BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Bô-xít Tây Nguyên’ Category

528. Tấn công trên mạng nhắm tới những người lên tiếng chỉ trích ở VN

Đăng bởi anhbasam on 01/04/2010

Washington Post

Google: Các cuộc tấn công trên mạng nhắm tới

những người lên tiếng chỉ trích ở Việt Nam


BEN STOCKING, Hãng thông tấn AP

31-03-2010

Sinh viên Việt Nam lướt mạng internet và chơi trò chơi trực tuyến tại một quán cà phê Internet ở Hà Nội, Việt Nam, thứ tư ngày 31 tháng 3 năm 2010. Google Inc. nói rằng các phần mềm độc hại đã được sử dụng để do thám người sử dụng máy tính Việt Nam chống lại việc khai thác mỏ bauxite gây tranh cãi tại quốc gia Đông Nam Á này. Công ty bảo mật máy tính McAfee cho biết, thủ phạm có thể liên hệ tới chính phủ cộng sản.

HÀ NỘI, Việt Nam – Tập đoàn Google cho biết đã tìm thấy một trường hợp khác là các cuộc tấn công trên mạng được sử dụng để ngăn chặn những ý kiến bất đồng liên quan tới chính trị trong thời gian này để bịt miệng những tiếng nói đối lập trong dự án khai thác khoáng sản ở Việt Nam có liên quan đến một công ty của chính phủ Trung Quốc.

Công ty bảo mật máy tính McAfee cho biết các thủ phạm có thể liên kết với chính quyền Cộng sản Việt Nam.

Tuần trước, Google đã chấm dứt các hoạt động về các công cụ tìm kiếm ở Trung Quốc, nước láng giềng của Việt Nam ở phương bắc, sau khi than phiền về các vụ tấn công mạng và kiểm duyệt thông tin ở nước này. Hiện tại Google chuyển hướng truy cập tìm kiếm thông tin từ Trung Quốc đại lục đến vùng đất tự do hơn của Trung Quốc là Hồng Kông.

Google cho biết các cuộc tấn công ở Việt Nam ít phức tạp hơn nhưng cũng nhằm mục đích ngăn chặn các quan điểm đối lập.

Google nói rằng điều đó đã làm cho Google chú ý, bởi vì họ nhấn mạnh sự cần thiết của cộng đồng quốc tế “xem việc an ninh mạng là quan trọng nhằm giúp [mọi người] được tự do bày tỏ ý kiến”

Các cuộc tấn công nhắm vào “hàng chục ngàn người” đã tải phần mềm cho phép các máy tính Windows sử dụng tiếng Việt, một bài viết trên blog về an toàn mạng của Google cho biết hôm thứ ba.

Google cho biết là các máy tính đã bị nhiễm các “phần mềm độc hại”, [những phần mềm này] làm gián điệp theo dõi những người sử dụng và tấn công các trang web trên mạng có chứa các thông tin về bất đồng chính trị.

“Cụ thể là các cuộc tấn công này đã cố gắng dập tắt tiếng nói đối lập về việc khai thác bô xít ở Việt Nam, một trách nhiệm quan trọng liên quan tới tình cảm [của người dân] trong nước,” kỹ sư của Google, ông Neel Mehta đã viết trong bài.

Dự án khai thác khoáng sản liên quan đến một công ty con của chính phủ Trung Quốc,  Công ty Nhôm Chinalco lên kế hoạch [khai thác] ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam và đã thu hút những tiếng nói phản đối mạnh mẽ – kể cả tiếng nói của vị anh hùng quân sự nổi tiếng nhất ở Việt Nam – vì lo ngại nó sẽ gây ra vấn đề nghiêm trọng về môi trường và dẫn tới việc công nhân Trung Quốc tràn ngập khu vực chiến lược nhạy cảm.

McAfee, công ty điều tra các phần mềm độc hại, cũng đã thảo luận về các cuộc tấn công, đã bài đăng trên blog hôm thứ ba.

“Chúng tôi tin rằng thủ phạm tấn công có thể có động cơ chính trị và những người này có thể phục vụ cho chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, ông George Kurtz, viên chức đứng đầu về công nghệ của McAfee đã nói.

Hôm thứ tư, không thể liên lạc được với các viên chức Việt Nam để đưa ra lời bình luận.

Cũng như Trung Quốc, Việt Nam kiểm soát chặt chẽ các luồng thông tin và nói rằng họ có quyền để có “hành động thích hợp” chống lại các trang web nếu thấy có hại cho an ninh quốc gia.

Mùa thu năm ngoái, chính phủ đã bắt giữ một số blogger chỉ trích việc khai thác mỏ boxit, và hồi tháng mười hai, một trang web có tên bauxitevietnam.info, chống lại việc khai thác mỏ, có hàng triệu người truy cập, đã bị hack.

Các phần mềm độc hại hình như đã bắt đầu lưu hành trong khoảng thời gian đó, theo tin từ blog của McAfee. Tin này cũng nói rằng người nào đó đã tấn công vào một trang web có trụ sở tại California, do Hội Chuyên Gia Việt Nam điều hành và thay thế một chương trình bàn phím bằng một chương trình độc hại có thể được tải xuống từ trang web đó.

Trong số những người chống lại việc khai thác mỏ boxit có vị tướng huyền thoại 98 tuổi, tướng Võ Nguyên Giáp, người đã lãnh đạo quân đội Việt Nam giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại quân đội Pháp và Mỹ. Bức hình của tướng Giáp là nét đặc trưng nổi bật trên trang web boxit.

Có nghi ngại về việc Trung Quốc [ảnh hưởng] sâu rộng tới Việt Nam, đất nước có một lịch sử xung đột lâu dài với láng giềng phương bắc.

Hai nước đã xảy ra giao tranh  trong cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu vào năm 1979 và liên tục tranh chấp về hai quần đảo ở Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong khi các cuộc tấn công mạng ở Việt Nam đã không nhắm vào Google, công ty này nói rằng vụ mâu thuẫn với Bắc Kinh đã khởi đầu bằng một cuộc tấn công mạng, bắt nguồn từ Trung Quốc và cố gắng ăn trộm email của các nhà bất đồng chính kiến.


Người dịch: Ngọc Thu

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Bô-xít Tây Nguyên | Tagged: , , , , | 12 phản hồi »

381. Công nhân trên thế giới chống lại Liên hiệp Công ty Trung Hoa

Đăng bởi anhbasam on 30/11/2009

TIME

Công nhân trên thế giới chống lại

Liên hiệp Công ty Trung Hoa

Hannah Beech

Chủ nhật, ngày 29-11-2009

Tạp chí TIME số ra thứ Hai, ngày 7-12-2009


Bữa trưa tại hiện trường của khu mỏ nikel và cobalt Ramu trên những ngọn đồi xa xa của Papua New Guinea là một công việc vội vã, đồ ăn thức uống được nhai ngấu nhai nghiến. Thế nhưng thực đơn thì được chia ra thành hai nhóm phân biệt rõ ràng trong số các công nhân đang ngồi xổm giữa không khí nóng bức, vừa xua đuổi lũ ruồi nhặng vừa nhồi nhét cho đầy cái dạ dày của mình trước khi những ca kíp chín tiếng đồng hồ mỗi ngày, bảy ngày một tuần lại được bắt đầu trở lại. Trong một đám đông hỗn độn là những nhân công bản xứ đang nhai những lát khoai lang và cá hộp được biết đến trong thứ phương ngữ đơn giản là tinpis. Trong một lùm cây khác là những công nhân được đưa sang từ Trung Quốc, họ đào bới trong bát cơm đầy có ngọn những tảng thịt lợn và nước sốt ớt-đậu đen. Người Trung Quốc, được đưa qua bằng đường tàu biển bởi China Metallurgical Group Corp., doanh nghiệp nhà nước từng đầu tư 1,4 tỉ đô la vào vị trí tiền đồn xa nôi đó, có thể chẳng hiểu được cả tiếng Anh lẫn thứ tiếng bồi, hai trong số những ngôn ngữ được sử dụng ở nước này.  Người Papua New Guinea [P.N.G.] không nói được tiếng quan thoại [Mandarin]. Thậm chí trong bữa ăn, một sự kiện mà trong lúc đó cả hai nền văn hóa có thể cổ vũ cho cộng đồng và lòng mến khách như thường lệ, thì không khí cũng vẫn bị nặng nề do tình trạng khó thông hiểu lẫn nhau. “Làm sao mà chúng tôi có thể ăn cùng nhau được nếu như mọi thứ đối với chúng tôi đều khác biệt?” Đó là câu hỏi của Shen Jilei, người lần đầu tiên có được trải nghiệm nơi hải ngoại khi anh ta được đưa thẳng từ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc tới một quốc gia Nam Thái Bình Dương mà anh ta thậm chí còn không biết là nó tồn tại trên cõi đời này.

Những dấu hiệu về sự va chạm văn hóa có vẻ như có ở khắp những nơi mà tôi lang thang tới trong những khu công trường xây dựng rộng lớn mà vào dịp cuối năm này nó sẽ làm biến đổi một dải rừng nguyên sinh còn hoang sơ và những cánh đồng cỏ trở thành một trong những công trường khai thác nickel lớn nhất trên thế giới. Trên bờ biển Basamuk Bay liền một dải, nơi nhà máy lọc dầu Ramu sẽ được định vị, một kỹ sư xây dựng sinh quán ở Bắc Kinh nói với tôi rằng trước khi người Trung Quốc tới đây, “dân bản xứ sống hoàn toàn mọi rợ và chạy lui chạy tới hầu như trần như nhộng.” Tôi nói với anh ta những nghi ngờ của mình, rằng tôi vừa mới nói chuyện với một dân làng gần đó, người đã mô tả về một cuộc thuyết trình bằng phần mềm PowerPoint mà cô thực hiện mới đây khi trình bày chi tiết những mối quan ngại về môi trường quanh khu mỏ. Vị kỹ sư, giống như nhiều người Trung Quốc khác mà tôi gặp, vẫn tỏ ra không chút xúc động. “Tất cả những gì mà họ làm là nhai quả cau và lười nhác,” anh ta nhận xét. “Họ không biết làm sao để lao động hăng say như người Trung Quốc chúng tôi.”

Ấn tượng mà người Trung Quốc đã để lại nơi nhiều người dân P.N.G. cũng chẳng tốt đẹp gì hơn. Một địa chủ người địa phương có đất đai do cha ông để lại nằm giữa khu mỏ đã tuyên bố, một cách không chắc chắn, rằng nickel sẽ được sử dụng để cung cấp cho một chương trình sản xuất vũ khí bí mật của Trung Quốc. Tại thủ đô Port Moresby, người tài xế của tôi thông báo rằng nếu như một băng nhóm được hình thành để đuổi người Trung Quốc khỏi P.N.G.m thì anh ta sẽ là người đầu tiên tham gia. “Tôi sẽ mài sắc con dao đốn cây của tôi và chặt 10 đến 20 cái đầu,” anh ta tuyên bố. Nỗi bực dọc về thế lực của người Trung Quốc lan rộng sang cả những cơ quan nhà nước, ngay cả khi khu mỏ Ramu hứa hẹn sẽ bổ sung vào 8% cho GDP của nước này. “Tôi biết là người Trung Quốc đang can dự vào khắp nơi trên thế giới và đang đầu tư thành công,” theo lời Rona Nadile, một thư ký trợ lý cho các mối quan hệ chủ thợ. “Thế nhưng điều mà tôi không hiểu nổi là tại sao họ lại quá ngoan cố khi không thèm tôn trọng văn hóa địa phương của chúng tôi. Chúng tôi là một chế độ dân chủ. Họ phải xử sự theo những luật lệ của chúng tôi hoặc là chúng tôi sẽ nổi dậy.”

May, rủi lẫn lộn

Khi Trung Quốc bắt đầu chiến dịch đầu tư trên toàn cầu vào đầu thế kỷ này, dòng tiền chảy cuồn cuộn đã được đón nhận nồng nhiệt, đặc biệt tại những phần của châu Á, Phi và Mỹ Latin từng cảm thấy bị phương Tây bỏ rơi này. Lời hứa của Trung Quốc sẽ không chính trị hóa viện trợ và đầu tư bằng việc trói buộc các điều kiện khó chịu, như nhân quyền phải được cải thiện, đã làm hài lòng nhiều chính phủ. Giữa những năm 2003 và 2008, mức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc đã tăng vọt  – từ 75 triệu lên 5,5 tỉ đô la tại Phi châu, 1 tỉ lên 3,7 tỉ đô la tại Mỹ Latin và nhảy từ 1,5 tỉ lên 43,5 tỉ đô la tại Á châu. Nước Cộng hòa Nhân dân giờ đây xếp hạn như là nhà đầu tư số một tại các quốc gia khác nhau, từ Sudan cho tới Cambodia. Để đổi lấy tài nguyên thiên nhiên cần thiết cung cấp cho cỗ máy kinh tế của Trung Quốc, Bắc Kinh đã bắt đầu một chiến dịch chuyên cần nhằm thu phụ trái tim và khối óc ngoại quốc bằng việc chu cấp tài chính cho các sân vận động, bệnh viện và những văn phòng chính phủ hoang phí. Bộ Ngoại giao Đông Timor đã được xây dựng trang nhã theo kiểu Trung Quốc, trong khi tòa nhà quốc hội lát đá cẩm thạch Guinea-Bissau là một món quà đến từ Bắc Kinh.

Tuy nhiên, một số nước không còn sẵn sàng trải thảm đỏ cho người Trung Quốc đang ngao du trong thiên hạ nữa. Mặc dù những điều kiện ràng buộc về chính trị có thể không đến cùng với túi tiền của Bắc Kinh, nhưng còn có những cái bẫy về kinh tế. Những con đường, những khu mỏ và cơ sở hạ tầng khác được chào bán giảm giá hầu như thường được xây dựng bởi lực lượng quân đội nằm trong số lao động Trung Quốc nhập khẩu vào, làm giảm bớt nguồn lợi tài chính thực cho các quốc gia nhận trợ giúp. Các công ty Trung Quốc đầu tư ở nước ngoài cũng có xu hướng vận chuyển bằng tàu biển hầu như mọi thứ được sử dụng cho việc xây dựng các công trường, từ những gói mì sợi ăn liền cho tới giấy vệ sinh màu hồng phổ biến của Trung Quốc. Điều này không phải chỉ với những công nhân Trung Quốc đã được ký hợp đồng, những người cũng đã lộ diện. Trong vòng một vài năm qua, bà con họ hàng của họ lúc nào cũng tỏ ra muốn hiện thực hóa việc lập các cửa hàng bán đồ ăn giá rẻ của Trung Quốc, đe dọa kế sinh nhai của các doanh nhân bản xứ. Những người dân địa phương có được việc làm ở những dự án được người Trung Quốc cấp vốn than phiền là các ông chủ của họ không lưu ý tới các luật lệ lao động của nước họ trong việc đảm bảo mức lương tối thiểu hoặc việc bảo vệ của tổ chức công đoàn. Trong ba năm qua, những cuộc nổi loạn chống lại người Trung Quốc đã nổ ra ở mọi nơi từ Quần đảo Solomon và Zambia cho tới Tonga và Lesotho. Những căng thẳng cũng đang sục sôi tại Ấn Độ, nơi người Trung Quốc được thu hút vào một số dự án cơ sở hạ tầng lớn. Thậm chí các quan chức cấp cao đang nói toạc ra về chuyện này. Tại Việt Nam, các kế hoạch giành cho một khu mỏ khai thác bauxite mở được người Trung Quốc vận hành đã bị vị Đại tướng anh hùng cách mạng Võ Nguyên Giáp chỉ trích công khai, bởi vì theo như ông nói, về “nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và xã hội.”

Một ốc đảo

Náu mình ở một trong những phần lạc hậu nhất của một trong những quốc gia kém phát triển nhất trên thế giới, mỏ Ramu đã nổi lên như là một tấm gương gai góc về thái độ oán hận chống lại Liên hợp Công ty Trung Hoa [China Inc.]. Năm 2004 Thủ tướng P.N.G. Michael Somare từ Bắc Kinh về nước, hân hoan khi bị giăng bẫy để có được dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất nước cho tới nay. Trạng thái ngây ngất đã nhanh chóng chết yểu. Các chủ đất đã vung ná cao su lên và tuyên bố là họ sẽ không ngừng nói về vùng lãnh thổ của bộ lạc đang bị sử dụng để bòn rút khoáng sản, không hề gì, văn kiện đã được ký tại Đại lễ đường Nhân dân Trung Quốc. Nhưng người quan tâm tới việc bảo vệ môi trường đã lên án trò nhơ bẩn quanh những kế hoạch tập kết chất thải của khu mỏ tại Vịnh Basamuk Bay tuyệt đẹp, trong khi các công nhân địa phương đã phản kháng về những điều kiện làm việc mà thậm chí Bộ trưởng Lao động và các Quan hệ Chủ thợ P.N.G. David Tibu đã phải miêu tả là tựa như nô lệ và “không xứng đáng giành cho lũ chó lợn.” Những cuộc đụng độ nhỏ nhiều lần đã bùng lên giữa dân làng và 1.500 lao động nhập cư người Trung Quốc, một số trong đó đang làm việc bất hợp pháp tại P.N.G. Cùng lúc, cơn giận dữ đã sôi lên do một dòng thác hàng ngàn người Trung Quốc chỉ trong vài năm mà đã nắm giữ độc quyền hoạt động kinh doanh mà theo luật pháp đáng ra cần phải được giành cho những người bản xứ P.N.G. Vào tháng Năm, những cuộc náo loạn chống lại người Trung Quốc đã làm rung chuyển các thành phố trên khắp đất nước, và một số người đã bị giết giữa những cuộc cướp bóc các cửa hàng do người Trung Quốc làm chủ. “Gỗ của chúng tôi, mỏ của chúng tôi, mọi thứ, đều chạy sang Trung Quốc hết,” đó là nhận xét của Damien Ase, người sáng lập nên tổ chức bất vụ lợi Trung tâm Luật Môi trường và Các quyền lợi Cộng đồng tại Port Moresby. “Thế nhưng chúng tôi nhận lại quá ít.”

Đối với nhiều người P.N.G., không ngạc nhiên là đất nước họ đã đứng ở tuyến đầu trong chiến dịch toàn cầu của Trung Quốc. Nằm ở nửa phía đông của hòn đảo lớn thứ hai thế giới, P.N.G. là một vùng có ngôn ngữ khác biệt nhất trên thế giới, khi chỉ với  6,5 triệu dân mà nói ít nhất 800 thứ ngôn ngữ địa phương riêng biệt. Dù cho tính đa dạng sắc tộc như vậy, song đất nước này lại thống nhất trong ít nhất là một khía cạnh: sự hoài nghi về hoạt động khai thác của người nước ngoài những tài nguyên phong phú của họ, từ khí gas và gỗ cho tới thủy hải sản và vàng. Những căng thẳng đã nổ ra vào những năm 1990 trên hòn đảo Bougainville của P.N.G., nơi có những mối quan ngại về những tác động môi trường và kinh tế của một khu mỏ đồng do người Anh-Úc quản lý đã làm nổ ra một cuộc đấu tranh của những người chủ trương ly khai từng đòi quyền khai thác mỏ của 15.000 cư dân quanh một diễn biến kéo dài một thập kỷ. (Khu mỏ này là một trong những địa điểm khai thác mở lớn nhất thế giới, giờ đây đã bị đóng cửa như là hệ quả của cuộc nội chiến chính thức chấm dứt vào năm 2000). Ngoài ra, chính phủ nước này đã buộc phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp tại tỉnh Cao nguyên Nam phần từ ba năm trước khi những người chống đối đã đạt được một thắng lợi cao nhất chống lại một đường ống dẫn khí gas được để nghị bởi tập đoàn đa quốc gia. (Dự án này kể từ đó đã bị sa lầy).

Địa điểm Ramu đã nằm im lìm trong bốn thập kỷ, khi một loạt các công ty của Úc tính toán rằng lượng nickel kém giá trị không đáng để trích xuất tại một vùng đất xa xôi như vậy với đầy dẫy những thay đổi về mức độ trung thành với chính phủ của sắc dân ở đây. Nhưng Ramu Nico, công ty con của China Metallurgical trong hoạt động khai mỏ, đã nghĩ rằng họ có thể thành công tại nơi mà những công ty khác không dám thử sức. Năm 2007, Ramu Nico đã phái đi những tiểu đoàn công nhân Trung Quốc, dùng dao rựa mở đường qua những rừng cây dày đặc và xây nên khu Phố người Hoa như trong ảo ảnh, nơi mà cỏ voi và những giống cây kwila cũng được dùng tới. Ngày nay, trong những gì được coi như là một quãng thời gian tù đày với căn bệnh sốt rét trên những ngọn đồi, trong thung lũng, trong những khu nhà tập thể rộng lớn, các văn phòng và nhà máy chế biến nằm rải rác khắp nơi, cùng với một đường ống chuyển vữa dài 135 km uốn khúc từ Ramu cho tới bờ biển Basamuk. (Từ Basamuk, những chuyến tàu biển chất đầy nickel và cobal sẽ dong buồm sang Trung Quốc.) Tháng Mười hai năm ngoái, Ramu Nico đã khánh thành cây cầu đầu tiên bắc qua sông Ramu, làm cho xuồng bè ngang qua rất khó khăn. Công ty này còn lát một con đườn bê tông bằng qua rừng, một trong số ít con đường tại một đất nước nhiệt đới, mà nhựa đường là của hiếm không khác gì băng tuyết. Mặc dù dự án đã bắt di dời nơi cứ trú của hàng nghìn chủ đất, nó cũng đã cung cấp một cách tệ hại cơ sở hạ tầng cần thiết cho vùng này. Quãng đường mà chỉ trong một vài năm trước phải đi bộ băng rừng trong 10 tiếng đồng hồ từ khu mỏ ra tới con sông thì giờ đây đã được rút ngắn lại trong một chuyến xe 30 phút.

Một sự tiến bộ giật lùi

Đường xá và cầu cống không đủ để xoa dịu người dân địa phương, những người bám chặt vào mảnh đất tổ tiên của mình, điều này dường như khó hiểu đối với người Trung Quốc, những người họp lại nhau theo nguyên tắc cộng sản là nhà nước làm chủ. Ở làng Ganglau, tập hợp của các căn lều ở phía trước một cái vịnh đầy ắp cá heo và cá ngừ, những người lớn tuổi trong cộng đồng Mou Bilang phàn nàn rằng hầu hết những người dân trong làng không được bồi thường về việc mất đất, một khi đã sử dụng để trồng trọt cây trái bán thu lợi, để dành $125, “trả tiền bụi”, số tiền đuợc bồi thường vì bụi bặm như một lời xin lỗi do bụi đất của dự án tung lên. “Người Trung Quốc đã hứa với chúng tôi miễn phí điện, nước, và đào tạo nghề miễn phí cho con trai của chúng tôi”. Bilang nói với tôi. “Nhưng họ chẳng làm gì cả”. Căng thẳng đã lên đến đỉnh điểm cách đây năm tháng, khi một thanh niên địa phương vô tình bị thương vì một chiếc máy kéo Trung Quốc. Hơn 100 dân làng đã nổi cơn thịnh nộ, mang đá và dao to nhắm vào người Trung Quốc. Những người nước ngoài bảo vệ mình bằng những ống thổi lửa hàn đồ, nhưng có ba người đã bị thương nặng – một người đã bị mổ bụng – họ đã được đưa đến bệnh viện bằng máy bay.

Vào tháng bảy, quan hệ đã gặp vận đen mới khi trưởng khu cảnh sát mỏ P.N.G ra lệnh cho đóng cửa tất cả công việc xây dựng ở khu Ramu Nico vì những quan ngại đến sức khoẻ và sự an toàn. Công việc ngưng lại trong một tháng trước khi có “sự tiến bộ đáng kể” ở Ramu NiCo để thuyết phục chính phủ cho phép công việc xây dựng tiếp tục. Cuộc tranh chấp làm phát sinh bùng nổ khác xảy ra năm ngoái khi những người dân địa phương trang bị súng cao su làm bị thương trầm trọng ba công nhân người Trung Quốc do người dân P.N.G. cho rằng có sự phân biệt chủng tộc tại nơi làm việc: mọi thứ, từ thức ăn, nhà vệ sinh cho tới lương bổng và chỗ ở, họ viện dẫn rằng đã kém xa những người công nhân Trung Quốc. “Người Trung Quốc nghĩ rằng chúng tôi là súc vật,” một người thợ hàn tên là Nenge nói, người này đã từ chối cho biết đầy đủ họ tên để khỏi bị đuổi việc. “Không có ngày nghỉ, đôi khi nhận cá đóng hộp thay tiền trả phụ trội, nhà vệ sinh thì bẩn thỉu với mùi xú uế. Làm thế nào họ có thể tôn trọng chính mình khi đối xử với chúng tôi tệ như thế”?

Lao động là vấn đề phức tạp do những quan ngại về môi trường được các học giả quốc tế lên tiếng. Viện Chính sách Khoáng sản Mỏ có trụ sở ở Úc tin rằng sự bảo đảm của Ramu NiCo về việc xử lý chất thải từ khai thác mỏ ở Vịnh Basamuk không gây ngộ độc cho vùng nước có nhiều cá dựa trên dữ liệu “rạn nứt chết người”. (Các công ty khác của Trung Quốc đã bị cáo buộc nhập khẩu trái phép một số lượng gỗ rất lớn từ những khu rừng bị thu hẹp ở P.N.G, trong khi Bắc Kinh cố gắng bảo vệ rừng thiên nhiên của họ bằng cách thẳng tay trừng trị việc đốn gỗ lậu ở nhà.) “Với những nước khác, chúng tôi cố gắng làm cho các công ty nước ngoài chịu trách nhiệm bằng cách vận động các cổ đông hoặc nâng cao nhận thức công chúng ở quốc gia đó,” Matilda Koma, người làm chủ công ty sinh thái có tên là Trung tâm Phát triển Môi trường và Nghiên cứu ở Port Moresby cho hay. “Nhưng với Trung Quốc, nhà nước và công ty đều như nhau và công luận không có tiếng nói – thế chúng tôi có thể khiếu nại ai đây?

Cố gắng chơi trò chơi

Để giữ uy tín của mình, Ramu Nico đã làm được nhiều hơn mức trung bình một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc làm để thay đổi hình ảnh và để được sự chấp nhận của cộng đồng. Không giống như hầu hết các công ty Trung Quốc khác, công ty này đã đáp ứng kịp thời các chất vấn của báo chí quốc tế và đã xuất bản một báo cáo dự án phát triển bền vững toàn diện. Ramu NiCo có một website sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh để trao đổi qua lại về các câu nói thông dụng thích hợp cho một công ty thuộc Forturne 500: phát triển bền vững, lợi ích cạnh tranh, tiềm lực trao đổi văn hoá. Các trụ sở chính của Ramu NiCo được bọc kính ở khu phố Madang, nơi tốc độ cuộc sống nhanh nhất được thiết lập bởi một đám người láu cá, khoác lác về nguồn nhân lực và các ban về an toàn và sức khoẻ. (Với bốn tầng, đây là toà nhà cao nhất trong khu phố). Ramu NiCo đã xây nhiều trường học và các trung tâm y tế ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi hầm mỏ và gửi các kỹ sư P.N.G. tham dự các khoá huấn luyện ở Trung Quốc. Đáng ghi nhận cho một công ty thuộc sở hữu chính thức của nhà nước cộng sản vô thần Trung Quốc, Ramu NiCo cũng đã tài trợ cho các hoạt động ở nhà thờ.

Đáng chú ý nhất là công ty đã đồng ý bỏ ra 2,5% cổ phần mỏ cho một nhóm chủ đất địa phương, mặc dù nhiều người khác nói rằng họ đã bị đưa ra khỏi thoả thuận. “Đối với Trung Quốc và những người Papua New Guinea, những người đến từ các nền văn hoá khác nhau, là lẽ tự nhiên phải mất một thời gian để chúng tôi thật sự hiểu nhau và đôi khi không dễ dàng chút nào,” ông Wu Xuefeng, Phó Tổng Quản đốc Ramu NiCo nói. “Đề nghị của chúng tôi là để khắc phục những khó khăn thử thách này là đưa nó vào khuôn khổ sự phát triển một cách bền vững trên phương diện tổng thể, và chúng tôi rất vui mừng khi chúng tổi đã cải thiện trên bước đường đi tới và sự liên kết của chúng tôi với cộng đồng cũng đã vững mạnh”. Wu cũng ghi nhận rằng những trở ngại mà công ty của ông phải đối mặt là “đa số cùng loại với hầu hết các công ty khai thác mỏ quốc tế khác gặp phải ở P.N.G.”

Nhưng phòng học mới và quyền sở hữu cổ phần nhỏ không thể giải quyết hết vấn đề bồi thường đất đai hoặc điểm quan trọng khác của mối bất đồng: thực tế là có quá nhiều người Trung Quốc đã tới P.N.G., nhiều trường hợp bất hợp pháp. Tháng 11 vừa qua, ở một điểm ngoại giao của Trung Quốc – P.N.G., cảnh sát đã bố ráp các khu xây dựng ở Basamuk và Ramu, và đã bắt giữ 223 người Trung Quốc vi phạm luật nhập cư. Các công nhân nước ngoài, đã được tìm thấy đến đất nước này bằng visa cấm làm việc. Ngược lại, Ramu Nico than phiền rằng chính quyền quan liêu nên rất chậm chạp, để có được giấy tờ hợp lệ phải mất hàng năm cho nên họ buộc lòng phải phá luật. Nhưng có những sự vi phạm luật khác. Luật lệ địa phương quy định rõ rằng người nước ngoài chỉ có thể làm những công việc mà người dân địa phương không thể làm được và rằng những người này phải có khả năng nói tiếng Anh hoặc tiếng bồi. Hầu hết công nhân Trung Quốc không thể nói nổi một từ nào của một trong 2 loại ngôn ngữ này.

Tuy nhiên, chính phủ P.N.G. không muốn gặp rủi ro trong việc đầu tư lớn như thế. Một thoả hiệp đã đạt được, một phần đòi hỏi người Trung Quốc làm việc ở hầm mỏ tham dự các lớp tiếng Anh. Vẫn chưa có người Trung Quốc nào ở Ramu hay Basamu mà tôi nói chuyện nói rằng họ đã từng tham dự bất kỳ khoá học ngôn ngữ này. Hơn nữa, mặc dù có sự bảo đảm rằng người Trung Quốc làm việc ở công trình chỉ là kỹ sư hoặc các chuyên gia khác, tôi thấy người Trung Quốc quét dọn rác ở công trình xây dựng và làm những việc lao động phổ thông khác, chắc chắn rằng người dân địa phương có thể làm được.

Sự không nhất quán giữa chính sách nhập cư của quốc gia và thực tế ở địa phương, Bộ Lao động và Quan hệ Công nghiệp của P.N.G. đều nhận biết. Trợ lý thư ký Nadile thẳng thắn nói với tôi rằng, cô nghi ngờ hầu hết những người Trung Quốc nhập cư đã làm như vậy mà không có visa cần thiết và giấy phép làm việc. Hôm nay, tại các thành phố lớn khắp P.N.G., đại đa số các quá bar gọi là kai, hoặc nhà hàng bán thức ăn nhanh được điều hành bởi những người nhập cư Trung Quốc đến trong thời gian gần đây, hầu như tất cả các cửa hàng tạp hoá cũng đều như thế. Nhưng cũng có vài người Trung Quốc đã điều chỉnh lại giấy tờ để làm chủ các cửa hiệu như thế. Tôi hỏi Nadile nếu cô có thể nói với tôi một nơi gần đây mà cô nghi ngờ điều hành bất hợp pháp, cô dẫn tôi tới một cửa sổ văn phòng nhìn qua Port Moresby và chỉ vào hai cái KAI bar toạ lạc ở nơi chỉ mất khoảng vài phút đi bộ từ văn phòng Chính phủ: đó là bar Rickshaw và Noodle Shop.

Sau đó tôi đi đến Rickshaw và gặp người chủ lịch sự tên Liu Lianghua. Câu chuyện mà ông ta kể giống như những câu chuyện trong tranh biếm hoạ về người di dân Trung Quốc. Những người anh em rể của ông ta đã đến P.N.G cách nay một thập niên bởi vì họ có gia đình định cư ở đây từ trước. Cuối cùng thì Liu cũng đi theo gia đình mình. Nhiều bà con khác đã đi theo họ sau đó. Hơn 12 thành viên của gia đình Liu bây giờ đang sống ở P.N.G. Một building ở dưới khu phố mà Rickshaw toạ lạc cũng có cửa hiệu quần áo, một cửa hàng bán đồ tạp hoá, một bar dành chơi game và một nhà hàng, tất cả đều do người Trung Quốc điều hành. Khi tôi hỏi về visa, ông ta cười và nói rằng chuyện di trú không phải là vấn đề ở Papua New Guinea. “Những người dân địa phương không biết làm thương mại, và chính phủ biết điều đó,” ông Liu nói. “Nếu người dân địa phương kiếm được tiền, họ sẽ mua rượu ngay lập tức. Người Trung Quốc không đến đây để tận hưởng cuộc sống. Chúng tôi đến chỉ để kiếm tiền.”

Những người cùng phe xa lạ

Ít nhất tại Papua New Guinea, những công dân bình thường có thể biểu thị thái độ e dè của họ về việc đầu tư của Trung Quốc. Thế nhưng tại nhiều quốc gia nơi mà Trung Quốc đã thực hiện những cuộc cướp phá lớn nhất của mình qua buôn bán kinh doanh, thái độ bất đồng một cách dân chủ như vậy bị đè bẹp bởi những chính phủ hà khắc vốn đang chiếm giữ được phần lớn nhất trong các lợi ích đầu tư. Thậm chí, những căng thẳng có thể sôi sục theo những cách đáng ngạc nhiên. Vào tháng bảy, một phe Al-Qaeda ở Bắc Phi thề tấn công vào những người nhập cư Trung Quốc sống ở đó để trả thù cho chuyện xung đột sắc tộc mới xảy ra trong khu vực của người Hồi giáo Tân cương. Tháng sau, một cuộc bạo loạn chống lại các thương gia Trung Quốc nổ ra ở thủ đô nước An-giê-ri nơi cư dân ở đó cáo buộc người nước ngoài không tôn trọng đạo Hồi. Năm ngoái, chín công nhân dầu khí Trung Quốc sống gần khu vực Darfur, Sudan đã bị bắt cóc bởi một nhóm không rõ. Năm người sau đó đã bị giết. Một lệnh cấm vận thương mại quốc tế vì những tội ác diệt chủng ở Darfur ngăn hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đến Sudan, nhưng Trung Quốc xài hơn 60% lượng dầu của Sudan. Đối với một chính quyền quan tâm đến việc tách rời giữa kinh tế với chính trị, Bắc Kinh đã nhận thấy rằng hai [lĩnh vực] này có sự dính kết vào nhau. Trung Quốc cũng học được rằng họ không thể che đậy các vụ bê bối chính trị dễ dàng như là họ kềm chặt thông tin ở quê nhà. Ví dụ như ở P.N.G., báo chí địa phương loan tin rộng rãi về một điều tra của chính phủ liên quan đến những phàn nàn rằng các quan chức tham nhũng ở địa phương cho phép di dân Trung Quốc mua hộ chiếu. Trong tháng năm, Thủ tướng Chính phủ Somare đã đi xa hơn khi ám chỉ sở di trú với bình luận rằng “Chúng tôi biết có vài người nói ‘Anh cho tôi một két bia 6 chai, tôi sẽ cho anh hộ chiếu’”.

Một trường hợp thậm chí còn nhạy cảm hơn đã xảy ra trong tháng Bảy. Các công tố viên Namibia đang buộc tội những người đại diện có liên hệ với một nhà sản xuất máy kiểm soát an ninh thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc với việc đã hối lộ các quan chức địa phương để thắng thầu một hợp đồng trị giá 55 triệu đô la năm 2008. Cho tới năm ngoái, người đứng đầu công ty này, có tên là Nuctech, không ai khác là Hu Haifeng, là con trai của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Mặc dù anh chàng họ Hồ này đã không công khai dính líu vào vụ việc, song các hệ thống kiểm duyệt của Trung Quốc cũng đã vội vã dập tắt những bài phóng sự báo chí về cuộc khám xét tại Trung Quốc. (Ngoài ra, các quan chức E.U. cũng đang điều tra xem liệu hãng Nutech có dính líu gì tới những hoạt động phi pháp tại Âu châu hay không.)

Tuy nhiên, đối với tất cả những tranh cãi vây quanh dòng tiền Trung Quốc chảy vào Phi châu, Mỹ Latin và Á châu, sự thật là đa số đông đảo những người Trung Quốc làm việc ở nước ngoài đang trở về quê hương không phải là giàu có. Khi lái xe tới khu mỏ Ramu, tôi dừng xe tại một vị trí có tầm nhìn không hợp lý: tương phản với một nơi có những khu rừng với những cơn mưa nhiệt đới, một người đàn ông Trung Quốc đơn độc đã dựng lên một mảnh bìa cứng để ngồi trông nom một toán công nhân người địa phương đang vật lộn dưới ánh mặt trời để bọc một đoạn đường ống bằng băng cách điện. Có một thứ gì đó đượm vẻ phong kiến trong quang cảnh này, song cuộc sống của Chen Ming, người đốc công sinh ở tỉnh Tứ Xuyên, ở miền thôn quê còn rất cực nhọc. Anh đã tới P.N.G. được 18 tháng, làm việc mỗi tuần bảy ngày, tuy nhiên anh không thấy có gì đặc biệt trong những ngày nghỉ “bởi vì ở đây chẳng có gì mà làm cả.” Vào thời điểm hoàn thành việc trả tiền vì những suy diễn lớn lao của mình cho căn phòng và tiền cơm tháng, anh đã kiếm được ít hơn những gì anh muốn cho một công việc tượng tự ở quê nhà. Song những người thất nghiệp đang nhiều thêm tại Trung Quốc, và Chen đã phải vật lộn trong nhiều tháng để tìm được công việc thay thế tại quê nhà. “Nó không phải là một nghề hay, nhưng tôi có thể làm công việc nào khác được?” anh hỏi, phe phẩy quạt bằng mảnh bìa cứng. “Tôi phải ăn và gửi tiền về nhà.” Đối với Chen và những công nhân khác – người Trung Quốc cũng như người P.N.G. – lao động cực nhọc tận sâu trong những khu rừng rậm, tất cả những gì họ đòi hỏi chỉ là được sống sót. Nhưng những công ty lớn của Trung Quốc, và các chính quyền địa phương mà họ ủng hộ – họ mong đợi không gì ít hơn, dường như là những vận may sẽ thay hình đổi dạng thế giới này.

(Cám ơn độc giả NT đã phụ BS hoàn thành bản dịch này)


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , | 3 phản hồi »

340. Những thỏa thuận ở Phi châu của Trung Quốc dấy lên những quan ngại về đạo lý

Đăng bởi anhbasam on 26/10/2009

The New Zealand Herald

Những thỏa thuận ở Phi châu

của Trung Quốc dấy lên

những quan ngại về đạo lý

Thứ Hai, ngày 26-10-2009


Bắc Kinh – Một thỏa thuận khai mỏ trị giá 7 tỉ mỹ kim giữa chính thể  quân sự hà khắc của Guinea và một công ty Trung Quốc ít tên tuổi đã nhấn mạnh tới cuộc tấn công ồ ạt hết tốc lực của Trung Quốc vào châu Phi và thái độ sốt sắng của nước này sẵn sàng giao du với những chính phủ tàn bạo và tham nhũng.

Bản thỏa thuận đã được công bố vào tuần trước bởi hội đồng quân sự cách mạng của đất nước Tây Phi này mời chào công ty China International Fund tham gia vào việc khai thác bauxite và các mỏ khai khoáng khác của Guinea và có thể cung cấp những khoản lợi tức lớn cho một chính phủ đang phải đối mặt với tình trạng bị cô lập trên trường quốc tế. Binh lính Guinea đã nổ súng vào những người biểu tình vào cuối tháng trước, giết hại tới 157 người, và hãm hiếp phụ nữ trước mặt công chúng.

Các nhóm nhân quyền đã công khai chỉ trích hiệp ước này. Chính phủ Trung Quốc đã từ chối xác nhận bản thỏa thuận hoặc trả lời những câu hỏi liên quan, và công ty của họ cũng đã từ chối đưa ra lời bình luận.

Bằng nhiều phương cách, thỏa thuận ở Guinea phản ánh những thủ đoạn kinh doanh của Trung Quốc được thiết lập ở Phi châu, tiêu biểu cho những hoạt động đầu tư to lớn tại một lục địa vẫn còn nghèo khó song lại giữ kín và thường là hiếm khi tôn trọng tới nhân quyền và các quyền lợi cho người lao động.

Những người biện hộ cho Trung Quốc chỉ ra rằng các nhà đầu tư khác từ phương Tây, Nhật Bản, Ấn Độ và những nơi khác cũng là những đối tác kinh tế lớn với các chính phủ Phi châu thiếu dân chủ.

Tại Guinea, tập đoàn Alcoa của Hoa Kỳ và Rio Tinto của Anh-Úc đã là những tay chơi lớn trong kinh doanh bauxite. Hơn thế, Trung Quốc đã cung cấp viện trợ, các khoản vay, hoặc đầu tư vào hơn 17 quốc gia Phi châu, mà một vài nước trong đó có những chính quyền dân chủ.

Thế nhưng mưu đồ của Trung Quốc đã làm dấy lên những nghi vấn về việc liệu các khoản tiền lớn có cản trở sự tiến bộ về nhân quyền và việc cai trị tốt ở châu Phi hay không, trong lúc đó chúng lại giúp nâng cao mức sống và nhét đầy hầu bao cho một vài người. Trung Quốc đã đem đến những món tiền kếch xù để mua chuộc và dối gạt những hệ thống cai trị ví như ở nước Nigeria và Sudan giàu dầu lửa, bị phê phán nhiều về những hành động bất lương tại khu vực Darfur. Ví dụ, Trung Quốc có một thỏa thuận 9 tỉ mỹ kim gây nhiều tranh cãi với nước Congo luôn bị rối loạn vì bạo lực.

“Có những mối xúc cảm lẫn lộn rõ ràng liên quan tới các mối quan hệ Trung Quốc-Phi châu,” theo nhận xét của bà Kellie Jane Whitlock, thuộc tạp chí Corporate Africa của Nam Phi.

Không giống như các công ty đến từ phương Tây đang bị tấn công bởi tình trạng suy thoái, “các công ty của Trung Quốc vẫn tăng trưởng và đang tìm cách đầu tư nhiều hơn nữa vào châu Phi,” bà cho biết. Người Trung Quốc “khá là lưu tâm chăm sóc hoạt động đầu tư và gây dựng đầu tư của mình. Họ tỏ ra đáng gờm về đầu tư tại Phi châu.”

Thái độ chăm chú theo dõi và những cảm xúc lẫn lộn đang tăng lên ở Châu Phi khi các thỏa thuận của Trung Quốc tăng lên 10 lần kể từ năm 2001, vượt qua dấu mốc 100 tỷ đô la cuối năm ngoái. Những con số ước tính về đầu tư của Trung Quốc ở khu vực Châu Phi gia tăng từ 6 tỷ đô la khi Trung Quốc tranh thủ làm chủ các mỏ dầu, khí đốt, và các nguồn tài nguyên quan trọng cho nền kinh tế đói tài nguyên của mình. Ước tính tổng số cho vay, đầu tư, và viện trợ – thường rất khó phân biệt [các nguồn vay này] với nhau – khoảng gần 50 tỷ đô la.


Quỹ Quốc tế Trung Quốc đăng ký ở Hồng Kông đã có thoả thuận lớn với một chính phủ thiếu dân chủ khác ở châu Phi: Angola. Một công ty được biết đến có tên là CIF, là công ty xây dựng nhà cửa, đường cao tốc và sân bay thủ đô tại Angola, công ty này là một trong những nhà cung cấp dầu mỏ hàng đầu của Trung Quốc.

CIF là một công ty tư nhân mặc dù sở hữu thật sự của nó không rõ ràng.

Chỉ mới nhảy vào tham gia những thoả thuận này, song công ty đã có thể hy vọng tiếp cận được những quan chức hàng đầu của Angola và một mạng lưới phức tạp các hợp đồng với những ngành công nghiệp và các công ty được nhà nước Trung Quốc hậu thuẫn, đặc biệt là Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu Trung Quốc, nơi tài trợ cho nhiều kế hoạch đầu tư lớn ở nước ngoài. Các giám đốc CIF cũng được cho là có những mối gắn kết với quân đội và các lực lượng an ninh Trung Quốc, thúc đẩy mối quan hệ của họ với ban lãnh đạo của đất nước cộng sản này.

Không rõ liệu có phải trước khi xảy ra cuộc đảo chính tháng mười hai [năm ngoái] để đưa đại uý Moussa Dadis Camara lên nắm quyền thì CIF  đang tiến hành một thoả thuận hay không. Gần đây, chuyên gia cố vấn người Anh Chatham House báo cáo rằng CIF đã và đang thực hiện một kế hoạch đầu tư 1.6 tỷ mỹ kim cho nước này bao gồm các cơ sở hạ tầng rộng lớn, nhà ở, khai thác khoáng sản, giao thông vận tải, du lịch, và sản xuất lương thực thực phẩm.

Đổi lại, công ty [CIF] trên lý thuyết được phép khai thác các nguồn khoáng sản bauxite dồi dào của Guinea, nguyên liệu thô dùng để sản xuất nhôm, cùng với kim cương và vàng. Bộ trưởng Bộ Địa chất Mahmound Thiam nói rằng công ty Trung Quốc sẽ là đối tác chiến lược trong tất cả các dự án khai thác mỏ.

Ông cũng nói rằng, các nhà máy điện mới thiết lập, các tuyến đường sắt, và các chuyến bay vận tải hàng không quốc tế và trong nước là một phần trong thỏa thuận này.

Thành lập năm 2003, CIF thể hiện như là một trong những kết nối táo bạo và tốt đẹp nhất của các nhà đầu tư Trung Quốc ở Châu Phi.

Việc đăng ký kinh doanh tại Hong Kong của công ty này cho thấy nó được sở hữu 99% bởi Công ty TNHH Phát triển Quốc tế Đại Uyên, các chuyên viên phân tích Chatham House xác định đó là công ty mẹ của Công ty Cổ phần Dầu mỏ Trung Quốc Angola, xuất khẩu dầu mỏ Angola tới Trung Quốc.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , | 10 phản hồi »

306. Trang web của đảng ở Việt Nam bị phạt

Đăng bởi hoangtran204 on 23/09/2009

The Straits Times

Trang web của đảng ở Việt Nam bị phạt

Hãng thông tin Mỹ Associated Press [AP]

Ngày 23-9-2009


HÀ NỘI – Các giới chức đã phạt tổng biên tập trang Web chính thức của Đảng Cộng sản do đã cho đăng một bài báo có vẻ như xác nhận lập trường của Trung Quốc tại một vùng lãnh thổ nhạy cảm đang gây tranh cãi, khuấy động nên những cảm xúc dân tộc chủ nghĩa tại Việt Nam.

Mẩu tin này, xuất hiện trên trang Web vào ngày 4 tháng Chín, đã mô tả một cuộc thao diễn quân sự của Trung Quốc trên vùng Quần đảo Hoàng Sa ở Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]. Bản tin đã trích dẫn lời một sĩ quan Trung Quốc nói rằng mục đích của nhiệm vụ là nhằm “bảo vệ vùng biên giới biển phía nam của tổ quốc.”

Tổng biên tập Đào Duy Quát đã bị phạt 30 triệu đồng do đã cho đăng lại bài báo vốn xuất hiện ban đầu trên một nhật báo Trung Quốc, ông Nguyễn Văn Hùng, chánh thanh tra của Bộ Thông tin và Truyền thông cho hay.

Ông Hùng nói là ông Quát đã vi phạm một nghị định của chính phủ cấm cho đăng tải những thông tin không có căn cứ.

Vị tổng biên tập này đã không sẵn lòng bình luận vào ngày hôm nay thứ Tư.

Câu chuyện này đã mở bung ra một làn sóng phản đối trong cộng đồng blogger đang sinh sôi nảy nở mạnh mẽ ở Việt Nam. “Chỉ có những người mù không nhìn thấy mối nguy hiểm đến thế nào khi bài báo như vậy được đăng lên trên trang báo điện tử của Đảng,” blogger và là nhà văn Nguyễn Quang Lập đã viết như vậy.

Trang Web của đảng đã cho đăng một lời xin lỗi, nói rằng bài báo là một “sai lầm, đã gây nên những hậu quả đáng tiếc và tạo ra bức xúc trong các bạn đọc.”

Những hòn đảo hầu như không có người ở trên vùng Biển Đông, được yêu sách chủ quyền bởi cả Việt Nam và Trung Quốc, nằm án ngữ ngay tại các tuyến đường vận tải biển đông đúc và được cho là có trữ lượng dầu và khí gas lớn.

Nhiều người Việt Nam có mối nghi ngại sâu sắc đối với những tham vọng về lãnh thổ và nguồn tài nguyên thiên nhiên của gã hàng xóm khổng lồ phương bắc của mình.

Việc dính líu của Trung Quốc vào một khu mỏ bauxite tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam cũng đã thúc đẩy mối quan ngại lan rộng trong giới blogger Việt Nam, do nước này cũng có mối tranh chấp lãnh thổ khác với Trung Quốc trên Quần đảo Trường Sa.

Mới đây, hai blogger Việt Nam và một nhà báo thuộc báo mạng đã bị cầm giữ do đã cho đăng tải các bài viết trên blog phê phán việc xử lý các mối quan hệ với Trung Quốc của chính phủ.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


Ghi chú: để giảm bớt độ dài và lưu lượng bài dịch, phần tiếng Anh gốc không được đưa lên. Bà con nào cần tham khảo xin bấm vô dòng ngày tháng năm ở đầu bài.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Blog/Báo, Bô-xít Tây Nguyên, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | 6 phản hồi »

301. Trung Quốc và Alumin ở Mekong

Đăng bởi anhbahoa on 18/09/2009

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Trung Quốc và nguồn nguyên liệu

Alumin ở khu vực Mekong

Thứ Hai, ngày 14-9-2009


Quỹ Heinrich Boll Stiftung phối hợp cùng với Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) và Viện quốc tế về phát triển bền vững (IISD) vừa công bố báo cáo tựa đề: “Tìm kiếm alumin: Vai trò của Trung Quốc ở khu vực Mekong”. Sau đây là những nội dung chính của báo cáo.

Trong cơn khát tài nguyên đáp ứng nhu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế, Trung Quốc không ngừng gia tăng đầu tư vào các dự án khai thác tài nguyên và khoáng sản. Nguồn tài nguyên trong nước không đáp ứng đủ buộc họ phải tìm kiếm và vươn tới các mỏ tài nguyên ở các quốc gia khác. Ba nước Đông Dương (Lào, Campuchia, Việt Nam), với trữ lượng bô-xít dồi dào và điều kiện thuận lợi về khoảng cách, được coi là nguồn cung đầy tiềm năng về nguyên liệu alumin dùng để sản xuất nhôm cho đất nước tỉ dân này.

Tận dụng thế lực về đầu tư

Trong bối cảnh suy giảm chung của nền kinh tế toàn cầu, Trung Quốc vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao 9% trong năm 2008 (mức thấp nhất kể từ 2008) và phát huy được thế mạnh dồi dào nguồn tiền mặt, trở thành quốc gia đầu tư và cho vay có thế lực. Tính riêng trong hai tháng đầu năm nay, lượng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc (cả hai khối nhà nước và tư nhân) là 16,3 tỉ USD. Nghành khai khoáng, trước còn hạn chế do chi phí cao, nay cũng góp phần quan trọng vào nền kinh tế. Trung Quốc đã tiếp sức cho nhiều công ty khai khoáng có nguy cơ phá sản ở khắp nơi thông qua các hợp đồng mua lại và sát nhập, tiến hành thu mua các mỏ tài nguyên của nhiều quốc gia, đồng thời vươn lên vị trí số một về nhập khẩu kim loại, trong đó đáng kể nhất là đồng, alumin, kẽm và nickel. Vai trò của Trung Quốc trên thị trường kim loại toàn cầu ngày càng được củng cố thông qua khả năng chi phối lượng cầu và giá. Các công ty khai khoáng của Trung Quốc đang tiếp cận một cách chiến lược các cơ hội về góp vốn đầu tư, mua lại các dự án khai khoáng và ký kết các hợp đồng dài hạn ở mức giá thỏa thuận trước với bên ngoài. Ở cấp vĩ mô, chính phủ khuyến khích việc thành lập các tập đoàn lớn. Xu hướng mở rộng khai khoáng hướng ngoại của Trung Quốc kéo dài trong suốt thập niên 1990 cho tới cuối năm 2008, khi nhu cầu tiêu thụ khoáng sản trong nước suy giảm đến mức chính phủ phải ra chỉ thị ngưng đầu tư ra nước ngoài, thu hẹp trọng tâm khai thác vào nguồn tài nguyên nội địa. Tuy nhiên, đầu năm nay, mặc dù nhu cầu nhập khẩu tài nguyên dài hạn vẫn đang thu hẹp, Trung Quốc đã nối lại đàm phán đầu tư vào các tập đoàn khai khoáng quốc tế như Rio Tinto và OZ Minerals. Trung Quốc đứng vào tốp dẫn đầu về sản lượng cũng như tiêu thụ nhôm, với sản lượng 19,46 triệu tấn nhôm (chiếm 25% thế giới) và tiêu thụ 26,12 triệu tấn nhôm (35% thế giới) trong năm 2007. Vì vậy ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thị trường có tính chi phối trực tiếp. Quặng bô-xít dùng để luyện alumin trong sản xuất nhôm, là một trong những khoáng sản quan trọng nhất xét  về giá trị kinh tế. Theo Ủy ban điều tra địa chất Mỹ, trữ lượng bô-xít của thế giới ước tính khoảng 55-75 tỉ tấn (quặng tinh), trong đó Nam Mỹ chiếm 33%, châu Phi 27%, châu Á 17%, châu Đại Dương 13% và các khu vực khác chiếm 10% còn lại. Với tốc độ khai thác như hiện nay,ước tính trữ lượng bô-xít chỉ có thể đáp ứng nhu cầu cho ngành sản xuất nhôm của thế giới trong vòng 170 năm nữa. Trong vài năm qua, nhu cầu nhập khẩu alumin của Trung Quốc gia tăng do cầu vượt cung. Dự báo trong vòng 10 năm nữa, với sự bùng phát của các ngành xây dựng, giao thông vận tải và công nghiệp bao bì của Trung Quốc, nhu cầu về nhôm và alumin (nguyên liệu để sản xuất nhôm, được tinh chế từ quặng bôxít) sẽ còn tăng mạnh. Trong ngành sản xuất nhôm, Tập đoàn Nhôm Trung Quốc (Chinalco) là đơn vị hàng đầu. Đây cũng là một tập đoàn vững mạnh về tài chính trong ngành khai khoáng. Năm 2008, Chinalco công bố kế hoạch đầu tư 19,5 tỉ USD vào Rio Tinto – một trong những tập đoàn khai khoáng lớn nhất thế giới. Chinalco cũng bành trướng ra toàn cầu thông qua việc mua lại các mỏ khai thác khoáng sản ở Australia, Canada và Peru. Bên cạnh đó, một số đơn vị lớn khác là Tập đoàn nhôm Chalco (thành lập năm 2001) và công ty Minmetals (thuộc nhà nước). Năm 2007, Chalco đã mua lại 7% cổ phiếu của tập đoàn Alcoa của Mỹ, còn Minmetals đang mua lại OZ Minerals (một công ty khai thác vàng và đồng ở Lào) với giá khoảng 1,2 tỉ USD.

Chiến lược khai thác láng giềng

Trong cơn khát nguyên liệu cho ngành nhôm, Trung Quốc nhìn thấy tiềm năng lớn ngay ở láng giềng của mình là ba nước Đông Dương. Cả ba nước Lào, Việt Nam và Campuchia đều có nguồn tài nguyên bôxít dồi dào, tuy nhiên, việc khai thác vẫn còn nhỏ lẻ và trì hoãn trong suốt một thời gian dài. Trong ba nước, Việt Nam có tiềm năng lớn nhất về tài nguyên bôxít, ước tính khoảng 5,4 tỉ tấn, 98% tập trung ở khu vực Tây Nguyên. Còn ở Lào, dựa trên giá trị của nhôm năm 2007, tài nguyên bôxít ở cao nguyên Bolaven phía nam Lào ước tính khoảng 3,2 tỉ USD. Bôxít của Campuchia có ở tỉnh Mondulkiri, ở vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, không có số liệu chính thức nào về ước tính giá trị của nguồn tài nguyên này. Mặc dù lựa chọn ba nước hạ lưu Mekong làm đối tác chiến lược đầu tư, song bản thân việc đánh giá được mức sản lượng cũng như nhu cầu tiêu thụ tiềm năng của Trung Quốc không hề dễ dàng. Trung Quốc mang đến cho đối tác của mình những gói đầu tư kèm theo hỗ trợ “mềm mỏng” và linh hoạt. Các nhà đầu tư Trung Quốc thúc đẩy việc nâng cấp cơ sở hạ tầng ở Nam Lào, thành lập liên doanh với các công ty của Australia và Lào. Họ cũng hứa sẽ vận động chính phủ cung cấp tín dụng ưu đãi cho Việt Nam để xây dựng tuyến đường sắt kéo dài từ Tây Nguyên ra biển, dành riêng cho việc vận chuyển bôxít. Ở Việt Nam, các công ty Trung Quốc liên quan chủ yếu tới quy trình kỹ thuật xây dựng để thiết lập các nhà máy tinh luyện alumin. Cho đến nay, trong ba nước Đông Dương, cũng mới chỉ Việt Nam đặt quan hệ hợp tác cấp cao trong vấn đề khai thác bôxít với Trung Quốc. Năm 2006, lãnh đạo hai nước đã ký kết bản ghi nhớ về hợp tác khai thác bôxít khu vực Tây Nguyên. Bản ghi nhớ này tập trung vào việc khai thác quặng bôxít và xây dựng nhà máy tinh luyện alumin với trị giá đầu tư 1,3 tỉ USD. Ở cả ba quốc gia, luật khoáng sản còn nhiều kẽ hở, chẳng hạn như thiếu các quy định rõ ràng về thuế và cơ chế chi trả thuê mỏ, hệ thống điều hành phức tạp. Một phần là do chính phủ các nước này thiếu kinh nghiệm quản lý đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khai khoáng. Việc quản lý tài nguyên vẫn do nhà nước nắm giữ, chưa có sự chuyển giao. Khu vực hạ lưu Kekong mang lại cho Trung Quốc cơ hội khai thác bôxít giá rẻ, gần về khoảng cách. Tuy nhiên, các điểm mỏ không phải dễ tiếp cận do điều kiện cơ sở hạ tầng nói chung còn yếu kém. Năng lượng ổn định là một trong những yêu cầu cốt yếu cho quy trình khép kín từ khai thác quặng bôxít đến sản xuất nhôm thành phẩm. Trong khi khai thác bôxít và sản xuất nhôm không tiêu tốn nhiều điện năng (chỉ khoảng 200-250 MW cho mỗi tấn nhôm) thì việc nung chảy alumin đòi hỏi tới 14.000 MW/tấn. Do Lào và Campuchia sẽ đẩy mạnh việc phát triển thủy điện trên các lưu vực sông để xuất khẩu điện sang các nước láng giềng nên khi Trung Quốc đặt các nhà máy tinh luyện alumin sẽ tận dụng được chi phí cơ hội. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra khi giá điện được bán ở mức 2,5-3,5 cent/kilowatt (100 cent = 1 USD), trong khi thực tế hiện nay Lào đang bán điện với giá 5-6 cent/kilowatt. Như vậy là không khả thi về mặt kinh tế. Một lựa chọn mà các công ty có thể theo đuổi là dừng ngay ở giai đoạn luyện alumin và bán trực tiếp. Tuy nhiên, alumin không hề dễ vận chuyển. Khai thác bôxít được cảnh báo có thể gây ra những tác động lớn tầm khu vực, bao gồm việc mất đi nguồn lợi thủy sản, thay đổi chế độ thủy văn của các con sông cũng như chất lượng nước, nguồn tài nguyên ảnh hưởng đến sinh kế của những người dân sinh sống trong vùng mỏ. Trong quá trình khai thác bôxít có thải các chất độc theo quy định phải được kiểm soát an toàn. Trường hợp khai thác bôxít ở Lào, khu vực gần Campuchia là một ví dụ. Đã có những mối quan ngại từ Campuchia về việc khai thác nguồn nước và chất thải công nghiệp do khai khoáng ở sông Mekong (thuộc lưu vực 3 con sống Sekong, Sesan và Srepok) có nguy cơ tác động tiêu cực cho vùng hạ lưu. Trong đó, bùng đỏ chiếm hàm lượng kiềm cao, lẫn tạp chất ô nhiễm là một trong những nhân tố chủ yếu đe dọa phá hủy nguồn nước mặt và nước ngầm. Nếu điều đó xảy ra sẽ ảnh hưởng đến hàng nghìn người dân địa phương.

Hướng đến khai thác bôxít bền vững hơn

Việt nam, Lào và ở một chừng mực nào đó cả Campuchia, đang phải đối mặt với một nhu cầu khai thác tài nguyên bôxít lớn chưa từng có, phần lớn để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế đang tăng trưởng của Trung Quốc. Bên cạnh những chính sách phát triển kinh tế, cả ba quốc gia đều đã có hệ thống văn bản pháp luật về môi trường và xã hội đối với lĩnh vực khai khoáng, chẳng hạn như quy định về đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, các quy định pháp luật này vẫn chưa được thực thi một cách đầy đủ. Cũng bởi ngành công nghiệp khai thác bôxít mới bắt đầu, chậm chí chưa tiến hành được khâu cơ bản là thăm dò, nên càng đặt ra nhu cầu cấp thiết hoàn thiện các quy định pháp luật về khai thác khoáng sản và củng cố năng lực để thực thi các chính sách. Bản thân các chính sách về môi trường và xã hội của Trung Quốc cũng ngày càng được siết chặt. Trung Quốc đang giữ vai trò đầu tàu trong việc giúp cho ngành công nghiệp khai thác hướng đến mục tiêu bền vững hơn. Khi các công ty Trung Quốc hướng ngoại để tìm kiếm cơ hội đầu tư, họ sẽ phải áp dụng luật pháp và quy định của nước sở tại. Tuy nhiên, ở những khía cạnh mà pháp luật những nước này lỏng lẻo hơn so với Trung Quốc, chính Trung Quốc có cơ hội để trở thành quốc gia đi đầu về đầu tư khai tác tài nguyên bôxít một cách thân thiện và bền vững. Điều này có thể đạt được bằng việc áp dụng và đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ, chẳng hạn như bộ Nguyên tắc Xích đạo (là một bộ hướng dẫn tự nguyện tham gia đối với các ngân hàng nhằm đảm bảo tính bền vững trong việc tài trợ các dự án dựa trên các tiêu chuẩn hoạt động của Tổ chức tài chính Quốc tế IFC) và Quy định của Hiệp hội quốc tế về khai khoáng và phát triển kim loại bền vững. Ngoài ra, Trung Quốc cần giám sát một cách sát sao các khoản đầu tư nước ngoài và thắt chặt các quy định về đầu tư. Mặc dù vậy, điều này không thể phụ thuộc vào việc Trung Quốc đơn phương thực hiện. Chính phủ Trung Quốc cần thiết lập quan hệ chiến lược với các quốc gia có công ty Trung Quốc hoạt động để hỗ trợ họ cải thiện các quy định chặt chẽ hơn và áp dụng thông lệ chung.

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc | Tagged: , | 4 phản hồi »

273. Nghịch lý Trung Hoa

Đăng bởi anhbasam on 20/08/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Nghịch lý Trung Hoa

Những thủ đoạn đe doạ của Bắc Kinh là một lời cảnh báo cho các quốc gia trên khắp thế giới

ANDREW SHEARERShearer

Ngày 18-8-2009

Hai bước diễn tiến vào hôm qua tại Úc đã nhấn mạnh thêm cho thứ nghịch lý đang tạo nên cơ sở cho mối quan hệ của nước này với Trung Quốc: Ngoại trưởng Úc Stephen Smith đã xác nhận rằng một chuyến viếng thăm đã được lên lịch trình của Phó Thủ tướng He Yafei đã bị hủy bỏ bởi chính phủ Trung Quốc, do quyết định của Canberra cấp chiếu khán nhập cảnh cho nhà lãnh đạo Duy Ngô Nhĩ lưu vong Rebiya Kadeer. Cũng hôm qua, loan báo về một thỏa thuận khí gas tự nhiên hóa lỏng trị giá 41 tỉ USD đã tái xác nhận tầm quan trọng về kinh tế của Trung Quốc đối với Úc và nhu cầu vô độ của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên và năng lượng của Úc.

Tình trạng khó xử là thế này: Các quốc gia tự do càng gần gũi cuốn hút với Trung Quốc, thì mối va chạm xích mích tiềm tàng với các lợi ích của Đảng Cộng sản lại càng to lớn hơn. Các đối tác của Úc tại châu Á và ở những nơi xa xôi khác cần lưu tâm tới những bài học mà Canberra đang học này.

Căn cứ vào một mức độ thể hiện ra bên ngoài, Bắc Kinh tỏ ra không vui vẻ với những gì mà họ coi như là một loạt những cú đòn có tính toán của Úc giáng vào các quyền lợi của Trung Quốc. Thứ nhất, Canberra đã có cử chỉ táo bạo cho công bố một bản kế hoạch phòng thủ gây nên nghi vấn về mục đích phía sau của động thái xây dựng nhanh chóng lực lượng hải quân của Trung Quốc và đã cam kết rằng nước Úc sẽ củng cố các tiềm lực hải quân của riêng mình. Tiếp đó vào tháng Sáu đã xảy ra vụ sụp đổ kế hoạch của tập đoàn sở hữu nhà nước Chinalco * nhằm giành được một khoản góp vốn lớn vào hãng Rio Tinto – mặc dù là suy cho cùng thì vụ ngăn chặn này không phải là do phía chính phủ Úc mà là do sự lo lắng từ phía các cổ đông hợp pháp **. Giọt nước tràn ly có vẻ là quyết định của Canberra đưa ra vào tháng Bảy cấp một chiến khán nhập cảnh cho bà Kadeer. Các nhà ngoại giao vụng về của Trung Quốc đã biến bà trở thành con người nổi tiếng đại nghĩa ở Úc bằng việc chống lại các nhà tổ chức trong một nỗ lực vô ích nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của bà tại một liên hoan phim quốc tế ở Melbourne và tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc tế.

Thế nhưng lý do cơ bản hơn cho thái độ oán hận của Bắc Kinh có lẽ nằm ở chỗ khác. Trung Quốc tin cậy vào việc nhập khẩu quặng sắt của Úc, các cuộc thương thảo về vấn đề giá cả đang là thứ trở nên ngày càng chua chát. Các nhà lãnh đạo chính trị của Trung Quốc coi việc đảm bảo cơ hội có được những nguồn nguyên liệu thô giá rẻ như là vấn đề sống còn để hòng duy trì sự tăng trưởng và vì thế mà thoả mãn được tính hợp pháp về chính trị và sự tồn tại của chính họ. Họ kiên quyết lợi dụng sức mạnh trong mua bán của Trung Quốc để tránh việc phải thanh toán với mức giá trị trường đang leo thang. Và rõ ràng là họ không vượt ra ngoài một hành động có chút ít đe doạ. Các quốc gia châu Á nhỏ bé hơn ví dụ như Singapore và các cường quốc Âu châu lớn hơn như Pháp đã phải trả một cái giá do phải gánh chịu thái độ tức giận của Bắc Kinh.

Hành động bắt nạt của Trung Quốc cũng đang có những hiệu ứng rõ ràng tại Úc. Giá cổ phiếu của Rio Tinto đã sút giảm 3% khi công ty này bị các phương tiện truyền thông Trung Quốc cáo buộc hoạt động gián điệp thương mại ***. Nhiều người trong cộng đồng kinh doanh của Úc đã tỏ ra lo lắng, trong một số trường hợp đã đình hoãn các kế hoạch du lịch tới Trung Quốc tiếp theo sau vụ bắt giữ Stern Hu, một ủy viên hội đồng quản trị của Rio Tinto. Những người ủng hộ Trung Quốc qua phương tiện truyền thông và cộng đồng doanh nghiệp đang thúc giục giành quyền ưu tiên cho thỏa ước đầu hàng. Hôm thứ Hai, một công ty khai mỏ lớn khác của Úc, Tập đoàn Fortescue Metals Group, đã thỏa thuận bán rẻ theo giá mà Rio Tinto đã chào cho quặng sắt để đổi lại việc Trung Quốc cấp vốn 6 tỉ USD cho cơ sở hạ tầng với giá thấp. Hiệp hội Sắt&Thép Trung Quốc với thái độ hùng hổ đã không phải mất thời gian loan báo sẽ sử dụng giá đã thỏa thuận với Fortescue như là đòn bẩy trong những thương thảo với ba nhà cung cấp quặng sắt lớn nhất thế giới. Hôm qua PetroChina, một công ty khác nữa của nhà nước, đã thỏa thuận mua khoảng 41 tỉ USD khí gas tự nhiên đã hóa lỏng từ một dự án của Úc.

Điều này đang cám dỗ đối với Úc và các quốc gia châu Á khác nhằm hạ thấp tính chất quan trọng của các hành động ngoại giao của Trung Quốc, phủ nhận việc những hành động này có liên hệ với nhau và đối xử với chúng như là những vụ rắc rối nhỏ mang tính song phương riêng rẽ. Nếu như những mối quan ngại của Bắc Kinh được giải quyết một cách êm ái đằng sau những cánh cửa được khép kín, thì có thể sẽ không còn phải nghi ngờ gì để xác minh tiếng tăm Thủ tướng Rudd tinh thông tiếng Trung Quốc nữa. Nó cũng sẽ trao cho Trung Quốc một chiến thắng chính trị ở trong nước.

Cú trở ngược đó sẽ khó mà đáp ứng được lợi ích lớn nhất của người Úc và trong khu vực trong dài hạn. Bản chất quả quyết kiểu con buôn của Trung Quốc, thái độ giận dữ khi nói thẳng về các kế hoạch quân sự của mình và những nỗ lực đàn áp những tiếng nói tự do thậm chí ở bên ngoài biên giới của riêng họ là thể hiện toàn bộ bức tranh. Chúng phản ánh trong một phần của sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc và sẵn sàng triển khai sức mạnh đó ở nơi nào mà Bắc Kinh cảm thấy các lợi ích của mình đang bị nguy hiểm – bất chấp những quy chuẩn quốc tế hay lợi ích của các nước khác. Thế nhưng chúng cũng là một thứ sản phẩm của các thể chế trong nước của Trung Quốc. Tính bí hiểm, sự kiểm soát của nhà nước và lạm dụng quyền lực một cách độc đoán, trong các lĩnh vực thương mại, quân sự hoặc ngoại giao, làm nổi bật lên không phải là sức mạnh của Trung Quốc mà là bản chất yếu ớt của hệ thống chính trị của nó và chứng hoang tưởng của các nhà lãnh đạo nước này.

Nước Úc cần giữ vững lý lẽ của mình khi đối mặt với những chiến thuật đe doạ của Bắc Kinh. Và tất thảy các nước trong khu vực cần chống lại những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm nhổ bật ra từng quốc gia riêng rẽ và khuất phục trước những nguyên tắc đã được thừa nhận để thỏa mãn các mục đích của riêng mình. Châu Á, bao gồm Trung Quốc, phát triển mạnh trong nửa thế kỷ qua như là kết quả của một trật tự kinh tế và chiến lược khu vực minh bạch. Không có lý do gì để giải thích vì sao Trung Quốc lại không tiếp tục vươn dậy bên trong khung cảnh thành công cao độ đó.

Thúc đẩy sự tham gia trong khu vực đối với các nguyên tắc đã được thiết lập – dù là trong thương mại, luật pháp, phép ứng xử ngoại giao hay vận chuyển trên biển – đều là phương cách tốt nhất cho các quốc gia nhỏ ở châu Á để bảo vệ cho các lợi ích và quyền tự trị của mình trong một khu vực sẽ bị coi thường bởi Trung Quốc và Ấn Độ đang vươn lên với tư cách như những cường quốc. Các chế độ dân chủ theo thị trường tự do hàng đầu của châu Á – Nhật Bản, Ấn Độ và Indonesia đang lớn dậy – có một thứ thậm chí là khoản đặt cược lớn hơn trong việc cùng tham gia ủng hộ các thị trường tự do cạnh tranh và bảo vệ các giá trị chung, bao gồm việc tôn trọng những quyền con người và quyền tự do phát biểu ý kiến. Những lời kêu gọi Trung Quốc ứng xử theo nguyên tắc cũng sẽ đáng tin cậy hơn nếu như các nền kinh tế phát tiển tránh có những nguyên tắc ứng xử khắt khe bằng việc không mắc phải sức cám dỗ của chủ nghĩa bảo hộ, dưới cả những dạng truyền thống lẫn hình thức “mềm” hợp thời hơn.

Các nền dân chủ của châu Á cũng cần phải cùng với Hoa Kỳ và Úc thảo luận những cách thức mà trong đó họ có thể tác động lên lối ứng xử của Trung Quốc. Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Gary Locke đã dẫn dắt phương pháp này khi ông đề xuất cách xử lý của ông Hồ Cẩm Đào với các giới chức Trung Quốc – không phải như một hành động ân huệ cho nước Úc, mà là vì chính quyền Obama đã nhận ra những ngụ ý trong tình thế của ông đối với các chính phủ và các công ty đang làm ăn với Trung Quốc bất chấp quốc tịch của họ.

Cho đến khi cách ứng xử của Bắc Kinh với các công dân của họ và các quốc gia khác giống như đã được hướng dẫn bằng sự minh bạch, tôn trọng và theo nguyên tắc luật pháp, thì các quốc gia khác sẽ có chút ít chọn lựa, song vẫn phải cùng phối hợp trong việc bảo vệ cả các giá trị và quyền lợi của mình.

Ông Shearer là giám đốc nghiên cứu và là thành viên nghiên cứu kỳ cựu của Viện Chính sách Quốc tế Lowy ở Australia.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Chinalco: cũng là doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đang làm ăn với Than Việt Nam TKV trong đại dự án bô-xít ở Tây Nguyên gây nhiều tranh cãi.

** Mời đọc thêm: 192.Hãng Úc từ chối cho Chinalco của TQ hùn vốn khai mỏ; 206.TQ đang học từ sự thất bại của Chinalco.

*** Xem: 228.Thua đau bauxite-Trung Quốc bắt người của đối thủ?


——————–

The China Paradox

Beijing’s intimidation tactics are a warning to countries everywhere.

By ANDREW SHEARER

  • AUGUST 18, 2009, 9:15 P.M. ET

Two developments yesterday in Australia underlined the paradox underlying its relationship with China: Australian Foreign Minister Stephen Smith confirmed that a scheduled visit by Vice Minister He Yafei had been cancelled by the Chinese government because of Canberra’s decision to grant a visa to exiled Uighur leader Rebiya Kadeer. Also yesterday, the announcement of a 50 billion Australian dollar ($41 billion) liquefied natural gas deal reaffirmed China’s economic importance to Australia and China’s insatiable need for Australian resources and energy.

The dilemma is this: The closer free nations draw to China, the greater the potential friction with Communist Party interests. Australia’s partners in Asia and beyond need to pay attention to the lessons Canberra is learning.

On a superficial level, Beijing is unhappy with what it sees as a series of calculated Australian blows to Chinese interests. First Canberra had the temerity to release a defense blueprint that questioned the intent behind China’s rapid naval build-up and committed Australia to strengthening its own maritime capabilities. Then in June came the collapse of state-owned Chinalco’s plan to acquire a major stake in Rio Tinto— even though it was eventually blocked not by the Australian government but by legitimate shareholder disquiet. The last straw seems to have been Canberra’s decision in July to issue a visa to Ms. Kadeer. Clumsy Chinese diplomats turned her into a cause célèbre in Australia by leaning on organizers in a futile effort to stop her appearances at an international film festival in Melbourne and at the National Press Club.

But the more fundamental reason for Beijing’s pique probably lies elsewhere. China relies on Australia for imports of iron ore, the price negotiations for which are increasingly acrimonious. China’s political leaders see guaranteed access to low-cost raw materials as vital to sustaining growth and therefore to political legitimacy and their own survival. That makes minerals and energy a vital strategic interest. They are determined to exploit China’s buying muscle to avoid paying the going market price. And they clearly aren’t beyond a bit of intimidation. Smaller Asian countries such as Singapore and larger European powers like France have paid a price for incurring Beijing’s wrath.

China’s bullying is having tangible effects in Australia too. Rio Tinto’s share price fell 3% when the company was accused in the Chinese media of commercial espionage. Many in Australia’s business community are nervous, in some cases cancelling plans to travel to China following the arrest of Stern Hu, a Rio Tinto executive. China-boosters in the media and business community are urging pre-emptive capitulation. On Monday, another major Australian mining company, Fortescue Metals Group, agreed to undercut Rio Tinto’s price offer for iron ore in return for $6 billion of cheap Chinese infrastructure funding. The aggressive China Iron & Steel Association lost no time in announcing it would use the price agreed with Fortescue as leverage in negotiations with the world’s three largest iron ore producers. Yesterday PetroChina, another state-owned company, agreed to buy around $50 billion Australian dolllars’ worth ($41 billion) of liquified natural gas from an Australian project.

It’s tempting for Australia and other Asian countries to downplay the seriousness of China’s diplomatic actions, to deny that they are connected and to treat them as isolated bilateral incidents. If Beijing’s concerns can be resolved quietly behind closed doors, this would no doubt be presented as vindication of Prime Minister Rudd’s vaunted China expertise. It would also hand China a domestic political victory.

Such backpedalling would hardly serve the best interest of Australia and the region in the long term. China’s assertive mercantilism, anger at straight talk about its military plans and attempts to quell free speech even outside its own borders are all of a piece. They reflect in part China’s growing power and preparedness to deploy it where Beijing feels its interests are being jeopardized — irrespective of international norms or the interests of others. But they are also a product of China’s domestic institutions. Secrecy, state control and arbitrary abuses of power, whether in the commercial, military or diplomatic realm, highlight not China’s strength but the fragility of its political system and the paranoia of its leaders.

Australia needs to hold its ground in the face of Beijing’s intimidation tactics. And the region as a whole needs to resist Beijing’s efforts to pick off individual countries and to bend the accepted rules to its own purposes. Asia, including China, has thrived for half a century as a result of an open, transparent regional economic and strategic order. There is no reason why China cannot continue to rise within that highly successful framework.

Promoting regional adherence to established rules— whether governing commerce, law, diplomatic conduct or navigation at sea—is the best way for Asia’s smaller states to protect their interests and autonomy in an era that will be defined by the simultaneous rise of China and India as great powers. Asia’s leading free-market democracies—Japan, India and increasingly Indonesia—have an even greater stake in working together in support of open markets and defense of shared values, including respect for human rights and the right of free speech. Calls for China to play by the rules are also more credible if developed economies avoid double standards by resisting the lure of protectionism, both in traditional or more fashionable “soft” forms.

Asia’s democracies should also get together with the United States and Australia to discuss ways in which they can influence China’s behavior. U.S. Commerce Secretary Gary Locke led the way when he raised Mr. Hu’s treatment with Chinese authorities —not as a favor to Australia, but because the Obama administration recognized the implications of his case for governments and companies doing business with China irrespective of their nationality.

Until Beijing’s treatment of its own citizens and other countries alike is guided by transparency, respect and the rule of law, other nations will have little choice but to work together in defense of both their values and their interests.

Mr. Shearer is director of studies and a senior research fellow at Australia’s Lowy Institute for International Policy.

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , | Leave a Comment »

272. Xung đột giữa công nhân Trung Quốc và dân bản địa Phi châu loang rộng

Đăng bởi hoangtran204 on 19/08/2009

Economist.com

Vươn ra xa và bị tù hãm

Ngày 11-8-2009

Từ trang Economisst Intelligence Unit ViewsWire

Một sự gia tăng trông thấy về tình trạng bạo lực chống lại những lao động Trung Quốc làm việc ở nước ngoài


Tiền bạc của Trung Quốc đang giúp lôi cuốn đầu tư vào hạ tầng cơ sở tại nhiều quốc gia đang phát triển, song sự trỗi dậy của làn sóng này cũng đã trở thành một cơ hội to lớn cho những dân nhập cư và lao động hải ngoại người Trung Quốc vốn vẫn chứng tỏ là kém được ưa chuộng. Trong khi số lượng các cuộc tấn công vào các công dân và tài sản của người Trung Quốc tăng lên, thì sức ép trong nước có lẽ cũng lớn dần đối với chính phủ Trung Quốc theo chiều hướng phải đáp trả một cách quyết đoán, ngấm ngầm làm suy yếu luận thuyết của nước này về việc không can thiệp vào các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền của quốc gia khác.

Trong mấy tháng trước người ta đã chứng kiến sự bộc phát khác nữa các hoạt động tụ tập gây rối chống lại người Trung Quốc tại một số nước mà những nhà quan sát tình cờ đã phải ngạc nhiên khi chứng kiến, thậm chí có cả những người Trung Quốc thiểu số. Tại Algeria vào tháng Tám, các va chạm đã bùng phát giữa người Trung Quốc và người dân địa phương tại thủ đô Algiers, làm cho một vài người dân bị thương và một số các cửa hàng của người Trung Quốc bị cướp phá. Các cửa hàng của người Trung Quốc quanh thủ đô đã phải đóng cửa do bạo lực tiếp diễn sau đó, và đã có những lời kêu gọi từ một số thương gia người Algeria đòi trục xuất người nhập cư Trung Quốc khỏi nước này. Khắp nơi trên đất nước Papua New Guinea thậm chí còn chứng kiến tình trạng bạo lực nguy hiểm hơn sau một cuộc nổi loạn chống lại người Trung Quốc, mà theo tin tức báo chí thì nó nổ ra vào tháng Năm và có liên quan tới hàng ngàn người. Ít nhất đã có một người bị giết và hoạt động kinh doanh do người Trung Quốc nắm giữ đã bị cướp phá tại vài thành phố (bao gồm thủ đô, Cảng Moresby) và các thị trấn trên khắp đất nước.

Hai cuộc bùng nổ ác liệt có thể được cho rằng mang tính bi kịch mà lại trùng khớp nhau. Tuy nhiên, trong ít năm qua đã chứng kiến nhiều cuộc đọ sức bạo lực tương tự đặc biệt nhắm vào các cộng đồng người Hoa sống ở hải ngoại. Vụ việc nghiêm trọng nhất đã xảy ra trên Quần đảo Solomon năm 2006, khi khu Phố Tàu tại thủ đô Honiara phải chịu thiệt hại lớn giữa những cuộc quậy phá đòi đuổi nhiều người trong số cư dân Trung Quốc thiểu số ở nước này. Những náo loạn này là tiếp theo sau một cuộc bầu cử với nhiều chính trị gia bị cáo buộc là đã nhận tiền hối lộ của các thương gia người Hoa từ Trung Quốc và Đài Loan cùng ganh đua để được quốc đảo này công nhận về ngoại giao. Cùng năm đó đã chứng kiến những vụ náo loạn bùng phát tại quốc đảo Tonga kế bên cũng nhắm vào các công ty và tài sản của người Trung Quốc – tình trạng bất ổn này xảy ra khi các nhóm tranh đấu cho dân chủ cáo buộc chính phủ đã thất bại trong các cải cách dân chủ tiến bộ, song nó đã nhanh chóng kích động những mục tiêu phụ là chống lại người nhập cư.

Phi châu đã chứng kiến những vụ nổi loạn tương tự vào năm 2006 ở thủ đô Lusaka của Zambia, tiếp theo sau sự thất bại trong bầu cử của ứng viên tổng thống phe đối lập, Michael Sata, người đã lãnh đạo một chiến dịch tranh cử tập trung mạnh vào những hệ quả tiêu cực của tình trạng gia tăng dính líu của Trung Quốc vào nền kinh tế trong nước. Zambia từ đó đã chứng kiến một tình trạng thường xuyên xảy ra tình cảm chống đối người Trung Quốc, hầu hết tại vùng vành đai có mỏ đồng là nơi tập trung đầu tư của Trung Quốc – một giám đốc mỏ đồng người Trung Quốc đã phải nhập viện vào tháng Ba năm 2008 sau một cuộc phản kháng của công nhân ở đây về điều kiện làm việc. Rối loạn cũng nổ ra năm 2007 ở Lesotho, khi những người bán lẻ với quy mô nhỏ, tức giận trước một cuộc vận động di chuyển họ tới một khu chợ được chỉ định xa trung tâm thành phố, nên đã xảy ra một cuộc đụng độ bạo lực nhắm vào các cơ sở kinh doanh do người Trung Quốc sở hữu.

Phẫn uất gia tăng

Các cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài từ lâu đã phải sống trong tình trạng bị đe doạ khủng bố ngược đãi. Những nhóm thiểu số người Trung Quốc được hình thành từ lâu tại Đông-Nam Á đã phải hứng chịu một số cuộc tàn sát tồi tệ, với hàng ngàn người chết trong các cuộc náo loạn ở Indonesia và Malyasia trong thế kỷ qua (cuộc đụng độ bạo lực gần đây nhất tại Indonesia, năm 1998, có lẽ đã làm cho số người chết lên tới 1.500). Trong hàng thập kỷ kể từ năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu những cải cách kinh tế, con số người Trung Quốc ra nước ngoài đã gia tăng nhanh chóng và mục đích của họ đã trở nên đa dạng hơn. Trong ít năm qua, cách tiếp cận ngày càng hào phóng của Trung Quốc bằng cách cấp vốn cho các công trình hạ tầng cơ sở ở hải ngoại đã làm tăng thêm dòng người di cư. Các quốc gia đang phát triển trên khắp thế giới đã phải cay đắng chấp nhận tài trợ của Trung Quốc cho các con đường, bến cảng và hệ thống thông tin liên lạc của họ, song những khoản tiền này thường đến cùng với các loại thiết bị mà các chính phủ nước ngoài cho phép các công ty Trung Quốc đem theo để thực hiện công việc – và hầu hết thường có sự hiện diện của một số lượng lớn lao động người Trung Quốc.

Như là một hậu quả của khuynh hướng này, các cộng đồng người Trung Quốc trên khắp thế giới đang phát triển đã bành trướng mạnh mẽ. Dữ liệu chính thức từ chính phủ tại các quốc gia này rất mâu thuẫn về số lượng, chẳng hạn như ở Algeria, theo các thông tin qua báo chí vào thời điểm xảy ra các vụ rối loạn gần đây đã gợi lên rằng có khoảng từ 25.000 đến 30.000 người Trung Quốc tại nước này, nhiều người đang làm việc trong các dự án hóa dầu liên kết với các khoản đầu tư của Trung Quốc. Kết hợp với tình trạng đó, sự bùng nổ số lượng người Trung Quốc sống ở nước ngoài đã dẫn đến tác động lên sự phát triển xuất khẩu khủng khiếp của nước này. Làn sóng xuất khẩu gia tăng mạnh mẽ của Trung Quốc, đặc biệt tới thế giới phát triển, đã đè bẹp các ngành công nghiệp chế tạo trong nước trên mọi lĩnh vực của thế giới đang phát triển, nhất là trong ngành dệt may. Những thương nhân Trung Quốc kinh doanh quy mô nhỏ cũng có khuynh hướng đổ xô tham gia vào đội ngũ bán lẻ địa phương, khai thác các mối quan hệ của họ với nguồn sản phẩm giờ đây đang chiếm ưu thế tại các thị trường nước ngoài. Kết quả có thể thường là nỗi oán giận gia tăng chống lại các cộng đồng người Hoa ở nước ngoài.

Bổ sung cho tình trạng này có lẽ có những vấn đề khác nữa, ví như những xô xát trong lao động và những yêu sách đất đai. Vụ bạo lực mới đây ở Papua New Guinea là tiếp theo sau vụ việc một công nhân Trung Quốc lái chiếc máy kéo ở mỏ nickel (đang được một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc khai thác, Tập đoàn Xây dựng Luyện kim Trung Quốc), đã gây thương tích cho một người đàn ông địa phương. Những người chủ đất cũng đã tấn công những người làm công Trung Quốc tại khu mỏ. Bạo lực xảy ra giữa khung cảnh xung đột dữ dội ở Zambia cũng có liên hệ tới tình trạng lao động trong các khu mỏ do Trung Quốc sở hữu, đáng chú ý là tại khu mỏ đồng Chambishi.

Một cái đích dễ nhắm tới

Đối với những người muốn nhắm vào họ, những người Trung Quốc sống ở nước ngoài và các hoạt động kinh doanh của họ thường dễ nhận biết, qua các dấu hiệu bằng chữ Trung Quốc và thường tập hợp trong các khu phố Tầu – điều đáng chú ý là hầu hết các cuộc bạo loạn chống Trung Quốc đã nổ ra tại các trung tâm thành phố, hơn là gần các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở, là nơi có nhiều công nhân Trung Quốc được thuê mướn. Tại các vùng có người Trung Quốc, thường có một sự khác biệt về văn hóa rõ nét so với môi trường ở địa phương. Ở các quốc gia theo đạo Hồi, thường có những lời than phiền về việc tiêu thụ rượu thoải mái và ăn mặc bất lịch sự của các thương nhân và công nhân Trung Quốc. Tại một số khu vực, ví dụ như Afghanistan, cư dân Trung Quốc thậm chí còn có liên hệ với những trò đĩ điếm, ăn chơi trác táng.

Trong khi những nhân tố này có thể giải thích cho một số thái độ oán hận ngấm ngầm chĩa vào các cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài, thì hầu như chắc chắn là không có sự trùng hợp ngẫu nhiên nào trong phần lớn các vụ việc xảy ra từ các bạo loạn chống người Trung Quốc với tình trạng bất ổn về chính trị tại nước chủ nhà xảy ra từ trước đó. Tại những nơi như Tonga, Quần đảo Solomon và Zambia, sự tức giận của công chúng chống lại chính phủ vốn đã ở mức cao độ rồi, và việc bùng nổ bạo lực chống lại các thương nhân Trung Quốc phần nào là một hệ quả của các hoạt động chống đối nhằm tìm cách củng cố thêm quan điểm của họ.

Sự yên lặng khác thường

Cho tới lúc này, chính phủ Trung Quốc đã có một phản ứng im lặng kỳ lạ trước các vụ việc này, hạn chế tổ chức các cuộc di tản và trợ giúp. Điều này là đáng ngạc nhiên, căn cứ vào xu hướng của nước này thường phản ứng rất mạnh khi họ cảm thấy quyền lợi quốc gia của mình bị đe doạ trên những vấn đề như thương mại hay tại những khu vực người thiểu số như Tây Tạng. Tuy nhiên, điều này phần nào phản ánh những bài học trong lịch sử. Phản ứng dữ dội của chính quyền Trung Quốc đối với cuộc tàn sát của Indonesia chống lại người Trung Quốc thiểu số ở nước này vào những năm 1960 và 1970 chỉ có lợi cho việc làm bùng lên thái độ hồ nghi của chính quyền Indonesia, dẫn đến những hành động ngược đãi hơn nữa.

Bất chấp điều đó, những sức ép cho một lập trường mạnh mẽ hơn đang gia tăng. Bên trong Trung Quốc, có chút khác biệt giữa vấn đề dân tộc và sắc tộc; thậm chí khi người Trung Quốc thiểu số giữ một cuốn hộ chiếu ngoại quốc thì cả chính quyền lẫn công chúng rộng khắp đều có xu hướng coi họ như là những công dân Trung Quốc. Càng ngày các phương tiện truyền thông trong nước càng đưa ra nhiều ví dụ về tình trạng lăng mạ xỉ nhục công dân Trung Quốc ở nước ngoài để gây nên sự chú ý của công chúng, tăng sức ép lên chính phủ phải hành động.

Trong một thời gian ngắn, quyền ưu tiên chính của chính phủ Trung Quốc sẽ là những quyền lợi có tính chiến lược quốc gia – là các hoạt động khai mỏ (như tại Zambia), việc cô lập về ngoại giao đối với Đài Loan (một nhân tố trong hành động bạo lực ở Quần đảo Solomon) hoặc sự thành công của những khoản đầu tư hàng tỉ đô la được các doanh nghiệp nhà nước thực hiện (như tại Algeria). Tuy nhiên, trong lúc các doanh nghiệp Trung Quốc bành trướng ra hải ngoại và nhiều người Trung Quốc hơn sống và làm việc ở nước ngoài, chính phủ nước này sẽ phải nhấn mạnh nhiều hơn tới việc bảo vệ cho sự an bình của các công dân nước mình. Điều này sẽ lại mở đầu cho nhân tối phức tạp khác trong hoạt động ngoại giao của Trung Quốc.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

————–

Overseas and under siege

Aug 11th 2009
From the Economist Intelligence Unit ViewsWire

An apparent rise in violence against Chinese labourers working overseas

Chinese money is helping to drive infrastructure investment in many developing countries, but in its wake has also come a big rise in Chinese immigrants and overseas workers that has proved less popular. As the number of attacks on Chinese citizens and property increases, domestic pressure may grow on China’s government to respond assertively, undermining its doctrine of non-intervention in the internal affairs of sovereign states.

The last few months have seen another outbreak of anti-Chinese rioting in countries that casual observers might have been surprised to find even had a Chinese minority. In Algeria this August, clashes broke out between Chinese and locals in the capital, Algiers, leaving several people injured and a number of Chinese shops looted. Chinese shops around the capital were closed for the period following the violence, and there were calls from some Algerian traders for the expulsion of all Chinese immigrants from the country. Across the world in Papua New Guinea even more serious violence was witnessed after anti-Chinese rioting, reportedly involving thousands of people, broke out in May. At least one person was killed and Chinese-owned businesses were pillaged in several cities (including the capital, Port Moresby) and towns throughout the country.

Two outbreaks of violence could be deemed tragic but coincidental. However, the last few years have seen many similar bouts of rioting that have specifically targeted expatriate Chinese communities. The most serious occurred in the Solomon Islands in 2006, when the Chinatown in the capital, Honiara, suffered extensive damage amid riots that drove out much of the country’s ethnic Chinese population. These followed an election in which many politicians were accused of having received bribes from Chinese businessmen as China and Taiwan vied for the Islands’ diplomatic recognition. The same year saw outbreaks of unrest in the nearby island country of Tonga that also targeted Chinese firms and premises —the unrest erupted as pro-democracy groups accused the government of failing to advance democratic reforms, but rapidly took on anti-immigrant overtones.

Africa saw similar riots in 2006 in the Zambian capital, Lusaka, following the election defeat of the opposition’s presidential candidate, Michael Sata, who had run a campaign that strongly focused on the negative effects of rising Chinese involvement in the local economy. Zambia has since seen a steady rumbling of anti-China sentiment, mostly in the copper belt where Chinese investment is concentrated—a Chinese copper mine manager was hospitalised in March 2008 after a protest by workers over conditions. Unrest also broke out in 2007 in Lesotho, when local small-scale retailers, angered by a campaign to relocate them to a designated market place away from the city centre, went on a rampage targeting Chinese-owned businesses.

Rising resentment

Chinese communities abroad have long lived under the threat of persecution. The long-established ethnic-Chinese minorities in South-east Asia have been on the receiving end of some of the worst pogroms, with tens of thousands dying in Indonesia and Malaysian riots in the last century (the most recent violence in Indonesia, in 1998, may have left as many as 1,500 dead). In the decades since 1978, when China began its economic reforms, the number of Chinese who have moved abroad has increased rapidly and their destinations have become more varied. In the last few years China’s increasingly open-handed approach to funding overseas infrastructure has heightened this flow of emigration. Developing nations across the world have been keen to accept Chinese financing for their roads, ports and telecommunications networks, but this money usually comes with requirements that foreign governments allow Chinese companies to do the work —and most often with a large number of Chinese labourers.

As a result of these trends, Chinese communities across the developing world have expanded explosively. Official data from governments in these countries are wildly contradictory on the exact numbers, but in Algeria, for example, press reports at the time of the recent riots suggested there were between 25,000 and 35,000 Chinese in the country, many working on petrochemical projects associated with Chinese investments. Coupled with this boom in the number of Chinese living abroad has come the impact of country’s export juggernaut. Surging Chinese exports, especially to the developed world, have crushed local manufacturing industries in many parts of the developing world, particularly in the textiles trade. Small-scale Chinese retailers have also tended to crowd out local vendors, exploiting their ties to the source of the products now dominating foreign markets. The result can often be rising resentment against expatriate Chinese communities.

Adding to this can be other issues, such as labour incidents and land claims. The recent violence in Papua New Guinea followed an incident in which a Chinese worker driving a tractor at the Ramu nickel mine (which is being developed by a Chinese state enterprise, the China Metallurgical Construction Group) injured a local man. Land owners have also attacked Chinese employees at the mine. The violence in Zambia violence has also been linked to labour conditions in Chinese-owned mines, notably the Chambishi copper mine.

An easy target

For those who wish to target them, Chinese expatriates and their businesses are easily identifiable, marked by Chinese-language signs and often clustering in Chinatowns—it is notable that almost all anti-Chinese rioting has taken place in city centres, rather than near the infrastructure projects where many Chinese workers are employed. In Chinese areas there is sometimes a sharp cultural divide from the local environment. In Islamic countries there are frequent complaints about the open consumption of alcohol and immodest dress of Chinese businessmen and workers. In some places, such as Afghanistan, Chinese residents have even been linked with prostitution rackets.

While these factors may explain some of the underlying resentment levelled against Chinese communities overseas, it is probably no coincidence that in the majority of cases to date anti-Chinese rioting has been preceded by domestic political instability in the host country. In places like Tonga, the Solomon Islands and Zambia public anger against the government was already high, and the outbreak of violence against Chinese businesses was partly a result of opposition movements seeking to strengthen their positions.

Unusual quiescence

So far the Chinese government has had a curiously muted response to these incidents, confined to organising evacuations and relief. This is surprising given its tendency to react very strongly when it feels its national interest is threatened on issues such as trade or minority regions like Tibet. However, it is in part a reflection of the lessons of history. The Chinese government’s strong response to the Indonesian pogroms against that country’s ethnic Chinese in the 1960s and 1970s only served to stoke the Indonesian government’s mistrust, leading to further persecution.

Despite this, pressures for a more activist position are growing. Within China, there is little distinction between nationality and ethnicity; even when ethnic Chinese hold a foreign passport both the government and the wider public tend to view them as citizens of China. More and more, the domestic media is bringing examples of the abuse of Chinese citizens abroad to public attention, increasing the pressure on the government to act.

For the time being, the Chinese government’s main priority will be national strategic interests—be they mining operations (as in Zambia), the diplomatic isolation of Taiwan (a factor in the violence in the Solomon Islands) or the success of multi-billion dollar investments led by its state-owned enterprises (as in Algeria). However, as more Chinese businesses expand overseas and more Chinese live and work abroad, the government will have to put more emphasis on defending the welfare of its nationals. This will introduce yet another complicating factor into Chinese diplomacy.

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Trung Quốc | Leave a Comment »

228.Thua đau bauxite-Trung Quốc bắt người của đối thủ?

Đăng bởi hoangtran204 on 08/07/2009

Kinh nghiệm để ông Đoàn Văn Kiển TKV và các sếp trên nữa cẩn trọng nếu như làm mích lòng các “bạn” phương bắc


THE WALL STREET JOURNAL

Hãng Rio Tinto cho biết

Trung Quốc đã bắt giữ

bốn nhân viên của họ

ROBERT GUY MATTEWS và JEFFREY SPARSHOTT

Ngày 8-7-2009

Bốn người làm việc cho các hoạt động kinh doanh của hãng Rio Tinto đóng tại Thượng Hải đã bị các nhà chức trách Trung Quốc cầm giữ, theo tin hôm qua thứ Ba từ tập đoàn khai khoáng này, và cho biết thêm rằng công ty không biết lý do vì sao các nhân viên này bị bắt.

“Rio Tinto có ý định hợp tác với bất cứ hoạt động điều tra nào mà các nhà chức trách Trung Quốc có thể yêu cầu đảm nhận và đã tìm cách làm rõ vấn đề về những gì đã xảy ra,” nhà khai mỏ Anh-Úc này cho hay. Bốn nhân viên đó đã bị cầm giữ từ hôm Chủ nhật.

Một trong những người bị bắt giữ là Stern Hu, người mà theo trang Web của Rio hiện là tổng giám đốc của các hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc trong bộ phận quặng sẳt của Rio Tinto. Danh tính của ba người còn lại chưa thể biết được ngay.

Hôm nay, chính phủ Úc đang hối thúc Trung Quốc, đối tác thương mại hàng đầu của mình, hãy giải thích về những vụ bắt giữ này.

Bộ trưởng về Biến đổi Khí hậu Greg Combet nói rằng chính phủ đang thực hiện “mọi nỗ lực” để tìm ra lý do vì sao bốn người này bị cầm giữ giữa lúc có những cuộc thương lượng căng thẳng quanh vấn đề xuất khẩu quặng sắt sang Trung Quốc.

“Một khi chúng tôi tìm hiểu chắc chắn qua những kênh thích hợp chính xác về những gì đang xảy ra và những lý do nào cho vụ bắt giữ này … thì chúng tôi sẽ có ý kiến trao đổi,” ông Combet trả lời các nhà báo.

Một người phát ngôn cho toà đại sứ Trung Quốc tại Canberra đã không bình luận gì về những lý do của các vụ bắt giữ.

Trong ít tháng trước, các mối quan hệ giữa người Trung Quốc và tập đoàn Rio nợ đìa này đã bị căng thẳng khi hai bên cố gắng kết thúc một thỏa thuận có thể đưa đến việc tập đoàn Aluminum Corp. của Trung Quốc, còn gọi là Chinalco *, mua một cổ phần trị giá 19,5 tỉ đô la của Rio. Thay vào đó, Rio đã chọn một quyền phát hành cổ phần và liên doanh khai thác quặng sắt với tập đoàn BHP Billion Ltd của Anh-Úc để thanh toán món nợ của mình.

Một số quan chức tại Trung Quốc đã phản ứng lại một cách cay đắng trước cú đá bỏ khoản đầu tư của Chinalco này. Tuy nhiên một quan chức của Rio cho rằng công ty của ông hồ nghi rằng sự thất bại trong thỏa thuận là lý do cho việc các nhân viên của họ bị bẳt giữ.

Quan chức cao cấp phụ trách các hoạt động kinh doanh của Rio tại Trung Quốc nói rằng các giới chức ở Trung Quốc có thể giam giữ một cá nhân trong 72 giờ đồng hồ mà không phải đưa ra bất cứ lý do nào. Rio đã không thể có được sự liên lạc nào với các nhân viên này kể từ khi họ bị bắt, theo ông Nick Cobban, một người phát ngôn của Rio đóng tại London cho hay.

“Rio Tinto lo ngại về tình trạng sức khỏe của các nhân viên của mình và đang làm tất cả những gì có thể để giúp họ và gia đình họ,” công ty này thông báo.

Rio Tinto có các nhân viên tại Thượng Hải, Bắc Kinh và Quảng Châu, Trung Quốc, theo trang Web của hãng này cho hay. Các hoạt động của hãng tại Trung Quốc tập trung phần lớn vào việc bán hàng và tiếp thị tới các khách hàng lớn của Trung Quốc.

Bất chấp thỏa thuận của họ bị phá sản, Rio Tinto và người Trung Quốc vẫn tiếp tục có một mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Trung Quốc, nước cần có quặng sắt để sản xuất thép và các kim loại khác, hiện là khách hàng mua quặng sắt lớn nhất của Rio Tinto.

Hai bên giờ đây đang sa lầy giữa các cuộc thương thảo nhằm dàn xếp giá quặng sắt. Hiệp hội thép Trung Quốc khăng khăng đòi cắt giảm ít nhất là 40% giá hợp đồng ký kết từ năm ngoái. Thế nhưng các nhà sản xuất thép lớn của Nhật Bản và Hàn Quốc đã giành được những hợp đồng cung cấp quặng sắt dựa trên giá đã được cắt giảm từ 28% tới 33%, cái giá mà Rio cân nhắc theo mức chuẩn của ngành công nghiệp này **.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

* Chinalco: tập đoàn nhôm lớn nhất Trung Quốc, hiện đang hợp tác với Tập đoàn Than&Khoáng sản VN khai thác bauxite tại Tây Nguyên.

** Mời xem thêm bài liên quan:  192.Hãng Úc từ chối cho Chinalco của TQ hùn vốn khai mỏ; 206.TQ đang học từ sự thất bại của Chinalco; 227.Trung Quốc thua lỗ về nhôm trên 12 tỉ đô la.

————–

WSJ

Rio Tinto Says China Has Detained Four Workers

By ROBERT GUY MATTHEWS and JEFFREY SPARSHOTT

  • JULY 8, 2009

Four employees from Rio Tinto‘s Shanghai-based operations have been detained by Chinese authorities, the mining giant said Tuesday, adding that the company doesn’t know why the employees are being held.

“Rio Tinto intends to cooperate fully with any investigation the Chinese authorities may wish to undertake and has sought clarification on what has occurred,” the Anglo-Australian miner said in a statement. The four have been held since Sunday.

One of the detainees is Stern Hu, who is, according to Rio’s Web site, the general manager for China operations at Rio Tinto’s iron-ore division. The names of the other three couldn’t immediately be learned.

Australia’s government was pressing China, its top trading partner, on Wednesday to explain the detentions.

Climate Change Minister Greg Combet said the government was making “every effort” to find out why the four had been detained amid tense negotiations over iron ore exports to China.

“Once we ascertain through the appropriate channels what exactly is going on and what the reasons for this detention involve…we’ll have something to say,” Mr. Combet told reporters.

A spokesman for China’s embassy in Canberra would not comment on the reasons for the detentions.

In the past few months, relations between the Chinese and debt-laden Rio were strained as the two sides tried to work out a deal that would have let Aluminum Corp. of China, or Chinalco, buy a $19.5 billion stake in Rio. Instead, Rio chose a rights issue and iron-ore joint venture with Anglo-Australian BHP Billiton Ltd. to pay down its debt.

Some officials in China reacted bitterly to the spurning of Chinalco’s investment. But a Rio official said the company doubts the deal’s failure is the reason its employees were detained.

A senior official at Rio’s China operation said authorities in China can hold an individual for 72 hours without giving any reason. Rio hasn’t been able to make contact with the employees since they were detained, said Nick Cobban, a spokesman for London-based Rio.

“Rio Tinto is concerned about the employees’ well-being and is doing everything possible to help them and support their families,” the company said.

Rio Tinto has offices in Shanghai, Beijing and Guangzhou, China, according to its Web site. Its China operations are focused largely on sales and marketing to major Chinese customers.

Despite their failed deal, Rio Tinto and the Chinese continue to have an interdependent relationship. China, which needs iron ore to make steel and other metals, is Rio Tinto’s biggest iron-ore customer.

The two sides are now in the midst of stalled negotiations to settle the price of iron ore. China’s steel association has insisted on a cut of at least 40% from last year’s contract price. But major Japanese and Korean steelmakers have reached iron-ore supply contracts based on price cuts of 28% to 33%, which Rio considers the industry benchmark.

—Reuters contributed to this article.

Write to Robert Guy Matthews at robertguy.matthews@wsj.com and Jeffrey Sparshott at jeffrey.sparshott@dowjones.com

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , | 12 phản hồi »

227.Trung Quốc thua lỗ về nhôm trên 12 tỉ đô la

Đăng bởi hoangtran204 on 07/07/2009

The Sydney Moring Herald

Trong vụ nhôm, làm cách nào

Bắc Kinh tự ghi bàn vào lưới nhà


JOHN GARNAUT

Ngày 6-7-2009

Nếu như “Công ty Trung Quốc” thuộc về một  người, thì người đó có lẽ đó sẽ là Tiểu Á Thanh [Xiao Yaqing], cựu chủ tịch Chinalco *, ông ta cũng là một thành viên dự khuyết của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản.

Ông Xiao đã từng hai lần tập trung tiền bạc của nhà nước Trung Quốc để mua lại cổ phần của tập đoàn Rio Tinto và phá tan những tham vọng xây dựng đế chế của tập đoàn BHP Billinon. Vì những nỗ lực nầy, ông đã được tưởng thưởng  một công việc mà mọi người mơ ước nhất đó là phó Tổng thư ký Quốc vụ viện.

Thế nhưng Công ty China thiếu hài hòa hơn, ít may mắn hơn và ít hiệu quả hơn nhiều so với những gì mà người ta tưởng tượng. Đây là câu chuyện hậu trường về cách mà ông Tiểu đá banh vào lưới nhà bằng cách thuyết phục các thượng cấp của ông gom góp những nguồn dự trữ kim loại “chiến lược”.

Theo nhiều nguồn tin gần gũi với tập đoàn Chinalco cho hay, thì vào tháng Mười một, sau khi giá cả các thứ hàng hóa tiêu dùng đã rớt xuống nhanh chóng, ông Xiao đã đề nghị và có được một cuộc hội họp khẩn cấp với Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Ông Xiao nói với ông Ôn rằng: toàn bộ nền công nghiệp nhôm đang trong cơn khủng hoảng. Chinalco và mọi công ty nhôm lớn khác đang lỗ vốn, và hàng trăm ngàn việc làm sẽ bị mất nếu như nhà nước không nhảy vào can thiệp và tiếp nhận hàng hóa sản xuất thừa mứa.

Ông Ôn đã báo cáo cho Quốc vụ viện, nội các của Trung Quốc, và bàn bạc về việc ủng hộ cho một kế hoạch ứng cứu. Quốc vụ viện đã chỉ thị cho Cục Dự trữ Nhà nước mua nhôm và các kim loại khác bao gồm đồng, kẽm, niken, thiếc và titan như là một phận của một kế hoạch cứu nguy nền công nghiệp kim loại đa ngành.

Thép ban đầu được đưa vào danh sách, nhưng sau đó bị loại bỏ, vì thứ kim loại nầy choán nhiều kho bãi chứa và có khuynh hướng rỉ sét.

Các nhân viên của Cục Dự Trữ Nhà nước và cơ quan mà nó trực thuộc, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia, đã cho rằng cách giải quyết của hai ông Tiểu Á Thanh-Ôn Gia Bảo là một sai lầm ngay từ ban đầu. Tuy nhiên, cục này đã mua đúng lúc được 300.000 tấn nhôm vào tháng Mười hai 2008 và 290.000 tấn nữa vào tháng Hai 2009.

Chalco, công ty con của Chinalco, là kẻ hưởng lợi rõ nhất. Chalco sản suất một phần tư sản lượng nhôm của Trung Quốc song đã nhận được gần một nửa đơn đặt hàng mua để dự trữ.

Các chính quyền địa phương đã đi theo sự chỉ đạo của Cục Dự trữ, JP Morgan ước lược rằng họ đã mua 880.000 tấn nhôm để dự trữ trong những tháng đầu năm 2009. Khu vực của các tập đoàn nhà nước cũng tham gia vào, tranh đua tích cóp hàng tồn kho trong khi giá cả tăng lên.

Cùng nhau, họ đã tạo nên một phần rất lớn của tổng số lượng sản suất được ước đoán của nước này trong năm nay, sự sản suất nầy được tiên đoán là vào khoảng 12,5 triệu tấn.

Xiong Weiping, người thay thế ông Tiểu làm chủ tịch Chinalco và Chalco vào tháng Hai, đã công khai than rằng thời kỳ giá cả luôn thua lỗ đã không kéo dài đủ lâu để đẩy các nhà sản xuất sản phẩm với giá cao  ra khỏi lãnh vực kinh doanh (= bị phá sản).

Một chuyên gia về kim loại, ông Michael Komesaroff, cho là Trung Quốc đã có 6 triệu tấn để sử dụng song khả năng sản suất đang đứng yên chờ đợi để khởi động nếu và khi nào giá cả nhôm được phục hồi trở lại. Thị trường nhôm Trung Quốc hiện tại là quá sức đông đúc, và giá cả hiệu lực sẽ giới hạn tới mức thấp nhất trong nhiều năm tới đây, theo hướng gây thua lỗ rất lâu dài cho Chinalco. [1]

Thêm vào với việc trì hoãn một cuộc cải tổ rất cần thiết cho ngành công nghiệp nhôm, vấn nạn với chính sách này là không có sự đảm bảo cho các công ty như Chalco có được hợp đồng cung cấp cho Cục Dự trữ Nhà nước yêu cầu làm từ các nhà máy của riêng họ. Thay vào đó, các công ty nầy đã mua sản phẩm từ những nhà cung cấp giá rẻ hơn ở nước ngoài và bán lại cho Cục Dự Trữ của Nhà nước.

Việc mua bán này của cục dự trữ đã giúp đẩy giá nhôm trên thị trường Thượng Hải lên cao hơn giá ở London, mời gọi một dòng thác lũ nhập khẩu nhôm (từ nước ngoài) vào Trung Quốc.

Ông Komesaroff nói: “Trong vài tháng ngắn ngủi của năm nay, Trung Quốc đã quay ngược từ chỗ là nhà xuất khẩu nhôm lớn nhất thế giới trở thành nhà nhập khẩu lớn nhất, họ nắm giữ một mức giá thấp nhất trong khi nếu không làm thế, họ có thể sụp đổ.

Một số lợi ích đã rơi vào tay các nhà cung cấp nhôm của Trung Quốc. Chinalco và Chalco đã thông báo các mức lỗ ít hơn mức mà họ có thể có một cách khác nhau. Thế nhưng nó là một cách đặc biệt quá hao tốn để đạt được mục đích đó.

Chủ yếu, cách này trở thành một cuộc chuyển đổi rất có hiệu quả một số lượng rất lớn tiền bạc của chính quyền Bắc Kinh sang cho các nhà sản xuất quốc tế về bauxite, alumina và nhôm, mà trong số đó hãng Rio Tinto là lớn nhất thế giới.

Cách đây mười ngày, một nhà báo rất hay mạo hiểm của tờ tạp chí Caijing đã đi lậu vé vào dự một cuộc họp giữa Uỷ ban Phát triển và Cải cách với nhiều viên chức trong giới ngân hàng.

Viên chức chủ trì cuộc họp là ông Yu Dongming, giám đốc Sở Luyện kim và các Sản phẩm Kim loại của uỷ ban, ông ta làm việc rất chặt chẻ với Cơ quan Dự trữ Nhà nước và các nhà sản xuất kim loại Trung Quốc.

Rất cởi mở và thành thật, Ông Yu đã nói với những người tham dự là: “Điểm xuất phát của chính sách này là nhằm nới lỏng vấn nạn vòng quay tiền mặt cho các nhà sản xuất thê nhưng, một cách không mong đợi,  các đại lý đã trở thành những người hưởng lợi lớn nhất và các hãng sản xuất đã không được hưởng lợi một cách trực tiếp … Trong những tình huống như vậy, tôi không nghĩ là chính phủ sẽ tiếp tục công việc (mua kim loại) dự trữ nữa.”

Lưu ý rằng lý do căn bản có tính chiến lược đó là yểm trợ cho các nhà sản xuất, chứ không phải để đa dạng hóa các nguồn dự trữ ngoại tệ hay kiếm nhiều tiền bằng việc mua giá thấp và bán với giá cao.

Tuyên bố của ông Yu đã được coi như là tín hiệu chấm dứt việc mua trữ chính thức của chính quyền Trung Quốc đối với các loại kim loại có giá trị cao như nhôm, đồng và kẽm.

Theo phỏng đoán của riêng tôi việc này cũng trùng hợp với tình trạng cao điểm trong nhu cầu nhập khẩu ở Trung Quốc đối với những loại hàng hóa có khối lượng lớn như quặng sắt và than đá. Điều này có nghĩa rằng những món hàng xuất khẩu từ khai mỏ của Úc sang Trung Quốc chắc chắn sẽ suy giảm trong nửa cuối năm nay, mặc dù có những dấu hiệu từ sớm rằng Nhật Bản và Nam Triều Tiên sẽ phục hồi đúng lúc để bù đắp cho tình hình trì trệ (về việc bán khoáng sản của Úc)**.

Đối với Úc, lợi lộc lớn nhất của việc mua hàng dự trữ của chính phủ Trung Quốc là việc nầy đã xảy ra đúng vào lúc mà các công ty khai mỏ của Úc cần nó xảy ra nhất. Ông Xiao Yaqing đã góp phần không nhỏ trong việc kích thích sự phục hồi tiền bạc và việc nầy đã khích lệ tập đoàn Rio Tinto vượt thoát khỏi khoản đầu tư 19,5 tỉ đô la  cứu nguy mà ông Xiao đã  làm việc rất vất vả trước đó để  mua cho bằng được (18% cổ phần của) công ty Rio Tinto (nhưng Rio Tinto cuối cùng đã không chấp thuận việc mua bán nầy)*.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Chinalco là tập đoàn nhôm lớn nhất của Trung Quốc hiện đang thực hiện dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

**Phần trong ngoặc đơn, do TH thêm vào.

————-

How Beijing kicked an own goal on aluminium

JOHN GARNAUT

July 6, 2009

If “China Inc” were a person it would probably be Xiao Yaqing, the former president of Chinalco who is also an alternate member of the Communist Party’s Central Committee.

Xiao twice mustered the resources of the Chinese state to buy into Rio Tinto and disrupt BHP Billiton’s empire-building ambitions. For his efforts he was rewarded with a plum job as deputy secretary-general to the State Council.

But China Inc is less coherent, less sinister and far less effective than often imagined. Here is the background story of how Xiao kicked a home goal by persuading his superiors to accumulate “strategic” metals reserves.

In November, after commodities prices had collapsed, Xiao requested and received an urgent meeting with the Premier, Wen Jiabao, sources close to Chinalco say. Xiao told Wen that the whole aluminium industry was in crisis. Chinalco and every other big aluminum company was losing money, and hundreds of thousands of jobs would be lost if the state did not step in and soak up excess production.

Wen briefed the State Council, China’s cabinet, and spoke in favour of a rescue plan. The State Council instructed the State Reserve Bureau to buy aluminium and other metals including copper, zinc, nickel, tin and titanium as part of a diversified metals industry rescue plan.

Steel was initially included in the list but later removed, as the metal takes up a lot of storage space and tends to rust.

Officials at the State Reserve Bureau and the institution in which it is housed, the National Development and Reform Commission, thought the Xiao Yaqing-Wen Jiabao policy was a mistake from the start. Nevertheless, the bureau duly bought 300,000 tonnes of aluminium in late December and another 290,000 tonnes in February.

Chalco, Chinalco’s listed subsidiary, was the most obvious beneficiary. It accounts for a quarter of Chinese production but received nearly half of the stockpile orders.

Provincial governments followed the Reserve Bureau’s lead, JP Morgan estimating they bought 880,000 tonnes of aluminium for stockpiling in the early months of this year. The corporate sector also became involved, competing to accumulate inventories as prices rose.

Together, they brought forward a large proportion of the country’s expected total production this year, which is predicted to be about 12.5 million tonnes.

Xiong Weiping, who replaced Xiao as president of Chinalco and Chalco in February, has publicly lamented that the period of loss-making prices did not last long enough to push high-cost producers out of business.

A metals expert, Michael Komesaroff, said China had 6 million tonnes of installed but idled capacity ready to fire up if and when prices revived. The Chinese aluminium market remains hugely overcrowded, and prices will in effect be cap ped for years to come, to the long-term detriment of Chinalco.

In addition to postponing a much-needed shake-out of the industry, the problem with the policy was that there was no guarantee companies like Chalco that were contracted to supply the State Reserve Bureau did so from their own factories. Instead they bought from cheaper suppliers overseas and clipped the ticket on the way through.

The bureau’s buying helped push the Shanghai aluminium price higher than the London price, inviting a flood of imports into China.

Komesaroff said: “For a few short months this year China flipped from being the world’s biggest aluminium exporter to the biggest importer, which held a floor under prices when they might otherwise have collapsed.”

Some of the benefit went to China’s aluminium producers. Chinalco and Chalco posted smaller losses than they would have otherwise. But it was a particularly expensive way to achieve that goal.

Mostly, it amounted to an effective transfer of wealth from Beijing to international producers of bauxite, alumina and aluminium, of which Rio Tinto is the world’s largest.

Ten days ago an enterprising journalist from the magazine Caijing gatecrashed a meeting between the National Development and Reform Commission and various bankers.

The official hosting the meeting was Yu Dongming, director of the commission’s Office of Metallurgy and Construction Materials, who works closely with the State Reserve Bureau and Chinese metals producers.

Yu candidly told the gathering: “The starting point for this policy was to ease the cash flow problem for manufacturers but, unexpectedly, agents became the biggest beneficiaries and manufacturers did not directly benefit … Under such circumstances I don’t think the state government will continue stockpiling.”

Note that the strategic rationale was to prop up producers, not to diversify foreign exchange reserves or make money by buying low and selling high.

Yu’s statement was taken to signal the end of China’s official stockpiling of high-value metals like aluminium, copper and zinc. My own guess is that it also coincides with the peak in Chinese import demand for bulk commodities like iron ore and coal. This means Australian mining exports to China are likely to dip over the second half of this year, although there are early signs that Japan and South Korea will recover just in time to take up the slack.

For Australia the great benefit of China’s official buying was that it took place exactly when Australian mining companies needed it most. Xiao Yaqing played no small part in sparking the resources revival that emboldened Rio Tinto to walk away from the $US19.5 billion investment lifeline that he had worked so hard to put in place.

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Trung Quốc | Tagged: , , , | Leave a Comment »

226.Việt Nam đang rơi vào quĩ đạo của Trung Quốc

Đăng bởi hoangtran204 on 06/07/2009

Việt Nam đang rơi vào quĩ đạo của Trung Quốc

The Straits Times (Singapore)
July 4, 2009 Saturday

Người dịch: Trần Hoàng

Thông thường các vị tướng không phải là những người yêu thích các cây cỏ thiên nhiên, nhưng vị anh hùng thời chiến Võ Nguyên Giáp đã gây xôn xao gần đây khi ông công khai phản đối nhà cầm quyền Hà Nội về việc chấp thuận kế hoạch khai thác tài nguyên bauxite ở Tây Nguyên.

Trong một đất nước nơi mà người dân thông thường bị tù vì việc chỉ trích chính sách của nhà nước, hành động bất ngờ của Đại tướng Giáp làm nổi bật lên cho thấy xã hội dân sự ở Việt Nam đang tiến triển ra sao. Được sự hỗ trợ bởi những người chỉ trích khác, tướng Giáp đã nói kế hoạch 15 tỉ đô la của Hà Nội để khai thác tài nguyên bauxite sẽ làm tổn hại môi trường Tây Nguyên, di dời chỗ ở của các nhóm dân tộc thiểu số, và đe dọa an ninh quốc gia.

Hành động bộc phát của Đại tướng Giáp – người mà trong những ngày còn phong độ đã từng đánh thắng quân đội Pháp và Mỹ – là đáng cân nhắc xem xét. Có một sự thù địch và ghét bỏ lẫn nhau giữa Việt Nam và Trung Quố c mà không có gì che đậy được. Ngoại trừ một khoảng thời gian hữu nghị vào những năm 1960, Trung Quốc đã từng đô hộ Việt Nam 1000 năm. Cả hai quốc gia đã đánh nhau một trận chiến ngắn ngủi vào năm 1979.

Tuy vậy, dù có mối nghi ngờ thâm căn cố đế về nước láng giềng phương bắc, chính phủ Việt Nam đã đồng ý từ lâu về một thỏa thuận ngầm bán bautxite cho Trung Quốc. Điều nầy đã nhấn mạnh một mối quan ngại thích đáng: Chiến lược lớn của Trung Quốc là sục sạo khắp thế giới để tìm các tài nguyên năng lượng và khoáng sản quan trọng mà không cần quan tâm tới các hậu quả liên quan.

Một bài báo trong tập san đối ngoại đã bàn luận rằng Trung Quốc đã và đang điều chỉnh cho chính sách đối ngoại của họ sao cho thích hợp với chiến lược phát triển bên trong nước tới một mức độ chưa từng có trước đây bằng cách khuyến khích các công ty quốc doanh do nhà nước làm chủ đi tìm kiếm các hợp đồng ở Phi Châu. Điều đáng lo ngại là Trung Quốc đang chạy đuổi theo các hợp đồng như thế — và cung cấp hối lộ tiền bạc, trợ giúp chính trị cho bất cứ ai ở quốc gia ấy ủng hộ việc làm của họ — trong lúc xem nhẹ, không chú ý gì tới các vấn đề  như vi phạm nhân quyền, buôn bán vũ khí và làm xuống cấp môi trường sống.

Chiến lược phát triển của Bắc Kinh với bất cứ giá nào vẫn có khả năng nổi lên như một sự có lợi cho cả hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc. Cả hai quốc gia vẫn có thể có được phúc lợi một cách thương mại từ mối liên doanh mỏ bauxite, nếu như Hà Nội trở nên nhạy bén hơn nữa tới những điều quan ngại đã được nêu lên bởi Tướng Giáp và những ngươi ủng hộ ông ta [1].  Gần đây, Hà Nội đã gần như đi theo hướng nầy, và đang nói rằng Hà Nội sẽ xem xét lại tác động môi trường của dự án nấy và sẽ trì hoãn việc khai thác trên diện rộng.

Tuy vậy, trong sự tính toán sau cùng nầy, hấp lực của nền của nền kinh tế Trung Quốc có thể đã chứng tỏ quá mạnh mẽ mà Hà Nội không thể nào chống lại được. Việt Nam hiện đang ở trong những tình trạng nguy nan của sự tuyệt vọng về kinh tế. Các khoản đầu tư trực tiếp của ngoại quốc (FDI) đã và đang giảm xuống, trong lúc Hà Nội đang bị thâm thủng thương mại với Trung Quốc. Trung Quốc là bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Người ta chỉ cần nhìn vào lịch sử của Úc gần đây để tiên đoán tình thế đối diện với Trung Quốc của Việt Nam. Sau  khi bỏ túi những mối lợi to lớn từ việc bán các tài nguyên cho Trung Quốc, chính sách đối ngoại của Úc hiện nay đang nghiêng hẳn hướng về Trung Quốc và xa lìa khỏi nước Mỹ, một đồng minh truyền thống của họ. Điều tương tự như thế đang áp dụng cho Việt Nam; có sự phản đối của người trong nước hay không, thì thỏa thuận ngầm bán bauxite nầy chẳng bao lâu nữa sẽ đẩy Việt Nam gần hơn vào quỹ đạo của Trung Quốc.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

————-

Lời Bình của Trần Hoàng:

[1] Ở đoạn văn nầy, ta thấy tác giả bài báo rất nhầm lẫn, tác giả viết rằng: “Cả hai quốc gia vẫn có thể có được phúc lợi một cách thương mại từ mối liên doanh mỏ bauxite, nếu như Hà Nội trở nên nhạy bén hơn nữa tới những điều quan ngại đã được nêu lên bởi Tướng Giáp và những ngươi ủng hộ ông ta…”

Tác giả không hiểu rằng: đại tướng VNG và những người phản đối kế hoạch bauxite hoàn toàn không muốn Trung Quốc (hay bất cứ nước nào) khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Tướng Giáp và nhóm phản đối khai thác bauxite đưa ra 4, 5 điểm chính để hổ trợ cho quan điểm của họ.

_Trước hết, họ phản đối không muốn cho TQ khai thác bauxite ở Tây Nguyên vì mặt an ninh quốc phòng.

_Kế đến là việc khai thác bauxite ảnh hưởng lớn đến vấn đề môi trường và gây thiệt hại trên mức độ quá lớn và quá lâu dài cho sinh thái, ô nhiễm nguồn nước tiêu dùng, ảnh hưởng sức khỏe người dân, không có chỗ chứa các loại bùn quá độc hại, …

_Thứ ba là về mặt kinh tế, việc khai thác là không có lợi vì VN phải đầu tư vốn vào quá lớn. Thí dụ VN không có đập thủy điện đủ cung ứng cho khai thác, rồi mặt tốn tiền nhiều nhất là VN cần phải xây 270 Km đường xe lửa để chuyển vận bột nhôm ra hải cảng tốn ít lắm là 5-7 tỉ đô la, rồi phải đầu tư xây hải cảng cho TQ chở nhôm về nước của họ tốn ít nhất là 2 tỉ Mỹ kim. (tổng giám đốc tập đoàn Than và Khoán Sản VN cũng cho rằng việc lời lỗ chỉ là 50/50). Chưa kể  giá bột oxit nhôm là do TQ quyết định và hiện nay các hãng TQ đang bán lỗ vì không ai mua bột nhôm do kinh tế xuống.

_Thứ Tư là yếu tố văn hóa xã hội. Việc di dời người dân tộc ra khỏi mảnh đất của họ là không thể chấp nhận được.

Tóm lại, ở đoạn văn nầy, tác giả không am hiểu về sự nguy hại của khai thác bauxite đối với người VN trong các mặt : an ninh, môi trường, kinh tế, văn hóa xã hội, và sức khỏe.

http://www.lantabrand.com/cat1news1282.html

——————-

The Straits Times (Singapore)
July 4, 2009 Saturday

Vietnam: Heading into China’s orbit

Editorial

Generals are not natural tree-huggers, but Vietnamese war hero Vo Nguyen Giap caused a stir recently when he publicly opposed Hanoi’s approval of a Chinese plan to exploit bauxite reserves in his country’s Central Highlands. In a state where people are routinely jailed for criticising government policy, General Giap’s outburst highlights how Vietnam’s civil society is evolving. Supported by other critics, he said Hanoi’s US $15 billion (S $22 billion) plan to tap the country’s bauxite reserves would damage the environment, displace minority populations and threaten national security.

The outburst by Gen Giap – who in his heyday defeated the French and American armies – is significant. There is no love lost between Vietnam and China. Save for a period of amity in the 1960s, China dominated Vietnam for 1,000 years. The two countries fought a brief war in 1979.

Despite its ingrained suspicion of its northern neighbour, however, Vietnam had approved the bauxite deal. This underscores a pertinent concern: China’s grand strategy of scouring the world to find vital energy and mineral resources, never mind the consequences.

A Foreign Affairs article argues that China has adapted its foreign policy to its domestic development strategy to an unprecedented level by encouraging state-controlled companies to seek out contracts in Africa. The worry is that China has pursued such contracts – and political patronage – while giving scant regard to issues such as human rights abuses, arms proliferation and environmental degradation.

Still, Beijing’s growth-at-all-costs strategy could emerge as a win-win for both Vietnam and China. Both countries can still benefit commercially from the bauxite venture, if Hanoi becomes more sensitive to the concerns raised by Gen Giap and his supporters. Recently, Hanoi appeared to be moving in this direction, saying it would review the project’s environmental impact and delay its full implementation.

In the final calculation, however, the magnetic pull of China’s economy might prove too compelling for Hanoi. Vietnam is in dire economic straits. Foreign direct investment has plunged, while Hanoi runs a trade deficit with China – its biggest trading partner. One only needs to look at Australia’s recent history to predict Vietnam’s position vis-a-vis China. After reaping massive benefits from selling resources to China, Canberra’s foreign policy is now tilting more towards China and away from its traditional ally, the United States. The same applies to Vietnam as well; domestic opposition or no, the bauxite deal could soon push it closer to China’s orbit.

<!–[if !mso]>

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 1 Comment »