2009 – Chiều cuối năm nhìn lại 
Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện
Năm 2009 đã khép lại. Chiều cuối năm, lắng lòng suy ngẫm về một năm qua về những được mất, thăng trầm, những may rủi, vui buồn của cá nhân mình, và xung quanh mình. Trong không gian yên tĩnh của một buổi chiều cuối năm, hồi tưởng lại năm qua, mà tưởng như nghe bốn bề ba động. Tự mình điểm lại những chuyện, những việc diễn ra trên đất nước mình một năm qua đã được ghi vào trí nhớ của mình, vội ghi mấy hàng để nhớ về năm hai lẻ chín của thiên niên kỷ này.
1.Thứ nhất phải kể đến việc nêu ý kiến phản biện các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Từ việc chỉ có 135 nhà trí thức tinh hoa ký tên. Bức kiến nghị đã nhanh chóng được lan truyền trên mạng internet, và được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân trong cả nước kiều bào ở nước ngoài.
Chưa có bao giờ một tâm tư nghĩ suy của một nhóm người đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ đến như vậy. Những nhà trí thức và nhà văn hóa đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để phân tích những hơn thua của dự án và gióng lên những cảnh báo về vấn đề này, trên nhiều phương diện: kinh tế, kỹ thuật công nghệ, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội…Lời nào cũng là lời gan ruột được viết ra bằng cả lý trí lẫn tình cảm, mỗi lời đều là những góp ý chân thành, tha thiết, xây dựng. Thật mừng vì đất nước ta có một đội ngũ trí thức nhiệt tâm và luôn sát cánh với những vấn đề lớn của quốc gia như vậy!
Trang thông tin Bauxite Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn đã có tới 17,5 triệu lượt truy cập là minh chứng cho thấy người dân Việt Nam con Lạc cháu Hồng trăn trở, tha thiết với đất nước như thế nào. Mỗi khi trang này trục trặc kỹ thuật là lại một lần xôn xao trong giới trí thức và giới trẻ, cứ như nó là một phong vũ biểu của một mảng đời sống tinh thần Việt Nam.
2.Sự tham gia của trí thức vào các công việc nước nhà còn thể hiện bằng những bài báo về các vấn đề lớn của đất nước. Từ những chuyên gia hàng đầu của đất nước về kinh tế như Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Nguyễn Quang A đến những chuyên gia về giáo dục như Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Lân Dũng rồi các chuyên gia về văn hóa như Nguyên Ngọc, Phan Cẩm Thượng. Từ những vị tướng đầu bạc như Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Cương, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sỹ Nguyên, đến những nhà trí thức trẻ như Vũ Minh Khương, Hoàng Thúc Hào, Giáp Văn Dương…
Nhưng đông đảo nhất vẫn là những nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nghệ sỹ. Thông qua các trang blog cá nhân, họ công bố tác phẩm, và bình luận về thời sự, góp ý đến những người có trách nhiệm. Nhiều trang tin nhanh, nhạy và có tiếng nói phản biện sắc sảo, xây dựng.
Bảy bức thư của nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã vẽ lên bức tranh nông thôn Việt Nam với nhiều điều làm chúng ta phải trăn trở suy nghĩ khi sự thật được phơi bày và những dự báo đang trở thành sự thật.
3. Năm 2009, vấn đề Biển Đông đặc biệt được con dân đất Việt quan tâm, bất kể là người trong nước hay đồng bào ta đang ở nước ngoài. Biển Đông diễn biến càng ngày càng phức tạp. Biển Đông – một nửa cơ ngơi của tổ tiên ta để lại cho con cháu, bằng cả máu xương và tâm huyết. Đáng kể nhất phải kể đến những cố gắng của Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao Việt Nam) đã tổ chức được một hội thảo quốc gia, một hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông. Kết quả là, tại hội thảo quốc tế về Biển Đông đã thu hút sự tham gia của đông đảo học giả quốc tế đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Đường lưỡi bò do Trung Quốc đưa ra được chỉ ra chỉ là một sự vẽ vời vô căn cứ cả về pháp lý lẫn lịch sử.
Hội thảo quốc gia Biển Đông đã đưa ra được những khuyến nghị có giá trị, trong đó đặc biệt nhất là đề xuất việc lập hồ sơ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa đưa ra pháp đình quốc tế; đề xuất 4 hóa đối với vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là: quốc tế hóa, công khai hóa, xã hội hóa và phi nhạy cảm hóa.
Trung Quốc càng ngày càng tỏ rõ ý chí quyết biến Biển Đông thành ao nhà. Họ không từ một thủ đoạn nào! Hơn 85 tàu cùng hơn 1.062 ngư dân của các làng chài huyện đảo Lý Sơn đã bị Trung Quốc bắt giữ, cướp tài sản, đánh đập khi đang đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam từ năm 2002 đến nay. Ngoài bắt giữ người, thu tàu, cướp tài sản, đánh đập ngư dân, phía Trung Quốc còn bắt ngư dân nộp phạt hơn 2,5 tỷ đồng và đã bắn bị thương 1 người…Đó là con số thống kê chưa đầy đủ của Văn phòng UBND huyện đảo Lý Sơn.
Liên tiếp từ tháng 4 đến nay, dòng họ Đặng ở Lý Sơn hay nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Huế đã hiến tặng cho Nhà nước những tài liệu đặc biệt quý giá góp phần khẳng định chủ quyền của VN ở biển Đông nói chung và Hoàng Sa – Trường Sa nói riêng. Điều đó thể hiện ý thức trách nhiệm của người dân với đất nước, tổ tiên, làm nức lòng đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Những văn bản quý giá đó thể hiện ý chí của tổ tiên chúng ta về chủ quyền biển đảo. Còn hậu thế thì phải làm gì đây?
4.Về văn hóa nghệ thuật, phải kể đến tình hình đạo văn, đạo nhạc, đạo công trình nghiên cứu ngày càng trở nên phổ biến của những người muốn trục lợi, cầu danh trên những tâm huyết của những nhà nghệ sỹ, trí thức chân chính. Điều đáng buồn hơn là không thấy cơ quan hữu trách nào có được các chế tài đủ mạnh để dẹp được căn bệnh trầm kha này, khiến cho chúng ta không thể yên lòng được, khi học phong và giới trí thức – được coi là tinh hoa của xã hội đang sa sút nghiêm trọng.
Nếu Ban Tuyên giáo trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch, Bộ Thông tin truyền thông, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và hai Đại học quốc gia Hà Nội và TP Hồ Chí Minh không quyết tâm lập lại trật tự thì đây là một điều đáng xấu hổ cho văn hóa và khoa học nước nhà. Rất mong ông Tô Huy Rứa, 2 ông Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn, Lê Doãn Hợp, ông Đỗ Hoài Nam và 2 ông Giám đốc hai đại học quốc gia ở hai đầu đất nước quan tâm đến vấn đề này.
Giải pháp cho vấn đề này là tác phẩm, công trình đạo văn sẽ bị đưa ra khỏi các thư viện, không phát sóng; nếu là giáo trình thì không được dùng giảng dạy; nếu nhờ nó mà người nào được phong học hàm học vị thì tước bằng, tước học vị; quan chức đạo văn thì cách chức ngay lập tức. Bên cạnh đó, đối với luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ cần được đưa công khai toàn văn lên mạng internet (đây cũng là 1 đề tài khoa học cấp Bộ ở Viện KHXH Việt Nam đề cương đã được bảo vệ qua nhiều hội đồng ngành, nhưng cuối cùng không hiểu vì sao chính Chủ tịch Viện KHXH Việt Nam đã bác bỏ).
5. Năm 2009 cũng đã xảy ra nhiều chuyện liên quan đến các cơ quan báo chí và văn hóa. Đó là trang báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đăng những tin tức của báo Trung Quốc nhằm khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc. Kết quả là TBT. Đào Duy Quát phải nộp phạt 30 triệu đồng. Sau đó, số báo chào mừng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, báo Phụ nữ Tp. Hồ Chí Minh đã đăng bài Những chú lính trên sân ga của nhà văn Dạ Ngân bằng minh họa hải quân Trung Quốc khiến cho dư luận vô cùng bức xúc.
Liên quan đến vấn đề này, sự phẫn nộ của cộng đồng mạng lên đến đỉnh điểm khi phát hiện trang web của Bộ Công thương đã để cho trang mạng của mình thành nơi người Trung Quốc tuyên truyền chủ quyền của họ đối với Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Gần đây nhất, nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam xuất hiện pano hình ảnh lính Trung Quốc đi dưới lá cờ Việt Nam. Sau đó, TS. Nguyễn Thành Rum GĐ Sở Văn hóa Thể thao & du lịch Tp. Hồ Chí Minh đã trả lời PV của RFA bằng những lời lẽ ngây thơ và thiếu trách nhiệm, khiến cho cộng đồng mạng rất phẫn nộ.
Bên cạnh đó, việc để quá nhiều phim Trung Quốc chiếm sóng trên khắp các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương cũng làm những người yêu nước chạnh lòng. Cuốn Ma Chiến hữu – một tác phẩm hạng xoàng của Mạc Ngôn được lưu hành với đề từ và cách P.R thiếu hiểu biết và non kém về cả văn học lẫn chính trị của nhà xuất bản Văn học cũng khiến dư luận xôn xao. Và rồi hôm qua, lại một sai sót kinh hoàng vừa được phát hiện trong một cuốn Từ Điển cũng do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2008. Thật không thể hiểu làm sao nữa!
Điều đáng buồn là những vụ việc tày trời nêu trên đều được phát hiện bởi các blogger và cộng đồng mạng. Họ không ăn lương của ai, việc làm của họ là nhằm thể hiện lòng yêu nước.
Cũng năm 2009, chưa có bao giờ các báo điện tử lại phải gỡ bài nhiều như thế! Có những bài vừa đưa lên vài giờ đã phải gỡ xuống. Có báo một ngày phải gỡ bỏ 2 bài.
6.Năm 2009 với các dự án, công trình Kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội luôn nằm trong sự quan tâm của cán bộ và nhân dân thủ đô, nhân dân cả nước. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều việc còn dở dang và không thể hoàn thành đúng tiến độ.
Dự án làm phim Lý Công Uẩn đành gác lại vì nhiều lý do, nay chuyển sang làm phim Trần Thủ Độ. Việc chọn làm phim Trần Thủ Độ như một lễ vật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thật sự là một tối kiến của các nhà làm phim, và chủ đầu tư dự án. Vì ai cũng biết lễ kỷ niệm 1000 năm có điểm nhấn là vương triều Lý. Trớ trêu thay, theo chính sử thì chính Trần Thủ Độ đã chủ trương tận diệt nhà Lý bằng một việc làm không thể nói là có đạo đức. Hà Nội đem phim Trần Thủ Độ làm lễ vật mừng Thăng Long ngàn tuổi chẳng khác Huế đem diễn hoạt cảnh cành đào báo tiệp Ngọc Hân mừng Quang Trung hoàng đế ngay trước Ngọ Môn Huế tại Festival vừa rồi.
Cũng trong năm 2009, hàng loạt báo chí đã phản ánh các khía cạnh khác nhau về con đường gốm sứ – một con đường từng được giới nghệ sĩ và nhân dân nức lòng, được sự ủng hộ nhanh chóng của chính quyền các cấp và nhân dân thành phố, đã đi lạc đường.
Thủ đô nhếch nhác bụi bặm, ngập lụt sau mỗi trận mưa, giao thông ách tắc, nhà siêu mỏng mọc lên ở nhiều nơi, chặt phá cây xanh (kể cả cây gỗ sưa), bao nhiêu lệnh cấm thành ra đánh trống bỏ dùi khiến người nào tự tin cũng không dám tin đô thị Hà Nội năm 2010 sẽ khuôn mặt mới khả ái. Hà Nội vẫn tự hào là đất thanh lịch, nhưng sự kiện phố hoa của giới trẻ đã khiến cho cả nước phải nghĩ lại. Ngày mai, 31.12 là lễ hội hoa Hà Nội, sẽ ra sao đây? Thực sự, vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội gốc đang cần được tìm lại, vun đắp.
Cuộc sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội một cách vội vàng (từ đề xuất đến tiến hành chưa đầy 5 tháng) đã khiến cho khuôn mặt văn hóa của Hà Nội xô lệch. Nhiều người đã từng lo lắng mấy năm nữa, cả Hà Nội rộng lớn sẽ lanh tanh bành mà việc sửa chữa nó sẽ phải mất nhiều chục năm sau nữa. Ngay như việc chọn trung tâm hành chính của thủ đô ở đâu, thì hiện nay cũng đang “rối như canh hẹ”(trong 3 tháng mà chủ tịch thành phố đưa ra 3 địa điểm khác nhau). Ngay như việc Thủ tướng đã quyết định chọn Mỹ Đình làm trung tâm hành chính, thì cũng cần xem xét cân nhắc thêm, vì theo tính toán của KTS Trần Thanh Vân, Mỹ Đình chính là một cái rốn nước (muốn xây dựng ở đây, cần phải có một hệ thống hồ 1000 héc-ta thì mới không lo “Hồ Tây tràn ra Mỹ Đình”, trong khi những hồ xunh quanh đã bị lấp đi đi đến 70%), hơn nữa Mỹ Đình không “gối núi trông sông” theo quan niệm phong thủy.
7. Phát biểu của các quan chức được đưa vào mục “Phát ngôn ấn tượng” được điểm mỗi thứ Sáu hàng tuần của báo điện tử VietnamNet.
Những người có phát ngôn ấn tượng được điểm mặt kể tên thuộc đủ mọi ngành, ở rất nhiều chức vụ cao thấp khác nhau, trở thành nỗi lo lắng và sự đàm tiếu của dư luận. Không hiểu các trường đào tạo về hành chính cho cán bộ có dạy kỹ năng và cách xuất hiện, phát biểu trước công chúng?
Phát ngôn của quan chức nhiều khi bộc lộ nhiều vấn đề mà người dân chưa biết; lại cũng nhiều khi bộc lộ trình độ cũng như sự vô cảm của quan chức đối với các vấn đề xã hội. Có những phát ngôn ấn tượng được dư luận đem ra đàm tiếu, buồn cười đến không ngờ được! Vậy mà không thấy những người phát ngôn đó nói lại, chứng tỏ báo chí đã tường thuật đúng!
8.Báo động về sự xuống cấp của đạo đức con người. Qua báo chí, chưa bao giờ người ta được xem các vụ tường thuật nhiều vụ giết người như năm 2009. Từ các vụ giết tình nhân (vụ giết người trên chiếc xe Luxes sang trọng) đến vụ con giết cha rồi chặt khúc vứt xuống sông hồ. Từ việc người vợ dùng chiếc kim khâu lốp dài gần 10cm đem từ Đông Anh lên Thái Nguyên để đâm vào giữa đỉnh đầu đứa con riêng của chồng vừa được 40 ngày tuổi đến các vụ giết người đốt xác rùng rợn.
Các vụ giết người càng ngày càng man rợ. Tuổi của các hung phạm ngày càng trẻ. Điều này cho thấy cần phải xem lại về cách chúng ta giáo dục con người trong nhà trường, gia đình và trong xã hội.
Chúng ta cần phải xem lại rằng con em chúng ta đã được giáo dục về đạo đức, về lòng yêu thiên nhiên và loài vật, yêu gia đình và bè bạn như thế nào trong các trường học. Môn giáo dục công dân đã được dạy như thế nào? Hay nó chỉ là những bài học thuộc lòng như vẹt?
9.Năm 2009, ghi nhận nhiều sự kiện về Di sản văn hóa Việt Nam. Có 3 di sản của Việt Nam được UNESCO ghi nhận là Di sản thế giới: Quan họ – Ca trù – Mộc bản triều Nguyễn. Trong đó, ca trù được ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
Nhưng năm qua lại cũng rộ lên chuyện đua nhau làm hồ sơ di sản UNESCO. Các tỉnh đua nhau họa ra một cái hồ sơ để đưa đi xin danh hiệu. Nào hang nào động, nào hát nào ca. Hồ sơ đề cử Hoàng thành Thăng Long của Hà Nội đã được thế chỗ bởi Hội Gióng.
Năm qua, việc tu bổ trùng tu tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng được báo chí đưa tin rầm rộ. Bức tử đền Và (Sơn Tây), khai tử Suối Giải Oan (Yên Tử), tu sửa đền Bà Tấm, chùa Trấn Quốc, đình Kim Liên…là những vụ được dư luận quan tâm nhiều.
Chúng ta có yêu văn hóa của ông cha thật không? Hay là chỉ yêu các dự án đó? Lập các dự án về văn hóa có bao nhiêu phần trăm vì văn hóa thật sự, hay là vì sự chấm mút? Ngay như Huế, đồn rằng biết giữ lắm, vậy mà hình như chỗ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế của ông Phùng Phu, ông Phan Thanh Hải cũng chỉ chăm chú thu tiền thôi! Đoàn làm phim truyện đến quay bối cảnh là lăng Đồng Khánh, em cứ xin bác 20 triệu một ngày, quay bao lâu thì quay, cứ thế trả tiền. Đoàn cán bộ Viện Hán Nôm có công văn đề nghị in rập văn bia để lưu trữ và nghiên cứu, mà họ khăng khăng không cho rập để bảo vệ văn bia, mặc dù đã nhờ đến Phó Chủ tịch tỉnh, kêu đến Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Nguyễn Thế Hùng, rồi ông Chủ tịch UB quốc gia UNESCO Việt Nam Phạm Sanh Châu. Thế mới biết ông Phu ông Hải chả khác gì ông vua con! Ấy vậy mà bia đá Thơ ngự chế của vua Thiệu Trị thì sắp lộn cổ xuống Ngã Ba Tuần, còn phế tích Võ Miếu (Võ Thánh) thì chỉ còn năm tấm bia đá trơ gan cùng tuế nguyệt “đã không kẻ đoái người hoài”, “lại không cho cắm một vài nén nhang”! Văn Miếu Huế cũng vậy, những cọc bê tông giơ sợi sắt nghều ngào như cào vào trời chiều Hương Giang ứa lệ. Nghệ nhân nghệ sỹ Huế lão thành đang thoi thóp xếp hàng đi xuống ga Hoàng Tuyền, mà cũng chẳng ai đoái tưởng. Huế có yêu Huế thật lòng chăng?
Liên quan đến di sản văn hóa, có lẽ cũng phải kể đến hai “kiệt tác” văn hóa mới ở hai đầu đất nước là Chùa Bái Đính và Đại Nam quốc tự. Mỗi nơi mỗi vẻ, không giống nhau và không giống ai, nhưng vì thế mà được từ quan chí dân nô nức kéo về chiêm ngưỡng. Liên quan đến di sản, chúng ta còn quá coi thường di sản văn hóa, khi cứ đem sân khấu hóa hoặc làm lệch lạc các lễ hội truyền thống (Liên hoan Cồng chiêng, Lễ hội đền Lảnh Giang, lễ hội Tịch điền cùng hàng trăm lễ hội tốn kém khác).
10. Năm 2009 cũng là năm có nhiều chuyện về các mạng xã hội. Cuối cùng sau nhiều lần “chết hụt”, Yahoo! 360 chính thức vĩnh biệt cộng đồng blogger vào ngày 13/7. “Cái chết” này đã được dự báo trước từ lâu nhưng nó vẫn thực sự gây sốc cho cộng đồng mạng. Các cuộc chuyển nhà, nhận họ hàng, bè bạn và người thân trong thế giới mạng diễn ra sôi động.
Khi Facebook được nhiều người chọn vì tính tương tác của nó trong cộng đồng thì cũng là lúc nó bị trục trặc một cách bí hiểm vào đầu quý IV năm 2009. Một tâm lý bất an đã và vẫn đang thường trực trong cộng đồng sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam.
*
Xuân Canh Dần đang sắp sửa! Bao nhiêu việc đang bày trước mắt. Ngổn ngang trăm mối bên lòng!
Ta là một “bạch diện thư sinh” suốt ngày quẩn quanh với thư tịch cổ, tự thẹn với mình không làm được điều gì cho đời, văn chương chữ nghĩa viết ra cũng chỉ để vui bạn vui bầu chứ tuyệt nhiên không có dòng nào có hơi hướm gì đáng gọi là kinh bang tế thế. Thôi thì, việc mình mình biết, lòng và chí chỉ biết tâm niệm câu này:
Thương nước, khơi sâu nguồn sử nước
Yêu đời mở rộng mạch văn đời.
Khơi đỉnh hương trầm. Nối thêm ngọn sáp. Ngào ngạt ngọn khói hương dâng. Nao nao mối sầu thiên cổ!
Sáng nay, mưa phùn đã dắt nhau xuống phố. Ngày mai Hà Nội mở lễ hội hoa. Khắp non sông trời đất giao mùa! Xuân bất tận đang về trên đất Việt!
————–
Ý kiến phản hồi về bài viết trên do một độc giả gửi tới sáng 31-12-2009:
Trước hết xin nói ngay, tôi là Phan Thanh Hải, là người ở cố đô Huế mà trong lời tự sự của mình ông Diện có “hân hạnh” nhắc tới.
Tôi thấy buồn vì ông Diện đưa nhiều suy nghĩ cá nhân của mình để phán xét một số chuyện mà ông không am hiểu (hoặc cố tình không hiểu).
Ông lên án chuyện đạo văn của nhiều người nhưng khi nói chuyện với một số anh em nhân sĩ ở Huế, có người lại phàn nàn với tôi là ông Diện đã sử dụng ý kiến của họ theo kiểu “cầm nhầm” là của mình(!!!).
Ông nói về chuyện Trung tâm của tôi không cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm được rập bia trong các khu di sản của Huế và chúng tôi là những “ông vua con” mà lại quên mất là nếu đến Quý Viện của ông, muốn photocopy dù là một tờ tư liệu cũng phải trình báo thưa gửi qua bao nhiêu vòng, còn phí photo thì bất kể là ai cũng phải nộp 2.000đồng/trang (dù có trang chỉ có một vài chữ). Đó là chưa kể có nhiều tài liệu có muốn cũng không thể đụng tới!
Thực ra chúng tôi không chỉ không cho Quý Viện của ong sao chụp văn bia mà tất cả các đơn vị, cá nhân đều không được phép, vì đó là Quy chế bảo vệ di sản!
Tôi đã giải thích với lãnh đạo Viện Hán Nôm rất rõ ràng về chuyện này và còn gợi ý cho họ biết để liên hệ với một số đơn vị đã có bản rập (làm trước kia) nhằm sao chụp lại. Trước đây, khi chưa có quy chế bảo vệ nghiêm ngặt, Trung tâm tôi đã tạo điều kiện cho một số đơn vị sao chụp văn bia phục vụ công tác nghiên cứu. Viện Hán Nôm cũng đã được hưởng sự ưu tiên này. Không hiểu sao muốn sao chụp lại?
Cách đây ít năm, trong một chuyến tàu từ Hà Nội vô Huế tôi ngồi cùng với một anh Việt kiều nguyên là Thư ký Viện Viễn Đông Bác cổ tại Paris. Anh ấy đã hết sức phẩn nộ khi kể với tôi câu chuyện về cán bộ Viện Hán Nôm qua Viện của anh ta hết lần này đến lần khác xin photocopy tài liệu, mà đoàn sau lại xin photo các danh mục tài liệu y như đoàn trước. Khi anh qua Hà Nội mới biết, các tài liệu được sao chụp đó lại không hề có trong Thư viện của Viện Hán Nôm! Té ra các vị đều “sao” làm của riêng(!!!)
Tôi không phải vì chuyện này mà không cho phép viện Hán Nôm của ông Diện rập bia trong khu di sản (mà vì quy chế chung như đã nói), nhưng chúng tôi vẫn cấp giấy đi lại miễn phí trong các khu di tích cho đoàn của ông và gợi ý rằng, các ông có thể sao chép, chụp ảnh thoải mái mà! Hy vọng ông Diện không quên chuyện này chứ?
Còn chuyện ông nhắc đến Văn Miếu, Võ Miếu của Huế thì lại là chuyện khác. Chúng tôi hiện đang phải gồng mình quản lý, chăm sóc cho hàng chục cụm di tích với hàng trăm công trình. Nhiều di tích (như cụm Văn Miếu-Võ Miếu) đã được lập dự án tu bổ tổng thể nhưng còn phải chờ sự phê duyệt. Hiện chúng tôi đã cố gắng sắp giữ để công trình không xuống cấp nhanh hơn (Bia Võ Miếu đã được quy tập về một nơi, có người bảo vệ, dọn vệ sinh).
Chuyện thu lệ phí đối với các đoàn làm phim thì cũng là chuyện bình thường. Ông không biết là chúng tôi đã tạo bao nhiêu điều kiện thuận lợi cho các đoàn làm phim này. Còn lệ phí thì chỉ bằng một phần mười cái mức mà ông nói. Mà ông có biết là số tiền ấy lại được sử dụng cho việc bảo vệ di tích không?
Có lẽ trao đổi với ông vài chuyện như vậy để ông rõ thêm về Huế.
Nếu có thiện chí thật tình thì tôi chỉ mong ông góp phần để Viện Hán Nôm hợp tác, hỗ trợ Huế trong việc nghiên cứu và bảo tồn các di sản văn hóa.
Phan Thanh Hải
(Ghi chú: Chúng tôi chỉ không cho phép rập văn bia (dùng giấy dó, mực in để rập), còn vẫn cho phép chụp ảnh, ghi chép hay sao chụp bằng các phương pháp khác mà không gây tổn hại đến hiện vật)
—————
Chiều 31-12-2009, BS nhận được trả lời của ông Nguyễn Xuân Diện về ý kiến của ông Phan Thanh Hải.
NGUYỄN XUÂN DIỆN xin trả lời hồi âm của Ông Phan Thanh Hải: 
Xin cám ơn Anh Ba Sàm đã đăng tải phản hồi của Ông Phan Thanh Hải, TS Sử học, Phó Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô Huế. Về lời phản hồi này, tôi xin trao đổi lại như sau:
1. Tôi đề nghị ông Phan Thanh Hải nêu rõ tài liệu nào cho biết Nguyễn Xuân Diện đã sử dụng ý kiến của anh em nhân sĩ cố đô Huế theo kiểu “cầm nhầm”.
2. Viện chúng tôi là kho lưu trữ lớn nhất cả nước về di sản Hán Nôm. Ai cũng có thể đến đọc tài liệu tại chỗ. Còn việc ai muốn photocoppy, thì tất nhiên phải có đơn trình bày để lãnh đạo Viện ký duyệt. Chi phí 2000 đ/ trang photocoppy là do Bộ Tài chính quy định và tiền thu được chúng tôi đều nộp ngân sách. Xin ông Phan Thanh Hải nêu rõ tài liệu nào ông không thể đụng tới và ông xin photocoppy tài liệu đó để làm gì, chúng tôi xin trả lời ông rõ.
3. Về những tài liệu mà cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm tại Pháp, xin ông Phan Thanh Hải và quý vị xem bài của Ông Trịnh Khắc Mạnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm trên tạp chí Hán Nôm số 4 (89)- 2008, trang 71 – 78. 
4. Xin gửi ông các bức ảnh chụp bia Ngự chế của Vua Thiệu Trị (ảnh chụp khi chúng tôi đã đặt tờ giấy bản lên để làm bản dập) và bia Võ Miếu để ông và bạn đọc được rõ. Ảnh chụp vào tháng 8 năm 2009.
Chiều cuối năm, xin có mấy nhời thưa lại với Ông Phan Thanh Hải như vậy. Xin cảm ơn Ông đã hồi âm.
Nguyễn Xuân Diện
—————–
Trao đổi tiếp của ông Phan Thanh Hải (sáng 01-01-2010):
Thứ nhất, rất xin lỗi vì vào dịp Năm Mới mà phải nói những điều không muốn nói. Mong ông Diện và độc giả lượng thứ!
Về những vấn đề mà ông Diện nêu ra, tôi xin có vài lời đáp lại như sau:
1. Chuyện ông “cầm nhầm” ý tưởng của người khác thì nhiều người nói đấy. Chắc ông phải hỏi thêm anh em ở Huế. Xin ông xem lại kỹ vì tôi nói ra không tiện lắm! Bản thân tôi thì thấy chuyện ông nói chuyện bộ phim Trần Thủ Độ (nguyên văn là “Việc chọn làm phim Trần Thủ Độ như một lễ vật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thật sự là một tối kiến của các nhà làm phim, và chủ đầu tư dự án. Vì ai cũng biết lễ kỷ niệm 1000 năm có điểm nhấn là vương triều Lý. Trớ trêu thay, theo chính sử thì chính Trần Thủ Độ đã chủ trương tận diệt nhà Lý bằng một việc làm không thể nói là có đạo đức”) có đúng là ý tưởng của ông không? Tôi đã nghe TS Trần Đức Anh Sơn (cũng là một người Huế, email anhsontd@yahoo.com ) đã nói chuyện này cách đây hơn một tháng (tại hôm gặp mặt Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật trưa ngày 29/11/09 với khá nhiều người tham gia)!
2. Viện Nghiên cứu Hán Nôm đúng là nơi lưu trữ nguồn tư liệu Hán Nôm lớn nhất VN nhưng khi các nhà nghiên cứu đến đây làm việc muốn xem, sao chụp tài liệu không phải thuận lợi lắm đâu! Chẳng hạn, muốn photocopy văn bia thì…không được! Tôi đã từng đại diện cho Trung tâm hơn một lần đến “Quý Viện” xin photocopy lại 32 tấm bia Tiến sỹ (vốn của Văn Miếu Huế do Trường Viễn Đông Bác Cổ đã rập từ những năm 20 của thế kỷ 20) để đối chiếu nghiên cứu với mong muốn phục hồi những chữ Hán đã bị mờ trên bia (hiện nay) khi có điều kiện nhưng nguyện vọng của chúng tôi không được đáp ứng! Vì sao vậy? Nếu ông biết thì xin trả lời. Photocopy văn bia không được thì tại sao các ông lại đòi đi rập văn bia ở tất cả mọi nơi trong nước về lưu trữ?
Xin tiết lộ với ông một điều nữa nhé: Trực tiếp xin photocopy thì không được nhưng sau đó lại có người gợi ý với chúng tôi là muốn có thì họ “sẽ giúp”. Và sau khi trả 500 ngàn đồng để được “giúp” chúng tôi đã có 2 bản văn bia! Chí đáng tiếc đó là văn bia của Văn Miếu Hà Nội chứ không phải của Huế!
3. Việc ông nói giá photocopy 2.000VNĐ/trang là do Bộ Tài chính quy định và tiền phí này các ông đều nộp vào ngân sách nhà nước. Vậy sao ông không nghĩ rằng lệ phí quay phim (cũng chỉ từ 2-2,5 triệu đồng/ngày chứ không phải 20 triệu đồng/ngày như ông nói) tại các khu di sản cũng do Nhà nước quy định và tất cả phí thu được đều nộp vào Kho Bạc Nhà nước? Mà chúng tôi có quy định rõ ràng, không phải thu phí với tất cả đoàn làm phim mà chỉ thu phí này đối với những đoàn làm phim truyện, phim quảng cáo… Còn tại “Qúy Viện” thì hình như ai đến photo tài liệu đều phải nộp 2.000đ/trang đúng không ông Diện? Tôi đã nghe không ít anh em nghiên cứu than phiền về mức phí photo quá đắt của Viện ông rồi đấy. Làm sao mà một nhà nghiên cứu bình thường dám photo một cuốn sách mấy nghìn trang với mức phí ấy?
3. Bức ảnh chụp bia Võ Miếu Huế nói lên điều gì? Ông đã biết tường tận về lịch sử ngôi miếu này chưa? Cách đây vài năm, khi nó chưa được giao cho Trung tâm chúng tôi quản lý thì mỗi bia còn nằm một nơi, không gian hoang phế, cổ dại um tùm… Sau khi tiếp nhận, chúng tôi đã quy tập tạm các bia về một chỗ (như ảnh ông cung cấp), rào quanh khuôn viên để bảo vệ và lập dự án trùng tu tổng thể (cùng với Văn Miếu, Khải Thánh Từ phía trên). Tuy nhiên, việc phê duyệt một dự án trùng tu di tích luôn phải tuân thủ những quy trình do Nhà nước quy định.
4. Chuyện ông đặt giấy rập tấm bia “Trạch nguyên tao lộc” ở Ngả ba Bằng Lãng (hiện đang nằm trong vườn nhà dân) là vi phạm quy định rồi đấy! Khi các ông lén lút rập tấm bia này bảo vệ tại lăng Minh Mạng đã không làm tròn nhiệm vụ (cũng vì tấm bia này nằm khá xa khu vực lăng). Ông có biết tấm bia này đã từng bị sụp đổ xuống sông, chúng tôi đã trục vớt và đưa dựng lại trên bệ tại vị trí nguyên thủy. Tuy nhiên đây là chỗ thấp, gần sông, thường xuyên bị ngập lụt và bị phù sa phủ lấp. Khi ông đến đó vào tháng 8/09 là thời điểm bia bị phù sa bồi lấp cả phần chân. Chúng tôi đang tính toán để dựng nhà che cho bia (tuy nhiên phải cân nhắc vì làm sao nhà che phải phù hợp). Toàn bộ khu vực dân cư trong vùng bảo vệ di tích lăng vua Minh Mạng hiện đang chuẩn bị được di dời, dải đất này sẽ được trồng rừng bảo vệ. Đó sẽ là cơ hội tốt nhất để chúng tôi bảo vệ các di tích liên quan, trong đó có tấm bia này.
Có mấy lời xin thưa lại để ông Diện rõ. Mong ông sang năm mới khi phát ngôn cần thận trọng hơn.
Phan Thanh Hải
———-
Và đây là trả lời của tác giả bài báo, ngay sáng nay 1-1-2010:
Trao đổi lại với Ông Phan Thanh Hải
Trước hết, xin cám ơn ông đã hồi âm và nhắc nhở “sang năm mới khi phát ngôn cần thận trọng hơn”. Xin thưa lại vài điều sau:
1. Về chuyện “Cầm nhầm”! Úi giời! Tôi cứ tưởng ông bảo tôi “cầm nhầm” thế nào! Hóa ra ông Phan Thanh Hải là một Tiến sĩ Sử học mà phát biểu thật hồ đồ! Ông nghĩ rằng, tôi không có được cái “ý tưởng” đó ư?
Tôi xin thưa với ông rằng đã hàng năm nay tôi chưa gặp TS Trần Đức Anh Sơn, và tôi cũng chưa bao giờ được nghe ai nói về việc Trần Đức Anh Sơn phát biểu về phim Trần Thủ Độ. Tôi cũng chỉ biết việc Trần Đức Anh Sơn ra Hà Nội dự lễ trao giải thưởng Phạm Thận Duật khi đọc bài trả lời PV Thể thao & Văn hóa sau đó. Xin ông cứ liên hệ với ông Trần Đức Anh Sơn sẽ rõ.
Ông Phan Thanh Hải nên nhớ rằng, không phải chỉ có ông Trần Đức Anh Sơn mới nghĩ được như vậy khi Hà Nội làm phim Trần Thủ Độ để kỷ niệm đại lễ Thăng Long.
Nếu anh em nào ở Huế có nói tôi “cầm nhầm” của họ, xin ông cứ nêu tiếp nữa, để tôi và độc giả được thêm những trận cười trong những ngày đầu năm mới!
2. Trong những năm qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang thực hiện chương trình số hóa các tài liệu lưu trữ tại Viện. Ông cũng biết rằng, bản rập văn bia là những tài liệu có kích cỡ lớn, không thể có máy nào có thể photocoppy được vì vậy không thể đáp ứng yêu cầu này. Thay vào đó, hiện nay bản ảnh của hàng vạn bản rập đã được in ra phục vụ việc nghiên cứu của các học giả trên khắp thế giới. Ai cần đọc bản rập thì đều đọc tại Thư viện.
Còn chuyện một ông đại diện cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Đô Huế đến Viện Hán Nôm mà lại nghe lời gợi ý của một cá nhân (cá nhân nhé) nào đó giúp bằng 500 ngàn bạc, thì cả ông và cả ông bà nào đó cũng cần suy nghĩ lại về tư cách của mình, cả trên tư cách cá nhân lẫn trên “phương diện quốc gia”.
3. Tất cả mọi người, kể cả Viện trưởng Viện Hán Nôm, các độc giả trong và ngoài nước khi photocoppy tài liệu chữ Hán Nôm ở Viện Hán Nôm đều phải trả mức chi phí 2.000 đ/ trang. Nếu ai có thắc mắc, xin hỏi Bộ Tài Chính.
Hơn nữa, ông là người đi nhiều nơi trên thế giới (tôi biết vậy vì mỗi lần ông đi nước ngoài là ông viết hàng loạt bài báo kể chuyện người này đưa, người kia rước, rồi chuyện ăn uống chơi bời ở nước ngoài, đăng cùng lúc trên vài tờ báo, tạp chí) ông đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc ông thấy người ta cho ông tiếp cận tài liệu và trả chi phí sao chụp thế nào, chắc cũng ông cũng đã biết.
4. Chúng tôi đi công cán, đều có công lệnh đóng dấu son trong tay. Khi đến, đều đến chào và trình bày với chính quyền và nhà chức trách địa phương. Đáng tiếc, mặc dù công văn đã gửi từ trước, mà 3 tuần tôi và gần 20 cán bộ của Viện chúng tôi ở Huế mà không thể gặp mặt được ông, ông Phùng Phu, hay bất cứ một ông bà nào có trách nhiệm trong cái Trung tâm của ông, dù chỉ vài mươi phút!
Tôi ở Hà Nội, làm sao biết được Ngã Ba Tuần có cái bia sắp lộn cổ xuống sông? Cán bộ UBND xã sở tại dẫn chúng tôi đến để làm bản rập cái văn bia đó. Khi biết đó chính là một văn bia quý giá khắc bài thơ Ngự chế của Vua Thiệu Trị, tôi hỏi họ cái bia này thuộc ai quản lý, họ nói không biết. Họ có nói với tôi, đã nhiều năm nay, có nhiều đoàn cán bộ về đây, xem xem đọc đọc rồi bỏ đi cả. May có gia đình này trông nom.
Thưa ông, đây là trả lời cuối cùng của tôi đối với Ông tại đây. Yêu Huế, xót Huế, tôi có dự kiến viết khoảng 15 bài về các vấn đề của Huế (đã viết được 4 bài) và đăng tải trên Blog cá nhân. Khi ấy, mới nói hết và đầy đủ về thực trạng di sản văn hóa Huế theo cảm nhận và thực chứng của mình!
Xin chúc ông và gia đình một năm mới An lành – Hạnh phúc và Thăng tiến trong công tác!
Trân trọng kính chào
Nguyễn Xuân Diện
———-
Phản hồi lần cuối của ông Phan Thanh Hải (tối 1-1-2010):
NÓI LẠI CHO RÕ
Đọc những lời ông Diện tôi hơi ngạc nhiên. Thực tình tôi không hề muốn nói qua nói về mãi về chuyện này, nhất là trong dịp đầu năm. Tuy nhiên, có những điều cần phải nói lại cho rõ.
1. Chuyện “cầm nhầm” ý tưởng của người khác, ông khoan cười vội! Hãy xem lại mình cẩn thận đã ông Diện ạ. Có nhiều người nói và có căn cứ hẳn hoi đấy. Mà chuyện này hình như ở chỗ ông cũng không phải là hiểm phải không? Tôi thấy chính ông còn tố cáo Viện trưởng của mình tội “cầm nhầm” của người khác ngay trên Blog của ông cơ mà?!
2. Về chuyện lệ phí photocopy ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm đắt rẻ như thế nào thì không phải tôi mà rất nhiều anh em trong giới nghiên cứu than phiền. Điều này chắc ai cũng biết. Ông Diện bảo tôi từng đi nhiều nơi, biết các nơi khác người ta cũng thu phí còn đắt hơn thế, nhưng thưa ông làm sao có thể so sánh mức sống của người dân Nhật Bản với người Việt Nam. Một nhà nghiên cứu người Nhật nếu có công việc ổn định, lương tháng 50-60 Vạn Yên, nếu photocopy một trang tư liệu quý cũng chỉ phải trả 100 yên (mà kỳ thực không phải là photocopy mà được chụp và in lại với chất lượng rất cao cơ). Nhưng tôi biết, đây không phải là chuyện của ông. Tôi chỉ muốn nói về sự khó khăn khi chúng tôi muốn có tư liệu từ Viện của ông mà thôi.
Tôi nói chuyện phải trả 500 ngàn để có 2 bản văn bia là chuyện cách đây đã hơn 10 năm ông Diện ạ, chứ không phải là chuyện mấy năm trở lại đây mà ông bảo là do Viện ông bận sao chụp số hóa các văn bia. Tôi và ông Phạm Đức Thành Dũng vì chỉ muốn có văn bia để đối chiếu làm sách mà phải cắn răng móc tiền túi ra để trả. Ông không được đánh đồng chuyện này với chuyện kia.
Còn chuyện đoàn làm phim Thái sư Trần Thủ Độ đã làm việc ở Huế như thể nào thì xin ông hỏi lại Đạo diễn Tất Bình, người phụ trách đoàn. Chúng tôi đã hỗ trợ tích cực cho đoàn như thế nào và mức thu phía ra sao, ông hỏi thì sẽ rõ. Đừng nên chỉ “nghe nói” mà vội hàm hồ nói chúng tôi chỉ biết thu “ngày 20 triệu đồng”. Đoàn làm phim sử dụng hiện trường tại ít ra là 3 khu di tích: lăng vua Đồng Khánh, lăng vua Minh Mạng và lăng vua Tự Đức. Thời gian tổng cộng là 90 ngày. Tổng mức thu là 197 triệu đồng, có Hợp đồng và hóa đơn đỏ hẳn hoi. Đó là chưa kể phần chúng tôi miễn giảm và hỗ trợ cho đoàn nữa.
3. Ông nói Giám đốc Trung tâm của tôi và tôi không tiếp đoàn của ông dù có giấy giới thiệu? Thưa với ông là những ngày đó chúng tôi người thì đi công tác, người thì bận đi họp. Nhưng tôi đã cẩn thận ký giấy miễn 100% vế vào các khu di sản cho đoàn của ông và dặn anh em bảo vệ tạo điều kiện cho đoàn ghi chép, chụp ảnh (chỉ trừ rập văn bia). Tôi thấy các ông đã không có một lời cảm ơn lại còn nói vậy thì thật tình chẳng biết nói sao nữa! Còn thái độ kiểu “những ông vua con” mà ông quy cho chúng tôi thì e phải xem lại vì chúng tôi chỉ làm đúng nguyên tắc và đúng phận sự thôi ông Diện ơi. Ông còn nhớ là sau khi các ông nhờ Cục Di sản có công văn (mà chỉ là công văn giới thiệu đề nghị hợp tác), ông đã gọi điện cho tôi và nói rằng, không cần biết đến quy chế hay thứ gì khác, các ông đã được cấp trên cho phép!.. Vậy thái độ ấy là gì ạ?
Chúng tôi chỉ cố gắng bảo vệ những gì cần bảo vệ cho Huế và cho đất nước mà thôi theo nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Nếu không vậy thì làm sao Huế có thể còn được như hôm nay. Dĩ nhiên, chúng tôi biết mình sức mọn tài hèn, còn rất nhiều những việc phải làm và phải làm tốt hơn. Bởi vậy chúng tôi rất cần sự đồng cảm, hỗ trợ và chia xẻ. Rất mong ông hiểu cho điều đó.
4. Đúng là tôi đã viết và đăng tải một số bài du ký sau các chuyến công tác xa nhưng đó là những lời tâm sự để bạn đọc hiểu thêm về nước người, văn hóa xứ người. Đó là những câu chuyện văn hóa, chẳng lẽ ông Diện đọc mà không hiểu ư?
Thật đáng buồn vì đầu năm mới đã phải nói những chuyện như thế này!
Tôi cũng xin thưa, đây là những lời cuối cùng mà tôi muốn tranh luận với ông Nguyễn Xuân Diện.
Xin chúc ông cùng gia quyến năm mới an lành!
Phan Thanh Hải