BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Đảng/Nhà nước’ Category

586. Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Đăng bởi anhbasam on 22/07/2010

Đôi lời Bài viết này không phải chỉ liên quan tới người Việt hải ngoại, mà còn là một bản đánh giá ngắn gọn, chính xác về hệ thống chính trị Việt  Nam hiện thời, trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, … bữa trước đã điểm nhưng trong mục phản hồi/comment, nay BS xin đăng toàn văn vì e nhiều người chưa đọc; cũng là góp thêm chút cho không khí sôi động của những sự kiện quan trọng đang diễn ra mấy bữa nay tại Hà Nội liên quan tới an ninh trên Biển Đông.

Tác giả bài viết, GS Lê Xuân Khoa từng là phó viện trưởng kiêm giáo sư Trường Đại học Văn khoa, Sài Gòn; sau 1975 là giáo sư tại Đại học Johns Hopkins, rồi  Maryland, Hoa Kỳ. Ông là tác giả của nhiều sách, bài viết về Việt  Nam, trong đó có bài “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?trên trang BBC, từng gây nhiều tranh cãi, chủ yếu từ … “hai phía” của cuộc chia rẽ quá dài lâu: cộng sản và không cộng sản. Ông cũng từng về nước nhiều lần, trực tiếp gặp, đóng góp nhiều ý kiến với các nhà lãnh đạo Việt Nam, trong đó có cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Hy vọng bài viết này tới được tay nhiều vị lãnh đạo đảng, nhà nước Việt Nam, được các vị đọc, suy ngẫm một cách bình tĩnh, cầu thị, may ra bớt được chút nào đó mối “hiểm họa Trung Quốc”.


Trước hiểm hoạ Trung Quốc:

Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Lê Xuân Khoa

Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[1], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.

Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc  dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.

Ba tiền đề

Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).

1.  Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thế sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát Thái Bình Dương, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ[2]. Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc… mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[3] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.

Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng Trung Quốc lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa[4]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của Trung Quốc về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương[5]. Ngay tại Trung Quốc, đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc, vừa xuất bản cuốn Trung Quốc mộng, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ Trung Quốc không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “Trung Quốc phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[6] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.

2.  Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam.

Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trụng Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.

3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.  Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[7]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung tâm SEARAC do tôi làm chủ tịch và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[8]

Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài Đảng Cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.

Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.

Kế hoạch cụ thể và toàn diện

Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:

1.  Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước

a. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu vùng xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính Việt Nam của Trung Quốc bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo Việt Nam đối với Trung Quốc. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho Trung Quốc. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với Trung Quốc.

b. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.

c. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.

d. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.

e. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.

2.  Quan hệ với chính quyền Việt Nam

Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với Trung Quốc để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.

Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.

Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank”  này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên cứu Phát triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội đồng Quản trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.” *

Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.

3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế

Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt  trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [9]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [10].

Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường đại học và các chuyên gia về Trung Quốc. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của Trung Quốc tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.

Kết luận

Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[11] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.

Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đối diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[12] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.

© 2010 Lê Xuân Khoa

© 2010 talawas


[1]Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.

[2]Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.

[3] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.

[4] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.

[5]John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.

[6]Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, Tuần Việt Nam, 15/03/2010

[7]Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa”, Đặc san Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý,  Paris, France (2008).

[8]Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như  những cuộc vận động của SEARAC (Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thời, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư viện Quốc hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.

[9]Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay, ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.

[10] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)

[11]Xem Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010, trong Phụ lục: “Việt Nam làm gì sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.

[12]Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời cơ vàng của Đảng ta” trên VietNamNet năm 2009.

—–

* Ba Sàm chú thích: mời xem 297. Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

—–

30 ý kiến phản hồi trên trang talawas:

Trang 1:

  1. Hoàng Trường Sa nói:

    Kính mời quý vị xem thêm bài dưới đây để suy ngẫm về sự đúng sai của tiền đề “ĐCSVN chống TQ bành trướng”: Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung “chỉ đạo” những gì? (Phần 1 & Phần 2)

  2. Thanh Nguyễn nói:

    @Lê Thượng: Lịch sử đã dạy bài học đắt giá. Tôi dư sức biết chuyện đó. Tuy nhiên, kết quả bài toán sau đây có đúng không? Nhờ mọi người giải giùm và cho đáp số để so sánh: Đảng CSVN = Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu X 10(lần)

  3. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Nam Phan viết: “Tôi cũng không có can đảm lấy ‘cuốn sách ngàn trang’ của một ông tướng ra để xưng tụng là ‘tài liệu lịch sử’”. Câu này ông Nam Phan muốn nói tôi sử dụng quyển “Việt Nam Máu lửa quê hương tôi” là hồi ký (chính trị như tên sách gọi) dài hơn ngàn trang của ông Đỗ Mậu (là đại tá lúc đảo chính 1963, và thiếu tướng khi giải ngũ) làm tài liệu lịch sử. Nhưng thế nào là “tài liệu lịch sử”? Tôi hiểu là những sự việc liên quan đến biến cố lịch sử được ghi nhớ, truyền tụng, và sau được ghi chép lại thành sách. Ở Việt Nam do tình trạng thiếu thông tin, hay tin tức bị cố ý che giấu, nên thường rất lâu sau khi biến cố xảy ra, nhiều sự việc mới được ghi xuống và do đó thường bị mất mát hay thêm thắt ít nhiều. Chưa kể chuyện kể không do nhân chứng trực tiếp và “tam sao thất bổn”. Nhưng đó chỉ mới là tài liệu thuộc lịch sử, và còn phải đối chiếu với nhiều nguồn “sử liệu” khác nhau mới có được một sự kiện lịch sử xác thực. Nhưng không có quyển sử nào, dù được nhiều người coi trọng, ví dụ như “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, chứa đựng những sự kiện lịch sử xác thực, hoàn toàn đáng tin. Thí dụ, trong VNSL có một phần ghi chép chuyện kể theo truyền thuyết, theo sử Trung Quốc (mà sử gia ở rất xa nước ta, và nhìn VN với nhãn quan của người Hán thống trị), theo sử quan của các triều vua VN (vừa thiếu sót, vừa thiên lệch như khi sử gia triều Nguyễn chép về Tây Sơn). Vậy khi cần bàn đôi điều về tình hình chính trị và quân sự ở miền Nam trước 1975, tôi dựa vào “tài liệu lịch sử ” nào? Trước hết là hồi ký của các ông Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, là những người quen biết với cá nhân và gia đình ông Diệm từ trước 1954, đã cộng tác và đưa ông Diệm lên cầm quyền, phục vụ (trung thành) dưới chế độ ông Diệm, và làm đảo chính lật đổ ông Diệm năm 1963. Kế đến là quyền “Việt Nam 1945-1975″ tập 1 của giáo sư Lê Xuân Khoa, mới in gần đây, mà cá nhân tôi cho là đáng tin cậy, nhờ dựa vào nhiều nguồn tài liệu Mỹ và Việt ở cả hai miền. Phụ thêm là vài sách tiếng Anh và sách dịch, sách của Nguyễn Kỳ Phong (Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam), Nguyễn Đức Phương (Chiến tranh Việt Nam toàn tập), cả của Lữ Giang…, và các trang mạng tôi đọc được. Nhiều góp ý tôi dẫn từ các nguồn đó. Nhân đây, sách của Lữ Giang có nhiều tài liệu về dòng họ Ngô Đình Diệm, mang tính lịch sử, nhưng chưa phải là những sự kiện hay chứng cớ lịch sử chân thực, và nhiều sự việc, nhận định trong đó theo tôi còn cần đối chiếu, phối kiểm. Mấy cuốn sách tôi kể trên chỉ là của một người đọc sử bình thường, nếu không là thiếu sót nhiều, nhưng có lần ông Nam Phan hay ai đó khi nói về vài dẫn chứng chuyện cũ tôi chỉ chép lại, gọi là của “sử gia” (đặt trong ngoặc kép); tất nhiên kiểu nói đó không có chút tác động nào đối với tôi. Nhưng đáng ra, khi ai thấy điều gì tôi chép lại trong sách mà không đúng, nên dẫn tài liệu lịch sử ở nguốn khác cho là chính xác hơn. Về chuyện “tiến sĩ triết gia”, tôi không hề nghĩ đó là nói về tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm. Tôi chưa nghe nói, ở đây hay trên trang mạng nào, ông Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, chỉ thấy quảng cáo văn phòng luật sư ghi ông có các bằng MS, MPA, JD.

  4. Nam Phan nói:

    Thưa ông Hoà Nguyễn, Tôi coi câu nói “văn là người” là cách đánh giá những người dùng văn tự để nói lên tư tưởng cuả mình, tuy cũ nhưng vẫn là một tiêu chuẩn đáng tin cậy. Tôi dùng chữ “tiến sĩ triết gia” để chỉ ông Nguyễn Hữu Liêm, căn cứ vào ít nhất những bài viết cuả ông ta được đăng trên diễn đàn này (xin ông có dịp thì xem lại cả những bài viết lẫn những ý kiến cuả độc giả để thêm nhận định) chứ không phải căn cứ vào việc ông ta học triết, dậy triết để rồi gán cho ông ấy một danh hiệu có tính cách mỉa mai. Tôi cũng không có can đảm lấy “cuốn sách ngàn trang” của một ông tướng ra để xưng tụng là “tài liệu lịch sử”, cho nên nếu có được coi là không biết phê bình hay không đủ trình độ phê bình bản văn mà chỉ nhắm vào đả kích nhân thân người viết thì tôi cũng vui lòng nhận phần dốt về mình. Có cần phải tiếp tục luận bàn với những bài viết thuộc dạng “tiến sĩ triết gia” đã viết hay không, hay chỉ huýt gió một cái? Tôi xin làm tiếng ồn cuả tiếng huýt gió trong hội trường, không được ai quan tâm, chỉ cần ông Hoà Nguyễn để mắt tới bằng cách nói gần nói xa (nhưng không trực tiếp nêu tên, họ), là cũng cảm thấy vinh dự rồi. Tuy vậy xin được coi đây là lần cuối. Trân trọng,

  5. Nam Phan nói:

    Tôi chỉ muốn đặt câu hỏi với GS Lê Xuân Khoa và những vị đồng tình với GS: “Đại đa số đảng viên CS, cả chuyên chính lẫn ‘giả cầy’, đặc biệt là những người cầm quyền ở VN từ cấp nhỏ đến cấp cao nhất có chung quan điểm với người Việt hải ngoại khi cho rằng Trung Quốc là hiểm hoạ trước mắt của VN không?” Nếu có thì căn cứ vào đâu? Đường lối, chính sách của VN phản ánh mối quan ngại này? Nếu câu trả lời là có và với những chứng cứ, chúng ta sẽ bàn tiếp và nỗ lực tìm kiếm giải pháp. Nếu không – và căn cứ vào những lời tuyên bố, những giao hảo (qua lại) cuả các cấp lãnh đạo cuả họ (TQ và VN), những “học tập kinh nghiệm lẫn nhau”, những “lợi ích chung” cùng chia sẻ – thì chúng ta nên tiếp tục giải pháp duy nhất dù rằng cũ và có vẻ bất khả là giải trừ chúng. Tôi đứng ngoài hàng ngũ của GS, nếu câu trả lời là không.

  6. Lê Thượng nói:

    “ý quèn” của Thanh Nguyễn: “Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước.” Để Tàu chiếm nước thì đến bao giờ mới lấy lại được? Muốn như Tây Tạng hay dân vùng Tân Cương? Nếu lấy lại được cũng phải mất đi 100 năm hay 1000 ngàn năm không chừng. “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu. Một trăm năm nô lệ giặc Tây”. Lịch sử đã dạy cho ta bài học đắt giá ấy.

  7. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Hoàng Trường Sa viết :”ông (LXK) thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ) “. Cho như thế là không đọc hiểu các bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, bài chủ này và cả bài ông HTS mới giới thiệu tại: http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=28bfc08fa0b70eda8757e174ba28bfec Cũng còn là một quan niệm chống Cộng cứng nhắc,lỗi thời, với cách nói sáo cũ thành khẩu hiệu, không đúng với thực tế đã đổi thay. Nhưng cũng lạ hiện nay ít thấy tại Mỹ. Người Việt ở Mỹ có nhiều lý do để oán hận chính quyền CS trong nước: một số đông di tản hối hả trước 30-5-1975 đã bỏ lại tất cả, các đợt thuyền nhân tiếp theo phần đông định cư tại Hoa kỳ, và sau cùng là những người tù cải tạo và gia đình họ đến Mỹ theo diện H.O. Dễ hiểu đa số họ chống Cộng, nhưng dường như người ở Úc như ông HTS, hoặc ở Canada như ông Lê Quốc Trinh còn chống Cộng mạnh hơn nhiều người ở Mỹ, và vì vậy có lần tôi dùng từ (CC) “quyết liệt” khi nói với ông LQT. Có lẽ chuyện chống Cộng cho tới người Cộng sản cuối cùng, hay tới người chống Cộng cuối cùng, sẽ không xảy ra trên đất Mỷ vì nay người Mỹ gốc Việt có óc thực dụng hơn. Tuy nhiên, đúng là quan điểm về VN của GS Lê Xuân Khoa đã được định hướng từ lâu, tôi lấy mốc năm 2000 khi ông trong phái đoàn của TT Clinton qua thăm VN để bắt đầu một quan hệ mới giữa hai nước cho là từ bỏ đối đầu mà dành cho đối thoại, đối tác( bản tin hôm nay, Mỹ hiện đầu tư nhiều nhất ở VN). Một điều buồn cười: lúc đó TBT Lê Khả Phiêu thân TQ vẫn tố Mỹ là “đế quốc”. Kể từ đó, khuynh hướng “chống Cộng” ở Mỹ cũng dần dần thay đối, ít ra trong giới (tạm gọi) trí thức, cùng với sự thay đổi nhanh hơn của chính quyền Mỹ đối với VN. Ít còn thấy những cách nói quyết liệt, chỉ một chiều, chỉ viện dẫn những chuyện xưa cũ, và thay vào đó là những thông tin trung thực, với các sự kiện đang diễn ra trong cuộc sống, và chú trọng đến những điều Mỹ và cộng đồng thế giới quan tâm nhất như về nhân quyền, tự do, dân chủ. Dù sao, giữa người Việt ít ra cũng phải tạm quên bớt hận thù, hay làm ra vẻ như thế, mới có thể tiếp xúc và nói chuyện được với nhau, và người Việt ở Mỹ cũng không thể làm gì trái ngược với chính sách chung của Mỹ, mà phải biết khôn khéo tận dụng các chính sách mới của Mỹ về VN. Trong bài viết năm 2004 dẫn trên, giáo sư Lê Xuân Khoa kêu gọi người VN cả hai bên cùng hành động, cùng thay đổi vì nếu chỉ xảy ra cho một bên thì sẽ không thực hiện được gì, và ông đã dùng cách nói nhẹ nhàng để Hà Nội có thể nghe: “ Khi xúc tiến việc thiết lập và thực hiện lộ trình dân chủ hóa cho Việt Nam, chính quyền sẽ đương nhiên gia tăng được uy tín của mình trong vai trò phối trí mọi sự đóng góp của các thành phần dân tộc “. Ông viết thêm trong bài chủ này: Về phía cộng đồng hải ngoại, vì quyền lợi chung của đất nước và dân tộc, cũng cần có quyết tâm bỏ qua những niềm thù hận trong quá khứ để góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phú cường trong cộng đồng quốc tế… Chỉ trong thời gian gần đây, khi những cuộc tranh đấu và vận động được tập trung vào vấn đề cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam thì mới thấy có sự hỗ trợ, dù còn giới hạn, của chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ, của Liên Hiệp Châu Âu và các tổ chức quốc tế vì tính chất chính đáng của vấn đề . Về con người thật của giáo sư Lê Xuân Khoa, mỗi người có thể biết được khi đọc ít nhiều về ông và khi có cơ hội tiếp xúc ông. Tôi không thể làm gì khác. Nhưng viết như sau là xúc phạm do thiếu hiểu biết và dễ dãi ngôn từ:” bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm“. Trong cuốn “Nếu đi hết biển”, tác giả Trần Văn Thủy hỏi Nguyễn Thị Hoàng Bắc:” Theo tôi hiểu, chị không muốn hoà nhập vào các tổ chức “cộng đồng ?“. NTHB trả lời:” Tôi không tham gia tổ chức cộng đồng nào. Các con tôi lại càng không tham gia“. (sách trang 90). HB không nói rõ lý do tại sao gia đình bà không tham gia sinh hoạt cộng đồng tại địa phương thuộc Virginia, nhưng ở đoạn khác trước đó, HB kể nhiều điều xấu về các tổ chức chính trị “ mọc lên như nấm” của người Việt tại California. Nhưng sinh hoạt của cộng đồng người Việt, và các tổ chức chính trị hoàn toàn không liên hệ gì với nhau, và khi tình nguyện sinh hoạt trong một cộng đồng, không nhất thiết phải tham gia tổ chức chính trị chống nhà nước VN. Điều này là sự thật hiển nhiên. Nhưng HB cố tình nhập nhằng hai thứ để bôi đen hình ảnh CĐ NVHN trước mắt Trần Văn Thủy, từ trong nước ra điều nghiên đời sống người Việt tại Mỹ. Vì vậy, trong chuyện này khi cho NTHB là “đồng chí” dù với ai cũng lại là cách nhập nhằng để bôi nhọ.

  8. Thanh Nguyễn nói:

    Một “ý quèn” của tôi như thế này: Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước. Thân thể Việt Nam có thể bị thương, nhưng những vết thương đó sẽ được rửa sạch, sẽ lành, sẽ liền da để có một Việt Nam tươi mới và hoàn toàn khác.

  9. Hoàng Linh Vương nói:

    Bài viết này của giáo sư Lê Xuân Khoa thể hiện một lý thuyết rất lý tưởng và chỉ là giả định (nói cho có chuyện mà nói thôi) như lời giáo sư trong phần kết: “Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là…”. “Giả định” này cũng vẫn đang còn là “giả định” thật. Thực tế thì cái “rốn của vũ trụ” là ông Nhà nước VN, cũng lại là “cái đầu gối” mà người đời đang nói chuyện. Thêm nữa: hình như người đời cũng chưa mở lòng được với nhau. Thế là ta “bờ i bi sắc bí” là cái chắc! Hay là không khéo rồi cả nước lại bị bịt mắt bắt làm con tin thì bỏ mẹ thật đấy chứ không phải đùa đâu!

  10. Nguyễn Đăng Thường nói:

    Anh hùng đánh Mỹ đánh Tây Tây chạy Mỹ rút vác cầy đánh ai? Đánh Khựa sẽ bị bộp tai Thôi thì đánh đĩ đánh bài cho vui!

  11. Hoàng Trường Sa nói:

    Quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa trong bài chủ này thật ra cũng không lạ đối với tôi, một người đã đọc nhiều bài của ông trước đây, như bài này ông viết đã 6 năm trước (vào ngày 09-02- 2004): Để tiến tới quan hệ bình thường giữa người Việt hải ngoại và Việt Nam (Lê Xuân Khoa) Những suy nghĩ của ông như được bộc lộ trong các bài viết của mình đã đưa nhiều người (trong đó có tôi) đến nhận định rằng ông thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ). Cá nhân tôi hoàn toàn KHÔNG ĐỒNG Ý với quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa, dù tôi chia sẻ nhiều quan điểm của bác Hòa Nguyễn, một người học trò cũ của ông, nhưng dĩ nhiên là có tư tưởng độc lập của mình, dù vẫn không quên tình nghĩa cũ và luôn quý mến thầy cũ. Tôi thấy cũng không mấy ngạc nhiên khi bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm, người mà cộng đồng người Việt hải ngoại thường châm biếm bằng mấy chữ không đẹp như “luật sư còi hụ”. Dù không đồng ý với Giáo sư Khoa, tôi cũng thấy rõ ràng là ông ở vào tầm cao hơn nhiều trong những người thuộc nhóm gọi là Việt kiều “yêu nước”.

  12. Lề Trái nói:

    Lấy lại câu chuyện An Dương Vương chạy ra biển với Mỵ Châu đang rứt lông ngỗng để quân Triệu Đà-Trọng Thủy đuổi theo, chỉ đến khi thần Kim Quy nói giặc chính ở sau lưng, An Dương Vương mới nhận diện được kẻ thù. Việt Nam bây giờ khác, hầu như ai cũng nhìn ra giặc ở đâu, nhưng vì những lý do rất quái đản, họ “không muốn” tin giặc là giặc. Cái giả định mấp mé giả tưởng của bài này cho ta thấy rõ cái quái gở trong cách suy nghĩ mặc dù chả cần thần Kim Quy, người ta đều biết rõ ai “bán” (thời buổi kinh tế thị trường) nỏ thần cho ngoại bang. Nhưng không, thay vì nhận diện rõ hạng bán nước, họ đổ vấy đổ vá cho tất cả những cái khác ngoại trừ chính họ. Chỉ tội cho những kẻ không thức thời vì đã nhìn và chỉ ra nguyên nhân tối hậu dẫn đến hiểm họa sờ sờ trước mắt. Tôi muốn hỏi lại bao giờ dân tộc mới chịu nhận chân bọn giặc thật sự, hay phải chờ tới bước đường cùng? Trả lời được câu hỏi đó tự khắc sẽ biết được những giải pháp cho tình trạng hiện nay. Nếu vẫn còn tránh né câu hỏi thì mọi giải pháp chỉ là con kiến bò cành cụt. Hiểm họa này nó không tới bất chợt, mà là một “diễn biến” qua một thời gian khá dài. Hiện trạng hôm nay chỉ vì cái kim đã lớn bằng con voi nên hầu như ai cũng thấy. Tức là nó có mục đích, động thái, quá trình phát triển, các bên tham dự với những buổi đàm phán thấm đẫm tinh thần “16 chữ vàng”. Và tôi lại phải hỏi, bộ chưa đủ hay sao?

  13. Hoà Nguyễn nói:

    Các kiểu phê bình chỉ nhắm vào cá nhân, không nói gì tới văn bản, xin đề nghị nên tránh trên diễn đàn này (lý do vì tôi tôn trọng diễn đàn, và đây chỉ là một đề nghị suông). Khi gọi một người làm luận án tiến sĩ triết và sau đó dạy triết là “tiến sĩ triết gia” như một cách đánh giá bài viết, thì hết sức vô nghĩa, kỳ cục, và ai nghe vậy mà cười theo, tán đống thì cũng lạ. Kể cả khi đánh giá thấp, quá thấp ngườì khác, mà không chứng tỏ đọc hết bài và hiểu đúng ý người viết. Đó là hai kiểu phê bình không phải là phê bình, hay vì không thể phê bình được, nên chỉ bày tỏ một thái độ phản đối, mà không liên hệ gì tới nội dung bài viết. Chỉ như tiếng huýt sáo nghe ở hội trường, tuy ồn nhưng không được quan tâm. Tôi tiếp tục góp ý với vài phản hồi tôi đọc cẩn thận. Ông Hoàng Trường Sa (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa):” Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng ” , và ông nhận định chỗ này :” mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua “. Ông HTS viết tiếp :” Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946)“. Chắc chắn ngày nay bên phía không cộng sản không ai còn “ngây thơ” sau nhiều bài học lịch sử như ông Hoàng Trường lo ngại. Ngay cuối câu viết trên của GS LXK cũng cho thấy một thái độ dè dặt cần thiết, vì tiên đoàn sẽ có hai tình huống khác nhau: sau hợp tác (nếu có) sẽ có thể hoà giải hay tiếp tục đối kháng. Trong bài viết năm 2001, GS Lê Xuân Khoa cho biết CSVN đã từng đưa ra các luận điệu hay chiêu bài hòa giải hoà hợp trong bốn trường hợp khác nhau, vào năm 1945 như đã biết (lúc đó phe “quốc gia” ở thế yếu nên phải chấp nhận và sau chừng một năm tự hủy bỏ), năm 1968 với chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam (có các ông Trịnh Đình Thảo), năm 1973 với đề nghị chính phủ hoà giải dân tộc, và miền Nam đã không mắc mưu ở hai lần đó, trừ một số nhỏ cá nhân (như ông Trương Như Tảng tự nhận trong hồi ký), và sau năm 1975. Tôi đọc thấy trên mạng bài sau đây nói về điều đó, và vì bài hơi dài nên chỉ trích vài câu nói lên một ý nghĩ của tác giả. In view of these bitter experiences with the communists, the term “national reconciliation” has become taboo to many overseas Vietnamese. Some people are practically “allergic” to the term and automatically label as pro-communist those who want to consider reconciliation as a topic for discussion with any Vietnamese officials. With full understanding of and sympathy to these emotional reactions, I sincerely want to present my personal reflections on this issue. I am doing this as an independent person who has no ambition other than a desire to contribute something meaningful to the interest of the nation and the people of Vietnam. (Normalization of Relations between the Overseas Vietnamese and Vietnam by Le Xuan Khoa , April 30, 2001) Chưa chắc tôi ủng hộ “giải pháp” trên, nhưng tôi có thể so sánh với hoạt động của nhiều đảng phái, phe nhóm đối nghịch trong một nước dân chủ (như Đài Loan, Nam Hàn) trước tình hình chiến tranh hay khủng hoảng lớn. Họ phải hợp tác với nhau để chống lại nguy cơ trước mắt, đồng thời tỉnh táo thủ thế, và tiếp tục tranh đấu sau đó nếu cần. Riêng về iên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch, theo lịch sử ghi lại, không phải Tưởng Giới Thạch chủ động quyết định, mà do ông bị tướng Trương Học Lương bày mưu bắt giữ,và ép buộc ông phải làm theo. Sau khi thắng Nhật, Tưởng Giới Thạch hủy bỏ liên minh này trước, đưa quân từ miền Nam lên đánh nhau với Mao Trạch Đông để giành giật Mãn Châu trong tay hồng quân, nhưng thất bại do Mao được Liên Xô gần bên giúp, và từ đó phe Tưởng suy sụp về quân sự. Về bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, tôi cũng có suy nghĩ nhưng chưa thấy rõ vài điều để viết nhiều hơn: 1/ Có thật tình hình VN hiện nay đúng như giáo sư nhận định không. 2/ Đề nghị của giáo sư về hành động của người Việt hải ngoại có những điểm riêng rất hay (nếu cần tôi sẽ nhắc lại), nhưng toàn bộ có thực tế, thích đáng, khả thi để giải quyết (hữu hiệu) vấn đề theo như ông nhận định không, và có thể đưa lại những điều tiêu cực nào, chấp nhận được không khi nhìn trong lợi ích toàn cục. 3/ Còn có thể tìm một giải pháp nào khác hơn không.

  14. Hồ Phú Bông nói:

    Chuyện nước mất về tay Trung cộng đang gần kề hơn lúc nào hết mà con dân người Việt chỉ đành bàn hưu tán vượn thay vì xắn tay áo bắt tay vào việc! Vì đâu nên nỗi? Theo tôi, điểm chính là chế độ cộng sản sau bao nhiêu năm tác oai tác quái đã phá nát niềm tin giữa người Việt! Sự nghi ngờ nhau đã biến thành bản tính mới! Ngay trong nội bộ đảng cộng sản cũng chẳng ai tin ai, chỉ vì cái đích của họ không phải là đất nước, quê hương mà là quyền lực và vơ vét của cải! Cứ nhìn vào tương lai dân tộc qua lối sống “thực dụng” của thế hệ trẻ hiện nay thì rõ. Đây là lý do chế độ cộng sản tại Việt Nam chưa sụp đổ ngay và phong trào dân chủ chưa thể phát triển mạnh. Cho nên, sự thất bại không phải từ kế hoạch (vì chuyện đại sự chẳng có kế hoạch hay phương pháp nào hoàn hảo cả!) mà chính là lòng tin giữa người Việt Nam với nhau không còn nữa! Cứ (tạm) tổng kết tâm huyết từ tác giả bài viết cũng như các phản hồi đã chỉ ra điều đó! Xây dựng lại lòng tin mới xây dựng lại được sức mạnh cho dân tộc!

  15. Tri Ngộ nói:

    @ Hoàng Trường Sa & Hoà Nguyễn Tôi rất cám ơn hai bạn đã phản hồi với những thí dụ và luận lý rất sắc bén và sâu sắc. Riêng tôi luôn được học hỏi thêm qua các phản hồi vì những cái nhìn khác biệt luôn mở rộng thêm tầm nhìn của chính tôi. Nhưng cái “an ủi” lớn cho tôi ở đây là những dẫn chứng lịch sử của bạn Hoà Nguyễn ở điểm số 1 (LXK) cũng như những lý luận về lòng yêu nước ở điểm số 2 (LXK), hình như cũng đã chấp nhận là cả hai điểm này của GS LXK, cũng chỉ là những phương châm (kim chỉ nam), hay là những nhắc nhở, hoặc là những tiền đề… Những phương châm này, dù cho chí lý đến đâu chăng nữa, theo lý luận của bạn HN, trước sau đối với tôi, vẫn chỉ là những lý tưởng đẹp được ghi trên giấy. Lịch sử VN đã cho thấy không biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lòng yêu nước chân chính và đã bị lừa. Đã có rất nhiều người gánh chịu bao nỗi oan khiên từ cái ngày Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 vì những hành động tàn ác của một tập đoàn lãnh đạo luôn tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo tôi, việc nhà cầm quyền hiện nay nhận thức được lòng yêu nước chống quân Bắc phương (TQ) cần có sự hợp lực của CĐNVHN là một mơ tưởng hão huyền. Lịch sử cũng đã trăm lần cho thấy điều này khi quân đội Bắc Việt, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, đã bầm dập và hành hạ người miền Nam sau năm 1975 như thế nào và chính sách của họ, dầu cho có “thoáng” hơn ngày nay, vẫn còn nặng mùi “ám khí” của một chủ nghĩa phản khoa học với cách cai trị độc đoán và mù quáng, đi ngược lại lòng yêu nước chân chính của người dân. Lòng yêu nước chân chính đó hình như phải kêu gọi tình người, kêu gọi lòng từ ái, kêu gọi sự biết ơn tổ tiên đã gầy dựng nên giang sơn gấm vóc ngày nay, kêu gọi sự khát vọng về một tương lai tốt đẹp cho quê hương, và đồng thời cũng kêu gọi sự sám hối về những khổ đau mà người cộng sản đã gây ra (một vết thương lớn cần chữa lành). Khổ thay lòng yêu nước đó hiện nay đang bị những đám mây mù to lớn của sự hưởng thụ (còn được gọi nôm na với 4 chữ “ổn định kinh tế”) và sự sợ hãi của người dân (hé mồm ra là công an mời lên làm việc), và của lòng tham vô đáy của cấp lãnh đạo (cấp lãnh đạo ngày càng giàu) ngăn che. Những đám mây mù này rất khó lấy đi, trừ phi có một cơn gió lớn. Và cơn gió đó có thể sẽ là cuộc tấn công xâm lăng VN của Trung Quốc.

Trang 2:

  1. phivu56 nói:

    Mời xem: Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại http://phivu1956.blogspot.com/2010/07/ho-chi-minh-man-and-myth-ho-chi-minh.html

  2. Phùng Tường Vân nói:

    “Da mồi tóc bạc ta già nhỉ !” Cái sai lầm xuyên suốt bài viết là một sự không tỉnh táo, nó đặt nền móng thuyết phục và khuyến cáo người khác trên những giả định đến mức ảo tưởng. Tôi đồ rằng có ít nhiều nỗi lẩm cẩm của tuổi tác ảnh hưởng chăng, cũng chính vì có nỗi ái ngại buồn bã ấy mà tôi cũng thấy có cái gì hơi bất nhẫn khi có độc giả liệt kê ông vào những hạng như là “triết gia còi hụ” hoặc vị “đại gia hàng thần” nọ khuyến dụ người khác “làm lành với lịch sử” chẳng hạn. Đôi khi tôi lại nghĩ có lẽ ông vẫn chưa thoát ra khỏi cái “hội chứng” một lần được gặp gỡ với “một người cộng sản tử tế” chăng?

  3. Phan Son nói:

    Dù quá trình thôn tính chưa hoàn tất nhưng xã hội ta đã là một xã hội lệ thuộc. Người nghèo lệ thuộc người giàu, người giàu lệ thuộc quan chức, quan chức thì bị chi phối bởi những kẻ cơ hội. Người ta bị điều khiển bởi đồng tiền và những động lực vật chất, thật đúng như Rousseau nói trong khế ước xã hội: “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ”. Sự lệ thuộc vật chất dẫn đến ý thức lệ thuộc và ích kỷ. “Thôi, lo làm mà kiếm tiền, để ý chi đến những việc đó, gặp phiền phức bây giờ” là câu nói mà nhiều người bật ra khi nghe ai đó bức xúc về những vấn đề của xã hội và chính quyền. Những ý thức và suy nghĩ độc lập ngày càng hiếm hoi làm sức đề kháng của xã hội ngày càng xuống thấp. Khi mà thế lực thôn tính nhận thấy rằng nó có thể dẫn dắt các hành động của số đông bằng những tin đồn liên quan đến quyền lợi của họ, đó là lúc mà nó ra sẽ đòn quyết định. Một vài phép thử đã được thực hiện như cơn sốt vàng năm trước và gần đây là chứng khoán. Đáng lo hơn nữa là sự lệ thuộc suy nghĩ như vậy làm rất nhiều người, từ dân nghèo đến cả tầng lớp trung lưu hy vọng thụ động vào một sự thay đổi từ bên ngoài sẽ mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần và quyền lợi chính trị, mà không ý thức rằng chính mình mới là nhân tố quyết định những kết quả đó. Tác động từ bên ngoài là khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại, nhưng chính sức mạnh của nội lực mới quyết định kết quả của sự tác động đó là tốt hay xấu. Với sức đề kháng của xã hội như Việt Nam hiện nay, kết quả đó sẽ là một thảm họa. Chỉ cần nhìn vào thị trường thuốc chữa bệnh thì sẽ thấy quyền lợi và tính mạng của đại đa số dân ta đang bị hy sinh để phục vụ cho một nhóm lợi ích tư rất nhỏ trầm trọng đến mức nào. Các tập đoàn dược phẩm thao túng hoàn toàn thị trường nhờ sự tiếp tay của những kẻ cơ hội, đẩy giá thuốc lên khủng khiếp và liên tục nhiều năm qua bất chấp những nỗ lực của báo chí và những cố gắng của một số quan chức có trách nhiệm. Không cẩn thận thì thị trường xăng dầu sắp tới cũng sẽ bị lũng đoạn.

  4. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Tri Ngộ trích câu viết của GS Lê Xuân Khoa 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“, và ông kết luận: Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Chỉ xét về ý nghĩa riêng nói lên ở chỗ này, tôi nghĩ câu viết trên của giáo sư Lê Xuân Khoa dựa vào những kinh nghiệm đau thương đã xảy ra trong lịch sử dân tộc. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, một hành động dược coi trái đạo nghĩa đối với tư tưởng trung quân thời đó, nhiều người đã đi cầu cứu với nhà Minh bên ngoài, và tổ chức chống lại họ Hồ bên trong. Kết quả là thảm kịch: quân Minh chỉ cần mượn cớ phù Trần diệt Hồ đã chinh phuc nuớc ta rất dễ dàng, và sau đó nói con cháu nhà Trần chẳng còn ai để biến Đại Việt thành quận huyện của Trung quốc. Nhiều người Đại Việt thời đó đã phản ứng theo lòng uất hận kẻ bất nghĩa, bất trung, hay theo quyền lợi riêng vừa bị cướp mất, để chỉ thấy kẻ thù gần gũi cần tiêu diệt là họ Hồ, mà không thấy được kẻ thù còn ở xa nhưng nguy hiểm cho dân tộc hơn, là Trung quốc. Trong trường hợp khác, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để chống Tôn Sĩ Nghị, sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Thiếp đã hết lòng ủng hộ và bày kế cho ông (chưa kể đến Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở), và cũng chính ở vủng Thanh Nghệ Tĩnh nơi đã cung cấp quân binh trung thành nhất cho Chúa Trịnh (dẫn đến loạn Kiêu binh), Nguyễn Huệ đã mộ được hàng chục ngàn người cho đạo quân Tây Sơn Bắc tiến phá Thanh (cũng có nghĩa diệt luôn vua Lê chúa Trịnh). Cảm tính thường phản ứng cho quyền lợi tức thời, nên có khi thành nông nổi, và lý trì hướng dẫn cho hành động đúng đắn, hiệu quả hơn. Vấn đề là làm thế nào để tạo được sự quân bình giữa hai phản ứng, với nhiều xét suy, cân nhắc cho quyền lợi lớn và lâu dài. 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Ông Tri Ngộ nhận xét:” Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước…“. Có lẽ không nên mất nhiều thời gian để bàn thật sâu về thế nào là lòng yêu nước, nhưng nếu nghĩ đơn giản và chấp nhận một số quan niệm thông thường, sẽ thấy câu viết của GS Lê Xuân Khoa nêu vừa đủ các điều kiện cần thiết cho những người lãnh đạo VN trong tình hình gay go hiện nay. Nếu thật lóng yêu nước, họ thấy được đâu là quyền lợi thiết thực, lâu dài, và đâu là nguy cơ thật sự cho dân tộc, đồng thời họ cũng thấy muốn bảo vệ được đất nườc, chống lại được kẻ thú cực mạnh, bên trong cần phải dựa vào sức mạnh toàn dân đoàn kết, với nghĩa tự nguyện, và bên ngoài cần nhờ vào sự ủng hộ của quốc tế (thiện cảm với VN, chống Trung Quốc). Từ nhận thức đó sẽ thấy họ cần phải thay đổi thế nào, và thấy vai trò của người Việt hải ngoại không nhỏ trong hành động chung cho dân tộc.

  5. Hoàng Trường Sa nói:

    “CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.” (Tri Ngộ) Bạn Tri Ngộ nói rất đúng. Nếu xảy ra cuộc chiến TQ trực tiếp tấn công VN trên Biển Đông hay trên bộ dọc biên giới phía Bắc, thì Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại sẽ lâm vào một hoàn cảnh rất khó xử, và có lẽ sẽ bị chia rẽ rất lớn do phải chọn lựa thái độ là có nên nhập cuộc để hỗ trợ ĐCSVN chống lại TQ hay không (giả sử rằng vào lúc đó ĐCSVN không còn chọn lựa nào khác ngoài việc phải chống lại Tàu xâm lược). Một mặt, là con dân nước Việt, không ai có thể bàng quang tọa thị nhìn ngoại bang xâm lăng Tổ quốc mình, mà không chút xót xa, uất giận, và chắc chắn thế nào người Việt hải ngoại tuyệt đại đa số cũng phải tìm mọi cách để chống lại cuộc xâm lược này. Nhưng mặt khác, người Việt hải ngoại biết quá rõ bộ mặt phản dân hại nước của ĐCSVN. Họ cũng thừa biết là sau khi hy sinh tất cả để ngăn chận không cho Tàu xâm chiếm Tổ quốc thiêng liêng của họ, thì kẻ được hưởng lợi cũng lại là cái đảng thổ tả mắc toi mắc dịch CSVN này, chứ chẳng phải là đồng bào họ trong nước hay chính bản thân họ. Bởi vì, lúc đó cái đảng CSVN khốn nạn này lại sẽ tiếp tục hách dịch đè đầu cỡi cổ nhân dân ta trong nước như từ xưa đến nay. Nhưng nếu trái lại, người Việt hải ngoại cũng như toàn dân ta trong nước thờ ơ không nhập cuộc để cứu nước, thì Tổ quốc ta sẽ không còn nữa. Đó là nỗi đau của chúng ta. Nói cách khác, từ ngày có ĐCSVN, đảng này đã coi đất nước VN là vật sở hữu của đảng họ, coi nhân dân VN là những kẻ tôi đòi, những con vật thí mạng mà đảng có thể sử dụng bằng đủ mọi cách (qua những lời kêu gọi hoa mỹ, đánh động tình cảm yêu nước của người dân như Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ) để bảo vệ cái ngai vàng cùng với những đặc quyền đặc lợi của bè đảng bọn họ. Có điều, với sự chia rẽ trầm trọng giữa người Việt hiện nay, với sự suy yếu cùng cực, sự bất tài, tham nhũng, sự yếu hèn khiếp sợ Tàu của ĐCSVN hiện nay, cùng việc nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN đã không có được thiện cảm cùng sự kính trọng, quý mến và hỗ trợ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, việc chống cự lại cuộc xâm lăng của TQ (nếu có) lần này e rằng sẽ rất khó khăn. Cá nhân tôi đã nhiều ngày đêm suy nghĩ về vấn nạn đau khổ này, nhưng thú thật vẫn chưa tìm ra giải đáp. Dù ai cũng biết rằng, để thoát ra nỗi khổ triền miên bất tận này, cách duy nhất là loại bỏ vĩnh viễn cái đảng CSVN này. Nhưng làm sao để thực hiện thành công chuyện này đây, khi ĐCSVN đang nắm trong tay bộ máy thống trị chuyên chính, với dùi cui, roi điện, súng đạn, tiền bạc dồi dào, đầy đủ và sau lưng còn có sự hỗ trợ của bọn bá quyền Bắc Kinh. Để thay đổi chế độ, chắc chắn toàn dân ta sẽ phải làm lịch sử một lần nữa. Nhưng cái giá phải trả e rằng không nhỏ. Có thể phải trả bằng giá máu, mà đây là điều không ai mong muốn cả. Việc mong chờ ĐCSVN tự động thay đổi là chuyện không bao giờ xảy ra. Xin đừng có ai tơ tưởng vào điều bất khả này. Có lẽ, chỉ khi nào dân ta tỉnh ngộ trước thực tế đau xót này, và đồng lòng đứng dậy, hy sinh đòi lại quyền làm chủ đất nước, thì may ra mới có cơ hội thoát ra khỏi thế bí này. Sẽ có người hy sinh ngả xuống cho thế hệ VN tương lai còn được sống, hay nói theo ngôn ngữ của CSVN thì sẽ có người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Thật là một vòng lẫn quẫn khởi đi từ muà thu lịch sử năm 1945. Một chu trình kín dẫn dắt dân tộc qua ngàn cửa ải đau thương, để trở lại điểm bắt đầu, sau 65 năm tang tóc, núi xương, sông máu. Với một giấc mơ còn dang dỡ. Thật là buồn và giận ông Hồ vô vàn.

  6. Trương Đức nói:

    Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội. (trích “Bill Hayton – Đảng Cộng sản và tương lai Việt Nam”) Nhân đọc được đoạn trích trên đây, tôi xin mạn phép tác giả Bill Hayton cũng như dịch giả Đinh Từ Thức được ghi ra đây để làm rõ thêm cái ý “Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!” trong PH của bác Nam Phan. Dĩ nhiên là tôi rất hiểu “thâm ý” của bác Nam Phan, nhưng tiện đây tôi xin có một ý kiến như thế này: Tại sao giáo sư Lê Xuân Khoa có quyền “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được””, còn tôi thì “đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất., hay nói như tác giả Bill Hayton là tôi phải “hạn chế tự do ngôn luận”? Phải chăng, “Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm” là gián tiếp chấp nhận “sự hạn chế tự do ngôn luận” của ĐCSVN? Và cuối cùng, chẳng lẽ giáo sư LXK, với cái ý “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được”” cũng muốn trở thành “cá mè một lứa” với “Tiến Sĩ triết gia”?

  7. Tri Ngộ nói:

    GS Lê Xuân Khoa viết: 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“. Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Trên thực tế, điều này rất khó xảy ra. Dân tộc nào làm được điều này thì dân tộc đó rất hùng mạnh và chắc chắn có nếp sống đẹp và văn hoá cao. Câu hỏi tôi tự đặt ra là dân tộc chúng ta chưa đạt đến trình độ này. Đời nhà Trần sở dĩ chúng ta hùng mạnh và đánh đuổi được giặc Nguyên cũng nhờ nếp sống từ ái của Vua đối với dân. Vua biết thương dân, biết tha thứ những quan thần đã phản bội Vua. Vua biết hy sinh (đang đi tu và rũ áo tu, quay lại cùng dân quân đánh đuổi giặc Nguyên). Ngày nay những người lãnh đạo nước ta là những người do Đảng chỉ định. Họ là những đảng viên chỉ biết vâng lời Đảng. Họ là những người lãnh đạo bất tài. Họ vâng lệnh Đảng một cách tuyệt đối và mù quáng. Tôi xin trích lại lời của ông Lê Duẩn: “từ đỉnh cao thắng lợi ngày nay, nhìn lại quá trình chiến đấu và trưởng thành đã qua, quân đội ta nhận thức sâu sắc rằng tất cả những chiến công và thành tựu của mình đều bắt nguồn từ đường lối cách mạng độc lập tự chủ của Đảng. Đường lối đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” (NXBQĐND, Hà Nội, 1980). Chúng ta không thể coi thường những cái nhìn rất độc đoán và nguy hiểm này của người CS. Đây là một bức tường lớn ngăn cản sự hợp lực của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại (CĐNVHN). 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước. Sao ta không nói được “thật lòng yêu nước” thì phải trước tiên từ bỏ chủ nghĩa CS, lật đổ chính quyền hiện tại và tổ chức bầu cử cho một nước VN mới có dân chủ với một tương lai sáng lạn hơn. Điều này ai sẽ làm được nếu không có quân đội trong tay. CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.

  8. Nam Phan nói:

    Giáo Sư Lê Xuân Khoa đã học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được” cuả Tiến Sĩ triết gia! Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!

  9. Hoà Nguyễn nói:

    Nhân một câu viết của ông Hoàng Trường Sa, xin có đôi lời. Theo các thông tin trên mạng, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy học ở Hà Nội từ năm 1950, và tôi hiểu có lẽ là ông dạy thêm khi tiếp tục học như phần đông các sinh viên thời đó. Ông tốt nghiệp đại học Văn Khoa và Cao đẳng Sư Phạm năm 1953, được học bổng năm 1960 để theo học đại học Sorbonne (Pháp), và ghi danh luận án tiến sĩ triết học với dề tài Phật giáo Thiền tông tại Việt Nam. Ông qua Ấn Độ nhiều lần để nghiên cứu triết học Ấn, và giảng dạy triết lý Upanishad tại đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau này, ông cũng dạy tại đại học Đà Lạt, Minh Đức và Vạn Hạnh. Trong một thời gian, tôi đọc nhiều bài ông viết về Phật giáo và Thiền tông đăng trên tạp chí Bách Khoa, với giọng văn không khác ngày nay, sáng sủa và khúc chiết. Có thời gian ngắn ông làm tổng thư ký bộ Giáo dục (tương đương thứ trưởng), và chức vụ cuối cùng ở Việt Nam là Phó Viện trưởng Ðại học Sài Gòn. Sau năm 1975 khi qua Mỹ, ông là chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), và là giáo sư thỉnh giảng Ðại học Johns Hopkins tại Washington DC. Khi mới vào Sài Gòn, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy tại trường Pétrus Ký (và Quốc gia Sư phạm gần đó), và tôi theo học giáo sư trong khoảng thời gian này. Tôi vẫn giữ nhiều hình ảnh đẹp về những thầy cũ của mình, và giáo sư là người thầy tận tâm, khả kính. Tôi còn nhớ một hôm khi bài đã giảng xong mà còn mấy phút nữa mới hết giờ, học trò hơi nhốn nháo, “thày Khoa” nói gì đó và chấm dứt với câu “giáo bất nghiêm sư chi noạ”, cả lớp nghe mà ngơ ngác, nhưng do đó cũng im lặng hơn. Mãi nhiều năm sau, tôi cũng “đứng lớp” mới hiểu hết ý nghĩa một câu nói trong nghề giáo, có lẽ đã có từ thời Khổng Tử. Tôi và các bạn học có thể thắc mắc tại sao ông thầy cũ của mình xưa kia thật hiền, nho nhã, có nét mặt rất tươi tuy ít khi cười với đám học trò, chuyên về Triết Đông, suốt đời dạy học và làm việc cho người tỵ nạn, bây giờ lại thường viết về một vấn đề chính trị gai góc vào bật nhất để dễ gặp phản ứng mạnh ở nhiều người, thuộc nhiều khuynh hướng, từ nhiều phía khác nhau đến đối nghịch. Nhưng theo tôi hiểu, việc làm hiện nay của một ông giáo đã nghỉ hưu, như vẫn chuyên cần viết sử, tham luận chính trị, có lẽ bắt nguồn từ tấm lòng và sự can trường khi còn là học sinh Trung học ở Hà Nội: ông từng bị bắt với vài người bạn vì hoạt động chống Pháp (theo thư ông gửi cho BBC) Bài viết “<i Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại ” của giáo sư Lê Xuân Khoa đáng được người Việt hải ngoại đọc và thảo luận ở các diễn đàn thích hợp, dù sẽ có nhiều người đồng ý hay phản đối quan điểm của ông. Đó là một cách nhìn, một phương sách, một giải pháp đề nghị cho một tình thế khẩn thiết lại như đang trong bế tắc. Dù thế nào, tôi cũng cảm thấy giáo sư thao thức nhiều với những suy nghĩ riêng của mính, đồng thời vẫn hy vọng, và có ước vọng lớn cho tương lai Việt Nam. Vấn đề đặt ra rất rộng, nhưng tạm thời, nên giới hạn trong ba tiền đề do ông nêu: <i1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc : Có thật hay không như giáo sư nói “ hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước “, và nguy cơ đó còn xa hay gần kề ? <i2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam : Khi điều kiện “ lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế ” không thể có được trong hiện tại, thì với hiểm hoạ Trung Quốc lớn hơn bao giờ hết, đất nước VN sẽ ra sao, và để mong cứu vãn tình thế, người Việt trong và ngoài nước có thể làm được gì. <i3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại : Bài viết gợi ý nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, nên phán định từng điểm để coi có thật sự lợi ích cho đất nước, có khả thi đối với cộng đồng người Việt hải ngoại không, và cũng xét tới làm như thế có gây cản trở gì không cho công cuộc vận động dân chủ, tự do ở VN . Khi có thể, tôi sẽ góp ý tiếp.

  10. Hoàng Trường Sa nói:

    “4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết!” (Trương Đức) Làm răng mà bảo đảm chuyện nớ được, bác Trương Đức ơi ! Tui thấy rõ là không cần chờ tới khi “hiểm họa TQ” đã qua, mà ngay hôm nay, khi “hiểm họa TQ” đang đè nặng trên Tổ quốc ta, ĐCSVN cũng xem cái hiểm họa này rất nhỏ so sánh với kẻ thù không đội trời chung của họ là khối người Việt tỵ nạn CS trên toàn thế giới mà họ đang rắp tâm triệt hạ cho bằng được. Tôi thấy rõ chuyện nớ như đang thấy lòng bàn tay mình dưới bóng đèn điện 200 watt: Các đường chỉ tay ra răng, các đốt ngón tay ra răng. Họa chăng là những người chưa có kinh nghiệm về ĐCSVN hoặc là có kinh nghiệm đấy, nhưng lại tự lừa dối chính bản thân, do quá “yêu nước” hoặc quá ngây thơ, mà hy vọng đảng “ta” đã (hay sẽ) thay đổi. Kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây do Đại Nghĩa sưu tầm: Đảng cộng sản lấy gian dối làm phương châm

  11. [...] Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại    Lê Xuân Khoa – Talawas [...]

  12. Trương Đức nói:

    “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.”(Lê Xuân Khoa) Tôi xin được xin lỗi trước giáo sư LXK, nếu trong phản hồi này có điều gì không phải! Đọc bài này tôi thấy giáo sư Khoa, khi viết bài này, như thể làm cái công việc “vá víu” lại cái “tấm áo dân chủ” đã rách bươm gần thế kỷ nay cho dân tộc VN. Và một câu hỏi hiện lên trong đầu tôi: Tại sao ông LXK không tìm cách “cởi ra” và “vứt bỏ” cái “tấm áo vá chằng vá chịt” ấy đi, và bày cách “mặc” cho dân tộc mình một “tấm áo dân chủ” hoàn toàn mới đi? Tôi xin được phát biểu vài cảm nghĩ của mình như sau: 1. Giáo sư Khoa nêu ra “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.“, thì tôi thấy, giáo sư không những không nêu ra được điều gì mới mẻ cả, mà còn “quên béng” mất một điều kiện tối quan trọng và là tiền đề cho ba điều kiện kia, là “Ngay bây giờ, càng sớm càng tốt, nên THIẾT LẬP NỀN ĐA NGUYÊN DÂN CHỦ cho VN”. Bởi vì, khi có được một nền dân chủ đa nguyên đa đảng thực sự tại VN, thì: – Điều kiện thứ nhất là “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước” sẽ được đáp ứng, bởi vì lúc đó, “lãnh đạo”(đảng hoặc liên minh các đảng thắng bầu cử tự do và được quyền thành lập chính phủ) đương nhiên phải “tài giỏi” và “thực lòng yêu nước” rồi, nếu không thì nhân dân đã không “bầu”. – Điều kiện thứ hai là “huy động được sự đoàn kết của toàn dân” cũng dễ dàng được thực hiện, bởi vì, đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền sẽ huy động được toàn thể số cử tri(nhân dân) của mình, cộng với số cử tri(cũng là nhân dân) của các đảng khác trước nguy cơ xâm chiếm Tổ quốc VN của ngoại bang. – Và như thế, điều kiện thứ ba là “vận động được sự ủng hộ của quốc tế.” chỉ là một mệnh đề kéo theo, cũng sẽ xảy ra, bởi vì cuộc kháng chiến chính nghĩa chống xâm lược của một đất nước dân chủ, bao giờ cũng được quốc tế ủng hộ. 2. Tất nhiên là giáo sư Khoa sẽ bảo tôi rằng, ông nêu ra “3 điều kiện” trên là với tình trạng hiện nay của VN. Vâng, nhưng tôi cũng xin hỏi giáo sư rằng: khi nào thì xảy ra “hiểm họa TQ”? Hiện nay thì chưa, đúng không? Vậy thì tại sao ngay bây giờ “ông Nhà nước VN” không tiến hành một cuộc “thay áo” (tôi không muốn dùng từ “thay máu”, sợ rằng ông Nguyễn Minh Triết lại bảo tôi là kẻ “thích đổ máu”!) cho dân tộc đi? “Ông Nhà nước VN” muốn đợi đến bao giờ? Và giáo sư Khoa còn muốn “vá áo” đến bao giờ nữa? “Tấm áo dân chủ” hiện giờ mà ĐCSVN đã “khoác” lên cho dân tộc hơn 80 năm qua đã “cũ rích”, đã bị “rách bươm” qua “những tháng năm cuồng nộ” và đã bị “vá chằng vá chịt” chẳng ra thể thống gì cả rồi. Nên “thay áo” đi, kể ra bây giờ, sau cuộc chiến 1954-1975 đã hơn 35 năm, là đã muộn lắm rồi, nhưng muộn còn hơn không! 3. Dân tộc VN đã mất lòng tin vào ĐCSVN, nên “Ông Nhà nước VN” có làm gì cũng là những hành động “vá víu” vớ vẩn. Cái hiện tình(sự thoái hóa về đạo đức và văn hóa của xã hội và con người, đời sống thiếu thốn nghèo đói, kinh tế đi xuống, nguy cơ mất nước, không có lối thoát,…) của đất nước VN ta chứng minh điều đó. Tất cả cũng chỉ là do toàn dân không còn tin vào Nhà nước nữa. Không có niềm tin thì khó có thể “xây dựng” hay “bảo vệ” một cái gì cả! 4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết! 5. Để tạm kết luận, tôi xin được trích lại đây lời PH của bác Lề Trái, coi như là bác LT nói hộ ý kiến của mình (Xin cám ơn bác Lề Trái!): “Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác.”

  13. [...] KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI TRƯỚC HIỂM HỌA TRUNG QUỐC Bởi ngoclinhvugia Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại [...]

  14. Lề Trái nói:

    phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế” Đã có một dữ liệu nào để bảo đảm cái giả định trên là khả thể, hay những gì xảy ra đều chỉ ra giả định trên đang mấp mé giả tưởng? Nếu dữ liệu không đỡ nổi cái giả định, thì những đề nghị trên có còn giá trị nữa hay không? Và cả bài này có đáng giá như những giả định chính trị đầy rẫy ở hải ngoại kiểu “những người hải ngoại phải làm gì”? Đôi khi muốn giải quyết vấn đề, người ta phải truy ngược lên vấn đề bắt nguồn từ đâu, và giải quyết từ gốc thay vì cứ chữa triệu chứng kiểu tương tylenol cho bệnh liệt kháng đơn thuần chỉ vì dễ nhiễm lạnh. Nhân tiện, tôi nói luôn: Một trong những kết quả cuối cùng của Marxism là chủ nghĩa thực dân mới. Vì nó ở mức cao hơn, nên có người đã giả định (theorize) là thực dân tự nguyện ie vũ lực phần lớn mang ý nghĩa tượng trưng. Tiếc dân Đông Âu hình như nhận ra nên cứ cù nhầy cù dưa, còn lòi ra anh Nam Tư cứng đầu cứng cổ. Nhưng sự xuất hiện của xe tăng LX (cũ) ở Tiệp và Hung năm nào là những dấu hiệu đáng kể. VN & TQ có thể sự chuyển tiếp sang thực dân mới sẽ suôn sẻ hơn, tức là trên phương diện lý thuyết, rất có thể VN sẽ thành 1 tỉnh không thể thiếu của TQ, hay ít nhất 2 nền hành chính sẽ sáp nhập. Chừng nào chuyện này xảy ra? Thiển ý của tôi, VN là điểm nổ của Critical Mass TQ. Hiện giờ chưa xảy ra vì TQ vẫn còn nén mình. Tới 1 lúc nào đó khi TQ đã đủ sức “vươn vai đứng dậy sáng lòa”, VN nếu chưa bị thôn tính bằng chính trị sẽ lãnh ngay hậu quả quân sự. TQ muốn tiến ra thế giới sẽ phải bước qua VN. Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác. Nếu dân ta cứ để sự thôn tính xảy ra, tôi sẽ buồn, rất buồn nữa là đàng khác. Nhưng để gỡ gạc, tôi đặt sẵn cục gạch xí chỗ trong những người ủng hộ giả thuyết trên. Ngoài lề 1 tí, tưởng đã ăn chắc vụ VN vào Cambodia và TQ chiếm Tây Tạng, LHQ lao vào cứu 1 bàn thua trông thấy vụ VN/Cambodia. TQ/Tây Tạng thuộc loại thực dân thẳng thừng ie bạo lực “không” tượng trưng, nên bên pro-marx cãi là không tính. TQ/VN là hy vọng cuối cùng!

  15. Hoàng Trường Sa nói:

    “Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa) Tôi đọc bài này của Giáo sư Lê Xuân Khoa đang ngon lành, đến đoạn này thì KHỰNG lại luôn, mồ hôi đổ toát ra dù lúc này bên Úc tiết trời đang giá lạnh. Dù kính trọng Giáo sư (một phần do nể bác Hòa Nguyễn, một học trò cũ của Giáo sư) và ghi nhận thiện chí của Giáo sư Khoa, tôi thấy Giáo sư có vẻ quên bài học lịch sử năm 1945 quá nhanh. Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (nguyên văn) mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua. Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946). Cái tiền đề của Giáo sư Khoa rằng ĐCSVN cũng muốn chống lại sự xâm lấn bành trướng của TQ, theo ngu ý, là một tiền đề còn quá mù mờ chưa thể tin ngay được, cần xem kỹ lại, bởi vì ngay cả việc người dân trong nước chỉ muốn nói lên câu “Hoàng Sa và Trường Sa là của VN” mà cũng bị nhà nước CS ngăn cấm và đàn áp. Tôi xin lỗi phải tạm ngưng đọc tiếp bài này cho đến khi HOÀN HỒN, sau đó sẽ tính lại. Dù sao cũng phải cám ơn tác giả Lê Xuân Khoa đã cất công viết bài này để mọi người cùng suy ngẫm.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , , , , | 11 phản hồi »

584. Mùa “bầu cử” yên tĩnh bất thường ở Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 20/07/2010

The Globalist

Mùa “bầu cử” yên tĩnh bất thường ở Việt Nam

Ernest Z. Bower

13-7-2010

Việt Nam đang trong giai đoạn căng thẳng nhất của chu kỳ chính trị, tương tự như bốn tháng cuối cùng của các kỳ bầu cử ở Mỹ. Tuy nhiên, trong khi tên tuổi của những người sẽ nắm giữ quyền lực tối cao của đất nước này đang được xác định, gần như không có sự thảo luận công khai nào về chính trị trong nước. Ernie Bower khám phá khung cảnh chính trị của Việt Nam.

Khi ông Graham Greene cặm cụi bên chiếc bàn làm việc được đặt trên sàn bằng gỗ tếch  tại khách sạn Metropole ở Hà Nội, dệt những sợi lụa óng ả để phác thảo nên cuốn tiểu thuyết Người Mỹ Trầm Lặng, câu chuyện xuất sắc về Alden Pyle và Thomas Fowler, vô tình ông đã dự báo những yếu tố quan trọng trong chính trị Việt Nam hiện đại.

Những điều bạn thấy không phải là những điều đang thật sự diễn ra. Không như nhiều nước láng giềng khác ở Đông Nam Á, Việt Nam có khả năng đóng cửa giữ  kín chuyện chính trị của họ.

Việt Nam đang trong giai đoạn căng thẳng nhất của chu kỳ chính trị. Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng sản lần thứ 11 sắp tới,  sẽ diễn ra vào cuối tháng 1 và đầu tháng 2 năm 2011, là phiên bản xã hội chủ nghĩa tương tự như bốn tháng cuối cùng trong kỳ bầu cử ở Hoa Kỳ.

Bề ngoài, Hà Nội vẫn yên ắng. Báo chí trong nước ca ngợi các món ăn theo mùa và kiểm nghiệm sự giống nhau giữa trận đấu Anh – Mỹ trong mùa World Cup với tranh cãi giữa Nhà Trắng và tập đoàn dầu khí BP, nhưng hầu như không đả động gì đến chính trị trong nước.

Mỉa mai thay, điều nói trên là do các vị trí quyền lực cao nhất của đất nước đang bị đe dọa và đang được tranh giành chả kém gì một trận ẩu đả bằng dao kiếm phía sau cánh cửa khép kín của Toà Nhà chính phủ.

Giữa sự mờ mịt kiểu Vatican này, lãnh đạo đảng đang quyết định ai sẽ dẫn dắt đất nước và giữ các vị trí chủ chốt như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng và các vị trí quan trọng trong Bộ chính trị và Nội các.

Cần hiểu sự năng động này là quan trọng bởi vì nó hạn chế mức độ Việt Nam có thể thực hiện trong việc thúc đẩy cải cách kinh tế, lãnh đạo một cách năng động với tư cách là Chủ tịch Asean năm nay và tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang cố gắng dẫn đầu trong khi đang tránh khỏi sự soi xét (nguyên văn: bay dưới tầm radar). Chính phủ và các quan chức cấp cao đang chịu sức ép ghê gớm khi đảng quyết định tương lai của họ. Các bậc lão thành cách mạng và các đối thủ tương lai đang săm soi họ dưới kính hiển vi nhằm tìm ra bất cứ điểm yếu nào.

Việt Nam cùng với Indonesia, là một trong các mối quan hệ then chốt mà chính phủ Obama hy vọng nâng cao khi Hoa Kỳ tăng cường tập trung vào Đông Nam Á. Việt Nam là đối tác có thiện ý và nhiệt tình nhưng phản ứng của Việt Nam trở nên khiêm tốn do chu kỳ chính trị này.

Áp lực nhằm hài hòa với các giá trị xã hội chủ nghĩa bảo thủ đã dẫn tới việc đàn áp các nhà hoạt động chính trị, nhà báo và các nhóm khác. Điều đó đã gây ra mối quan ngại trong các nhóm nhân quyền và tôn giáo, và gây áp lực lên quan hệ Việt – Mỹ trong quốc hội Hoa Kỳ cũng như những nơi khác.

Những người phụ trách về châu Á trong Chính phủ Obama và Đại Sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội biết rõ về tình hình đó và khéo léo vừa thể hiện quan ngại của mình, vừa mời chào sự giúp đỡ dài hạn. Với lý do chính đáng, họ dự đoán rằng Việt Nam sẽ vượt qua chu kỳ này và vẫn giữ cam kết cải cách kinh tế và với lợi ích bất di bất dịch trong việc tăng cường sức mạnh cho Asean, thúc đẩy hội nhập kinh tế, an ninh, chính trị và văn hóa trong khu vực và thiết lập quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ.

Riêng Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung vào mục đích tổng quát, đó là điểm mấu chốt của tất cả các đảng phái chính trị nào: đó là sự sống còn. Trung tâm đầu não là Ủy ban Trung ương (tức Ban Chấp hành Trung ương Đảng). Ủy ban này gồm 150 thành viên và có vai trò thiết yếu trong việc hoạch định các chính sách của đảng.

Ủy ban Trung ương đã khai mạc Hội nghị lần thứ 12 ở Hà Nội vào ngày 22 tháng 3 năm 2010 để thảo luận và thông qua các văn kiện dự thảo sẽ được trình lên Đại hội Đảng Toàn quốc.

Khi hội nghị bế mạc ngày 28 tháng 3, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã trình bày một số văn kiện, sẽ được thảo luận tại Đại hội Đảng Toàn quốc, bao gồm một chiến lược phát triển kinh tế, xã hội mười năm, đến năm 2020 và một báo cáo chính trị từ Ủy ban Trung ương Đảng lần thứ 10.

Suốt một tuần họp, các thành viên cao cấp của đảng cũng xem xét các kế hoạch nhân sự cho Ủy ban Trung ương Đảng lần tới (sẽ được xác nhận tại Đại hội Đảng Toàn quốc) và quyết định số lượng đại biểu dự Đại hội Đảng.

Trước khi Đại hội Đảng diễn ra, Ủy ban sẽ họp ít nhất hai lần, có thể vào tháng 9 và tháng 12 năm 2010. Cuộc họp đầu tiên để bỏ phiếu sơ bộ các nhân sự chủ chốt, trong khi cuộc họp sau sẽ quyết định cuối cùng về chính sách và nhân sự.

Đại hội Đảng sắp tới sẽ làm cho nhiệt độ chính trị tăng cao tại Hà Nội trong suốt năm nay. Điều này sẽ dẫn tới việc tê liệt chính sách và chủ nghĩa bảo thủ thấy rõ trong những tháng tới khi các thành phần đối lập và đối thủ diễn trò để giành ghế trước thềm Đại hội.

Trong khi vẫn còn nhiều cuộc vận động chính trị ngầm, các đối tác quốc tế và các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ không nên ngây thơ. Có thể dựa vào các xu hướng sau:

  • Thứ nhất, có vẻ như Việt Nam sẽ không quay lưng lại với cam kết hiện nay về cải cách kinh tế và hành chính.
  • Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu rằng để tồn tại, Việt Nam phải tham gia vào kinh tế khu vực và toàn cầu, gồm cả việc dẫn đầu khối Asean hội nhập và vững mạnh, và Đảng hướng về phía trước với các thương lượng thương mại trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
  • Thứ ba, VN sẽ phấn đấu cạnh tranh giành đầu tư và mở mang việc làm, giáo dục, đào tạo thông qua xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Đây là những điều quan trọng cho người dân mà Đảng sẽ không liều lĩnh tước đi.
  • Thứ tư, Đảng hiểu là tham nhũng cuối cùng sẽ hủy hoại quyền lực của họ. Do đó, Đảng sẽ tiếp tục ủng hộ các biện pháp cải cách do Thủ tướng Dũng đề ra.
  • Cuối cùng, sự đàn áp những các nhà bất đồng chính trị (gắn với các vấn đề tự do tôn giáo và báo chí) có khả năng giảm bớt sau Đại hội Đảng.

Các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp nên chú ý tới những điềm báo trước trong cuốn “Người Mỹ Trầm lặng” của ông Greene. Sự yên ắng ở Việt Nam không phản ánh đúng một nghị trình chính trị sôi động ngấm ngầm.

Tin tốt lành là các nhà lãnh đạo Việt Nam có thể sẽ đưa đất nước theo hướng nâng cao vị thế và tăng trưởng, tăng cường quan hệ với Asean và mở cửa cho quan hệ thân thiết hơn với Hoa Kỳ và các đối tác quốc tế khác.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

.

Mời bấm vào tên tác giả ngay dưới tựa đề để xem bài viết tiếng Anh, hoặc tải bản gốc được định dạng PDF: VN Unusually

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Việt, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | 31 phản hồi »

583. HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Đăng bởi anhbasam on 18/07/2010

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam

Văn phòng Nhân quyền

Phát hành tháng một kỳ

Số 1, 6/2010

HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng,

Thứ trưởng Bộ Công an

Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ.

Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?

Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…

Họ áp đặt những “tiêu chí” về nhân quyền cho các quốc gia mà họ đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị. Họ muốn tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng “dân chủ” và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền hợp hiến. Nếu quốc gia nào không chịu nghe theo thì họ đưa vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt”; rồi gây khó dễ cho hoạt động kinh tế, thậm chí cấm vận từng phần…

Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây luôn đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để “mặc cả”. Họ luôn phê phán chúng ta “không có tự do tôn giáo”; “không có tự do báo chí”; “không có tự do lập hội”… Mỗi khi có công dân Việt Nam vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nếu là phóng viên báo chí thì họ cho là “đàn áp báo chí”. Nếu là người theo đạo, người tu hành, thì họ bảo là chúng ta “đàn áp tôn giáo”. Còn với những người cố tình xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, có những hành động, âm mưu xâm hại đến an ninh quốc gia bị xử lý… thì họ gọi đó là những người “bất đồng chính kiến”, “những nhà dân chủ”…?

Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?

Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” .

Trước Cách mạng Tháng 8, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì Việt Nam là nước thuộc đia nghèo khổ, bị cướp đi quyền độc lập và không có tên trên bản đồ thế giới. Nhân dân ta phải chịu cái nhục mất nước suốt gần một thế kỷ và trong thời gian đó, khái niệm nhân quyền không hề có với người Việt Nam. Nỗi khát khao độc lập, tự do, có được quyền làm Người khiến cả dân tộc vùng lên đấu tranh, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp để có được Bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Suốt hơn 30 năm sau đó, dân tộc ta một lần nữa đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hàng triệu người Việt Nam đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Tư tưởng về nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng về quyền con người.

Đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.


Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao. Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia. Người dân đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hiếm có một quốc gia nào mà mỗi khi xảy ra thiên tai bão lụt, người dân hăng hái đóng góp trên tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều… như ở Việt Nam. Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo. Đói nghèo bởi dân tộc Việt Nam từng là nạn nhân của chế độ phong kiến, thực dân đế quốc. Nhất là các dân tộc thiểu số miền núi hàng ngàn đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên và chế độ phong kiến thực dân đã đẩy họ đến bần cùng quay về hoang dã. Vậy mà hiện nay những tư tưởng đen tối vẫn tìm mọi cách tuyên truyền lôi kéo họ trở về đời sống đói nghèo vô định, cản trở công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh đầy khó khăn gian khổ… Mặc dầu vậy, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.

Cách mạng là làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dânViệt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam.

Không ít những người trước đây đã từng tham gia trong chính quyền Sài Gòn cũ nay trở về Việt Nam đã phải thốt lên rằng  họ không thể tưởng tượng nổi là Việt Nam lại phát triển đến như vậy.

Người dân đã bắt đầu quen với luật pháp, quen với nếp sống kỷ cương. Và ngày hôm nay người dân Việt Nam đang bắt đầu đi vào kỷ nguyên sống và làm việc theo luật pháp. Người dân được tự do sống theo các quy định của pháp luật và họ ý thức được rằng chỉ có những nguyên tắc của pháp luật mới bảo vệ được các giá trị đạo đức, quyền con người khi bị chà đạp. Lợi ích và quyền cá nhân của mỗi người phải được đặt trong quyền lợi chung của cộng đồng, của dân tộc chính vì thế người dân có thể tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội và các tổ chức chính trị đoàn thể. Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội. Đó chính là tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Đảng Cộng sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhìn sang các quốc gia bên cạch, nếu đa đảng để mà đất nước mất ổn định, lâm vào những cuộc chiến “nồi da xáo thịt”; để mà nạn khủng bố xảy ra thường xuyên thì chắc chắn người Việt Nam không thể chọn cái sự đa đảng ấy. Người dân Việt Nam chắc chắn cũng không thể chấp nhận một sự tự do mà công dân có quyền mang vũ khí rồi xả súng bắn chết học sinh, hoặc tự do chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau; phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống…

Họ không thể mang quan điểm nhân quyền của nước họ áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng vì thế không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.

Cũng vẫn còn có những tiếng nói, còn những người không thấy được thành tựu của dân tộc. Họ sao chép những quan điểm, những tư tưởng của nước ngoài đưa vào Việt Nam và rồi nói đó là “phản biện” . Họ không chỉ bày tỏ những quan điểm mà còn mưu đồ tổ chức gây bạo loạn, hoặc móc nối với các tổ chức phản động lưu vong âm mưu lật đổ chế độ. Đó là những người rắp tâm vì mục đích cá nhân của mình mà coi rẻ lợi ích chung của cả dân tộc.

Khi đời sống vật chất được nâng cao thì những đòi hỏi về đời sống tinh thần cũng phát triển theo, đặc biệt là tâm linh. Trong những năm qua, hàng ngàn chùa chiền, cơ sở thờ tự đã được xây cất mới hoặc được trùng tu; các lễ hội văn hóa truyền thống đã được khôi phục ở tất cả các địa phương… Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được phát triển và coi trọng. Người dân đã hoàn toàn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Tôn giáo chân chính thiêng liêng là khuyến khích con người sống nhân ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng ta rất tôn trọng và tạo điều kiện cho tôn giáo phái triển nhưng cũng kiên quyết không để xảy ra những âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, để phá hoại mối đoàn kết toàn dân. Cho nên ai chưa hiểu về nhân quyền ở Việt Nam thì phải biết nhân quyền ở Việt Nam là: Cá nhân vừa phải có trách nhiệm với bản thân nhưng cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, phải gắn quyền con người với việc thực thi luật pháp thì quyền con người mới được đảm bảo.

Đảng và Nhà nước ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh và mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Chúng ta phấn đấu cho những mục tiêu nhân quyền, dân chủ mà đã được xác định, nhưng cũng không thể chấp nhận cái thứ “nhân quyền, dân chủ” theo kiểu phương Tây.

Mỗi công dân hãy biết quý trọng giá trị, bản sắc của dân tộc mình và hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.

Nhân quyền ở Việt Nam là như vậy!

————-

BS chú thích:

- Bài đăng trên tạp chí in, không có trên mạng, được đánh máy lại nguyên văn, không biên tập để đảm bảo tính chính xác về bản chất nội dung.

- Tấm hình có các vị chức sắc Phật giáo do nằm liền trên hai trang nên khi sao chụp chất lượng không được tốt. Với trang tạp chí có độ dày nhất định mà dàn tấm hình trang trọng như vậy làm hai, thành thử vị cao tăng Thích Thanh Tứ  dễ bị “các thế lực thù địch” tưởng ta ám chỉ ổng “Thân này khoái xẻ làm hai mảnh/Mảnh cho đời và mảnh cho … quan”.

- Mời đọc tin liên quan:    + Việt Nam ra tạp chí về nhân quyền (BBC).  [Bấm vào đây để vượt tường lửa 'nhân quyền']

+ Tạp chí Nhân quyền Việt Nam ra số đầu tiên (VOV News)

- Và đọc bài phân tích rất sắc sảo, đích đáng của blogger Kami:  Trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng về Nhân quyền.  Đề nghị Ban biên tập Tạp chí nên đăng bài nầy vào số 2, 7/2010. Làm vậy mới chứng tỏ ta có “nhân quyền”, cụ thể là quyền tranh luận, bày tỏ quan điểm của mình, và tờ tạp chí mới xứng đáng với cái tên của mình.

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Việt, Đảng/Nhà nước | 98 phản hồi »

571. CÁC CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐANG MẤT DẦN NHƯ THẾ NÀO

Đăng bởi anhbasam on 02/05/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CÁC CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

ĐANG MẤT DẦN NHƯ THẾ NÀO

(Newsweek, 22/3/2010)

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 22-4-2-10

Sự suy giảm toàn cầu về quyền tự do chính trị một phần là lỗi của tầng lớp trung lưu.

Quyền tự do chính trị đã nở rộ ở thế giới đang phát triển vào những năm 1990 và những năm đầu thế kỷ 21. Trong khi những kẻ độc đoán vẫn cai trị phần lớn châu Phi, Đông Âu và châu Á vào năm 1990, đến năm 2005 các chế độ dân chủ đã nổi lên trên khắp các lục địa này. Liên Xô đã biến hình thành nước Nga, một xã hội không bị bó buộc mà có vẻ có đôi chút giống xã hội ảm đạm trước nó. Cùng với sự sụp đổ của Saddam Hussein, việc lật đổ Taliban, một sự kết thúc rõ ràng những can thiệp quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ, và nhiệm kỳ tổng thống theo đường lối cải cách của Mohammad Khatami ở Iran, ngay cả Trung Đông, một thời gian dài là người đến muộn trong cuộc cải cách dân chủ, xem ra đang tham gia xu hướng này. Vào năm 2005, Tổ chức Freedom House lưu ý rằng chỉ 9 nước trải qua các cuộc thoái trào của chế độ dân chủ; trong bản báo cáo của mình vào năm 2009, nó ghi nhận sự suy giảm tại 40 nước ở châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông, và Liên Xô trước đây. Qủa thực, tổ chức này đã phát hiện rằng số lượng chế độ dân chủ được bầu ra đã giảm xuống còn 116, con số thấp nhất kể từ năm 1995.

Các thủ phạm chính gây ra sự suy giảm của chế độ dân chủ có thể gây ngạc nhiên. Nhiều người đàn ông và phụ nữ thuộc chính tầng lớp trung lưu đã từng giúp đẩy những kể độc tài ra khỏi chiếc ghế quyền lực thì hiện đang nhận thấy khó khăn như thế nào để có thể thiết lập dân chủ, và đang mong muốn những ngày của chế độ chuyên quyền. Tại sao điều này xảy ra? Trong nhiều trường hợp là bởi vì các nhà lãnh đạo ban đầu của các chế độ dân chủ còn non trẻ nổi lên vào những năm 1990 đã không nhận ra rằng xã hội tự do đòi hỏi phải có các thể chế mạnh mẽ, sự phản đối có tính xây dựng đối với đảng cầm quyền, và sự sẵn sàng thỏa hiệp. Thay vào đó, họ nhìn nhận chế độ dân chủ chỉ như các cuộc bầu cử bán chuyên nghiệp; sau khi giành chiến thắng, họ sử dụng mọi công cụ quyền lực để thống trị đất nước của họ và phân phát lợi ích cho các đồng minh hoặc những người cùng bộ tộc với họ. Cách diễn giải về chế độ dân chủ theo nghĩa hẹp này không chỉ bóp méo ý nghĩa thực sự của từ này mà còn làm cho dân chúng ở nhiều nước xa lánh, họ trở nên phẫn nộ khi những người dân chủ này có vẻ như không tận tụy với lợi ích của cộng đồng hơn các chế độ độc đoán trước đây.

Quá thường xuyên, các nước phương Tây, mà sau sự kiện 11/9 chuyển hướng tập trung sự chú ý của họ từ sự dân chủ hóa vào những năm 1990 sang cuộc chiến chống khủng bố, hầu như không lên tiếng khi chế độ dân chủ tiêu tan. Phương Tây đơn giản là không có thời gian ủng hộ những người theo chế độ dân chủ ở nước ngoài nữa. Trong thời điểm khác, như trong các trường hợp ở Malaixia và Pakixtan, sự cai trị độc đoán đột nhiên đem lại lợi ích cho phương Tây, vì Mỹ có thể dựa vào những kẻ chuyên quyền để giúp bắt giữ những kẻ bị tình nghi là khủng bố. Trong khi đó, việc Chính quyền Bush gắn kết chiến tranh ở Irắc với sự thúc đẩy chế độ dân chủ đã làm hỏng sự dân chủ hóa trong tâm trí của nhiều người, đặc biệt là ở Trung Đông.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng gây phương hại đến sức lôi cuốn của chế độ dân chủ. Đối với nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu ở thế giới đang phát triển, sự truyền bá chế độ dân chủ gắn với sự truyền bá chủ nghĩa tư bản, vì nhiều trong số những nước này mở cửa nền kinh tế cùng thời điểm với lúc họ chấp nhận sự tự do chính trị. Khi cuộc khủng hoảng làm giảm thu nhập của người dân, nhiều người đã đổ lỗi một phần cho chế độ dân chủ vì sự suy giảm kinh tế. Tổng thống Leonel Fernánder của Dominica đã tuyên bố tại hội nghị thượng đỉnh các lãnh đạo Mỹ Latinh vào năm 2008: “Những sự mong đợi về những triển vọng của chế độ dân chủ ở khu vực (Mỹ Latinh) đã nhường chỗ cho sự vỡ mộng vì chế độ dân chủ đã không thúc đẩy được sự  thịnh vượng về kinh tế”.

Kết quả là trên gần như mọi lục địa, chế độ dân chủ đang đi xuống. Ở Irắc, các nhà lãnh đạo hậu Saddam đầu tiên đã dựa vào các công cụ đe dọa cứng rắn nhất để đánh bại các đối thủ của họ và leo lên đỉnh của hệ thống chính trị, làm cho dân chúng vỡ mộng. Trong cuộc bầu cử của Irắc mới đây, số người bỏ phiếu đã giảm so với cuộc bầu cử năm 2005, bất chấp việc quảng cáo rầm rộ khuyến khích người dân đi bỏ phiếu. Ở Philíppin, Tổng thống Gloria Macpagal Arroyo trên thực tế đã sử dụng một sắc lệnh khẩn cấp vào năm 2006 để tuyên bố tình trạng thiết quân luật, và triều đại của bà trùng khớp với việc số các vụ bắt cóc và ám sát nhà hoạt động cánh tả do các lực lượng an ninh ngày càng gia tăng. Ở Campuchia, Thủ tướng Hun Sen và đảng của ông, mặc dù cũng được bầu ra, đã sử dụng các vụ kiện bôi nhọ ở các phiên tòa diễn ra chóng vánh, và bị buộc tội vì các vụ tra tấn  và thủ tiêu các nhà hoạt động để giành được quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống chính trị. Ở Nga, bắt đầu vào năm 2000, Vladimir Putin đã lợi dụng sự tức giận đang lan rộng trước sự sụp đổ của nền kinh tế Nga vào những năm 1990 để thúc đẩy thông qua những sự thay đổi đã làm tiêu tan bất cứ cơ hội nào dành cho chế độ dân chủ thực sự, thay thế các thống đốc khu vực được bầu ra bằng những người được Cremli bổ nhiệm, tiếp quản gần như mọi đảng chính trị độc lập, và vô hiệu hóa hầu hết phương tiện truyền thông đại chúng. Hugo Chávez của Vênêxuêla trong hơn một thập kỷ đã sử dụng sự dồi dào về dầu lửa để duy trì sự mến mộ của đông đảo người nghèo, chiến thắng hai cuộc bầu cử liên tiếp thậm chí trong khi biến hầu như toàn bộ bộ máy chính trị thành một dàn hợp xướng nịnh hót bằng việc đóng cửa các phương tiện truyền thông, thu xếp cho những người thân cận với ông vào các công ty nhà nước quan trọng, và sử dụng một cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia để xóa bỏ giới hạn nhiện kỳ của ông. Ở nhiều nước châu Phi, cái gọi là các nhà cải cách, như Tổng thống Kênya hiện nay Mwai Kibaki, lên nắm quyền đã tuyên thệ thúc đẩy sự tự do chính trị thực sự nhưng đã sớm sử dụng vị trí của họ đơn giản chỉ để loại bỏ các đối thủ và ủng hộ các đồng minh sắc tộc của họ.

Một trong những ví dụ nổi bật nhất về hiện tượng này là Thái Lan, mà vào những năm 1990 được mọi người nhìn nhận là một trong những chế độ dân chủ trẻ có triển vọng nhất trên thế giới. Kể từ khi đó Thái Lan đã phải trải qua một trong những sự sa sút lớn nhất. Vào những năm 1990, Thái Lan đã thông qua một trong những hiến pháp tiên tiến nhất trên thế giới đang phát triển, xây dựng một nền văn hóa sôi nổi đầy khí lực của các tổ chức phi chính phủ (NGO) có thể so sánh được với bất cứ nền văn hóa NGO nào ở phương Tây, và đỡ đầu cho giới truyền thông không bị kiểm soát mà đã đào bới hết vụ bê bối này đến vụ bê bối khác. Vào năm 2001, lướt trên làn sóng bất bình của công chúng sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã gây thiệt hại cho nền kinh tế của Thái Lan, Thaksin Shinawatra, một trùm tư bản trong lĩnh vực truyền thông, đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc gia nhờ vào lời hứa chỉnh đốn lại nền kinh tế và đem lại các chương trình trợ cấp xã hội cho người nghèo, những người chiếm đại đa số dân trên cả nước nhưng trong lịch sử đã bị các nhà chính trị trong giới tinh hoa của Thái Lan đối xử với thái độ khinh thị. Khi còn nắm quyền Thaksin đã thực hiện được một số lời hứa hẹn trước công chúng: chính quyền của ông đã phát động kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người và cung cấp các khoản tiền cho vay cho mọi ngôi làng để khởi động sự tăng trưởng kinh tế. Vị thủ tướng này đã tổ chức tỉ mỉ việc lắng nghe người nghèo, đi từ ngôi làng này sang ngôi làng khác để nghe ngay cả những lời phàn nàn nhỏ nhất.

Nhưng Thaksin không phải là người làm lợi cho chế độ dân chủ của Thái Lan như ông dường như cho thấy vào buổi ban đầu. Thay vào đó, ngay dù ông mở rộng hệ thống bảo vệ xã hội thì ông đã bắt đầu phá hoại ngầm nhiều thể chế dân chủ non trẻ của Thái Lan. Ông đã phá hủy bên trong ngành dân chính và bộ máy tư pháp, thay thế các nhà tư tưởng độc lập bằng những người thân cận, và buộc các phương tiện thông tin đại chúng phải im lặng bằng việc để các đồng minh mua các tập đoàn truyền thông và sau đó không phát thông tin chỉ trích. Tuyên bố “cuộc chiến chống ma túy”, Thaksin đã bị các tổ chức nhân quyền trong nước và quốc tế buộc tội đã bỏ qua các vụ giết người không xét xử và các vụ mất tích do lực lượng an ninh gây ra. Các nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng như luật sư Somchai Neeelapaichit đơn giản là đã mất tích. Nhìn chung, hơn 2.500 người đã chết một cách bí hiểm trong cuộc chiến chống ma túy. Michael Montesano, một chuyên gia về các vấn đề chính trị của Thái Lan tại viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Xinhgapo nói rằng Thaksin rất giống một nhà lãnh đạo chính trị-quân sự Mỹ Latinh, như Juan Jerón, hơn là một nhà chính trị dân chủ.

Một trong những tác động không chắc có thực của những sự nắm quyền như vậy là ở nhiều nước nơi chế độ dân chủ gần đây đã bị đẩy lùi, tầng lớp trung lưu đã từng thúc đẩy quyền tự do chính trị hiện nay cũng đang viện đến các chiến thuật ngoài luật pháp và không dân chủ- được cho là để cứu rỗi chế độ dân chủ. Chẳng hạn, tầng lớp trung lưu sống ở thành thị của Thái Lan, vốn đã bị sự lạm dụng quyền hành của Thaksin làm thất vọng một cách cay đắng và lo lắng ông này trao quyền cho người nghèo, đã nổi loạn. Thay vì thách thức Thaksin thông qua tiến trình dân chủ, chẳng hạn như bằng việc ủng hộ các đảng đối lập hay bắt đầu những tờ báo của riêng họ, họ đã lật đổ chế độ dân chủ bằng hành động chấm dứt các thể chế của chính phủ và kêu gọi một cuộc đảo chính quân sự thậm chí trong khi tuyên bố ủng hộ chế độ dân chủ. Để đẩy trước hết là Thaksin, sau đó là các đồng minh của ông này ra khỏi vị trí cầm quyền, các đám đông những người phản kháng đã cố gắng làm tê liệt Băng Cốc vào năm 2006, 2007 và 2008, mở một cuộc bao vây quốc hội, và vào năm 2008 tiếp quản sân bay chính, một hành động đã gây thiệt hại lớn cho ngành du lịch của nước này. Nhiều người đã kêu gọi sự can thiệp quân sự hoặc một kiểu chế độ chuyên quyền ôn hòa nào khác để khôi phục pháp trị và chống lại nạn tham nhũng, mà họ tuyên bố đã trở nên trầm trọng dưới thời Thaksin. Một nhà ngoại giao Thái Lan cũng đồng tình với những người phản kháng nói: “Chúng tôi phải cứu chế độ dân chủ, cho dù điều đó có nghĩa là bỏ qua các cuộc bầu cử”. Giới tinh hoa của Thái Lan đã đạt được những gì mà họ mong chờ: Thaksin phải sống lưu vong, các đối thủ của ông lên nắm quyền, còn chế độ dân chủ của Thái Lan đã bị phá hủy hoàn toàn.

Một hình thái tương tự đã diễn ra ở nơi khác. Những người biểu tình thuộc tầng lớp trung lưu ở vùng phía Đông giàu có hơn của Bôlivia đã phát động một chiến dịch chống chính phủ chống lại Tổrng thống Evo Morales, một cựu lãnh đạo công đoàn theo đường lối dân túy đã nỗ lực phân phối lại của cải, quốc hữu hóa các doanh nghiệp, và sử dụng cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia để tăng đáng kể quyền lực của mình. Ở Philíppin, nơi thế hệ người Philíppin trước đây đã tập hợp lại hạ bệ nhà độc tai Ferdinard Marcos, các cư dân Manila thuộc tầng lớp trung lưu đã hợp lực lại lật đổ Joseph Estrada, được nhân dân bầu ra và được người nghèo yêu mến nhưng bị buộc tội đã nhận một khoản hối lộ lớn. Sau khi Etrada rời nhiệm sở, nhiều trong số những người phản kháng thuộc tầng lớp trung lưu này đã tập trung lực lượng vào những nỗ lực lật đổ Macapagal Arroyo, cho dù bà vẫn tồn tại và vẫn nắm quyền.

Thất vọng với những người chuyên quyên được bầu ra này và tức giận với nạn hối lộ của các chế độ dân chủ còn non trẻ, nhiều nhà hoạt động thuộc tầng lớp trung lưu ở các nước đang phát triển hiện nay thậm chí đang mong chờ những ngày cai trị độc đoán cũ. Ở châu Phi, các cuộc đảo chính gầy đây ở Môritani và Nigiê được tầng lớp trung lưu chào đón, trong khi dữ liệu từ các cuộc điều tra, thăm do dư luận thường xuyên của Tổ chức Baromete châu Á xem xét thái độ của châu Á đối với chế độ dân chủ, cho thấy nhiều người trả lời đã trở nên thất vọng với hệ thống dân chủ của họ. Yu-tzung Chang,Yunhan Zhu và Chongmin Pak trong một bài báo có tiêu đề “Nỗi luyến  tiếc quá khứ độc đoán ở châu Á” đã lập luận: “Sự ủng hộ chế độ độc đoán ở châu Á đang phát triển thay vì thu nhỏ lại”. Đó cũng là trường hợp ở Nga, nơi Putin, cho dù ông xóa bỏ hầu hết các thể chế dân chủ, có số phiếu bầu cao đáng ngạc nhiên từ tầng lớp trung lưu và các tầng lớp xã hội khác. Trong một cuộc thăm dò dư luận của Angus Reid mới đây, khoảng 80% người Nga nói rằng họ tán thành việc làm của Putin, một tỉ lệ mà các nhà lãnh đạo phương Tây chỉ có thể mơ tưởng. Ngay cả ở Trung Quốc, nơi chính những người nghèo ở các vùng nông thôn hiện nay đi đầu trong các cuộc phản kháng, tầng lớp trung lưu ở thành thị có vẻ hài lòng với chế độ đang cầm quyền. Trong một nghiên cứu của Tổ chức Pew tập trung vào các khu vực thành thị, đại đa số người Trung Quốc nói rằng họ hài lòng với các điều kiện của đất nước.

Việc tầng lớp trung lưu buộc chế độ dân chủ phải lùi bước, bằng cách đảo chính và các biện pháp chống dân chủ khác, đã tước đi quyền bầu cử của người nghèo, gây ra nhiều cuộc phản kháng hơn. Ở Thái Lan, các đám đông phản kháng, hầu hết là những người nghèo, đã tiến hành các cuộc biểu tình bạo lực nhằm vào tầng lớp trung lưu cố gắng đẩy Thaksin ra khỏi chiếc ghế quyền lực. Tương tự ở Bôlivia, những người biểu tình chống Morales thuộc tầng lớp trung lưu hiện nay đang đối mặt với những người ủng hộ Morales đang tức giận mà phần lớn là những người nghèo. Ở Philíppin, những người nghèo tức giận vì người hùng của họ, Estrada, đã bị tầng lớp trung lưu lật đổ, đã phát động các cuộc tuần hành ủng hộ Estrada . Hiện nay, với việc đất nước này đang tiến tới một cuộc bầu cử khác, Estrada đã ra khỏi trại giam và lại chạy đua, đang lấy lại sự ủng hộ của những người nghèo trong nỗ lực giành vị trí Tổng thống của ông.

Các cuộc phản kháng chống lại làn sóng biểu tình này đã dẫn đến những chia cắt về tầng lớp xã hội, mà có thể mất hàng thế hệ để hòa giải. sau hơn một thập kỷ của chế độ dân chủ mong manh, nhiều thể chế được tạo ra vào những năm 1990 đã bị phá hủy, còn các nhà cầm quyền chỉ còn lại ít công cụ để giải quyết tình trạng căng thẳng về chính trị. Chẳng hạn, ở Nga cho dù một nhà lãnh đạo lên nắm quyền muốn khôi phục nhiều quyền tự do hơn nữa, thì ông/bà ta phải chiến đấu với hệ thống và bộ máy hành chính theo kiểu Putin, mà tập trung mọi quyền lực vào Cremli. Ở Thái Lan, cho dù Thủ tướng hiện nay, Abhisit Vejjajiva, muốn đem trở lại cho đất nước này sự tự do của những năm 1990, thì ông cũng không thể bởi vì trong lúc Thaksin nắm quyền và sau cuộc đảo chính, các nhà cầm quyền của Thái Lan đã xé bỏ hiến pháp cải cách của riêng nước này, hủy hoại các tòa án, và chính trị hóa phương tiện thông tin đại chúng tới mức mà các tờ báo hiện nay được hậu thuẫn một cách mù quáng bởi các lực lượng chống và ủng hộ Thaksin. Có thể phải mất hàng năm, nếu không nói là hàng thập kỷ, để một nhà  lãnh đạo mới xây dựng lại ngành dân chính, các tòa án và các thể chế khác với những người được đào tạo và công tâm đã được phát triển trước đây.

Có lẽ vấn đề lớn nhất là ở Irắc, nơi hàng triệu cử tri đã đi bỏ phiếu vào giữa tháng 3 lần thứ hai kể từ khi Saddam Hussein sụp đổ. Nhiều người hi vọng có cuộc sống tốt hơn sau sự sụp đổ của Saddam nhưng sự ủng hộ chế độ dân chủ đã sớm ra đi một phần là bởi vì những người Irắc trung lưu đã chứng kiến tình trạng hỗn loạn và sự ẩu đả chính trị của hệ thống chính trị mới. Vào những thời điểm tồi tệ nhất của tình trạng hỗn loạn của Irắc sau năm 2003, khi ý tưởng biến Irắc thành một chế độ dân chủ kiểu mẫu cho Trung Đông dường như là điên rồ, nhiều người Irắc trung lưu, đặc biệt là người Sunni, đã bắt đầu mong đợi sự trở lại của một nhà cầm quyền độc đoán, cho dù là một nhà cầm quyền thô bạo như Saddam. Trong một cuộc điều tra của ABC News hồi năm 2007, chỉ 43% người Irắc cho là chế độ dân chủ là hệ thống chính trị tốt nhất đối với đất nước của họ. Số người tham gia cuộc bầu cử gần đây nhất cho thấy nhiều người Irắc vẫn hết sức thất vọng. Và cho dù chế độ dân chủ của họ phát triển, họ không thể lơ là mất cảnh giác. Lịch sử của các chế độ dân chủ non trẻ khác cho thấy thành công này có thể mong manh như thế nào./.

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Quốc tế, Đảng/Nhà nước | 4 phản hồi »

490. Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại VN

Đăng bởi anhbasam on 03/03/2010

FOREXPROS.COM

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại Việt Nam

John Ruwitch

Ngày 1-3-2010


Hà Nội ngày 1-3 (Reuters) Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tương đối tốt, GDP tăng trưởng 5,23% năm vừa qua, nhưng đất nước này vẫn còn bị xem như là một nơi đầu tư mạo hiểm và tương đối mù mịt.

Giao dịch trao đổi tín dụng mặc định loại 5 năm đang được thực hiện ở mức chênh lệch khoảng 254 điểm cho Việt Nam, cho thấy mức rủi ro cao đứng hàng thứ hai trong bảng liệt kê của Thomson Reuters dành cho các nước mới nổi lên ở châu Á, mức chênh lệch trung bình trong bảng liệt kê này là 140.

Dưới đây là tóm tắt các rủi ro chính cần lưu ý ở Việt Nam:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Tỷ giá trao đổi cố định của Việt Nam thường xuyên gây áp lực kinh tế chồng chất. Ngân hàng trung ương đã giảm giá đồng bạc Việt Nam lần thứ ba hồi tháng hai, kể từ đầu năm 2008, để giảm áp lực về tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sau đó đã đổ thêm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nói rằng trừ khi chính phủ khôi phục niềm tin về tiền tệ bằng cách kềm chế lạm pháp và giảm thâm thủng mậu dịch, nếu không thì sẽ phải giảm giá đồng bạc thêm nữa.

Chính phủ đã liên tục thực hiện các biện pháp khác để cố gắng khôi phục việc kiểm soát thị trường tiền tệ. Họ đã buộc các nhà xuất khẩu lớn thuộc sở hữu nhà nước bán đô la, và thuyết phục những ngân hàng do nhà nước điều hành đảm bảo đủ đô la cung cấp theo nhu cầu. Họ đã liên tục hứa hẹn thực hiện hình phạt đối với việc buôn bán tiền tệ ngoài biên độ chính thức. Họ đã ra lệnh đóng cửa sàn vàng vào cuối tháng ba. Nhưng hiệu quả của các biện pháp bị hạn chế.

Các phân tích gia nói rằng giá trị đồng bạc nước này vẫn còn được giữ ở mức cao và những vấn đề thuộc về cấu trúc vẫn chưa được giải quyết. Tuy nhiên, rủi ro về một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán không cao. Khi kinh tế đổi chiều, lượng ngoại tệ có khả năng tăng, sẽ hỗ trợ cho tiền đồng.

Cần lưu ý:

- Những bước mà ngân hàng trung ương sử dụng để kềm chế lạm phát và kiểm soát việc thâm thủng mậu dịch. Hầu hết các phân tích gia dự đoán có sự suy yếu tiền tệ vào năm 2010.

- Khoảng cách về tỉ giá đô la/ đồng giữa thị trường chợ đen và tỉ giá liên ngân hàng – thước đo chính về áp lực tiền tệ.

HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ

Thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, và quan liêu nặng nề tác động lên hiệu quả của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cải cách kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi lợi ích xung quanh và các thành phần bảo thủ trong một chính phủ tập trung quá nhiều về vấn đề an ninh, đặc biệt trong những tháng chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản vào năm tới.

Các nhà phân tích nói rằng, có thể có một mức độ tê liệt chính sách, hoặc ít nhất là thái độ bảo thủ trong năm tới như là nạn bè phái và dùng thủ đoạn để tranh giành chức vụ trước Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc đầu năm 2011 sắp tới. Những vị trí lãnh đạo quan trọng và những thay đổi chính sách thường chỉ xảy ra khi có đại hội, năm năm một lần. Các đảng bộ ban ngành địa phương tổ chức hội nghị riêng trong năm nay.

Cần lưu ý:

- Trong khi các gói kích cầu kinh tế giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đã có các câu hỏi đặt ra về việc làm cách nào thâm hụt ngân sách được cấp tiền bù đắp, làm cách nào áp lực lạm phát được kiềm chế, và làm sao tránh được nguồn vốn đầu tư tư nhân ào ạt rút đi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt tay vào một kế hoạch giảm bớt thủ tục quan liêu và đặc biệt các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ xem kết quả ra sao.

- Việc đàn áp bất đồng chính kiến đã dẫn tới một vấn đề gai góc, trong đó các nhà ngoại giao phương Tây và các phân tích gia xem các vụ kết án có động cơ chính trị. Điều này đã làm sôi động hơn trong việc kêu gọi Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao. Cũng vậy, vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ đang đẩy mạnh việc thông qua nghị quyết về nhân quyền. Những sự việc này làm sứt mẻ quan hệ thương mại.

- Các nhà đầu tư thường liệt kê cơ sở hạ tầng lạc hậu là một trong những rào cản lớn của Việt Nam. Khả năng của chính phủ phối hợp nhanh, phát triển hiệu quả trong lĩnh vực này sau khi cam kết trợ giúp phát triển chính thức là một vấn đề trọng điểm.

THAM NHŨNG

Tham nhũng là đặc tính cố hữu ở Việt Nam ở mọi cấp mọi ngành của chính phủ, và nó là rào cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Các nhà chức trách đã công bố kế hoạch tấn công chống tham nhũng, và khuyến khích các phương tiện truyền thông theo dõi và kiểm tra, nhưng những nỗ lực này đã tan thành mây khói, sau khi các nhà báo bị bắt giữ do viết bài về các vụ bê bối lớn. Tiến triển về vấn đề [chống] tham nhũng vẫn là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc hấp dẫn đầu tư dài hạn.

Cần lưu ý:

- Thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng nhận thức về tham nhũng. Một sự cải tiến hay suy giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn. Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2009 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi kể từ năm trước, được xếp hạng 120 trên 180 quốc gia.

BẤT ỔN XÃ HỘI

Các cuộc đình công ở Việt Nam gia tăng, biểu tình phản đối và tranh chấp đất đai trong những năm gần đây liên tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoài. Rối loạn nổ ra ở các vùng nông thôn do việc nhà nước chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng của các cán bộ địa phương.

Báo chí nhà nước trong tháng giêng nêu ra một quan chức Bộ Kế hoạch nói rằng kinh tế năm nay khó khăn có thể dẫn tới nhiều cuộc đình công hơn. Mặc dù hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng bất ổn lớn có khả năng xảy ra, hoặc có thể có bất kỳ rủi ro sắp xảy ra cho chế độ đang có thách thức ngầm từ bên dưới.

Cần lưu ý:

- Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một phong trào phản kháng rộng lớn mang tính toàn quốc sắp sửa xảy ra do các tranh chấp địa phương. Cho tới nay, điều này dường như là chưa có.

- Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa – (Biển Đông). Vấn đề này được tích tụ cao độ tại Việt Nam, nơi mà sự ngờ vực Trung Quốc luôn luôn cao. Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hay nhận thấy sự yếu đuối của Việt Nam về vấn đề này, đều có thể khơi dậy sự ủng hộ cho các cuộc biểu tình rộng lớn.

Vai trò của giáo hội Công giáo. Những người Công giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình định kỳ quanh việc đất đai của nhà thờ bị chính phủ chiếm đoạt sau 1954. Giáo hội Công giáo, trong khi chính thức không tham gia vào chính trị, có khoảng 6-7 triệu giáo dân tại Việt Nam và được tổ chức khá tốt.

Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | 3 phản hồi »

458. CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM: NHÌN LẠI VÀ ĐI TỚI

Đăng bởi anhbasam on 01/02/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM:

NHÌN LẠI VÀ ĐI TỚI

Tài liệu tham khảo đặc biệt

(Đài BBC 14/1)

Thứ Bảy, ngày 23-1-2010

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) vừa công bố một tài liệu nghiên cứu quan trọng đánh dấu 10 năm ngày Việt Nam tiến hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước (2001-2010)

Cuốn sách “Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, tập hợp sáu nghiên cứu của các tác giả trong ngoài nước, đánh giá và đưa ra khuyến nghị xung quanh cố gắng cải cách của Việt Nam. Người biên tập cuốn sách, Jairo Acũna-Alfaro (UNDP), cho biết để có tập sách này, sáu nhóm tác giả đã phỏng vấn hơn 100 cá nhân và đại diện các tổ chức và tiến hành một số hội thảo.

Năm 2001, Thủ tướng Việt Nam (ông Phan Văn Khải) phê duyệt chương trình 10 năm, đề ra bốn lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức và cải cách tài chính công. Số liệu gần đây cho biết 60-70% công chức không qua đào tạo về quản lý nhà nước, 50% cán bộ cấp xã chỉ tốt nghiệp tiểu học hoặc trung học cơ sở.

Theo Bộ Nội vụ, từ 2003-2007, hơn 16.000 cán bộ, công chức đã chuyển ra khỏi khu vực nhà nước (chiếm 0,8% tổng số cán bộ, công chức). Tp.HCM là địa phương có số công chức ra đi lớn nhất (gần 6.500 người), trong khi Bộ Tài chính có hơn 1.000 người thôi việc.

Ông Jairo Acũna-Alfaro nhận xét: “Yêu cầu của người dân là một nền hành chính có tác dụng thúc đẩy phát triển và công bằng, có sự tham gia của các thành phần xã hội trong quá trình hoạch định chính sách của nhà nước, có giá trị thực thi và được giám sát chặt chẽ”. Tuy vậy, theo ông, cải cách hành chính tới nay “đem lại kết quả vừa khả quan vừa không mấy khả quan, đồng thời cũng cho thấy đây là một quá trình cải cách chứa đựng những căng thẳng nội tại”

“Viên đá quý hiếm”

Ba tác giả, David Koh, Đặng Đức Đạm, Nguyễn Thị Kim Chung, nhận xét có khoảng cách giữa mong muốn của lãnh đạo và năng lực và sự tự nguyện của bộ máy hành chính bên dưới. Vì vậy, ở Việt Nam, “cũng có những điển hình tốt về cung cấp dịch vụ công nhưng đó chỉ là những viên đá quý hiếm hoi”, như lời ba nghiên cứu gia trong khi bàn về sự phát triển một nền văn hoá dịch vụ công hướng tới chất lượng tốt nhất.

Các tác giả khái quát hiện trạng hệ thống dịch vụ công ở Việt Nam: “Hàng hoá và dịch vụ mà mọi người cần đều có sẵn, nhưng giá cao hơn so với trong vùng hoặc với những nước có cùng trình độ phát triển; các hàng hoá công cơ bản trong cơ sở hạ tầng như giao thông, nước, không khí, trường học, cơ sở y tế… có chất lượng thấp hơn các nơi khác”.

Từ bức tranh chung này, họ kêu gọi nguyên tắc thứ nhất của cải cách dịch vụ công phải là “tạo được văn hoá coi sự hài lòng của công chúng là thước đo cuối cùng đối với hiệu quả của bộ máy hành chính”. Việt Nam cũng không thể hy vọng vay mượn mô hình của các nước mà “phải lọc các ý tưởng áp dụng dựa vào hoàn cảnh tại Việt Nam”.

Cải cách không phải là tìm cách cắt giảm con số các bộ và phát triển theo đường thẳng. Ngược lại, dịch vụ công tốt có thể đòi hỏi mở rộng bộ máy chính phủ, hoặc tái cơ cấu chính phủ (không nhất thiết nhằm mục đích tinh giản bộ máy) nhằm làm cho việc cung cấp dịch vụ công hoàn hảo trở thành mục tiêu ưu tiên của chính phủ.

Sau khi nêu ra các nguyên tắc cải cách căn bản, ba tác giả đưa ra các khuyến nghị trong một số lĩnh vực cụ thể. Đáng chú ý, họ kêu gọi thành lập các cơ quan quản lý đại diện, thay cho việc rất nhiều loại dịch vụ công hiện nay do chính phủ trực tiếp cung cấp hoặc do chính phủ kiểm soát chặt chẽ thông qua các bộ. Các cơ quan này khác các bộ ở chỗ nó trực tiếp tương tác với các công ty và nhà cung cấp dịch vụ, trung gian giữa những người lập chính sách tại các bộ và các công ty. Các cơ quan quản lý này phải được trực tiếp thành lập bởi luật của quốc hội (do chính phủ đề nghị và dự thảo) và luật phải coi các cơ quan đó là thiết chế của chính phủ trong chính sách cụ thể đó.

Về mặt nhân sự, chính phủ chỉ nên giới hạn vai trò của mình ở việc chỉ định một số chuyên gia giỏi vào hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị này sẽ có quyền cao nhất đối với cơ quan quản lý đó, cơ quan duy nhất có quyền chỉ định tổng giám đốc. Cơ quan quảnlý chịu sự quản lý của bộ nhưng cơ quan này phải nộp báo cáo hàng năm lên Quốc hội và cả bộ lẫn cơ quan này đều có trách nhiệm giải trình trước Quốc hội.

Ba tác giả cũng đề nghị bãi bỏ các Sở và Phòng Giáo dục tại các địa phương, mà thay vào đó là ba văn phòng tại Hà Nội, Huế và Tp.HCM, bỏ quản lý hành chính của các sở, phòng đối với giáo viên và các trường. Ba văn phòng này sẽ phụ trách các vùng đó và sẽ là đại diện của Bộ tại vùng chứ không nằm dưới chính quyền tỉnh nữa. Họ cũng đề nghị xem xét coi phúc lợi dành cho những người đi xuất khẩu lao động là một dịch vụ công.

Trong kịch bản này, sẽ thành lập một Cơ quna Xuất khẩu Lao động Việt Nam để thay các công ty môi giới hiện nay. Các tác giả phê phán các công ty môi giới là chạy theo lợi nhuận nên cố tuyển càng nhiều càng tốt, không quan tâm điều kiện thị trường. Họ cho rằng cơ chế thị trường đã thất bại khi phó mặc một số lượng lớn lao động xuất khẩu cho một số nhỏ các công ty môi giới, và điều đó đòi hỏi chính phủ phải nắm lấy vai trò này và thành lập một cơ quan (không ăn lương của chính phủ, mà hoạt động trên cơ sở phi lợi nhuận và lấy thu bù chi).

Cải cách thể chế

Nếu đây là một chương bàn tới những vấn đề cụ thể trước mặt thì chương của Martin Painter, Hà Hoàng Hợp và Chu Quang Khởi lại nhấn mạnh tới cải cách thể ché mà theo họ “chứa đựng những căng thẳng và mâu thuẫn liên hệ với mô thức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.

Giới quan sát đồng ý rằng hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được đặt dưới sự độc quyền của Đảng. Gần đây có một số tiếng nói công khai đề nghị thi hành nguyên tắc tách vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Nhà nước.

Nhưng trên thực tế, như lời ba tác giả Martin Painter, Hà Hoàng Hợp và Chu Quang Khởi thì sự can thiệp của Đảng đã lan toả vào mọi công việc quản lý hàng ngày của Nhà nước. Họ chỉ ra rằng: “Cán bộ Đảng từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở vừa đưa ra các chỉ thị về chính sách tổng thể để từng nhánh của Nhà nước tuân theo, vừa thường xuyên can thiệp trực tiếp vào công tác quản lý và ra quyết định của các cơ quan Nhà nước này”.

Như vậy, cải cách hành chính và cải cách thể chế không tách rời nhau. Không thể hy vọng cải cách hành chính đơn thuần sẽ đem lại một bộ máy công quyền hiện tại trong khi Việt Nam muốn chuyển từ nước thu nhập thấp thành nước thu nhập bậc trung trong tương lai gần. Nếu không giải quyết hệ thống các vấn đề thể chế, tức đụng đến cải cách hiến pháp và đổi mới chính trị, cải cách hành chính tiếp tục chỉ tạo ra tiến bộ giới hạn.

Các tác giả chỉ ra chương trình nghị sự 10 năm vừa quá rộng lại quá hẹp. Nó quá rộng bởi vì các vấn đề nêu ra nằm ngoài phạm vi hành chính của chính phủ; nó quá hẹp bởi vì các vấn đề về cấu trúc và hệ thống phải được xem xét một cách đồng thời với các phương diện hành chính.

Cải cách thể chế ở Việt Nam đòi hỏi phải xem xét một số vấn đề quan trọng mang tính cơ cấu liên quan đến toàn bộ hệ thống chính quyền, cũng như các cải cách đối với hệ thống của hành chính nhà nước. Cải cách thể chế hành chính nhà nước không chỉ trùng lặp với cải cách pháp lý, nó còn có mối tương thuộc với các cải cách cơ cấu, có nghĩa rằng nó liên quan đến sự thay đổi mang tính hiến pháp và chính trị.

Theo ba tác giả, không thể phủ nhận đã có những thành tích trong cải cách thể chế ở Việt Nam, ví dụ có thêm nhiều luật mới, thủ tục hành chính đã đơn giản hoá, và có những địa phương thành công khi áp dụng cơ chế “một cửa”. Nhưng, họ khuyến cáo rằng những sự cải thiện đạt được là không đồng đều và những dấu hiệu “mệt mỏi vì cải cách” đã trở nên khá rõ ràng.

Ba tác giả Yeow Poon, Nguễn Khắc Hùng, Đỗ Xuân Trường lại theo dõi vấn đề cải cách công vụ, với yếu tố quan trọng nhất là làm sao sử dụng người tài trên cơ sở không phân biệt đối xử và công bằng. Như ngầm nhìn nhận vướng mắc từ cải cách thể chế, họ nói chưa thể nhanh chóng biến nền công vụ ở Việt Nam sang chế độ dựa trên thực tài.

Một lý do là khái niệm về “tính trung lập của công chức” chưa bao giờ được đặt ra, vì “hệ thống quản lý nhân sự của Đảng tồn tại cùng với hệ thống quản lý nhân sự của Chính phủ”.

Vì bối cảnh chính trị này, các tác giả thận trọng nói “thay vì có thể có những chuyển đổi nhanh chóng của nền công vụ Việt Nam sang chế độ dựa trên thực tài, cần có một đường hướng chính sách trung hạn mang tính thực tế hơn, đó là xây dựng một chế độ kiểm soát nhằm hạn chế quyền lực của cá nhân các cán bộ lãnh đạo của Đảng và Chính phủ trong việc tuyển dụng, khen thưởng và đề bạt công chức”.

Bước tiếp theo là gắn hệ thống bảo trợ về chính trị với các phương thức tuyển chọn dựa trên năng lực để người có năng lực nhất trong số các ứng viên có đủ tiêu chuẩn chính trị được giao công việc. Đặt ra một lộ trình dài hạn, các tác giả đề nghị thể chế hoá nguyên tắc thực tài bằng một bộ quy tắc ứng xử của công chức, và thành lập cơ chế khiếu nại độc lập. Đến khi chế độ thực tài đã thực sự bắt rễ, khi đó sẽ lập ra một uỷ ban, toà án hay một cơ quan giám sát độc lập để công chức có thể khiếu nại nếu cho rằng bị đối xử bất công. Công chức cảm thấy mình bị đối xử không công bằng có thể tìm đến cơ quan này để khiếu nại.

Ba chương còn lại trong cuốn sách đề cập tới quan hệ giữa hành chính công và kinh tế; quản lý tài chính công và vấn đề chống tham nhũng.

Đăng trong Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 8 phản hồi »

446. Ai

Đăng bởi anhbasam on 23/01/2010

Ai

Tác giả: Việt Phương

Thứ Bảy, ngày 23-1-2010

Tuần Việt Nam xin giới thiệu cùng độc giả bài thơ “Ai” của nhà thơ Việt Phương.


I

Cán bộ hành chính ta là ai

Con sâu mọt đáng đời nguyền rủa

Hành hạ dân đến tột cùng khốn khổ

Vơ vét dân đến cả mớ rau nghèo


Hay ta là người công chức gieo neo

Lương không đủ cho con theo thày học

Dẫu thương dân thì cũng đành bất lực

Cơ chế nào trói chặt sức con người


Hay ta luôn dằn vặt mãi không nguôi

Ngày hai buổi đứng ngồi vô tích sự

Vẹo sườn dưới chồng giấy tờ đồ sộ

Viết những điều cổ hủ đến buồn nôn


Ta giãy giụa trong vòng xoáy sinh tồn

Chỉ mong một môi trường không ô uế

Ta đã từng có một thời trai trẻ

Từng dưới cờ tuyên thệ quyết vì dân


Đời con người dẫu chỉ sống một lần

Khi cả nước hành quân lên hiện đại

Đến cây cằn bỗng nở mùa hoa trái

Đây là lần sống lại của đời ta


Sáng bừng lên những bài học từ xa

Qua ống kính vạn hoa thời đổi mới

Mở tầm mắt nhìn ra ngoài thế giới

Hành chính về trong nguồn cội nhân dân


Đất trời nay đang vào giữa mùa xuân

Nghe trong gió thì thầm lời nhắn nhủ

Thôi giã biệt những lối mòn xưa cũ

Đường ta đi cùng mở với bao người

II

Giám đốc doanh nghiệp ta là ai

Nửa đời chiến chinh nửa đời bao cấp

Thời đổi mới gian truân hơn đánh giặc

Đã mười năm quần quật mở thị trường


Ta là người tiên phong khai phá đường

Gánh trên vai nỗi đoạn trường cải cách

Hay ta là một con sâu luồn lách

Xoay kiến ăn trong những ngách bùn đen


Ta đọa đầy những điêu đứng triền miên

Trên búa dưới đe bốn bề chèn ép

Hay ta hưởng toàn rượu ngon gái đẹp

Khoét của dân giành hết mọi bùi thơm


Ta chất chứa bao niềm vui nỗi buồn

Bao nhiêu tủi hờn bao nhiêu uất ức

Biển quê hương đêm triều dâng rạo rực

Con sóng nào thao thức gọi bình minh


Ta chỉ là một kẻ tù binh

Cưỡi đầu hổ rùng mình không dám xuống

Hay ta là nhà thơ giàu mộng tưởng

Luôn vươn lên theo hướng mặt trời


Ta lo toan quanh quẩn cái tôi

Lo giữ ghế lo xu thời nịnh hót

Hay ta muốn dân lên người vị ngọt

Dốc đời ta chi chút trả ân tình


Ta lắng nghe đất nước chuyển mình

Từ sâu thắm lòng dân bao khát vọng

Những cay đắng và ngọt ngào cuộc sống

Đang chờ ta lồng lộng gió lên rồi

III

Là nhà khoa học ta là ai

Nhập cuộc sâu hay còn ngoài đổi mới

Ta chủ động hay ta là con rối

Được phát huy hay còm cõi góc bàn


Làm Đảng viên hay khệnh khạng làm quan

Sống chiến đấu hay sống mòn công chức

Bao câu hỏi giữa hai bờ hư thực

Ở đâu nguồn tri thức trả lời đây


Những xấu xa trắng trợn tự phơi bày

Những cơ chế trói tay người tâm huyết

Những cấp phát, xin cho và phê duyệt

Bao tiềm năng nằm liệt đến bao giờ


Ta trở về những thôn cũ làng xưa

Ta đến với những bến bờ mới lạ

Ta hỏi người, hỏi cây và hỏi đá

Hỏi núi rừng đồng lúa hỏi lòng dân


Những lực gì đang ngăn cản dòng sông

Vượt ghềnh thác muôn trùng về biển rộng

Những dự định thời thanh niên mơ mộng

Đêm đên còn cháy bỏng đốt tim ta


Sẽ đến ngày đất nước thăng hoa

Còn xa tắp hay đã là gần lắm

Đường thênh thang hay đường còn thăm thắm

Mẹ già ta đăm đắm đợi lâu rồi


Con tàu ta lướt sóng vượt ra khơi

Nào đâu lực nào đâu thời đâu thế

Cùng dân tộc ta hồi sinh sức trẻ

Nắng ban mai đã hé ở chân trời


Việt Phương (1995)

——-

* Ba Sàm chú thích thêm: Nhà thơ Việt Phương là cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng (Phan Văn Khải), thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (đã tự giải thể). Ông cũng từng làm thư ký, trợ lý cho các ông Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Duy Trinh và Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị.

Một số bài báo gần đây của ông và viết về ông: – Nhà thơ Việt Phương và chuyện khi “Cửa đã mở” (LĐộng). - PHẠM XUÂN NGUYÊN đọc thơ VIỆT PHƯƠNG (Lê Thiếu Nhơn/VNN).Biên bản cuộc họp về tập thơ Cửa mở của Việt Phương (Hội ngộ Văn chương).Nhà thơ Việt Phương và những cảm nhận về anh Sáu Dân (TuanVN)

(Hình ở đầu bài của báo VNCAND)

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Tham nhũng, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 9 phản hồi »

417. Điểm sách: OSS và HỒ CHÍ MINH

Đăng bởi anhbasam on 02/01/2010

OSS và HỒ CHÍ MINH

Đồng minh bất ngờ trong

cuộc chiến chống phát xít Nhật

Cuốn sách nầy cùng một cuốn nữa (Why Viet Nam – Tại sao lại là Việt Nam) là những thứ rất cần cho ta nhìn lại cái bi kịch của Dân tộc, dường như luôn bị lỡ những “chuyến tàu” đi cùng với bè bạn bốn phương, để rồi nay bị anh “bạn” phương Bắc lấn lướt mà cắc cớ khó làm cho người bạn nào khác tin là mình thật lòng làm bạn với bốn phương, để đặng dang tay giúp đỡ, phần vì kẻ ức hiếp lại là “anh em môi răng” với mình. “Ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đau quá!

Tại sao cứ phải cố giấu đi, làm sai lệch nhiều sự thực lịch sử vô cùng quan trọng liên quan tới vận mệnh, tương lai Dân tộc? Đọc cuốn sách nầy, bà con sẽ thấy một phần.

Trong sử “chính thống” cũng như tài liệu về Hồ Chí Minh, chưa bao giờ các sử gia nói tới chuyện ổng đã từng có những quan điểm tương đồng, những mối quan hệ gần gũi, hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ của người Mỹ ra sao. Gần như duy nhứt có tình tiết ổng trích một đoạn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, hoặc gần đây đôi ba bài báo thận trọng đưa ra vài thông tin “tham khảo” … Nhưng chuyện này vẫn vô cùng là bí ẩn, nên mới từng có tổng biên tập một tờ báo danh tiếng bị mất chức vì dám … rờ tới sự thật lịch sử liên quan tới lãnh tụ. Đến cả chuyện mới nữa là người ta bỏ tiền sao chép,mua rất nhiều tài liệu về  HCM lưu trữ bên Nga, vậy mà mấy năm qua rồi hổng thấy có công bố ra hết cho nhân dân biết mà mừng (vì được biết sự thực), nhân dịp đợt học tập dài dài tấm gương đạo đức nữa chớ (sao không ai nêu tấm gương ổng kiên trì chịu đựng khi bị cái ông Sít-ta-lin trù ẻo bảy tám năm trời bên đó?)

Tui xin tóm lược cuốn sách, là thời Thế chiến thứ hai, khi HCM đang hoạt động ở bên Nga-Sô, sau đó là Tàu, tình hình thế giới và trong nước cực kỳ phức tạp. Mỹ tuy là đồng minh với tụi Tây thực dân nhưng lại rất chống chánh sách thực dân của Anh, Pháp, Hòa Lan. Những người kháng chiến Việt Nam tuy chống Tây đô hộ nhưng lại là “đồng minh” với Tây và nhiều nước chống phát xít Đức, I-ta-li, Nhựt Bổn. Anh chàng Nga-Sô tuy là đồng minh với Mỹ, nhưng lại là cộng sản-tử thù với phe tư bổn Mỹ. Ảnh cũng hổng tin gì cái lực lượng kháng chiến Việt Nam của HCM, vì ảnh xét lý lịch, ngó bộ ổng khoái lo giải phóng Dân tộc mình là chính chớ không mấy mặn mà cái vụ “giải phóng toàn nhơn loại” (nay càng thấy tào lao quá trời rồi – ổng tài quá há?) Thêm nữa ổng cũng từng bị đì bảy tám năm bên “thành trì XHCN” rồi, nên mới tính chuyện bắt tay với anh Mẽo hay hơn. Nhưng Mẽo bị cắc cớ, tuy chống thực dân nhưng cũng không muốn mất lòng ông bạn Tây thực dân, cần chung lưng chống phát xít và cộng sản, lại vừa nghi ngờ HCM là cộng sản gộc, mà trong nội bộ cũng có hai phe (phe bênh HCM, phe chống). “Đen” cho ta nữa, là Tổng thống Mỹ Roosevelt, người hăng hái chống chủ nghĩa đế quốc-thực dân Pháp nhứt thì lại mất sớm đúng vô lúc quan trọng. Ổng từng có nhiều động thái và tuyên bố có lợi cho nền độc lập hoặc “uỷ trị quốc tế” của Việt Nam, như “Đông Dương không thể quay lại với Pháp”, “… Đông Dương nên được lấy khỏi tay người Pháp và đặt dưới sự ủy trị quốc tế”. Hay trong một giác thư gởi cho ngoại trưởng Cordell Hull, ổng viết ”Hơn một năm qua tôi đã bày tỏ quan điểm rằng, Đông Dương không nên trở lại với người Pháp mà nên được quản lý bởi một cơ quan ủy trị quốc tế. Pháp đã chiếm nước này – 30 triệu dân – trong gần 100 năm, và lúc này người dân nghèo khổ hơn giai đoạn đầu … Trường hợp Đông Dương hoàn toàn rõ ràng. Pháp đã bòn rút nơi này 100 năm. Người dân Đông Dương có quyền hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”(trang 75). Đương nhiên lý do ông này chống Pháp cai trị tiếp xứ này còn nhiều, đọc vô sẽ thấy hấp dẫn vô cùng.

Chưa hết cực cho ông già. Đó là trong nước nhiều lãnh tụ cộng sản ít được “đi đây đi đó” như ổng, lại sớm được đưa vô “lò luyện” của “thành trì XHCN”, nên cái đầu cách mạng nó “nóng” quá, vậy là các cha nội này cũng coi ổng là người không “kiên định lập trường” … Còn nữa. Đó là nhiều đảng phái không phải “cộng sản” cũng kháng chiến chống Tây đô hộ, họ cũng có thế lắm chớ bộ. Vậy là vô cùng khó nếu như muốn có “ngọn cờ” đoàn kết các lực lượng kháng chiến trong nước, đồng thời tranh thủ Mẽo, Nga-Sô, … Nhưng thiệt kỳ lạ, ông Hồ Chí Minh ổng ra chiêu hợp tác, nhận cung cấp tin tức tình báo cho cơ quan tình báo Mẽo OSS (tiền thân của Xịa CIA ngày nay) cùng đồng minh chống phát xít. Có cái chưn đó rồi, ổng dựa vô, tận dụng cái “mác” có cao bồi Mẽo sau lưng. Trời đất, bữa ổng từ bên Tàu về nước sau bao nhiêu năm phiêu bạt, rồi từ Tân Trào về Hà Nội, đều có Mẽo mắt xanh súng ống, điện đài … ngon lành đi theo “hộ tống”, ổng còn thủ bức hình chụp chung tới tướng Mẽo Claire Chennault chỉ huy Không đoàn Cọp Bay 14 khét tiếng, đem ra nhá nhá … làm các “đàn em” trong nước ngó xanh le mắt, theo rần rần, khỏi thắc mắc chi cho mệt. Vì hồi đó cả thế giới kính nể anh cao bồi Mẽo nầy dễ sợ luôn.

Nhưng rồi làm sao mà sau đó ta hổng thân với Mẽo nữa? Rồi còn uýnh nhau te tua …, theo hai anh Nga, Tàu rồi “khánh kiệt”. Thiệt là bi kịch lịch sử. Nhìn vô đó mà rút kinh nghiệm cho ngày nay, mai sau. Xin bà con đọc hết mới rõ được.

Và trong những ngày sục sôi chuyện anh “bạn 16 chữ vàng” xâm lấn đảo này, ta càng thấy cần suy ngẫm kỹ chuyện cũ để rút ra bài học kinh nghiệm, biết tìm bạn mà chơi, biết cách “chơi” ra sao cho bạn tin. Riêng Ba Sàm tui còn liều đưa ra cái ngu ý là nay ta học tập tấm gương HCM, vậy nên học ngay cái cách chơi với Mẽo mà hạn chế bớt anh Tàu hay ức hiếp đi. Thời đó nhiều cái khó khăn, nên ổng mới hổng đi tới được với Mẽo, còn ngày nay thời thế thuận lợi quá trời rồi … Uở, nhưng hổng còn “ông cụ” nữa ? … Còn lại mấy “ông kẹ” giờ thì … bà con biết rồi. Tui chào thua!

À, chút xíu quên! Còn cái lý do là làm sao người ta hổng muốn nói tới cái màn hợp tác thân thiện này với anh Mẽo, để tới giờ mới nhín nhín đưa ra? Hiểu dễ ợt. Đó là nhiều năm sau, vì cái trớ trêu của lịch sử buộc ta phải uýnh nhau với Mẽo, dzậy mà nếu “ca” là từng thân với nó, tổng thống của nó chống chánh sách thực dân, đấu tranh cho tự do … thì còn ra cái gì nữa. Phải chưởi, nói xấu nó tới số đi chớ ! Rồi ta theo “thành trì XHCN”, còn Mẽo là “thành trì TBCN”, vậy mà kể ra là ta từng thân thiết với kẻ thù thì coi như ta “phản bội” chớ còn chi nữa. Nhứt là đã từng tuyên truyền về “chủ nghĩa thực dân cũ” (Pháp) và “chủ nghĩa thực dân mới” (Mỹ) rồi, giờ không lẽ lộ ra là chính Mẽo rất chống “chủ nghĩa thực dân” sao? Các quan trên coi dân mình còn đang ngu si vì bị cái “chánh sách ngu dân” của Tây bao năm rồi, nên sợ nói thiệt ra bà con hổng có tin. Rồi các cha cũng ngán cái vụ nếu nói ra, bà con, cán bộ mình khoái Mẽo quá, chạy theo rần rần là … quê độ. Dzậy đó. Giờ thì nói thiệt hết cũng chưa hết … ngán, nhứt là mấy cha từng ham xạo thấu trời luôn, giờ cũng run, thôi thì nó thiệt … từ từ. Bà con ráng chờ nha. Kiếp sau là sướng thôi à.

Xin chú ý thêm: đó là cuốn sách nầy cũng được chua bên trang trong là “Sách tham khảo”, ở xứ sở đầy dẫy điều bí mật không biết tới kiếp nào mới được bật mí thì nó mang tính “tiếp thị” cực cao. Nhưng quan trọng nhứt là ba cái sách loại nầy ưa nói … thiệt, ít bị “ăn bớt” chữ khi dịch, biên tập. Mua nhanh rủi hết nha bà con!

—-

Một độc giả méc là toàn bộ cuốn nầy đã được đưa lên Việt Nam Thư quán, mời bà con bấm bô đây để coi. Xin lưu ý: trong đó có mục lựa chọn “Xem dưới dạng Ebook”, rất thuận tiện, ngay trên đầu trang, cả chọn lựa cỡ chữ nữa… Và thêm  một mẹo vặt mà trong đó không có. Đó là khi bà con đang xem nửa chừng phải nghỉ, nên save (lưu) lại trên máy ngay đoạn đó, bữa sau chỉ việc mở luôn trang đã lưu, đỡ phải lần lại từ đầu mất công.

Nhân đây xin giới thiệu lại với bà con về trang VNTQ nầy, một Thư viện điện tử khổng lồ, với số người truy cập hàng ngày ngang một trang báo lớn của VN, hiện được Alexa xếp hạng 217 tại VN, 6026 tại Hoa Kỳ và 10.714 trên toàn thế giới. Kính mời.

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Điểm sách, Đảng/Nhà nước | 19 phản hồi »

415. Cựu Trưởng Ban Biên giới Lưu Văn Lợi nói về bức Công hàm của TT Phạm Văn Đồng

Đăng bởi anhbasam on 31/12/2009

Mời bà con tham khảo thêm một đoạn trong chương trình truyền hình của Đài ARTE.TV, ngày 15. 03. 2006, nói về Lịch sử của Đài Loan và Trung quốc. Phút thứ 03:05 có chỉ rõ ranh giới biển của Trung Quốc năm 1885 không có Hoàng Sa và Trường Sa.

Cựu Trưởng Ban Biên giới Lưu Văn Lợi

nói về bức Công hàm

của TT Phạm Văn Đồng

CUỘC TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

(Trích, phần nói về bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng)


LỜI NÓI ĐẦU

Từ Hội nghị các ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) tại Manila tháng 7 năm 1992 đến Hội nghị SEAPOL ba khu vực tại Bangkok tháng 12 năm 1994, các đại biểu đều lo lắng về tình hình an ninh của Biển Đông và trao đổi ý kiến về sự hợp tác trong khu vực.

Trong khu vực này có hai vấn đề lớn nổi lên: vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và vấn đề hợp tác trước hết là về khai thác tài nguyên. Các đại biểu đều cho rằng nếu không giải quyết được vấn đề chủ quyền thì khó mà giải quyết được vấn đề hợp tác khai thác tài nguyên. Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, phức tạp là vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ba năm lại đây, cùng với việc giải quyết vấn đề Campuchia, việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một nhân tố ổn định quan trọng đối với Đông Nam châu Á. Việt Nam không chỉ mở rộng quan hệ với các thành viên của ASEAN mà Việt Nam đã trở thành quan sát viên của ASEAN, vấn đề trở thành thành viên chính thức của ASEAN chỉ còn là vấn đề thời gian, vì điều kiện đã chín muồi.

Giữa Việt Nam và Trung Quốc quan hệ các mặt đang phát triển, đang còn những cố gắng từ cả hai phía để giảm bớt bất đồng, từng bước giải quyết các tranh chấp giữa hai nước. Vì lợi ích của hai nước, nên và cần tính việc giải quyết cuộc tranh chấp về hai quần đảo Hoàng Sa và trường Sa.

Trong bối cảnh thuận lợi đó, Nhà xuất bản CÔNG AN NHÂN DÂN trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn “CUỘC TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA” của ông Lưu Văn Lợi, một nhà nghiêm cứu quen thuộc. Trên cơ sở những tài liệu lịch sử vững chắc, xuất phát từ những tiêu chuẩn được chấp nhận của luật pháp quốc tế, tác giả đã bình tĩnh, khách quan phân tích lập trường của cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc để đánh giá khả năng, phương hướng giải quyết vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa.

Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề Hoàng Sa vì lợi ích của hai nước Việt-Trung, vì hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á.

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN, 1995

LƯU VĂN LỢI

Nhà báo, luật gia, nhà ngoại giao:

- Chủ bút báo tiếng Pháp LA REPUBLIQUE năm 1945, tờ báo tiếng Pháp LEPEUPLE năm 1946 đều xuất bản tại Hà Nội – Thư ký toà soạn tờ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, tờ báo của QĐNDVN (1951)

- Uỷ viên thường vụ Hội Luật gia Việt Nam (1980-1985)

- Thành viên Đoàn đại biểu Bộ Tổng tư lệnh QĐNDVN gặp đoàn đại biểu Bộ Tư lệnh Quân Đội viễn chinh Pháp tại Hội nghị Trung Giã năm 1954.

Trợ lý đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thuỷ trong các cuộc thương lượng bí mật với ông Henry Kissinger, cố vấn an ninh của Nhà trắng (1972-1973).

Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị liên hợp bốn bên tại Sài Gòn năm 1973.

Trưởng ban Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989).


CHƯƠNG V

3. Họ nói Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa.

Bắc Kinh tuyên truyền rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa nhưng sau lại thay đổi thái độ. Họ đã đưa ra bằng chứng là bức thư của Thủ tướng Phạn Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai về vấn đề lãnh hải của Trung Quốc, tuyên bố của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà năm 1965 nói rằng Tây Sa là của Trung Quốc.

Trước hết nói về bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mọi người chắc chưa quên rằng khi đó là thời kỳ của chiến tranh lạnh, đế quốc Mỹ đang can thiệp vào miền Nam Việt Nam để ngăn chặn chủ nghĩa xã hội. Tuy bị thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, những phần tử diều hâu trong giới quân sự Mỹ vẫn hò hét chiến tranh chống Trung Quốc, hạm đội của Mỹ hoạt động trong eo biển Đài Loan. Trung Quốc cũng phải phòng ngừa một hành động phiêu lưu của hạm đội Mỹ, nhất là từ khi quân Trung Quốc pháo kích liên tục Kim Môn (quémoy) Mã Tổ (matsu). Trong bối cảnh đó, ngày 4-9-1958 Trung Quốc công bố quy định lãnh hải của mình rộng 12 hải lý.

Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai bức công hàm sau đây:


“Thưa đồng chí Tổng lý”

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hai lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.


Ở đây thủ tướng Phạm Văn Đồng không định đề cập đến vấn đề pháp lý, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không định nói về Hoàng Sa, Trường Sa, mà chỉ nghĩ đến một điều: sự hung hăng của đế quốc Mỹ và hoạt động của hạm đội 7 trong eo biển Đài Loan đe doạ Trung Quốc, do đó thấy cần ủng hộ càng sớm càng tốt việc quy định lãnh hải rộng 12 hải lý để cản tay đế quốc Mỹ.

Những người Việt Nam và Trung Quốc trung thực đã sống những năm 50, 60 đều còn nhớ mối quan hệ giữa nhân dân hai nước “vừa là đồng chí vừa là anh em”, trong ý nghĩ “Trung-Việt nhất gia”, do đó coi bản công hàm đó là biểu hiện của tình hữu nghị Trung-Việt. Nếu ai cho đó là sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa thì là đi quá nội dung và mục đích của công hàm, đồng thời phủ nhận tình cảm thiêng liêng trong lòng người Việt Nam, người Trung Quốc thời bấy giờ.

Việc nói Tây Sa là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ hay câu nói của thứ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây Sa là có thật, nhưng đó không phải là lời tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, càng không phải là từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Cần đặt các sự kiện đó trong bối cảnh lịch sử của nó, vào thời gian những năm 1956 đến 1965 khi nhân dân Việt Nam phải đấu tranh chống sự can thiệp xâm lược của đế quốc Mỹ ở cả hai miền.

Tình hình nước Việt Nam khi đó.

Về mặt hành chính, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 Việt Nam tạm chia làm hai miền với vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời trong khi chờ đợi thống nhất. Miền Nam Việt Nam, Chính phủ Việt Nam cộng hoà đã tiếp quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1956 khi Pháp rút khỏi Đông Dương và từ đó đã tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính, tổ chức khảo sát và khai thác tài nguyên về biển đồng thời kiên quyết bảo vệ hai quần đảo chống lại những hành động và ý đồ xâm chiếm của Bắc Kinh cũng như các nước khác. Chính phủ Việt Nam cộng hoà cũng bảo vệ lợi ích và chủ quyền của mình tại các hội nghị và tổ chức quốc tế. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam cùng với Chính phủ Sài Gòn đã tham gia ký kết Định ước về Việt Nam và đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trách nhiệm quản lý lãnh thổ bên này bên kia vĩ tuyễn 17 là rõ ràng.

Về mặt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ năm 1965 nhân dân Việt Nam phải đối phó với cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc. Đây là một cuộc chiến tranh ác liệt nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó lực lượng quân sự cực mạnh của Mỹ đã huy động tất cả bộ máy chiến tranh của nó từ pháo đài bay, thiết bị điện tử đến vũ khí hoá học. Nhân dân thế giới coi đây là cuộc chiến đấu giữa David và Goliath và coi cuộc chiến tranhViệt Nam là vấn đề lương tri của thời đại. Nhân dân Việt Nam nhất định không thể chịu để mất nước một lần nữa và quyết định làm tất cả cái gì có thể làm được để chống xâm lược, đó là vấn đề sống còn của cả dân tộc Việt Nam.

Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa đế quốc ngay từ khi mới ra đời và cũng ngay từ đó các nước thuộc địa hoặc mới giành được độc lập đều coi Bắc Kinh là niềm tin và hy vọng. Trung Quốc không muốn đụng đầu một lần nữa với đế quốc Mỹ, nhưng cần phải tiếp tục giương cao ngọn cờ chống đế quốc, tiếp tục giúp đỡ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc. Việt Nam lại là một nước xã hội chủ nghĩa, một nước láng giềng anh em, “núi liền núi, sồn liền sông”. Trong tình hình đó, Trung Quốc trở thành đồng minh trên thực tế của Việt Nam về chính trị, tinh thần và vật chất. Họ đã gửi sang Việt Nam vũ khí, đạn dược, lương thực, xe cộ và dành con đường quá cảnh cho hàng viện trợ của Liên Xô và Đông Âu và các nước khác. Người Việt Nam và Trung Quốc coi quan hệ giữa hai nước như “môi với răng”.

Mỹ cũng không muốn một lần nữa đụng đầu với Trung Quốc. Việt Nam muốn gắn chặt cuộc kháng chiến của mình với Trung Quốc càng nhiều càng tốt. Việt Nam chân thành tin cậy Trung Quốc và cho rằng chiến tranh xong mọi vấn đề lãnh thổ sẽ đượch giải quyết tốt đẹp giữa những người “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Về lý luận và thực tiễn đối với người Việt Nam đó là tình đoàn kết quốc tế.

Phải đứng trên tinh thần đó của nhân dân Việt Nam và bối cảnh những năm 50-60 để hiểu các tuyên bố nói trên. Và cũng để hiểu hành động của những đồng minh của Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1949 quân đội nhân dân Việt Nam, theo yêu cầu phối hợp của những người cộng sản Trung Quốc ở phía Nam, đã đưa quân vào vùng Thập Vạn Đại Sơn Tây, dãy núi lớn giữa hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông, tiêu diệt nhiều vị trí quân sự của Tưởng Giới Thạch, giải phóng được Trúc Sơn (lãnh thổ Trung Quốc) và sau đó đã trao trả Trúc Sơn cho quân giải phóng Trung Quốc. Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1945, năm 1955 Pháp rút khỏi miền Bắc vĩ tuyến 17 và đảo Bạch Long Vĩ khi đó quân đội nhân dân còn bận tiếp quản và quản lý các nơi khác mà Pháp đã trao trả, cho nên trước mắt không đủ sức quản lý đảo Bạc Long Vĩ ở cách xa Hải Phòng 170km, họ đã phải nhở Trung Quốc quản lý hộ. Phía Trung Quốc đã chấp nhận và năm 1957 đã trao trả phía Việt Nam đảo và còn tặng một tầu thuỷ nhỏ để đảm bảo sự liên lạc giữa đất liền và đảo. Sự tin cậy của Việt Nam đến mức là khi Trung Quốc giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng, Tổng cục đường sắt Việt Nam đã chấp nhận một văn bản có ghi điểm nối ray giữa hai nước “đi qua đường quốc giới”, vào sâu lãnh thổ Việt Nam 316 mét so với đường biên giới chính thức giữa hai nước đã xác định trong Hiệp định đường sắt Việt-Trung ngày 25-5-1955.

Việt Nam cũng đã cư xử như thế với những anh em người Lào. Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, phía Việt Nam đã tạm để một số lãnh thổ của Việt Nam cho lực lượng yêu nước Lào làm căn cứ hoạt động như vùng Na Mèo (tỉnh Thanh Hoá), vùng Keng Đu (tỉnh Nghệ An). Cũng như lực lượng yêu nước Lào đã đồng ý tạm để Việt Nam xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh trên một bộ phận lãnh thổ Lào giáp với Việt Nam (những vùng đất gọi là giải phóng, do lực lượng yêu nước Lào quản lý).

Sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã cùng nhau giải quyết thoả đáng mọi vấn đề: Việt Nam đã trả lại Lào những lãnh thổ đã mượn của Lào và Lào đã trả Việt Nam những lãnh thổ đã mượn của Việt Nam. Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia trên cơ sở tôn trọng đường biên giới vốn có, khi hai nước tuyên bố độc lập năm 1945.

Quan hệ giữa PLO và nước A Rập ngày nay, về nhiều mặt, cũng tương tự mối quan hệ giữa Việt-Trung Quốc và mang dấu ấn của tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Nói đây là một đặc điểm của thời đại cũng không có gì là quá đáng.

Những lời giải thích trên đây có thể được chấp nhận hoàn toàn, một phần hay không được chấp nhận . Mặc dầu vậy những lời tuyên bố nói trên không phải là sự tuyên bố của Việt Nam từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và vẫn phản ảnh một sự thật trong giai đoạn tốt đẹp nhất của tình hữu nghị Việt-Trung.

*

* *

Trung Quốc rất quan tâm tuyên truyền vấn đề bản đồ, họ đã đưa ra nhiều bản đồ. Đây không phải là vấn đề quan trọng, nhưng cũng cần nêu thêm một vài nhận xét:

1. Trung Quốc luôn luôn nói các đảo Nam Hải là phần cực Nam của Trung Quốc và đưa ra nhiều bản đồ. Nhưng họ lại không dẫn chứng những sách hoặc bản đồ cổ của Trung Quốc chỉ vẽ lãnh thổ Trung Quốc trên đảo Hải Nam. Chẳng hạn đoạn tổng luận của cuốn Trung Quốc địa lý giáo khoa thư đã viết:

“Phía Nam từ vĩ độ Bắc 180 13’, tận cùng là bờ biển Nhai Châu đảo Hải Nam, phía Bắc đến vĩ độ 530 50’, tận cùng là chỗ gặp nhau giữa sông Hắc Long Giang và sông U-xu-ri; phía Tây đến kinh tuyến 420 11’, tận cùng là núi Tùng Lĩnh, Nam bắc gồm hơn 36 độ, rộng hơn 7.100 dặm, Đông Tây gồm hơn 61 độ, dài hơn 8000 dặm. Diện tích 32.605.156 dặm vuông, chiếm ¼ Châu Á, 1/10 lục địa thế giới, lớn hơn cả Châu Âu”.

Tổng luận đó hoàn toàn ăn khớp với Hoàng thanh trực tỉnh toàn đồ năm 1862 đời vua Đồng Trị và Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ năm 1894 đời vua Quang Tự, đều là bản đồ chính thức, mà không vẽ các quận đảo Tây Sa và Nam Sa.

Trong Quảng Đông dư địa đồ năm 1897 đời vua Quang Tự do tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuân đề tựa, có Quảng Đông toàn tỉnh dư địa tổng đồQuỳnh Châu phủ đồ cũng không vẽ bất cứ quần đảo nào ở biển Nam Hải, phù hợp với lời dẫn ghi giới hạn “cực nam” của lãnh thổ Trung Quốc là “núi ngoài cảng Du Lân, Châu Nhai”.

Theo các án lệ, giá trị của các bản đồ trong một cuộc tranh chấp về chủ quyền chỉ là tương đối. Phán quyết của trọng tài Max Huber trong vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ và hà Lan đã nhận xét:

“…Chí với một thái độ cực kỳ chân trọng mới có thể tính đến việc dùng các bản đồ để giải quyết một vấn đề về chủ quyền lãnh thổ…”

Phán quyết còn nói rõ hơn:

“Khi mà trọng tài biết chắc chắn rằng có những sự kiện pháp lý có tính chất quyết định của những người vẽ bản đồ mà không rõ họ lấy nguồn tin ở đâu thì hoàn toàn có thể bỏ qua giá trị của các bản đồ dù cho nó có nhiều và được đánh giá cao đến đâu chăng nữa”

Vấn đề giá trị của những bản đồ của phía Trung Quốc đưa ra như trên thế là rõ.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, Điểm sách, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 11 phản hồi »

414. 2009 – Chiều cuối năm nhìn lại

Đăng bởi anhbasam on 30/12/2009

2009Chiu cui năm nhìn li

Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện

Năm 2009 đã khép lại. Chiều cuối năm, lắng lòng suy ngẫm về một năm qua về những được mất, thăng trầm, những may rủi, vui buồn của cá nhân mình, và xung quanh mình. Trong không gian yên tĩnh của một buổi chiều cuối năm, hồi tưởng lại năm qua, mà tưởng như nghe bốn bề ba động. Tự mình điểm lại những chuyện, những việc diễn ra trên đất nước mình một năm qua đã được ghi vào trí nhớ của mình, vội ghi mấy hàng để nhớ về năm hai lẻ chín của thiên niên kỷ này.

1.Thứ nhất phải kể đến việc nêu ý kiến phản biện các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Từ việc chỉ có 135 nhà trí thức tinh hoa ký tên. Bức kiến nghị đã nhanh chóng được lan truyền trên mạng internet, và được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân trong cả nước kiều bào ở nước ngoài.

Chưa có bao giờ một tâm tư nghĩ suy của một nhóm người đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ đến như vậy. Những nhà trí thức và nhà văn hóa đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để phân tích những hơn thua của dự án và gióng lên những cảnh báo về vấn đề này, trên nhiều phương diện: kinh tế, kỹ thuật công nghệ, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội…Lời nào cũng là lời gan ruột được viết ra bằng cả lý trí lẫn tình cảm, mỗi lời đều là những góp ý chân thành, tha thiết, xây dựng. Thật mừng vì đất nước ta có một đội ngũ trí thức nhiệt tâm và luôn sát cánh với những vấn đề lớn của quốc gia như vậy!

Trang thông tin Bauxite Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn đã có tới 17,5 triệu lượt truy cập là minh chứng cho thấy người dân Việt Nam con Lạc cháu Hồng trăn trở, tha thiết với đất nước như thế nào. Mỗi khi trang này trục trặc kỹ thuật là lại một lần xôn xao trong giới trí thức và giới trẻ, cứ như nó là một phong vũ biểu của một mảng đời sống tinh thần Việt Nam.

2.Sự tham gia của trí thức vào các công việc nước nhà còn thể hiện bằng những bài báo về các vấn đề lớn của đất nước. Từ những chuyên gia hàng đầu của đất nước về kinh tế như Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Nguyễn Quang A đến những chuyên gia về giáo dục như Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Lân Dũng rồi các chuyên gia về văn hóa như Nguyên Ngọc, Phan Cẩm Thượng. Từ những vị tướng đầu bạc như Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Cương, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sỹ Nguyên, đến những nhà trí thức trẻ như Vũ Minh Khương, Hoàng Thúc Hào, Giáp Văn Dương…

Nhưng đông đảo nhất vẫn là những nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nghệ sỹ. Thông qua các trang blog cá nhân, họ công bố tác phẩm, và bình luận về thời sự, góp ý đến những người có trách nhiệm. Nhiều trang tin nhanh, nhạy và có tiếng nói phản biện sắc sảo, xây dựng.

Bảy bức thư của nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã vẽ lên bức tranh nông thôn Việt Nam với nhiều điều làm chúng ta phải trăn trở suy nghĩ khi sự thật được phơi bày và những dự báo đang trở thành sự thật.


3. Năm 2009, vấn đề Biển Đông đặc biệt được con dân đất Việt quan tâm, bất kể là người trong nước hay đồng bào ta đang ở nước ngoài. Biển Đông diễn biến càng ngày càng phức tạp. Biển Đông – một nửa cơ ngơi của tổ tiên ta để lại cho con cháu, bằng cả máu xương và tâm huyết. Đáng kể nhất phải kể đến những cố gắng của Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao Việt Nam) đã tổ chức được một hội thảo quốc gia, một hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông. Kết quả là, tại hội thảo quốc tế về Biển Đông đã thu hút sự tham gia của đông đảo học giả quốc tế đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Đường lưỡi bò do Trung Quốc đưa ra được chỉ ra chỉ là một sự vẽ vời vô căn cứ cả về pháp lý lẫn lịch sử.

Hội thảo quốc gia Biển Đông đã đưa ra được những khuyến nghị có giá trị, trong đó đặc biệt nhất là đề xuất việc lập hồ sơ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa đưa ra pháp đình quốc tế; đề xuất 4 hóa đối với vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là: quốc tế hóa, công khai hóa, xã hội hóa và phi nhạy cảm hóa.

Trung Quốc càng ngày càng tỏ rõ ý chí quyết biến Biển Đông thành ao nhà. Họ không từ một thủ đoạn nào! Hơn 85 tàu cùng hơn 1.062 ngư dân của các làng chài huyện đảo Lý Sơn đã bị Trung Quốc bắt giữ, cướp tài sản, đánh đập khi đang đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam từ năm 2002 đến nay. Ngoài bắt giữ người, thu tàu, cướp tài sản, đánh đập ngư dân, phía Trung Quốc còn bắt ngư dân nộp phạt hơn 2,5 tỷ đồng và đã bắn bị thương 1 người…Đó là con số thống kê chưa đầy đủ của Văn phòng UBND huyện đảo Lý Sơn.

Liên tiếp từ tháng 4 đến nay, dòng họ Đặng ở Lý Sơn hay nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Huế đã hiến tặng cho Nhà nước những tài liệu đặc biệt quý giá góp phần khẳng định chủ quyền của VN ở biển Đông nói chung và Hoàng Sa – Trường Sa nói riêng. Điều đó thể hiện ý thức trách nhiệm của người dân với đất nước, tổ tiên, làm nức lòng đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Những văn bản quý giá đó thể hiện ý chí của tổ tiên chúng ta về chủ quyền biển đảo. Còn hậu thế thì phải làm gì đây?

4.Về văn hóa nghệ thuật, phải kể đến tình hình đạo văn, đạo nhạc, đạo công trình nghiên cứu ngày càng trở nên phổ biến của những người muốn trục lợi, cầu danh trên những tâm huyết của những nhà nghệ sỹ, trí thức chân chính. Điều đáng buồn hơn là không thấy cơ quan hữu trách nào có được các chế tài đủ mạnh để dẹp được căn bệnh trầm kha này, khiến cho chúng ta không thể yên lòng được, khi học phong và giới trí thức – được coi là tinh hoa của xã hội đang sa sút nghiêm trọng.

Nếu Ban Tuyên giáo trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch, Bộ Thông tin truyền thông, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và hai Đại học quốc gia Hà Nội và TP Hồ Chí Minh không quyết tâm lập lại trật tự thì đây là một điều đáng xấu hổ cho văn hóa và khoa học nước nhà. Rất mong ông Tô Huy Rứa, 2 ông Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn, Lê Doãn Hợp, ông Đỗ Hoài Nam và 2 ông Giám đốc hai đại học quốc gia ở hai đầu đất nước quan tâm đến vấn đề này.

Giải pháp cho vấn đề này là tác phẩm, công trình đạo văn sẽ bị đưa ra khỏi các thư viện, không phát sóng; nếu là giáo trình thì không được dùng giảng dạy; nếu nhờ nó mà người nào được phong học hàm học vị thì tước bằng, tước học vị; quan chức đạo văn thì cách chức ngay lập tức. Bên cạnh đó, đối với luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ cần được đưa công khai toàn văn lên mạng internet (đây cũng là 1 đề tài khoa học cấp Bộ ở Viện KHXH Việt Nam đề cương đã được bảo vệ qua nhiều hội đồng ngành, nhưng cuối cùng không hiểu vì sao chính Chủ tịch Viện KHXH Việt Nam đã bác bỏ).

5. Năm 2009 cũng đã xảy ra nhiều chuyện liên quan đến các cơ quan báo chí và văn hóa. Đó là trang báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đăng những tin tức của báo Trung Quốc nhằm khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc. Kết quả là TBT. Đào Duy Quát phải nộp phạt 30 triệu đồng. Sau đó, số báo chào mừng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, báo Phụ nữ Tp. Hồ Chí Minh đã đăng bài Những chú lính trên sân ga của nhà văn Dạ Ngân bằng minh họa hải quân Trung Quốc khiến cho dư luận vô cùng bức xúc.

Liên quan đến vấn đề này, sự phẫn nộ của cộng đồng mạng lên đến đỉnh điểm khi phát hiện trang web của Bộ Công thương đã để cho trang mạng của mình thành nơi người Trung Quốc tuyên truyền chủ quyền của họ đối với Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

Gần đây nhất, nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam xuất hiện pano hình ảnh lính Trung Quốc đi dưới lá cờ Việt Nam. Sau đó, TS. Nguyễn Thành Rum GĐ Sở Văn hóa Thể thao & du lịch Tp. Hồ Chí Minh đã trả lời PV của RFA bằng những lời lẽ ngây thơ và thiếu trách nhiệm, khiến cho cộng đồng mạng rất phẫn nộ.

Bên cạnh đó, việc để quá nhiều phim Trung Quốc chiếm sóng trên khắp các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương cũng làm những người yêu nước chạnh lòng. Cuốn Ma Chiến hữu – một tác phẩm hạng xoàng của Mạc Ngôn được lưu hành với đề từ và cách P.R thiếu hiểu biết và non kém về cả văn học lẫn chính trị của nhà xuất bản Văn học cũng khiến dư luận xôn xao. Và rồi hôm qua, lại một sai sót kinh hoàng vừa được phát hiện trong một cuốn Từ Điển cũng do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2008. Thật không thể hiểu làm sao nữa!

Điều đáng buồn là những vụ việc tày trời nêu trên đều được phát hiện bởi các blogger và cộng đồng mạng. Họ không ăn lương của ai, việc làm của họ là nhằm thể hiện lòng yêu nước.

Cũng năm 2009, chưa có bao giờ các báo điện tử lại phải gỡ bài nhiều như thế! Có những bài vừa đưa lên vài giờ đã phải gỡ xuống. Có báo một ngày phải gỡ bỏ 2 bài.

6.Năm 2009 với các dự án, công trình Kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội luôn nằm trong sự quan tâm của cán bộ và nhân dân thủ đô, nhân dân cả nước. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều việc còn dở dang và không thể hoàn thành đúng tiến độ.

Dự án làm phim Lý Công Uẩn đành gác lại vì nhiều lý do, nay chuyển sang làm phim Trần Thủ Độ. Việc chọn làm phim Trần Thủ Độ như một lễ vật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thật sự là một tối kiến của các nhà làm phim, và chủ đầu tư dự án. Vì ai cũng biết lễ kỷ niệm 1000 năm có điểm nhấn là vương triều Lý. Trớ trêu thay, theo chính sử thì chính Trần Thủ Độ đã chủ trương tận diệt nhà Lý bằng một việc làm không thể nói là có đạo đức. Hà Nội đem phim Trần Thủ Độ làm lễ vật mừng Thăng Long ngàn tuổi chẳng khác Huế đem diễn hoạt cảnh cành đào báo tiệp Ngọc Hân mừng Quang Trung hoàng đế ngay trước Ngọ Môn Huế tại Festival vừa rồi.

Cũng trong năm 2009, hàng loạt báo chí đã phản ánh các khía cạnh khác nhau về con đường gốm sứ – một con đường từng được giới nghệ sĩ và nhân dân nức lòng, được sự ủng hộ nhanh chóng của chính quyền các cấp và nhân dân thành phố, đã đi lạc đường.

Thủ đô nhếch nhác bụi bặm, ngập lụt sau mỗi trận mưa, giao thông ách tắc, nhà siêu mỏng mọc lên ở nhiều nơi, chặt phá cây xanh (kể cả cây gỗ sưa), bao nhiêu lệnh cấm thành ra đánh trống bỏ dùi khiến người nào tự tin cũng không dám tin đô thị Hà Nội năm 2010 sẽ khuôn mặt mới khả ái. Hà Nội vẫn tự hào là đất thanh lịch, nhưng sự kiện phố hoa của giới trẻ đã khiến cho cả nước phải nghĩ lại. Ngày mai, 31.12 là lễ hội hoa Hà Nội, sẽ ra sao đây? Thực sự, vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội gốc đang cần được tìm lại, vun đắp.

Cuộc sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội một cách vội vàng (từ đề xuất đến tiến hành chưa đầy 5 tháng) đã khiến cho khuôn mặt văn hóa của Hà Nội xô lệch. Nhiều người đã từng lo lắng mấy năm nữa, cả Hà Nội rộng lớn sẽ lanh tanh bành mà việc sửa chữa nó sẽ phải mất nhiều chục năm sau nữa. Ngay như việc chọn trung tâm hành chính của thủ đô ở đâu, thì hiện nay cũng đang “rối như canh hẹ”(trong 3 tháng mà chủ tịch thành phố đưa ra 3 địa điểm khác nhau). Ngay như việc Thủ tướng đã quyết định chọn Mỹ Đình làm trung tâm hành chính, thì cũng cần xem xét cân nhắc thêm, vì theo tính toán của KTS Trần Thanh Vân, Mỹ Đình chính là một cái rốn nước (muốn xây dựng ở đây, cần phải có một hệ thống hồ 1000 héc-ta thì mới không lo “Hồ Tây tràn ra Mỹ Đình”, trong khi những hồ xunh quanh đã bị lấp đi đi đến 70%), hơn nữa Mỹ Đình không “gối núi trông sông” theo quan niệm phong thủy.

7. Phát biểu của các quan chức được đưa vào mục “Phát ngôn ấn tượng” được điểm mỗi thứ Sáu hàng tuần của báo điện tử VietnamNet.

Những người có phát ngôn ấn tượng được điểm mặt kể tên thuộc đủ mọi ngành, ở rất nhiều chức vụ cao thấp khác nhau, trở thành nỗi lo lắng và sự đàm tiếu của dư luận. Không hiểu các trường đào tạo về hành chính cho cán bộ có dạy kỹ năng và cách xuất hiện, phát biểu trước công chúng?

Phát ngôn của quan chức nhiều khi bộc lộ nhiều vấn đề mà người dân chưa biết; lại cũng nhiều khi bộc lộ trình độ cũng như sự vô cảm của quan chức đối với các vấn đề xã hội. Có những phát ngôn ấn tượng được dư luận đem ra đàm tiếu, buồn cười đến không ngờ được! Vậy mà không thấy những người phát ngôn đó nói lại, chứng tỏ báo chí đã tường thuật đúng!

8.Báo động về sự xuống cấp của đạo đức con người. Qua báo chí, chưa bao giờ người ta được xem các vụ tường thuật nhiều vụ giết người như năm 2009. Từ các vụ giết tình nhân (vụ giết người trên chiếc xe Luxes sang trọng) đến vụ con giết cha rồi chặt khúc vứt xuống sông hồ. Từ việc người vợ dùng chiếc kim khâu lốp dài gần 10cm đem từ Đông Anh lên Thái Nguyên để đâm vào giữa đỉnh đầu đứa con riêng của chồng vừa được 40 ngày tuổi đến các vụ giết người đốt xác rùng rợn.

Các vụ giết người càng ngày càng man rợ. Tuổi của các hung phạm ngày càng trẻ. Điều này cho thấy cần phải xem lại về cách chúng ta giáo dục con người trong nhà trường, gia đình và trong xã hội.

Chúng ta cần phải xem lại rằng con em chúng ta đã được giáo dục về đạo đức, về lòng yêu thiên nhiên và loài vật, yêu gia đình và bè bạn như thế nào trong các trường học. Môn giáo dục công dân đã được dạy như thế nào? Hay nó chỉ là những bài học thuộc lòng như vẹt?

9.Năm 2009, ghi nhận nhiều sự kiện về Di sản văn hóa Việt Nam. Có 3 di sản của Việt Nam được UNESCO ghi nhận là Di sản thế giới: Quan họ – Ca trù – Mộc bản triều Nguyễn. Trong đó, ca trù được ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Nhưng năm qua lại cũng rộ lên chuyện đua nhau làm hồ sơ di sản UNESCO. Các tỉnh đua nhau họa ra một cái hồ sơ để đưa đi xin danh hiệu. Nào hang nào động, nào hát nào ca. Hồ sơ đề cử Hoàng thành Thăng Long của Hà Nội đã được thế chỗ bởi Hội Gióng.

Năm qua, việc tu bổ trùng tu tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng được báo chí đưa tin rầm rộ. Bức tử đền Và (Sơn Tây), khai tử Suối Giải Oan (Yên Tử), tu sửa đền Bà Tấm, chùa Trấn Quốc, đình Kim Liên…là những vụ được dư luận quan tâm nhiều.

Chúng ta có yêu văn hóa của ông cha thật không? Hay là chỉ yêu các dự án đó? Lập các dự án về văn hóa có bao nhiêu phần trăm vì văn hóa thật sự, hay là vì sự chấm mút? Ngay như Huế, đồn rằng biết giữ lắm, vậy mà hình như chỗ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế của ông Phùng Phu, ông Phan Thanh Hải cũng chỉ chăm chú thu tiền thôi! Đoàn làm phim truyện đến quay bối cảnh là lăng Đồng Khánh, em cứ xin bác 20 triệu một ngày, quay bao lâu thì quay, cứ thế trả tiền. Đoàn cán bộ Viện Hán Nôm có công văn đề nghị in rập văn bia để lưu trữ và nghiên cứu, mà họ khăng khăng không cho rập để bảo vệ văn bia, mặc dù đã nhờ đến Phó Chủ tịch tỉnh, kêu đến Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Nguyễn Thế Hùng, rồi ông Chủ tịch UB quốc gia UNESCO Việt Nam Phạm Sanh Châu. Thế mới biết ông Phu ông Hải chả khác gì ông vua con! Ấy vậy mà bia đá Thơ ngự chế của vua Thiệu Trị thì sắp lộn cổ xuống Ngã Ba Tuần, còn phế tích Võ Miếu (Võ Thánh) thì chỉ còn năm tấm bia đá trơ gan cùng tuế nguyệt “đã không kẻ đoái người hoài”, “lại không cho cắm một vài nén nhang”! Văn Miếu Huế cũng vậy, những cọc bê tông giơ sợi sắt nghều ngào như cào vào trời chiều Hương Giang ứa lệ. Nghệ nhân nghệ sỹ Huế lão thành đang thoi thóp xếp hàng đi xuống ga Hoàng Tuyền, mà cũng chẳng ai đoái tưởng. Huế có yêu Huế thật lòng chăng?

Liên quan đến di sản văn hóa, có lẽ cũng phải kể đến hai “kiệt tác” văn hóa mới ở hai đầu đất nước là Chùa Bái Đính và Đại Nam quốc tự. Mỗi nơi mỗi vẻ, không giống nhau và không giống ai, nhưng vì thế mà được từ quan chí dân nô nức kéo về chiêm ngưỡng. Liên quan đến di sản, chúng ta còn quá coi thường di sản văn hóa, khi cứ đem sân khấu hóa hoặc làm lệch lạc các lễ hội truyền thống (Liên hoan Cồng chiêng, Lễ hội đền Lảnh Giang, lễ hội Tịch điền cùng hàng trăm lễ hội tốn kém khác).

10. Năm 2009 cũng là năm có nhiều chuyện về các mạng xã hội. Cuối cùng sau nhiều lần “chết hụt”, Yahoo! 360 chính thức vĩnh biệt cộng đồng blogger vào ngày 13/7. “Cái chết” này đã được dự báo trước từ lâu nhưng nó vẫn thực sự gây sốc cho cộng đồng mạng. Các cuộc chuyển nhà, nhận họ hàng, bè bạn và người thân trong thế giới mạng diễn ra sôi động.

Khi Facebook được nhiều người chọn vì tính tương tác của nó trong cộng đồng thì cũng là lúc nó bị trục trặc một cách bí hiểm vào đầu quý IV năm 2009. Một tâm lý bất an đã và vẫn đang thường trực trong cộng đồng sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam.

*
Xuân Canh Dần đang sắp sửa! Bao nhiêu việc đang bày trước mắt. Ngổn ngang trăm mối bên lòng!

Ta là một “bạch diện thư sinh” suốt ngày quẩn quanh với thư tịch cổ, tự thẹn với mình không làm được điều gì cho đời, văn chương chữ nghĩa viết ra cũng chỉ để vui bạn vui bầu chứ tuyệt nhiên không có dòng nào có hơi hướm gì đáng gọi là kinh bang tế thế. Thôi thì, việc mình mình biết, lòng và chí chỉ biết tâm niệm câu này:

Thương nước, khơi sâu nguồn sử nước
Yêu đời mở rộng mạch văn đời.

Khơi đỉnh hương trầm. Nối thêm ngọn sáp. Ngào ngạt ngọn khói hương dâng. Nao nao mối sầu thiên cổ!

Sáng nay, mưa phùn đã dắt nhau xuống phố. Ngày mai Hà Nội mở lễ hội hoa. Khắp non sông trời đất giao mùa! Xuân bất tận đang về trên đất Việt!

————–

Ý kiến phản hồi về bài viết trên do một độc giả gửi tới sáng 31-12-2009:

Trước hết xin nói ngay, tôi là Phan Thanh Hải, là người ở cố đô Huế mà trong lời tự sự của mình ông Diện có “hân hạnh” nhắc tới.

Tôi thấy buồn vì ông Diện đưa nhiều suy nghĩ cá nhân của mình để phán xét một số chuyện mà ông không am hiểu (hoặc cố tình không hiểu).

Ông lên án chuyện đạo văn của nhiều người nhưng khi nói chuyện với một số anh em nhân sĩ ở Huế, có người lại phàn nàn với tôi là ông Diện đã sử dụng ý kiến của họ theo kiểu “cầm nhầm” là của mình(!!!).

Ông nói về chuyện Trung tâm của tôi không cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm được rập bia trong các khu di sản của Huế và chúng tôi là những “ông vua con” mà lại quên mất là nếu đến Quý Viện của ông, muốn photocopy dù là một tờ tư liệu cũng phải trình báo thưa gửi qua bao nhiêu vòng, còn phí photo thì bất kể là ai cũng phải nộp 2.000đồng/trang (dù có trang chỉ có một vài chữ). Đó là chưa kể có nhiều tài liệu có muốn cũng không thể đụng tới!

Thực ra chúng tôi không chỉ không cho Quý Viện của ong sao chụp văn bia mà tất cả các đơn vị, cá nhân đều không được phép, vì đó là Quy chế bảo vệ di sản!

Tôi đã giải thích với lãnh đạo Viện Hán Nôm rất rõ ràng về chuyện này và còn gợi ý cho họ biết để liên hệ với một số đơn vị đã có bản rập (làm trước kia) nhằm sao chụp lại. Trước đây, khi chưa có quy chế bảo vệ nghiêm ngặt, Trung tâm tôi đã tạo điều kiện cho một số đơn vị sao chụp văn bia phục vụ công tác nghiên cứu. Viện Hán Nôm cũng đã được hưởng sự ưu tiên này. Không hiểu sao muốn sao chụp lại?

Cách đây ít năm, trong một chuyến tàu từ Hà Nội vô Huế tôi ngồi cùng với một anh Việt kiều nguyên là Thư ký Viện Viễn Đông Bác cổ tại Paris. Anh ấy đã hết sức phẩn nộ khi kể với tôi câu chuyện về cán bộ Viện Hán Nôm qua Viện của anh ta hết lần này đến lần khác xin photocopy tài liệu, mà đoàn sau lại xin photo các danh mục tài liệu y như đoàn trước. Khi anh qua Hà Nội mới biết, các tài liệu được sao chụp đó lại không hề có trong Thư viện của Viện Hán Nôm! Té ra các vị đều “sao” làm của riêng(!!!)

Tôi không phải vì chuyện này mà không cho phép viện Hán Nôm của ông Diện rập bia trong khu di sản (mà vì quy chế chung như đã nói), nhưng chúng tôi vẫn cấp giấy đi lại miễn phí trong các khu di tích cho đoàn của ông và gợi ý rằng, các ông có thể sao chép, chụp ảnh thoải mái mà! Hy vọng ông Diện không quên chuyện này chứ?

Còn chuyện ông nhắc đến Văn Miếu, Võ Miếu của Huế thì lại là chuyện khác. Chúng tôi hiện đang phải gồng mình quản lý, chăm sóc cho hàng chục cụm di tích với hàng trăm công trình. Nhiều di tích (như cụm Văn Miếu-Võ Miếu) đã được lập dự án tu bổ tổng thể nhưng còn phải chờ sự phê duyệt. Hiện chúng tôi đã cố gắng sắp giữ để công trình không xuống cấp nhanh hơn (Bia Võ Miếu đã được quy tập về một nơi, có người bảo vệ, dọn vệ sinh).

Chuyện thu lệ phí đối với các đoàn làm phim thì cũng là chuyện bình thường. Ông không biết là chúng tôi đã tạo bao nhiêu điều kiện thuận lợi cho các đoàn làm phim này. Còn lệ phí thì chỉ bằng một phần mười cái mức mà ông nói. Mà ông có biết là số tiền ấy lại được sử dụng cho việc bảo vệ di tích không?

Có lẽ trao đổi với ông vài chuyện như vậy để ông rõ thêm về Huế.

Nếu có thiện chí thật tình thì tôi chỉ mong ông góp phần để Viện Hán Nôm hợp tác, hỗ trợ Huế trong việc nghiên cứu và bảo tồn các di sản văn hóa.

Phan Thanh Hải

(Ghi chú: Chúng tôi chỉ không cho phép rập văn bia (dùng giấy dó, mực in để rập), còn vẫn cho phép chụp ảnh, ghi chép hay sao chụp bằng các phương pháp khác mà không gây tổn hại đến hiện vật)

—————

Chiều 31-12-2009, BS nhận được trả lời của ông Nguyễn Xuân Diện về ý kiến của ông Phan Thanh Hải.

NGUYỄN XUÂN DIỆN xin trả lời hồi âm của Ông Phan Thanh Hải:

Xin cám ơn Anh Ba Sàm đã đăng tải phản hồi của Ông Phan Thanh Hải, TS Sử học, Phó Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô Huế. Về lời phản hồi này, tôi xin trao đổi lại như sau:

1. Tôi đề nghị ông Phan Thanh Hải nêu rõ tài liệu nào cho biết Nguyễn Xuân Diện đã sử dụng ý kiến của anh em nhân sĩ cố đô Huế theo kiểu “cầm nhầm”.

2. Viện chúng tôi là kho lưu trữ lớn nhất cả nước về di sản Hán Nôm. Ai cũng có thể đến đọc tài liệu tại chỗ. Còn việc ai muốn photocoppy, thì tất nhiên phải có đơn trình bày để lãnh đạo Viện ký duyệt. Chi phí 2000 đ/ trang photocoppy là do Bộ Tài chính quy định và tiền thu được chúng tôi đều nộp ngân sách. Xin ông Phan Thanh Hải nêu rõ tài liệu nào ông không thể đụng tới và ông xin photocoppy tài liệu đó để làm gì, chúng tôi xin trả lời ông rõ.

3. Về những tài liệu mà cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm tại Pháp, xin ông Phan Thanh Hải và quý vị xem bài của Ông Trịnh Khắc Mạnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm trên tạp chí Hán Nôm số 4 (89)- 2008, trang 71 – 78.

4. Xin gửi ông các bức ảnh chụp bia Ngự chế của Vua Thiệu Trị (ảnh chụp khi chúng tôi đã đặt tờ giấy bản lên để làm bản dập) và bia Võ Miếu để ông và bạn đọc được rõ. Ảnh chụp vào tháng 8 năm 2009.

Chiều cuối năm, xin có mấy nhời thưa lại với Ông Phan Thanh Hải như vậy. Xin cảm ơn Ông đã hồi âm.

Nguyễn Xuân Diện

—————–

Trao đổi tiếp của ông Phan Thanh Hải (sáng 01-01-2010):

Thứ nhất, rất xin lỗi vì vào dịp Năm Mới mà phải nói những điều không muốn nói. Mong ông Diện và độc giả lượng thứ!

Về những vấn đề mà ông Diện nêu ra, tôi xin có vài lời đáp lại như sau:

1. Chuyện ông “cầm nhầm” ý tưởng của người khác thì nhiều người nói đấy. Chắc ông phải hỏi thêm anh em ở Huế. Xin ông xem lại kỹ vì tôi nói ra không tiện lắm! Bản thân tôi thì thấy chuyện ông nói chuyện bộ phim Trần Thủ Độ (nguyên văn là “Việc chọn làm phim Trần Thủ Độ như một lễ vật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thật sự là một tối kiến của các nhà làm phim, và chủ đầu tư dự án. Vì ai cũng biết lễ kỷ niệm 1000 năm có điểm nhấn là vương triều Lý. Trớ trêu thay, theo chính sử thì chính Trần Thủ Độ đã chủ trương tận diệt nhà Lý bằng một việc làm không thể nói là có đạo đức”) có đúng là ý tưởng của ông không? Tôi đã nghe TS Trần Đức Anh Sơn (cũng là một người Huế, email anhsontd@yahoo.com ) đã nói chuyện này cách đây hơn một tháng (tại hôm gặp mặt Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật trưa ngày 29/11/09 với khá nhiều người tham gia)!

2. Viện Nghiên cứu Hán Nôm đúng là nơi lưu trữ nguồn tư liệu Hán Nôm lớn nhất VN nhưng khi các nhà nghiên cứu đến đây làm việc muốn xem, sao chụp tài liệu không phải thuận lợi lắm đâu! Chẳng hạn, muốn photocopy văn bia thì…không được! Tôi đã từng đại diện cho Trung tâm hơn một lần đến “Quý Viện” xin photocopy lại 32 tấm bia Tiến sỹ (vốn của Văn Miếu Huế do Trường Viễn Đông Bác Cổ đã rập từ những năm 20 của thế kỷ 20) để đối chiếu nghiên cứu với mong muốn phục hồi những chữ Hán đã bị mờ trên bia (hiện nay) khi có điều kiện nhưng nguyện vọng của chúng tôi không được đáp ứng! Vì sao vậy? Nếu ông biết thì xin trả lời. Photocopy văn bia không được thì tại sao các ông lại đòi đi rập văn bia ở tất cả mọi nơi trong nước về lưu trữ?

Xin tiết lộ với ông một điều nữa nhé: Trực tiếp xin photocopy thì không được nhưng sau đó lại có người gợi ý với chúng tôi là muốn có thì họ “sẽ giúp”. Và sau khi trả 500 ngàn đồng để được “giúp” chúng tôi đã có 2 bản văn bia! Chí đáng tiếc đó là văn bia của Văn Miếu Hà Nội chứ không phải của Huế!

3. Việc ông nói giá photocopy 2.000VNĐ/trang là do Bộ Tài chính quy định và tiền phí này các ông đều nộp vào ngân sách nhà nước. Vậy sao ông không nghĩ rằng lệ phí quay phim (cũng chỉ từ 2-2,5 triệu đồng/ngày chứ không phải 20 triệu đồng/ngày như ông nói) tại các khu di sản cũng do Nhà nước quy định và tất cả phí thu được đều nộp vào Kho Bạc Nhà nước? Mà chúng tôi có quy định rõ ràng, không phải thu phí với tất cả đoàn làm phim mà chỉ thu phí này đối với những đoàn làm phim truyện, phim quảng cáo… Còn tại “Qúy Viện” thì hình như ai đến photo tài liệu đều phải nộp 2.000đ/trang đúng không ông Diện? Tôi đã nghe không ít anh em nghiên cứu than phiền về mức phí photo quá đắt của Viện ông rồi đấy. Làm sao mà một nhà nghiên cứu bình thường dám photo một cuốn sách mấy nghìn trang với mức phí ấy?

3. Bức ảnh chụp bia Võ Miếu Huế nói lên điều gì? Ông đã biết tường tận về lịch sử ngôi miếu này chưa? Cách đây vài năm, khi nó chưa được giao cho Trung tâm chúng tôi quản lý thì mỗi bia còn nằm một nơi, không gian hoang phế, cổ dại um tùm… Sau khi tiếp nhận, chúng tôi đã quy tập tạm các bia về một chỗ (như ảnh ông cung cấp), rào quanh khuôn viên để bảo vệ và lập dự án trùng tu tổng thể (cùng với Văn Miếu, Khải Thánh Từ phía trên). Tuy nhiên, việc phê duyệt một dự án trùng tu di tích luôn phải tuân thủ những quy trình do Nhà nước quy định.

4. Chuyện ông đặt giấy rập tấm bia “Trạch nguyên tao lộc” ở Ngả ba Bằng Lãng (hiện đang nằm trong vườn nhà dân) là vi phạm quy định rồi đấy! Khi các ông lén lút rập tấm bia này bảo vệ tại lăng Minh Mạng đã không làm tròn nhiệm vụ (cũng vì tấm bia này nằm khá xa khu vực lăng). Ông có biết tấm bia này đã từng bị sụp đổ xuống sông, chúng tôi đã trục vớt và đưa dựng lại trên bệ tại vị trí nguyên thủy. Tuy nhiên đây là chỗ thấp, gần sông, thường xuyên bị ngập lụt và bị phù sa phủ lấp. Khi ông đến đó vào tháng 8/09 là thời điểm bia bị phù sa bồi lấp cả phần chân. Chúng tôi đang tính toán để dựng nhà che cho bia (tuy nhiên phải cân nhắc vì làm sao nhà che phải phù hợp). Toàn bộ khu vực dân cư trong vùng bảo vệ di tích lăng vua Minh Mạng hiện đang chuẩn bị được di dời, dải đất này sẽ được trồng rừng bảo vệ. Đó sẽ là cơ hội tốt nhất để chúng tôi bảo vệ các di tích liên quan, trong đó có tấm bia này.

Có mấy lời xin thưa lại để ông Diện rõ. Mong ông sang năm mới khi phát ngôn cần thận trọng hơn.

Phan Thanh Hải

———-

Và đây là trả lời của tác giả bài báo, ngay sáng nay 1-1-2010:

Trao đổi lại với Ông Phan Thanh Hải

Trước hết, xin cám ơn ông đã hồi âm và nhắc nhở  “sang năm mới khi phát ngôn cần thận trọng hơn”. Xin thưa lại vài điều sau:

1. Về chuyện “Cầm nhầm”! Úi giời! Tôi cứ tưởng ông bảo tôi “cầm nhầm” thế nào! Hóa ra ông Phan Thanh Hải là một Tiến sĩ Sử học mà phát biểu thật hồ đồ! Ông nghĩ rằng, tôi không có được cái “ý tưởng” đó ư?

Tôi xin thưa với ông rằng đã hàng năm nay tôi chưa gặp TS Trần Đức Anh Sơn, và tôi cũng chưa bao giờ được nghe ai nói về việc Trần Đức Anh Sơn phát biểu về phim Trần Thủ Độ. Tôi cũng chỉ biết việc Trần Đức Anh Sơn ra Hà Nội dự lễ trao giải thưởng Phạm Thận Duật khi đọc bài trả lời PV Thể thao & Văn hóa sau đó. Xin ông cứ liên hệ với ông Trần Đức Anh Sơn sẽ rõ.

Ông Phan Thanh Hải nên nhớ rằng, không phải chỉ có ông Trần Đức Anh Sơn mới nghĩ được như vậy khi Hà Nội làm phim Trần Thủ Độ để kỷ niệm đại lễ Thăng Long.

Nếu anh em nào ở Huế có nói tôi “cầm nhầm” của họ, xin ông cứ nêu tiếp nữa, để tôi và độc giả được thêm những trận cười trong những ngày đầu năm mới!

2. Trong những năm qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang thực hiện chương trình số hóa các tài liệu lưu trữ tại Viện. Ông cũng biết rằng, bản rập văn bia là những tài liệu có kích cỡ lớn, không thể có máy nào có thể photocoppy được vì vậy không thể đáp ứng yêu cầu này. Thay vào đó, hiện nay bản ảnh của hàng vạn bản rập đã được in ra phục vụ việc nghiên cứu của các học giả trên khắp thế giới. Ai cần đọc bản rập thì đều đọc tại Thư viện.

Còn chuyện một ông đại diện cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Đô Huế đến Viện Hán Nôm mà lại nghe lời gợi ý của một cá nhân (cá nhân nhé) nào đó giúp bằng 500 ngàn bạc, thì cả ông và cả ông bà nào đó cũng cần suy nghĩ lại về tư cách của mình, cả trên tư cách cá nhân lẫn trên “phương diện quốc gia”.

3. Tất cả mọi người, kể cả Viện trưởng Viện Hán Nôm, các độc giả trong và ngoài nước khi photocoppy tài liệu chữ Hán Nôm ở Viện Hán Nôm đều phải trả mức chi phí 2.000 đ/ trang. Nếu ai có thắc mắc, xin hỏi Bộ Tài Chính.

Hơn nữa, ông là người đi nhiều nơi trên thế giới (tôi biết vậy vì mỗi lần ông đi nước ngoài là ông viết hàng loạt bài báo kể chuyện người này đưa, người kia rước, rồi chuyện ăn uống chơi bời ở nước ngoài, đăng cùng lúc trên vài tờ báo, tạp chí) ông đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc ông thấy người ta cho ông tiếp cận tài liệu và trả chi phí sao chụp thế nào, chắc cũng ông cũng đã biết.

4. Chúng tôi đi công cán, đều có công lệnh đóng dấu son trong tay. Khi đến, đều đến chào và trình bày với chính quyền và nhà chức trách địa phương. Đáng tiếc, mặc dù công văn đã gửi từ trước, mà 3 tuần tôi và gần 20 cán bộ của Viện chúng tôi ở Huế  mà không thể gặp mặt được ông, ông Phùng Phu, hay bất cứ một ông bà nào có trách nhiệm trong cái Trung tâm của ông, dù chỉ vài mươi phút!

Tôi ở Hà Nội, làm sao biết được Ngã Ba Tuần có cái bia sắp lộn cổ xuống sông? Cán bộ UBND xã sở tại dẫn chúng tôi đến để làm bản rập cái văn bia đó. Khi biết đó chính là một văn bia quý giá khắc bài thơ Ngự chế của Vua Thiệu Trị, tôi hỏi họ cái bia này thuộc ai quản lý, họ nói không biết. Họ có nói với tôi, đã nhiều năm nay, có nhiều đoàn cán bộ về đây, xem xem đọc đọc rồi bỏ đi cả. May có gia đình này trông nom.

Thưa ông, đây là trả lời cuối cùng của tôi đối với Ông tại đây. Yêu Huế, xót Huế, tôi có dự kiến viết khoảng 15 bài về các vấn đề của Huế (đã viết được 4 bài) và đăng tải trên Blog cá nhân. Khi ấy, mới nói hết và đầy đủ về thực trạng di sản văn hóa Huế theo cảm nhận và thực chứng của mình!

Xin chúc ông và gia đình một năm mới An lành – Hạnh phúc và Thăng tiến trong công tác!

Trân trọng kính chào

Nguyễn Xuân Diện

———-

Phản hồi lần cuối của ông Phan Thanh Hải (tối 1-1-2010):

NÓI LẠI CHO RÕ

Đọc những lời ông Diện tôi hơi ngạc nhiên. Thực tình tôi không hề muốn nói qua nói về mãi về chuyện này, nhất là trong dịp đầu năm. Tuy nhiên, có những điều cần phải nói lại cho rõ.

1. Chuyện “cầm nhầm” ý tưởng của người khác, ông khoan cười vội! Hãy xem lại mình cẩn thận đã ông Diện ạ. Có nhiều người nói và có căn cứ hẳn hoi đấy. Mà chuyện này hình như ở chỗ ông cũng không phải là hiểm phải không? Tôi thấy chính ông còn tố cáo Viện trưởng của mình tội “cầm nhầm” của người khác ngay trên Blog của ông cơ mà?!

2. Về chuyện lệ phí photocopy ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm đắt rẻ như thế nào thì không phải tôi mà rất nhiều anh em trong giới nghiên cứu than phiền. Điều này chắc ai cũng biết. Ông Diện bảo tôi từng đi nhiều nơi, biết các nơi khác người ta cũng thu phí còn đắt hơn thế, nhưng thưa ông làm sao có thể so sánh mức sống của người dân Nhật Bản với người Việt Nam. Một nhà nghiên cứu người Nhật nếu có công việc ổn định, lương tháng 50-60 Vạn Yên, nếu photocopy một trang tư liệu quý cũng chỉ phải trả 100 yên (mà kỳ thực không phải là photocopy mà được chụp và in lại với chất lượng rất cao cơ). Nhưng tôi biết, đây không phải là chuyện của ông. Tôi chỉ muốn nói về sự khó khăn khi chúng tôi muốn có tư liệu từ Viện của ông mà thôi.

Tôi nói chuyện phải trả 500 ngàn để có 2 bản văn bia là chuyện cách đây đã hơn 10 năm ông Diện ạ, chứ không phải là chuyện mấy năm trở lại đây mà ông bảo là do Viện ông bận sao chụp số hóa các văn bia. Tôi và ông Phạm Đức Thành Dũng vì chỉ muốn có văn bia để đối chiếu làm sách mà phải cắn răng móc tiền túi ra để trả. Ông không được đánh đồng chuyện này với chuyện kia.

Còn chuyện đoàn làm phim Thái sư Trần Thủ Độ đã làm việc ở Huế như thể nào thì xin ông hỏi lại Đạo diễn Tất Bình, người phụ trách đoàn. Chúng tôi đã hỗ trợ tích cực cho đoàn như thế nào và mức thu phía ra sao, ông hỏi thì sẽ rõ. Đừng nên chỉ “nghe nói” mà vội hàm hồ nói chúng tôi chỉ biết thu “ngày 20 triệu đồng”. Đoàn làm phim sử dụng hiện trường tại ít ra là 3 khu di tích: lăng vua Đồng Khánh, lăng vua Minh Mạng và lăng vua Tự Đức. Thời gian tổng cộng là 90 ngày. Tổng mức thu là 197 triệu đồng, có Hợp đồng và hóa đơn đỏ hẳn hoi. Đó là chưa kể phần chúng tôi miễn giảm và hỗ trợ cho đoàn nữa.

3. Ông nói Giám đốc Trung tâm của tôi và tôi không tiếp đoàn của ông dù có giấy giới thiệu? Thưa với ông là những ngày đó chúng tôi người thì đi công tác, người thì bận đi họp. Nhưng tôi đã cẩn thận ký giấy miễn 100% vế vào các khu di sản cho đoàn của ông và dặn anh em bảo vệ tạo điều kiện cho đoàn ghi chép, chụp ảnh (chỉ trừ rập văn bia). Tôi thấy các ông đã không có một lời cảm ơn lại còn nói vậy thì thật tình chẳng biết nói sao nữa! Còn thái độ kiểu “những ông vua con” mà ông quy cho chúng tôi thì e phải xem lại vì chúng tôi chỉ làm đúng nguyên tắc và đúng phận sự thôi ông Diện ơi. Ông còn nhớ là sau khi các ông nhờ Cục Di sản có công văn (mà chỉ là công văn giới thiệu đề nghị hợp tác), ông đã gọi điện cho tôi và nói rằng, không cần biết đến quy chế hay thứ gì khác, các ông đã được cấp trên cho phép!.. Vậy thái độ ấy là gì ạ?

Chúng tôi chỉ cố gắng bảo vệ những gì cần bảo vệ cho Huế và cho đất nước mà thôi theo nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Nếu không vậy thì làm sao Huế có thể còn được như hôm nay. Dĩ nhiên, chúng tôi biết mình sức mọn tài hèn, còn rất nhiều những việc phải làm và phải làm tốt hơn. Bởi vậy chúng tôi rất cần sự đồng cảm, hỗ trợ và chia xẻ. Rất mong ông hiểu cho điều đó.

4. Đúng là tôi đã viết và đăng tải một số bài du ký sau các chuyến công tác xa nhưng đó là những lời tâm sự để bạn đọc hiểu thêm về nước người, văn hóa xứ người. Đó là những câu chuyện văn hóa, chẳng lẽ ông Diện đọc mà không hiểu ư?

Thật đáng buồn vì đầu năm mới đã phải nói những chuyện như thế này!

Tôi cũng xin thưa, đây là những lời cuối cùng mà tôi muốn tranh luận với ông Nguyễn Xuân Diện.

Xin chúc ông cùng gia quyến năm mới an lành!

Phan Thanh Hải

Đăng trong Đảng/Nhà nước | 64 phản hồi »