BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Biển Đông/TS-HS’ Category

594. Hillary Clinton thay đổi chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 30/07/2010

Forbes

Hillary Clinton thay đổi chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc


Ngoại trưởng quay 180 độ đối với Bắc Kinh

Gordon G. Chang

28-07-2010

Hôm thứ Sáu, Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton tuyên bố rằng giải pháp hòa bình trong việc cạnh tranh đòi chủ quyền trên Biển Đông là sự “quan tâm quốc gia” của Hoa Kỳ. “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình hợp tác ngoại giao của tất cả các nước tranh chấp trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế”, bà nói tại Hà Nội trong một cuộc họp an ninh khu vực tại Diễn đàn khu vực Asean. “Chúng tôi phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Bắc Kinh đã phản ứng ngay. Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì mô tả ý kiến của bà Clinton là “một cuộc tấn công vào Trung Quốc”, và trong một ý nghĩa nào đó, ông ấy đúng. Trung Quốc đã tuyên bố một cách chính thức rằng tất cả vùng biển là của riêng của họ. Làm như thế, Bắc Kinh nói rằng họ có chủ quyền đối với thềm lục địa của Việt Nam, Brunei, Malaysia, Indonesia, Đài Loan và Việt Nam. Hầu hết các tuyên bố của Trung Quốc là vô căn cứ, và một số [tuyên bố] là lố bịch. Đó có lẽ là lý do tại sao Trung Quốc đã phải sử dụng đến bạo lực để giật lấy các hòn đảo và đảo nhỏ từ những nước đòi chủ quyền khác. Trung Quốc chiếm giữ phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam vào năm 1974 và Đá Vành Khăn từ Philippines vào năm 1995.

Bắc Kinh đã chọn cách tiếp cận mềm mỏng hơn bằng cách ký vào một quy tắc ứng xử đa quốc gia năm 2002. Các nỗ lực gần đây của Trung Quốc được xem như thành công trong việc giành quyền kiểm soát bằng cách ngăn cản các nước đòi chủ quyền khác tập họp thành một nhóm với nhau. Một cách thâm độc, Trung Quốc duy trì chính sách chỉ tham gia đàm phán song phương để có thể sử dụng sức mạnh của họ nhằm đạt được lợi thế tối đa.

Tuy nhiên, dù sao Trung Quốc đã gặp phải sự phản kháng từ các quốc gia trong khu vực – đặc biệt là Việt Nam – cho nên họ đã thay đổi chiến thuật trong thời gian gần đây. Khi ông Jeffrey Bader, viên chức hàng đầu châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia [Hoa Kỳ], và ông James Steinberg, Phó Ngoại trưởng, đã đến Bắc Kinh hồi tháng 3, các viên chức Trung Quốc lần đầu tiên nói [với hai viên chức Hoa Kỳ] rằng Biển Đông là một trong những “lợi ích cốt lõi” của đất nước họ và rằng họ sẽ không cho phép sự can thiệp của người Mỹ ở đó.

Bắc Kinh cố gắng tô vẽ các lời nói của bà Clinton là chính Hoa Kỳ xen vào khu vực này, nhưng điều đó không thể đi xa hơn nữa từ sự thật. Cho đến nay, Washington hầu như mù tịt về những nỗ lực của Trung Quốc để biến Biển Đông thành “cái hồ của Trung Quốc”. Hoa Kỳ đã bỏ qua sự chiếm đoạt lãnh thổ của Bắc Kinh và thậm chí đã làm rất ít để bảo vệ ExxonMobil khi năm 2008, Trung Quốc đã hăm doạ công ty này tham gia một hợp đồng thăm dò dầu khí ở Biển Đông với công ty năng lượng của chính phủ Việt Nam, PetroVietnam. Ở khu vực lân cận, hầu như Hoa Kỳ đã không làm gì để ngăn chặn hải quân Trung Quốc quấy rối tàu chiến Nhật Bản, như họ đã làm gần đây nhất hồi tháng 4, và ngăn chặn tàu ngầm Trung Quốc thường xuyên vi phạm vùng biển Nhật Bản, mà họ đã và đang làm trong thập kỷ này.

Tóm lại, Mỹ có vẻ như đã thừa nhận nhu cầu của Trung Quốc kiểm soát ở Biển Đông. Bắc Kinh đã quá liều lĩnh trong những tháng gần đây, tuy nhiên các quốc gia trong khu vực đang tìm cách chống lại Trung Quốc. Mặc dù tất cả các nước cùng nhau tìm kiếm sự an toàn, vả lại không nước nào muốn làm Bắc Kinh bực mình bằng cách dẫn đầu ở phía trước.

Trong một cuộc họp giữa các thành viên Asean và ông Dương Khiết Trì trước khi bà Clinton đến Hà Nội, chỉ có Philippines sẵn sàng nêu lên vấn đề Biển Đông. Có tin đồn rằng bà Clinton sẽ có lập trường cứng rắn, tuy nhiên, 11 người (tức đại diện cho 11 nước) tham gia đã ra tuyên bố về vấn đề này. Không có gì lạ khi Trung Quốc cảm thấy họ đã bị phục kích tại thủ đô Việt Nam. Liệu đó có là một cái bẫy hay không, bà Clinton, trong giờ phút đẹp nhất của mình với tư cách Ngoại trưởng, đã lãnh đạo ở Đông Nam Á.

Và ở Bắc Á cũng vậy. Học thuyết Clinton – Có quá sớm để gọi như thế chăng? – Cũng sẽ trấn an Nhật Bản và Nam Hàn, hai đồng minh quân sự chính thức của Hoa Kỳ, rằng Washington ở châu Á và sẽ ở lại.

Cho đến nay, cả hai quốc gia đang lưỡng lự khi có vẻ như Tổng thống Obama sẽ đi theo cách tồi tệ nhất về các chính sách “cam kết” của người tiền nhiệm của ông. Đặc biệt nguy hiểm là tại hội nghị thượng đỉnh ở Bắc Kinh hồi tháng 11, dường như ông đã xác nhận – với Trung Quốc cũng như những nước khác – rằng Trung Quốc giờ đây mạnh hơn Hoa Kỳ. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà giới chức Trung Quốc thể hiện sự kiêu ngạo mới chỉ vài tuần sau hội nghị thượng đỉnh, ăn mừng bắt đầu với hội nghị biến đổi khí hậu Copenhagen hồi đầu tháng 12.

Cho đến nay, Mỹ đã miễn cưỡng đối đầu với Trung Quốc như thể họ chờ đợi Bắc Kinh đảm nhận vai trò kiến thiết như một cường quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc diễn giải niềm hy vọng và sự kiên nhẫn của Washington như bằng chứng về sự yếu kém của Mỹ. Nhưng chỉ trong vài câu ngắn gọn hôm thứ Sáu, bà Clinton đã thay đổi nhận thức đó, cả trong lẫn ngoài Trung Quốc.

Tuyên bố về Biển Đông của bà được gọi là “một bước ngoặt” và một “điểm mấu chốt”. Đó là, và nó có thể kết thúc vào thời điểm bà chuyển hướng không chỉ chính sách Trung Quốc của Mỹ mà còn chính sách của Trung Quốc đối với các quốc gia trong khu vực.

Sự tiến lên phía trước mà không bị trở ngại của Bắc Kinh để thống trị toàn cầu vừa gặp phải sự kháng cự. Cuối cùng thì họ cũng đã kháng cự (*).

G. Gordon Chang là tác giả quyển sách The Coming Collapse of China. Ông phụ trách mục bình luận hàng tuần cho tạp chí Forbes.

———

(*) And it’s about time: nghĩa là, they finally did. They should do this before but they didn’t; and they do it now. Tức là: cuối cùng thì họ đã làm. Đáng lẽ họ nên thực hiện điều đó trước đây nhưng họ đã không làm và bây giờ thì họ thực hiện.

Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.forbes.com/2010/07/28/china-beijing-asia-hillary-clinton-opinions-columnists-gordon-g-chang.html?boxes=Homepagechannels

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | 6 phản hồi »

593. Hoa Kỳ dũng cảm đương đầu với sự bắt nạt của Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 29/07/2010

THE WALL STREEET JOURNAL

Hoa Kỳ dũng cảm đương đầu

với sự bắt nạt của Trung Quốc

Ngoại trưởng Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Gates thông báo cho Bắc Kinh rằng chúng tôi sẽ chống lại bất kỳ chủ nghĩa bành trướng nào trong khu vực.

Daniel Blumenthal

27-07-2010

Vào tuần trước, Bà Hillary Clinton đã khuấy động một phản ứng om sòm khi nói rằng một giải pháp hòa bình cho việc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa] là “lợi ích quốc gia” của Mỹ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên án lời bình luận đó là sự can thiệp tùy tiện của Mỹ và cố gắng để “quốc tế hóa” một vấn đề nghiêm trọng trong khu vực. Bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh, sự khéo léo của bà Clinton đánh dấu một bước tiến triển tích cực của chính phủ Obama về phương pháp tiếp cận châu Á.

Vấn đề đang tranh cãi là Bắc Kinh đòi phần lớn lãnh thổ trên Biển Đông. Trung Quốc hành động như người ta đoán trước về một cường quốc đang lên: khi phát triển mạnh hơn, họ mong muốn thay đổi các quy tắc quốc tế đã được viết ra lúc họ còn yếu.

Tuy nhiên, các chuyên gia chính sách đối ngoại đã dành nhiều thời gian để bảo đảm với người châu Á và người Mỹ rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ là một ngoại lệ, ít hỗn loạn hơn sự trỗi dậy của Hoa Kỳ, Đức hay Nhật Bản. Quan điểm đó cổ vũ cho chính sách “bảo đảm chiến lược” ác liệt của Tổng thống Obama trong năm đầu nhiệm kỳ của ông, trong đó Washington bảo đảm với Bắc Kinh rằng Mỹ sẽ không tranh giành tình trạng trỗi dậy trở thành cường quốc của Trung Quốc. Trung Quốc ngửi mùi yếu kém [của Mỹ] và đứng dậy đánh cược, tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và xác định nó là lãnh hải của Trung Quốc.

Bây giờ là ý kiến của bà Clinton và hành động của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates để khôi phục lại các mối quan hệ quân sự với Indonesia trong chuyến đi châu Á hồi tuần trước, cho thấy rõ rằng đội ngũ Obama hiểu sự trỗi dậy của Trung Quốc không phải là ngoại lệ trong lịch sử. Thương hiệu mới của họ về chủ nghĩa hiện thực nguyên tắc đặc trưng do các biện pháp nhằm cân bằng quyền lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc và đẩy mạnh tham gia với các đồng minh và đối tác, [tham gia] tất cả nhưng không bỏ mặc các giá trị của Mỹ.

Cụ thể trên Biển Đông, Hoa Kỳ muốn tự do đi lại, tự do đi vào các vùng biển chung, và tôn trọng luật pháp quốc tế. Tuần trước tại Hà Nội, bà Clinton đề nghị để giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua phương tiện đa phương thay vì song phương. Trong khi đó, bà thể hiện trong cuộc họp với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), là Mỹ sẽ nắm lấy các đối tác, những nước cùng chia sẻ mục đích trong việc kiểm tra sức mạnh của Trung Quốc, nhưng cũng sẽ không tránh xa khi bị chỉ trích vi phạm nhân quyền. Ví dụ, bà Clinton đã nói rõ rằng Hoa Kỳ sẽ chỉ trích sự tàn bạo của chế độ Miến Điện, mặc dù một số nước thành viên Asean ngần ngại trong việc chỉ trích.

Có hai lý do tại sao một giải pháp đa phương cho vấn đề Biển Đông làm Bắc Kinh khó chịu. Lý do thứ nhất, việc sách nhiễu định kỳ các tàu hải quân Mỹ và mở rộng việc đòi chủ quyền hàng hải chứng minh rằng Trung Quốc không tôn trọng các tiêu chuẩn ứng xử trên biển đã được chấp nhận rộng rãi. Trung Quốc giữ quan điểm toàn bộ Biển Ðông là lãnh hải của họ, là tin mới đối với Philippines, Malaysia, Việt Nam và Đài Loan, những nước đều đòi chủ quyền lãnh thổ ở đó. Trung Quốc cũng đang cố gắng để ngăn chặn các hoạt động quân sự hợp pháp của Hoa Kỳ trên biển.

Thứ hai, Trung Quốc cố giữ cho tranh chấp với các nước Đông Nam Á song phương. [Bởi vì sẽ] dễ dàng hơn để bắt nạt và phớt lờ những nước đòi chủ quyền khác đối với các đảo san hô vòng, đường hàng hải và các nguồn tài nguyên thiên nhiên với từng nước một. Chỉ riêng hai lý do trên, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan không thể đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả. Các nước nói trên cùng với nhau, cộng thêm sự hậu thuẫn của Mỹ, thì họ có thể.

Đó là lý do tại sao bà Clinton được chào đón, điều đáng lẽ đã xảy ra từ lâu. Nhiệm vụ của Hoa Kỳ là bảo vệ các nguyên tắc ứng xử đã được thiết lập và mong Trung Quốc tuân theo. Hơn nữa, Washington đang chấm dứt chiến lược chia để trị của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Bắc Kinh có khả năng thực hiện đòi chủ quyền lãnh thổ không hợp lý và bành trướng, và họ đã bắt đầu làm điều đó ở bên ngoài và bên trong Biển Hoa Đông. Không có chỗ cho sự mơ hồ khi nói đến lợi ích của Mỹ trong việc tự do đi lại trên vùng biển quốc tế.

Trong khi đó, sự nối kết của bà Clinton về an ninh Đông Nam Á với các giá trị tự do rất là chính đáng. Các nước Đông Nam Á muốn Trung Quốc tuân theo các quy tắc quốc tế và minh bạch hơn về các hoạt động trên biển. Điều đó sẽ chỉ xảy ra nếu Trung Quốc trở thành một xã hội tôn trọng pháp luật và cởi mở hơn. Và Mỹ không thể kêu gọi Trung Quốc cư xử có trách nhiệm trong khi cho phép Miến Điện tàn bạo hoặc để cho Việt Nam lạm dụng [quyền lực] mà không nói tới.

Không có điều nào nói rằng bà Clinton đã thật sự giải quyết vấn đề. Trung Quốc sẽ gây áp lực rất lớn lên các nước Asean để tôn trọng việc đòi chủ quyền của Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ lập luận rằng trong khi Trung Quốc thường trực ở châu Á, sự chú ý của Mỹ chỉ là nhất thời. Đây là một luận cứ thuyết phục, nhưng là điều có thể bị bác bỏ.

Trình tự đầu tiên là đặt quân đội Mỹ đằng sau các nỗ lực ngoại giao. Lầu Năm Góc nên đưa ra một kế hoạch cân bằng tương xứng với việc gia tăng sự hiện diện quân sự của Trung Quốc trong khu vực. Mọi người đều biết quân đội Mỹ suy yếu ở Thái Bình Dương. Đã đến lúc nói thật và tìm kiếm được hỗ trợ từ Quốc hội và công chúng Mỹ về phí tổn và sự cần thiết trong việc bảo đảm sự ổn định ở châu Á.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên tiếp cận khu vực một cách đa phương bằng cách lập một sứ quán quan hệ đối tác khu vực châu Á ở một thủ đô liên minh giống như chúng ta có ở Brussels với Liên minh châu Âu. Washington nên yêu cầu bạn bè của mình để mình làm như vậy và lập các tổ chức ngoại giao mới với cán bộ ngoại giao và sĩ quan quân đội để đối phó với các vấn đề an ninh châu Á rộng lớn. Mỹ không cần phải thành lập tập hợp chính thức các đồng minh quốc phòng giống như liên minh NATO, nhưng đã đến lúc xây dựng mạng lưới các đồng minh hợp tác chặt chẽ ở châu Á.

Bà Clinton cho thấy sự giao thiệp ngoại giao khéo léo và sáng tạo trong chuyến thăm Việt Nam. Washington nên tiếp tục cái đà này bằng các bước thể hiện sự cam kết tôn trọng của mình đối với an ninh khu vực. Phản ứng hiếu chiến của Trung Quốc đối với chính sách “bảo đảm chiến lược” dạy cho chính phủ [Mỹ] rằng Bắc Kinh tôn trọng quyền lực trên hết. Thay vì trấn an một Trung Quốc hiếu chiến, chúng ta nên trấn an những người bạn châu Á của chúng ta bằng cách xây dựng các thể chế cần thiết để thực hiện các chính sách mới của bà Ngoại trưởng.


Ông Blumenthal đã làm việc trong Cơ quan An ninh Quốc tế của Bộ Quốc phòng từ năm 2002-2004, là thành viên thường trực tại American Enterprise Institute, Washington, DC.

Ngọc Thu dịch
Nguồn: http://online.wsj.com/article/SB10001424052748703700904575391862120429050.html

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: , , , , , , , , , | 21 phản hồi »

591. TQ cảnh báo HK nên đứng ngoài chuyện tranh chấp các đảo

Đăng bởi anhbasam on 27/07/2010

Hầu bà con hình ảnh vui (Daily Mail): Ban Tuyên Giáo và Báo

—-

New York Times

Trung Quốc cảnh báo Hoa Kỳ

nên đứng ngoài chuyện tranh chấp các đảo

Andrew Jacobs

26-07-2010

BẮC KINH – Chính phủ Trung Quốc đã phản ứng giận dữ hôm thứ hai về lời tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton, rằng Washington đột kích vào chuyện tranh chấp lãnh thổ âm ỉ từ lâu giữa Trung Quốc và các nước láng giềng nhỏ hơn ở Biển Đông.

Phát biểu hôm thứ Sáu tại diễn đàn các nước Đông Nam Á ở Việt Nam, bà Clinton rõ ràng đã làm Bắc Kinh kinh ngạc bằng cách nói rằng Hoa Kỳ có sự “quan tâm quốc gia” trong việc tìm kiếm hòa giải các tranh chấp, trong đó gồm khoảng 200 hòn đảo, đảo nhỏ và đảo san hô nổi trên mặt nước, mà Trung Quốc, Việt Nam, Brunei, Malaysia, Đài Loan, Indonesia và Philippines đòi chủ quyền.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì đã cảnh báo Hoa Kỳ, chống lại việc công kích vào trận chiến, nói rằng sẽ gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Hậu quả sẽ là gì nếu vấn đề này chuyển sang đa phương hay quốc tế hoá”? Ông hỏi trong bài bình luận đăng trên trang Web của Bộ Ngoại giao. “Nó chỉ làm cho vấn đề tồi tệ hơn và việc giải quyết vấn đề khó khăn hơn”.

Các phương tiện truyền thông nhà nước không được khôn khéo, mô tả bài phát biểu của bà Clinton là “một cuộc tấn công” và một nỗ lực đáng ngờ để đàn áp nguyện vọng của Trung Quốc – và mở rộng sức mạnh.

“Hy vọng của tôi là phát triển các khả năng quân sự của Trung Quốc”, Nhân dân Nhật báo, tờ báo của Đảng Cộng sản đã chạy một bài xã luận hôm thứ Hai.

Tờ Global Times, tờ báo lá cải tiếng Anh, thuộc tờ Nhân dân Nhật báo cho biết: “Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ quyền của mình để bảo vệ lợi ích cốt lõi qua phương tiện quân sự”.

Tuyên bố của bà Clinton vào thời điểm căng thẳng gia tăng giữa Washington và Bắc Kinh về một số khác biệt kinh tế và ngoại giao. Ngày Chủ Nhật, Hoa Kỳ và Nam Hàn đã bắt đầu bốn ngày tập trận hải quân ngoài khơi bán đảo Triều Tiên, liên quan đến 200 máy bay, 20 tàu và một tàu sân bay. Mặc dù các cuộc tập trận có ý nghĩa như một thông điệp tới Bắc Hàn – như Nam Hàn đã quy lỗi cho ngư lôi tấn công vào tàu chiến hồi tháng 3, đã giết chết 46 thủy thủ – Trung Quốc chào đón các cuộc diễn tập bằng một số báo động.

Cho đến khi bà Clinton đưa ra lời bình luận, tranh chấp về các quần đảo trên Biển Đông vẫn là sự quan tâm chủ yếu trong khu vực. Diện tích tranh chấp trải dài 1,2 triệu dặm vuông, là một kênh ngày càng quan trọng đối với 1/3 thương mại hàng hải trên thế giới và hầu hết nguồn cung năng lượng trong khu vực, cũng như các mỏ dầu lửa và khí tự nhiên khổng lồ được cho là dưới đáy đại dương.

Năm 1988, quân đội Trung Quốc và Việt Nam đã đánh nhau trên một quần đảo, quần đảo Hoàng Sa (*), lấy đi mạng sống của hàng chục thủy thủ Việt Nam. Năm nay, Trung Quốc công bố kế hoạch phát triển du lịch trên quần đảo Hoàng Sa. Trong những tháng gần đây, họ đã cảnh báo các công ty dầu nước ngoài, chống lại các thỏa thuận khai thác đáng chú ý với Việt Nam.

Ông Xu Liping, chuyên gia về Đông Nam Á tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc ở Bắc Kinh, nói rằng Hoa Kỳ từ lâu xao lãng do các cuộc xung đột ở Iraq và Afghanistan, đang tìm cách khôi phục ảnh hưởng trong khu vực.

Hoa Kỳ cảm thấy đây là lúc để chơi quân bài chính trị và quân sự do rất khó khăn để họ cạnh tranh với Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế”, ông nói thêm rằng nếu Washington có thể đóng một vai trò lớn hơn ở Biển Đông, “sẽ giúp tiếp tục gây ảnh hưởng các nước Nam Á”.

Các viên chức Mỹ đã phản ứng với mối quan ngại ngày càng tăng về tham vọng của hải quân Trung Quốc, một chiến lược mới mà các Đô đốc Trung Quốc đã mô tả như là “phòng thủ ngoài khơi”.  Ngoài việc từ chối nhân nhượng bất kỳ chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông, Trung Quốc đã công bố kế hoạch triển khai các tàu sân bay, và tăng cường đội tàu ngầm hạt nhân có khả năng bắn tên lửa đạn đạo.

Trong tháng 3, Trung Quốc đã cảnh báo hai viên chức Mỹ đang viếng thăm rằng họ sẽ không tha thứ [cho bất kỳ sự] can thiệp nào vào Biển Đông, khu vực mà nó mô tả như là “lợi ích cốt lõi” của họ, như Tây Tạng và Đài Loan.

[Các nước] láng giềng của Trung Quốc đã phản ứng bằng cách củng cố lực lượng hải quân của riêng họ. Trong những năm gần đây, Việt Nam, Singapore và Malaysia đã mua tàu ngầm. Hôm Chủ Nhật, lần đầu tiên Nhật Bản công bố kế hoạch tăng hạm đội tàu ngầm trong hơn ba thập kỷ.

Tuyên bố của bà Clinton hôm thứ Sáu về cơ bản đã là một cái gật đầu cho Việt Nam, nước đã và đang tìm kiếm sự hỗ trợ cho các cuộc đàm phán đa phương như là một bức tường thành chống lại lập trường Trung Quốc về các vấn đề chủ quyền. Trung Quốc đã nhấn mạnh rằng xung đột nên được giải quyết thông qua những cuộc đàm phán tay đôi. “Sự đồng thuận là các tranh chấp này được giải quyết một cách hòa bình thông qua các cuộc thảo luận thân thiện, vì lợi ích hòa bình và ổn định trên Biển Đông và quan hệ láng giềng tốt”, ông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cho biết trong một tuyên bố của ông.

Ian Storey, thành viên của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, nói rằng Washington gia tăng sự quan tâm trên Biển Đông chắc chắn làm nổi lên căng thẳng giữa hai nước. Các cuộc đối đầu như vậy đã kết thúc cuộc chạm trán ít thân thiện hơn giữa tàu Mỹ và Trung Quốc.

Đây rõ ràng là một bất ngờ khó chịu cho Trung Quốc”, ông Storey nói về tuyên bố của bà Clinton.


Bibo và Zhang Li Jing đóng góp phần nghiên cứu cho bài viết.

————–

(*) Không phải quần đảo Hoàng Sa mà là Trường Sa.

Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.nytimes.com/2010/07/27/world/asia/27china.html?_r=2

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: , | 40 phản hồi »

590. HK phục kích ở sân sau TQ như thế nào, điều gì sẽ xảy ra?

Đăng bởi anhbasam on 26/07/2010

South China Morning Post

Hoa Kỳ phục kích ở sân sau Trung Quốc

như thế nào và điều gì sẽ xảy ra?

Greg Torode


25-07-2010

Washington cầm đầu việc phục kích Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa] ở diễn đàn an ninh hàng đầu trong khu vực hôm thứ Sáu đánh dấu một bước ngoặt thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ và phơi bày những thiếu sót chiến lược sâu sắc ở châu Á.

Ngay cả khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tấn công một cách khéo léo vào vấn đề  Biển Đông tại Hà Nội, Hoa Kỳ và các tàu hải quân Nam Hàn chuẩn bị cho giai đoạn tập trận với quy mô lớn ở biển Nhật Bản, hay Biển [Hoa?] Đông, gần phía Đông Bắc Trung Quốc – tăng thêm căng thẳng cho bức tranh toàn cảnh.

Những gì đã xảy ra ở Hà Nội là đặc biệt quan trọng. Khi bà Clinton tuyên bố rằng giải quyết việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông hiện nay là “lợi ích quốc gia” và là “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, bà không chỉ phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ về khả năng thống trị hàng hải Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy Washington đã nắm vững một cơ hội lịch sử.

Hàng tháng qua, một điệp khúc ngày càng tăng mối quan ngại ở Đông Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã đượ cất lên tại Washington, cũng giống như chính quyền non trẻ của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra những phương cách để trở lại tham gia vào khu vực bị bỏ quên. Hoảng sợ về điều được lặp đi lặp lại rằng, Hoa Kỳ là cường quốc suy yếu, các viên chức Mỹ đã nói chuyện riêng về việc cần xác nhận lại ưu tiên chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á.

Sự khẳng định ồn ào ngày càng gia tăng của Trung Quốc về lịch sử của nó, và bây giờ là về luật pháp, đòi hầu như toàn bộ vùng biển này – ví dụ qua việc giam giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, việc quấy rối các tàu của Hoa Kỳ và các lực lượng hải quân và những đe dọa thực hiện việc kết thúc các thỏa thuận khai thác với Hà Nội đối với các công ty dầu hỏa quốc tế khổng lồ  – đã cung cấp cơ hội đó.

Hành động của Hoa Kỳ không chỉ làm hài lòng những nước đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nước là đối thủ của Trung Quốc như: Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, mà còn làm yên tâm các nước lớn hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng cách gửi thông điệp ảm đạm tới Trung Quốc.

Trong gần 15 năm qua, Washington đã kiên định quan điểm đứng bên lề các căng thẳng trên Biển Đông, trên tuyến đường thuỷ chiến lược và giàu khoáng sản nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Đại diện ngoại giao của họ thỉnh thoảng quan tâm về sự cần thiết cho một cách giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ, nhưng không đứng về bên nào trong việc tranh chấp.

Những lời bình luận của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Chúng đã đưa Hoa Kỳ đứng đầu trong vấn đề chủ quyền của Trung Quốc, thứ mà gần đâyTrung Quốc đã nói là “lợi ích cốt lõi”, quy tắc ngoại giao đặt ngang với Đài Loan và Tây Tạng về sự nhạy cảm.

Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Tiến sĩ Robert Gates đã nói tại một diễn đàn an ninh ở Singapore rằng, Washington phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ tham gia hợp các đồng hợp pháp trong khu vực.

Bà Clinton bình luận chính thức ở Diễn đàn Khu vực Asean, trong các cuộc họp song phương và trong các tuyên bố công khai. Trong khi đó, các viên chức của bà thông báo ngắn gọn với nhóm báo chí đi cùng với phái đoàn Washington để họ không bỏ qua điểm chính.

Trong khi bà bị mắc kẹt vào kịch bản cũ về việc không đứng về bên nào, bà đã nói rõ ràng là Washington muốn thúc đẩy các cuộc thảo luận và các giải pháp trong khu vực – một thách thức trực tiếp tới Bắc Kinh, đã cố gắng, kín đáo nhưng mạnh mẽ, để chặn đứng Asean thảo luận vấn đề này và các viên chức ngoại giao đã nhấn mạnh nó phải được xử lý song phương – nói cách khác, từng nước tranh chấp xếp hàng để giải quyết riêng với Trung Quốc.

Bà Clinton nói: “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Những lời nói của bà là một thắng lợi ngoại giao quan trọng cho Việt Nam, một món quà từ Washington khi hai nước đánh dấu 15 năm kể từ khi chính thức khôi phục các quan hệ ngoại giao sau cuộc chiến Việt Nam và gần 20 năm bị cấm vận kinh tế.

Trong nhiều tháng, Việt Nam đã tìm cách khai thác vai trò Chủ tịch Hiệp hội mười nước Đông Nam Á để giữ cho vấn đề Biển Đông nóng bỏng. Các nước tranh chấp vùng biển giàu có đã tuyệt vọng trong việc nhằm đạt được tiến bộ về một ràng buộc pháp lý của quy tắc ứng xử – một cam kết trong tuyên bố năm 2002 đã ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông kêu gọi tự kềm chế. Tuyên bố ban đầu này được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng nó ngày càng hiện ra như một tờ giấy lộn trong việc chống đối các hành động của Trung Quốc.

Bà Clinton nhiều lần nhắc đến các nguyên tắc của tuyên bố đó, như  điệu nhạc vang lên bên tai [làm vui lòng] các quan chức Việt Nam.

Chỉ một năm trước, Trung Quốc đã được nhiều người xem như là đang chia rẽ Asean, với mỗi thành viên có quan hệ riêng với Bắc Kinh trước khi ASEAN thống nhất. Có rất ít động lực về vấn đề [Biển Đông] trong các cuộc họp chính thức. Và trong bối cảnh, áp lực Trung Quốc là không đổi, theo một số nhà ngoại giao Asean. Ngay cả Campuchia, chế độ đã từng là liên minh chặt chẽ với Hà Nội, đang bác bỏ các nỗ lực của Việt Nam, nhân danh Bắc Kinh.

Sự thận trọng đó vẫn còn nhìn thấy vài giờ trước khi bà Clinton đến. Vào một ngày trước khi Diễn đàn Khu vực ASEAN tổ chức, các ngoại trưởng của khối đã có cuộc họp chính thức hàng năm với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì. Chỉ có Philippines nêu ra vấn đề Biển Đông. Sự dè dặt như thế phản ánh cách truyền thống của Asean. Các cuộc họp và các tuyên bố chính thức nói chung là nhạt nhẽo nhất.

Ngay cả Việt Nam hiếm khi đổ lỗi cho Trung Quốc trước công chúng, khuynh hướng duy trì vẻ bề ngoài của tình anh em. Hôm qua, tràn ngập một chiến thắng hiếm hoi, báo chí nhà nước bao giờ cũng thận trọng đã bị hạn chế đưa ra những lời lẽ tán dương chính thức về các cuộc họp.

Một quan sát viên ngoại giao cho biết: “Đó là điều đáng chú ý. Không ai muốn dẫn đầu. Tất cả mọi người đều chờ đợi để cùng nhau được an toàn”.

Sự xuất hiện của bà Clinton hôm thứ Năm đã đem đến cảm giác an toàn đó, khi lời lẽ truyền đi thái độ cứng rắn mới của bà.

Vào lúc diễn đàn bắt đầu hôm thứ Sáu, 11 thành viên khác đã sẵn sàng với các báo cáo, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước có phần được hoặc mất nhiều nhất – cũng như Indonesia, EU, Úc và Nhật Bản. Tiếp theo là từng nước thay phiên đọc các báo cáo.

Trong khi ông Dương bày tỏ sự bực tức sau đó, những gì xảy ra không có gì bất ngờ đối với Bắc Kinh. Trong hơn một năm, quân sự, diễn tập chính trị và ngoại giao đã cho thấy các mối quan ngại ngày càng tăng trong khu vực.

Các viên chức quân sự Việt Nam đã kín đáo bay ra tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông và đã được mời lên trên chiếc tàu ngầm của Hoa Kỳ ở Hawaii. Và Việt Nam đã cho phép các tàu chiến Hoa Kỳ sửa chữa tại cảng địa phương.

Hà Nội cũng đã thực hiện một thỏa thuận với Moscow, đồng minh chiến tranh lạnh trước đây để mua sáu tàu ngầm hiện đại loại Kilo.

Trong khi đó, Lầu Năm Góc và các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày càng nói thẳng lời điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết để khẳng định quyền hàng hải trong vùng biển quốc tế bất chấp sự quan tâm của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc tuyên bố nhiều [phần] Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ và các quốc gia khác nhấn mạnh rằng nó vẫn thuộc vùng biển quốc tế và vì thế các hoạt động quân sự thường xuyên, gồm cả giám sát, đều được phép.

Những căng thẳng này đã hiện ra khi ở Singapore, ông Gates nói với các cử tọa gồm các sĩ quan cao cấp của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Một viên chức PLA đã nổi giận sau đó khi tuyên bố: “Chúng tôi không xem nó như là một ‘cái hồ của Trung Quốc’, chúng tôi cho phép [các tàu thuyền] vô sự đi qua. Nhưng tôi xin lỗi, sự giám sát của Hoa Kỳ không phải là vô hại. Sự quan tâm của Trung Quốc không phải được đánh giá thấp”.

Việc có hay không chuyện Washington đánh giá thấp các mối quan ngại kia vẫn được nhìn thấy rõ. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ xem những sự kiện ở Hà Nội như là một sự khiêu khích đáng kể. Cũng có một cảm giác ngày càng tăng trong khu vực, rằng biển là quan trọng đối với tham vọng của Trung Quốc cho việc hải quân trên “đại dương” có thể hoạt động xa bờ, vì chỉ có nó cung cấp lối vào vùng nước sâu đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Điều rõ ràng là Hoa Kỳ hiện đang chuẩn bị để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong khu vực – một sự thay đổi chính sách mà sẽ không dễ dàng quay ngược trở lại. Và với Trung Quốc, tuần trăng mật với bất kỳ nước Asean nào thì đã đi qua.

Đối với tất cả những rủi ro, Washington nhận biết cơ hội.


Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.viet-studies.info/kinhte/how_the_us_ambushed_china.htm

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: , , , , , , , | 32 phản hồi »

589. Bài phát biểu của bà Hillary Clinton tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 24/07/2010

U.S. DEPARTMENT of STATE

Bài phát biểu của bà Hillary Clinton tại

Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Việt Nam

Hillary Rodham Clinton, Ngoại trưởng

Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Việt hNam

Ngày 23-07-2010


Ngoại trưởng Clinton : Chào tất cả mọi người . Hôm nay tôi hoàn tất chuyến đi thứ năm của tôi đến châu Á kể từ khi trở thành ngoại trưởng. Hôm qua, tôi đến Việt Nam và tôi được vinh dự có mặt ở đây để kỷ niệm 15 năm ngày bình thường hóa quan hệ ngoại giao của chúng ta. Ngày hôm trước, tôi đã ở Seoul, chuyến thăm thứ ba của tôi đến Nam Hàn với tư cách ngoại trưởng. Bộ trưởng Gates và tôi đã gửi thông điệp mạnh mẽ rằng 60 năm sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, liên minh Mỹ – Nam Hàn mạnh mẽ, giúp bảo đảm hòa bình, an ninh và tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Và bây giờ tôi vừa hoàn thành hai ngày thảo luận chuyên sâu với các đồng sự ASEAN của tôi và với các đối tác khác, những người đã đến đây theo đuổi nỗ lực chung: tăng cường an ninh, thịnh vượng, và [tìm kiếm] cơ hội trên khắp châu Á.

Hôm qua, tôi tham dự cuộc họp hàng năm cấp bộ trưởng Hoa Kỳ – ASEAN, nơi chúng ta đã thảo luận sự tham gia sâu rộng của đất nước tôi ở Đông Nam Á và các cơ hội chúng ta nhìn về phía trước trên nhiều mặt trận – từ đầu tư thương mại mở rộng, cho tới hợp tác nhiều hơn đối với hòa bình và an ninh, kết hợp các nỗ lực để đương đầu với những thử thách xuyên quốc gia, như biến đổi khí hậu, nạn buôn người, phổ biến vũ khí hạt nhân, và nhiều vấn đề khác.

Và hôm nay tôi đã tham dự cuộc họp hàng năm diễn đàn khu vực ASEAN lớn hơn để tiếp tục và mở rộng các cuộc thảo luận của chúng ta. Như tôi đã nói khi tôi tham dự diễn đàn này mùa Hè năm ngoái ở Thái Lan, chính phủ Obama cam kết sự tham gia rộng, sâu, và bền bỉ ở châu Á . Và như tôi đã thảo luận trong bài phát biểu tại Hawaii hồi mùa Thu năm ngoái, chúng tôi tập trung vào việc giúp tăng cường cấu trúc thể chế ở Châu Á Thái Bình Dương .

Trong 18 tháng qua chúng tôi đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, thông báo ý định của chúng tôi để mở một toà đại sứ và chỉ định một đại sứ ASEAN tại Jakarta, và đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ – ASEAN đầu tiên. Và chúng tôi đã theo đuổi những nỗ lực tiểu khu vực (sub-regional) mới như quan hệ đối tác mới ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Dựa vào sự tiến triển đó, tôi chuyển đến các đồng sự của tôi sự quan tâm của chúng tôi trong việc tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) vì nó đóng vai trò ngày càng tăng các thách thức trong thời đại chúng ta. Và tôi đã thông báo rằng Tổng thống Obama đã yêu cầu tôi đại diện cho Hoa Kỳ trong một khả năng thích hợp tại EAS năm nay ở Hà Nội để tiếp tục quá trình tham vấn với quan điểm về sự tham gia của người Mỹ hoàn toàn ở cấp tổng thống vào năm 2011. Thông qua các cuộc tham khảo, chúng tôi sẽ làm việc với các thành viên EAS để khuyến khích phát triển thành một nền tảng an ninh và thể chế chính trị cho châu Á trong thế kỷ này. Tổng thống cũng hướng tới việc chủ trì cuộc họp thứ hai của lãnh đạo Hoa Kỳ – ASEAN tại Hoa Kỳ vào mùa Thu tới.

Hôm nay chúng tôi thảo luận một số thách thức cấp bách trong đó có Bắc Hàn và Miến Điện. Tôi khuyến khích các đối tác và đồng minh tiếp tục thi hành đầy đủ và minh bạch Nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 1874, và gây sức ép với Bắc Hàn thi hành nghĩa vụ quốc tế. Tôi cũng kêu gọi Miến Điện đưa ra các điều kiện cần thiết cho cuộc bầu cử đáng tin cậy, gồm cả việc phóng thích tất cả các tù nhân chính trị, đặc biệt là bà Aung San Suu Kyi, tôn trọng các quyền cơ bản của con người, và ngừng các cuộc tấn công chống lại các dân tộc thiểu số của họ. Và như tôi đã nói trong các cuộc họp ngày hôm nay, rất quan trọng để Miến Điện lắng nghe từ các nước láng giềng về sự cần thiết phải tuân theo các cam kết của mình, theo hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân, để thực hiện các nghĩa vụ an toàn của IAEA và tuân theo Nghị quyết 1874 và 1718.

Chúng tôi cũng thảo luận một số chủ đề quan trọng khác như: biến đổi khí hậu, thương mại và hội nhập kinh tế, dân chủ và nhân quyền. Và tôi nắm lấy cơ hội cùng với một số đồng sự ASEAN và các đồng sự Diễn đàn Khu vực ASEAN để bắt đầu lập trường của chính phủ tôi về vấn đề quan tâm đến an ninh và thịnh vượng trong khu vực Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa].

Tôi muốn nói ngắn gọn quan điểm của chúng tôi về vấn đề này. Hoa Kỳ, như mọi quốc gia, có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích không chỉ với các thành viên ASEAN hoặc những người tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN, mà còn với các quốc gia gần biển khác và cộng đồng quốc tế rộng hơn.

Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào. Trong khi Hoa Kỳ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ về các vùng đất, đảo, đá…(land features) trên Biển Đông, chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp nên theo đuổi việc tranh chấp lãnh thổ của mình và các quyền đối với không gian biển theo quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển. Phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, việc đòi chủ quyền chính đáng đối với không gian biển trên Biển Đông nên chỉ bắt nguồn từ việc đòi chủ quyền hợp pháp với các đảo, đất, đá…trên biển (*).

Hoa Kỳ ủng hộ Tuyên bố Ứng xử của các bên trên Biển Đông của ASEAN – Trung Quốc năm 2002. Chúng tôi khuyến khích các bên đạt được sự thoả thuận quy tắc ứng xử hoàn toàn. Hoa Kỳ chuẩn bị tạo điều kiện cho các sáng kiến và các biện pháp xây dựng lòng tin phù hợp với tuyên bố. Bởi vì tất cả các bên tranh chấp và cộng đồng quốc tế rộng hơn đều quan tâm về việc thương mại không bị ngăn cản để tiến hành trong điều kiện hợp pháp. Tôn trọng lợi ích của cộng đồng quốc tế và những nỗ lực có trách nhiệm để giải quyết những khiếu nại chưa được giải quyết và giúp tạo ra các điều kiện để giải quyết các tranh chấp và giảm căng thẳng trong khu vực. Để tôi nói thêm một điểm về Công ước [Liên Hiệp Quốc] về Luật biển. Nó được sự ủng hộ mạnh mẽ từ hai đảng tại Hoa Kỳ và là một trong những ưu tiên ngoại giao của chúng tôi trong năm kế tiếp là bảo đảm việc phê chuẩn ở Thượng viện.

Vì vậy, đây là một chương trình nghị sự rất đầy đủ với các cuộc thảo luận các vấn đề quan trọng thẳng thắn và hiệu quả. Chủ đề trong năm nay của Bộ là: chuyển suy nghĩ sang hành động. Và tôi nghĩ đó là bản tóm tắt hoàn hảo về những gì chúng tôi đang cố gắng để làm thông qua các thể chế này. Chúng ta có cùng suy nghĩ và các mục tiêu đầy tham vọng. Nhưng như mọi khi, thước đo sự thành công chính xác nhất của chúng tôi sẽ là, chúng ta chuyển từ suy nghĩ sang hành động tốt như thế nào bằng sự tiến triển vững chắc về các mục tiêu của chúng ta cho một tương lai tốt hơn. Và do đó, đã đến lúc chúng ta hành động và cho tôi nhận một số câu hỏi của quý vị.

(Phần kế tiếp là các phóng viên đặt câu hỏi cho bà Hillary Clinton)

Ngọc Thu dịch
Nguồn: http://www.state.gov/secretary/rm/2010/07/145095.htm

——–

(*) Phần này có lẽ bà Hillary Clinton ám chỉ Trung Quốc, việc đòi hơn 80% diện tích Biển Đông là không chính đáng (legitimate).

Tặng quà cưới cho cô Chelsea:

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , , , , , , , | 44 phản hồi »

588. Bà Clinton tuyên bố Hoa Kỳ quan tâm đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Đăng bởi anhbasam on 24/07/2010

AP

Bà Clinton tuyên bố

Hoa Kỳ quan tâm đến việc

giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

23-07-2010


HÀ NỘI , Việt Nam (AP ) – Chính phủ Obama hôm thứ Sáu tấn công vào việc tranh chấp lãnh thổ gai góc trên các hòn đảo ở Biển Đông, tuyên bố quyết định của họ là “lợi ích quốc gia” của Hoa Kỳ, trong một hành động có thể chọc tức Trung Quốc.

Tại một diễn đàn an ninh khu vực ở Việt Nam, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Rodham Clinton cho biết, Washington đã lo ngại các tuyên bố mâu thuẫn trên các chuỗi đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gây trở ngại cho thương mại hàng hải, cản trở việc đi lại trên vùng biển quốc tế trong khu vực, phá hoại luật biển của Liên Hiệp Quốc.

Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia” trong việc giải quyết các tranh chấp, bà nói. “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần áp bức. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Bà Clinton nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không hỗ trợ bất cứ nước nào đang tranh chấp các hòn đảo nhưng ý kiến của bà sẽ làm cho Trung Quốc tức giận, nước vẫn cho là có chủ quyền ở Biển Đông, và khẳng định sẽ xử lý tranh chấp trực tiếp với các nước tranh chấp khác không theo luật quốc tế (international arena).

Bà cho biết, Hoa Kỳ sẵn sàng làm việc với tất cả các bên, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Brunei và Philippines, để giúp đàm phán chấm dứt những tranh chấp.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã không có bình luận ngay lập tức về những nhận xét của Clinton nhưng các viên chức Hoa Kỳ có mặt tại cuộc họp cho biết Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì lặp đi lặp lại lập trường lâu dài của Bắc Kinh rằng những tranh chấp không nên “quốc tế hoá”.

Xung đột lãnh thổ ở Biển Đông thỉnh thoảng nổ ra các cuộc đối đầu vũ trang, mặc dù Trung Quốc và các nước tranh chấp khác đã tìm cách giải quyết sự khác biệt một cách hòa bình thông qua quy tắc ứng xử (COC) năm 2002 (*).

Lực lượng Trung Quốc chiếm giữ phía Tây Hoàng Sa từ tay Việt Nam vào năm 1974 và đã đánh chìm ba tàu hải quân Việt Nam trong một trận hải chiến năm 1988. Các bên vẫn chưa phân ranh giới biên giới biển và nhiều người Việt Nam vẫn còn nghi ngờ Trung Quốc.

Cùng với ngư trường phong phú, khu vực này được cho là có trữ lượng dầu lửa và khí tự nhiên rất lớn. Các nhóm đảo cũng nằm trên các tuyến đường biển bận rộn và có nhiều dầu lửa và các nguồn tài nguyên khác thúc đẩy Trung Quốc mở rộng kinh tế nhanh.

———

(*) Năm 2002, Trung Quốc ký với ASEAN “Tuyên bố ứng xử giữa các bên trên Biển Đông”, không phải “Quy tắc ứng xử”.

** Ảnh: VNN

Ngọc Thu dịch

Từ: http://www.foxnews.com/world/2010/07/23/clinton-claims-national-resolving-south-china-sea-disputes/

————-

Yahoo News

Vì sao bà Clinton quan tâm nhiều hơn

đến chuỗi đảo châu Á?

Max Fisher

23-07-2010

WASHINGTON , DC – Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton làm cho Hoa Kỳ tham gia vào một tranh chấp quốc tế phức tạp về một chuỗi các hòn đảo ở Biển Đông. Trung Quốc và các nước châu Á lân cận từ lâu tuyên bố là những nước kiểm soát các đảo có vị trí chiến lược. Phát biểu tại một cuộc họp của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ở Hà Nội, Việt Nam, bà Clinton nói rằng Hoa Kỳ có “lợi ích quốc gia” trong việc giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Đây là những gì đang xảy ra, tại sao nó quan trọng, và những gì có thể  xảy ra kế tiếp, theo các nhà báo và các chuyên gia:

- Chương trình nghị sự hung hăng của Trung Quốc: Ông Mark Landler, báo New York Times giải thích: Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc đã đối chọi với các nước Đông Nam Á trong việc kiểm soát khoảng 200 đảo nhỏ, đá và các mũi cát nhô lên trên vùng biển này. Tham vọng trên biển của Trung Quốc đã mở rộng cùng với sức mạnh quân sự và kinh tế. Từ lâu, họ đã đòi chủ quyền các hòn đảo trên Biển Đông là vì ở đó có rất nhiều dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Và họ đã thông báo cho các viên chức Mỹ rằng họ sẽ không cho phép sự can thiệp của nước ngoài vào vùng biển ngoài khơi bờ biển Đông Nam của họ, mà họ xem như ‘lợi ích cốt lõi’ về chủ quyền”.

- Bà Clinton không ủng hộ bên nào trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ, nhưng Trung Quốc vẫn bực bội: Nhà báo Cara Anna của báo AP viết: “Bà Clinton nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không ủng hộ việc tranh chấp của bất kỳ nước nào đối với quần đảo nhưng lời bình luận của bà sẽ làm Trung Quốc tức giận, nước duy trì chủ quyền trên Biển Đông, và khăng khăng giải quyết tranh chấp trực tiếp với các bên tranh chấp khác, không theo luật  quốc tế (international arena)”.

- Xây dựng sự hợp tác khu vực Thái Bình Dương: Nhà báo Jam Solomon thuộc báo Wall Street Journal giải thích chương trình nghị sự của Hoa Kỳ: “Chính phủ Obama đang làm việc nhằm thiết lập một cơ chế quốc tế để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia châu Á về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Hoa Kỳ, như là một quốc gia ở Thái Bình và cường quốc thương mại, đã ngày càng tăng mối quan ngại về cạnh tranh tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông… Việc tranh chấp đã gây ra các mối lo ngại rằng quân đội Trung Quốc ngày càng mạnh có thể  tìm kiếm sự thống trị các vùng biển châu Á”.

- Trung Quốc mở rộng hải quân về lâu dài: ông Robert Kaplan viết trên Foreign Affairs về mục tiêu của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là, sử dụng lực lượng hải quân và ảnh hưởng của họ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng vượt ra ngoài khu vực Đông Á. “Trung Quốc sẽ phô trương sức mạnh hơn ở nước ngoài, chủ yếu thông qua hải quân của họ. Trung Quốc, sở hữu bờ biển dài khoảng 9.000 dặm với nhiều bến cảng tự nhiên thuận tiện, là một cường quốc cả trên bộ lẫn trên biển. Tầm với của Trung Quốc kéo dài từ Trung Á, với tất cả sự giàu có về khoáng sản và dầu khí, cho tới các đường vận chuyển quan trọng ở Thái Bình Dương”.

- Hâm nóng quan hệ Việt – Mỹ: Theo các bản tin của Jonathan Adams, AOL News,  kết quả của bước đi của bà Clinton: “Quan hệ giữa hai nước đã từng là kẻ thù cay đắng đang nóng lên. Quan hệ giữa hai nước đang hướng về phía trước tốt hơn, xích lại gần hơn do có cùng mối quan tâm về chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng như mong muốn mở rộng thương mại và đầu tư. Nhưng bà Clinton cũng nêu ra mối quan tâm về nhân quyền tại Việt Nam, nhấn mạnh vẫn còn sự khác biệt lớn giữa Washington và độc tài Hà Nội, đất nước do Đảng Cộng sản kiểm soát, trong đó bất đồng quan điểm bị giới hạn rất nhiều”.


Ngọc Thu dịch

Từ: http://news.yahoo.com/s/atlantic/whyclintoncaressomuchaboutanasianislandchain4433

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt | 17 phản hồi »

586. Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Đăng bởi anhbasam on 22/07/2010

Đôi lời Bài viết này không phải chỉ liên quan tới người Việt hải ngoại, mà còn là một bản đánh giá ngắn gọn, chính xác về hệ thống chính trị Việt  Nam hiện thời, trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, … bữa trước đã điểm nhưng trong mục phản hồi/comment, nay BS xin đăng toàn văn vì e nhiều người chưa đọc; cũng là góp thêm chút cho không khí sôi động của những sự kiện quan trọng đang diễn ra mấy bữa nay tại Hà Nội liên quan tới an ninh trên Biển Đông.

Tác giả bài viết, GS Lê Xuân Khoa từng là phó viện trưởng kiêm giáo sư Trường Đại học Văn khoa, Sài Gòn; sau 1975 là giáo sư tại Đại học Johns Hopkins, rồi  Maryland, Hoa Kỳ. Ông là tác giả của nhiều sách, bài viết về Việt  Nam, trong đó có bài “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?trên trang BBC, từng gây nhiều tranh cãi, chủ yếu từ … “hai phía” của cuộc chia rẽ quá dài lâu: cộng sản và không cộng sản. Ông cũng từng về nước nhiều lần, trực tiếp gặp, đóng góp nhiều ý kiến với các nhà lãnh đạo Việt Nam, trong đó có cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Hy vọng bài viết này tới được tay nhiều vị lãnh đạo đảng, nhà nước Việt Nam, được các vị đọc, suy ngẫm một cách bình tĩnh, cầu thị, may ra bớt được chút nào đó mối “hiểm họa Trung Quốc”.


Trước hiểm hoạ Trung Quốc:

Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Lê Xuân Khoa

Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[1], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.

Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc  dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.

Ba tiền đề

Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).

1.  Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thế sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát Thái Bình Dương, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ[2]. Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc… mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[3] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.

Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng Trung Quốc lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa[4]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của Trung Quốc về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương[5]. Ngay tại Trung Quốc, đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc, vừa xuất bản cuốn Trung Quốc mộng, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ Trung Quốc không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “Trung Quốc phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[6] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.

2.  Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam.

Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trụng Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.

3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.  Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[7]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung tâm SEARAC do tôi làm chủ tịch và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[8]

Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài Đảng Cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.

Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.

Kế hoạch cụ thể và toàn diện

Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:

1.  Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước

a. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu vùng xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính Việt Nam của Trung Quốc bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo Việt Nam đối với Trung Quốc. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho Trung Quốc. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với Trung Quốc.

b. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.

c. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.

d. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.

e. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.

2.  Quan hệ với chính quyền Việt Nam

Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với Trung Quốc để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.

Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.

Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank”  này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên cứu Phát triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội đồng Quản trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.” *

Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.

3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế

Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt  trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [9]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [10].

Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường đại học và các chuyên gia về Trung Quốc. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của Trung Quốc tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.

Kết luận

Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[11] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.

Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đối diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[12] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.

© 2010 Lê Xuân Khoa

© 2010 talawas


[1]Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.

[2]Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.

[3] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.

[4] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.

[5]John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.

[6]Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, Tuần Việt Nam, 15/03/2010

[7]Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa”, Đặc san Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý,  Paris, France (2008).

[8]Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như  những cuộc vận động của SEARAC (Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thời, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư viện Quốc hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.

[9]Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay, ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.

[10] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)

[11]Xem Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010, trong Phụ lục: “Việt Nam làm gì sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.

[12]Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời cơ vàng của Đảng ta” trên VietNamNet năm 2009.

—–

* Ba Sàm chú thích: mời xem 297. Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

—–

30 ý kiến phản hồi trên trang talawas:

Trang 1:

  1. Hoàng Trường Sa nói:

    Kính mời quý vị xem thêm bài dưới đây để suy ngẫm về sự đúng sai của tiền đề “ĐCSVN chống TQ bành trướng”: Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung “chỉ đạo” những gì? (Phần 1 & Phần 2)

  2. Thanh Nguyễn nói:

    @Lê Thượng: Lịch sử đã dạy bài học đắt giá. Tôi dư sức biết chuyện đó. Tuy nhiên, kết quả bài toán sau đây có đúng không? Nhờ mọi người giải giùm và cho đáp số để so sánh: Đảng CSVN = Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu X 10(lần)

  3. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Nam Phan viết: “Tôi cũng không có can đảm lấy ‘cuốn sách ngàn trang’ của một ông tướng ra để xưng tụng là ‘tài liệu lịch sử’”. Câu này ông Nam Phan muốn nói tôi sử dụng quyển “Việt Nam Máu lửa quê hương tôi” là hồi ký (chính trị như tên sách gọi) dài hơn ngàn trang của ông Đỗ Mậu (là đại tá lúc đảo chính 1963, và thiếu tướng khi giải ngũ) làm tài liệu lịch sử. Nhưng thế nào là “tài liệu lịch sử”? Tôi hiểu là những sự việc liên quan đến biến cố lịch sử được ghi nhớ, truyền tụng, và sau được ghi chép lại thành sách. Ở Việt Nam do tình trạng thiếu thông tin, hay tin tức bị cố ý che giấu, nên thường rất lâu sau khi biến cố xảy ra, nhiều sự việc mới được ghi xuống và do đó thường bị mất mát hay thêm thắt ít nhiều. Chưa kể chuyện kể không do nhân chứng trực tiếp và “tam sao thất bổn”. Nhưng đó chỉ mới là tài liệu thuộc lịch sử, và còn phải đối chiếu với nhiều nguồn “sử liệu” khác nhau mới có được một sự kiện lịch sử xác thực. Nhưng không có quyển sử nào, dù được nhiều người coi trọng, ví dụ như “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, chứa đựng những sự kiện lịch sử xác thực, hoàn toàn đáng tin. Thí dụ, trong VNSL có một phần ghi chép chuyện kể theo truyền thuyết, theo sử Trung Quốc (mà sử gia ở rất xa nước ta, và nhìn VN với nhãn quan của người Hán thống trị), theo sử quan của các triều vua VN (vừa thiếu sót, vừa thiên lệch như khi sử gia triều Nguyễn chép về Tây Sơn). Vậy khi cần bàn đôi điều về tình hình chính trị và quân sự ở miền Nam trước 1975, tôi dựa vào “tài liệu lịch sử ” nào? Trước hết là hồi ký của các ông Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, là những người quen biết với cá nhân và gia đình ông Diệm từ trước 1954, đã cộng tác và đưa ông Diệm lên cầm quyền, phục vụ (trung thành) dưới chế độ ông Diệm, và làm đảo chính lật đổ ông Diệm năm 1963. Kế đến là quyền “Việt Nam 1945-1975″ tập 1 của giáo sư Lê Xuân Khoa, mới in gần đây, mà cá nhân tôi cho là đáng tin cậy, nhờ dựa vào nhiều nguồn tài liệu Mỹ và Việt ở cả hai miền. Phụ thêm là vài sách tiếng Anh và sách dịch, sách của Nguyễn Kỳ Phong (Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam), Nguyễn Đức Phương (Chiến tranh Việt Nam toàn tập), cả của Lữ Giang…, và các trang mạng tôi đọc được. Nhiều góp ý tôi dẫn từ các nguồn đó. Nhân đây, sách của Lữ Giang có nhiều tài liệu về dòng họ Ngô Đình Diệm, mang tính lịch sử, nhưng chưa phải là những sự kiện hay chứng cớ lịch sử chân thực, và nhiều sự việc, nhận định trong đó theo tôi còn cần đối chiếu, phối kiểm. Mấy cuốn sách tôi kể trên chỉ là của một người đọc sử bình thường, nếu không là thiếu sót nhiều, nhưng có lần ông Nam Phan hay ai đó khi nói về vài dẫn chứng chuyện cũ tôi chỉ chép lại, gọi là của “sử gia” (đặt trong ngoặc kép); tất nhiên kiểu nói đó không có chút tác động nào đối với tôi. Nhưng đáng ra, khi ai thấy điều gì tôi chép lại trong sách mà không đúng, nên dẫn tài liệu lịch sử ở nguốn khác cho là chính xác hơn. Về chuyện “tiến sĩ triết gia”, tôi không hề nghĩ đó là nói về tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm. Tôi chưa nghe nói, ở đây hay trên trang mạng nào, ông Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, chỉ thấy quảng cáo văn phòng luật sư ghi ông có các bằng MS, MPA, JD.

  4. Nam Phan nói:

    Thưa ông Hoà Nguyễn, Tôi coi câu nói “văn là người” là cách đánh giá những người dùng văn tự để nói lên tư tưởng cuả mình, tuy cũ nhưng vẫn là một tiêu chuẩn đáng tin cậy. Tôi dùng chữ “tiến sĩ triết gia” để chỉ ông Nguyễn Hữu Liêm, căn cứ vào ít nhất những bài viết cuả ông ta được đăng trên diễn đàn này (xin ông có dịp thì xem lại cả những bài viết lẫn những ý kiến cuả độc giả để thêm nhận định) chứ không phải căn cứ vào việc ông ta học triết, dậy triết để rồi gán cho ông ấy một danh hiệu có tính cách mỉa mai. Tôi cũng không có can đảm lấy “cuốn sách ngàn trang” của một ông tướng ra để xưng tụng là “tài liệu lịch sử”, cho nên nếu có được coi là không biết phê bình hay không đủ trình độ phê bình bản văn mà chỉ nhắm vào đả kích nhân thân người viết thì tôi cũng vui lòng nhận phần dốt về mình. Có cần phải tiếp tục luận bàn với những bài viết thuộc dạng “tiến sĩ triết gia” đã viết hay không, hay chỉ huýt gió một cái? Tôi xin làm tiếng ồn cuả tiếng huýt gió trong hội trường, không được ai quan tâm, chỉ cần ông Hoà Nguyễn để mắt tới bằng cách nói gần nói xa (nhưng không trực tiếp nêu tên, họ), là cũng cảm thấy vinh dự rồi. Tuy vậy xin được coi đây là lần cuối. Trân trọng,

  5. Nam Phan nói:

    Tôi chỉ muốn đặt câu hỏi với GS Lê Xuân Khoa và những vị đồng tình với GS: “Đại đa số đảng viên CS, cả chuyên chính lẫn ‘giả cầy’, đặc biệt là những người cầm quyền ở VN từ cấp nhỏ đến cấp cao nhất có chung quan điểm với người Việt hải ngoại khi cho rằng Trung Quốc là hiểm hoạ trước mắt của VN không?” Nếu có thì căn cứ vào đâu? Đường lối, chính sách của VN phản ánh mối quan ngại này? Nếu câu trả lời là có và với những chứng cứ, chúng ta sẽ bàn tiếp và nỗ lực tìm kiếm giải pháp. Nếu không – và căn cứ vào những lời tuyên bố, những giao hảo (qua lại) cuả các cấp lãnh đạo cuả họ (TQ và VN), những “học tập kinh nghiệm lẫn nhau”, những “lợi ích chung” cùng chia sẻ – thì chúng ta nên tiếp tục giải pháp duy nhất dù rằng cũ và có vẻ bất khả là giải trừ chúng. Tôi đứng ngoài hàng ngũ của GS, nếu câu trả lời là không.

  6. Lê Thượng nói:

    “ý quèn” của Thanh Nguyễn: “Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước.” Để Tàu chiếm nước thì đến bao giờ mới lấy lại được? Muốn như Tây Tạng hay dân vùng Tân Cương? Nếu lấy lại được cũng phải mất đi 100 năm hay 1000 ngàn năm không chừng. “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu. Một trăm năm nô lệ giặc Tây”. Lịch sử đã dạy cho ta bài học đắt giá ấy.

  7. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Hoàng Trường Sa viết :”ông (LXK) thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ) “. Cho như thế là không đọc hiểu các bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, bài chủ này và cả bài ông HTS mới giới thiệu tại: http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=28bfc08fa0b70eda8757e174ba28bfec Cũng còn là một quan niệm chống Cộng cứng nhắc,lỗi thời, với cách nói sáo cũ thành khẩu hiệu, không đúng với thực tế đã đổi thay. Nhưng cũng lạ hiện nay ít thấy tại Mỹ. Người Việt ở Mỹ có nhiều lý do để oán hận chính quyền CS trong nước: một số đông di tản hối hả trước 30-5-1975 đã bỏ lại tất cả, các đợt thuyền nhân tiếp theo phần đông định cư tại Hoa kỳ, và sau cùng là những người tù cải tạo và gia đình họ đến Mỹ theo diện H.O. Dễ hiểu đa số họ chống Cộng, nhưng dường như người ở Úc như ông HTS, hoặc ở Canada như ông Lê Quốc Trinh còn chống Cộng mạnh hơn nhiều người ở Mỹ, và vì vậy có lần tôi dùng từ (CC) “quyết liệt” khi nói với ông LQT. Có lẽ chuyện chống Cộng cho tới người Cộng sản cuối cùng, hay tới người chống Cộng cuối cùng, sẽ không xảy ra trên đất Mỷ vì nay người Mỹ gốc Việt có óc thực dụng hơn. Tuy nhiên, đúng là quan điểm về VN của GS Lê Xuân Khoa đã được định hướng từ lâu, tôi lấy mốc năm 2000 khi ông trong phái đoàn của TT Clinton qua thăm VN để bắt đầu một quan hệ mới giữa hai nước cho là từ bỏ đối đầu mà dành cho đối thoại, đối tác( bản tin hôm nay, Mỹ hiện đầu tư nhiều nhất ở VN). Một điều buồn cười: lúc đó TBT Lê Khả Phiêu thân TQ vẫn tố Mỹ là “đế quốc”. Kể từ đó, khuynh hướng “chống Cộng” ở Mỹ cũng dần dần thay đối, ít ra trong giới (tạm gọi) trí thức, cùng với sự thay đổi nhanh hơn của chính quyền Mỹ đối với VN. Ít còn thấy những cách nói quyết liệt, chỉ một chiều, chỉ viện dẫn những chuyện xưa cũ, và thay vào đó là những thông tin trung thực, với các sự kiện đang diễn ra trong cuộc sống, và chú trọng đến những điều Mỹ và cộng đồng thế giới quan tâm nhất như về nhân quyền, tự do, dân chủ. Dù sao, giữa người Việt ít ra cũng phải tạm quên bớt hận thù, hay làm ra vẻ như thế, mới có thể tiếp xúc và nói chuyện được với nhau, và người Việt ở Mỹ cũng không thể làm gì trái ngược với chính sách chung của Mỹ, mà phải biết khôn khéo tận dụng các chính sách mới của Mỹ về VN. Trong bài viết năm 2004 dẫn trên, giáo sư Lê Xuân Khoa kêu gọi người VN cả hai bên cùng hành động, cùng thay đổi vì nếu chỉ xảy ra cho một bên thì sẽ không thực hiện được gì, và ông đã dùng cách nói nhẹ nhàng để Hà Nội có thể nghe: “ Khi xúc tiến việc thiết lập và thực hiện lộ trình dân chủ hóa cho Việt Nam, chính quyền sẽ đương nhiên gia tăng được uy tín của mình trong vai trò phối trí mọi sự đóng góp của các thành phần dân tộc “. Ông viết thêm trong bài chủ này: Về phía cộng đồng hải ngoại, vì quyền lợi chung của đất nước và dân tộc, cũng cần có quyết tâm bỏ qua những niềm thù hận trong quá khứ để góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phú cường trong cộng đồng quốc tế… Chỉ trong thời gian gần đây, khi những cuộc tranh đấu và vận động được tập trung vào vấn đề cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam thì mới thấy có sự hỗ trợ, dù còn giới hạn, của chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ, của Liên Hiệp Châu Âu và các tổ chức quốc tế vì tính chất chính đáng của vấn đề . Về con người thật của giáo sư Lê Xuân Khoa, mỗi người có thể biết được khi đọc ít nhiều về ông và khi có cơ hội tiếp xúc ông. Tôi không thể làm gì khác. Nhưng viết như sau là xúc phạm do thiếu hiểu biết và dễ dãi ngôn từ:” bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm“. Trong cuốn “Nếu đi hết biển”, tác giả Trần Văn Thủy hỏi Nguyễn Thị Hoàng Bắc:” Theo tôi hiểu, chị không muốn hoà nhập vào các tổ chức “cộng đồng ?“. NTHB trả lời:” Tôi không tham gia tổ chức cộng đồng nào. Các con tôi lại càng không tham gia“. (sách trang 90). HB không nói rõ lý do tại sao gia đình bà không tham gia sinh hoạt cộng đồng tại địa phương thuộc Virginia, nhưng ở đoạn khác trước đó, HB kể nhiều điều xấu về các tổ chức chính trị “ mọc lên như nấm” của người Việt tại California. Nhưng sinh hoạt của cộng đồng người Việt, và các tổ chức chính trị hoàn toàn không liên hệ gì với nhau, và khi tình nguyện sinh hoạt trong một cộng đồng, không nhất thiết phải tham gia tổ chức chính trị chống nhà nước VN. Điều này là sự thật hiển nhiên. Nhưng HB cố tình nhập nhằng hai thứ để bôi đen hình ảnh CĐ NVHN trước mắt Trần Văn Thủy, từ trong nước ra điều nghiên đời sống người Việt tại Mỹ. Vì vậy, trong chuyện này khi cho NTHB là “đồng chí” dù với ai cũng lại là cách nhập nhằng để bôi nhọ.

  8. Thanh Nguyễn nói:

    Một “ý quèn” của tôi như thế này: Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước. Thân thể Việt Nam có thể bị thương, nhưng những vết thương đó sẽ được rửa sạch, sẽ lành, sẽ liền da để có một Việt Nam tươi mới và hoàn toàn khác.

  9. Hoàng Linh Vương nói:

    Bài viết này của giáo sư Lê Xuân Khoa thể hiện một lý thuyết rất lý tưởng và chỉ là giả định (nói cho có chuyện mà nói thôi) như lời giáo sư trong phần kết: “Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là…”. “Giả định” này cũng vẫn đang còn là “giả định” thật. Thực tế thì cái “rốn của vũ trụ” là ông Nhà nước VN, cũng lại là “cái đầu gối” mà người đời đang nói chuyện. Thêm nữa: hình như người đời cũng chưa mở lòng được với nhau. Thế là ta “bờ i bi sắc bí” là cái chắc! Hay là không khéo rồi cả nước lại bị bịt mắt bắt làm con tin thì bỏ mẹ thật đấy chứ không phải đùa đâu!

  10. Nguyễn Đăng Thường nói:

    Anh hùng đánh Mỹ đánh Tây Tây chạy Mỹ rút vác cầy đánh ai? Đánh Khựa sẽ bị bộp tai Thôi thì đánh đĩ đánh bài cho vui!

  11. Hoàng Trường Sa nói:

    Quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa trong bài chủ này thật ra cũng không lạ đối với tôi, một người đã đọc nhiều bài của ông trước đây, như bài này ông viết đã 6 năm trước (vào ngày 09-02- 2004): Để tiến tới quan hệ bình thường giữa người Việt hải ngoại và Việt Nam (Lê Xuân Khoa) Những suy nghĩ của ông như được bộc lộ trong các bài viết của mình đã đưa nhiều người (trong đó có tôi) đến nhận định rằng ông thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ). Cá nhân tôi hoàn toàn KHÔNG ĐỒNG Ý với quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa, dù tôi chia sẻ nhiều quan điểm của bác Hòa Nguyễn, một người học trò cũ của ông, nhưng dĩ nhiên là có tư tưởng độc lập của mình, dù vẫn không quên tình nghĩa cũ và luôn quý mến thầy cũ. Tôi thấy cũng không mấy ngạc nhiên khi bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm, người mà cộng đồng người Việt hải ngoại thường châm biếm bằng mấy chữ không đẹp như “luật sư còi hụ”. Dù không đồng ý với Giáo sư Khoa, tôi cũng thấy rõ ràng là ông ở vào tầm cao hơn nhiều trong những người thuộc nhóm gọi là Việt kiều “yêu nước”.

  12. Lề Trái nói:

    Lấy lại câu chuyện An Dương Vương chạy ra biển với Mỵ Châu đang rứt lông ngỗng để quân Triệu Đà-Trọng Thủy đuổi theo, chỉ đến khi thần Kim Quy nói giặc chính ở sau lưng, An Dương Vương mới nhận diện được kẻ thù. Việt Nam bây giờ khác, hầu như ai cũng nhìn ra giặc ở đâu, nhưng vì những lý do rất quái đản, họ “không muốn” tin giặc là giặc. Cái giả định mấp mé giả tưởng của bài này cho ta thấy rõ cái quái gở trong cách suy nghĩ mặc dù chả cần thần Kim Quy, người ta đều biết rõ ai “bán” (thời buổi kinh tế thị trường) nỏ thần cho ngoại bang. Nhưng không, thay vì nhận diện rõ hạng bán nước, họ đổ vấy đổ vá cho tất cả những cái khác ngoại trừ chính họ. Chỉ tội cho những kẻ không thức thời vì đã nhìn và chỉ ra nguyên nhân tối hậu dẫn đến hiểm họa sờ sờ trước mắt. Tôi muốn hỏi lại bao giờ dân tộc mới chịu nhận chân bọn giặc thật sự, hay phải chờ tới bước đường cùng? Trả lời được câu hỏi đó tự khắc sẽ biết được những giải pháp cho tình trạng hiện nay. Nếu vẫn còn tránh né câu hỏi thì mọi giải pháp chỉ là con kiến bò cành cụt. Hiểm họa này nó không tới bất chợt, mà là một “diễn biến” qua một thời gian khá dài. Hiện trạng hôm nay chỉ vì cái kim đã lớn bằng con voi nên hầu như ai cũng thấy. Tức là nó có mục đích, động thái, quá trình phát triển, các bên tham dự với những buổi đàm phán thấm đẫm tinh thần “16 chữ vàng”. Và tôi lại phải hỏi, bộ chưa đủ hay sao?

  13. Hoà Nguyễn nói:

    Các kiểu phê bình chỉ nhắm vào cá nhân, không nói gì tới văn bản, xin đề nghị nên tránh trên diễn đàn này (lý do vì tôi tôn trọng diễn đàn, và đây chỉ là một đề nghị suông). Khi gọi một người làm luận án tiến sĩ triết và sau đó dạy triết là “tiến sĩ triết gia” như một cách đánh giá bài viết, thì hết sức vô nghĩa, kỳ cục, và ai nghe vậy mà cười theo, tán đống thì cũng lạ. Kể cả khi đánh giá thấp, quá thấp ngườì khác, mà không chứng tỏ đọc hết bài và hiểu đúng ý người viết. Đó là hai kiểu phê bình không phải là phê bình, hay vì không thể phê bình được, nên chỉ bày tỏ một thái độ phản đối, mà không liên hệ gì tới nội dung bài viết. Chỉ như tiếng huýt sáo nghe ở hội trường, tuy ồn nhưng không được quan tâm. Tôi tiếp tục góp ý với vài phản hồi tôi đọc cẩn thận. Ông Hoàng Trường Sa (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa):” Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng ” , và ông nhận định chỗ này :” mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua “. Ông HTS viết tiếp :” Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946)“. Chắc chắn ngày nay bên phía không cộng sản không ai còn “ngây thơ” sau nhiều bài học lịch sử như ông Hoàng Trường lo ngại. Ngay cuối câu viết trên của GS LXK cũng cho thấy một thái độ dè dặt cần thiết, vì tiên đoàn sẽ có hai tình huống khác nhau: sau hợp tác (nếu có) sẽ có thể hoà giải hay tiếp tục đối kháng. Trong bài viết năm 2001, GS Lê Xuân Khoa cho biết CSVN đã từng đưa ra các luận điệu hay chiêu bài hòa giải hoà hợp trong bốn trường hợp khác nhau, vào năm 1945 như đã biết (lúc đó phe “quốc gia” ở thế yếu nên phải chấp nhận và sau chừng một năm tự hủy bỏ), năm 1968 với chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam (có các ông Trịnh Đình Thảo), năm 1973 với đề nghị chính phủ hoà giải dân tộc, và miền Nam đã không mắc mưu ở hai lần đó, trừ một số nhỏ cá nhân (như ông Trương Như Tảng tự nhận trong hồi ký), và sau năm 1975. Tôi đọc thấy trên mạng bài sau đây nói về điều đó, và vì bài hơi dài nên chỉ trích vài câu nói lên một ý nghĩ của tác giả. In view of these bitter experiences with the communists, the term “national reconciliation” has become taboo to many overseas Vietnamese. Some people are practically “allergic” to the term and automatically label as pro-communist those who want to consider reconciliation as a topic for discussion with any Vietnamese officials. With full understanding of and sympathy to these emotional reactions, I sincerely want to present my personal reflections on this issue. I am doing this as an independent person who has no ambition other than a desire to contribute something meaningful to the interest of the nation and the people of Vietnam. (Normalization of Relations between the Overseas Vietnamese and Vietnam by Le Xuan Khoa , April 30, 2001) Chưa chắc tôi ủng hộ “giải pháp” trên, nhưng tôi có thể so sánh với hoạt động của nhiều đảng phái, phe nhóm đối nghịch trong một nước dân chủ (như Đài Loan, Nam Hàn) trước tình hình chiến tranh hay khủng hoảng lớn. Họ phải hợp tác với nhau để chống lại nguy cơ trước mắt, đồng thời tỉnh táo thủ thế, và tiếp tục tranh đấu sau đó nếu cần. Riêng về iên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch, theo lịch sử ghi lại, không phải Tưởng Giới Thạch chủ động quyết định, mà do ông bị tướng Trương Học Lương bày mưu bắt giữ,và ép buộc ông phải làm theo. Sau khi thắng Nhật, Tưởng Giới Thạch hủy bỏ liên minh này trước, đưa quân từ miền Nam lên đánh nhau với Mao Trạch Đông để giành giật Mãn Châu trong tay hồng quân, nhưng thất bại do Mao được Liên Xô gần bên giúp, và từ đó phe Tưởng suy sụp về quân sự. Về bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, tôi cũng có suy nghĩ nhưng chưa thấy rõ vài điều để viết nhiều hơn: 1/ Có thật tình hình VN hiện nay đúng như giáo sư nhận định không. 2/ Đề nghị của giáo sư về hành động của người Việt hải ngoại có những điểm riêng rất hay (nếu cần tôi sẽ nhắc lại), nhưng toàn bộ có thực tế, thích đáng, khả thi để giải quyết (hữu hiệu) vấn đề theo như ông nhận định không, và có thể đưa lại những điều tiêu cực nào, chấp nhận được không khi nhìn trong lợi ích toàn cục. 3/ Còn có thể tìm một giải pháp nào khác hơn không.

  14. Hồ Phú Bông nói:

    Chuyện nước mất về tay Trung cộng đang gần kề hơn lúc nào hết mà con dân người Việt chỉ đành bàn hưu tán vượn thay vì xắn tay áo bắt tay vào việc! Vì đâu nên nỗi? Theo tôi, điểm chính là chế độ cộng sản sau bao nhiêu năm tác oai tác quái đã phá nát niềm tin giữa người Việt! Sự nghi ngờ nhau đã biến thành bản tính mới! Ngay trong nội bộ đảng cộng sản cũng chẳng ai tin ai, chỉ vì cái đích của họ không phải là đất nước, quê hương mà là quyền lực và vơ vét của cải! Cứ nhìn vào tương lai dân tộc qua lối sống “thực dụng” của thế hệ trẻ hiện nay thì rõ. Đây là lý do chế độ cộng sản tại Việt Nam chưa sụp đổ ngay và phong trào dân chủ chưa thể phát triển mạnh. Cho nên, sự thất bại không phải từ kế hoạch (vì chuyện đại sự chẳng có kế hoạch hay phương pháp nào hoàn hảo cả!) mà chính là lòng tin giữa người Việt Nam với nhau không còn nữa! Cứ (tạm) tổng kết tâm huyết từ tác giả bài viết cũng như các phản hồi đã chỉ ra điều đó! Xây dựng lại lòng tin mới xây dựng lại được sức mạnh cho dân tộc!

  15. Tri Ngộ nói:

    @ Hoàng Trường Sa & Hoà Nguyễn Tôi rất cám ơn hai bạn đã phản hồi với những thí dụ và luận lý rất sắc bén và sâu sắc. Riêng tôi luôn được học hỏi thêm qua các phản hồi vì những cái nhìn khác biệt luôn mở rộng thêm tầm nhìn của chính tôi. Nhưng cái “an ủi” lớn cho tôi ở đây là những dẫn chứng lịch sử của bạn Hoà Nguyễn ở điểm số 1 (LXK) cũng như những lý luận về lòng yêu nước ở điểm số 2 (LXK), hình như cũng đã chấp nhận là cả hai điểm này của GS LXK, cũng chỉ là những phương châm (kim chỉ nam), hay là những nhắc nhở, hoặc là những tiền đề… Những phương châm này, dù cho chí lý đến đâu chăng nữa, theo lý luận của bạn HN, trước sau đối với tôi, vẫn chỉ là những lý tưởng đẹp được ghi trên giấy. Lịch sử VN đã cho thấy không biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lòng yêu nước chân chính và đã bị lừa. Đã có rất nhiều người gánh chịu bao nỗi oan khiên từ cái ngày Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 vì những hành động tàn ác của một tập đoàn lãnh đạo luôn tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo tôi, việc nhà cầm quyền hiện nay nhận thức được lòng yêu nước chống quân Bắc phương (TQ) cần có sự hợp lực của CĐNVHN là một mơ tưởng hão huyền. Lịch sử cũng đã trăm lần cho thấy điều này khi quân đội Bắc Việt, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, đã bầm dập và hành hạ người miền Nam sau năm 1975 như thế nào và chính sách của họ, dầu cho có “thoáng” hơn ngày nay, vẫn còn nặng mùi “ám khí” của một chủ nghĩa phản khoa học với cách cai trị độc đoán và mù quáng, đi ngược lại lòng yêu nước chân chính của người dân. Lòng yêu nước chân chính đó hình như phải kêu gọi tình người, kêu gọi lòng từ ái, kêu gọi sự biết ơn tổ tiên đã gầy dựng nên giang sơn gấm vóc ngày nay, kêu gọi sự khát vọng về một tương lai tốt đẹp cho quê hương, và đồng thời cũng kêu gọi sự sám hối về những khổ đau mà người cộng sản đã gây ra (một vết thương lớn cần chữa lành). Khổ thay lòng yêu nước đó hiện nay đang bị những đám mây mù to lớn của sự hưởng thụ (còn được gọi nôm na với 4 chữ “ổn định kinh tế”) và sự sợ hãi của người dân (hé mồm ra là công an mời lên làm việc), và của lòng tham vô đáy của cấp lãnh đạo (cấp lãnh đạo ngày càng giàu) ngăn che. Những đám mây mù này rất khó lấy đi, trừ phi có một cơn gió lớn. Và cơn gió đó có thể sẽ là cuộc tấn công xâm lăng VN của Trung Quốc.

Trang 2:

  1. phivu56 nói:

    Mời xem: Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại http://phivu1956.blogspot.com/2010/07/ho-chi-minh-man-and-myth-ho-chi-minh.html

  2. Phùng Tường Vân nói:

    “Da mồi tóc bạc ta già nhỉ !” Cái sai lầm xuyên suốt bài viết là một sự không tỉnh táo, nó đặt nền móng thuyết phục và khuyến cáo người khác trên những giả định đến mức ảo tưởng. Tôi đồ rằng có ít nhiều nỗi lẩm cẩm của tuổi tác ảnh hưởng chăng, cũng chính vì có nỗi ái ngại buồn bã ấy mà tôi cũng thấy có cái gì hơi bất nhẫn khi có độc giả liệt kê ông vào những hạng như là “triết gia còi hụ” hoặc vị “đại gia hàng thần” nọ khuyến dụ người khác “làm lành với lịch sử” chẳng hạn. Đôi khi tôi lại nghĩ có lẽ ông vẫn chưa thoát ra khỏi cái “hội chứng” một lần được gặp gỡ với “một người cộng sản tử tế” chăng?

  3. Phan Son nói:

    Dù quá trình thôn tính chưa hoàn tất nhưng xã hội ta đã là một xã hội lệ thuộc. Người nghèo lệ thuộc người giàu, người giàu lệ thuộc quan chức, quan chức thì bị chi phối bởi những kẻ cơ hội. Người ta bị điều khiển bởi đồng tiền và những động lực vật chất, thật đúng như Rousseau nói trong khế ước xã hội: “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ”. Sự lệ thuộc vật chất dẫn đến ý thức lệ thuộc và ích kỷ. “Thôi, lo làm mà kiếm tiền, để ý chi đến những việc đó, gặp phiền phức bây giờ” là câu nói mà nhiều người bật ra khi nghe ai đó bức xúc về những vấn đề của xã hội và chính quyền. Những ý thức và suy nghĩ độc lập ngày càng hiếm hoi làm sức đề kháng của xã hội ngày càng xuống thấp. Khi mà thế lực thôn tính nhận thấy rằng nó có thể dẫn dắt các hành động của số đông bằng những tin đồn liên quan đến quyền lợi của họ, đó là lúc mà nó ra sẽ đòn quyết định. Một vài phép thử đã được thực hiện như cơn sốt vàng năm trước và gần đây là chứng khoán. Đáng lo hơn nữa là sự lệ thuộc suy nghĩ như vậy làm rất nhiều người, từ dân nghèo đến cả tầng lớp trung lưu hy vọng thụ động vào một sự thay đổi từ bên ngoài sẽ mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần và quyền lợi chính trị, mà không ý thức rằng chính mình mới là nhân tố quyết định những kết quả đó. Tác động từ bên ngoài là khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại, nhưng chính sức mạnh của nội lực mới quyết định kết quả của sự tác động đó là tốt hay xấu. Với sức đề kháng của xã hội như Việt Nam hiện nay, kết quả đó sẽ là một thảm họa. Chỉ cần nhìn vào thị trường thuốc chữa bệnh thì sẽ thấy quyền lợi và tính mạng của đại đa số dân ta đang bị hy sinh để phục vụ cho một nhóm lợi ích tư rất nhỏ trầm trọng đến mức nào. Các tập đoàn dược phẩm thao túng hoàn toàn thị trường nhờ sự tiếp tay của những kẻ cơ hội, đẩy giá thuốc lên khủng khiếp và liên tục nhiều năm qua bất chấp những nỗ lực của báo chí và những cố gắng của một số quan chức có trách nhiệm. Không cẩn thận thì thị trường xăng dầu sắp tới cũng sẽ bị lũng đoạn.

  4. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Tri Ngộ trích câu viết của GS Lê Xuân Khoa 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“, và ông kết luận: Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Chỉ xét về ý nghĩa riêng nói lên ở chỗ này, tôi nghĩ câu viết trên của giáo sư Lê Xuân Khoa dựa vào những kinh nghiệm đau thương đã xảy ra trong lịch sử dân tộc. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, một hành động dược coi trái đạo nghĩa đối với tư tưởng trung quân thời đó, nhiều người đã đi cầu cứu với nhà Minh bên ngoài, và tổ chức chống lại họ Hồ bên trong. Kết quả là thảm kịch: quân Minh chỉ cần mượn cớ phù Trần diệt Hồ đã chinh phuc nuớc ta rất dễ dàng, và sau đó nói con cháu nhà Trần chẳng còn ai để biến Đại Việt thành quận huyện của Trung quốc. Nhiều người Đại Việt thời đó đã phản ứng theo lòng uất hận kẻ bất nghĩa, bất trung, hay theo quyền lợi riêng vừa bị cướp mất, để chỉ thấy kẻ thù gần gũi cần tiêu diệt là họ Hồ, mà không thấy được kẻ thù còn ở xa nhưng nguy hiểm cho dân tộc hơn, là Trung quốc. Trong trường hợp khác, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để chống Tôn Sĩ Nghị, sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Thiếp đã hết lòng ủng hộ và bày kế cho ông (chưa kể đến Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở), và cũng chính ở vủng Thanh Nghệ Tĩnh nơi đã cung cấp quân binh trung thành nhất cho Chúa Trịnh (dẫn đến loạn Kiêu binh), Nguyễn Huệ đã mộ được hàng chục ngàn người cho đạo quân Tây Sơn Bắc tiến phá Thanh (cũng có nghĩa diệt luôn vua Lê chúa Trịnh). Cảm tính thường phản ứng cho quyền lợi tức thời, nên có khi thành nông nổi, và lý trì hướng dẫn cho hành động đúng đắn, hiệu quả hơn. Vấn đề là làm thế nào để tạo được sự quân bình giữa hai phản ứng, với nhiều xét suy, cân nhắc cho quyền lợi lớn và lâu dài. 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Ông Tri Ngộ nhận xét:” Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước…“. Có lẽ không nên mất nhiều thời gian để bàn thật sâu về thế nào là lòng yêu nước, nhưng nếu nghĩ đơn giản và chấp nhận một số quan niệm thông thường, sẽ thấy câu viết của GS Lê Xuân Khoa nêu vừa đủ các điều kiện cần thiết cho những người lãnh đạo VN trong tình hình gay go hiện nay. Nếu thật lóng yêu nước, họ thấy được đâu là quyền lợi thiết thực, lâu dài, và đâu là nguy cơ thật sự cho dân tộc, đồng thời họ cũng thấy muốn bảo vệ được đất nườc, chống lại được kẻ thú cực mạnh, bên trong cần phải dựa vào sức mạnh toàn dân đoàn kết, với nghĩa tự nguyện, và bên ngoài cần nhờ vào sự ủng hộ của quốc tế (thiện cảm với VN, chống Trung Quốc). Từ nhận thức đó sẽ thấy họ cần phải thay đổi thế nào, và thấy vai trò của người Việt hải ngoại không nhỏ trong hành động chung cho dân tộc.

  5. Hoàng Trường Sa nói:

    “CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.” (Tri Ngộ) Bạn Tri Ngộ nói rất đúng. Nếu xảy ra cuộc chiến TQ trực tiếp tấn công VN trên Biển Đông hay trên bộ dọc biên giới phía Bắc, thì Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại sẽ lâm vào một hoàn cảnh rất khó xử, và có lẽ sẽ bị chia rẽ rất lớn do phải chọn lựa thái độ là có nên nhập cuộc để hỗ trợ ĐCSVN chống lại TQ hay không (giả sử rằng vào lúc đó ĐCSVN không còn chọn lựa nào khác ngoài việc phải chống lại Tàu xâm lược). Một mặt, là con dân nước Việt, không ai có thể bàng quang tọa thị nhìn ngoại bang xâm lăng Tổ quốc mình, mà không chút xót xa, uất giận, và chắc chắn thế nào người Việt hải ngoại tuyệt đại đa số cũng phải tìm mọi cách để chống lại cuộc xâm lược này. Nhưng mặt khác, người Việt hải ngoại biết quá rõ bộ mặt phản dân hại nước của ĐCSVN. Họ cũng thừa biết là sau khi hy sinh tất cả để ngăn chận không cho Tàu xâm chiếm Tổ quốc thiêng liêng của họ, thì kẻ được hưởng lợi cũng lại là cái đảng thổ tả mắc toi mắc dịch CSVN này, chứ chẳng phải là đồng bào họ trong nước hay chính bản thân họ. Bởi vì, lúc đó cái đảng CSVN khốn nạn này lại sẽ tiếp tục hách dịch đè đầu cỡi cổ nhân dân ta trong nước như từ xưa đến nay. Nhưng nếu trái lại, người Việt hải ngoại cũng như toàn dân ta trong nước thờ ơ không nhập cuộc để cứu nước, thì Tổ quốc ta sẽ không còn nữa. Đó là nỗi đau của chúng ta. Nói cách khác, từ ngày có ĐCSVN, đảng này đã coi đất nước VN là vật sở hữu của đảng họ, coi nhân dân VN là những kẻ tôi đòi, những con vật thí mạng mà đảng có thể sử dụng bằng đủ mọi cách (qua những lời kêu gọi hoa mỹ, đánh động tình cảm yêu nước của người dân như Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ) để bảo vệ cái ngai vàng cùng với những đặc quyền đặc lợi của bè đảng bọn họ. Có điều, với sự chia rẽ trầm trọng giữa người Việt hiện nay, với sự suy yếu cùng cực, sự bất tài, tham nhũng, sự yếu hèn khiếp sợ Tàu của ĐCSVN hiện nay, cùng việc nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN đã không có được thiện cảm cùng sự kính trọng, quý mến và hỗ trợ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, việc chống cự lại cuộc xâm lăng của TQ (nếu có) lần này e rằng sẽ rất khó khăn. Cá nhân tôi đã nhiều ngày đêm suy nghĩ về vấn nạn đau khổ này, nhưng thú thật vẫn chưa tìm ra giải đáp. Dù ai cũng biết rằng, để thoát ra nỗi khổ triền miên bất tận này, cách duy nhất là loại bỏ vĩnh viễn cái đảng CSVN này. Nhưng làm sao để thực hiện thành công chuyện này đây, khi ĐCSVN đang nắm trong tay bộ máy thống trị chuyên chính, với dùi cui, roi điện, súng đạn, tiền bạc dồi dào, đầy đủ và sau lưng còn có sự hỗ trợ của bọn bá quyền Bắc Kinh. Để thay đổi chế độ, chắc chắn toàn dân ta sẽ phải làm lịch sử một lần nữa. Nhưng cái giá phải trả e rằng không nhỏ. Có thể phải trả bằng giá máu, mà đây là điều không ai mong muốn cả. Việc mong chờ ĐCSVN tự động thay đổi là chuyện không bao giờ xảy ra. Xin đừng có ai tơ tưởng vào điều bất khả này. Có lẽ, chỉ khi nào dân ta tỉnh ngộ trước thực tế đau xót này, và đồng lòng đứng dậy, hy sinh đòi lại quyền làm chủ đất nước, thì may ra mới có cơ hội thoát ra khỏi thế bí này. Sẽ có người hy sinh ngả xuống cho thế hệ VN tương lai còn được sống, hay nói theo ngôn ngữ của CSVN thì sẽ có người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Thật là một vòng lẫn quẫn khởi đi từ muà thu lịch sử năm 1945. Một chu trình kín dẫn dắt dân tộc qua ngàn cửa ải đau thương, để trở lại điểm bắt đầu, sau 65 năm tang tóc, núi xương, sông máu. Với một giấc mơ còn dang dỡ. Thật là buồn và giận ông Hồ vô vàn.

  6. Trương Đức nói:

    Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội. (trích “Bill Hayton – Đảng Cộng sản và tương lai Việt Nam”) Nhân đọc được đoạn trích trên đây, tôi xin mạn phép tác giả Bill Hayton cũng như dịch giả Đinh Từ Thức được ghi ra đây để làm rõ thêm cái ý “Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!” trong PH của bác Nam Phan. Dĩ nhiên là tôi rất hiểu “thâm ý” của bác Nam Phan, nhưng tiện đây tôi xin có một ý kiến như thế này: Tại sao giáo sư Lê Xuân Khoa có quyền “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được””, còn tôi thì “đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất., hay nói như tác giả Bill Hayton là tôi phải “hạn chế tự do ngôn luận”? Phải chăng, “Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm” là gián tiếp chấp nhận “sự hạn chế tự do ngôn luận” của ĐCSVN? Và cuối cùng, chẳng lẽ giáo sư LXK, với cái ý “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được”” cũng muốn trở thành “cá mè một lứa” với “Tiến Sĩ triết gia”?

  7. Tri Ngộ nói:

    GS Lê Xuân Khoa viết: 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“. Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Trên thực tế, điều này rất khó xảy ra. Dân tộc nào làm được điều này thì dân tộc đó rất hùng mạnh và chắc chắn có nếp sống đẹp và văn hoá cao. Câu hỏi tôi tự đặt ra là dân tộc chúng ta chưa đạt đến trình độ này. Đời nhà Trần sở dĩ chúng ta hùng mạnh và đánh đuổi được giặc Nguyên cũng nhờ nếp sống từ ái của Vua đối với dân. Vua biết thương dân, biết tha thứ những quan thần đã phản bội Vua. Vua biết hy sinh (đang đi tu và rũ áo tu, quay lại cùng dân quân đánh đuổi giặc Nguyên). Ngày nay những người lãnh đạo nước ta là những người do Đảng chỉ định. Họ là những đảng viên chỉ biết vâng lời Đảng. Họ là những người lãnh đạo bất tài. Họ vâng lệnh Đảng một cách tuyệt đối và mù quáng. Tôi xin trích lại lời của ông Lê Duẩn: “từ đỉnh cao thắng lợi ngày nay, nhìn lại quá trình chiến đấu và trưởng thành đã qua, quân đội ta nhận thức sâu sắc rằng tất cả những chiến công và thành tựu của mình đều bắt nguồn từ đường lối cách mạng độc lập tự chủ của Đảng. Đường lối đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” (NXBQĐND, Hà Nội, 1980). Chúng ta không thể coi thường những cái nhìn rất độc đoán và nguy hiểm này của người CS. Đây là một bức tường lớn ngăn cản sự hợp lực của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại (CĐNVHN). 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước. Sao ta không nói được “thật lòng yêu nước” thì phải trước tiên từ bỏ chủ nghĩa CS, lật đổ chính quyền hiện tại và tổ chức bầu cử cho một nước VN mới có dân chủ với một tương lai sáng lạn hơn. Điều này ai sẽ làm được nếu không có quân đội trong tay. CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.

  8. Nam Phan nói:

    Giáo Sư Lê Xuân Khoa đã học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được” cuả Tiến Sĩ triết gia! Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!

  9. Hoà Nguyễn nói:

    Nhân một câu viết của ông Hoàng Trường Sa, xin có đôi lời. Theo các thông tin trên mạng, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy học ở Hà Nội từ năm 1950, và tôi hiểu có lẽ là ông dạy thêm khi tiếp tục học như phần đông các sinh viên thời đó. Ông tốt nghiệp đại học Văn Khoa và Cao đẳng Sư Phạm năm 1953, được học bổng năm 1960 để theo học đại học Sorbonne (Pháp), và ghi danh luận án tiến sĩ triết học với dề tài Phật giáo Thiền tông tại Việt Nam. Ông qua Ấn Độ nhiều lần để nghiên cứu triết học Ấn, và giảng dạy triết lý Upanishad tại đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau này, ông cũng dạy tại đại học Đà Lạt, Minh Đức và Vạn Hạnh. Trong một thời gian, tôi đọc nhiều bài ông viết về Phật giáo và Thiền tông đăng trên tạp chí Bách Khoa, với giọng văn không khác ngày nay, sáng sủa và khúc chiết. Có thời gian ngắn ông làm tổng thư ký bộ Giáo dục (tương đương thứ trưởng), và chức vụ cuối cùng ở Việt Nam là Phó Viện trưởng Ðại học Sài Gòn. Sau năm 1975 khi qua Mỹ, ông là chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), và là giáo sư thỉnh giảng Ðại học Johns Hopkins tại Washington DC. Khi mới vào Sài Gòn, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy tại trường Pétrus Ký (và Quốc gia Sư phạm gần đó), và tôi theo học giáo sư trong khoảng thời gian này. Tôi vẫn giữ nhiều hình ảnh đẹp về những thầy cũ của mình, và giáo sư là người thầy tận tâm, khả kính. Tôi còn nhớ một hôm khi bài đã giảng xong mà còn mấy phút nữa mới hết giờ, học trò hơi nhốn nháo, “thày Khoa” nói gì đó và chấm dứt với câu “giáo bất nghiêm sư chi noạ”, cả lớp nghe mà ngơ ngác, nhưng do đó cũng im lặng hơn. Mãi nhiều năm sau, tôi cũng “đứng lớp” mới hiểu hết ý nghĩa một câu nói trong nghề giáo, có lẽ đã có từ thời Khổng Tử. Tôi và các bạn học có thể thắc mắc tại sao ông thầy cũ của mình xưa kia thật hiền, nho nhã, có nét mặt rất tươi tuy ít khi cười với đám học trò, chuyên về Triết Đông, suốt đời dạy học và làm việc cho người tỵ nạn, bây giờ lại thường viết về một vấn đề chính trị gai góc vào bật nhất để dễ gặp phản ứng mạnh ở nhiều người, thuộc nhiều khuynh hướng, từ nhiều phía khác nhau đến đối nghịch. Nhưng theo tôi hiểu, việc làm hiện nay của một ông giáo đã nghỉ hưu, như vẫn chuyên cần viết sử, tham luận chính trị, có lẽ bắt nguồn từ tấm lòng và sự can trường khi còn là học sinh Trung học ở Hà Nội: ông từng bị bắt với vài người bạn vì hoạt động chống Pháp (theo thư ông gửi cho BBC) Bài viết “<i Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại ” của giáo sư Lê Xuân Khoa đáng được người Việt hải ngoại đọc và thảo luận ở các diễn đàn thích hợp, dù sẽ có nhiều người đồng ý hay phản đối quan điểm của ông. Đó là một cách nhìn, một phương sách, một giải pháp đề nghị cho một tình thế khẩn thiết lại như đang trong bế tắc. Dù thế nào, tôi cũng cảm thấy giáo sư thao thức nhiều với những suy nghĩ riêng của mính, đồng thời vẫn hy vọng, và có ước vọng lớn cho tương lai Việt Nam. Vấn đề đặt ra rất rộng, nhưng tạm thời, nên giới hạn trong ba tiền đề do ông nêu: <i1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc : Có thật hay không như giáo sư nói “ hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước “, và nguy cơ đó còn xa hay gần kề ? <i2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam : Khi điều kiện “ lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế ” không thể có được trong hiện tại, thì với hiểm hoạ Trung Quốc lớn hơn bao giờ hết, đất nước VN sẽ ra sao, và để mong cứu vãn tình thế, người Việt trong và ngoài nước có thể làm được gì. <i3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại : Bài viết gợi ý nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, nên phán định từng điểm để coi có thật sự lợi ích cho đất nước, có khả thi đối với cộng đồng người Việt hải ngoại không, và cũng xét tới làm như thế có gây cản trở gì không cho công cuộc vận động dân chủ, tự do ở VN . Khi có thể, tôi sẽ góp ý tiếp.

  10. Hoàng Trường Sa nói:

    “4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết!” (Trương Đức) Làm răng mà bảo đảm chuyện nớ được, bác Trương Đức ơi ! Tui thấy rõ là không cần chờ tới khi “hiểm họa TQ” đã qua, mà ngay hôm nay, khi “hiểm họa TQ” đang đè nặng trên Tổ quốc ta, ĐCSVN cũng xem cái hiểm họa này rất nhỏ so sánh với kẻ thù không đội trời chung của họ là khối người Việt tỵ nạn CS trên toàn thế giới mà họ đang rắp tâm triệt hạ cho bằng được. Tôi thấy rõ chuyện nớ như đang thấy lòng bàn tay mình dưới bóng đèn điện 200 watt: Các đường chỉ tay ra răng, các đốt ngón tay ra răng. Họa chăng là những người chưa có kinh nghiệm về ĐCSVN hoặc là có kinh nghiệm đấy, nhưng lại tự lừa dối chính bản thân, do quá “yêu nước” hoặc quá ngây thơ, mà hy vọng đảng “ta” đã (hay sẽ) thay đổi. Kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây do Đại Nghĩa sưu tầm: Đảng cộng sản lấy gian dối làm phương châm

  11. [...] Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại    Lê Xuân Khoa – Talawas [...]

  12. Trương Đức nói:

    “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.”(Lê Xuân Khoa) Tôi xin được xin lỗi trước giáo sư LXK, nếu trong phản hồi này có điều gì không phải! Đọc bài này tôi thấy giáo sư Khoa, khi viết bài này, như thể làm cái công việc “vá víu” lại cái “tấm áo dân chủ” đã rách bươm gần thế kỷ nay cho dân tộc VN. Và một câu hỏi hiện lên trong đầu tôi: Tại sao ông LXK không tìm cách “cởi ra” và “vứt bỏ” cái “tấm áo vá chằng vá chịt” ấy đi, và bày cách “mặc” cho dân tộc mình một “tấm áo dân chủ” hoàn toàn mới đi? Tôi xin được phát biểu vài cảm nghĩ của mình như sau: 1. Giáo sư Khoa nêu ra “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.“, thì tôi thấy, giáo sư không những không nêu ra được điều gì mới mẻ cả, mà còn “quên béng” mất một điều kiện tối quan trọng và là tiền đề cho ba điều kiện kia, là “Ngay bây giờ, càng sớm càng tốt, nên THIẾT LẬP NỀN ĐA NGUYÊN DÂN CHỦ cho VN”. Bởi vì, khi có được một nền dân chủ đa nguyên đa đảng thực sự tại VN, thì: – Điều kiện thứ nhất là “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước” sẽ được đáp ứng, bởi vì lúc đó, “lãnh đạo”(đảng hoặc liên minh các đảng thắng bầu cử tự do và được quyền thành lập chính phủ) đương nhiên phải “tài giỏi” và “thực lòng yêu nước” rồi, nếu không thì nhân dân đã không “bầu”. – Điều kiện thứ hai là “huy động được sự đoàn kết của toàn dân” cũng dễ dàng được thực hiện, bởi vì, đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền sẽ huy động được toàn thể số cử tri(nhân dân) của mình, cộng với số cử tri(cũng là nhân dân) của các đảng khác trước nguy cơ xâm chiếm Tổ quốc VN của ngoại bang. – Và như thế, điều kiện thứ ba là “vận động được sự ủng hộ của quốc tế.” chỉ là một mệnh đề kéo theo, cũng sẽ xảy ra, bởi vì cuộc kháng chiến chính nghĩa chống xâm lược của một đất nước dân chủ, bao giờ cũng được quốc tế ủng hộ. 2. Tất nhiên là giáo sư Khoa sẽ bảo tôi rằng, ông nêu ra “3 điều kiện” trên là với tình trạng hiện nay của VN. Vâng, nhưng tôi cũng xin hỏi giáo sư rằng: khi nào thì xảy ra “hiểm họa TQ”? Hiện nay thì chưa, đúng không? Vậy thì tại sao ngay bây giờ “ông Nhà nước VN” không tiến hành một cuộc “thay áo” (tôi không muốn dùng từ “thay máu”, sợ rằng ông Nguyễn Minh Triết lại bảo tôi là kẻ “thích đổ máu”!) cho dân tộc đi? “Ông Nhà nước VN” muốn đợi đến bao giờ? Và giáo sư Khoa còn muốn “vá áo” đến bao giờ nữa? “Tấm áo dân chủ” hiện giờ mà ĐCSVN đã “khoác” lên cho dân tộc hơn 80 năm qua đã “cũ rích”, đã bị “rách bươm” qua “những tháng năm cuồng nộ” và đã bị “vá chằng vá chịt” chẳng ra thể thống gì cả rồi. Nên “thay áo” đi, kể ra bây giờ, sau cuộc chiến 1954-1975 đã hơn 35 năm, là đã muộn lắm rồi, nhưng muộn còn hơn không! 3. Dân tộc VN đã mất lòng tin vào ĐCSVN, nên “Ông Nhà nước VN” có làm gì cũng là những hành động “vá víu” vớ vẩn. Cái hiện tình(sự thoái hóa về đạo đức và văn hóa của xã hội và con người, đời sống thiếu thốn nghèo đói, kinh tế đi xuống, nguy cơ mất nước, không có lối thoát,…) của đất nước VN ta chứng minh điều đó. Tất cả cũng chỉ là do toàn dân không còn tin vào Nhà nước nữa. Không có niềm tin thì khó có thể “xây dựng” hay “bảo vệ” một cái gì cả! 4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết! 5. Để tạm kết luận, tôi xin được trích lại đây lời PH của bác Lề Trái, coi như là bác LT nói hộ ý kiến của mình (Xin cám ơn bác Lề Trái!): “Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác.”

  13. [...] KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI TRƯỚC HIỂM HỌA TRUNG QUỐC Bởi ngoclinhvugia Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại [...]

  14. Lề Trái nói:

    phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế” Đã có một dữ liệu nào để bảo đảm cái giả định trên là khả thể, hay những gì xảy ra đều chỉ ra giả định trên đang mấp mé giả tưởng? Nếu dữ liệu không đỡ nổi cái giả định, thì những đề nghị trên có còn giá trị nữa hay không? Và cả bài này có đáng giá như những giả định chính trị đầy rẫy ở hải ngoại kiểu “những người hải ngoại phải làm gì”? Đôi khi muốn giải quyết vấn đề, người ta phải truy ngược lên vấn đề bắt nguồn từ đâu, và giải quyết từ gốc thay vì cứ chữa triệu chứng kiểu tương tylenol cho bệnh liệt kháng đơn thuần chỉ vì dễ nhiễm lạnh. Nhân tiện, tôi nói luôn: Một trong những kết quả cuối cùng của Marxism là chủ nghĩa thực dân mới. Vì nó ở mức cao hơn, nên có người đã giả định (theorize) là thực dân tự nguyện ie vũ lực phần lớn mang ý nghĩa tượng trưng. Tiếc dân Đông Âu hình như nhận ra nên cứ cù nhầy cù dưa, còn lòi ra anh Nam Tư cứng đầu cứng cổ. Nhưng sự xuất hiện của xe tăng LX (cũ) ở Tiệp và Hung năm nào là những dấu hiệu đáng kể. VN & TQ có thể sự chuyển tiếp sang thực dân mới sẽ suôn sẻ hơn, tức là trên phương diện lý thuyết, rất có thể VN sẽ thành 1 tỉnh không thể thiếu của TQ, hay ít nhất 2 nền hành chính sẽ sáp nhập. Chừng nào chuyện này xảy ra? Thiển ý của tôi, VN là điểm nổ của Critical Mass TQ. Hiện giờ chưa xảy ra vì TQ vẫn còn nén mình. Tới 1 lúc nào đó khi TQ đã đủ sức “vươn vai đứng dậy sáng lòa”, VN nếu chưa bị thôn tính bằng chính trị sẽ lãnh ngay hậu quả quân sự. TQ muốn tiến ra thế giới sẽ phải bước qua VN. Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác. Nếu dân ta cứ để sự thôn tính xảy ra, tôi sẽ buồn, rất buồn nữa là đàng khác. Nhưng để gỡ gạc, tôi đặt sẵn cục gạch xí chỗ trong những người ủng hộ giả thuyết trên. Ngoài lề 1 tí, tưởng đã ăn chắc vụ VN vào Cambodia và TQ chiếm Tây Tạng, LHQ lao vào cứu 1 bàn thua trông thấy vụ VN/Cambodia. TQ/Tây Tạng thuộc loại thực dân thẳng thừng ie bạo lực “không” tượng trưng, nên bên pro-marx cãi là không tính. TQ/VN là hy vọng cuối cùng!

  15. Hoàng Trường Sa nói:

    “Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa) Tôi đọc bài này của Giáo sư Lê Xuân Khoa đang ngon lành, đến đoạn này thì KHỰNG lại luôn, mồ hôi đổ toát ra dù lúc này bên Úc tiết trời đang giá lạnh. Dù kính trọng Giáo sư (một phần do nể bác Hòa Nguyễn, một học trò cũ của Giáo sư) và ghi nhận thiện chí của Giáo sư Khoa, tôi thấy Giáo sư có vẻ quên bài học lịch sử năm 1945 quá nhanh. Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (nguyên văn) mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua. Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946). Cái tiền đề của Giáo sư Khoa rằng ĐCSVN cũng muốn chống lại sự xâm lấn bành trướng của TQ, theo ngu ý, là một tiền đề còn quá mù mờ chưa thể tin ngay được, cần xem kỹ lại, bởi vì ngay cả việc người dân trong nước chỉ muốn nói lên câu “Hoàng Sa và Trường Sa là của VN” mà cũng bị nhà nước CS ngăn cấm và đàn áp. Tôi xin lỗi phải tạm ngưng đọc tiếp bài này cho đến khi HOÀN HỒN, sau đó sẽ tính lại. Dù sao cũng phải cám ơn tác giả Lê Xuân Khoa đã cất công viết bài này để mọi người cùng suy ngẫm.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , , , , | 11 phản hồi »

585. KHẢ NĂNG XUNG ĐỘT QUÂN SỰ TRÊN BIỂN ĐÔNG

Đăng bởi anhbasam on 21/07/2010

KHẢ NĂNG XUNG ĐỘT QUÂN SỰ TRÊN BIỂN ĐÔNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 5-7-2010

Tờ Global Post ngày 27/6 đăng bài viết của Jonathan Adams về khả năng xung đột quân sự ngày càng tăng trên Biển Đông. Sau đây là nội dung bài viết:


Một vùng biển rộng 3,5 triệu km vuông với hơn 200 kết cấu san hô, một số nằm dưới mặt nước biển hoặc nhỏ đến mức khó có thể gọi là đảo. Đó chính là Biển Đông, một nơi không mấy nổi bật trên toàn cầu nhưng người ta sẽ nghe nhiều hơn về nó trong những năm tới.

Một số nước châu Á lâu nay có tranh chấp chủ quyền – đôi khi nực cười – đối với nhiều hòn đảo ở đây. Họ cử lực lượng quân đội ít ỏi chiếm đóng những bãi đá khô cằn với chi phí rất lớn với danh nghĩa lòng tự hào dân tộc.

Diễn biến mới chính là những hành động mạnh tay của Trung Quốc mà nếu xu hướng này cứ tiếp tục thì sẽ khiến Biển Đông trở thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất ở châu Á.

Chất xúc tác làm gia tăng những căng thẳng trên Biển Đông là trữ lượng dầu khí, lợi ích chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc bảo vệ các tuyến đường biển vận chuyển dầu, và nhu cầu của Bắc Kinh muốn phát triển một lực lượng hải quân “nước xanh” có khả năng triển khai sức mạnh ngoài khơi bờ biển Trung Quốc.

Mỹ đang ngày càng chú ý hơn đến Biển Đông, sau khi được biết Trung Quốc đe dọa sẽ trả đũa công ty năng lượng ExxonMobil của Mỹ nếu công ty này tiếp tục khai thác dầu ngoài khơi Việt Nam tại các vùng biển mà Trung Quốc cho là của họ. Và năm ngoái, các tàu quân sự Trung Quốc đã sách nhiễu các tàu do thám của Mỹ trên vùng biển này.

Đầu tháng này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates có bài phát biểu được coi là ở cấp cao nhất của Mỹ cho đến nay trước công luận về vấn đề này: “Biển Đông là khu vực với mối quan ngại ngày càng tăng”, ông nói tại một diễn đàn an ninh ở Xinhgapo. “Vùng biển này không chỉ có tầm quan trọng sống còn đối với các nước có bờ biển tiếp giáp, mà còn với tất cả các quốc gia có lợi ích kinh tế và an ninh ở châu Á.”

Bộ trưởng Gates nhắc lại chính sách lâu nay của Mỹ là không đứng về phía nào trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Nhưng Mỹ cho rằng “việc duy trì ổn định, tự do hàng hải và phát triển kinh tế tự do và không bị cản trở là điều hết sức quan trọng”, và rằng “chúng tôi phản đối bất cứ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty của Mỹ hoặc của bất cứ quốc gia nào thực hiện các hoạt động kinh tế hợp pháp”.


Dưới đây là mấy điểm cơ bản về vấn đề Biển Đông

1) Vì sao Mỹ quan tâm

Mỹ phản đối bất cứ hành động nào nhằm đe dọa các công ty năng lượng của Mỹ hoạt động ở Biển Đông, kéo dài từ Trung Quốc xuống phía Nam tới Inđônêxia. Mỹ cũng khẳng định phải đảm bảo quyền tự do lưu thông trên các vùng biển quốc tế, được xác định theo luật quốc tế là các vùng nước ngoài phạm vi 12 hải lý từ đường cơ sở của một quốc gia.

Theo Quỹ Heritage, Trung Quốc tuyên bố vùng lãnh hải của nước này rộng 200 hải lý từ đường cơ sở, và tuyên bố chủ quyền lịch sử đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc cũng nói rằng bất cứ tàu thuyền nào đi lại trên vùng biển này trước hết phải được sự cho phép của Trung Quốc. Nước này lâu nay tỏ ra bất bình về việc thu thập thông tin tình báo của Mỹ bằng các máy bay và tàu do thám hoạt động ngoài bờ biển Trung Quốc.

2) Còn ai khác tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông?

Đài Loan, Việt Nam, Philippin, Malaixia và Brunây cũng tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ hoặc một phần Biển Đông. Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa), nơi Trung Quốc giành quyền kiểm soát sau một trận chiến năm 1974 với Việt Nam khiến 18 người chết. Bốn nước còn lại cũng như Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ các đảo ở Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía Nam.

Theo Michael Richarson, nhà nghiên cứu tại Viện Đông Nam Á, sự chiếm giữ của Trung Quốc ở đây mong manh hơn với một lực lượng ít ỏi chiếm giữ chín hòn đảo nhỏ như dấu chấm, trong khi Đài Loan chiếm giữ đảo lớn nhất là Ba Bình, Việt Nam chiếm 29 đảo,  Philippin chiếm 8 đảo, Malaixia chiếm 3 đảo. Hơn 70 thủy thủ Việt Nam đã hy sinh trong cuộc đụng độ quân sự ở Trường Sa với Trung Quốc năm 1988.

3) Điều gì mới trong thái độ của Trung Quốc?

Trung Quốc đã xây dựng sự hiện diện quân sự nhỏ ở Trường Sa. Trung Quốc khiến Việt Nam phẫn nộ vì đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông, sau đó bắt giữ các tàu đánh cá của Việt Nam không tuân thủ lệnh cấm.

Về lâu dài, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ hải quân lớn ở đảo Hải Nam để từ đó có thể triển khai sức mạnh tới Biển Đông. Căn cứ này sẽ chứa các tàu ngầm mới được trang bị vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, cũng như tàu sân bay đầu tiên của nước này, được dự kiến đưa vào sử dụng vào năm 2012, và nhiều tàu chiến khác.

Các nhà phân tích cho rằng có lẽ quan trọng nhất là việc Trung Quốc gần đây bắt đầu coi tuyên bố chủ quyền của mình ở Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”. Cách gọi mới này đặt Biển Đông ngang hàng với các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan và Tây Tạng. Nhà nghiên cứu kỳ cựu về  Trung Quốc Willy Lam gọi đó là một phần trong “ngoại giao ranh giới đỏ” của Trung Quốc.

Trong một cuộc nói chuyện gần đây ở Đài Bắc, Willy Lam nói: “Các đường ranh giới đỏ này xác định lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Hiện Trung Quốc đang gia tăng các lợi ích cốt lõi. Diễn biến mới nhất là việc Trung Quốc cũng coi Biển Đông là ‘lợi ích cốt lõi’ -  nước này đang đòi hỏi Mỹ và các quốc gia khác không can thiệp vào ‘các lợi ích cốt lõi’ của mình ở Biển Đông. Trung Quốc đang vạch ra các đường ranh giới đỏ xung quanh toàn bộ vùng biển.”

Wendell Minnick, trưởng đại diện tại châu Á của tờ Tin tức Quốc phòng, viết trong một thư điện tử rằng những phát biểu của Bộ trưởng Gates tại Xinhgapo là một “bất ngờ”.

Minnick nói: “Rõ ràng quyết định của Trung Quốc coi Biển Đông là ‘lợi ích cốt lõi’ là một điều gây lo ngại”.

Theo Arthur Ding, một chuyên gia về các vấn đề quân sự có tham dự cuộc hội thảo tại Xinhgapo, các nước Đông Nam Á cũng ngày càng lo ngại. Ông cho biết ông đã nghe thấy những quan ngại ngày càng nhiều từ các quan chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là từ Việt Nam và Philippin, về sự “mạnh bạo” ngày càng tăng của Trung Quốc. Và ông Dinh đã nhấn mạnh tới phát biểu của Tướng Trung Quốc Mã Hiểu Thiên về Biển Đông tại phiên chất vấn ở Xinhgapo. Ông nói:

“Biển Đông đã trở nên bình yên, hoặc ít nhất cũng không phải là vấn đề giống như Eo biển Đài Loan hay bán đảo Triều Tiên. Vì thế, phát biểu của ông Mã thực sự làm tôi bất ngờ.”

4) Các kịch bản xung đột nào dễ xảy ra nhất?

Một mối lo ngại là sẽ xảy ra sự cố trên biển – chẳng hạn như một vụ va chạm giữa tàu do thám của Mỹ với một tàu của quân đội Trung Quốc dẫn đến thiệt hại về người – có thể dẫn đến leo thang do những tính toán sai lầm và thiếu liên lạc giữa hai bên. Một sự cố như vậy đã xảy ra vào năm 2001 giữa một máy bay do thám Mỹ và một máy bay chiến đấu Trung Quốc. Quân đội Mỹ và Trung Quốc đã thiết lập một đường dây nóng vào năm 2008, nhưng theo thông tin trên báo Tin tức Quốc phòng, Trung Quốc thường không nhấc máy khi họ tức giận.

Nhưng các nước dễ có khả năng xung đột với nhau nhất ở Biển Đông có lẽ là Trung Quốc và Việt Nam. Hà Nội rất tức giận trước cách xử sự của Bắc Kinh với các tàu đánh cá của mình hồi năm ngoái và đã đưa ra phản đối chính thức. Việt Nam tiếp tục coi Hoàng Sa là lãnh thổ của mình bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp. Chủ nghĩa dân tộc bài Trung Quốc đang dâng lên mạnh mẽ ở Việt Nam và đễ bị thổi bùng. Quân đội hai nước đã có lần đụng độ trên Biển Đông vào năm 1974 và 1988.

Các nhà phân tích cho rằng các động thái của Trung Quốc dường như đã khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực. Trong một bài bình luận gần đây, học giả Ian Storey của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Xinhgapo viết: “Một số nước Đông Nam Á đang củng cố lực lượng vũ trang của mình nhằm tự vệ trước sự mạnh bạo ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông.”

Minnick của tờ Tin tức Quốc phòng nói rằng Xinhgapo, Malaixia và Việt Nam đã “tham gia vào cuộc chơi tàu ngầm” và “người ta lo ngại về một vụ va chạm tàu ngầm nhiều hơn là một cuộc chiến tranh bất ngờ” ở Biển Đông.

“Nhiều nước đang triển khai tàu ngầm không thông thuộc các quy tắc đi lại ở dưới mặt nước,” Minnick nói. “Có những phân chia rõ ràng về hướng đi và độ sâu mà một số nước thiếu kinh nghiệm không tuân theo. Rồi còn thêm các tàu ngầm của Trung Quốc khiến dưới mặt nước ngày càng đông hơn.”

Trong khi đó, một hiệu ứng phụ từ tuyên bố mới của Trung Quốc là củng cố thêm mối quan hệ đang bắt đầu nảy nở giữa Mỹ với Việt Nam. Minnick nói: “Mỹ đang xích lại gần Việt Nam, và mối quan hệ quân sự tốt đẹp hơn được mong đợi sẽ cải thiện trong năm nay khi Trung Quốc trở nên mang tính đe dọa hơn”.

5) Có nỗ lực nào giải quyết các tranh chấp Biển Đông hay không?

Năm 2002, các nước liên quan đã ký một thỏa thuận “tuyên bố ứng xử” của các bên ở Biển Đông. Nhưng các nhà phân tích cho rằng thỏa thuận này đến nay vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ, chủ yếu là do Trung Quốc. Chuyên gia Authur Ding nói: “Trung Quốc cho rằng Biển Đông là lãnh thổ của mình, vì thế họ nghĩ ‘tại sao tôi lại phải thực hiện tuyên bố ứng xử này?’”

Năm ngoái, Việt Nam và Malaixia đã đệ trình tuyên bố chính thức đối với chủ quyền ở Biển Đông. Trung Quốc ngay lập tức phản đối, cho rằng các tuyên bố chủ quyền này không có giá trị, một động thái làm tăng thêm căng thẳng. Vấn đề đã lắng dịu trong vài tháng gần đây, nhưng những bất đồng về lãnh thổ thì vẫn còn lâu mới được giải quyết.

Học giả Richardson của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á viết: “Bằng cách nào đó, phải tìm ra cách thức để ngăn chặn chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quân sự để không làm đảo lộn hiện trạng vốn đã mong manh ở Biển Đông”./.


Đăng trong Biển Đông/TS-HS | Tagged: , , , , | 23 phản hồi »

580. Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Đăng bởi anhbasam on 10/05/2010

The Japan Times

Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Michael Richardson

09-05-2010


SINGAPORE – Có phải Trung Quốc đang ngày càng trở nên quyết đoán hơn trong việc thực thi đòi chủ quyền nhằm kiểm soát 80% khu vực Biển Đông, yêu sách bao gồm chủ quyền đối với hàng chục hòn đảo tranh chấp với một số nước Đông Nam Á?

Những diễn biến gần đây chắc chắn cho thấy như thế. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Australia – tất cả các cường quốc có khả năng mạnh mẽ trong việc ổn định khu vực – đang quan sát tình hình chặt chẽ.

Trong một cuộc biểu dương lực lượng cho thấy về khả năng thực thi trên biển ngày càng gia tăng, tháng trước hải quân Trung Quốc đã kết thúc việc triển khai tầm xa (1) vào Biển Đông. Việc diễn tập gồm có một số tàu chiến hiện đại nhất của Trung Quốc và kéo dài gần ba tuần.

Đội tàu nhỏ từ Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc có trụ sở tại Thanh Đảo đi vào quần đảo Trường Sa, tất cả hoặc một phần của quần đảo này do Việt Nam, Philippines và Malaysia đòi chủ quyền. Các tàu Trung Quốc neo tại Đá Chữ Thập, bãi đá đã chiếm của lực lượng Việt Nam trong một trận chiến năm 1988 và bây giờ trở thành một căn cứ của Trung Quốc với một trạm radar cảnh báo sớm.

Trong khi đó, máy bay chiến đấu Trung Quốc từ nhiều sân bay khác nhau trên đất liền đã tổ chức các cuộc diễn tập khả năng tàng hình cùng các kỹ năng bay đêm, tiếp nhiên liệu trên không, gây nhiễu radar và các cuộc tấn công giả vờ ném bom vào Biển Đông.

Hai tuần trước, cơ quan thực thi nhiệm vụ ngành thủy sản của Trung Quốc đã xác nhận rằng họ bắt đầu tuần tra thường xuyên để bảo vệ tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc trong và xung quanh quần đảo Trường Sa, vài chục [hòn đảo] ở đó là nơi đồn trú của Việt Nam, Philippines và Malaysia. Cơ quan này nói rằng hai tàu mới được gửi từ đảo Hải Nam của Trung Quốc để thay thế hai tàu đã đi tuần tra trong khu vực từ ngày 1 tháng 4.

Các quan chức Trung Quốc nói rằng các tàu đánh cá bằng lưới của Trung Quốc liên tục bị quấy nhiễu và đôi khi bị Việt Nam , Philippines và Malaysia tịch thu, mặc dù thực tế họ đang hoạt động tại khu vực hàng hải của Trung Quốc.

Tuyên bố việc triển khai thường xuyên nhằm chống lại cướp biển, chống lại việc bắt giữ và chống lại những cố gắng rượt đuổi các tàu đánh cá Trung Quốc ra khỏi khu vực, ông Liu Tianrong, Phó Cục trưởng cục Quản lý Nghề cá Nam Hải của Trung Quốc cho biết, “cung cấp việc bảo vệ trong khu vực này khỏi các mối đe dọa an ninh đặc biệt sẽ giúp gia tăng các quyền chủ quyền hiện tại của Trung Quốc trên lãnh thổ”.

Cùng lúc, hải quân Trung Quốc cho thấy khả năng phối hợp sức mạnh quân sự dấn sâu vào Biển Đông, một hạm đội khác của Trung Quốc bao gồm các tàu chiến trên mặt biển hiện đại và các tàu ngầm chạy bằng hơi nước qua biển Hoa Đông đi vào Thái Bình Dương, phía Nam Nhật Bản, gặp sự phản đối ngay từ phía Tokyo sau khi máy bay trực thăng của Trung Quốc bị cáo buộc đã bay quá gần các con tàu của Nhật Bản.

Báo Global Times, tờ báo của chính phủ Trung Quốc, nhận xét hôm 27 tháng 4 rằng, khi Trung Quốc cho mình có nhiều trách nhiệm hơn trong khu vực Đông Á, sẽ có các cuộc tập trận quân sự thường xuyên hơn của Trung Quốc tại vùng biển quốc tế, đặc biệt kể từ khi Hoa Kỳ tăng cường phòng thủ ở phía Tây Thái Bình Dương.

“Đương nhiên, sự chuyển đổi của hải quân Trung Quốc sẽ mang lại thay đổi cho mô hình chiến lược ở Đông Á và phía tây Thái Bình Dương đã kéo dài trong năm thập kỷ qua”. Global Times nói thêm rằng việc chuyển đổi là tích cực bởi vì Trung Quốc không có ý định “thách thức Hoa Kỳ ở Trung tâm Thái Bình Dương hoặc tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự với Nhật Bản ở vùng biển lân cận, mặc dù Trung Quốc sẵn sàng bảo vệ lợi ích cốt lõi bằng mọi giá”.

Gần đây, báo New York Times đưa tin, trong tháng 3, Trung Quốc đã nói với hai quan chức cao cấp Hoa Kỳ đang viếng thăm rằng, Bắc Kinh sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp nào trên Biển Đông, nói rằng bây giờ Biển Đông đã là một phần các lợi ích “cốt lõi” về chủ quyền của Trung Quốc.

Các quan chức Hoa Kỳ đã được trích dẫn khi nói rằng, đây là lần đầu tiên Trung Quốc đặt Biển Đông vào danh mục lợi ích cốt lõi của quốc gia, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng.

Điều này có nghĩa là, nếu cần, Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ việc tuyên bố chủ quyền quốc gia của mình trên đất liền hoặc trên biển trong khu vực.

Trong một bài diễn văn tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế hồi tháng 3, ông Teo Chee Hean, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Singapore lưu ý rằng, Trung Quốc thường dùng phương pháp tiếp cận “mềm mại và nhẹ nhàng” trong khu vực Đông Nam Á, “trừ khi lợi ích cốt lõi quốc gia của họ bị đe dọa”.

“Chúng tôi thấy điều này qua việc phản ứng của Trung Quốc hồi năm ngoái đối với việc Malaysia – Việt Nam gửi đệ trình chung lên Ủy ban Liên Hiệp quốc về Giới hạn Thềm lục địa cho các yêu sách của mình ở Biển Đông. Trung Quốc đã trả lời lại ngay ngày hôm sau, với một yêu sách trả đũa rằng [vùng biển của họ] trải dài tới tận ngoài khơi phía Đông Malaysia và quần đảo Natuna của Indonesia “.

Biện hộ về việc gia tăng hải quân của Trung Quốc, trong một cuộc họp ở Bắc Kinh về Đối thoại Quốc phòng và An ninh ASEAN – Trung Quốc vào cuối tháng 3, ông Trần Chu Chuẩn tướng (2), thuộc Học viện Khoa học Quân sự cho biết, Trung Quốc là “thành viên duy nhất trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc không nhận sự thống nhất hoàn toàn” (3). Ông nói thêm rằng: “Chúng tôi vẫn phải đối mặt với nhiều thử thách, chẳng hạn như tranh chấp hàng hải với các nước khác.”

Sự quyết đoán rõ ràng của Trung Quốc ở Biển Đông xảy ra giữa lúc tiếp tục có các sự chia rẽ trong 10 thành viên Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về việc có phản ứng hay không và sẽ phản ứng như thế nào. Việt Nam hiện đang giữ chức Chủ tịch ASEAN, nước đang đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ cũng như chuỗi quần đảo Trường Sa, đã không thể đưa cả nhóm cùng hành động như một khối trong giao dịch với Bắc Kinh.

Nếu không có một chiến lược thống nhất [giữa các nước] ASEAN, các cường quốc quan tâm khác gồm Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và Australia, cũng sẽ thấy khó hơn để chế ngự Trung Quốc.

Michael Richardson là một chuyên viên nghiên cứu cao cấp thỉnh giảng tại Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở Singapore .


Người dịch: Ngọc Thu

Dịch từ: http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/eo20100509mr.html

———

Ghi chú:

(1) A long-range deployment: triển khai tầm xa, tức là triển khai khả năng chiến đấu xa và lâu mà không cần tiếp nhiên liệu vì các tàu đưa vào tập trận phải được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể chiến đấu xa bờ và lâu ngày.

(2) Senior Colonel: tức Brigadier General, cấp bậc ở giữa Đại tá và Thiếu tướng.

(3) Ý trong câu này: Trung Quốc thường hay bỏ phiếu ngược lại với các thành viên khác trong HĐBA Liên Hiệp quốc.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quân sự, Trung Quốc | 9 phản hồi »

579. Trung Quốc dấn sâu vào việc bảo vệ vùng biển

Đăng bởi anhbasam on 09/05/2010

South China Morning Post

Trung Quốc dấn sâu vào việc bảo vệ vùng biển

Bắc Kinh ngày càng quyết tâm bảo vệ quyền trên biển trong các tranh chấp với láng giềng

Minnie Chan and Agencies

08-05-2010


Trung Quốc nổi lên như là một cường quốc trên biển và gia tăng sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên trên đại dương, có nghĩa là Bắc Kinh sẽ kiên quyết trong các tranh chấp lãnh hải để bảo vệ lợi ích của mình, các chuyên gia nói.

Trong hai thập kỷ qua, Bắc Kinh đã giải quyết tranh chấp đất đai lãnh thổ với tất cả các nước láng giềng ngoại trừ Ấn Độ, đôi khi có những nhượng bộ được những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan xem là quá lớn, chuyên gia an ninh có trụ sở tại Thượng Hải, ông Ni Lexiong nói.

Nhưng Trung Quốc đã không thỏa hiệp bất cứ điều gì khi tranh chấp lãnh thổ trên biển bởi vì nó đã biến từ một nước nông nghiệp thành một cường quốc hàng hải.

Ông Ni nói: “Ngày càng có nhiều người bắt đầu nhận ra các nguồn tài nguyên dưới nước nhiều như thế nào. Chính phủ của chúng tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ. Sự phụ thuộc ngày càng gia tăng của Trung Quốc vào năng lượng trên biển, thương mại, và thực phẩm có nghĩa là Bắc Kinh sẽ từ chối thỏa hiệp”.

Bắc Kinh được xác định bảo vệ vùng biển mà họ xem là của riêng mình. Họ đã gửi các tàu hải quân và các tàu giám sát để tuần tra vùng đặc quyền kinh tế của họ đi xa và thường hơn trong quá khứ. Tuy nhiên, phần lớn là các khu vực tự xác định này chồng lấn với các khu vực mà các nước láng giềng xác định, thiết lập giai đoạn cho các cuộc đối đầu.

Ông Katsuya Okada, Ngoại trưởng Nhật Bản, hôm qua đã triệu tập đại sứ Trung Quốc đến để phản đối việc một tàu hải quân Trung Quốc rượt đuổi một tàu khảo sát của Nhật hôm thứ hai ở một khu vực tranh chấp trên Biển Hoa Đông, khoảng 320 km về phía Tây Bắc của hòn đảo Amami Oshima, thuộc miền nam nước Nhật, trong vùng biển mà cả hai bên đều cho là vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao cho biết, tàu Trung Quốc hành động trong quyền hạn của mình. Bà nói: “Hoàn toàn hợp pháp để một tàu khảo sát hàng hải Trung Quốc thực hiện các hoạt động bảo vệ luật pháp trong vùng biển này”.

Việc cãi vặt mới nhất này giữa hai nước xảy ra sau một phản đối hồi tháng trước về việc một chiếc trực thăng Trung Quốc đã bay quá gần một tàu khu trục của Nhật Bản.


Trung Quốc cũng có tranh chấp với các nước láng giềng khác. Việt Nam cho biết họ có kế hoạch phản đối lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc, vi phạm chủ quyền của mình trên các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông. Hai nước tham gia vào một cuộc tranh chấp lâu nay về việc kiểm soát quần đảo Trường Sa và một quần đảo khác ở phía Bắc, quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm đóng.

Giáo sư Wang Hanling, một chuyên gia về vấn đề hàng hải và luật pháp quốc tế tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết, tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa Bắc Kinh và các nước láng giềng đã trở nên nóng bỏng khi Trung Quốc nổi lên thành một cường quốc trên biển.

Ông Wang nói: “Thật vậy, các tranh chấp như thế đã tồn tại kể từ khi dầu mỏ và các nguồn tài nguyên trên biển khác đã được phát hiện ở quần đảo Điếu Ngư và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông và Biển Hoa Đông trong thập niên 70″.

“Có một đề nghị về việc thuyết phục tất cả các nước Đông Nam Á tham gia với nhau để chiến đấu với Trung Quốc về việc tranh chấp lãnh hải trong thập niên 70, điều này đã làm cho Bắc Kinh quan ngại”.

Tuy nhiên, ông cho biết, Bắc Kinh đã gạt bỏ mối quan tâm này sau khi thấy không có hành động nào hơn 30 năm sau.

Ông Wang nói: “Chúng tôi thấy các nước láng giềng có tranh chấp lãnh thổ trên biển cãi nhau ầm ĩ và có các lợi ích quốc gia để bảo vệ, điều này rất khó cho họ xây dựng một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc. Ngay cả khi họ thành công trong việc cùng tham gia với nhau, họ vẫn không đủ mạnh để đánh bại Trung Quốc”.

Với lập luận rằng quyền chủ quyền của Trung Quốc và hành chính của các đảo ở vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông đã được thành lập bằng văn bản cách đây 1.000, ông Wang cho biết Bắc Kinh sẽ bám vào lập luận này.


Người dịch: Ngọc Thu – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: , | 4 phản hồi »