BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Chiến tranh VN’ Category

566. Thông cáo Thượng Hải

Đăng bởi anhbasam on 29/04/2010

pbs.org

Thông cáo Thượng Hải

27-02-1972


Ngày 27 tháng 2 năm 1972, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ban hành một thông cáo chung, đỉnh cao của chuyến viếng thăm lịch sử kéo dài một tuần tới Cộng hòa Nhân dân [Trung Hoa] của Nixon và Kissinger. Kissinger đã bắt đầu đưa ra bản thảo Thông cáo Thượng Hải với Chu Ân Lai vào tháng 10 năm trước, khi ông ta gặp thủ tướng Trung Quốc tại Bắc Kinh đặt nền tảng cho chuyến thăm sắp tới của Nixon. Kissinger tiếp tục đưa ra các chi tiết trong hội nghị thượng đỉnh tháng 2 năm 1972, thường là vào những lần họp khuya với Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Qiao Guanhua.

Theo thông cáo, cả hai nước cam kết đi đến “bình thường hóa” quan hệ, và để mở rộng “tiếp xúc giữa người với người” cùng các cơ hội làm ăn. Trong một tham chiếu úp mở dành cho Liên Xô, thông cáo tuyên bố rằng trong hai quốc gia, không nước nào “tìm kiếm quyền bá chủ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và mỗi nước chống lại các nỗ lực của bất kỳ nước nào khác hoặc nhóm các nước khác để thiết lập quyền bá chủ”.

Trước các cuộc đàm phán, nhận ra rằng Trung Quốc và Mỹ có nhiều vị trí không thể dung hòa được, Chu Ân Lai đề nghị một bản thông cáo không chính thống. Hai bên nhất trí về cơ bản không đồng ý, mỗi bên nêu rõ quan điểm của mình trong các phần riêng biệt khi cần thiết. Về vấn đề Việt Nam gai góc, ví dụ, Hoa Kỳ xác nhận kế hoạch hòa bình mới nhất của Nixon, trong khi Trung Quốc bày tỏ sự hỗ trợ vững chắc cho các đề nghị của cộng sản.

Tuy nhiên, bất chấp kế hoạch về các tuyên bố đơn phương, Đài Loan vẫn là một trở ngại trong suốt quá trình đàm phán. Trong khi Hoa Kỳ đang tìm cách cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, nhưng vẫn chính thức công nhận chính phủ Quốc dân của Tưởng Giới Thạch về Đài Loan.

Thực ra, Hoa Kỳ đã đi từng bước nhỏ hướng tới một chính sách “hai Trung Quốc” trong nhiều năm. Chỉ bốn tháng trước đó, khi Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu về việc có nên thừa nhận nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hay không, Mỹ đảo ngược [quan điểm] đối lập 20 năm để bố trí chỗ ngồi cho Trung Quốc, nhưng phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm trục xuất Đài Loan. Cuối cùng, Mỹ đã không còn tranh đấu cho đại diện kép. Trung Quốc đã được nhận vào Liên Hiệp Quốc, Đài Loan đã bị loại ra – và Mỹ đã bỏ các quan hệ lừa dối với hai nước mà cả hai cảm thấy mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của cả Trung Quốc.

Người Trung Quốc coi sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Đài Loan là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và ép quân đội Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi hòn đảo. Nixon và Kissinger muốn điều kiện rút quân phải có sự giúp đỡ của Trung Quốc trong việc kết thúc chiến tranh Việt Nam. Và trong khi Trung Quốc xem các thỏa thuận của mình với Đài Loan là một vấn đề nội bộ một cách nghiêm túc, được xử lý mà họ thấy phù hợp, người Mỹ nhấn mạnh rằng Trung Quốc giải quyết vấn đề Đài Loan mà không được sử dụng vũ lực.

Cuối cùng, cả hai bên đã nhượng bộ. Như Henry Kissinger đã viết trong hồi ký của mình, cả Mỹ lẫn Trung Quốc, không bên nào muốn vấn đề Đài Loan là trở ngại trong mối quan hệ mới giữa hai bên: “Chủ đề cơ bản trong chuyến đi của Nixon – và Thông cáo Thượng Hải – là để vấn đề Đài Loan lại cho tương lai, để hai nước lấp cái hố ngăn cách hai mươi năm và theo đuổi chính sách song song nơi mà hai bên có cùng quyền lợi”.

Hoa Kỳ tuyên bố “mối quan tâm của họ trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan là do chính người Trung Quốc”, và khẳng định tất cả số quân Mỹ rút khỏi hòn đảo như là “mục tiêu cuối cùng”. Hoa Kỳ cũng đồng ý “giảm dần các lực lượng và các căn cứ quân sự ở Đài Loan để giảm căng thẳng trong khu vực”, do đó cho phép Trung Quốc giúp giảm bớt chiến tranh Việt Nam.

Về phần mình, Trung Quốc kiên quyết bác bỏ bất kỳ sự tính toán nào về “hai nước Trung Quốc”, tuyên bố dứt khoát rằng “Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc” và “Đài Loan là một tỉnh của Trung Quốc”. Hoa Kỳ đã khéo léo thừa nhận “rằng tất cả người Trung Quốc ở hai bên eo biển Đài Loan duy trì một nước Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc,” nhưng tránh các câu hỏi ai nên lãnh đạo “nước một Trung Quốc” này.

Phản đối vào phút cuối của Ngoại trưởng Rogers được xem như là một sự lảng tránh. Nixon và Kissinger đã cố tình giữ Rogers và nhân viên của ông ngoài các cuộc đàm phán về thông cáo, và khi các viên chức Bộ Ngoại giao cuối cùng đã nhìn thấy văn bản, họ đã phản đối ngay lập tức.

Tất cả các đối tác có ký hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ ở châu Á đã được được gọi tên cụ thể – ngoại trừ Đài Loan. Khi Rogers cố gắng đưa vấn đề để Nixon chú ý, Tổng thống giận dữ. Nixon biết ông không thể bỏ các cam kết của Mỹ dành cho Đài Loan mà không hứng chịu cơn thịnh nộ của những người ủng hộ bảo thủ của ông ở nhà. Ông không có đủ khả năng đón nhận hình ảnh xấu trước công luận nếu Rogers đã phá vỡ tôn ti và “rò rỉ” thông tin cho báo chí. Rogers đã cố gắng đưa thông cáo trở lại bàn đàm phán – làm Nixon và Kissinger bực mình – nhưng cuối cùng, cả hai bên chỉ đơn giản là bỏ tất cả các tài liệu tham khảo đối với các đối tác có ký hiệp ước với Hoa Kỳ, thay vì ép buộc trong vấn đề Đài Loan.

Thực tế, Nixon và Kissinger đã đi xa hơn nữa về Đài Loan trong đàm phán riêng của họ với Chu hơn là trong thông cáo. Theo ghi chú đã được đưa ra và các bản dịch các cuộc nói chuyện đã được tiết lộ trong thời gian gần đây cho thấy, phía Mỹ đã đề nghị Chu bảo đảm rộng rãi rằng họ dự định mở quan hệ ngoại giao đầy đủ với Bắc Kinh càng sớm càng tốt – và đã sẵn sàng hy sinh Đài Loan để làm điều đó. Tuy nhiên, theo sau vụ bê bối Watergate, Nixon đã không thể thực hiện những lời hứa hẹn này, và Hoa Kỳ không thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Trung Quốc cho đến năm 1979.

Tuy nhiên, một khi thông cáo Thượng Hải đã được ban hành, các văn bản đã được đặt trên tường. Như ông James Mann, nhà báo và học giả Trung Quốc đã viết: “…Bước đầu của Nixon nhằm truyền đạt sự chấp nhận của Mỹ, lần đầu tiên, về kết quả của cuộc nội chiến Trung Quốc và thất bại của Tưởng Giới Thạch. Hoa Kỳ ngừng thách thức quyền lực cai trị đất nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc…. Việc chấp nhận người Mỹ (trong thông cáo) và, thật ra để nắm lấy (trong các cuộc hội đàm riêng tư của Nixon) chính sách một Trung Quốc nhằm chi phối sự điều khiển của người Mỹ kể từ thời điểm đó trở đi”.


Người dịch: Ngọc Thu

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , | 1 Comment »

561. Good Morning, Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 25/04/2010

the Daily Standard

Good Morning, Việt Nam *

Ba mươi ba năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, đã có nhiều thay đổi – song không đủ

Bài của Duncan Currie

Ngày 15-5-2008


Ngày 30 tháng Tư đánh dấu kỷ niệm lần thứ 33 sự sụp đổ của Sài Gòn trước những người Cộng sản Bắc Việt Nam. Thủ đô cũ của Nam Việt Nam giờ được gọi là Thành phố Hồ Chí Minh, một cái tên phản ánh tốt cho cái quá khứ của Việt Nam hơn là hiện tại và tương lai của nó. Giống như John O’Sullivan đã quan sát, “Một Người Sao Hỏa đậu xuống Sài Gòn hay Hà Nội hôm nay chẳng biết gì về lịch sử từ năm 1970 sẽ cho rằng chắc chắn là miền Nam đã thắng trong cuộc chiến. Những thành phố này có tất cả những nhãn hiệu quần áo và nhà thiết kế của London hoặc Venice – và còn nhiều hơn cả hai thứ đó là cái sức sống nhạy bén kiểu cây nhà lá vườn.”

Mặc dù nó nhỏ hơn nhiều so với đất nước Trung Hoa, và theo đó cũng nhận được ít sự chú ý trên toàn cầu hơn, nhưng Việt Nam đã trở thành một trong những câu chuyện thành công lớn về kinh tế trong thế giới đang phát triển. Qua hai thập kỷ, nó đã tự chuyển đổi từ một con bệnh què cụt cùng kiệt thành một con hổ Á châu tráng kiện.

Chỉ quan sát những con số. Nền kinh tế của Việt Nam đã tăng trưởng với hơn 8% trong suốt ba năm. Kể từ khi chính phủ phát động cuộc cải cách kinh tế có tên là đổi mới vào năm 1986, hàng chục triệu người Việt Nam đã thoát khỏi nghèo nàn khốn khổ. Vào cuối năm 2007, trong những báo cáo của World Bank, tổng giá trị cổ phần hóa của Việt Nam đã “đạt 43% GDO”,” so với chỉ “1,5% hai năm trước.” Trong khi đó, “những cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài gần như tăng gấp đôi” trong năm 2007, “mức xuất khẩu chưa kể dầu lửa đã tăng 27%,” và “dự trữ ngoại tệ tăng lên 10 tỉ đô la đạt 21,6 tỉ đô la, tương đương 30,2% GDP hay trị giá 3,3 tháng nhập khẩu.”

Các nhà lãnh đạo của đất nước tỏ ra háo hức muốn mở rộng giao thương với nước ngoài (Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế giới vào năm ngoái), tăng các cơ hội đầu tư, và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân.

“Việt Nam đang chạy đua cho một tương lai gần hơn với Hoa Kỳ ngày nay,” đó là nhận xét của Daniel Griswold, một nhà phân tích chính sách thương mại của Cato Institute. Trong những năm gần đây, khu vực công nghệ thông tin đang tăng trưởng nhanh của nó đã đóng một vai trò quan trọng trong thu hút vốn tư bản nước ngoài và thúc đẩy thêm cho mở rộng tự do. Trương Gia Bình, CEO của tập đoàn phần mềm Việt Nam FPT, có thể đúng là người giàu nhất nước này. “Sự mở cửa ra với bên ngoài của Việt Nam do công nghệ là đáng chú ý,” theo như nhận xét của Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc trường Đại học New South Wales và Viện hàn lâm Quốc phòng Úc (Australian Defense Force Academy). Phân tích thêm điều này, Thayer đã phán đoán rằng “Việt Nam sẽ tiếp tục mở cửa và mở cửa và mở cửa.”

Đúng vậy, nó còn là một nước đang phát triển với những vùng quê nghèo khổ. Tuy nhiên, sự phát triển dài lâu của Việt Nam thì thật đặc biệt. “Mới cách đây không lâu vào năm 1993, 58% dân số sống ở mức nghèo khổ, so với 37% năm 1998 và 29% năm 2002,” World Bank đã ghi nhận. “Những số liệu này giảm một nửa lượng dân chúng sống ở mức nghèo trong chưa đầy một thập kỷ. Hoặc, nói cách khác, là gần một phần ba dân số đã được đưa ra khỏi diện nghèo đói trong chưa đầy mười năm.” Quả thực, vào năm 2002, tỉ lệ nghèo đói của nó về căn bản thấp hơn những nước khác trong cùng mức độ phát triển. Vì vậy, ‘tốc độ’ mà tình trạng nghèo đói được thuyên giảm tại Việt Nam là nhanh hơn nhiều so với tốc độ trung bình ở khắp các nước đang phát triển.”

Điều thần kỳ Việt Nam phác họa căn nguyên của nó bằng ngược thời gian về những năm giữa thập kỷ 1980, khi mà đất nước bị tê liệt bởi những cơn khủng hoảng kinh tế. “Về căn bản nó là một tình huống khẩn cấp,” theo như đánh giá của Edmund Malesky, một chuyên gia về Việt Nam của trường California University, San Diago. Năm 1986, đảng Cộng sản quyết định dấn mình vào con đường táo bạo bằng cải cách theo định hướng thị trường. Hà Nội chuyển dịch dần việc xoá bỏ tập thể hóa nông nghiệp, nới lỏng những hạn chế đối với tự do kinh doanh, khuyếch trương khu vực tư nhân, mở rộng tự do hóa giá cả, và đẩy mạnh thương mại và đầu tư nước ngoài.

“Nó thực sự có tác dụng trợ giúp bởi vì bạn có thể thấy được hệ thống khác đã bị thất bại một cách khốn khổ,” đó là nhận xét của Malcolm Gillis, chủ tịch hội đồng quản trị Quỹ Giáo dục Việt Nam. Những cải cách ở Việt Nam hậu 1986 là tương tự với những gì mà Trung Quốc đã đi theo sau năm 1978. Như Malesky chỉ rõ, Việt Nam đã có một khu vực ngoài quốc doanh đáng kể từ trước 1986. Qua nhiều năm, những doanh nghiệp tư nhân đã bị kẹp chặt trong khe hẹp của một thể chế kế hoạch hóa tập trung. Nước này cũng đã cho phép thử nghiệm trên thị trường nội địa được trao đổi mua bán nông sản.

Ngày nay, Việt Nam lấy làm kiêu hãnh có một nền kinh tế ở thị thành gây ấn tượng mạnh. “Những tầng lớp trung lưu của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã phản ứng khá tốt với chủ nghĩa tư bản,” theo báo cáo của REUTERS tháng 11-2006. “Hoặc những gia đình có những bữa ăn nhà hàng quá hoang toàng, những thương nhân tậu những chiếc xe hơi sa xỉ, hoặc những người dân mua sắm những món hàng vô nghĩa, phong cách tiêu dùng phô trương đã trở nên phổ biến, đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.”

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam tăng mạnh vào đầu những năm 1990, rồi suy sụp trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính Á châu 1997-1998, và bùng nổ một cách dễ dàng trong mấy năm qua. Nó đã đạt một mức kỷ lục năm 2007. Trong Chỉ số Tin cậy FDI mới nhất của nó, hãng tư vấn A.T. Kearney đã xếp Việt Nam đứng thứ 12 trong đích đến hấp dẫn nhất của thế giới, là “mức xếp hạng cao nhất chưa từng thấy” của Việt Nam trong bảng chỉ số.

“Tôi thật sự nhận ra cái xứ sở sinh động,” Gillis nói. “Sinh động với sự đổi mới.” Tầm quan trọng của nhân khẩu học là không thể bỏ qua. Ước đoán có hơn 2 phần 3 trong số 85 triệu người Việt Nam hiện dưới 35 tuổi. Chất trẻ trung đó “làm nên một đất nước rất năng động,” theo Raymond Burghardt, từng làm việc tại Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam từ 2001 đến 2004.

Nhân tố trẻ trung cũng giúp giải thích vì sao Việt Nam trở nên hâm mộ người Mỹ đến thế. Hầu hết người Việt không có ý niệm thực sự về chiến tranh. Song họ nhận biết được đầu tư của Hoa Kỳ giúp cho đất nước họ ra sao, và, như Malesky nêu ra, “bản chất luôn khát vọng” của họ khuyến khích một cái nhìn tích cực đối với ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Giới trẻ Việt Nam cũng tỏ ta mê văn hóa đại chúng của Mỹ.

“Sự khâm phục đối với Hoa Kỳ thuộc về khía cạnh của thứ quyền lực mềm,” Thayer nhận xét. “Mỹ có một sức hấp dẫn to lớn.” Khi nhà sáng lập Microsoft Bill Gates viếng thăm đất nước này vào tháng Tư năm 2006, ông đã nhận được một sự nghênh đón như một người anh hùng. Trong một hiệu sách nào đó của Hà Nội, Burghardt nói, “đều có cả một chuyên mục nhiệt thành với Bill Gates.” Burghardt phán đoán rằng Việt Nam giờ đây nằm trong số những quốc gia hâm mộ người Mỹ nhất ở Đông Nam Á. “Có nhiều người dân cay nghiệt với chúng tôi,” ông thú nhận, “song đó là một ngoại lệ chiếm tỉ lệ nho nhỏ.”

Sau khi Liên Xô sụp đổ, Hà Nội đã đưa ra quyết định thực dụng tăng cường các liên hệ ngoại giao của mình ở Đông Nam Á và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký kết một thỏa thuận thương mại song phương vào năm 2000, và thương mại hai chiều kể từ đó đã tăng lên. Ở đó cũng có sự tiến bộ quan trọng trong hợp tác an ninh đôi bên. Người Việt Nam lo ngại về ảnh hưởng khu vực đang gia tăng của Trung Quốc, theo nhận xét của Burghardt. Cùng lúc, họ lại không muốn bị nhìn nhận như là đang tham gia vào một liên minh “chống Trung Quốc.”

“Giờ đây họ đang phân chia thành thế tam giác rõ rệt,” Malesky nói, trong niềm hy vọng giữ những mối liên kết gần gũi với cả Washington và Bắc Kinh. Vấn đề người Việt Nam bị thương tật bởi Chất độc Da cam làm rụng lá cây trong chiến tranh (thứ được Burghardt gọi là “bóng ma cuối cùng còn lại của cuộc chiến”) vẫn còn là một nỗi đau đối với Hà Nội. Tuy nhiên, theo Burghardt về căn bản ông “lạc quan” rằng quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam “sẽ tiếp tục được cả thiện.”

Đương nhiên, chừng nào mà chính phủ Việt Nam vẫn còn là một chế độ độc tài chuyên chế độc đảng ngược đãi những người bênh vực cho dân chủ, các nhà báo độc lập, những người có đức tin tôn giáo, và các dân tộc thiểu số, thì tiến trình nâng cấp quan hệ song phương sẽ bị cản trở. Hà Nội thừa nhận điều này, và trong những năm gần đây nó đã thực hiện những bước đi làm dịu những mối quan ngại của Hoa Kỳ. Vào tháng 11-2006, Bộ Ngoại giao đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách những nước có đối xử tồi tệ nhất với tự do tôn giáo. Song nhiều nhà hoạt động có cảm giác rằng đó là một sai lầm. Vào đầu tháng này, Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế ở Hoa Kỳ đã đưa ra một báo cáo với lý lẽ thuyết phục rằng, trong khi Việt Nam thực hiện được “những tiến bộ đáng chú ý,” chính quyền Bush đã hành động hấp tấp trong việc thay đổi mức độ đánh giá về nước này.

Trong sự khảo sát mới nhất của mình về tự do trên toàn thế giới, tổ chức Freedom House ** đã đưa ra mức xếp hạng thấp nhất cho Việt Nam (7 điểm trên 7) cho “quyền lợi chính trị” và mức xếp hạng thấp thứ ba (5 điểm trên 7) cho “các quyền tự do dân sự.” Điểm số xếp hạng gần đây đưa Việt Nam lên trước Trung Quốc nhưng lại đứng sau Malaysia, Singapore, và Thái Lan. Xét chung thì Freedom House phân loại Việt Nam thuộc diện “không có tự do.”

“Đây vẫn còn là một hệ thống chính trị theo chủ nghĩa Lê nin,” Burghardt nhận xét. Mặc dù các hoạt động bất đồng chính kiến ở nước này tỏ ra can đảm, nhưng quy mô của nó vẫn nhỏ bé. Việt Nam không làm gì để tiếp cận với “tâm trạng không ổn định của giới trí thức” trong khi Trung Quốc đã có từ cuối những năm 1980 (trước cuộc đàn áp ở Quảng trường Thiên An Môn). “Dân chúng thì đúng là tự hào về những gì đất nước đã làm được,” Burghardt giải thích, và họ trao sự tin cậy của mình cho đảng cầm quyền để khôi phục nền kinh tế và nâng cao mức sống.

Thật thú vị, Malesky nhận xét rằng Việt Nam đã có nhiều tham vọng hơn Trung Quốc trong cuộc thử nghiệm “dân chủ bên trong nội bộ đảng.” Ông cũng nói rằng so với Trung Quốc, bộ máy hành chính quan liêu của chính phủ Việt Nam độc lập hơn đối với đảng Cộng sản. Tuy nhiên, Trung Quốc đã làm được nhiều hơn trong việc đẩy mạnh cải cách luật pháp.

“Đó là một nhóm đáng kể tại Việt Nam vẫn còn lo sợ hòa bình phát triển,” Thayer nói. “Ở đó vẫn còn một thứ tàn dư hệ tư tưởng chưa rũ bỏ đi được.” Ông nhấn mạnh rằng “đảng Cộng sản không thống nhất,” với một số thành viên tán thành mở rộng tự do hơn những người khác. Trong khi nền kinh tế đã thay đổi, ngày càng nhiều hơn những người Việt Nam sẽ bước vào giới trung lưu và vị trí của các công ty tư nhân sẽ tiếp tục được nâng lên. “Những người này sẽ đòi hỏi một tiếng nói trong việc ra các quyết định chính trị,” Thayer biện luận. “Hệ thống nhà nước không thể khước từ tiếng nói của họ.”

Có thể – song bao lâu thì điều đó xảy ra? Trong một bài báo mới đây về Việt Nam, thông tín viên của tờ Economist Peter Collins đã viết rằng “ngay cả khi chính phủ chịu chấp nhận một phạm vi rộng lớn những ảnh hưởng từ bên ngoài, nó vẫn cố gắng giữ quyền kiểm soát trên tất cả những gì thuộc về chính trị và văn hóa.” Trong khi Burghardt nhận xét giọng buồn rầu, “cải cách chính trị thực sự sẽ rất chậm chạp ở Việt Nam.”


Duncan Currie là chủ nhiệm của tờ The America.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* Good Morning, Vietnam: tên bài cũng là tên một cuốn phim truyện nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam trình chiếu năm 1987, có nam tài tử tài danh Robin Williams thủ vai chính, giành các giải ASCAP, American Comedy Award, Golden Globe,… và được đề cử giải OSCAR

** Tham khảo bản đồ và báo cáo của Freedom House

Đăng trong Chiến tranh VN | 5 phản hồi »

551. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Thanh Nghị

Đăng bởi anhbasam on 19/04/2010

Đề án lịch sử quốc tế về chiến tranh lạnh

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn,

Phạm Văn Đồng và Lê Thanh Nghị


05-06-1973

Mô tả: Vai trò của Trung Quốc và Việt Nam trong cuộc cách mạng Campuchia; cũng như thảo luận tình hình hiện tại ở miền Nam Việt Nam.


Chu Ân Lai: Thế giới hiện đang trong tình trạng hỗn loạn. Trong giai đoạn sau khi Hiệp định Paris, các nước Đông Dương nên dành thời gian để thư giãn và xây dựng lực lượng của mình. Trong thời gian 5-10 năm tới, miền Nam Việt Nam, Lào, và Campuchia nên xây dựng hòa bình, độc lập, và trung lập. Tóm lại, chúng ta phải để dành thời gian và chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh kéo dài.

Mỗi nước có kẻ thù của riêng mình. Nên mỗi nước phải chuẩn bị, bằng cách tăng gia sản xuất và đào tạo lực lượng vũ trang. Nếu chúng ta không thận trọng, kẻ thù sẽ khai thác điểm yếu của chúng ta. Nếu chúng ta chuẩn bị tốt, chúng ta sẽ sẵn sàng cho bất kỳ hành động nào của kẻ thù.

Hiện tại, lệnh ngừng bắn được chấp hành tốt. Vấn đề Campuchia không được giải quyết. Tuy nhiên, người dân, sau 20 năm chiến đấu chỉ mong muốn thư giãn. Cho nên, rất cần thiết để các ông khôi phục sản xuất và sử dụng lực lượng lao động có hiệu quả. Đây là những điều lớn cần làm. Chúng tôi đồng ý với các ông rằng, chúng tôi phải khôi phục sản xuất và đào tạo lực lượng vũ trang cùng một lúc.

Lê Duẩn: Mỹ nhắm tới các mục tiêu chính trị khi chiến đấu tại Việt Nam. Nói về chiến lược, họ không sử dụng một chiến lược nhất quán. Thay vào đó, trong cuộc chiến chủ nghĩa thực dân mới này, họ đã thay đổi một số chiến lược, từ một cuộc chiến đặc biệt đến chiến tranh giới hạn và “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mục tiêu của họ không những biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa của họ, mà còn thực hiện chiến lược toàn cầu của họ ở Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, họ muốn kiểm soát miền Nam, sau đó tấn công miền Bắc Việt Nam, do đó làm tổn hại đến hệ thống phòng thủ Chủ nghĩa Xã hội ở Đông Nam Á và đe dọa phong trào độc lập dân tộc trên thế giới.

Chu Ân Lai: Vì vậy cho nên các ông đã chiến đấu và đã không kiên nhẫn như Lâm Bưu khuyên. Kiên nhẫn là câu châm ngôn trong chiến lược của Lâm Bưu. [Ngoài câu đó,] ông này chẳng biết gì khác.


Tôi muốn chia sẻ với các ông một số thông tin tình báo mà chúng tôi vừa nhận được. Mỹ muốn Sài Gòn giảm bớt chiến đấu. [Đại sứ Hoa Kỳ, ông William] Sullivan (2) đã bay tới Sài Gòn để nói như vậy, điều mà ông ta đã nói với Trần Văn Huong (3) – Đại sứ của Sài Gòn ở Washington: Nixon đang gặp khó khăn và Sài Gòn không nên làm cho tình hình phức tạp hơn. Điều này đúng, bởi vì nó giải thích tại sao Kissinger muốn có một tuyên bố chung với các ông.


Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ chắc chắn thả Lon Nol để cho người dân Campuchia tự giải quyết vấn đề của họ. Đây là một cuộc nội chiến Campuchia, do đó Mỹ nên rời khỏi Campuchia. Đối với Mặt trận Dân tộc Thống nhất Campuchia, cuộc chiến này là để trừng phạt Lon Nol. Vì vậy, chúng tôi phải tham khảo ý kiến của Hoàng thân Sihanouk xem có thương lượng hay không. Cùng lúc, chúng tôi không phải đại diện cho Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia (4).

Lê Duẩn: các đồng chí Campuchia đang tiến bộ rất nhiều. Họ đang làm rất tốt.

Chu Ân Lai: Hiện vẫn không chắc chắn về tình hình. Tôi nhớ lại năm ngoái, Lon Nol đã đến Trung Quốc trong lễ kỷ niệm 20 năm Quốc khánh Trung Quốc và gặp gỡ đồng chí Phạm Văn Đồng. Ông ta đã rất tự tin. Lúc đó, ông ta vẫn còn kiểm soát tất cả việc vận chuyển trang thiết bị cho miền Nam Việt Nam.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi đã không liệu trước rằng mọi thứ sẽ thay đổi trong một thời gian rất ngắn sau đó. Tuy nhiên, ông ta đáng bị vậy.

Chu Ân Lai: Nhiều điều luôn xảy ra ngoài mong muốn của chúng ta. Lúc đó, các ông đã có các căn cứ quân sự và y tế tại Campuchia và chúng tôi đã không biết điều này. Nhưng Lon Nol biết. Và khi Lon Nol đòi tiền lệ phí đường bộ cho việc vận chuyển trang thiết qua Campuchia, chúng tôi đã phải trả tiền.

Lê Duẩn: Chúng tôi muốn nói về chính sách của chúng tôi ở miền Nam. Tình hình sẽ được rõ ràng trong thời gian ba hoặc bốn năm. Bằng mọi giá, chính phủ ở đó cuối cùng phải là một chính phủ dân chủ và quốc gia. Chính phủ này có thể tồn tại trong 10 hoặc 15 năm. Và sau đó có thể đổi tên. Vì vậy, chúng tôi không vội vàng biến miền Nam Việt Nam thành xã hội chủ nghĩa hoàn toàn.

Phạm Văn Đồng: Trong cuộc đấu tranh này, mục tiêu của chúng tôi là độc lập và dân chủ. Chúng tôi không vội vàng với mục tiêu thống nhất quốc gia. Một điều chúng ta nên làm là làm nổi bật vai trò Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng lâm thời với một chính sách ngoại giao trung lập.


Chu Ân Lai: Và vấn đề chính là sự lãnh đạo của Đảng.


Phạm Văn Đồng: Đúng vậy. Lenin cũng thảo luận vấn đề này trong cuốn sách của ông có tựa đề “Hai chiến lược”. Toàn bộ vấn đề là [vai trò] lãnh đạo. Chúng tôi sẽ làm nổi bật vai trò Mặt trận Giải phóng Dân tộc cả chính sách bên trong nội bộ lẫn bên ngoài.

Lê Duẩn: Khi thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh,” kẻ thù rõ ràng là đang mở rộng chiến tranh. Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ có sức mạnh rất lớn và nó có thể chấp nhận thất bại ở một mức độ nhất định. Rất khó để đánh bại Hoa Kỳ vì nó là một nước mạnh. Các ông đã khuyên chúng tôi giải quyết vấn đề Hoa Kỳ rút quân trước và giải quyết vấn đề Sài Gòn sau đó. Chúng tôi nghĩ rằng điều này đúng.


Ghi chú:

1. Sau đó cùng ngày, Lê Duẩn đã gặp Mao Trạch Đông (Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh cũng có mặt). Hồ sơ cho thấy việc trao đổi đã diễn ra sau đây:

Lê Duẩn: phán đoán chính xác của Chủ tịch là dành cho chúng tôi một sự khuyến khích to lớn.

Mao Trạch Đông: Bộ Ngoại giao của chúng tôi đã phát hành một thông tư, trong đó nói rằng chiến lược quan trọng của Hoa Kỳ nằm ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tôi nói rằng điều này không đúng. Hoa Kỳ có nhiều vấn đề ở châu Âu, Trung Đông, và chính ở Mỹ. Sớm hay muộn họ cần phải rút một số quân, và họ sẽ không ở lại ở châu Á – Thái Bình Dương vĩnh viễn. Do đó, việc đàm phán của đồng chí Lê Đức Thọ tại Paris sẽ có kết quả gì đó.

Mao Trạch Đông: Lâm Bưu biết chỉ có chiến tranh du kích với ý định giữ cho Hoa Kỳ sa lầy ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi muốn nhìn thấy các ông chiến đấu trong cuộc chiến di động và tiêu diệt các lực lượng của họ.

Chu Ân Lai: Chúng tôi muốn nói tới lực lượng thường xuyên của họ.

2. William Sullivan Healy (1922 -) là Phó Trợ lý Ngoại trưởng từ khi kết thúc nhiệm kỳ của ông là Đại sứ Mỹ tại Lào năm 1969 cho đến khi ông trở thành đại sứ của Philippines năm 1973; sau này ông phục vụ như là sứ giả ở Iran cho đến khi Cách mạng Iran năm 1978 – 79.

3. Trần Văn Hương (1903 -)(***), cựu thị trưởng Sài Gòn, người đã hai lần làm Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 11 năm 1964 đến tháng 1 năm 1965, và tháng 5 đến tháng 8 năm 1969. Sau này trở thành Phó Tổng thống thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và làm Tổng thống trong 7 ngày hồi tháng 4 năm 1975.

4. Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia, có trụ sở tại Bắc Kinh do Sihanouk và Khmer Đỏ thành lập năm 1970.


——

Ghi chú thêm của người dịch:

(*) FUNK: Front Uni National du Kampuchea, tiếng Anh là National United Front of Kampuchea: Mặt trận Dân tộc Thống nhất Campuchia.

(**) GRUNK: Gouvernement Royal d’Union Nationale du Kampuchea, tiếng Anh là Royal Government of National Union of Kampuchea: Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia.

(***) Trần Văn Hương mất năm 1982, thọ 79 tuổi.

Người dịch: Ngọc Thu

Dịch từ:

http://www.wilsoncenter.org/index.cfm?topic_id=1409&fuseaction=va2.document&identifier=5034CF35-96B6-175C-9AC31B62247E1931&sort=Collection&item=The%20Vietnam%20%28Indochina%29%20War%28s%29

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 1 Comment »

543. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh

Đăng bởi anhbasam on 13/04/2010

Wilson Center

Đề án lịch sử quốc tế về chiến tranh lạnh

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình,

Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh

Ngày 13-04-1966

Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam, trong khi chỉ ra [những điểm] có vẻ ngờ vực từ phía Việt Nam; Việt Nam dựa vào sự hỗ trợ của Trung Quốc.


Đặng Tiểu Bình: các ông đã nói về sự thật cũng như đề cập đến sự công bằng. Vậy các ông vẫn còn sợ cái gì? Tại sao các ông lại sợ không làm vừa lòng Liên Xô, vậy còn Trung Quốc thì sao? Tôi muốn nói thẳng với các ông những điều hiện tại tôi cảm nhận: các đồng chí Việt Nam có những suy nghĩ khác về phương pháp giúp đỡ của chúng tôi, nhưng mà các ông chưa nói với chúng tôi.

Tôi nhớ đồng chí Mao phê bình chúng tôi, các viên chức Trung Quốc tham dự buổi nói chuyện giữa đồng chí Mao Trạch Đông và đồng chí Lê Duẩn tại Beidaihe (2) –  về việc “quá nhiệt tình” đối với đòi hỏi của Việt Nam. Bây giờ chúng tôi thấy đồng chí Mao nhìn xa trông rộng.

Lê Duẩn: Bây giờ, khi các ông nói lại điều đó lần nữa, chúng tôi đã rõ. Tại thời điểm đó tôi không hiểu những gì đồng chí Mao nói bởi vì thông dịch quá dở.

Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi hiểu rằng đồng chí Mao phê bình chúng tôi, đó là đồng chí Chu Ân Lai, tôi và những người khác. Dĩ nhiên, không có nghĩa là đồng chí Mao không làm hết sức mình để giúp đỡ Việt Nam. Với các ông đã quá rõ là chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các đồng chí bởi vì nằm trong khả năng của chúng tôi.

Bây giờ, có vẻ như đồng chí Mao Trạch Đông nhìn xa trông rộng trong vấn đề này. Trong những năm gần đây, chúng tôi đã có kinh nghiệm trong các mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Sự thật là sự quá nhiệt tình của chúng tôi đã gây nghi ngờ cho các đồng chí Việt Nam? Hiện tại chúng tôi có 130.000 quân lính đang ở nước các đồng chí. Việc xây dựng [căn cứ] quân sự ở Đông Bắc cũng như xây dựng tuyến đường sắt là các dự án mà chúng tôi đề xuất, và hơn nữa, chúng tôi đã gửi hàng chục ngàn quân lính tới biên giới.

Chúng tôi cũng đã thảo luận khả năng chiến đấu chung bất cứ khi nào cuộc chiến bùng nổ. Các ông có nghi ngờ chúng tôi vì chúng tôi quá nhiệt tình hay không? Người Trung Quốc có muốn kiểm soát Việt Nam? Chúng tôi muốn nói thẳng cho các ông biết rằng chúng tôi không hề có ý định đó. Ở đây, chúng tôi không cần bất kỳ cuộc đàm phán ngoại giao nào. Nếu chúng tôi mắc phải sai lầm đã làm cho các ông nghi ngờ, có nghĩa là đồng chí Mao thật sự nhìn xa trông rộng.

Hơn nữa, hiện nay nhiều người làm cho Trung Quốc bị mang tiếng: Khrushchev (*) là người theo chủ nghĩa xét lại, và Trung Quốc thì theo chủ nghĩa giáo điều và mạo hiểm.

Vì vậy, chúng tôi hy vọng trong vấn đề này, nếu các ông có bất kỳ vấn đề gì, làm ơn nói thẳng cho chúng tôi biết. Thái độ của chúng tôi cho đến nay và từ bây giờ sẽ là: các ông đang ở tiền tuyến còn chúng tôi đang ở hậu phương. Chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các ông trong khả năng của chúng tôi. Nhưng chúng ta không nên có quá nhiều nhiệt tình.

Việc xây dựng ở các đảo phía đông bắc đã hoàn thành. Hai bên đã thảo luận việc xây dựng dọc bờ biển sẽ do những người lính trong quân đội của chúng tôi thực hiện. Gần đây, đồng chí Văn Tiến Dũng (3) đề nghị sau khi hoàn thành việc xây dựng ở phía đông bắc, những người lính trong quân đội của chúng tôi sẽ giúp các ông xây dựng các địa điểm pháo binh ở vùng đồng bằng trung tâm. Chúng tôi vẫn chưa trả lời. Bây giờ tôi đặt một câu hỏi để các ông cân nhắc: các ông có cần những người lính trong quân đội của chúng tôi làm điều đó hay không?

Chu Ân Lai: [Đề nghị về] việc xây dựng 45 địa điểm pháo binh gần các vị trí tên lửa của Liên Xô.


Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi không biết liệu có tốt cho mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước hay không khi chúng tôi đã gửi 100.000 quân đến Việt Nam. Cá nhân, tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho những người lính trong quân đội của chúng tôi trở về nhà ngay sau khi họ hoàn thành công việc. Trong vấn đề này, chúng tôi không có bất kỳ ý định xấu nào, nhưng kết quả không phải là những điều mà cả hai (nước) chúng ta muốn.

Cách đây không lâu, có một chuyện đã xảy ra mà chúng tôi nghĩ không phải là ngẫu nhiên: Trên đường đến Hòn Gai để lấy than đá, một con tàu Trung Quốc đã không được phép cập cảng. Nó đã ở lại ngoài khơi 4 ngày. Yêu cầu để gọi từ bờ bị từ chối. Con tàu này đang thi hành nhiệm vụ theo một thỏa thuận thương mại, không phải là một tàu chiến.

Lê Duẩn: Chúng tôi không biết điều này.

Đặng Tiểu Bình: Bộ ngoại giao của chúng tôi đã gửi một bản ghi nhớ cho các ông, nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa trả lời. Những chuyện như thế này chưa từng xảy ra trong 10 năm qua.

Chu Ân Lai: Ngay cả tàu Trung Quốc yêu cầu được vào cảng Việt Nam trốn máy bay Mỹ, để được cung cấp nước ngọt và gọi điện thoại cũng bị từ chối. Một trong những cán bộ của chúng tôi, người phụ trách việc mua bán với nước ngoài, sau đó đã thảo luận với các nhà chức trách ở cảng nhiều lần, và sau đó con tàu mới có thể vào cảng của các ông. Các đồng chí phụ trách cảng Cẩm Phả thậm chí nói: Đây là chủ quyền của chúng tôi, các ông chỉ có thể vào khi được phép. Trong khi đó, chúng tôi nói rằng tất cả các tàu và máy bay của Việt Nam có thể vào các cảng và sân bay của Trung Quốc bất cứ lúc nào nếu bị máy bay Mỹ truy đuổi.

Đặng Tiểu Bình: Bây giờ, tôi muốn nói về một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước. Trong số 100.000 quân lính của quân đội Trung Quốc, những người hiện nay đang ở nước các ông, có thể có người nào đó làm sai. Và về phía các ông, cũng có thể có những người muốn sử dụng những sự cố này để gây chia rẽ giữa hai đảng và hai nước.

Chúng ta nên thẳng thắn nói về vấn đề này bây giờ bởi vì điều này không chỉ là mảng tối mà còn gây một số thiệt hại trong các mối quan hệ của chúng ta. Nó không chỉ là những vấn đề liên quan đến sự đánh giá của chúng tôi về sự trợ giúp của Liên Xô. Các ông có nghi ngờ Trung Quốc giúp Việt Nam là vì mục đích riêng của chúng tôi? Chúng tôi hy vọng rằng các ông có thể nói trực tiếp cho chúng tôi biết nếu các ông muốn chúng tôi giúp đỡ. Vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng. Chúng tôi sẽ rút quân ngay lập tức. Chúng tôi có rất nhiều thứ cần làm tại Trung Quốc. Và những người lính trong quân đội đóng quân dọc theo biên giới sẽ được lệnh quay trở lại lục địa (4).

Lê Duẩn: Tôi xin trình bày một số ý. Khó khăn là sự phán đoán của chúng ta khác nhau. Theo kinh nghiệm trong Đảng của chúng tôi cho thấy, cần có thời gian để làm cho các ý kiến khác nhau đi đến sự đồng thuận.

Chúng tôi không nói chuyện công khai về các ý kiến khác nhau giữa chúng tôi. Chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam một phần là chân thành, cho nên chúng tôi không hỏi liệu Liên Xô sẽ bán đứt Việt Nam cũng như chúng tôi không nói Liên Xô vu cáo Trung Quốc trong vấn đề vận chuyển viện trợ của Liên Xô. Bởi vì chúng tôi biết rằng nếu chúng tôi nói điều này, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn. Đó là do hoàn cảnh của chúng tôi.

Vấn đề chính là làm thế nào để đánh giá Liên Xô. Các ông đang nói rằng Liên Xô đang bán đứng Việt Nam, nhưng chúng tôi không nói như vậy. Tất cả các vấn đề khác bắt nguồn từ sự phán đoán này. Liên quan đến sự trợ giúp của Trung Quốc cho Việt Nam, chúng tôi hiểu rất rõ và chúng tôi không có bất kỳ mối quan ngại về điều đó. Bây giờ đang có hơn 100.000 quân lính của quân đội Trung Quốc tại Việt Nam, nhưng chúng tôi nghĩ rằng bất cứ khi nào có chuyện nghiêm trọng xảy ra, có thể cần hơn 500.000. Đây là sự hỗ trợ từ một đất nước anh em.

Chúng tôi nghĩ rằng là một đất nước xã hội chủ nghĩa anh em, các ông có thể làm điều đó, các ông có thể giúp chúng tôi như thế này. Tôi đã có một cuộc tranh cãi với Khrushchev về một vấn đề tương tự. Khrushchev nói rằng người Việt Nam ủng hộ Trung Quốc sở hữu bom nguyên tử để Trung Quốc có thể tấn công Liên Xô. Tôi nói rằng điều đó không đúng sự thật, Trung Quốc sẽ không bao giờ tấn công Liên Xô.

Hôm nay, tôi nói rằng sự đánh giá của một đất nước xã hội chủ nghĩa đối với một đất nước xã hội chủ nghĩa khác phải dựa trên chủ nghĩa quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp của chúng tôi, [nếu] cuộc cách mạng Trung Quốc không thành công, thì cách mạng Việt Nam khó có thể thành công. Chúng tôi cần sự hỗ trợ từ tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Trung Quốc là trực tiếp và rộng rãi nhất.

Như các ông đã nói, mỗi quốc gia nên tự bảo vệ mình nhưng họ cũng nên dựa vào sự trợ giúp quốc tế. Vì vậy, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng sự nhiệt tình của các ông có thể gây nguy hại trong bất kỳ tình huống nào. Ngược lại, các ông càng nhiệt tình sẽ càng có lợi cho chúng tôi. Sự giúp đỡ nhiệt tình của các ông có thể giúp chúng tôi cứu sống 2-3 triệu người. Đây là một vấn đề quan trọng. Chúng tôi đánh giá cao sự nhiệt tình của các ông. Một đất nước nhỏ như Việt Nam rất cần sự trợ giúp quốc tế. Sự trợ giúp này tiết kiệm cho chúng tôi rất nhiều máu.

Các mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tồn tại không chỉ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ mà còn trong tương lai dài lâu ở phía trước. Ngay cả khi Trung Quốc không giúp chúng tôi nhiều, chúng tôi vẫn muốn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, vì điều này đảm bảo cho sự sống còn của đất nước chúng tôi.

Đối với Liên Xô, chúng tôi vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với họ. Nhưng chúng tôi cũng chỉ trích Liên Xô nếu họ tiếp nhận những lời chỉ trích của chúng tôi.

Trong quan hệ giữa hai đảng chúng ta, chúng ta cảm thấy tốt hơn khi có nhiều sự đồng thuận và chúng ta lo ngại nhiều hơn khi có ít sự đồng thuận. Chúng tôi quan tâm không chỉ về sự trợ giúp của các ông mà còn quan tâm đến một vấn đề quan trọng hơn, đó là quan hệ giữa hai nước. Ủy ban Thường trực Trung ương Đảng của chúng tôi luôn luôn nghĩ đến việc làm thế nào để tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai đảng và hai nước.

Về sự cố của tàu Trung Quốc gặp khó khăn khi vào cảng Việt Nam, tôi không biết vấn đề này. Chúng tôi không quan tâm đến vấn đề 130.000 quân lính của các ông ở nước chúng tôi, thì tại sao chúng tôi lại quan tâm đến một con tàu? Nếu đó là sai lầm của người phụ trách cảng, người này cũng có thể là một đại diện tiêu cực cố gắng kích động. Hoặc sai lầm của người này có thể được những kẻ khiêu khích khác sử dụng. Đó là một sai lầm cá nhân. Điều chúng tôi nghĩ về Trung Quốc không bao giờ thay đổi.

Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi cần phải có một nghĩa vụ đạo đức đối với các ông và đối với phong trào Cộng sản quốc tế. Chúng tôi tiếp tục đấu tranh chống Mỹ cho đến chiến thắng cuối cùng. Chúng tôi vẫn duy trì tinh thần quốc tế vô sản. Vì lợi ích của phong trào cộng sản quốc tế và tinh thần quốc tế, chẳng hề quan trọng nếu quá trình phát triển xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam kéo dài trong 30 hoặc 40 năm.

Tôi muốn thêm một số ý kiến cá nhân của tôi. Hiện nay, có một phong trào cải cách tương đối mạnh mẽ trên thế giới, không chỉ ở Tây Âu mà còn ở Đông Âu và Liên Xô. Nhiều quốc gia áp dụng một trong hai con đường: chủ nghĩa cải cách hay chủ nghĩa phát xít, là những quốc gia bị giai cấp tư sản cai trị. Vì vậy, tôi nghĩ rằng nên có một số quốc gia cách mạng như Trung Quốc để đối phó với các quốc gia cải cách, chỉ trích họ, và đồng thời hợp tác với họ, để dẫn họ vào con đường cách mạng.

Họ là những nhà cải cách, do đó một mặt, họ là phản cách mạng, đó là lý do tại sao chúng ta nên phê bình họ. Nhưng mặt khác, họ chống đế quốc, đó là lý do tại sao chúng ta có thể hợp tác với họ. Trong lịch sử cách mạng Trung Quốc, các ông đã làm điều tương tự. Đồng chí Mao Trạch Đông thành lập Mặt trận Thống nhất chống Nhật với Tưởng Giới Thạch.

Vì vậy, ý kiến cá nhân của tôi là Trung Quốc, trong khi giữ nguyên các biểu ngữ cách mạng, cần hợp tác với các quốc gia cải cách để giúp họ thực hiện cuộc cách mạng. Đây là phán đoán cũng như chính sách của chúng tôi. Điều này không nhất thiết là đúng, nhưng đó là cam kết của chúng tôi chân thành với cách mạng. Dĩ nhiên, vấn đề này rất phức tạp. Như các ông đã nói rằng, ngay cả trong một đảng cũng có ba thành phần: hữu khuynh, trung dung và tả khuynh, do đó, tình hình nằm trong một phong trào cộng sản lớn.

Sự khác biệt trong việc phán đoán mang lại những khó khăn, cần có thời gian để giải quyết. Cần thiết để có thêm nhiều mối liên hệ để đạt được thỏa thuận trong nhận thức.

Mối quan tâm của chúng tôi không phải là Trung Quốc đang cố gắng để kiểm soát Việt Nam. Nếu Trung Quốc không phải là một đất nước xã hội chủ nghĩa thì chúng tôi thực sự quan ngại. [Chúng tôi tin rằng] các đồng chí Trung Quốc đến để giúp chúng tôi ra khỏi quốc tế vô sản.

Đặng Tiểu Bình: Về câu hỏi về “sự nhiệt tình,” làm ơn hiểu thêm yêu cầu của Mao Chủ tịch muốn nói đến thực tế mối quan hệ giữa hai nước và các bên không đơn giản. Mối quan hệ giữa các đồng chí cũng không đơn giản.


Ghi chú:

1. Khang Sinh (Kang Sheng) lúc đó là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản và là thành viên của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong giai đoạn đầu Cách mạng Văn hóa, ông ta sớm trở thành thành viên của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc và là cố vấn cho “Nhóm Cách mạng Văn hóa,” cơ quan hàng đầu trong cuộc Cách mạng Văn hóa.

2. Beidaihe [Bắc Đới Hà?] là một nơi tham quan ven biển phía đông bắc của Bắc Kinh, nơi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc thường xuyên nghỉ mát và có các cuộc họp quan trọng trong mùa hè.


3. Văn Tiến Dũng (1917 -) (**) là người giữ vị trí lãnh đạo thứ hai trong quân đội Bắc Việt, sau tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1953-1978, chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh tổng tấn công năm 1974-1975. Ông là ủy viên Bộ chính trị từ năm 1972-86, Thứ trưởng cho đến khi trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1978-1980. Nghỉ hưu năm 1986.

4. Trong một cuộc trò chuyện riêng cùng ngày, Chu Ân Lai nói: “Sau khi Kosygin (***) đến thăm Việt Nam và hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam, chúng tôi có những bất đồng mới với Liên Xô về yêu cầu của họ sử dụng hai sân bay của chúng tôi và đề nghị của họ để vận chuyển vũ khí tới Việt Nam. Các ông ca ngợi Liên Xô đã giúp viện trợ rất nhiều cho các ông thì được. Nhưng mà các ông đề cập nó cùng với viện trợ của Trung Quốc là một sự xúc phạm đến chúng tôi”. Đặng Tiểu Bình nói thêm, “Vì vậy, từ bây giờ, các ông không nên đề cập đến sự viện trợ của Trung Quốc chung với sự viện trợ của Liên Xô”.


Người dịch: Ngọc Thu

———–

Ghi chú thêm của người dịch:

(*) Khrushchev: tức Nikita Khrushchev, hay Nikita Sergeyevich Khrushchyov, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, kế vị Stalin sau khi ông này mất năm 1953. Khrushchev cũng giữ chức thủ tướng cùng với chức TBT từ năm 1958-1964. Đến năm 1964 Khrushchev bị chính những người đồng chí của mình hạ bệ, và từ đó cho đến những năm còn lại của cuộc đời, Khrushchev luôn bị sự giám sát chặt chẽ của cơ quan tình báo KGB.

(**) Bài nói chuyện này có từ năm 1966, lúc đó Văn Tiến Dũng còn sống, do đó người ghi chú bản chính không để năm mất của Văn Tiến Dũng là 2002.

(***) Kosygin: tức Aleksei Nikolayevich Kosygin là Thủ tướng Liên Xô từ năm 1964-1980, dưới thời Tổng bí thư Leonid Brezhnev.

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 10 phản hồi »

488. Với một VN tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

Đăng bởi anhbasam on 02/03/2010

History News Network

Với một Việt Nam tự do kinh doanh,

ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

William Thompson

Ngày 1-3-2010

Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).


Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.

Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”

Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.

Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.

Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.

Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.

Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”

Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.

Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.

Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.

Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.

Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.

Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.

Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.

Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.

Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.

Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.

Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.

Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.

Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.

Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.

Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.

Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.

Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:

Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.

Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”

Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú của người hiệu đính:

(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.

(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.

(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.

Đăng trong Chiến tranh VN, Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , , , , | 4 phản hồi »

479. Những bài học VN-HK học được từ ĐBP

Đăng bởi anhbasam on 21/02/2010

THE WALL STREET JOURNAL

Mối quan hệ với người Pháp

Những bài học ở Việt Nam mà Hoa Kỳ

có lẽ đã học được từ Điện Biên Phủ

TOM NAGORSIK

Ngày 20-2-2010

Tháng 11-1953, nước Pháp đã ở vào năm thứ tám của cuộc chiến tranh nhằm dành quyền kiểm soát Đông Dương. Diễn biến tình hình đang xấu đi – du kích Việt Nam, hay còn gọi là Việt Minh, đang thắng thế – và tại một phiên họp mang tính chiến lược ở Sài Gòn, viên chỉ huy người Pháp, Tướng Henri Navarre, đã phác thảo kế hoạch mới nhất của mình. “Tôi đang nghĩ đến việc chiếm lĩnh vùng lòng chảo Điện Biên Phủ,” ông ta mào đầu. “Mục tiêu của cuộc hành quân mạo hiểm này là để bảo vệ Lào”. Ông ta tiếp tục biện luận rằng hành động này sẽ đưa Việt Minh vào một trận chiến mà họ không thể thắng nổi. Pháp có lợi thế về sức mạnh trên không. Một căn cứ tại Điện Biên Phủ – nằm ở góc tây bắc Việt Nam, gần biên giới với Lào – có thể được cung cấp hậu cần bằng đường không, trong khi lực lượng nòng cốt của Hồ Chí Minh, lãnh đạo du kích quân, thì buộc phải di chuyển một lực lượng lớn về người và trang thiết bị đi qua hàng dặm đường rừng núi. Kết thúc phần trình bày của mình, Tướng Navarre hướng xuống cử tọa. “Các vị nghĩ sao?”

Các chính trị gia sẵn sàng – song các sĩ quan lại ngăn cản. Các quân nhân đã “đồng lòng phản đối”, một sĩ quan cao cấp đã lưu ý. Họ nói với tướng Navarre, xây dựng một căn cứ ở một thung lũng trên núi sẽ gặp phải những khó khăn ghê gớm. Thả lính dù xuống sẽ gặp nguy hiểm, cung cấp thêm trang thiết bị cho căn cứ sẽ gặp khó khăn, và Điện Biên Phủ sẽ làm kiệt quệ nhân lực ở các mặt trận quan trọng hơn – mọi lợi thế quân sự đều đáng nghi ngờ. Tuy nhiên, Tướng Navarre vẫn bắt tay vào công việc của mình. Trong vòng mấy tháng – chính xác là vào ngày 7-5-1954 – Điện Biên Phủ đã bị Việt Minh nắm quyền kiểm soát. Hai năm sau Tướng Navarre ngồi viết lại lịch sử từ ký ức của mình về cuộc chiến. “Không có ý kiến phản đối được nêu ra trước trận đánh”, ông viết.

Sử biên niên của cuộc chiến tất nhiên đã bị chôn chặt với quyết định quân sự gây tranh cãi và những điều dối trá sau trận đánh, song với thái độ ngạo mạn và trình độ kém cỏi, thật khó để đối chọi được với những gì đã xảy ra trước và trong trận đánh kéo dài 56 ngày ở Điện Biên Phủ. Cuốn sách ‘Thung lũng Chết’ của Ted Morgan là một bản mô tả có căn cứ xác đáng về những ngày ấy – song nó cũng là một trang sử về sự tham gia của Hoa Kỳ vào Đông Dương từ lúc đầu. “Mấy chữ Điện Biên Phủ không còn là cái tên khôi hài được bàn bạc qua loa tại những cuộc chuyện trò trong bữa điểm tâm nữa, bởi vì chúng ta không biết nó ở đâu”. Tổng thống Dwight Eisenhower đã nói như thế trong một hội nghị với các nhà phát hành báo chí. Thực vậy, lúc đó Điện Biên Phủ đang chứng tỏ là một thảm họa cho người Pháp – một trong những dấu hiệu cảnh báo Hoa Kỳ.

Gần như mọi giả định của người Pháp đều bị đổ vỡ vào cái mùa xuân ấy. Không có điều gì cho thấy tai họa thảm khốc hơn là đức tin về sức mạnh không lực tối cao của Tướng Navarre. Người Việt Nam, được lãnh đạo bởi tướng Võ Nguyên Giáp lỗi lạc (nhân vật mà Mỹ phải đối mặt trong một thập kỷ sau đó), đã vận chuyển một lượng người và đạn dược dường như là vô hạn băng qua rừng núi tới Điện Biên Phủ. Đó là một thắng lợi không thể tin được, và nó đã đưa Việt Minh lên vị trí cao hơn căn cứ của người Pháp. Trong một bản phân tích đáng nhớ, Hồ Chí Minh đã lật ngửa chiếc mũ cát rồi chỉ vào đáy mũ và nói: “Người Pháp sẽ ở tại đây”. Sờ vào rìa quanh chiếc mũ, ông nói thêm, “Chúng ta sẽ ở vị trí này. Họ sẽ không bao giờ ra khỏi nơi đó được”.

Ông Hồ đã đúng – và các đoàn quân của ông đã nắm giữ những lợi thế khác. Trung Quốc đã gửi lương thực, thực phẩm, thuốc men và vũ khí hạng nặng cho Việt Minh. Là một lực lượng du kích quân, Việt Minh có được lợi thế trong mục tiêu hành động và hiểu biết về địa hình. Như ông Morgan đã viết: “Người Pháp đã có một lực lượng không quân. Việt Minh có lợi thế sân nhà và sự ủng hộ của dân chúng ở nông thôn’.

Trong lúc chờ đợi, những sai lầm của người Pháp đã được nhân lên gấp bội. Viên toàn quyền Đông Dương của Pháp thì “biết nhiều về những bữa ăn tối với rượu champagne của mình ở Sài Gòn hơn là kiến thức về quân sự”. Trong lúc các bính lính đã chết vì phải chờ đợi được cung cấp ngay thực phẩm và thuốc men, thì các toán lính dù lại bị chậm do thiếu sự huấn luyện. Cùng lúc đó, những nỗi kinh hoàng chồng chất trên khắp chiến trường. Các binh lính bị thương mòn mỏi chờ đợi trong các khu đông nghẹt; những rãnh hào đầy xác chết; những cơn mưa theo gió mùa làm ngập lụt doanh trại lính Pháp. Khi tình thế đã trở nên xấu hơn, di tản gần như là không thể thực hiện được. Ông Morgan đã vẽ nên một bức tranh xúc động về vị bác sĩ người Pháp Paul Grauwin, người đã làm việc trong những căn lều ướt sũng, nhung nhúc dòi trong lúc phải lo cho “một đoàn người bất tận bị mù mắt, bị gãy quai hàm, lồng ngực bị vỡ ra và chân bị gãy”. Lòng can đảm chắc chắn là không thiếu ở Điện Biên Phủ.

Trong nhiều năm, Đông Dương là một nơi sân chơi thứ yếu về địa chính trị đối với Hoa Kỳ. Sau Đệ nhị Thế chiến, Washington liên kết với các phong trào giải phóng trong khu vực – và vì vậy, như một cử chỉ hữu nghị, một đạo quân nho nhỏ lính nhảy dù Mỹ đã được thả xuống căn cứ tiền phương của Hồ Chí Minh tháng 7-1945. Ông Morgan đã đưa ra một bản mô tả hấp dẫn về cuộc gặp gỡ: “Những người lính dù được chào đón bằng một khẩu hiệu thu hút sự chú ý “những người bạn Mỹ của chúng ta”, và một bác sĩ Mỹ đã cứu chữa cho ông Hồ khi ông bị sốt cao nguy hiểm. Theo lời ông Morgan: “Hoàn toàn có thể nói rằng sự sống của vị chủ tịch tương lai của Bắc Việt Nam đã được cứu bởi một bác sĩ Mỹ”.

Tất nhiên tình hữu nghị ban đầu đã bị phai nhòa khi chủ nghĩa chống cộng đã cuốn hút Washington trong thập niên 1950. Không dưới bảy thổng thống và những người có thể thành tổng thống Hoa Kỳ đã xuất hiện trong cuốn sách của ông Morgan, và những lời nói của họ đã làm cho việc đọc cuốn sách trở nên hấp dẫn hơn, cho thấy những gì sắp xảy ra. Khi Điện Biên Phủ gần như thất thủ , Eisenhower đã lo lắng về sự sụp đổ của những quân bài domino tại Đông Nam Á song ông vẫn kiên định chống lại sự can thiệp nhân danh nước Pháp. “Không ai có thể phản đối một cách cay đắng hơn tôi trong việc để cho Hoa Kỳ dính líu vào một cuộc chiến nóng bỏng tại khu vực đó”. John F. Kennedy, một thượng nghị sĩ thuộc bang Masschusetts vào thời điểm đó, tỏ ra cứng rắn: “Đổ tiền của, trang thiết bị và binh lính vào trong những khu rừng nhiệt đới Đông Dương mà không có được ít nhất một triển vọng chiến thắng xa xôi thì thật là phù phiếm nguy hiểm và tự hủy diệt mình”. Trong số các tổng tư lệnh tương lai, chỉ có Richard Nixon là đồng ý một cách thẳng thừng cho hành động can thiệp.

Tuy nhiên, khi hoàn cảnh khó khăn của Pháp trở nên tồi tệ hơn, các nhà ngoại giao Mỹ đã tìm cách trợ giúp. Ngoại trưởng John Foster Dulles đã thúc giục Quốc hội và người Anh để có một phản ứng mạnh mẽ, song Dulles chỉ có được ít người nhập cuộc. “Đừng có thêm những người Hàn Quốc với việc Hoa Kỳ cung cấp 90% nhân lực khác nữa”, lãnh đạo phe đa số ở Thượng viện William Knowland, một đảng viên Cộng hòa thuộc bang California tuyên bố. Trong lúc những đợt gió mùa thổi tới làm cho Điện Biên Phủ trở nên nhớp nhúa, hoạt động ngoại giao bị sa lầy theo cách của riêng nó. Không có thêm quân tiếp viện nào sắp được gửi tới. Cuối cùng, Việt Minh đã bao vây Pháp, tràn vào thung lũng và bắt sống hàng ngàn tù binh. Đối với Pháp, sự kết thúc bi thảm đó có nghĩa là chấm dứt một kỷ nguyên, mất đi một báu vật trong lĩnh vực thuộc địa của mình. Đối với Việt Nam, nó mang ý nghĩa chia cắt hai miền Nam Bắc. Và đối với Hoa Kỳ – mặc dù lúc đó chẳng ai biết – song nó có nghĩa là những hạt giống đã được gieo vào cuộc chiến tranh khác ở Đông Dương.

“Thung lũng chết” đã ghi lại một cách sâu sắc các chứng cứ tài liệu từ tất cả các bên – người Pháp, người Việt, người Mỹ, người Anh, người Nga và người Trung Quốc. Cuốn sử biên niên của ông Morgan là thấu đáo – đôi khi còn hơn thế nữa. Có gần 200 trang được viết trước khi Điện Biên Phủ được đề cập đến. Trên mặt trận ngoại giao, mặc dù có ai đó ngạc nhiên về tài năng của ông Morgan đã đưa người đọc vào những căn phòng diễn ra các cuộc đàm phán, nhưng sau một lúc ai đó lại nhận ra là chính mình lại muốn rời khỏi những căn phòng ấy.

Nhiều điều đã được rút ra từ những bài học về Điện Biên Phủ – những bài học mà có lẽ Hoa Kỳ nên chú ý tới Việt Nam: ý chí ngoan cường của các lực lượng quân sự bản địa ở đất nước này, niềm đam mê và cách tổ chức của họ, và những khó khăn đặt ra bởi khí hậu và địa thế. Song việc mô tả trận đánh ở “Thung lũng Chết” là bài học cho bất kỳ nỗ lực quân sự nào. Điểm hay nhất, cuốn sách là một bản cáo trạng nghiêm khắc dành cho các tướng lĩnh đã mắc phải sai lầm và tính ngạo mạn buộc những người lính trẻ phải chịu đựng số phận khủng khiếp. Ông Morgan đã kể một câu chuyện ám ảnh về một đại tá người Pháp đã tự sát sau khi vị trí chủ chốt bị thất thủ. Ít ngày sau, một sĩ quan trẻ lên tiếng chê trách: “Nếu như tất cả mọi người ở đây đều phải chịu trách nhiệm về những gì đang xảy ra lại quyết định tự sát, thì một đám đông ở Paris cũng giống như ở Điện Biên Phủ”.

Ông Nagorski, chủ nhiệm kỳ cựu chương trình ABC News và là tác giả của cuốn “Miracles on the Water: The Heroic Survivors of a World War II U-Boat Attack.”


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Một số tư liệu bổ sung của người hiệu đính:

- Battle of Dien Bien Phu (INDOPEDIA). “At least 2,200 members of the 20,000-strong French forces died during the battle. Of the 100,000 or so Vietnamese involved, there were an estimated 8,000 killed and another 15,000 wounded, almost half of the attacking force.” Trận Điện Biên Phủ thực chất là một cuộc nướng quân, Pháp chỉ có khoảng 2.200 lính bị giết, trong khi quân Việt Minh có tới 8.000 bị giết.

- Còn tài liệu này nói 8.000 lính Việt Minh và 1.500 lính Pháp chết trong trận ĐBP: At 5:30 p.m., 10,000 French soldiers surrender at Dien Bien Phu. By now, an estimated 8000 Viet Minh and 1500 French have died. The French survivors are marched for up to 60 days to prison camps 500 hundred miles away. Nearly half die during the march or in captivity
- Tài liệu này cũng nói con số 8.000 lính VM bị giết: The Viet Minh lost 8,000 killed with 12,000 wounded:
- Tài liệu này cũng nói con số 8.000: In order to take Dien Bien Phu the Viet Minh committed the 304th, 308th, 312th, 316th and 351st divisions, representing the 33 battalions engaged as of March 13, 1954.  Counting reinforcements and coolies (porters, bicycle transport personnel and trench digging personnel) it can be assumed that Gen. Giap used far more than 100,000 men in the battle.

The French General Staff never learned the exact number of Viet Minh losses at Dien Bien Phu.  They can reasonably be estimated to number: 8,000 KIA (some works estimate 12,000 KIA and 20 to 30,000 WIA) 15,000 to 20,000 WIA of whom a great  number certainly must have died from the results of poor medical care. These are not official figures but rather estimates by the French General Staff.

8000 người bị giết, 15.000-20.000 bị thương (có nơi đưa ra con số 12.000 người bị giết, 20.000-30.000 bị thương).

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , , , , | 3 phản hồi »

432. Những sự kiện dẫn tới sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 12/01/2010

Các tù binh Pháp bị Việt Minh áp giải ra khỏi Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng Bảy năm 1954

California Literaly Review

Những sự kiện dẫn tới

Sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam

Rufus Phillips

Ngày 30-10-2008


Hoa Kỳ đã tung các điệp viên OSS nhảy dù xuống miền bắc Việt Nam từ năm 1945, trước khi kết thúc cuộc Đệ nhị Thế chiến ở châu Á. Sự trợ giúp đã được giành cho phong trào kháng chiến của Việt Nam để chống lại Nhật Bản, chủ yếu cho hoạt động của mặt trận dân tộc chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Tuy nhiên, sự tham dự đáng kể của Hoa Kỳ đã không bắt đầu liền lúc ấy mà cho mãi về sau đó.

Năm 1949, Trung Quốc rơi vào tay những người Cộng sản. Cuộc Chiến tranh Lạnh đã lên tới đỉnh điểm của nó tại Âu châu, với cuộc Không Vận Berlin * đang được thực kiện và Hoa Kỳ đang cố gắng hết sức để hàn gắn Tây Âu vào một hiệp ước phòng thủ chung. Nằm trong số các mối quan tâm chủ yếu là Pháp và Ý, hai nước có các đảng Cộng sản hoạt động mạnh mẽ ở bên trong. Pháp đã quay lại Đông Dương năm 1945 để xác nhận lại quyền kiểm soát thuộc địa và bị sa lầy vào một cuộc chiến quân sự thu hút số lượng binh lính gia tăng chưa từng thấy để chống lại phong trào Việt Minh đang bị Cộng sản kiểm soát. Để giúp đỡ cho đồng minh Pháp của mình chống lại những người Cộng sản ở Âu châu, Tổng thống Truman đã chịu áp lực ngày càng tăng để cung cấp sự trợ giúp quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Hơn nữa, sự sụp đổ của Trung Hoa Quốc Gia năm 1949 làm cho tình hình có vẻ như toàn bộ Đông nam Á có thể sẽ đi theo con đường tương tự, bắt đầu với những quốc gia Đông Dương: Việt Nam, Cambodia và Lào. Kết quả là vào tháng Ba năm 1950, Tổng thống Truman đã phê chuẩn một chương trình viện trợ quân sự đầu tiên mười lăm triệu đô la cho Đông Dương và Thái Lan, với hầu hết số viện trợ được gửi tới trực tiếp cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Sự dính líu của người Mỹ chúng ta đã có một bước tiến quan trọng.

Vào đầu năm 1954, sau chín năm chiến đấu, tương lai của Đông Dương đã ở trong tình cảnh nguy kịch. Cuộc chiến của Pháp chống lại Việt Minh đang diễn ra không thuận lợi. Một kế hoạch để ngăn chặn Việt Minh chiếm lấy Lào bằng cách tạo ra một vị trí cố thủ trong thung lũng Điện Biên Phủ phía bắc Việt Nam, để khóa tuyến đường xâm chiếm chính của quân đội Việt Minh và nhử họ vào một cuộc đối đầu có tính quyết định với hỏa lực vượt trội của người Pháp, đã chứng tỏ một thất bại thê thảm.

Mùa Xuân năm 1954, xuất hiện khả năng người Pháp có thể thất bại tại trận địa Điện Biên Phủ, làm cho việc trợ giúp Pháp trong cuộc chiến tranh cũng chấm dứt. Các giới chức bên trong Chính phủ của Eisenhower đã trở nên mất bình tĩnh. Câu hỏi vào lúc ấy là liệu Hoa Kỳ có nên trực tiếp can thiệp giúp bằng quân sự để tránh một cuộc thất bại của Pháp hay không? Tuy nhiên, Tổng thống Eisenhower đã mạnh mẽ chống lại ý niệm can thiệp trực tiếp bằng binh lính hoặc các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.

Thậm chí trước khi tai hoạ lờ mờ hiện ra ở Điện Biên Phủ, sức ép công luận Pháp đã gia tăng đòi kết thúc cuộc chiến, đưa đến kết quả người Pháp hoan nghênh một hội nghị quốc tế về Đông Dương để tìm kiếm một sự kết thúc xung đột qua đàm phán. Hội nghị Geneva bắt đầu vào ngày 26 tháng Tư năm 1954, với Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tư cách là những các Cường Quốc tham gia cùng với Việt Minh và Chính phủ Việt Nam (do ông Bảo Đại đứng đầu) cũng như các quốc gia Lào và Cambodia. Vào ngày 7 tháng Năm, 11 ngày sau đó, Điện Biên Phủ rơi vào tay lực lượng Việt Minh của Tướng Võ Nguyên Giáp, giật khỏi tay người Pháp bất cứ điều kiện nhượng bộ nào mà họ có thể đòi hỏi.

Sau khi tờ nhật báo Le Journal d’Extreme Orient ở Sài Gòn, ngày 4 tháng Năm năm 1954, đăng một lời tuyên bố của Tổng ủy Pháp, Maurice Dejean, rằng không có “ý định” chia cắt Việt Nam, tách Việt Nam ra làm hai vùng lãnh thổ vào tháng Sáu, tâm điểm của những cuộc thảo luận bí mật giữa người Pháp và Việt Minh. Trong lúc thành phần chủ yếu của các lực lượng Việt Minh chính quy đang ở miền Bắc, thì các lực lượng hỗn hợp Pháp Việt thực ra đã kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ cả ở phía Bắc cũng như phía Nam. Hơn nữa, một phần quan trọng dân cư ở miền Bắc là người Thiên chúa giáo, đã kiên quyết chống lại Việt Minh và chắc chắn là mục tiêu cho một cuộc trả thù.

Trong lúc người Pháp bí mật thương lượng với Việt Minh, những người Việt Nam không phải cộng sản bị bỏ rơi trong bóng tối cho tới khi thỏa thuận được thi hành. Khi hội nghị diễn ra đều đều tẻ nhạt trong tháng Sáu thì một khuôn khổ thỏa thuận không chính thức đã đạt được ở hậu trường. Việt Nam sẽ bị chia cắt từ vĩ tuyến 17, các lực lượng của Pháp và đồng minh Việt Nam của họ sẽ tản cư khỏi miền Bắc rồi tập hợp tại miền Nam, và các lực lượng Việt Minh sẽ tản cư từ miền Nam ra miền Bắc, tất cả hoạt động này được hoàn tất vào tháng Năm năm 1955. Một Uỷ ban Kiểm soát Quốc tế, gồm có Ba Lan, Ấn Độ và Canada, giám sát việc thực hiện những điều khoản của Hiệp định Ngừng bắn tại ba Nước Liên hiệp Đông Dương. Trong một nghị định thư không được ký kết tại Geneva, các cuộc bầu cử quốc gia, diễn ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, dự định được tổ chức trong vòng hai năm sau khi kết thúc hội nghị. Chính phủ Eisenhower có quan điểm bên trong nội bộ coi [hiệp định] Geneva như là một tai hoạ. Đặc biệt làm trầm trọng thêm là sự thất bại của người Pháp trong việc huấn luyện nhiều hơn cho những binh lính người Việt và sớm tạo sự độc lập thực sự cho những người Việt Nam không cộng sản. Trong khi ông Bảo Đại trị vì với tư cách Hoàng đế từ tận vùng Riviera (nước Pháp), thì hệ thống cai trị của ông như là một thành viên của Liên hiệp Pháp vẫn không có được điều kiện độc lập thực sự. Quân đội Việt Nam chưa bao giờ hoàn toàn tự mình hành quân tác chiến và đã phải phụ thuộc hết vào sự hỗ trợ hậu cần của người Pháp.

Người Việt Nam không theo cộng sản đã rơi vào tình trạng cực kỳ choáng váng, chán nản và giận dữ. Căn cứ vào môi trường chính trị ở miền Nam, một cuộc tiếp quản của Cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong vòng hai năm, hoặc thậm chí ít hơn, có vẻ như không thể nào tránh khỏi. Ngoài những khái niệm mập mờ là bằng cách nào đó tập hợp được người Việt Nam ở miền Nam và những kế hoạch không rõ ràng cho việc cài cắm các nhân viên đặc vụ ngầm ở lại ngoài Bắc để hướng dẫn cuộc chiến tranh du kích chống lại Việt Minh, Hoa Kỳ đã có chút ít kế hoạch là làm thế nào để tránh một cuộc tiếp quản hoàn toàn của Cộng sản.

Như một giải pháp tuyệt vọng, Đại tá Edward G. Lansdale, khi đó đã được chỉ định làm cho Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), được gọi trở lại vào tháng Một năm 1954, khi sự bất hòa đối với người Pháp đã kéo dài thêm, nếu như ông ta đến Việt Nam chỉ để làm cái trò “ảo thuật” giống như ông đã từng làm ở Philippines. Ở đó, trong vai trò một cố vấn, ông đã giúp người Philippines đánh bại những người Huk ** cộng sản và bầu Ramon Magsaysay với tư cách là Tổng thống trong một cuộc bầu cử không có gian lận. Quyết định cử ông tới Việt Nam là một hành động kết hợp bởi Ngoại trưởng John Foster Duller, anh trai ông ta là Allen Dulles, Giám đốc CIA, và Tổng trưởng Quốc phòng. Tướng John “Iron Mike” O’ Daniel, đứng đầu nhóm cố vấn quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MAG) và Đại sứ Donald Heath, cũng đề cử ông.

Khi Ngoại trưởng Dulles nói cho Lansdale biết rằng Tổng thống Eisenhower muốn ông nhận nhiệm vụ này, Lansdale đã trả lời là ông sẽ đi, song chỉ là để giúp cho người Việt Nam thôi, chứ không phải cho người Pháp. Đó là kế hoạch hành động, ông được truyền đạt như vậy. Điều này đã trở thành một nền tảng quan trọng cho nhiệm vụ của ông, thứ đã chi phối, trong một thời gian ngắn, đối với tiến trình lịch sử. Nó cũng làm thay đổi đường đời của tôi và đến cả những người khác nữa. Lansdale đã không nhận những chỉ thị để tới Việt Nam cho đến hết tháng Năm khi kết quả của hiệp định Geneva đã rõ ràng. Những chỉ thị này đã chấm dứt với một câu viết mang tính riêng tư khác thường là “Chúa trời ban phúc cho anh” từ Allen Dulles. Lansdale đã tới Sài Gòn vào ngày 1 tháng Sáu năm 1954. Sau khi đặt chân xuống đất, Lansdale đã yêu cầu có một nhóm để trợ giúp mình, được biết tới như là Phái bộ Quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission). Cơ quan này có hai mục đích đáng chú ý: ngăn chặn người Bắc Việt Nam xâm chiếm miền Nam và chuẩn bị trụ lại kháng chiến ở miền Bắc và tại miền Nam trong trường hợp các lực lượng ở đây sụp đổ.

Trước khi người Pháp đặt chân tới vào nửa cuối Thế kỷ 19, toàn bộ Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền với một ngôn ngữ chung và một lịch sử tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của Trung Hoa trong Thế kỷ 14. Sau các cuộc chiến qua nhiều triều đại giữa các vùng lãnh thổ, Hoàng đế Gia Long của Triều Nguyễn đã thống nhất đất nước vào năm 1802. Hoàng đế Bảo Đại đại diện cho thế hệ thứ 13 của triều đại này.

Sau khi Pháp hứa nhưng không bao giờ chịu trao quyền độc lập cho Việt Nam, trong một chuỗi những thỏa thuận liên tiếp bắt đầu vào năm 1948, họ đã bỏ lại nửa phía bắc của nước này cho Việt Minh trong khi vẫn kiểm soát một cách hiệu quả nửa phần còn lại. Họ đã phát hành đồng tiền Việt Nam và điều hành ngân hàng quốc gia của mình, quản lý những ngành dịch vụ công cộng như điện nước, hướng dẫn trên thực tế quân đội và cảnh sát quốc gia, chỉ có nguồn xăng dầu cho xe cộ và các máy bay là thuộc về Liên Đoàn Công Binh của người Pháp. Giới lãnh đạo nước Pháp thì bị tiêm nhiễm với huyền thoại tự cho là đúng rằng người Việt Nam sẽ không chịu chiến đấu và Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia nên Ngoại trưởng Pháp Bidault đã long trọng tuyên bố với Ngoại trưởng Dulles vào tháng Tư năm 1954, rằng “Sự độc lập không phải là yếu tố then chốt để đưa tới lòng can đảm. Việt Nam đã là một quốc gia, là nước, mà trong 1.500 năm qua, chưa bao giờ có bất cứ chủ quyền nào.”

Với thái độ miễn cưỡng đầy giận dữ, Cao ủy Pháp đã không dọn đi khỏi Dinh Norodom ở Sài Gòn cho tới tháng Chín năm 1954 để nhường chỗ cho kẻ chiếm đóng mới, Thủ tướng Ngô Đình Diệm, người đã tới đây từ tháng Bảy. Được Bảo Đại bổ nhiệm như là một hy vọng cuối cùng cho Nam Việt Nam, ông Diệm được nhiều quan chức Mỹ xem như là một nhân vật tầm thường với ít cơ may để tạo nên sự ủng hộ của dân chúng. Đi tới những phạm vi quanh quan điểm của người Mỹ là những cách nhìn nhận của Tòa đại sứ Mỹ tại Paris rằng ông Diệm là “một nhân vật thần bí như đạo sĩ Yoga … ông xuất hiện quá thanh tao và chất phác để có khả năng đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng và những kẻ vô liểm sỉ mà ông sẽ bắt gặp ở Sài Gòn.” Ông Diệm đã nhận thấy bản thân mình chẳng khác gì một tù nhân trong Dinh Gia Long, nơi ông được đưa vào chức vụ lúc ban đầu. Lúc đó, lực lượng canh gác dinh thự của ông được cung cấp bởi Cảnh sát Quốc gia là cơ quan lần lượt bị kiểm soát bởi Bình Xuyên, một nhóm giang hồ với quân đội riêng được người Pháp chu cấp và hoạt động bằng cách tống tiền.

Một thuật ngữ Pháp được ưa chuộng để miêu tả Nam Việt Nam sau hiệp định Geneva là một “panier de crabes” (cái giỏ cua). Người Pháp và người Mỹ đã bất hòa là do sự cạnh tranh các quyền lợi. Người Việt Nam bị chia rẽ giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Hoàng đế Bảo Đại, các giáo phái gồm Cao Đài và Hòa Hảo, nhóm giang hồ Bình Xuyên và Quân đội Việt Nam, cũng như nhiều đảng phái chính trị bị hất cẳng từ miền Bắc (Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt) và số người tị nạn chạy trốn từ miền Bắc. Trong nhiều năm, người Pháp đã chơi trò chia để trị nhằm làm cho nhiều nhóm phái người Việt ít tin tưởng lẫn nhau. Câu hỏi trong tâm trí người Mỹ là làm sao có một quốc gia nào hoặc một chính phủ đoàn kết nào bị xiết chặt như vậy mà có thể vặn mình thoát khỏi tình trạng hỗn loạn này?

***

Bài trên trích từ đoạn Mở đầu của cuốn “Why Vietnam Matters” với sự cho phép của nhà xuất bản Naval Institute Press.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* The Berlin Air Lift (Cuộc Không Vận Berlin): bắt đầu bằng Cuộc Phong tỏa Berlin (The Berlin Blockage), từ ngày 24-6 đến ngày 11-5-1949, là một trong những khủng hoảng nghiêm trọng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Lạnh lúc mới nổ ra. Nó bắt đầu khi những Liên Xô phông tỏa tuyến đường sắt và đường bộ từ ba cường quốc phương Tây là Mỹ, Anh và Pháp tới phần phía Tây của thành phố Berlin do phương Tây chiếm đóng… Sau đó Mỹ và đồng minh phương Tây phải lập cầu hàng không để tiếp vận cho Tây Berlin … (answer.com).

** Huk: hoạt động du kích do Cộng sản cầm đầu ở Philippines, được triển khai trong thời gian diễn ra cuộc Đệ nhị Thế chiến khi du kích quân có vũ trang chống lại người Nhật … (answer.com)

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Việt, Điểm sách | Tagged: , , , , | 1 Comment »

431. JFK và Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 12/01/2010

Los Angeles Times

JFK và Việt Nam

Vụ ám sát Kennedy ngày này 45 năm trước đã dẫn tới một cuộc chiến tranh của người Mỹ 

Bài của Gordon M. Goldstein

Ngày 22-11-2008

Vụ ám sát John F. Kenneky ngày này 45 năm trước đã đem tới một sự kết thúc đột ngột cái thời mà những người hâm mộ ông gọi là Camelot *, một nhiệm kỳ tổng thống của vẻ đẹp say mê, trí thông minh, hóm hỉnh và những triển vọng. Thế nhưng vụ án mạng thậm chí đã có một hậu quả sâu xa hơn: ngày 22-11-1963, là một ngày có ý nghĩa nhất trong lịch sử của cuộc Chiến tranh Việt Nam **.

Không thể biết một cách chính xác liệu Kennedy sẽ chế ngự cuộc khủng hoảng ở Việt Nam ra sao nếu như ông còn sống. Thế nhưng rõ ràng rằng ông đã tỏ ra cương quyết tránh để Việt Nam trở thành một cuộc chiến của người Mỹ và rằng ông đã mong rút quân hoàn toàn trong một nhiệm kỳ thứ hai của mình.

Vào thời điểm Kennedy nhậm chức năm 1961, sự dính líu của quân đội Mỹ ở Đông nam Á bị hạn chế bằng những chuyến vận chuyển vũ khí từ tàu biển và số lượng nhỏ các cố vấn quân sự. Song chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam khi đó đang phải đối mặt với một cuộc nổi dậy ngày càng mạnh mẽ của cộng sản và, ngay tại Hoa Kỳ, áp lực phải gửi quân trên bộ đã và đang tích tụ dần.

Qua diễn biến tình hình của năm đó, các cố vấn của Kennedy đã trình lên ông cả nửa tá hoặc hơn các đề nghị Mỹ hóa cuộc chiến. Trong một bản phúc trình, Tổng trưởng Quốc phòng Robert McNamara, Ngoại trưởng Dean Rusk và nhóm các cố vấn quân sự cao cấp nhất (Join Chiefs of Staff) biện luận rằng rất khó ngăn chặn “sự sụp đổ của Nam Việt Nam bởi bất cứ giải pháp nào mà thiếu sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trên một quy mô đáng kể.”

Các cố vấn của Kennedy nói với ông rằng để bảo vệ chính quyền Sài Gòn thì có thể phải cần tới 200.000 lính chiến. McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia, đã tin rằng sự có mặt quân đội Mỹ là vấn đề sống còn. “Lào chưa bao giờ thật sự là của chúng ta sau năm 1954,” Bundy giải thích cho vị tổng thống đa nghi khi viện dẫn tới quốc gia Đông nam Á này, nơi mà Kennedy đã từng chống lại sự can thiệp. “Việt Nam là [của chúng ta] và họ muốn thuộc về [chúng ta].”

Kennedy không dễ chấp thuận. Trong một thời gian dài trước khi trở thành tổng thống, ông đã nói toạc ra tại Quốc hội rằng cần đề phòng kinh nghiệm thảm khốc của người Pháp tại Việt Nam, coi đó như mà một lý do để Hoa Kỳ đừng bao giờ tham gia vào một cuộc chiến trên bộ tại đó. Vào mùa hè năm 1961, ông nói ông đã chấp nhận kết luận của Tướng Douglas MacArthur, người đã khuyên nên phản đối một cuộc chiến trên bộ tại châu Á, khi nhấn mạnh rằng thậm chí một triệu lính bộ binh Mỹ cũng không thể đủ để thắng thế. Ông sẽ cung cấp viện trợ và huấn luyện quân sự cho chính quyền Sài Gòn, song ông sẽ không cho phép gửi đi lực lượng lục quân.

Qua ba năm nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Kennedy đôi lúc đã phải viện tới lối khoa trương hiếu chiến về vấn đề Việt Nam. Ông cũng đã tăng thêm số cố vấn và nhân viên huấn luyện quân sự tại đây lên xấp xỉ 16.000. Thế nhưng cả McNamara và Bundy đều trở nên tin rằng Kennedy sẽ không Mỹ hóa cuộc chiến — thậm chí nếu như cái giá là sự xâm chiếm của chủ nghĩa cộng sản ở Nam Việt Nam.

Kennedy đã nhận thức rõ rằng sự bất lực của Hoa Kỳ trong việc chặn con Đường mòn Hồ Chí Minh — những tuyến đường thâm nhập và tái cung cấp trang thiết bị quân sự từ Bắc Việt Nam — sẽ làm cho nó không thể đánh bại các cuộc nổi dậy. “Những con đường mòn này là lý do dẫn tới sự thất bại,” Kennedy nói với một phụ tá vào mùa xuân năm 1962, “và là một lý lẽ ủng hộ thêm cho sự leo thang chiến tranh.” Kennedy đã quá nghi ngại khi ông không úp mở gì với viên phụ tá Tòa Bạch Ốc Michael Forrestal rằng tỉ lệ cá cược cho việc chiến thắng được Việt Cộng là 100 ăn 1.

Đầu năm 1963, Kennedy nói với Lãnh đạo phe Đa số tại Thượng viện Mike Mansfield, người đã chống lại việc dính líu ngày càng nhiều của Hoa Kỳ tại Việt Nam, rằng ông sẽ bắt đầu cho rút các cố vấn quân sự khỏi Nam Việt Nam vào đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình năm 1965. Kennedy đã để lộ kế hoạch tương tự của Roswell Gilpatric, thứ trưởng Quốc phòng. Thế nhưng tấn thảm kịch ở Dallas vào tháng Mười một năm 1963 đã thay đổi mọi chuyện.

Điều gì đã xảy ra sau cái chết của Kennedy là một câu chuyện đã trở thành quen thuộc. Lyndon B. Johnson kế tục vị trí tổng thống năm 1964, và vào tháng Tám năm đó ông đã lợi dụng một biến cố không rõ ràng trên Vịnh Bắc Bộ để lấy được một sự chuẩn thuận của quốc hội không hạn chế các hành động quân sự chống lại Bắc Việt Nam. Vào ngày 8 tháng Ba năm 1965, Johnson gửi 3.500 lính Hải quân đầu tiên tới Việt Nam. Trong vòng mấy tháng ông đã phê chuẩn việc triển khai 175.000 binh lính nữa.

Nếu như Kennedy còn sống, ông sẽ có được những lợi thế to lớn vào năm 1965. Trong một nhiệm kỳ thứ hai, Kennedy sẽ không thể bị tổn hại trước các cử tri đoàn. Ông sẽ không có cái chương trình nghị sự xây dựng những dự luật Xã hội Vĩ đại (Great Society) rõ lớn lao hào phóng của Johnson để cố gắng thuyết phục Quốc hội. Ông đã thiết lập được một thông lệ kiên quyết loại bỏ những cố vấn của mình khi cần thiết. Và ông sẽ bước vào nhiệm kỳ bốn năm cuối của mình như là một nhà quán quân cho cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, một thành tích về an ninh quốc gia sẽ làm gia tăng quyền kiểm soát vào tay của ông ta một cách có hiệu quả.

“Vì vậy ông không phải chứng tỏ bản thân mình ở Việt Nam,” Bundy biện luận khi hồi tưởng lại quá khứ. “Ông ấy có thể giảm bớt được những mất mát cho đất nước lúc đó. Ông ấy có thể làm điều này do việc từ chối gây ra một cuộc chiến tranh của người Mỹ.”

Vị tổng thống Kennedy đó trong vai trò là một tổng chỉ huy quân đội đã không có được cơ hội để quyết định một số phận khác cho Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam đã làm sâu đập thêm bi kịch từ sự ra đi của ông và cũng nhấn mạnh thêm di sản quý báu của ông, vẫn hết sức liên quan 45 năm sau đó: sự suy xét và phán đoán của vị tổng tư lệnh, chẳng bao lâu nữa sẽ nằm trên đôi vai của vị Tổng thống mới đắc cử Barrack Obama, rút cục sẽ xác định rõ sự khác biệt giữa chiến tranh và hòa bình.

Gordon M. Gildstein là tác giả của cuốn “Những bài học trong Thảm hoạ: McGeorge Bundy và Con đường đi tới Chiến tranh tại Việt Nam,” mới được Times Books xuất bản.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

——

* Camelot: thành phố trong truyền thuyết của Vua Arthur, xứ sở hòa bình, tươi đẹp, mộ đạo, có học thức.

** Để hiểu vụ ám sát TT Kennedy, mời xem thêm: “Sự giống nhau của hai vụ ám sát”-(BBC-VN); “JFK và cuộc đảo chính Diệm“; “Đoạn phim mới về vụ ám sát JFK

Đăng trong Chiến tranh VN | Tagged: , , , , | 1 Comment »

407. Điểm sách “TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT“

Đăng bởi anhbasam on 25/12/2009

Đôi lời: Triết gia-nhà toán học Bertrand Russell từng nói:”Sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”.

Từ một cuốn sách mua trong quán sách cũ vỉa hè, không biết tới khi nào mới được phép tái bản, nhưng lại nói lên bao điều, không phải chỉ về nội dung trong đó, mà cả về những lý do cho sự có mặt và rồi không được có mặt của nó trên giá sách “chính thống” nữa …

Tôn trọng cứ liệu lịch sử, xin được giới thiệu cùng bà con hai lời tựa của cuốn sách. Trộm nghĩ, trong cái không may bao giờ cũng có những điều may mắn.


TRƯỜNG ĐẠI HỌC XOÓC – BON

VIỆN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI


TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT

CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT

(GIƠ – NE – VƠ – 1954)

PHƠ – RĂNG – XOA GIOAY – Ô

Tiến sĩ Văn chương

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN LÝ LUẬN

HÀ – NỘI 1981

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn “Trung – quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương’’ là một công trình soạn thảo rất công phu của Phơ -răng – xoa Gioay – ô (Francois Joyaux) một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung – quốc. Công trình này được hoàn thành vào tháng 3 năm 1979, đúng vào thời điểm tập đoàn phản động Bắc – kinh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía bắc nước ta.

Để biên soạn công trình này, tác giả đã được phép khai thác nhiều tài liệu mật của cơ quan lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp như các biên bản các cuộc họp tay đôi giữa phía Pháp với phía Trung – quốc, những điện mật của đoàn Pháp báo cáo về chính phủ Pháp đánh giá diễn biến của hội nghị và thái độ của các nước dự hội nghị, những biên bản các phiên họp hẹp của hội nghị đó, những điện mật của đại diện ngoại giao Pháp ở những nước tham dự hội nghị …Như mọi người đều biết, trong hội nghị Giơ – ne – vơ năm 1954 về Đông – dương, những người lãnh đạo Trung – quốc đã cùng với đế quốc Pháp thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung – quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt – nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam – phu – chia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước Đông – dương để đảm bảo an ninh cho Trung – quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt-nam và Đông dương, đồng thời giữ vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế: Trước hết là ở Châu Á. Cho nên những tài liệu mật được tác giả nêu lên trong cuốn sách này là những tư liệu có giá trị, cung cấp cho chúng ta nhiều điều làm sáng thêm một số vấn đề trước đây đã được nghiên cứu về hội nghi Giơ – ne – vơ năm 1954.

Khi biên soạn công trình này, tác giả còn tham khảo hầu hết các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về hội nghị này, những cuốn hồi ký của nhiều nhân vật đóng vai trò chủ chốt trong hội nghị, đồng thời đọc rất nhiều báo chí của những nước tham dự hội nghị hoặc liên quan mật thiết đến hội nghị để dẫn ra những tư liệu cần thiết cho chủ đề cuốn sách. Có thể nói đây là bản tổng hợp những tài liệu chứng minh chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh đối với nước ta và các nước khác ở Đông – dương.

Giá trị của cuốn sách không chỉ dừng lại ở đó. Là một nhà nghiên cứư lịch sử, tác giả không chỉ hạn chế ở việc dẫn ra những tư liệu phân tích sâu sắc về thái độ của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương. Chính từ sự phân tích đó, qua các chính sách của Trung-quốc từ lịch sử xa xưa cho đến hội nghị Giơ-ne–vơ về Đông dương, tác giả đã khách quan làm rõ “sợi chỉ đen” xuyên suốt trong chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung – quốc đối với ba nước Việt – nam – Lào và Cam – pu – chia.

Cuốn sách này gồm 4 phần:

Phần thứ nhất chủ yếu phân tích những nhân tố quyết định thái độ của Bắc-kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương, đó là:

Vào năm 1954. Mao Trạch Đông “hoàn toàn chế ngự” Đảng, quân đội, Nhà nước, song rõ ràng tình hình kinh tế có khó khăn. Hơn nữa đã có những rạn nứt trong quan hệ Trung – Xô mà “sự liên minh bền vững trong chừng mực cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung-quốc”. Trước tình hình đó, lại muốn đạt quy chế cường quốc, Bắc- kinh “có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ bình thường với các nước phương Tây” để công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy, phá thế cô lập với các nước phương Tây là một yêu cầu chiến lược của Trung-quốc lúc đó. Pháp, Mỹ đã đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế đó “có thể đóng vai trò quyết định trong thái độ của Bắc Kinh”. Đó là “đề tài của sự mà cả ngầm” (Pháp), “lợi ích của Trung -quốc là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông – dương” (Mỹ).

Nhưng những nhân tố trên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thái độ của Trung – quốc. “Tính truyền thống lâu đời trong quan hệ Trung -Việt, và ở mức độ thấp hơn đối với Lào và Cam- Pu Chia, cũng sẽ đóng vai trò quyết định”.

Lịch sử mối quan hệ đó từ các triều đại phong kiến Trung-quốc đến Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, đều cho thấy các chế độ chính trị ở Trung – quốc luôn coi Việt – nam có một vị trí đặc biệt đối với họ. “Các đế chế Trung-hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ hoà bình kiểu Trung – quốc đối với các bờ cõi phía nam…ngày nay cũng như trước đây; điều đó đã thực sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng ở Giơ – ne – vơ”.

Trước hội nghị Giơ –ne – vơ năm 1954, trong khi ở phương Tây người ta lo ngại Trung-quốc có thể can thiệp trực tiếp vào Đông Dương thì ngược lại, Bắc kinh lại làm rùm beng, tỏ ra lo sợ Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông – dương. “ Vào mùa xuân năm 1954, Trung -quốc đã lựa chọn sự cùng tồn tại hoà bình” và đối với Bắc – kinh, “Đông – dương không được trở thành một Triều –tiên mới”. Thái độ đó bắt đầu từ sau khi đình chiến ở Triều – tiên. Trên thực tế, Bắc – kinh nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề Đông –dương bằng thương lượng từ mùa thu năm 1953, trước cả Việt – nam, và chỉ viện trợ cho Việt – nam “đủ để tạo thuận lợi cho Việt – Minh giành thắng lợi, song không vì thế mà viện trợ vô hạn độ để Việt – Minh có thể làm cho Mỹ và đồng minh của Mỹ can thiệp, dù cho lúc đó đồng minh có thể “viện trợ to lớn hơn viện trợ mà họ đã thực sự dành cho Việt Minh”.

Do đó, việc tiến hành thương lượng về Đông –dương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung – quốc: làm dịu tình hình căng thẳng ở Viễn –đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế ở Trung – quốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông – dương, tạo khả năng cho Trung – quốc chấm dứt được sự bài xích của phương Tây, chứng tỏ Trung – quốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới và tạo cơ hội cho Trung – quốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với phương Tây”.

Phần thứ hai và thứ ba của cuốn sách chủ yếu nói về diễn biến của hội nghị Giơ – ne – vơ và thái độ của giới cầm quyền Bắc –kinh đến Giơ – ne –vơ “không phải để ủng hộ quan điểm của Việt Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”.

Trong giai đoạn đầu của hội nghị đồng thời là bước đầu của Trung – quốc vào sân khấu quốc tế, thái độ của Bắc – kinh trên công khai là “cứng rắn và lập trường triệt để đứng về phía Liên – Xô”. Nhưng Bắc – Kinh cũng đã để lộ ra là “tránh không tố cáo” tuyên bố giữa Pháp và bù nhìn ngày 28-4-1954 về việc Pháp trao trả độc lập cho Việt –nam. Và từ giữa tháng 5, chỉ ít ngày sau khi khai mạc hội nghị (8 tháng 5), Bắc- kinh “nhanh chóng chứng tỏ rằng lập trường của Trung – quốc không phải chỉ phản ánh một cách đơn giản lập truờng của Liên – Xô”. Trong các phiên họp hẹp và những cuộc tiếp xúc tay đôi với Anh và đặc biệt với Pháp, họ đã nói rõ:

Ngày 18 tháng 5: “Chúng tôi đến đây không phải để ủng hộ quan điểm của Việt- Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”. Trung-quốc không nhất thiết khuyến khích hoạt động quân sự của Việt – Minh tiến về đồng bằng”.

Ngày 27 tháng 5: “Về Lào và Cam – Pu – Chia, quan điểm của Trung – quốc phù hợp với quan điểm của Pháp”; “ các vùng tập kết phải được xác định trên cơ sở hình thái quân sự chứ không phải chính trị”.

Ngày 7 tháng 6: “Chúng tôi không có điều kiện nào cả, chúng tôi chỉ đơn giản muốn hoà bình”.

Vì vậy hội nghị về vấn đề Đông-dương vẫn không tiến triển được. Ngày 15 tháng 6, hội nghị Giơ – ne – vơ về vấn đề Đông-dương chịu chung số phận đó. Trong khi đó ở Pháp, chính phủ Măng – đét Phrăng (Mendes – France) lên cầm quyền, Bắc – kinh đã chọn thời điểm phù hợp này để triển khai trở lại hội nghị về vấn đề Đông – dương “bằng cách đưa ra một đề nghị cốt tử về các vấn đề Lào và Cam – pu – chia”. Đề nghị đó “có tính chất thúc đẩy quyết định” mà Mỹ cũng hoan nghênh đó là:

Ngày 16 tháng 6: Chu Ân Lại gặp ngoại trưởng Anh, đã nói là “có thể thuyết phục Việt – Minh rút quân khỏi Lào và Cam – pu – chia” sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của chính phủ Vương quốc Lào và Cam – pu – chia. Trong phiên họp toàn thể ngay chiều hôm đó, Bắc – kinh đưa ra đề nghị 6 điểm tách riêng biệt việc giải quyết các vấn đề Lào và Cam – Pu – Chia khỏi vấn đề Việt – nam. Còn phía Việt- nam thì vẫn đòi công nhận Pa – thét Lào và Khơ – me It – xa – rắc. Và ngày hôm sau, 17 tháng 6, Chu Ân Lai nói với ngoại trưởng Pháp nội dung cụ thể giải pháp vấn đề Cam –pu – chia, được đánh giá là “chưa có một bản trình bày nào lại rõ ràng và chính xác hơn thế”. Trong bản trình bày đó, Chu Ân Lai còn nói đến một vùng tập kết quân Pa – thét Lào ở biên giới Việt – nam và Trung – quốc, nhưng cùng ngày, phía Việt- nam đòi Pa – thét Lào kiểm soát một nửa nước Lào.

Ngày 23 tháng 6, khi gặp Măng – đét- Phrăng ( Mendes France), Chu Ân Lai nói rằng Trung – quốc “không đòi đền bù gì về những nhượng bộ đối với vấn đề về Lào và Cam – Pu – chia, không lợi dụng khó khăn của Pháp để đòi chính phủ Pháp phải nhân nhượng điều gì”. Về hội nghị thì “cần thảo luận các vấn đề quân sự trước các vấn đề chính trị, và giải pháp chính trị có thể tiến hành theo nhiều bước trong một thời gian khá dài: Cần đẩy nhanh việc thương lượng về việc tập kết quân đội Việt – nam, thời hạn là ba tuần”.

Chu Ân Lai còn khẳng định sẽ “thúc đẩy đoàn đại biểu Việt – nam dân chủ cộng hoà nhích lại gần không những với nước Pháp và còn với Việt – nam của Bảo Đại”.

Tác giả nhận xét là tiếp đó, với nội dung Măng – đét – Phrăng (Mendes France) chỉ thị cho đoàn Pháp thương lượng với Việt – nam dân chủ cộng hoà (tập kết quân, đường danh giới ở vào vĩ tuyến 18…) thì “ kể từ nay việc chia cắt Việt – nam đã trở thành mục tiêu chính của đoàn đại biểu Pháp”.

Giai đoạn chót của hội nghị bắt đầu từ trung tuần tháng 7, sau ba tuần lễ dậm chân tại chỗ trong khi vắng mặt các trưởng đoàn và diễn ra cuộc gặp giữa Chu Ân Lai và chủ tịch Hồ Chí Minh từ 3 đến 5 tháng 7 vì “sự tồn tại mối bất hoà giữa Trung – quốc và Việt – Minh vào cuối tháng 6 năm 1955 là không thể nghi ngờ được”.

Ngày 13 tháng 7 gặp lại Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đề cập đến vấn đề ranh giới tạm thời giữa Nam và Bắc Việt – nam, Chu Ân Lai tin rằng nếu Pháp “tiến lên một buớc thì phía bên kia sẽ đi nhiều bước hơn để đón các ngài” và “theo sự thoả thuận”, ngay chiều hôm đó phía Pháp đưa đến cho Trung – quốc bản dự thảo về tuyên bố chính trị cuối cùng của hội nghị.

Từ đó, phía Trung – quốc “đóng vai trò nổi bật” trong việc giải quyết những vấn đề tồn tại của hội nghị, với những nhượng bộ “có ý nghĩa quyết định” của phía Trung – quốc đối với đòi hỏi của Pháp và việc gây sức ép đối với phía Việt – nam dân chủ cộng hoà, trong những vấn đề then chốt:

Với thời hạn tuyển cử: trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà đòi thời hạn 6 tháng, Chu Ân Lai đề nghị một cách phải chăng rằng “các cuộc tuyển cử nên lùi lại 2 năm cho đến năm 1956, các đại biểu hai miền Nam Bắc sẽ thoả tuận với nhau về thời hạn chính xác”.

Về giới tuyến: Trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà vẫn giữ ý kiến vĩ tuyến 16 thì Chu Ân Lai nói “ thực tế là Việt-nam dân chủ cộng hoà tuyệt đối không cần đến con đường số 9” mà phía Pháp coi đó là con đường ra biển của Lào. Sau đó khẳng định với phía Pháp là “đã làm cho Việt Minh chấp nhận” ý kiến của Trung – quốc.

Kết thúc hội nghị Giơ – ne – vơ tối ngày 22 tháng 7, Chu Ân Lai mời cơm các truởng đoàn Việt – nam dân chủ cộng hoà, vương quốc Lào và vương quốc Cam – pu – chia, và cả Ngô Đình Luyện, “tập hợp các đại biểu của bốn nước Đông – dương”. Trong bữa cơm, Chu Ân Lai chúc sức khoẻ Bảo Đại, gợi ý Nam Việt – nam đặt một Công sứ quán tại Bắc – kinh, “một gợi ý mà Việt – Minh tuyệt nhiên không được báo trước”.

Phần thứ tư của cuốn sách chủ yếu nói lên thái độ của giới cầm quyền Bắc – kinh đối với việc thi hành hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông – dương đặc biệt về vấn đề thống nhất Việt – nam và chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương.

Về vấn đề thống nhất Việt – nam, sau hội nghi Giơ – ne – vơ, “trong khi các nhà lãnh đạo và báo chí Việt – nam luôn luôn lên tiếng ủng hộ các tuyên bố của Trung- quốc liên quan đến vấn đề Đài Loan thì việc Trung – quốc bỏ qua một cách có hệ thống không nói đến vấn đề thống nhất của Vịêt – nam lại càng trắng trợn”. Điện mừng của Mao Trạch Đông, khi ký Hiệp định Giơ – ne – vơ, phát biểu của thủ tướng Chu Ân Lai khi tiếp thủ tướng Phạm Văn Đồng đi qua Bắc – kinh đầu tháng 8 năm 1954, phát biểu của đại sứ La Quý Ba khi trình quốc thư đều không nói đến vấn đề đó. Ngược lại, phía Việt–nam “ không ngừng khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng là thồng nhất đất nước”.

Từ thực tế trên tác giả nhắc lại rằng Măng – đét – Phrăng (Mendès France) khi đàm phán với Chu Ân Lai, đã tin tưởng là Trung – quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài, Việt – nam, tán thành sự tồn tại của phía nam Trung – quốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc – kinh đã hạn chế các yêu sách của Việt – Minh ở hội nghị Giơ – ne – vơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt – nam dân chủ cộng hoà phải giảm bớt “ tham vọng” đối với miền nam Việt – nam và đối với các nước khác ở Đông – dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt – nam và cả trên bán đảo Đông – dương. Ý đồ của Bắc – kinh còn ở chỗ là “ bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam – kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung – quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu” ; “ sau khi Việt – nam bị chia cắt, miền Bắc gắn bó mật thiết hơn với nền kinh tế Trung – quốc từ nay duy nhất có khả năng cung cấp cho những nhu cầu chủ yếu của một nước không thể tự cung tự cấp được. Tình trạng đó từ nay sẽ là một chủ bài quan trọng với chính sách của Trung – quốc ở Việt – nam”.

Về chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương, sự khác nhau cũng thể hiện ngay trên các tuyên bố công khai. Từ đó, tác giả cho rằng quan điểm của Trung – quốc về một Đông – dương đa dạng có nghĩa là “ Lào và Cam – Pu – Chia phải là đối trọng với Việt – nam”. Và “ lập trường của nhân dân Trung – hoa muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở Đông – dương, muốn Ban-căng hoá Đông – dương dĩ nhiên dẫn đến sự chia rẽ tình đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông – dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Cam – Pu – Chia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới”. Đó là: “ một chính sách Đông – dương nối tiếp chính sách của các triều đại hoàng đế xưa kia”, mà một trong những nét nổi bật nhất của chính sách đó là ý muốn thường xuyên duy trì hoà bình ở sườn phía nam, dựa trên thế cân bằng lập ra từ những sự cạnh tranh giữa các nước khác nhau ở trong vùng …một chính sách chia để trị cổ xưa”.

Tóm lại, tác giả kết luận, “phải chăng người ta thấy lại cách đối xử “vô tư” xưa kia, dưới cái vỏ trật tự nho giáo, thường chỉ phục vụ lợi ích chính trị của đế chế Trung – hoa”.

“Thái độ của Trung – quốc đối với Việt – Minh là thái độ của một cường quốc ủng hộ kiên quyết đồng minh của mình chừng nào mà mục tiêu của đồng minh có thể khớp với thế cân bằng (Bắc –kinh) đang tìm kiếm, nhưng cũng biết áp đặt một vài điều bó buộc trong trường hợp ngược lại”. Và Đông – dương thống nhất trong cuộc cách mạng như trước đây ở dưới chế độ thực dân nhường chỗ cho Đông – dương trở nên phức tạp biểu hiện ở bữa cơm cuả Chu Ân Lai ngày 27 tháng 7”.

Chiến lược của Bắc – kinh rõ ràng là muốn Đông – dương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ ,”đa dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung – quốc chi phối và buộc phải đi theo quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc – kinh. Cho nên Bắc – kinh ngầm tán thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt-nam, duy trì các chính phủ vương quốc ở Lào và Cam – Pu – Chia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách của các đế chế Trung – hoa. Và trong suốt mấy chục năm qua mặc dầu bối cảnh quốc tế và tình hình nội bộTrung – quốc có những đảo lộn lớn, song Bắc – kinh vẫn duy trì một cách liên tục chính sách không thay đổi đó. Sau khi Việt – nam đã thống nhất năm 1976, quan hệ Việt – Lào được tăng cường, bối cảnh căn bản khác với năm 1954 và những năm sau đó, nhưng Bắc – kinh vẫn “tiếp nối thẳng tắp thái độ ở Giơ – ne – vơ” nhằm duy trì cái gì còn có thể giữ đựơc trong chính sách “chia đề trị” ở Đông – dương. Vì vậy nếu ngày hôm qua, vào giữa những năm 1950, họ muốn có một Cam – Pu – Chia theo “chủ nghĩa quốc gia” và là một đối trọng với Việt- nam thì ngày nay, vào giữa những năm 1970, họ tạo nên một Cam – Pu – Chia “cách mạng” để chống lại nước Việt- nam thống nhất. Đó là mục tiêu không thay đổi trong chính sách Đông – dương mà tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc – kinh theo đuổi.

“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương“ là một cuốn sách mà mọi người chúng ta nên đọc để hiểu thêm về kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất của nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tuy nhiên, do tác giả đứng trên lập trường tư bản để viết nên cuốn sách này cũng có những nhận định sai lầm. Chúng ta đã có cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, một công trình nghiên cứu có hệ thống, một tài liệu đấu tranh sắc bén chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh.

Chúng tôi trích dịch cuốn sách này để bạn đọc tham khảo.

Tháng 3 năm 1981

Nhà xuất bản Thông tin lý luận

———


LỜI NÓI ĐẦU

Phải thẳng thắn thừa nhận sự ngu dốt của mình, không đem tưởng tượng và bịa đặt thay thế cho điều mình không biết. Phải kể lại chính xác các sự kiện, và sau đó chỉ đưa ra những điều suy nghĩ ngắn gọn đối với những cái mà những sự suy nghĩ ấy có thể có giá trị.

(Hồi ký của Xanh Xi –mông)

“Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa phương Đông và phương Tây, có sự tham dự của Trung – hoa, Bắc – kinh, đại sứ Giăng – Sô – ven (Jean Chauvel) trong hồi ký của mình đã nêu lên việc Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham gia hội nghị Giơ – ne – vơ như vậy.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên ư? Chắc chắn là như vậy: Nếu cuộc đàm phán quan trọng giữa Trung – quốc và Liên – xô trong những năm 1949 và 1950 ở nhiều điểm được coi là “một cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây thì ngược lại, sự giống nhau về lý tưởng của hai chế độ hiện diện đã làm cho cuộc gặp gỡ có tính chất một sự bình thường hoá quan hệ trong nội bộ khối hơn là một sự chạm trán giữa hai hệ thống. Còn cuộc thương lượng tại Bàn – môn – điếm, kết thúc chín tháng trước hội nghị Giơ – ne – vơ thì chưa bao giờ vượt qua giai đoạn của một thảo luận hạn chế về quân sự nhằm đi đến ngừng bắn ở một giới tuyến đã được số phận vũ khí định đoạt.

“Cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây” ? Triển vọng là to lớn. Nhưng chúng tôi thấy gọi như thế có vẻ đúng. Ý niệm đó thể hiện rõ ý hơn là dùng thuật ngữ “gặp gỡ Đông – Tây”. Đúng là chúng ta đang ở bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh vào thời kỳ quyết liệt, hai khối đang đối trọi nhau gay gắt. Thái độ cư xử của một Bi – đơn Xmit (Bedell Smith), của một Đa-let (Foaster Dulles), một Bi- đơn (Georges Bidault), một Mô-lô-tốp (Molotov) gần như luôn luôn nhắc tới điều đó.

Tuy vậy chúng tôi thích dùng “giữa phương Đông và phương Tây” hơn. Bởi vì Giơ – ne – vơ cũng là thái độ ôn hoà khôn khéo của một I-đơn (Anthony Eden), hay niềm tin còn nóng vội của một Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đứng trước ngoại giao quỷ quyệt khôn lường của Chu Ân Lai hoặc hơn nữa là sự giận giữ lo âu của Phạm Văn Đồng. Tấm thảm kịch của một Đông – dương chia cắt đang thoát khỏi sự ràng buộc của thuộc địa. Sự cố gắng căng thẳng của một Trung – quốc mong muốn thế giới cũ và thế giới mới chấp nhận. Một châu Á đang vươn lên, mong muốn người ta hiểu mình trên diễn đàn quốc tế lâu nay bị châu Âu hay Hoa – kỳ chi phối. Đối với chúng tôi, Giơ – ne – vơ thuộc loại các cuộc thương lượng quan trọng, từng thời kỳ một, chúng ghi lại những sự biến đổi của thế giới.

Nhưng tại sao lại tìm cách tách riêng thái độ đặc biệt của Trung – quốc như vậy?

Ít nhất là vì hai lý do, bổ sung cho nhau là đằng khác.

Trước hết, bởi vì việc nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại của Trung – quốc hiện đại – chưa được phát triển ở Pháp- đòi hỏi phải xem xét kỹ càng, từng cái một và kiên nhẫn những thời điểm có ý nghĩa nhất trong quá trình tiến triển của nó trước khi có thể nghĩ đến những bức tranh rộng rớn về chính sách đối ngoại của Trung- quốc trong một thời kỳ lịch sử, Giơ – ne – vơ, cuộc đối mặt lớn lao đầu tiên của nước Trung – hoa mới với thế giới Phương Tây, đối với chúng tôi là một trong những thời điểm đó – thời điểm đáng để chúng ta bỏ công nghiên cứu đề tài đó – đáng để chúng ta bỏ công phân tích việc nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa bước vào “hệ thống quan hệ liên quốc” (quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác) như các nhà xã hội học về quan hệ quốc tế đã viết.

Từ nhận xét này chúng tôi đi thẳng đến lý do thứ hai phải ưu tiên nghiên cứu thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương. Đây còn là một lý do về phương pháp nữa. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế hiện đại mà chỉ dựa vào kinh nghiệm phương Tây thì không hợp lý lắm, còn nói gì đến lý thuyết? Làm sao có thể thúc đẩy việc nghiên cứu tiến triển nếu chúng ta xem nhẹ tính đặc thù của các thế giới xa lạ nhất với chúng ta? Trong một tác phẩm của Vôn – te (Voltaire), khi xem xét “Trích Dự án hoà bình vĩnh cửu của ông thày dòng xanh Pi –e (Sanit – Piere)” do Rút – xô (J.J.Rousseau) công bố, Hoàng đế Trung – hoa đã nói : “Nhưng trẫm rất ngạc nhiên khi đã tìm mãi mà không thấy tên Trẫm trong danh sách”. Hai thế kỷ sau, ý nghĩ trào lộng này hình như vẫn không mất đi tính thời sự của nó.

Thật vậy, trong chừng mực nào đó, hệ thống quốc tế có cái lo-gích riêng của nó và nó buộc các nhà dương cục là các quốc gia phải tuân theo. Nhưng sự phản ứng của các quốc gia đó về căn bản cũng còn thể hiện nhân cách của mỗi nước. Bởi vậy, chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng không nên đề cập đến chính sách đối ngoại của Trung – quốc ít nhất là ở Đông – dương, giống như chính sách của Mỹ hay của Liên – xô mà công trình nghiên cứu này không đả động đến. Phải chăng đây là cuộc tranh luận triền miên giữa những “nhà nghiên cứu cái phổ biến” và những “nhà nghiên cứu cái đặc thù” ? Có thể như vậy.

Có nhiều công trình nói đến một phần đề tài chúng tôi đang quan tâm, đã được xuất bản đặc biệt là ở nước ngoài.

Một nhận xét đầu tiên, về hình thức: Ở nước Trung – hoa nhân dân chưa hề có một công trình nghiên cứu lịch sử có liên quan xa, gần đến thái độ của chính phủ Bắc – kinh đối với vấn đề Đông – dương năm 1954. Điều đó không có nghĩa là không có các nguồn Trung – quốc liên quan đến vấn đề đó, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi nói về báo chí. Giờ đây, chúng tôi chỉ muốn nói rõ rằng một vài cuốn sách tuyên truyền về vấn đề Đông-dương dương xuất bản trong những năm 1950 ở nước Trung – hoa nhân dân có thể đem lại những dữ kiện đáng chú ý. Chẳng hạn như cuốn sách nhỏ của HuCh ‘i-an tên là “Trình bày về vấn đề Đông – dương” xuất bản ở Thượng – hải năm 1954 trong đó có một chương nói về hội nghị Giơ – ne – vơ và một chương khác nói về việc giải quyết cuộc khủng hoảng (chương IX và X). Một vài tạp chí chuyên ngành hiếm hoi xuất bản ở Bắc – kinh như “Nghiên cứu về các vấn đề quốc tế” cũng có thể cung cấp những tư liệu có ích.

Ngoài ra ở Đài – loan và Hồng – công cũng đã xuất bản nhiều công trình, sách nhỏ hay bài báo liên quan đến khía cạnh này, khía cạnh khác của vấn đề, và đó là những nguồn thông tin đáng quan tâm. Ví như cuốn sách nhỏ của Chang Tachiin “Vấn đề cộng sản Lào” nói về quan hệ giữa Việt Minh, Đảng cộng sản Trung – quốc và Pa- Thét Lào. Hoặc nữa, các bài trong các tạp chí của Trung – hoa quốc gia như “Nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản Trung – quốc” (đó là tạp chí nghiên cứu về Bắc –kinh), “Những vấn đề và những đề tài nghiên cứu” xuất bản ở Đài – bắc, hoặc là “Triển vọng”, “Xuân Thu” xuất bản ở Hồng – công, …Đối với những nguồn như vậy, cần phải phê phán nghiêm túc về mặt lịch sử, nhưng sự đóng góp của chúng đôi khi có giá trị.

Ở Pháp – người ta có thể nói cả ở châu Âu – chúng tôi chỉ biết có một cuốn “Sự kết thúc của một cuộc chiến tranh” của Giăng La- cu – tuya (Jaen Lacouture) và Phi –lip Đơ – vi – le (Philippe Devillere) xuất bản ở Pa –ri năm 1960.

Cũng như thường xảy ra, sự đóng góp về nguồn tư liệu chủ yếu là của Mỹ. Sự can thiệp ngày càng tăng của Mỹ vào bán đảo Đông-dương kể từ khoảng năm 1960 đã lôi cuốn các trường đại học và trung tâm nghiên cứu của Mỹ vào việc phát triển các công trình nghiên cứu về lịch sử Đông – dương, nhất là về chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản Việt –nam cũng như về việc thủ tiêu chủ nghĩa thực dân Pháp. Một công trình tiêu biểu của Men –vin Guốc – tốp (Melvin Gurtov) là cuốn Cuộc khủng hoảng Việt – nam đầu tiên có một tiêu đề mục “Chiến lược của cộng sản Trung – quốc và sự dính líu của Mỹ, 1953-1954” do trường đại học Cô – lum – bi – a xuất bản năm 1967. Công trình của Kinh C.Chen, Trung – quốc và Việt – nam, 1938- 1954, do trường Đại học Prin –xơ – tơn xuất bản hai năm sau đó, phản ánh cùng một mối quan tâm của một nước Mỹ phiền muộn, muốn tìm hiểu sự thật. Phải kể đến công trình nghiên cứu quan trọng của Rô- be – Ran – đơn (Robert Randle) Giơ – ne – vơ 1954: việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương cũng do trường đại học Prin – xơ – tơn xuất bản năm 1969, theo chúng tôi biết, đó là công trình duy nhất nghiên cứu một cách tổng thể về hội nghị Giơ – ne – vơ kể từ khi có cuốn sách Giăng – la – cu –tuya và Phi – lip Đơ – vi – le. Hết thảy các công trình nghiên cứu đó dựa một phần vào những nguồn tư liệu gốc. Đặc biệt R.F. Ran- đơn đã cố gắng khai thác những hồ sơ lưu trữ riêng của J.F. Đa – let cũng như “Sưu tập lịch sử về Đa let” của trường đại học Prin – xơ – tơn. Nhưng nếu nguồn này có thể cung cấp những dữ kiện đáng chú ý để tìm hiểu thái độ của Mỹ trong việc giải quyết (cuộc chiến tranh Đông – dương) thì hiển nhiên là nó lại không thể đem lại những tư liệu quyết định về thái độ của Trung – hoa nhân dân, vì các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Trung Quốc như người ta sẽ thấy, là rất sơ sài trong thời gian hội nghị Giơ – ne – vơ. Không kể một vài cuộc nói chuyện với các nhân vật chính trị, những tác giả nói trên chủ yếu đã phải dựa vào các hồi ký của các nhà chính trị và các báo chí Mỹ và Trung – quốc.

Đồng thời chúng tôi cũng phải nói đến các công trình nghiên cứu của Liên – xô đã tăng lên gấp bội trong những năm gần đây, nhất là các công trình của Viện nghiên cứu Viễn đông – Mát – xcơ – va. Rõ ràng sự phát triển mối xung đột Trung – Xô đã đưa các sử gia Nga ngày càng nhấn mạnh đến những sự bất đồng giữa Liên – xô và Trung-quốc về chính trị đối ngoại. Do đó các công trình nghiên cứu của Liên–xô là một kho thông tin tư liệu quý báu có thể khai thác được. Nhưng cũng chắc chắn rằng nếu ở đâu cần phải chú ý đặc biệt đến việc phê phán về mặt lịch sử thì chính là ở các công trình này. Việc so sánh giữa hai công trình nghiên cứu của M.S. Ca-pit-sa (M.S. Kapitsa) (nguyên là thành viên của đoàn đại biểu Liên – Xô tại Giơ – ne – vơ), cuốn “Quan hệ Xô – Trung” xuất bản năm 1958 và cuốn “Nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa: hai chục năm – hai chính sách” xuất bản năm 1969, có tác dụng đặc biệt soi sáng về phương diện này. Các công trình mới xuất bản đó cũng thường đưa lại những dữ kiện mới không thể phủ nhận được. Chính vì vậy chúng tôi sẽ coi trọng các công trình đó.

Sự đóng góp của công trình nghiên cứu của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, là ở chỗ công trình đó dựa trên những hồ sơ lưu trữ, trong trường hợp đặc biệt này là những hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Pháp.

Những hồ sơ này là của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị Giơ – ne – vơ, của Vụ chính trị và của Bộ các quốc gia liên kết trước đây. Tức là những biên bản của các cuộc nói chuyện bán chính thức diễn ra tại hội nghị Giơ – ne – vơ giữa hai đoàn đại biểu Trung – quốc và Pháp và đó là những nguồn tư liệu đáng chú ý nhất. Trong số này có cả thư từ trao đổi giữa Pa-ri với Giơ – ne – vơ và Sài Gòn, cũng như Pháp và các đồng minh của mình.

Việc sử dụng những hồ sơ lưu trữ đặt ra một vấn đề phương pháp mà chúng tôi không có ý định lẩn tránh: có thể chấp nhận đến mức nào việc phân tích chính sách đối ngoại của một Nhà nước, trong trường hợp này là Trung – quốc, bằng cách dựa rất nhiều vào hồ sơ của một nước khác, như trong trường hợp này là nước Pháp, như chúng tôi sẽ làm? Cách tiến hành như vậy – có cần phải nhấn mạnh điều này không? Không thể coi là hoàn hảo. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng con đường phải đi là như vậy vì ba lý do chính:

Trước hết, vì cho đến lúc kết thúc, Đông – dương chủ yếu vẫn là một vấn đề của nước Pháp. Trong quá trình hội nghị Pháp vẫn là người đối thoại được Trung – quốc ưu đãi. Vậy thì nếu những hồ sơ lưu trữ của Pháp rõ ràng là không thể đem ra thay thế hồ sơ lưu trữ của Trung-quốc thì người ta có thể thừa nhận rằng, ngoài hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc ra, đó là những tài liệu bổ ích nhất để nắm được đâu là những phương hướng chủ yếu của nền ngoại giao Trung – quốc.

Thứ hai, vì các biên bản của các cuộc họp tiếp xúc hẹp và bí mật mà lần đầu tiên chúng tôi có thể khai thác được, cho phép nắm được, nếu không phải là nguyên nhân thì ít nhất cũng là điều kiện, bối cảnh của chính sách Trung Quốc như đã được diễn đạt đúng như thế.

Cuối cùng, vì trong một chế độ xã hội chủ nghĩa như là Trung –quốc, báo chí, đài phát thanh hoàn toàn do Nhà nước kiểm soát, cũng là một ngồn thông tin không thể xem thường được. Báo chí Trung – quốc tự một mình nó – chủ yếu là báo hàng ngày như Nhân dân nhật báo và bản tin Tân Hoa xã – không thể là một cơ sở đủ cho việc nghiên cứu lịch sử. Trái lại, đem đối chiếu với các loại tư liệu gốc thì ngược lại báo chí trở thành một loại tư liệu bổ sung cần thiết. Một thứ bổ sung cứ mỗi bước lại đưa ra những sự so sánh đôi khi khá phong phú. Về phương diện này, chúng tôi coi báo chí Trung – quốc như một nguồn nếu không phải là chủ yếu thì ít nhất cũng là quan trọng hàng đầu.

Như vậy, tính chất của ngay các hồ sơ lưu trữ của chúng tôi chắc chắn sẽ đưa đến chỗ nói quá nhiều về quan hệ Trung – Pháp. Chắc chắn là trong cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Trung-quốc và phương Tây, nước Anh cũng đóng vai trò quyết định. Vậy mà, để phân tích quan hệ Trung–Anh, chúng tôi chỉ có tập Hồi ký của ngài I-đơn (Sir Anthony Eden) người dẫn đầu đoàn đại biểu Anh đã có nhã ý trao đổi với đoàn đại biểu Pháp. Thật là ít. Chắc chắn rằng đến ngày nào có thể khai thác được hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Anh thì sẽ hài lòng được thấy rõ hơn tầm quan trọng của các cuộc hội đàm giữa người đứng đầu nền ngoại giao Anh và Chu Ân Lai nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng Đông – dương.

Những tập hồi ký của nhiều nhân vật chính giới được xuất bản từ 1954 cũng giúp đỡ chúng tôi ít nhiều. Nhưng ở lĩnh vực này, việc phê phán các nguồn tư liệu cũng phải đặc bịêt ghiêm túc.

Trước hết, bởi vì thể loại văn học này cực kỳ phức tạp. Thế nào gọi là hồi ký? Hiển nhiên là không thể nghi ngờ gì được các tập Hồi ký I-đơn, nhật ký bảy năm của Ô–ri–ôn (Vincent Auriol). Bình luận của So–ven. Hồi ký của tướng Sa–lăng (Raoul Ralan) hoặc của Ê – ly (paul Ely) thuộc thể loại này và được sử dụng như các loại hồi ký. Nhưng những trang (171-176) trong cuốn Đảng cộng sản Trung – quốc cầm chính quyền mà Ghi – éc – ma (Jacques Guilermaz) viết về hội nghị Giơ – ne – vơ phải chăng được coi là “hồi ký” bởi lẽ tác giả là thành viên của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị? Hay là những trang (108-117)- không bổ ích gì lắm-trong cuốn Vấn đề Đông – dương từ sau chiến tranh thế giới lần thứ haiQuan hệ Xô – Trung của M.S. Ca – pít – sa cũng thế, bởi vì cũng như La-vrit – sép, M.S. Ca – pít – sa có mặt ở Giơ – ne – vơ lúc đó? Chắc chắn không phải như vậy. Vì chúng tôi đã cố ý chọn những cuốn sách mà việc biên soạn đã làm cho các công trình mang tính chất nghiên cứu bậc đại học, nghiên cứu chính thức chứ không phải là hồi ký. Nhưng giữa những thái cực đó, chúng ta sẽ xếp vào loại nào cuốn sách nhỏ nhan đề Tiếng vang trung thực của đại tá Ê – vôn (Reyert B. Ek vall) nguyên là phiên dịch tiếng Trung – quốc của đoàn đại biểu Mỹ tại Giơ – ne – vơ? Đó là kỷ niệm của một cuộc hội nghị hay là những điều khó hiểu về chính trị bắt nguồn từ những sự khó khăn trong việc phiên dịch. Hoặc cuốn sách của Hoàng Văn Chi nhan đề Từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản. Đó là một công trình nghiên cứu về cải cách ruộng đất của Vịêt-Minh trong những năm 1953 – 1956 hay là chuyện kể của một nhân vật đặc biệt nhạy cảm đối với sự bành trướng về ý thức hệ của Trung – quốc ở Việt-nam? của La-vrit-sép (Alexandr Lavrisev) cũng được coi là “hồi ký” chăng ? Bởi vì tác giả cũng đã tham dự hội nghị với tư cách Tổng thư ký của đoàn đại biểu Liên – xô. Hoặc những trang (401-403) trong cuốn

Nhưng đương nhiên, những lầm lẫn về tài liệu hoặc việc “viết lại” lịch sử là những khó khăn nghiêm trọng nhất. Nhớ nhầm chăng? Đại sứ Sô – ven là ngưòi đã có mặt tại hội nghị từ ngày đầu tiên đến ngày cuối đã nhớ lại rất kỹ “cái động tác rất tiêu cực của Đa-let” lúc 20 giờ 40 ngày 15 tháng 6 khi ông này giơ tay tỏ ý không muốn hội nghị tiếp tục bàn về vấn đề Triều – tiên. Vậy mà Đa-let đã rời Giơ – ne – vơ ngày 3 tháng 5 không bao giờ trở lại đó nữa cho đến khi đạt được thoả thuận ngày 21 tháng 7. Hoặc nữa là cuộc nói chuyện dài với Chu Ân Lai ngày 19 tháng 6 khiến cho phiên họp của hội nghị phải lùi lại bốn tiếng đồng hồ, nhưng cuối cuộc nói chuyện, đại sứ Sô – ven đã dành được điều ông ta muốn. Vậy mà hồ sơ của Bộ Ngoại giao thì lại chứng minh một cách không thể bác bỏ được rằng cuộc nói chuyện đó đã diễn ra ngày 2 tháng 6 và Chu Ân Lai đã hoãn câu trả lời đến ngày hôm sau. Và người ta thường ngờ rằng nhiều tập hồi ký khác cũng có thể đưa ra nhiều ví dụ tương tự.

Tuy nhiên, nhiều công trình về thể loại đó là những nguồn thông tin có giá trị. Đặc biệt là tập hồi ký của I-đơn hay của đại sứ So-ven là những tư liệu, mặc dù có những nhầm lẫn mà chúng tôi nêu lên ở trên, đã phác một bức tranh không phải là không bổ ích về cuộc hội nghị. Chúng tôi cũng nhớ những hồi ký của các vị chỉ huy quân sự (các tướng Sa-lăng, G.Ga-tơ-ru, H.Na-va, P. Ê-li) đã cung cấp những nguồn tin quý giá về sự giúp đỡ của Trung – quốc cho Việt – Minh trong năm 1953 – 1954 hoặc về cách thức các tướng lĩnh đó đánh giá sự “đe doạ” của Trung – quốc. Cuối cùng là các hồi ký của chính khách nhà nước Pháp và nước ngoài (D.Ai-xen – hao, J.La- ni – on, V. ô – ri – ôn) là những người trước và trong cuộc khủng hoảng đã cầm vận mệnh của những nước trực tiếp dính líu đến.

Phần lớn những nhận xét của chúng tôi đối với các tập hồi ký mà chúng tôi đã sử dụng, cũng áp dụng đối với các cuộc hỏi chuyện các nhân vật Pháp và nước ngoài trực tiếp liên quan đến các sự kiện đó. Chắc chắn rằng khả năng có thể hỏi chuyện trực tiếp những người có vai trò chính lúc bấy giờ là một chủ bài đáng kể. Nhưng cũng có mối nguy hiểm hiển nhiên không kém. Một phần bởi vì hai chục năm đã trôi qua kể từ năm 1954, những kỷ niệm và cảm tưởng lúc bấy giờ đã dần dần phai nhạt trong những sự giải thích sau này. Làm sao những nhân chứng của năm 1954 và mà phần lớn tiếp tục theo dõi sát hoặc ít tiến trình chính trị ở Viễn – đông, ngày nay lại có thể dừng lại ở những điều mà họ đã từng biết, từng suy nghĩ năm 1954 mà không xen lẫn những ý nghĩ nảy sinh ra do những sự kiện mới đây hơn? Đó là một nhận xét chung nhưng càng tỏ ra thích hợp khi đối với một vấn đề mà từ hội nghị Giơ – ne – vơ đến nay luôn luôn chiếm vị trí thời sự hàng đầu.

Vả lại, – có cần phải nói rõ ra không – trong các cuộc hỏi chuyện đó, không thể hoàn toàn loại trừ ý muốn dựa vào kinh nghiệm đã qua để bào chữa cho thái độ này hoặc thái độ khác. Những cuộc tranh luận của các vị thủ tướng Bi – đôn và Măng – đét – Phrăng về vấn đề Đông – dương đã được biết đến đủ đến nỗi không cần thiết phải nhấn mạnh nhiều hơn đến những giới hạn vốn có của loại nguồn tư liệu lịch sử nói trên.

Những khó khăn đó, quá hiển nhiên, đã không làm chúng tôi hoàn toàn xa lánh việc nhờ cậy các cuộc nói chuỵện để bổ sung cho thiếu sót này hoặc thiếu sót khác trong hồ sơ lưu trữ hoặc để soi sáng trường hợp này hoặc trường hợp khác. Nhưng nói chung, chúng tôi chỉ sử dụng thông tin lượm được qua các cuộc nói chuyện như những nguồn phụ mà thôi. Không bao giờ chúng tôi dựa trên một kết quả duy nhất của một cuộc nói chuyện để nói một điểm quyết định trong luận văn của chúng tôi. Trong phần lớn trường hợp, những thông tin tập hợp được theo cách đó chỉ sử dụng ở phần chú thích ở cuối trang.

Còn về các hồ sơ lưu trữ thì điều mong muốn là các cuộc hội đàm với các nhân vật Trung – quốc. Chắc chắn là nếu không có thể hỏi chuyện được những người có vai trò hàng đầu, thì tình hình có thể khác khi hỏi đến các nhân vật cấp thấp hơn. Một vài lần tiếp xúc với ông Đào Quý Sinh (Tsao Kuet – Sheng), bí thư (hoặc phó bí thư) ở Bộ Ngoại giao Trung – quốc năm 1954, thành viên của đại biểu Trung – quốc tại Giơ – ne – vơ, mới đây là tham tán Đại sứ Trung – quốc tại Pháp đã mau chóng chỉ cho thấy điều mong muốn của chúng tôi là ảo tưởng. Có nghĩa là những cuộc hỏi chuyện về vấn đề này chỉ có thể thực hiện được với những nhân vật không cộng sản của Pháp hay của nước ngoài.

Còn một điểm cuối cùng về phương pháp mà chúng tôi muốn đề cập đến.

Thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất là do một loạt nhân tố bên trong – việc phân tích những nhân tố đó là giai đoạn đầu của cuộc điều tra của chúng tôi – và bên ngoài. Về nhân tố bên ngoài không thể đem cô lập một cách độc đoán so sánh lực lượng trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa với so sánh lực lượng giữa Đông và Tây. Tất cả những nhân tố đó gắn quá chặt chẽ với nhau mà không thể tách rời nhau. Tuy nhiên chúng tôi sẽ dành phần chủ yếu trong sự trình bày của chúng tôi cho thái độ của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa đứng trước các cường quốc của phương Tây. Nếu chúng tôi cố ý hạn chế phạm vi điều tra của chúng tôi chính là vì những hồ sơ lưu trữ mà chúng tôi dựa vào không cho phép chúng tôi đi xa hơn. Chắc chắn là chúng tôi sẽ phải luôn luôn đề cập đến mối quan hệ giữa Cộng hoà nhân dân Trung – hoa và đồng minh (Liên – xô và Việt- nam dân chủ cộng hoà) hay với các nước bạn bè (Ấn độ, nhất là Miến – điện). Vì một lần nữa, tất cả các mối quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể đề cập đến một cách nào hơn là xem xét tổng thể các mối quan hệ đó. Nhưng cũng phải rõ là mức độ “đúng đắn” của các dữ kiện của chúng tôi cũng không ngang nhau tuỳ theo khi nói về quan hệ giữa Trung – quốc và phương Tây hoặc ngược lại, giữa Trung – quốc và các đồng minh xã hội chủ nghĩa hay các nước bạn bè và châu Á. Có nghĩa là công trình nghiên cứu này có thể đi đến một vài kết luận vững chắc đối với quan niệm của Trung – quốc về cùng tồn tại hoà bình với Phương Tây năm 1954 chẳng hạn, nhưng không nên trông đợi nhiều vào những kết quả dứt khoát khi nghiên cứu về tình hình quan hệ Trung – Xô hoặc Trung -quốc – Việt – Minh trong cùng thời gian đó.

Thiếu nguồn tư liệu gốc, lại phải giới hạn mục tiêu của cuộc điều tra, một vài kết luận có thể đạt được còn mỏng manh, vậy thì làm sao lẩn tránh được câu hỏi cuối cùng nhưng cơ bản này: Ngày nay liệu người ta có thể viết lịch sử về vai trò của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất hay không?

Thực ra vấn đề này trùm lên một vấn đề khác, nghiêm trọng hơn: có thể viết lịch sử thời đại hiện nay không? Bởi vì năm 1954 đó chính là thời đại chúng ta. Không thể chối cãi rằng những sự kiện chúng ta muốn phân tích và giải thích hiện vẫn còn tồn tại một cách kỳ lạ. Vào lúc chúng tôi biên soạn công trình này, vấn đề Đông – dương chưa được hoàn toàn giải quyết. Những con người, nhiều khi vẫn là những con người ấy: Phạm Văn Đồng, Xu – pha –nu – vông, và những người khác. 25 năm sau, vẫn còn đứng ở hàng đầu thời cuộc. Có nghĩa là những ham muốn cách đây 20 năm vẫn còn là một phần những ham muốn hiện nay. Vậy thì, phải chăng đó là lịch sử?

Chúng tôi ý thức được những khó khăn do một tình hình như vậy gây ra. Nhưng chúng tôi càng không chịu bỏ cuộc.

Tất nhiên lịch sử cần một bước lùi để hiểu biết nó. Nhưng nó cũng cần nhân chứng, kể cả nhân chứng còn sống. Lịch sử không thể vô tình theo cách cảm thụ cả bản thân những người đương thời đối với những sự kiện nó. Việc khai thác báo chí, hoặc có mặt tại cuộc thương lượng có thể, theo chúng tôi, về phương diện đó, một lịch sử nào đó có thể và phải viết cùng với sự kiện diễn ra.

Vả lại – nhưng phải chăng đó là một lý lẽ? – trông chờ có được hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc, tức là chịu bó tay không biết được lịch sử trong một tương lai thấy trước. Vậy mà chính sách của Trung – quốc tiếp diễn, ở Đông – dương cũng như ở nơi khác. Những phương tiện điều tra của chúng tôi dù không hoàn hảo thì ngay từ giờ phải cố tìm hiểu. Chúng tôi cảm thấy những lý lẽ đó làm sôi sục cuộc thảo luận bất tận về chức năng của lịch sử. Bảo tồn quá khứ ư? Hướng dẫn tương lai ư? Chúng tôi không đi vào con đường đó. Nhưng có lẽ chúng tôi nhớ rằng lịch sử bao giờ cũng là con đẻ của thời đại, đã và sẽ không bao giờ có lịch sử chung cục. (?)

Vậy thì tại sao ngay từ hôm nay ít nhất lại không trình bày những nhân tố có sẵn trong tay? Chúng tôi biết rằng có những giới hạn không thể vượt qua. Giá trị duy nhất của công trình nghiên cứu của chúng tôi có lẽ sẽ là bản liệt kê những cái gì chúng tôi còn chưa biết. Nhưng phải chăng đó là cách góp phần vào tìm hiểu lịch sử?

Công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ phát triển thành bốn phần.

Phần thứ nhất muốn giới thiệu tình hình Trung – quốc năm 1954 (chương I). Vấn đề Đông – dương nhìn từ Bắc – kinh (chương II) đồng thời các cuộc thương lượng quốc tế sẽ phải dẫn đến việc mời Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham dự hội nghị Giơ – ne – vơ (chương III).

Quả thực, việc nghiên cứu tình hình chính trị và kinh tế Trung – quốc mũa xuân năm 1954 là cần thiết để phân tích và tìm hiểu những mục tiêu chủ yếu mà Chu Ân Lai theo đuổi khi đến Giơ – ne – vơ. Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, mức độ ưu tiên dành cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, tình hình bên ngoài của quốc gia trẻ tuổi và những tham vọng của nó trong lĩnh vực này sẽ quyết định ở mức độ lớn nền ngoại giao Trung – quốc tại cuộc hội nghị. Thêm vào đó là cách nhìn đặc biệt và truyền thống đối với mối quan hệ Trung-Việt, mà chúng tôi thấy cần nêu lên một số chi tiết, bởi vì cách nhìn đó sẽ đóng vai trò có lẽ là không thể coi thường được, về phía Trung – quốc cũng như về phía Việt – nam trong việc tiến hành cuộc thương lượng.

Nhưng một chính sách đối ngoại không phải chỉ là tổng hợp các lực lượng bên trong: đó còn là sự thích nghi thường xuyên các biện pháp và mục tiêu của dân tộc với các trở ngại và khả năng với các hệ thống quốc tế đem lại. Có nghĩa là cần phải đồng thời chú ý đến viện trợ chính trị, kinh tế và quân sự của Trung – quốc cho cộng sản Việt – nam và những phản ứng của phía Pháp và cường quốc phương Tây khác đối với sự viện trợ đó.

Cuối cùng, chương III, một loại chuyển tiếp đi đến nghiên cứu chính hội nghị Giơ – ne – vơ, nói về cuộc gặp gỡ ở Béc – lin, có nghĩa là việc bốn “nước lớn” khác mời Cộng hoà nhân dân Trung – quốc đến Giơ – ne – vơ và các phản ứng của chính phủ Bắc – kinh đối với lời mời đó.

Với phần thứ hai, chính là nghiên cứu diễn biến bản thân cuộc thương lượng, đánh dấu bằng sự thất bại của cuộc đàm phán về vấn đề Triều – tiên ngày 15 tháng 6 năm 1954. Giai đoạn Triều – tiên của hội nghị Giơ – ne – vơ không bao giờ được các cường quốc coi như một cuộc gặp gỡ quốc tế có tầm quan trọng hàng đầu, khi rõ ràng là không một thoả thuận nào có thể đạt được từ hội nghị đó. Tuy nhiên chắc chắn đánh giá rất sai lầm, nhất là đối với Trung – quốc, nếu tách rời hoàn toàn các vấn đề Triều – tiên và Đông – dương. Việc nghiên cứu đơn thuần trình tự thời gian các sự kiện sẽ chỉ ra rằng sự thất bại của cuộc hội nghị về Triều tiên đã thay đổi đến mức nào thái độ của Chu Ân Lai. Vấn đề này, được đề cập ngay từ chương IV nói về việc khai mạc hội nghị, sẽ là kết luận lo-gích của chương IV, đồng thời của cả phần hai. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ nói đến các cuộc gặp diễn ra “song song” ngay từ đầu, giữa đoàn đại biểu Trung – quốc với những người phương Tây trong nhiều vấn đề chính trị và kinh tế (chương V). Nếu cuộc hội nghị Giơ – ne – vơ, theo con mắt phương Tây , còn đáp ứng với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất, thì đó cũng là cơ hội để Trung – quốc tiến hành nhiều cuộc thương lượng khác nhau, không trực tiếp ảnh hưởng đến Đông – dương nhưng lại có tầm quan trọng chủ yếu đối với việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Trung – quốc trong thời kỳ này.

Thái độ của Trung – quốc trong giai đoạn hai của hội nghị – giai đoạn bổ ích nhất – sẽ là đề tài chính của phần thứ ba. Đó sẽ là dịp đề cập chi tiết hơn vấn đề Lào và Cam-pu-chia. Trong đó, thủ tướng Trung- quốc đóng vai trò quyết định (chương VII). Cũng là dịp chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu đến toàn bộ chính sách Trung – quốc ở Nam Á và Đông Nam Á bằng cách theo dõi chuyến đi thăm của Chu Ân Lai ở Niu – Đê – li và Răng – gun (chương VIII). Cuối cùng, Chu Ân Lai trở lại Giơ – ne – vơ để tiến hành mười ngày thương lượng cuối cùng (chương IX); mười ngày thiết yếu để hiểu được những mục tiêu của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng này.

Đối với ba phần đầu của công trình này, chúng tôi đã đưa ra đề mục chung: “Tự khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế”. “Ngăn cấm Mỹ vào Đông –dương” và “áp đặt các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”. Sự lựa chọn của chúng tôi là do các đề tài chủ chốt trong mỗi phần: Vị trí của cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong hàng ngũ các “nước lớn” khi nói về hội nghị Béc – lin, vấn đề quốc tế hoá cuộc chiến tranh vào giờ phút khai mạc hội nghị Giơ – ne – vơ và vấn đề năm nguyên tắc, khi nói đến quan hệ giữa Trung – quốc, Lào và Cam –pu – chia, cũng như khi nói đến cuộc đi thăm của Chu Ân Lai ở Ấn Độ và Miến – điện. Như vậy, rất rõ ràng đó là ba tư tưởng chủ đạo của toàn bộ chính sách Trung – quốc năm 1954 vào bất cứ thời kỳ nào, bất cứ vấn đề gì và ở bất cứ vùng nào trên thế giới.

Cuối cùng, phần thứ tư dành cho kết luận và suy nghĩ có thể rút ra từ cuộc gặp gỡ ở Giơ – ne – vơ giữa Trung -quốc và các cường quốc phương Tây. Để làm việc đó, chúng tôi đi theo ba hướng: Nghiên cứu các điều đã thoả thuận cách thức Trung – quốc giải thích và tôn trọng (hiệp định) để đưa chúng ta đến xác định rõ bản chất của chính sách Trung – quốc ở Đông – dương (chương X). Rồi vượt khỏi khuôn khổ địa lý chật hẹp đó, chúng tôi thử lường các hậu quả của việc giải quyết cuộc khủng hoảng đó đối với “hình ảnh” và vị trí của Trung – quốc mới trên thế giới (chương XI)…Cuối cùng đi từ cái riêng nhất đến cái chung nhất, chúng tôi cố gắng nêu bật điều chủ yếu mà việc nghiên cứu kỹ lưỡng cuộc hội nghị này có thể đem lại là phân tích những phương hướng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Trung-quốc (chương XII).

Đăng trong Chiến tranh VN, Trung Quốc, Điểm sách | 1 Comment »

386. Kế hoạch Bí mật của Richard Nixon nhằm đem tới Hòa bình cho Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 05/12/2009

Wired Magazine

Vụ Hạt nhân tháng Mười:

Kế hoạch Bí mật của

Richard Nixon nhằm đem tới

Hòa bình cho Việt Nam

Bài của Jersmi Suri

Ngày 25-2-2008


Tuyệt mật

Các tài liệu dưới đây đưa ra bằng chứng bổ sung cho kế hoạch đã được ngấm ngầm chuẩn bị bởi Richard Nixon và Henry Kissinger nhằm chấm dứt cuộc chiến ở Việt Nam bằng cách nguỵ tạo một cuộc tấn công hạt nhân vào Liên Xô.

· Giác thư gửi Tổng thống
· Thư cho Colonel Haig
· Bản ghi nhớ về Tình huống Sẵn sàng Được gia tăng, tháng Mười-1969

Vào buổi sáng ngày 27-10-1969, một phi đội 18 chiếc B-52 – những phi cơ ném bom chiến lược loại 8 động cơ tua-bin và sải cách dài 185 feet [khoảng 60m] – bắt đầu phóng đi từ miền tây Hoa Kỳ trực chỉ biên giới phía đông Liên Xô. Các phi công phải bay liên tục 18 giờ đồng hồ không nghỉ, lao như điên về hướng các mục tiêu với tốc độ 500 dặm giờ. Mỗi phi cơ mang một lượng vũ khí hạt nhân lớn gấp hàng trăm lần những gì đã xóa sạch hai thành phố Hiroshima và Nagasaki.

Những chiếc B-52, được biết dưới biệt danh Pháo đài bay Chiến lược (Stratofortresses), chỉ giảm tốc độ một lần, dọc theo bờ biển Canada gần mũi cực bắc băng giá. Tại đây, những chiếc KC-135 – thuộc chủng loại 707 được mang đầy nhiên liệu – cẩn trọng tiếp cận các oanh tạc cơ. Chúng áp dần từng tí để nối kết các phi cơ với nhau, tiếp nhiên liệu qua đường ống dài và nhỏ. Chỉ một rủi ro do gió, hay lắc giật do thiếu kiểm soát, là một phi cơ chứa 150 tấn nhiên liệu có thể đâm sầm vào một chiếc khác mang đầy vũ khí hạt nhân.

Các phi cơ được chỉ dẫn nhắm hướng Moscow, song mục tiêu thực sự là làm thay đổi chiến tranh tại Việt Nam. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình một năm trước đó, Richard Nixon đã hứa hẹn sẽ chấm dứt cuộc xung đột này. Nhưng hơn 4500 người Mỹ đã chết tại đây trong sáu tháng đầu năm 1969, trong đó có 84 binh sĩ chết trong trận đại bại tại Đồi Thịt Băm. Trong khi đó, những cuộc hòa đàm tại Paris mà rất nhiều người mong đợi có thể giúp chấm dứt xung đột lại đã bị đổ vỡ. Người Việt Nam đã tuyên bố rằng họ sẽ chỉ ngồi ở đó, không chấp nhận một điều gì, “cho tới khi những cái ghế mục nát.” Nản chí, Nixon quyết định cố đưa ra cái gì đó mới mẻ: đe dọa Liên Xô về một cuộc tấn công hạt nhân và làm cho các nhà lãnh đạo nước này nghĩ rằng ông đang điên cuồng tới mức sẽ thực hiện lời đe doạ này. Hy vọng của ông là Liên Xô sẽ lo sợ về những khả năng mất kiểm soát đối với Hà Nội bằng sức mạnh, để rồi yêu cầu Bắc Việt Nam hoặc bắt đầu có những nhượng bộ tại bàn thương lượng hoặc sẽ gặp nguy cơ mất đi sự viện trợ quân sự của Liên Xô.

Oanh tạc cơ chiến lược Boeing B-52E-85-BO (số hiệu 56-0635) đang được Boeing KC-135A (số hiệu 57-1467)

tiếp nhiên liệu (hình ảnh: Không lực Hoa Kỳ)


Với mật danh Ngọn giáo Khổng lồ, kế hoạch của Nixon là cực điểm của một chiến lược điên rồ được dự tính mà ông đã triển khai cùng với cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger. Chi tiết của sự kiện này đã được giữ trong vòng bí mật suốt 35 năm và đã không bao giờ được nói ra toàn bộ. Giờ đây, nhờ việc những tài liệu đã được giải mật thông qua đạo Luật Tự do Thông tin, nó làm rõ rằng Ngọn giáo Khổng lồ là một ví dụ hàng đầu cho những gì đã đưa các sử gia đến việc nhắc tới cái “học thuyết thằng khùng”: ý niệm của Nixon đã ngụy tạo, như trò đặt tay lên cò súng là có thể làm cho Liên Xô hoảng sợ.

Nixon và Kissinger đưa kế hoạch vào thực hiện từ ngày 10 tháng 10, gửi tới Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược một nhiệm vụ khẩn cấp là phải chuẩn bị cho một cuộc đụng đầu có thể xảy ra: họ yêu cầu các vũ khí nhiệt hạch mạnh nhất trong kho vũ khí của Hoa Kỳ phải sẵn sàng cho tình huống cần sử dụng tức thì để chống lại Liên Xô. Nhiệm vụ bí mật tới mức ngay cả các quan chức quân sự cấp cao đang thực thi nó – gồm chính tướng chỉ huy lực lượng SAC– cũng không được biết mục đich thực sự của nó.

Hai tuần sau, các phi cơ đã được chuẩn bị và các toán công nhân tại căn cứ Không quân ở tiểu bang Washington và Nam California bắt đầu chuẩn bị cho trận đánh – họ nạp các vũ khí nặng nề và cồng kềnh trong một tâm trạng điên khùng. Những công nhân này lâu nay không được huấn luyện kỹ càng, và điều này có thể xảy ra một sự cố gây nổ. Trước đó không lâu cũng đã có vụ suýt trở thành thảm hoạ. Chỉ một năm trước thôi, một chiếc Pháo đài bay đã đâm sầm xuống Greenland và đã gây rò rỉ nguyên liệu phóng xạ.

Sau khi chúng được đưa vào hoạt động, những chiếc B-52 đã gây sức ép lên không phận Liên Xô trong ba ngày. Chúng lượn lờ quanh vùng lãnh thổ kẻ thù, thách thức hệ thống phòng thủ và chọc tức phi cơ Liên Xô. Các phi công luôn sẵn sàng, chuẩn bị bỏ bom khi có mệnh lệnh. Người Liên Xô có vẻ hiểu về mối đe dọa dường như đang thành hiện thực. Hệ thống rada của họ đã phát hiện các phi cơ từ sớm trên đường bay, và gián điệp của họ đã giám sát các căn cứ không quân của người Mỹ. Họ biết rằng các oanh tạc cơ đã được nạp vũ khí hạt nhân, do họ có thể xác định rõ sức nặng của các phi cơ này khi chúng cất cánh khỏi phi đạo và khi tiếp nhiên liệu. Trong những năm trước, Hoa Kỳ đã duy trì hoạt động thường xuyên của các phi cơ trang bị vũ khí hạt nhân trên bầu trời như là một giải pháp ngăn chặn khả dĩ chấp nhận được (nếu như người Liên Xô oanh kích tất cả các căn cứ quân sự của chúng ta trong một cuộc tấn công bất ngờ, thì chúng ta vẫn có thể đáp trả). Song vào năm 1968, Ngũ Giác Đài đã công khai cấm hoạt động đó – nên Liên Xô không thể cho rằng 18 phi cơ kia là một phần của hoạt động tuần tra như trước. Trợ lý bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird, người phản đối hoạt động này, đã lo ngại rằng những nhà lãnh đạo Sô Viết hoặc có thể hiểu chiến dịch Ngọn giáo Khổng lồ như là một hành động tấn công, là căn nguyên dẫn tới thảm hoạ, hoặc coi đó như một trò lừa gạt, sẽ làm cho Washington bị coi như kẻ yếu hèn. Trước đó Hoa Kỳ đã đi tới bờ vực của hiểm hoạ cuộc chiến hạt nhân: Trong cuộc Khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, các lực lượng hạt nhân quốc gia đã ở tư thế sẵn sàng chuẩn bị đáp trả những hành động của Liên Xô. Và trong một số lý do, phi cơ mang vũ khí hạt nhân đã bị rơi; những lần khác, các trạm rada đã nhận diện nhầm những đàn chim bay đi di trú thành ra một cuộc tấn công trước của Liên Xô. Tuy nhiên, vào tháng 10 năm 1969 thì khác. Đây là một khoảnh khắc duy nhất mà chúng ta hiểu về thời điểm một vị tổng thống đã quyết định tạo nên một ý nghĩa chiến lược nhằm giả vờ phát động cuộc Thế chiến thứ Ba.

Một oanh tạc cơ Pháo đài bay Boeing B-52 đang cất cánh. Ghi chú: các tên lửa Chó Săn AGM-28 được gắn

vào giá bên trong cánh phi cơ. Ảnh: Chính phủ Hoa Kỳ.


Cái tấn trò của Nixon điên khùng và Ngọn giáo Khổng lồ được đặt trên nền tảng của lý thuyết trò chơi, một phép toán trong môn toán học sử dụng những phép tính đơn giản cộng với lối suy luận chặt chẽ giúp cho việc hiểu được bằng cách nào mà người ta đã có được những lựa chọn – tựa như ta có lao bừa tới khi gặp đèn đỏ ở ngã tư không hay có đáp trả một hành động khiêu khích quân sự với một cuộc tấn công của kẻ nào đó hay không. Ví dụ nổi tiếng nhất là trong tình huống khó xử của một tù nhân [Prisoner’s Dilemma-một phép toán ma trận]: Nếu hai kẻ tình nghi tội phạm được giam trong hai buồng giam cách biệt, liệu họ có giữ im lặng hay sẽ phản bội nhau ? (Trả lời: Họ cần giữ im lặng, song tựa như những diễn viên có tính tư lợi, hành động mà họ sẽ thực hiện là phản bội lẫn nhau và cùng kéo nhau ra tòa.) Trong cuộc Chiến tranh Lạnh, “trò chơi” là những sự mô phỏng chiến tranh và trò mà cả thương lượng cực kỳ rắc rối. Liệu rằng chúng ta cứ giữ tên lửa ở đó hay ngược lại, rút bỏ đi, thì sẽ làm tăng thêm nhiều khả năng người Liên Xô sẽ tấn công Tây Âu ?

Kissinger đã nghiên cứu lý thuyết trò chơi khi còn là một giảng viên trẻ đồng thời là lý thuyết gia chiến lược tại Harvard. Vào đầu thập kỷ 1960, ông là thành viên trong một nhóm các cựu binh Đệ nhị Thế chiến, những người đã trở nên có uy tín hoặc phất lên “như diều gặp gió” trong kỷ nguyên hạt nhân. Làm việc tại những viện nghiên cứu mới được hình thành và các nhóm chuyên gia cố vấn, như RAND Corporation, họ thuyết giáo rằng cách thích hợp để giải quyết sự tồn tại của vũ khí hạt nhân không phải là chuyện ra tay một khi tình huống đã trở nên tồi tệ tới mức mà không ai còn có thể bàn bạc với nhau được về việc có nên sử dụng nó hay không; đó là khái niệm về phương cách sử dụng chúng sao cho hiệu quả nhất. Đây là quan điểm bị chế nhạo bởi Stanley Kubrik trong cuốn Dr. Strangelove, trong đó RAND được hé lộ chút ít dưới vỏ bọc mờ nhạt như là một trong những xuất phát điểm trong lý thuyết trò chơi Chiến tranh Lạnh là học thuyết “trả đũa ồ ạt” được đề xướng bởi Tổng thống Eisenhower: Washington chắc hẳn đã đáp trả một cách dữ dội trước mọi cuộc tấn công vào Hoa Kỳ hay các đồng minh của mình. Điều này, những ý kiến đã được đưa ra, chứng tỏ đã tạo nên nỗi sợ hãi đủ mức để ngăn sự xâm lăng của kẻ thù. Nhưng Kissinger tin rằng chính sách này có thể sẽ khích lệ kẻ thù của chúng ta và hạn chế sức mạnh của chúng ta. Liệu Hoa Kỳ có thực sự tấn công hạt nhân Moscow nếu như người Liên Xô tài trợ cho những phiến quân cộng sản ở Angola hay tiếp quản một khu vực nào đó ở Iran ? Tất nhiên là không. Cũng tựa một kết quả, các kẻ thù sẽ khởi sự một “chiến thuật xúc xích Ý,” bóc tách ra từng lợi ích một của người Mỹ, tin chắc rằng Hoa Kỳ sẽ không đáp trả.

Tòa Bạch Ốc cần một phạm vi rộng lớn hơn những lựa chọn quân sự. Nhiều khả năng chọn lựa hơn, như các ý kiến đã được đưa ra, có thể cho phép chúng ta tránh được một số xung đột từ việc nổ ra, giành được thế đòn bẩy trong mặc cả với kẻ khác, cho tới tạm dừng trò leo thang của đối phương. Tính hợp lý của lý thuyết-trò chơi chính là sự kiến tạo nên điều đã trở thành luận thuyết “đáp trả linh hoạt” của những thập kỷ ’60 và ’70: Wasshington sẽ phải đáp trả những mối đe doạ nhỏ theo những chừng mực nhỏ và đe doạ lớn bằng biện pháp có quy mô lớn.

Lý thuyết thằng khùng là một sự mở rộng của luận thuyết đó. Nếu như bạn sẽ tin cậy vào cái tác dụng đòn bẩy thì ắt nhận được điều mà từ đó bạn có khả năng đáp trả bằng những phương cách mềm dẻo khác nhau – từ những vụ ám hại trong đêm tối lặng lẽ cho tới những đòn trả đũa hạt nhân – bạn cần thuyết phục các đối thủ của mình rằng ngay cả một chọn lựa cực đoan nhất cũng sẽ trở thành hiện thực một khi nó được đặt lên bàn. Và phương cách để thực hiện điều đó là làm sao cho chúng nghĩ rằng bạn là một kẻ điên rồ.

Boeing B-52D nhìn từ phía trước trong khi đang bay. Photo: US Air Force

Hãy nghĩ về một trò chơi mà lý thuyết gia Thomas Schelling đã miêu tả cho các học sinh của ông ở Harvard vào những năm 1960: Các bạn đang đứng bên bờ vực thẳm, bị xích cổ chân vào nhau. Chẳng mấy chốc một trong số các bạn sẽ gào lên kêu cha khóc mẹ, rồi tất cả các bạn sẽ được giải thoát, nhưng người nào mà giữ được im lặng thì sẽ được một giải thưởng lớn. Bạn sẽ làm gì ? Bạn không thể đẩy một người khác ra khỏi cái miệng vực đó, bởi vì bạn cũng sẽ chết. Nhưng bạn có thể nhảy nhót và bước gần tới miệng vực. Nếu như bạn sẵn sàng chứng tỏ rằng mình cóc sợ những thứ mạo hiểm đó, đối tác của bạn có thể sẽ đồng tình – và bạn sẽ giành được giải thưởng. Nhưng nếu bạn thuyết phục đối thủ của mình rằng bạn đang rất điên cuồng và có khả năng sẽ phóng đi ngay bất cứ khi nào theo bất cứ một hướng nào đó, hắn sẽ kêu cha khóc mẹ ngay tức thì. Nếu như Hoa Kỳ đã tỏ ra liều tĩnh, nổi nóng, thậm chí như mất trí, đối phương có thể sẽ chấp nhận đi vào mà cả rằng họ sẽ phải từ bỏ những điều kiện ở dưới mức bình thường. Trong trường hợp lý thuyết trò chơi, một trạng thái thăng bằng mới có thể sẽ nổi lên khi những nhà lãnh đạo ở Moscow, Hà Nội, và Havana suy tính về mức độ ghê gớm có thể xảy ra nếu như họ kích động tình trạng thiếu kiểm soát nơi tổng thống của chúng ta dẫn tới một cuộc thử nghiệm những vũ khí kinh khủng tùy theo sự lựa chọn của ông.

Bom nhiệt hạch B61 tại Căn cứ Không quân Hill. Photo: US Air Force

Những chuyến bay B-52 được trang bị vũ khí hạt nhân gần lãnh thổ Liên Xô có vẻ như là một ứng dụng trực tiếp cho loại lý thuyết trò chơi này. H.R. Halderman, đứng đầu ban trợ tá của Nixon, đã viết trong cuốn nhật trình của ông rằng Kissinger đã tin là dấu hiệu có vẻ như mất lý trí của Hoa Kỳ có thể sẽ “gây chấn động đối với Liên Xô và Bắc Việt Nam”. Nixon đã khuyến khích Kissinger mở rộng cách tiếp cận này. “Nếu vấn đề Việt Nam nổi lên” trong các cuộc đàm luận với Moscow, Nixon khuyên, Kissinger phải “lắc đầu và nói, ‘Tôi rất tiếc, thưa Ngài Đại sứ, nhưng [tổng thống] đã không còn kiềm chế được nữa’.” Nixon đã nói với Haldeman: ”Tôi muốn Bắc Việt Nam tin rằng tôi đã đạt được tới một điểm để tôi có thể làm được mọi điều nhằm chấm dứt chiến tranh. Chúng ta sẽ chỉ nhả ra những lời lẽ với họ rằng vì Chúa, các vị hiểu là Nixon bị ám ảnh về chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi không thể kiềm chế ông ấy khi ông ấy nổi điên – và ông ta có quyền bấm nút hạt nhân – và rồi đích thân Hồ Chí Minh sẽ phải có mặt ở Paris trong vòng hai ngày để cầu xin hòa bình.”

Dobrynin cảnh báo các nhà lãnh đạo Sô Viết rằng “Nixon không thể tự kiềm chế được mình ngay cả trong một cuộc chuyện trò với một vị đại sứ nước ngoài.” Ông còn bình luận cả về “tính đa cảm đang ngày càng tăng lên” và “khó giữ thăng bằng” của tổng thống.

Điều này chính xác là đã gây cái ấn tượng rằng Nixon và Kissinger đã cố gắng tu luyện xảo thuật. Sau cuộc họp, Kissinger rất khoái chí với thành công của họ. Ông viết cho tổng thống: “Tôi nghi ngờ cái nhiệm vụ căn bản của Dobrynin là kiểm chứng tính chất nghiêm trọng của lời đe doạ.” Nixon đã, theo Kissinger, “đóng vai rất lạnh lùng với Dobrynin, đáp trả mỗi khi ông ta văng ra mấy lời.” Kissinger đã khuyên Tòa Bạch Ốc “tiếp tục khuyến khích những lời đe doạ cùng với các động thái quân sự hiện thời của chúng ta.”

Các thành viên đội bay B-52. Photo: US Air Force


Ngày 30 tháng 10, Nixon và Kissinger đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch Ngọn giáo Khổng lồ, và những chiếc B-52 quay đầu hướng về căn cứ. Sự kết thúc bất lình lình đã củng cố thêm cho cái bộ dạng kẻ khùng. Nixon và Kissinger có thể đã cố gắng để cho người Sô Viết thấy là họ có thể khởi sự những hành động đe dọa mà không cần cảnh báo và rồi khôi phục các hoạt động trở lại “bình thường” theo những cách không thể đoán trước được tương tự vậy. Điều này cũng làm cho Kremlin phải dò đoán xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, ngạc nhiên không hiểu liệu Hoa Kỳ có sớm lôi cả hai nước ra khỏi bờ vực thẳm hay không.

Trên một giác độ hiển nhiên nhất, nhiệm vụ này đã thất bại. Nó có thể đã làm cho ban lãnh đạo Sô Viết lo sợ, nhưng nó lại không thúc ép họ chấm dứt những trợ giúp cho Hà Nội, và Bắc Việt Nam dĩ nhiên đã không nhào tới Paris để cầu xin hòa bình. Nixon và Kissinger đã tin tưởng, dường như, rằng những đe doạ của họ đã mở ra cái cánh cửa cho thỏa thuận kiểm soát vũ trang vào đầu những năm 1970. Theo luận cứ này, những nhà lãnh đạo Moscow đã thừa nhận sau tháng 10 năm 1969 rằng họ đã tích cực hơn trong đàm phán với Washington, trên những điều kiện chiều theo các lợi ích của người Mỹ.

Hơn 35 năm sau kế hoạch Ngọn giáo Khổng lồ, tôi đã hỏi Kissinger về nó trong một bữa trưa tại Four Seasons Grill ở New York. Tại sao, tôi hỏi, họ lại dám liều hậu thuẫn một cuộc chiến hạt nhân vào tháng Mười năm 1969 ? Ông ta ngừng ngay khi đang nhai dở miếng salad, tỏ ra ngạc nhiên rằng tôi đã biết quá nhiều về giai đoạn này, và rồi ông thận trọng từng từ một. “Có cái gì đó phải được thực hiện,” ông giải thích, nhằm duy trì những mối đe doạ mà Hoa Kỳ đã thực hiện và gây áp lực lên việc người Số Viết đã giúp đỡ Việt Nam. Kissinger đã đề nghị một số phương án sử dụng vũ khí hạt nhân để cho tổng thống có được nhiều lực đòn bẩy cho các cuộc thương thuyết. Đó là một lối phát âm của lý thuyết trò chơi mà ông ta đã học được trước khi đi tới được quyền lực. “[Người Liên Xô] sẽ làm cái gì ?” Kissinger hỏi lại một cách cục cằn.

Nhưng nếu như mọi việc trở thành một điều khủng khiếp thì sao – nếu như người Liên Xô phản ứng quá dữ dội, nếu một chiếc B-52 bị rơi, nếu một trong những đầu đạn hạt nhân được lắp đặt vội vàng gây kích nổ ? Kissinger tỏ ra ngập ngừng. Phủ nhận rằng đã từng có một lý thuyết gã khùng trong hành binh, ông nhấn mạnh rằng Ngọn giáo Khổng lồ được tính toán cho một cảnh báo, không phải là một trò khiêu khích gây chiến. Sự vận hành đã được toan tính một cách an toàn. Và trong mọi tình huống, ông ta nói, sự quyết đoán là điều thiết yếu cho việc đề ra chính sách.


Jeremi Suri (suri@wisc.edu), là giáo sư sử học của Trường Đại học Wisconsin, tác giả cuốn Henry Kissinger và Kỷ nguyên Mỹ.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


Trong buồng lái của chiếc Boeing B-52D(số hiệu 56-0665), hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia
Không lực Hoa Kỳ.Ảnh: US Air Force
Boeing B-52F-65-BW (số hiệu 57-0139) tại Căn cứ Không quân Andersen, Guam. Ảnh: US Air Force

Ngày 7-6-1969: các lãnh đạo Liên Xô, Leonid Brezhnev, Alexei Kosygin, và Nikolai Podgorny. Photos: Bettmann/CORBIS

Không ghi ngày tháng: Tổng thống Nixon và Kissinger hội kiến trên chiếc Air Force One
trên đường tới Brussels, Bỉ, ngày 26 tháng 6, và tới các cuộc hội đàm với NATO. Sau những cuộc hội kiến tại Brussels, Nixon trực chỉ Moscow và họp thượng đỉnh với lãnh đạo Sô Viết Leonid Brezhnev. Ảnh: Bettmann/CORBIS

Ngày 26-12-1973: đại sứ Liên Xô tại Hoa Kỳ Anatoly Dobrynin
(bên phải) gặp Tổng thống Richard Nixon tại Phòng Bầu Dục ở Washington, DC. Ảnh: AP Photo

Đăng trong Chiến tranh VN | Leave a Comment »