỆT NAM

+ 496. TƯ DUY BIỂN CẢ CỦA TRUNG QUỐC

+ 506. CỤC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI?

+ 548. KHỞI NGHĨA LÁNG THÉ NĂM 1872-NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN NGHI

+ 549. THƯ NGỎ GỬI VỊ TIẾN SĨ ĐẠI HỌC YALE

621. Thư của Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc gửi ông Trương Nhân Tuấn

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 41 phản hồi »