BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Đảng/Nhà nước’ Category

490. Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại VN

Đăng bởi anhbasam on 03/03/2010

FOREXPROS.COM

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại Việt Nam

John Ruwitch

Ngày 1-3-2010


Hà Nội ngày 1-3 (Reuters) Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tương đối tốt, GDP tăng trưởng 5,23% năm vừa qua, nhưng đất nước này vẫn còn bị xem như là một nơi đầu tư mạo hiểm và tương đối mù mịt.

Giao dịch trao đổi tín dụng mặc định loại 5 năm đang được thực hiện ở mức chênh lệch khoảng 254 điểm cho Việt Nam, cho thấy mức rủi ro cao đứng hàng thứ hai trong bảng liệt kê của Thomson Reuters dành cho các nước mới nổi lên ở châu Á, mức chênh lệch trung bình trong bảng liệt kê này là 140.

Dưới đây là tóm tắt các rủi ro chính cần lưu ý ở Việt Nam:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Tỷ giá trao đổi cố định của Việt Nam thường xuyên gây áp lực kinh tế chồng chất. Ngân hàng trung ương đã giảm giá đồng bạc Việt Nam lần thứ ba hồi tháng hai, kể từ đầu năm 2008, để giảm áp lực về tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sau đó đã đổ thêm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nói rằng trừ khi chính phủ khôi phục niềm tin về tiền tệ bằng cách kềm chế lạm pháp và giảm thâm thủng mậu dịch, nếu không thì sẽ phải giảm giá đồng bạc thêm nữa.

Chính phủ đã liên tục thực hiện các biện pháp khác để cố gắng khôi phục việc kiểm soát thị trường tiền tệ. Họ đã buộc các nhà xuất khẩu lớn thuộc sở hữu nhà nước bán đô la, và thuyết phục những ngân hàng do nhà nước điều hành đảm bảo đủ đô la cung cấp theo nhu cầu. Họ đã liên tục hứa hẹn thực hiện hình phạt đối với việc buôn bán tiền tệ ngoài biên độ chính thức. Họ đã ra lệnh đóng cửa sàn vàng vào cuối tháng ba. Nhưng hiệu quả của các biện pháp bị hạn chế.

Các phân tích gia nói rằng giá trị đồng bạc nước này vẫn còn được giữ ở mức cao và những vấn đề thuộc về cấu trúc vẫn chưa được giải quyết. Tuy nhiên, rủi ro về một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán không cao. Khi kinh tế đổi chiều, lượng ngoại tệ có khả năng tăng, sẽ hỗ trợ cho tiền đồng.

Cần lưu ý:

- Những bước mà ngân hàng trung ương sử dụng để kềm chế lạm phát và kiểm soát việc thâm thủng mậu dịch. Hầu hết các phân tích gia dự đoán có sự suy yếu tiền tệ vào năm 2010.

- Khoảng cách về tỉ giá đô la/ đồng giữa thị trường chợ đen và tỉ giá liên ngân hàng – thước đo chính về áp lực tiền tệ.

HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ

Thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, và quan liêu nặng nề tác động lên hiệu quả của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cải cách kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi lợi ích xung quanh và các thành phần bảo thủ trong một chính phủ tập trung quá nhiều về vấn đề an ninh, đặc biệt trong những tháng chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản vào năm tới.

Các nhà phân tích nói rằng, có thể có một mức độ tê liệt chính sách, hoặc ít nhất là thái độ bảo thủ trong năm tới như là nạn bè phái và dùng thủ đoạn để tranh giành chức vụ trước Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc đầu năm 2011 sắp tới. Những vị trí lãnh đạo quan trọng và những thay đổi chính sách thường chỉ xảy ra khi có đại hội, năm năm một lần. Các đảng bộ ban ngành địa phương tổ chức hội nghị riêng trong năm nay.

Cần lưu ý:

- Trong khi các gói kích cầu kinh tế giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đã có các câu hỏi đặt ra về việc làm cách nào thâm hụt ngân sách được cấp tiền bù đắp, làm cách nào áp lực lạm phát được kiềm chế, và làm sao tránh được nguồn vốn đầu tư tư nhân ào ạt rút đi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt tay vào một kế hoạch giảm bớt thủ tục quan liêu và đặc biệt các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ xem kết quả ra sao.

- Việc đàn áp bất đồng chính kiến đã dẫn tới một vấn đề gai góc, trong đó các nhà ngoại giao phương Tây và các phân tích gia xem các vụ kết án có động cơ chính trị. Điều này đã làm sôi động hơn trong việc kêu gọi Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao. Cũng vậy, vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ đang đẩy mạnh việc thông qua nghị quyết về nhân quyền. Những sự việc này làm sứt mẻ quan hệ thương mại.

- Các nhà đầu tư thường liệt kê cơ sở hạ tầng lạc hậu là một trong những rào cản lớn của Việt Nam. Khả năng của chính phủ phối hợp nhanh, phát triển hiệu quả trong lĩnh vực này sau khi cam kết trợ giúp phát triển chính thức là một vấn đề trọng điểm.

THAM NHŨNG

Tham nhũng là đặc tính cố hữu ở Việt Nam ở mọi cấp mọi ngành của chính phủ, và nó là rào cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Các nhà chức trách đã công bố kế hoạch tấn công chống tham nhũng, và khuyến khích các phương tiện truyền thông theo dõi và kiểm tra, nhưng những nỗ lực này đã tan thành mây khói, sau khi các nhà báo bị bắt giữ do viết bài về các vụ bê bối lớn. Tiến triển về vấn đề [chống] tham nhũng vẫn là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc hấp dẫn đầu tư dài hạn.

Cần lưu ý:

- Thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng nhận thức về tham nhũng. Một sự cải tiến hay suy giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn. Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2009 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi kể từ năm trước, được xếp hạng 120 trên 180 quốc gia.

BẤT ỔN XÃ HỘI

Các cuộc đình công ở Việt Nam gia tăng, biểu tình phản đối và tranh chấp đất đai trong những năm gần đây liên tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoài. Rối loạn nổ ra ở các vùng nông thôn do việc nhà nước chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng của các cán bộ địa phương.

Báo chí nhà nước trong tháng giêng nêu ra một quan chức Bộ Kế hoạch nói rằng kinh tế năm nay khó khăn có thể dẫn tới nhiều cuộc đình công hơn. Mặc dù hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng bất ổn lớn có khả năng xảy ra, hoặc có thể có bất kỳ rủi ro sắp xảy ra cho chế độ đang có thách thức ngầm từ bên dưới.

Cần lưu ý:

- Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một phong trào phản kháng rộng lớn mang tính toàn quốc sắp sửa xảy ra do các tranh chấp địa phương. Cho tới nay, điều này dường như là chưa có.

- Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa – (Biển Đông). Vấn đề này được tích tụ cao độ tại Việt Nam, nơi mà sự ngờ vực Trung Quốc luôn luôn cao. Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hay nhận thấy sự yếu đuối của Việt Nam về vấn đề này, đều có thể khơi dậy sự ủng hộ cho các cuộc biểu tình rộng lớn.

Vai trò của giáo hội Công giáo. Những người Công giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình định kỳ quanh việc đất đai của nhà thờ bị chính phủ chiếm đoạt sau 1954. Giáo hội Công giáo, trong khi chính thức không tham gia vào chính trị, có khoảng 6-7 triệu giáo dân tại Việt Nam và được tổ chức khá tốt.

Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | 3 phản hồi »

458. CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM: NHÌN LẠI VÀ ĐI TỚI

Đăng bởi anhbasam on 01/02/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM:

NHÌN LẠI VÀ ĐI TỚI

Tài liệu tham khảo đặc biệt

(Đài BBC 14/1)

Thứ Bảy, ngày 23-1-2010

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) vừa công bố một tài liệu nghiên cứu quan trọng đánh dấu 10 năm ngày Việt Nam tiến hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước (2001-2010)

Cuốn sách “Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, tập hợp sáu nghiên cứu của các tác giả trong ngoài nước, đánh giá và đưa ra khuyến nghị xung quanh cố gắng cải cách của Việt Nam. Người biên tập cuốn sách, Jairo Acũna-Alfaro (UNDP), cho biết để có tập sách này, sáu nhóm tác giả đã phỏng vấn hơn 100 cá nhân và đại diện các tổ chức và tiến hành một số hội thảo.

Năm 2001, Thủ tướng Việt Nam (ông Phan Văn Khải) phê duyệt chương trình 10 năm, đề ra bốn lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức và cải cách tài chính công. Số liệu gần đây cho biết 60-70% công chức không qua đào tạo về quản lý nhà nước, 50% cán bộ cấp xã chỉ tốt nghiệp tiểu học hoặc trung học cơ sở.

Theo Bộ Nội vụ, từ 2003-2007, hơn 16.000 cán bộ, công chức đã chuyển ra khỏi khu vực nhà nước (chiếm 0,8% tổng số cán bộ, công chức). Tp.HCM là địa phương có số công chức ra đi lớn nhất (gần 6.500 người), trong khi Bộ Tài chính có hơn 1.000 người thôi việc.

Ông Jairo Acũna-Alfaro nhận xét: “Yêu cầu của người dân là một nền hành chính có tác dụng thúc đẩy phát triển và công bằng, có sự tham gia của các thành phần xã hội trong quá trình hoạch định chính sách của nhà nước, có giá trị thực thi và được giám sát chặt chẽ”. Tuy vậy, theo ông, cải cách hành chính tới nay “đem lại kết quả vừa khả quan vừa không mấy khả quan, đồng thời cũng cho thấy đây là một quá trình cải cách chứa đựng những căng thẳng nội tại”

“Viên đá quý hiếm”

Ba tác giả, David Koh, Đặng Đức Đạm, Nguyễn Thị Kim Chung, nhận xét có khoảng cách giữa mong muốn của lãnh đạo và năng lực và sự tự nguyện của bộ máy hành chính bên dưới. Vì vậy, ở Việt Nam, “cũng có những điển hình tốt về cung cấp dịch vụ công nhưng đó chỉ là những viên đá quý hiếm hoi”, như lời ba nghiên cứu gia trong khi bàn về sự phát triển một nền văn hoá dịch vụ công hướng tới chất lượng tốt nhất.

Các tác giả khái quát hiện trạng hệ thống dịch vụ công ở Việt Nam: “Hàng hoá và dịch vụ mà mọi người cần đều có sẵn, nhưng giá cao hơn so với trong vùng hoặc với những nước có cùng trình độ phát triển; các hàng hoá công cơ bản trong cơ sở hạ tầng như giao thông, nước, không khí, trường học, cơ sở y tế… có chất lượng thấp hơn các nơi khác”.

Từ bức tranh chung này, họ kêu gọi nguyên tắc thứ nhất của cải cách dịch vụ công phải là “tạo được văn hoá coi sự hài lòng của công chúng là thước đo cuối cùng đối với hiệu quả của bộ máy hành chính”. Việt Nam cũng không thể hy vọng vay mượn mô hình của các nước mà “phải lọc các ý tưởng áp dụng dựa vào hoàn cảnh tại Việt Nam”.

Cải cách không phải là tìm cách cắt giảm con số các bộ và phát triển theo đường thẳng. Ngược lại, dịch vụ công tốt có thể đòi hỏi mở rộng bộ máy chính phủ, hoặc tái cơ cấu chính phủ (không nhất thiết nhằm mục đích tinh giản bộ máy) nhằm làm cho việc cung cấp dịch vụ công hoàn hảo trở thành mục tiêu ưu tiên của chính phủ.

Sau khi nêu ra các nguyên tắc cải cách căn bản, ba tác giả đưa ra các khuyến nghị trong một số lĩnh vực cụ thể. Đáng chú ý, họ kêu gọi thành lập các cơ quan quản lý đại diện, thay cho việc rất nhiều loại dịch vụ công hiện nay do chính phủ trực tiếp cung cấp hoặc do chính phủ kiểm soát chặt chẽ thông qua các bộ. Các cơ quan này khác các bộ ở chỗ nó trực tiếp tương tác với các công ty và nhà cung cấp dịch vụ, trung gian giữa những người lập chính sách tại các bộ và các công ty. Các cơ quan quản lý này phải được trực tiếp thành lập bởi luật của quốc hội (do chính phủ đề nghị và dự thảo) và luật phải coi các cơ quan đó là thiết chế của chính phủ trong chính sách cụ thể đó.

Về mặt nhân sự, chính phủ chỉ nên giới hạn vai trò của mình ở việc chỉ định một số chuyên gia giỏi vào hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị này sẽ có quyền cao nhất đối với cơ quan quản lý đó, cơ quan duy nhất có quyền chỉ định tổng giám đốc. Cơ quan quảnlý chịu sự quản lý của bộ nhưng cơ quan này phải nộp báo cáo hàng năm lên Quốc hội và cả bộ lẫn cơ quan này đều có trách nhiệm giải trình trước Quốc hội.

Ba tác giả cũng đề nghị bãi bỏ các Sở và Phòng Giáo dục tại các địa phương, mà thay vào đó là ba văn phòng tại Hà Nội, Huế và Tp.HCM, bỏ quản lý hành chính của các sở, phòng đối với giáo viên và các trường. Ba văn phòng này sẽ phụ trách các vùng đó và sẽ là đại diện của Bộ tại vùng chứ không nằm dưới chính quyền tỉnh nữa. Họ cũng đề nghị xem xét coi phúc lợi dành cho những người đi xuất khẩu lao động là một dịch vụ công.

Trong kịch bản này, sẽ thành lập một Cơ quna Xuất khẩu Lao động Việt Nam để thay các công ty môi giới hiện nay. Các tác giả phê phán các công ty môi giới là chạy theo lợi nhuận nên cố tuyển càng nhiều càng tốt, không quan tâm điều kiện thị trường. Họ cho rằng cơ chế thị trường đã thất bại khi phó mặc một số lượng lớn lao động xuất khẩu cho một số nhỏ các công ty môi giới, và điều đó đòi hỏi chính phủ phải nắm lấy vai trò này và thành lập một cơ quan (không ăn lương của chính phủ, mà hoạt động trên cơ sở phi lợi nhuận và lấy thu bù chi).

Cải cách thể chế

Nếu đây là một chương bàn tới những vấn đề cụ thể trước mặt thì chương của Martin Painter, Hà Hoàng Hợp và Chu Quang Khởi lại nhấn mạnh tới cải cách thể ché mà theo họ “chứa đựng những căng thẳng và mâu thuẫn liên hệ với mô thức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.

Giới quan sát đồng ý rằng hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được đặt dưới sự độc quyền của Đảng. Gần đây có một số tiếng nói công khai đề nghị thi hành nguyên tắc tách vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Nhà nước.

Nhưng trên thực tế, như lời ba tác giả Martin Painter, Hà Hoàng Hợp và Chu Quang Khởi thì sự can thiệp của Đảng đã lan toả vào mọi công việc quản lý hàng ngày của Nhà nước. Họ chỉ ra rằng: “Cán bộ Đảng từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở vừa đưa ra các chỉ thị về chính sách tổng thể để từng nhánh của Nhà nước tuân theo, vừa thường xuyên can thiệp trực tiếp vào công tác quản lý và ra quyết định của các cơ quan Nhà nước này”.

Như vậy, cải cách hành chính và cải cách thể chế không tách rời nhau. Không thể hy vọng cải cách hành chính đơn thuần sẽ đem lại một bộ máy công quyền hiện tại trong khi Việt Nam muốn chuyển từ nước thu nhập thấp thành nước thu nhập bậc trung trong tương lai gần. Nếu không giải quyết hệ thống các vấn đề thể chế, tức đụng đến cải cách hiến pháp và đổi mới chính trị, cải cách hành chính tiếp tục chỉ tạo ra tiến bộ giới hạn.

Các tác giả chỉ ra chương trình nghị sự 10 năm vừa quá rộng lại quá hẹp. Nó quá rộng bởi vì các vấn đề nêu ra nằm ngoài phạm vi hành chính của chính phủ; nó quá hẹp bởi vì các vấn đề về cấu trúc và hệ thống phải được xem xét một cách đồng thời với các phương diện hành chính.

Cải cách thể chế ở Việt Nam đòi hỏi phải xem xét một số vấn đề quan trọng mang tính cơ cấu liên quan đến toàn bộ hệ thống chính quyền, cũng như các cải cách đối với hệ thống của hành chính nhà nước. Cải cách thể chế hành chính nhà nước không chỉ trùng lặp với cải cách pháp lý, nó còn có mối tương thuộc với các cải cách cơ cấu, có nghĩa rằng nó liên quan đến sự thay đổi mang tính hiến pháp và chính trị.

Theo ba tác giả, không thể phủ nhận đã có những thành tích trong cải cách thể chế ở Việt Nam, ví dụ có thêm nhiều luật mới, thủ tục hành chính đã đơn giản hoá, và có những địa phương thành công khi áp dụng cơ chế “một cửa”. Nhưng, họ khuyến cáo rằng những sự cải thiện đạt được là không đồng đều và những dấu hiệu “mệt mỏi vì cải cách” đã trở nên khá rõ ràng.

Ba tác giả Yeow Poon, Nguễn Khắc Hùng, Đỗ Xuân Trường lại theo dõi vấn đề cải cách công vụ, với yếu tố quan trọng nhất là làm sao sử dụng người tài trên cơ sở không phân biệt đối xử và công bằng. Như ngầm nhìn nhận vướng mắc từ cải cách thể chế, họ nói chưa thể nhanh chóng biến nền công vụ ở Việt Nam sang chế độ dựa trên thực tài.

Một lý do là khái niệm về “tính trung lập của công chức” chưa bao giờ được đặt ra, vì “hệ thống quản lý nhân sự của Đảng tồn tại cùng với hệ thống quản lý nhân sự của Chính phủ”.

Vì bối cảnh chính trị này, các tác giả thận trọng nói “thay vì có thể có những chuyển đổi nhanh chóng của nền công vụ Việt Nam sang chế độ dựa trên thực tài, cần có một đường hướng chính sách trung hạn mang tính thực tế hơn, đó là xây dựng một chế độ kiểm soát nhằm hạn chế quyền lực của cá nhân các cán bộ lãnh đạo của Đảng và Chính phủ trong việc tuyển dụng, khen thưởng và đề bạt công chức”.

Bước tiếp theo là gắn hệ thống bảo trợ về chính trị với các phương thức tuyển chọn dựa trên năng lực để người có năng lực nhất trong số các ứng viên có đủ tiêu chuẩn chính trị được giao công việc. Đặt ra một lộ trình dài hạn, các tác giả đề nghị thể chế hoá nguyên tắc thực tài bằng một bộ quy tắc ứng xử của công chức, và thành lập cơ chế khiếu nại độc lập. Đến khi chế độ thực tài đã thực sự bắt rễ, khi đó sẽ lập ra một uỷ ban, toà án hay một cơ quan giám sát độc lập để công chức có thể khiếu nại nếu cho rằng bị đối xử bất công. Công chức cảm thấy mình bị đối xử không công bằng có thể tìm đến cơ quan này để khiếu nại.

Ba chương còn lại trong cuốn sách đề cập tới quan hệ giữa hành chính công và kinh tế; quản lý tài chính công và vấn đề chống tham nhũng.

Đăng trong Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 8 phản hồi »

446. Ai

Đăng bởi anhbasam on 23/01/2010

Ai

Tác giả: Việt Phương

Thứ Bảy, ngày 23-1-2010

Tuần Việt Nam xin giới thiệu cùng độc giả bài thơ “Ai” của nhà thơ Việt Phương.


I

Cán bộ hành chính ta là ai

Con sâu mọt đáng đời nguyền rủa

Hành hạ dân đến tột cùng khốn khổ

Vơ vét dân đến cả mớ rau nghèo


Hay ta là người công chức gieo neo

Lương không đủ cho con theo thày học

Dẫu thương dân thì cũng đành bất lực

Cơ chế nào trói chặt sức con người


Hay ta luôn dằn vặt mãi không nguôi

Ngày hai buổi đứng ngồi vô tích sự

Vẹo sườn dưới chồng giấy tờ đồ sộ

Viết những điều cổ hủ đến buồn nôn


Ta giãy giụa trong vòng xoáy sinh tồn

Chỉ mong một môi trường không ô uế

Ta đã từng có một thời trai trẻ

Từng dưới cờ tuyên thệ quyết vì dân


Đời con người dẫu chỉ sống một lần

Khi cả nước hành quân lên hiện đại

Đến cây cằn bỗng nở mùa hoa trái

Đây là lần sống lại của đời ta


Sáng bừng lên những bài học từ xa

Qua ống kính vạn hoa thời đổi mới

Mở tầm mắt nhìn ra ngoài thế giới

Hành chính về trong nguồn cội nhân dân


Đất trời nay đang vào giữa mùa xuân

Nghe trong gió thì thầm lời nhắn nhủ

Thôi giã biệt những lối mòn xưa cũ

Đường ta đi cùng mở với bao người

II

Giám đốc doanh nghiệp ta là ai

Nửa đời chiến chinh nửa đời bao cấp

Thời đổi mới gian truân hơn đánh giặc

Đã mười năm quần quật mở thị trường


Ta là người tiên phong khai phá đường

Gánh trên vai nỗi đoạn trường cải cách

Hay ta là một con sâu luồn lách

Xoay kiến ăn trong những ngách bùn đen


Ta đọa đầy những điêu đứng triền miên

Trên búa dưới đe bốn bề chèn ép

Hay ta hưởng toàn rượu ngon gái đẹp

Khoét của dân giành hết mọi bùi thơm


Ta chất chứa bao niềm vui nỗi buồn

Bao nhiêu tủi hờn bao nhiêu uất ức

Biển quê hương đêm triều dâng rạo rực

Con sóng nào thao thức gọi bình minh


Ta chỉ là một kẻ tù binh

Cưỡi đầu hổ rùng mình không dám xuống

Hay ta là nhà thơ giàu mộng tưởng

Luôn vươn lên theo hướng mặt trời


Ta lo toan quanh quẩn cái tôi

Lo giữ ghế lo xu thời nịnh hót

Hay ta muốn dân lên người vị ngọt

Dốc đời ta chi chút trả ân tình


Ta lắng nghe đất nước chuyển mình

Từ sâu thắm lòng dân bao khát vọng

Những cay đắng và ngọt ngào cuộc sống

Đang chờ ta lồng lộng gió lên rồi

III

Là nhà khoa học ta là ai

Nhập cuộc sâu hay còn ngoài đổi mới

Ta chủ động hay ta là con rối

Được phát huy hay còm cõi góc bàn


Làm Đảng viên hay khệnh khạng làm quan

Sống chiến đấu hay sống mòn công chức

Bao câu hỏi giữa hai bờ hư thực

Ở đâu nguồn tri thức trả lời đây


Những xấu xa trắng trợn tự phơi bày

Những cơ chế trói tay người tâm huyết

Những cấp phát, xin cho và phê duyệt

Bao tiềm năng nằm liệt đến bao giờ


Ta trở về những thôn cũ làng xưa

Ta đến với những bến bờ mới lạ

Ta hỏi người, hỏi cây và hỏi đá

Hỏi núi rừng đồng lúa hỏi lòng dân


Những lực gì đang ngăn cản dòng sông

Vượt ghềnh thác muôn trùng về biển rộng

Những dự định thời thanh niên mơ mộng

Đêm đên còn cháy bỏng đốt tim ta


Sẽ đến ngày đất nước thăng hoa

Còn xa tắp hay đã là gần lắm

Đường thênh thang hay đường còn thăm thắm

Mẹ già ta đăm đắm đợi lâu rồi


Con tàu ta lướt sóng vượt ra khơi

Nào đâu lực nào đâu thời đâu thế

Cùng dân tộc ta hồi sinh sức trẻ

Nắng ban mai đã hé ở chân trời


Việt Phương (1995)

——-

* Ba Sàm chú thích thêm: Nhà thơ Việt Phương là cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng (Phan Văn Khải), thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (đã tự giải thể). Ông cũng từng làm thư ký, trợ lý cho các ông Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Duy Trinh và Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị.

Một số bài báo gần đây của ông và viết về ông: – Nhà thơ Việt Phương và chuyện khi “Cửa đã mở” (LĐộng). - PHẠM XUÂN NGUYÊN đọc thơ VIỆT PHƯƠNG (Lê Thiếu Nhơn/VNN).Biên bản cuộc họp về tập thơ Cửa mở của Việt Phương (Hội ngộ Văn chương).Nhà thơ Việt Phương và những cảm nhận về anh Sáu Dân (TuanVN)

(Hình ở đầu bài của báo VNCAND)

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Tham nhũng, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 9 phản hồi »

417. Điểm sách: OSS và HỒ CHÍ MINH

Đăng bởi anhbasam on 02/01/2010

OSS và HỒ CHÍ MINH

Đồng minh bất ngờ trong

cuộc chiến chống phát xít Nhật

Cuốn sách nầy cùng một cuốn nữa (Why Viet Nam – Tại sao lại là Việt Nam) là những thứ rất cần cho ta nhìn lại cái bi kịch của Dân tộc, dường như luôn bị lỡ những “chuyến tàu” đi cùng với bè bạn bốn phương, để rồi nay bị anh “bạn” phương Bắc lấn lướt mà cắc cớ khó làm cho người bạn nào khác tin là mình thật lòng làm bạn với bốn phương, để đặng dang tay giúp đỡ, phần vì kẻ ức hiếp lại là “anh em môi răng” với mình. “Ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đau quá!

Tại sao cứ phải cố giấu đi, làm sai lệch nhiều sự thực lịch sử vô cùng quan trọng liên quan tới vận mệnh, tương lai Dân tộc? Đọc cuốn sách nầy, bà con sẽ thấy một phần.

Trong sử “chính thống” cũng như tài liệu về Hồ Chí Minh, chưa bao giờ các sử gia nói tới chuyện ổng đã từng có những quan điểm tương đồng, những mối quan hệ gần gũi, hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ của người Mỹ ra sao. Gần như duy nhứt có tình tiết ổng trích một đoạn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, hoặc gần đây đôi ba bài báo thận trọng đưa ra vài thông tin “tham khảo” … Nhưng chuyện này vẫn vô cùng là bí ẩn, nên mới từng có tổng biên tập một tờ báo danh tiếng bị mất chức vì dám … rờ tới sự thật lịch sử liên quan tới lãnh tụ. Đến cả chuyện mới nữa là người ta bỏ tiền sao chép,mua rất nhiều tài liệu về  HCM lưu trữ bên Nga, vậy mà mấy năm qua rồi hổng thấy có công bố ra hết cho nhân dân biết mà mừng (vì được biết sự thực), nhân dịp đợt học tập dài dài tấm gương đạo đức nữa chớ (sao không ai nêu tấm gương ổng kiên trì chịu đựng khi bị cái ông Sít-ta-lin trù ẻo bảy tám năm trời bên đó?)

Tui xin tóm lược cuốn sách, là thời Thế chiến thứ hai, khi HCM đang hoạt động ở bên Nga-Sô, sau đó là Tàu, tình hình thế giới và trong nước cực kỳ phức tạp. Mỹ tuy là đồng minh với tụi Tây thực dân nhưng lại rất chống chánh sách thực dân của Anh, Pháp, Hòa Lan. Những người kháng chiến Việt Nam tuy chống Tây đô hộ nhưng lại là “đồng minh” với Tây và nhiều nước chống phát xít Đức, I-ta-li, Nhựt Bổn. Anh chàng Nga-Sô tuy là đồng minh với Mỹ, nhưng lại là cộng sản-tử thù với phe tư bổn Mỹ. Ảnh cũng hổng tin gì cái lực lượng kháng chiến Việt Nam của HCM, vì ảnh xét lý lịch, ngó bộ ổng khoái lo giải phóng Dân tộc mình là chính chớ không mấy mặn mà cái vụ “giải phóng toàn nhơn loại” (nay càng thấy tào lao quá trời rồi – ổng tài quá há?) Thêm nữa ổng cũng từng bị đì bảy tám năm bên “thành trì XHCN” rồi, nên mới tính chuyện bắt tay với anh Mẽo hay hơn. Nhưng Mẽo bị cắc cớ, tuy chống thực dân nhưng cũng không muốn mất lòng ông bạn Tây thực dân, cần chung lưng chống phát xít và cộng sản, lại vừa nghi ngờ HCM là cộng sản gộc, mà trong nội bộ cũng có hai phe (phe bênh HCM, phe chống). “Đen” cho ta nữa, là Tổng thống Mỹ Roosevelt, người hăng hái chống chủ nghĩa đế quốc-thực dân Pháp nhứt thì lại mất sớm đúng vô lúc quan trọng. Ổng từng có nhiều động thái và tuyên bố có lợi cho nền độc lập hoặc “uỷ trị quốc tế” của Việt Nam, như “Đông Dương không thể quay lại với Pháp”, “… Đông Dương nên được lấy khỏi tay người Pháp và đặt dưới sự ủy trị quốc tế”. Hay trong một giác thư gởi cho ngoại trưởng Cordell Hull, ổng viết ”Hơn một năm qua tôi đã bày tỏ quan điểm rằng, Đông Dương không nên trở lại với người Pháp mà nên được quản lý bởi một cơ quan ủy trị quốc tế. Pháp đã chiếm nước này – 30 triệu dân – trong gần 100 năm, và lúc này người dân nghèo khổ hơn giai đoạn đầu … Trường hợp Đông Dương hoàn toàn rõ ràng. Pháp đã bòn rút nơi này 100 năm. Người dân Đông Dương có quyền hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”(trang 75). Đương nhiên lý do ông này chống Pháp cai trị tiếp xứ này còn nhiều, đọc vô sẽ thấy hấp dẫn vô cùng.

Chưa hết cực cho ông già. Đó là trong nước nhiều lãnh tụ cộng sản ít được “đi đây đi đó” như ổng, lại sớm được đưa vô “lò luyện” của “thành trì XHCN”, nên cái đầu cách mạng nó “nóng” quá, vậy là các cha nội này cũng coi ổng là người không “kiên định lập trường” … Còn nữa. Đó là nhiều đảng phái không phải “cộng sản” cũng kháng chiến chống Tây đô hộ, họ cũng có thế lắm chớ bộ. Vậy là vô cùng khó nếu như muốn có “ngọn cờ” đoàn kết các lực lượng kháng chiến trong nước, đồng thời tranh thủ Mẽo, Nga-Sô, … Nhưng thiệt kỳ lạ, ông Hồ Chí Minh ổng ra chiêu hợp tác, nhận cung cấp tin tức tình báo cho cơ quan tình báo Mẽo OSS (tiền thân của Xịa CIA ngày nay) cùng đồng minh chống phát xít. Có cái chưn đó rồi, ổng dựa vô, tận dụng cái “mác” có cao bồi Mẽo sau lưng. Trời đất, bữa ổng từ bên Tàu về nước sau bao nhiêu năm phiêu bạt, rồi từ Tân Trào về Hà Nội, đều có Mẽo mắt xanh súng ống, điện đài … ngon lành đi theo “hộ tống”, ổng còn thủ bức hình chụp chung tới tướng Mẽo Claire Chennault chỉ huy Không đoàn Cọp Bay 14 khét tiếng, đem ra nhá nhá … làm các “đàn em” trong nước ngó xanh le mắt, theo rần rần, khỏi thắc mắc chi cho mệt. Vì hồi đó cả thế giới kính nể anh cao bồi Mẽo nầy dễ sợ luôn.

Nhưng rồi làm sao mà sau đó ta hổng thân với Mẽo nữa? Rồi còn uýnh nhau te tua …, theo hai anh Nga, Tàu rồi “khánh kiệt”. Thiệt là bi kịch lịch sử. Nhìn vô đó mà rút kinh nghiệm cho ngày nay, mai sau. Xin bà con đọc hết mới rõ được.

Và trong những ngày sục sôi chuyện anh “bạn 16 chữ vàng” xâm lấn đảo này, ta càng thấy cần suy ngẫm kỹ chuyện cũ để rút ra bài học kinh nghiệm, biết tìm bạn mà chơi, biết cách “chơi” ra sao cho bạn tin. Riêng Ba Sàm tui còn liều đưa ra cái ngu ý là nay ta học tập tấm gương HCM, vậy nên học ngay cái cách chơi với Mẽo mà hạn chế bớt anh Tàu hay ức hiếp đi. Thời đó nhiều cái khó khăn, nên ổng mới hổng đi tới được với Mẽo, còn ngày nay thời thế thuận lợi quá trời rồi … Uở, nhưng hổng còn “ông cụ” nữa ? … Còn lại mấy “ông kẹ” giờ thì … bà con biết rồi. Tui chào thua!

À, chút xíu quên! Còn cái lý do là làm sao người ta hổng muốn nói tới cái màn hợp tác thân thiện này với anh Mẽo, để tới giờ mới nhín nhín đưa ra? Hiểu dễ ợt. Đó là nhiều năm sau, vì cái trớ trêu của lịch sử buộc ta phải uýnh nhau với Mẽo, dzậy mà nếu “ca” là từng thân với nó, tổng thống của nó chống chánh sách thực dân, đấu tranh cho tự do … thì còn ra cái gì nữa. Phải chưởi, nói xấu nó tới số đi chớ ! Rồi ta theo “thành trì XHCN”, còn Mẽo là “thành trì TBCN”, vậy mà kể ra là ta từng thân thiết với kẻ thù thì coi như ta “phản bội” chớ còn chi nữa. Nhứt là đã từng tuyên truyền về “chủ nghĩa thực dân cũ” (Pháp) và “chủ nghĩa thực dân mới” (Mỹ) rồi, giờ không lẽ lộ ra là chính Mẽo rất chống “chủ nghĩa thực dân” sao? Các quan trên coi dân mình còn đang ngu si vì bị cái “chánh sách ngu dân” của Tây bao năm rồi, nên sợ nói thiệt ra bà con hổng có tin. Rồi các cha cũng ngán cái vụ nếu nói ra, bà con, cán bộ mình khoái Mẽo quá, chạy theo rần rần là … quê độ. Dzậy đó. Giờ thì nói thiệt hết cũng chưa hết … ngán, nhứt là mấy cha từng ham xạo thấu trời luôn, giờ cũng run, thôi thì nó thiệt … từ từ. Bà con ráng chờ nha. Kiếp sau là sướng thôi à.

Xin chú ý thêm: đó là cuốn sách nầy cũng được chua bên trang trong là “Sách tham khảo”, ở xứ sở đầy dẫy điều bí mật không biết tới kiếp nào mới được bật mí thì nó mang tính “tiếp thị” cực cao. Nhưng quan trọng nhứt là ba cái sách loại nầy ưa nói … thiệt, ít bị “ăn bớt” chữ khi dịch, biên tập. Mua nhanh rủi hết nha bà con!

—-

Một độc giả méc là toàn bộ cuốn nầy đã được đưa lên Việt Nam Thư quán, mời bà con bấm bô đây để coi. Xin lưu ý: trong đó có mục lựa chọn “Xem dưới dạng Ebook”, rất thuận tiện, ngay trên đầu trang, cả chọn lựa cỡ chữ nữa… Và thêm  một mẹo vặt mà trong đó không có. Đó là khi bà con đang xem nửa chừng phải nghỉ, nên save (lưu) lại trên máy ngay đoạn đó, bữa sau chỉ việc mở luôn trang đã lưu, đỡ phải lần lại từ đầu mất công.

Nhân đây xin giới thiệu lại với bà con về trang VNTQ nầy, một Thư viện điện tử khổng lồ, với số người truy cập hàng ngày ngang một trang báo lớn của VN, hiện được Alexa xếp hạng 217 tại VN, 6026 tại Hoa Kỳ và 10.714 trên toàn thế giới. Kính mời.

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Điểm sách, Đảng/Nhà nước | 18 phản hồi »

415. Cựu Trưởng Ban Biên giới Lưu Văn Lợi nói về bức Công hàm của TT Phạm Văn Đồng

Đăng bởi anhbasam on 31/12/2009

Mời bà con tham khảo thêm một đoạn trong chương trình truyền hình của Đài ARTE.TV, ngày 15. 03. 2006, nói về Lịch sử của Đài Loan và Trung quốc. Phút thứ 03:05 có chỉ rõ ranh giới biển của Trung Quốc năm 1885 không có Hoàng Sa và Trường Sa.

Cựu Trưởng Ban Biên giới Lưu Văn Lợi

nói về bức Công hàm

của TT Phạm Văn Đồng

CUỘC TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

(Trích, phần nói về bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng)


LỜI NÓI ĐẦU

Từ Hội nghị các ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) tại Manila tháng 7 năm 1992 đến Hội nghị SEAPOL ba khu vực tại Bangkok tháng 12 năm 1994, các đại biểu đều lo lắng về tình hình an ninh của Biển Đông và trao đổi ý kiến về sự hợp tác trong khu vực.

Trong khu vực này có hai vấn đề lớn nổi lên: vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và vấn đề hợp tác trước hết là về khai thác tài nguyên. Các đại biểu đều cho rằng nếu không giải quyết được vấn đề chủ quyền thì khó mà giải quyết được vấn đề hợp tác khai thác tài nguyên. Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, phức tạp là vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ba năm lại đây, cùng với việc giải quyết vấn đề Campuchia, việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một nhân tố ổn định quan trọng đối với Đông Nam châu Á. Việt Nam không chỉ mở rộng quan hệ với các thành viên của ASEAN mà Việt Nam đã trở thành quan sát viên của ASEAN, vấn đề trở thành thành viên chính thức của ASEAN chỉ còn là vấn đề thời gian, vì điều kiện đã chín muồi.

Giữa Việt Nam và Trung Quốc quan hệ các mặt đang phát triển, đang còn những cố gắng từ cả hai phía để giảm bớt bất đồng, từng bước giải quyết các tranh chấp giữa hai nước. Vì lợi ích của hai nước, nên và cần tính việc giải quyết cuộc tranh chấp về hai quần đảo Hoàng Sa và trường Sa.

Trong bối cảnh thuận lợi đó, Nhà xuất bản CÔNG AN NHÂN DÂN trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn “CUỘC TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA” của ông Lưu Văn Lợi, một nhà nghiêm cứu quen thuộc. Trên cơ sở những tài liệu lịch sử vững chắc, xuất phát từ những tiêu chuẩn được chấp nhận của luật pháp quốc tế, tác giả đã bình tĩnh, khách quan phân tích lập trường của cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc để đánh giá khả năng, phương hướng giải quyết vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa.

Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề Hoàng Sa vì lợi ích của hai nước Việt-Trung, vì hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á.

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN, 1995

LƯU VĂN LỢI

Nhà báo, luật gia, nhà ngoại giao:

- Chủ bút báo tiếng Pháp LA REPUBLIQUE năm 1945, tờ báo tiếng Pháp LEPEUPLE năm 1946 đều xuất bản tại Hà Nội – Thư ký toà soạn tờ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, tờ báo của QĐNDVN (1951)

- Uỷ viên thường vụ Hội Luật gia Việt Nam (1980-1985)

- Thành viên Đoàn đại biểu Bộ Tổng tư lệnh QĐNDVN gặp đoàn đại biểu Bộ Tư lệnh Quân Đội viễn chinh Pháp tại Hội nghị Trung Giã năm 1954.

Trợ lý đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thuỷ trong các cuộc thương lượng bí mật với ông Henry Kissinger, cố vấn an ninh của Nhà trắng (1972-1973).

Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị liên hợp bốn bên tại Sài Gòn năm 1973.

Trưởng ban Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989).


CHƯƠNG V

3. Họ nói Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa.

Bắc Kinh tuyên truyền rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa nhưng sau lại thay đổi thái độ. Họ đã đưa ra bằng chứng là bức thư của Thủ tướng Phạn Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai về vấn đề lãnh hải của Trung Quốc, tuyên bố của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà năm 1965 nói rằng Tây Sa là của Trung Quốc.

Trước hết nói về bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mọi người chắc chưa quên rằng khi đó là thời kỳ của chiến tranh lạnh, đế quốc Mỹ đang can thiệp vào miền Nam Việt Nam để ngăn chặn chủ nghĩa xã hội. Tuy bị thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, những phần tử diều hâu trong giới quân sự Mỹ vẫn hò hét chiến tranh chống Trung Quốc, hạm đội của Mỹ hoạt động trong eo biển Đài Loan. Trung Quốc cũng phải phòng ngừa một hành động phiêu lưu của hạm đội Mỹ, nhất là từ khi quân Trung Quốc pháo kích liên tục Kim Môn (quémoy) Mã Tổ (matsu). Trong bối cảnh đó, ngày 4-9-1958 Trung Quốc công bố quy định lãnh hải của mình rộng 12 hải lý.

Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai bức công hàm sau đây:


“Thưa đồng chí Tổng lý”

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hai lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.


Ở đây thủ tướng Phạm Văn Đồng không định đề cập đến vấn đề pháp lý, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không định nói về Hoàng Sa, Trường Sa, mà chỉ nghĩ đến một điều: sự hung hăng của đế quốc Mỹ và hoạt động của hạm đội 7 trong eo biển Đài Loan đe doạ Trung Quốc, do đó thấy cần ủng hộ càng sớm càng tốt việc quy định lãnh hải rộng 12 hải lý để cản tay đế quốc Mỹ.

Những người Việt Nam và Trung Quốc trung thực đã sống những năm 50, 60 đều còn nhớ mối quan hệ giữa nhân dân hai nước “vừa là đồng chí vừa là anh em”, trong ý nghĩ “Trung-Việt nhất gia”, do đó coi bản công hàm đó là biểu hiện của tình hữu nghị Trung-Việt. Nếu ai cho đó là sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa thì là đi quá nội dung và mục đích của công hàm, đồng thời phủ nhận tình cảm thiêng liêng trong lòng người Việt Nam, người Trung Quốc thời bấy giờ.

Việc nói Tây Sa là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ hay câu nói của thứ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây Sa là có thật, nhưng đó không phải là lời tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, càng không phải là từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Cần đặt các sự kiện đó trong bối cảnh lịch sử của nó, vào thời gian những năm 1956 đến 1965 khi nhân dân Việt Nam phải đấu tranh chống sự can thiệp xâm lược của đế quốc Mỹ ở cả hai miền.

Tình hình nước Việt Nam khi đó.

Về mặt hành chính, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 Việt Nam tạm chia làm hai miền với vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời trong khi chờ đợi thống nhất. Miền Nam Việt Nam, Chính phủ Việt Nam cộng hoà đã tiếp quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1956 khi Pháp rút khỏi Đông Dương và từ đó đã tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính, tổ chức khảo sát và khai thác tài nguyên về biển đồng thời kiên quyết bảo vệ hai quần đảo chống lại những hành động và ý đồ xâm chiếm của Bắc Kinh cũng như các nước khác. Chính phủ Việt Nam cộng hoà cũng bảo vệ lợi ích và chủ quyền của mình tại các hội nghị và tổ chức quốc tế. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam cùng với Chính phủ Sài Gòn đã tham gia ký kết Định ước về Việt Nam và đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trách nhiệm quản lý lãnh thổ bên này bên kia vĩ tuyễn 17 là rõ ràng.

Về mặt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ năm 1965 nhân dân Việt Nam phải đối phó với cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc. Đây là một cuộc chiến tranh ác liệt nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó lực lượng quân sự cực mạnh của Mỹ đã huy động tất cả bộ máy chiến tranh của nó từ pháo đài bay, thiết bị điện tử đến vũ khí hoá học. Nhân dân thế giới coi đây là cuộc chiến đấu giữa David và Goliath và coi cuộc chiến tranhViệt Nam là vấn đề lương tri của thời đại. Nhân dân Việt Nam nhất định không thể chịu để mất nước một lần nữa và quyết định làm tất cả cái gì có thể làm được để chống xâm lược, đó là vấn đề sống còn của cả dân tộc Việt Nam.

Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa đế quốc ngay từ khi mới ra đời và cũng ngay từ đó các nước thuộc địa hoặc mới giành được độc lập đều coi Bắc Kinh là niềm tin và hy vọng. Trung Quốc không muốn đụng đầu một lần nữa với đế quốc Mỹ, nhưng cần phải tiếp tục giương cao ngọn cờ chống đế quốc, tiếp tục giúp đỡ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc. Việt Nam lại là một nước xã hội chủ nghĩa, một nước láng giềng anh em, “núi liền núi, sồn liền sông”. Trong tình hình đó, Trung Quốc trở thành đồng minh trên thực tế của Việt Nam về chính trị, tinh thần và vật chất. Họ đã gửi sang Việt Nam vũ khí, đạn dược, lương thực, xe cộ và dành con đường quá cảnh cho hàng viện trợ của Liên Xô và Đông Âu và các nước khác. Người Việt Nam và Trung Quốc coi quan hệ giữa hai nước như “môi với răng”.

Mỹ cũng không muốn một lần nữa đụng đầu với Trung Quốc. Việt Nam muốn gắn chặt cuộc kháng chiến của mình với Trung Quốc càng nhiều càng tốt. Việt Nam chân thành tin cậy Trung Quốc và cho rằng chiến tranh xong mọi vấn đề lãnh thổ sẽ đượch giải quyết tốt đẹp giữa những người “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Về lý luận và thực tiễn đối với người Việt Nam đó là tình đoàn kết quốc tế.

Phải đứng trên tinh thần đó của nhân dân Việt Nam và bối cảnh những năm 50-60 để hiểu các tuyên bố nói trên. Và cũng để hiểu hành động của những đồng minh của Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1949 quân đội nhân dân Việt Nam, theo yêu cầu phối hợp của những người cộng sản Trung Quốc ở phía Nam, đã đưa quân vào vùng Thập Vạn Đại Sơn Tây, dãy núi lớn giữa hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông, tiêu diệt nhiều vị trí quân sự của Tưởng Giới Thạch, giải phóng được Trúc Sơn (lãnh thổ Trung Quốc) và sau đó đã trao trả Trúc Sơn cho quân giải phóng Trung Quốc. Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1945, năm 1955 Pháp rút khỏi miền Bắc vĩ tuyến 17 và đảo Bạch Long Vĩ khi đó quân đội nhân dân còn bận tiếp quản và quản lý các nơi khác mà Pháp đã trao trả, cho nên trước mắt không đủ sức quản lý đảo Bạc Long Vĩ ở cách xa Hải Phòng 170km, họ đã phải nhở Trung Quốc quản lý hộ. Phía Trung Quốc đã chấp nhận và năm 1957 đã trao trả phía Việt Nam đảo và còn tặng một tầu thuỷ nhỏ để đảm bảo sự liên lạc giữa đất liền và đảo. Sự tin cậy của Việt Nam đến mức là khi Trung Quốc giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng, Tổng cục đường sắt Việt Nam đã chấp nhận một văn bản có ghi điểm nối ray giữa hai nước “đi qua đường quốc giới”, vào sâu lãnh thổ Việt Nam 316 mét so với đường biên giới chính thức giữa hai nước đã xác định trong Hiệp định đường sắt Việt-Trung ngày 25-5-1955.

Việt Nam cũng đã cư xử như thế với những anh em người Lào. Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, phía Việt Nam đã tạm để một số lãnh thổ của Việt Nam cho lực lượng yêu nước Lào làm căn cứ hoạt động như vùng Na Mèo (tỉnh Thanh Hoá), vùng Keng Đu (tỉnh Nghệ An). Cũng như lực lượng yêu nước Lào đã đồng ý tạm để Việt Nam xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh trên một bộ phận lãnh thổ Lào giáp với Việt Nam (những vùng đất gọi là giải phóng, do lực lượng yêu nước Lào quản lý).

Sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã cùng nhau giải quyết thoả đáng mọi vấn đề: Việt Nam đã trả lại Lào những lãnh thổ đã mượn của Lào và Lào đã trả Việt Nam những lãnh thổ đã mượn của Việt Nam. Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia trên cơ sở tôn trọng đường biên giới vốn có, khi hai nước tuyên bố độc lập năm 1945.

Quan hệ giữa PLO và nước A Rập ngày nay, về nhiều mặt, cũng tương tự mối quan hệ giữa Việt-Trung Quốc và mang dấu ấn của tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Nói đây là một đặc điểm của thời đại cũng không có gì là quá đáng.

Những lời giải thích trên đây có thể được chấp nhận hoàn toàn, một phần hay không được chấp nhận . Mặc dầu vậy những lời tuyên bố nói trên không phải là sự tuyên bố của Việt Nam từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và vẫn phản ảnh một sự thật trong giai đoạn tốt đẹp nhất của tình hữu nghị Việt-Trung.

*

* *

Trung Quốc rất quan tâm tuyên truyền vấn đề bản đồ, họ đã đưa ra nhiều bản đồ. Đây không phải là vấn đề quan trọng, nhưng cũng cần nêu thêm một vài nhận xét:

1. Trung Quốc luôn luôn nói các đảo Nam Hải là phần cực Nam của Trung Quốc và đưa ra nhiều bản đồ. Nhưng họ lại không dẫn chứng những sách hoặc bản đồ cổ của Trung Quốc chỉ vẽ lãnh thổ Trung Quốc trên đảo Hải Nam. Chẳng hạn đoạn tổng luận của cuốn Trung Quốc địa lý giáo khoa thư đã viết:

“Phía Nam từ vĩ độ Bắc 180 13’, tận cùng là bờ biển Nhai Châu đảo Hải Nam, phía Bắc đến vĩ độ 530 50’, tận cùng là chỗ gặp nhau giữa sông Hắc Long Giang và sông U-xu-ri; phía Tây đến kinh tuyến 420 11’, tận cùng là núi Tùng Lĩnh, Nam bắc gồm hơn 36 độ, rộng hơn 7.100 dặm, Đông Tây gồm hơn 61 độ, dài hơn 8000 dặm. Diện tích 32.605.156 dặm vuông, chiếm ¼ Châu Á, 1/10 lục địa thế giới, lớn hơn cả Châu Âu”.

Tổng luận đó hoàn toàn ăn khớp với Hoàng thanh trực tỉnh toàn đồ năm 1862 đời vua Đồng Trị và Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ năm 1894 đời vua Quang Tự, đều là bản đồ chính thức, mà không vẽ các quận đảo Tây Sa và Nam Sa.

Trong Quảng Đông dư địa đồ năm 1897 đời vua Quang Tự do tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuân đề tựa, có Quảng Đông toàn tỉnh dư địa tổng đồQuỳnh Châu phủ đồ cũng không vẽ bất cứ quần đảo nào ở biển Nam Hải, phù hợp với lời dẫn ghi giới hạn “cực nam” của lãnh thổ Trung Quốc là “núi ngoài cảng Du Lân, Châu Nhai”.

Theo các án lệ, giá trị của các bản đồ trong một cuộc tranh chấp về chủ quyền chỉ là tương đối. Phán quyết của trọng tài Max Huber trong vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ và hà Lan đã nhận xét:

“…Chí với một thái độ cực kỳ chân trọng mới có thể tính đến việc dùng các bản đồ để giải quyết một vấn đề về chủ quyền lãnh thổ…”

Phán quyết còn nói rõ hơn:

“Khi mà trọng tài biết chắc chắn rằng có những sự kiện pháp lý có tính chất quyết định của những người vẽ bản đồ mà không rõ họ lấy nguồn tin ở đâu thì hoàn toàn có thể bỏ qua giá trị của các bản đồ dù cho nó có nhiều và được đánh giá cao đến đâu chăng nữa”

Vấn đề giá trị của những bản đồ của phía Trung Quốc đưa ra như trên thế là rõ.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, Điểm sách, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 11 phản hồi »

414. 2009 – Chiều cuối năm nhìn lại

Đăng bởi anhbasam on 30/12/2009

2009Chiu cui năm nhìn li

Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện

Năm 2009 đã khép lại. Chiều cuối năm, lắng lòng suy ngẫm về một năm qua về những được mất, thăng trầm, những may rủi, vui buồn của cá nhân mình, và xung quanh mình. Trong không gian yên tĩnh của một buổi chiều cuối năm, hồi tưởng lại năm qua, mà tưởng như nghe bốn bề ba động. Tự mình điểm lại những chuyện, những việc diễn ra trên đất nước mình một năm qua đã được ghi vào trí nhớ của mình, vội ghi mấy hàng để nhớ về năm hai lẻ chín của thiên niên kỷ này.

1.Thứ nhất phải kể đến việc nêu ý kiến phản biện các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Từ việc chỉ có 135 nhà trí thức tinh hoa ký tên. Bức kiến nghị đã nhanh chóng được lan truyền trên mạng internet, và được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân trong cả nước kiều bào ở nước ngoài.

Chưa có bao giờ một tâm tư nghĩ suy của một nhóm người đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ đến như vậy. Những nhà trí thức và nhà văn hóa đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để phân tích những hơn thua của dự án và gióng lên những cảnh báo về vấn đề này, trên nhiều phương diện: kinh tế, kỹ thuật công nghệ, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội…Lời nào cũng là lời gan ruột được viết ra bằng cả lý trí lẫn tình cảm, mỗi lời đều là những góp ý chân thành, tha thiết, xây dựng. Thật mừng vì đất nước ta có một đội ngũ trí thức nhiệt tâm và luôn sát cánh với những vấn đề lớn của quốc gia như vậy!

Trang thông tin Bauxite Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn đã có tới 17,5 triệu lượt truy cập là minh chứng cho thấy người dân Việt Nam con Lạc cháu Hồng trăn trở, tha thiết với đất nước như thế nào. Mỗi khi trang này trục trặc kỹ thuật là lại một lần xôn xao trong giới trí thức và giới trẻ, cứ như nó là một phong vũ biểu của một mảng đời sống tinh thần Việt Nam.

2.Sự tham gia của trí thức vào các công việc nước nhà còn thể hiện bằng những bài báo về các vấn đề lớn của đất nước. Từ những chuyên gia hàng đầu của đất nước về kinh tế như Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Nguyễn Quang A đến những chuyên gia về giáo dục như Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Lân Dũng rồi các chuyên gia về văn hóa như Nguyên Ngọc, Phan Cẩm Thượng. Từ những vị tướng đầu bạc như Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Cương, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sỹ Nguyên, đến những nhà trí thức trẻ như Vũ Minh Khương, Hoàng Thúc Hào, Giáp Văn Dương…

Nhưng đông đảo nhất vẫn là những nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nghệ sỹ. Thông qua các trang blog cá nhân, họ công bố tác phẩm, và bình luận về thời sự, góp ý đến những người có trách nhiệm. Nhiều trang tin nhanh, nhạy và có tiếng nói phản biện sắc sảo, xây dựng.

Bảy bức thư của nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã vẽ lên bức tranh nông thôn Việt Nam với nhiều điều làm chúng ta phải trăn trở suy nghĩ khi sự thật được phơi bày và những dự báo đang trở thành sự thật.


3. Năm 2009, vấn đề Biển Đông đặc biệt được con dân đất Việt quan tâm, bất kể là người trong nước hay đồng bào ta đang ở nước ngoài. Biển Đông diễn biến càng ngày càng phức tạp. Biển Đông – một nửa cơ ngơi của tổ tiên ta để lại cho con cháu, bằng cả máu xương và tâm huyết. Đáng kể nhất phải kể đến những cố gắng của Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao Việt Nam) đã tổ chức được một hội thảo quốc gia, một hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông. Kết quả là, tại hội thảo quốc tế về Biển Đông đã thu hút sự tham gia của đông đảo học giả quốc tế đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Đường lưỡi bò do Trung Quốc đưa ra được chỉ ra chỉ là một sự vẽ vời vô căn cứ cả về pháp lý lẫn lịch sử.

Hội thảo quốc gia Biển Đông đã đưa ra được những khuyến nghị có giá trị, trong đó đặc biệt nhất là đề xuất việc lập hồ sơ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa đưa ra pháp đình quốc tế; đề xuất 4 hóa đối với vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là: quốc tế hóa, công khai hóa, xã hội hóa và phi nhạy cảm hóa.

Trung Quốc càng ngày càng tỏ rõ ý chí quyết biến Biển Đông thành ao nhà. Họ không từ một thủ đoạn nào! Hơn 85 tàu cùng hơn 1.062 ngư dân của các làng chài huyện đảo Lý Sơn đã bị Trung Quốc bắt giữ, cướp tài sản, đánh đập khi đang đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam từ năm 2002 đến nay. Ngoài bắt giữ người, thu tàu, cướp tài sản, đánh đập ngư dân, phía Trung Quốc còn bắt ngư dân nộp phạt hơn 2,5 tỷ đồng và đã bắn bị thương 1 người…Đó là con số thống kê chưa đầy đủ của Văn phòng UBND huyện đảo Lý Sơn.

Liên tiếp từ tháng 4 đến nay, dòng họ Đặng ở Lý Sơn hay nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Huế đã hiến tặng cho Nhà nước những tài liệu đặc biệt quý giá góp phần khẳng định chủ quyền của VN ở biển Đông nói chung và Hoàng Sa – Trường Sa nói riêng. Điều đó thể hiện ý thức trách nhiệm của người dân với đất nước, tổ tiên, làm nức lòng đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Những văn bản quý giá đó thể hiện ý chí của tổ tiên chúng ta về chủ quyền biển đảo. Còn hậu thế thì phải làm gì đây?

4.Về văn hóa nghệ thuật, phải kể đến tình hình đạo văn, đạo nhạc, đạo công trình nghiên cứu ngày càng trở nên phổ biến của những người muốn trục lợi, cầu danh trên những tâm huyết của những nhà nghệ sỹ, trí thức chân chính. Điều đáng buồn hơn là không thấy cơ quan hữu trách nào có được các chế tài đủ mạnh để dẹp được căn bệnh trầm kha này, khiến cho chúng ta không thể yên lòng được, khi học phong và giới trí thức – được coi là tinh hoa của xã hội đang sa sút nghiêm trọng.

Nếu Ban Tuyên giáo trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch, Bộ Thông tin truyền thông, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và hai Đại học quốc gia Hà Nội và TP Hồ Chí Minh không quyết tâm lập lại trật tự thì đây là một điều đáng xấu hổ cho văn hóa và khoa học nước nhà. Rất mong ông Tô Huy Rứa, 2 ông Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn, Lê Doãn Hợp, ông Đỗ Hoài Nam và 2 ông Giám đốc hai đại học quốc gia ở hai đầu đất nước quan tâm đến vấn đề này.

Giải pháp cho vấn đề này là tác phẩm, công trình đạo văn sẽ bị đưa ra khỏi các thư viện, không phát sóng; nếu là giáo trình thì không được dùng giảng dạy; nếu nhờ nó mà người nào được phong học hàm học vị thì tước bằng, tước học vị; quan chức đạo văn thì cách chức ngay lập tức. Bên cạnh đó, đối với luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ cần được đưa công khai toàn văn lên mạng internet (đây cũng là 1 đề tài khoa học cấp Bộ ở Viện KHXH Việt Nam đề cương đã được bảo vệ qua nhiều hội đồng ngành, nhưng cuối cùng không hiểu vì sao chính Chủ tịch Viện KHXH Việt Nam đã bác bỏ).

5. Năm 2009 cũng đã xảy ra nhiều chuyện liên quan đến các cơ quan báo chí và văn hóa. Đó là trang báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đăng những tin tức của báo Trung Quốc nhằm khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc. Kết quả là TBT. Đào Duy Quát phải nộp phạt 30 triệu đồng. Sau đó, số báo chào mừng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, báo Phụ nữ Tp. Hồ Chí Minh đã đăng bài Những chú lính trên sân ga của nhà văn Dạ Ngân bằng minh họa hải quân Trung Quốc khiến cho dư luận vô cùng bức xúc.

Liên quan đến vấn đề này, sự phẫn nộ của cộng đồng mạng lên đến đỉnh điểm khi phát hiện trang web của Bộ Công thương đã để cho trang mạng của mình thành nơi người Trung Quốc tuyên truyền chủ quyền của họ đối với Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

Gần đây nhất, nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam xuất hiện pano hình ảnh lính Trung Quốc đi dưới lá cờ Việt Nam. Sau đó, TS. Nguyễn Thành Rum GĐ Sở Văn hóa Thể thao & du lịch Tp. Hồ Chí Minh đã trả lời PV của RFA bằng những lời lẽ ngây thơ và thiếu trách nhiệm, khiến cho cộng đồng mạng rất phẫn nộ.

Bên cạnh đó, việc để quá nhiều phim Trung Quốc chiếm sóng trên khắp các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương cũng làm những người yêu nước chạnh lòng. Cuốn Ma Chiến hữu – một tác phẩm hạng xoàng của Mạc Ngôn được lưu hành với đề từ và cách P.R thiếu hiểu biết và non kém về cả văn học lẫn chính trị của nhà xuất bản Văn học cũng khiến dư luận xôn xao. Và rồi hôm qua, lại một sai sót kinh hoàng vừa được phát hiện trong một cuốn Từ Điển cũng do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2008. Thật không thể hiểu làm sao nữa!

Điều đáng buồn là những vụ việc tày trời nêu trên đều được phát hiện bởi các blogger và cộng đồng mạng. Họ không ăn lương của ai, việc làm của họ là nhằm thể hiện lòng yêu nước.

Cũng năm 2009, chưa có bao giờ các báo điện tử lại phải gỡ bài nhiều như thế! Có những bài vừa đưa lên vài giờ đã phải gỡ xuống. Có báo một ngày phải gỡ bỏ 2 bài.

6.Năm 2009 với các dự án, công trình Kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội luôn nằm trong sự quan tâm của cán bộ và nhân dân thủ đô, nhân dân cả nước. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều việc còn dở dang và không thể hoàn thành đúng tiến độ.

Dự án làm phim Lý Công Uẩn đành gác lại vì nhiều lý do, nay chuyển sang làm phim Trần Thủ Độ. Việc chọn làm phim Trần Thủ Độ như một lễ vật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thật sự là một tối kiến của các nhà làm phim, và chủ đầu tư dự án. Vì ai cũng biết lễ kỷ niệm 1000 năm có điểm nhấn là vương triều Lý. Trớ trêu thay, theo chính sử thì chính Trần Thủ Độ đã chủ trương tận diệt nhà Lý bằng một việc làm không thể nói là có đạo đức. Hà Nội đem phim Trần Thủ Độ làm lễ vật mừng Thăng Long ngàn tuổi chẳng khác Huế đem diễn hoạt cảnh cành đào báo tiệp Ngọc Hân mừng Quang Trung hoàng đế ngay trước Ngọ Môn Huế tại Festival vừa rồi.

Cũng trong năm 2009, hàng loạt báo chí đã phản ánh các khía cạnh khác nhau về con đường gốm sứ – một con đường từng được giới nghệ sĩ và nhân dân nức lòng, được sự ủng hộ nhanh chóng của chính quyền các cấp và nhân dân thành phố, đã đi lạc đường.

Thủ đô nhếch nhác bụi bặm, ngập lụt sau mỗi trận mưa, giao thông ách tắc, nhà siêu mỏng mọc lên ở nhiều nơi, chặt phá cây xanh (kể cả cây gỗ sưa), bao nhiêu lệnh cấm thành ra đánh trống bỏ dùi khiến người nào tự tin cũng không dám tin đô thị Hà Nội năm 2010 sẽ khuôn mặt mới khả ái. Hà Nội vẫn tự hào là đất thanh lịch, nhưng sự kiện phố hoa của giới trẻ đã khiến cho cả nước phải nghĩ lại. Ngày mai, 31.12 là lễ hội hoa Hà Nội, sẽ ra sao đây? Thực sự, vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội gốc đang cần được tìm lại, vun đắp.

Cuộc sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội một cách vội vàng (từ đề xuất đến tiến hành chưa đầy 5 tháng) đã khiến cho khuôn mặt văn hóa của Hà Nội xô lệch. Nhiều người đã từng lo lắng mấy năm nữa, cả Hà Nội rộng lớn sẽ lanh tanh bành mà việc sửa chữa nó sẽ phải mất nhiều chục năm sau nữa. Ngay như việc chọn trung tâm hành chính của thủ đô ở đâu, thì hiện nay cũng đang “rối như canh hẹ”(trong 3 tháng mà chủ tịch thành phố đưa ra 3 địa điểm khác nhau). Ngay như việc Thủ tướng đã quyết định chọn Mỹ Đình làm trung tâm hành chính, thì cũng cần xem xét cân nhắc thêm, vì theo tính toán của KTS Trần Thanh Vân, Mỹ Đình chính là một cái rốn nước (muốn xây dựng ở đây, cần phải có một hệ thống hồ 1000 héc-ta thì mới không lo “Hồ Tây tràn ra Mỹ Đình”, trong khi những hồ xunh quanh đã bị lấp đi đi đến 70%), hơn nữa Mỹ Đình không “gối núi trông sông” theo quan niệm phong thủy.

7. Phát biểu của các quan chức được đưa vào mục “Phát ngôn ấn tượng” được điểm mỗi thứ Sáu hàng tuần của báo điện tử VietnamNet.

Những người có phát ngôn ấn tượng được điểm mặt kể tên thuộc đủ mọi ngành, ở rất nhiều chức vụ cao thấp khác nhau, trở thành nỗi lo lắng và sự đàm tiếu của dư luận. Không hiểu các trường đào tạo về hành chính cho cán bộ có dạy kỹ năng và cách xuất hiện, phát biểu trước công chúng?

Phát ngôn của quan chức nhiều khi bộc lộ nhiều vấn đề mà người dân chưa biết; lại cũng nhiều khi bộc lộ trình độ cũng như sự vô cảm của quan chức đối với các vấn đề xã hội. Có những phát ngôn ấn tượng được dư luận đem ra đàm tiếu, buồn cười đến không ngờ được! Vậy mà không thấy những người phát ngôn đó nói lại, chứng tỏ báo chí đã tường thuật đúng!

8.Báo động về sự xuống cấp của đạo đức con người. Qua báo chí, chưa bao giờ người ta được xem các vụ tường thuật nhiều vụ giết người như năm 2009. Từ các vụ giết tình nhân (vụ giết người trên chiếc xe Luxes sang trọng) đến vụ con giết cha rồi chặt khúc vứt xuống sông hồ. Từ việc người vợ dùng chiếc kim khâu lốp dài gần 10cm đem từ Đông Anh lên Thái Nguyên để đâm vào giữa đỉnh đầu đứa con riêng của chồng vừa được 40 ngày tuổi đến các vụ giết người đốt xác rùng rợn.

Các vụ giết người càng ngày càng man rợ. Tuổi của các hung phạm ngày càng trẻ. Điều này cho thấy cần phải xem lại về cách chúng ta giáo dục con người trong nhà trường, gia đình và trong xã hội.

Chúng ta cần phải xem lại rằng con em chúng ta đã được giáo dục về đạo đức, về lòng yêu thiên nhiên và loài vật, yêu gia đình và bè bạn như thế nào trong các trường học. Môn giáo dục công dân đã được dạy như thế nào? Hay nó chỉ là những bài học thuộc lòng như vẹt?

9.Năm 2009, ghi nhận nhiều sự kiện về Di sản văn hóa Việt Nam. Có 3 di sản của Việt Nam được UNESCO ghi nhận là Di sản thế giới: Quan họ – Ca trù – Mộc bản triều Nguyễn. Trong đó, ca trù được ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Nhưng năm qua lại cũng rộ lên chuyện đua nhau làm hồ sơ di sản UNESCO. Các tỉnh đua nhau họa ra một cái hồ sơ để đưa đi xin danh hiệu. Nào hang nào động, nào hát nào ca. Hồ sơ đề cử Hoàng thành Thăng Long của Hà Nội đã được thế chỗ bởi Hội Gióng.

Năm qua, việc tu bổ trùng tu tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng được báo chí đưa tin rầm rộ. Bức tử đền Và (Sơn Tây), khai tử Suối Giải Oan (Yên Tử), tu sửa đền Bà Tấm, chùa Trấn Quốc, đình Kim Liên…là những vụ được dư luận quan tâm nhiều.

Chúng ta có yêu văn hóa của ông cha thật không? Hay là chỉ yêu các dự án đó? Lập các dự án về văn hóa có bao nhiêu phần trăm vì văn hóa thật sự, hay là vì sự chấm mút? Ngay như Huế, đồn rằng biết giữ lắm, vậy mà hình như chỗ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế của ông Phùng Phu, ông Phan Thanh Hải cũng chỉ chăm chú thu tiền thôi! Đoàn làm phim truyện đến quay bối cảnh là lăng Đồng Khánh, em cứ xin bác 20 triệu một ngày, quay bao lâu thì quay, cứ thế trả tiền. Đoàn cán bộ Viện Hán Nôm có công văn đề nghị in rập văn bia để lưu trữ và nghiên cứu, mà họ khăng khăng không cho rập để bảo vệ văn bia, mặc dù đã nhờ đến Phó Chủ tịch tỉnh, kêu đến Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Nguyễn Thế Hùng, rồi ông Chủ tịch UB quốc gia UNESCO Việt Nam Phạm Sanh Châu. Thế mới biết ông Phu ông Hải chả khác gì ông vua con! Ấy vậy mà bia đá Thơ ngự chế của vua Thiệu Trị thì sắp lộn cổ xuống Ngã Ba Tuần, còn phế tích Võ Miếu (Võ Thánh) thì chỉ còn năm tấm bia đá trơ gan cùng tuế nguyệt “đã không kẻ đoái người hoài”, “lại không cho cắm một vài nén nhang”! Văn Miếu Huế cũng vậy, những cọc bê tông giơ sợi sắt nghều ngào như cào vào trời chiều Hương Giang ứa lệ. Nghệ nhân nghệ sỹ Huế lão thành đang thoi thóp xếp hàng đi xuống ga Hoàng Tuyền, mà cũng chẳng ai đoái tưởng. Huế có yêu Huế thật lòng chăng?

Liên quan đến di sản văn hóa, có lẽ cũng phải kể đến hai “kiệt tác” văn hóa mới ở hai đầu đất nước là Chùa Bái Đính và Đại Nam quốc tự. Mỗi nơi mỗi vẻ, không giống nhau và không giống ai, nhưng vì thế mà được từ quan chí dân nô nức kéo về chiêm ngưỡng. Liên quan đến di sản, chúng ta còn quá coi thường di sản văn hóa, khi cứ đem sân khấu hóa hoặc làm lệch lạc các lễ hội truyền thống (Liên hoan Cồng chiêng, Lễ hội đền Lảnh Giang, lễ hội Tịch điền cùng hàng trăm lễ hội tốn kém khác).

10. Năm 2009 cũng là năm có nhiều chuyện về các mạng xã hội. Cuối cùng sau nhiều lần “chết hụt”, Yahoo! 360 chính thức vĩnh biệt cộng đồng blogger vào ngày 13/7. “Cái chết” này đã được dự báo trước từ lâu nhưng nó vẫn thực sự gây sốc cho cộng đồng mạng. Các cuộc chuyển nhà, nhận họ hàng, bè bạn và người thân trong thế giới mạng diễn ra sôi động.

Khi Facebook được nhiều người chọn vì tính tương tác của nó trong cộng đồng thì cũng là lúc nó bị trục trặc một cách bí hiểm vào đầu quý IV năm 2009. Một tâm lý bất an đã và vẫn đang thường trực trong cộng đồng sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam.

*
Xuân Canh Dần đang sắp sửa! Bao nhiêu việc đang bày trước mắt. Ngổn ngang trăm mối bên lòng!

Ta là một “bạch diện thư sinh” suốt ngày quẩn quanh với thư tịch cổ, tự thẹn với mình không làm được điều gì cho đời, văn chương chữ nghĩa viết ra cũng chỉ để vui bạn vui bầu chứ tuyệt nhiên không có dòng nào có hơi hướm gì đáng gọi là kinh bang tế thế. Thôi thì, việc mình mình biết, lòng và chí chỉ biết tâm niệm câu này:

Thương nước, khơi sâu nguồn sử nước
Yêu đời mở rộng mạch văn đời.

Khơi đỉnh hương trầm. Nối thêm ngọn sáp. Ngào ngạt ngọn khói hương dâng. Nao nao mối sầu thiên cổ!

Sáng nay, mưa phùn đã dắt nhau xuống phố. Ngày mai Hà Nội mở lễ hội hoa. Khắp non sông trời đất giao mùa! Xuân bất tận đang về trên đất Việt!

————–

Ý kiến phản hồi về bài viết trên do một độc giả gửi tới sáng 31-12-2009:

Trước hết xin nói ngay, tôi là Phan Thanh Hải, là người ở cố đô Huế mà trong lời tự sự của mình ông Diện có “hân hạnh” nhắc tới.

Tôi thấy buồn vì ông Diện đưa nhiều suy nghĩ cá nhân của mình để phán xét một số chuyện mà ông không am hiểu (hoặc cố tình không hiểu).

Ông lên án chuyện đạo văn của nhiều người nhưng khi nói chuyện với một số anh em nhân sĩ ở Huế, có người lại phàn nàn với tôi là ông Diện đã sử dụng ý kiến của họ theo kiểu “cầm nhầm” là của mình(!!!).

Ông nói về chuyện Trung tâm của tôi không cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm được rập bia trong các khu di sản của Huế và chúng tôi là những “ông vua con” mà lại quên mất là nếu đến Quý Viện của ông, muốn photocopy dù là một tờ tư liệu cũng phải trình báo thưa gửi qua bao nhiêu vòng, còn phí photo thì bất kể là ai cũng phải nộp 2.000đồng/trang (dù có trang chỉ có một vài chữ). Đó là chưa kể có nhiều tài liệu có muốn cũng không thể đụng tới!

Thực ra chúng tôi không chỉ không cho Quý Viện của ong sao chụp văn bia mà tất cả các đơn vị, cá nhân đều không được phép, vì đó là Quy chế bảo vệ di sản!

Tôi đã giải thích với lãnh đạo Viện Hán Nôm rất rõ ràng về chuyện này và còn gợi ý cho họ biết để liên hệ với một số đơn vị đã có bản rập (làm trước kia) nhằm sao chụp lại. Trước đây, khi chưa có quy chế bảo vệ nghiêm ngặt, Trung tâm tôi đã tạo điều kiện cho một số đơn vị sao chụp văn bia phục vụ công tác nghiên cứu. Viện Hán Nôm cũng đã được hưởng sự ưu tiên này. Không hiểu sao muốn sao chụp lại?

Cách đây ít năm, trong một chuyến tàu từ Hà Nội vô Huế tôi ngồi cùng với một anh Việt kiều nguyên là Thư ký Viện Viễn Đông Bác cổ tại Paris. Anh ấy đã hết sức phẩn nộ khi kể với tôi câu chuyện về cán bộ Viện Hán Nôm qua Viện của anh ta hết lần này đến lần khác xin photocopy tài liệu, mà đoàn sau lại xin photo các danh mục tài liệu y như đoàn trước. Khi anh qua Hà Nội mới biết, các tài liệu được sao chụp đó lại không hề có trong Thư viện của Viện Hán Nôm! Té ra các vị đều “sao” làm của riêng(!!!)

Tôi không phải vì chuyện này mà không cho phép viện Hán Nôm của ông Diện rập bia trong khu di sản (mà vì quy chế chung như đã nói), nhưng chúng tôi vẫn cấp giấy đi lại miễn phí trong các khu di tích cho đoàn của ông và gợi ý rằng, các ông có thể sao chép, chụp ảnh thoải mái mà! Hy vọng ông Diện không quên chuyện này chứ?

Còn chuyện ông nhắc đến Văn Miếu, Võ Miếu của Huế thì lại là chuyện khác. Chúng tôi hiện đang phải gồng mình quản lý, chăm sóc cho hàng chục cụm di tích với hàng trăm công trình. Nhiều di tích (như cụm Văn Miếu-Võ Miếu) đã được lập dự án tu bổ tổng thể nhưng còn phải chờ sự phê duyệt. Hiện chúng tôi đã cố gắng sắp giữ để công trình không xuống cấp nhanh hơn (Bia Võ Miếu đã được quy tập về một nơi, có người bảo vệ, dọn vệ sinh).

Chuyện thu lệ phí đối với các đoàn làm phim thì cũng là chuyện bình thường. Ông không biết là chúng tôi đã tạo bao nhiêu điều kiện thuận lợi cho các đoàn làm phim này. Còn lệ phí thì chỉ bằng một phần mười cái mức mà ông nói. Mà ông có biết là số tiền ấy lại được sử dụng cho việc bảo vệ di tích không?

Có lẽ trao đổi với ông vài chuyện như vậy để ông rõ thêm về Huế.

Nếu có thiện chí thật tình thì tôi chỉ mong ông góp phần để Viện Hán Nôm hợp tác, hỗ trợ Huế trong việc nghiên cứu và bảo tồn các di sản văn hóa.

Phan Thanh Hải

(Ghi chú: Chúng tôi chỉ không cho phép rập văn bia (dùng giấy dó, mực in để rập), còn vẫn cho phép chụp ảnh, ghi chép hay sao chụp bằng các phương pháp khác mà không gây tổn hại đến hiện vật)

—————

Chiều 31-12-2009, BS nhận được trả lời của ông Nguyễn Xuân Diện về ý kiến của ông Phan Thanh Hải.

NGUYỄN XUÂN DIỆN xin trả lời hồi âm của Ông Phan Thanh Hải:

Xin cám ơn Anh Ba Sàm đã đăng tải phản hồi của Ông Phan Thanh Hải, TS Sử học, Phó Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô Huế. Về lời phản hồi này, tôi xin trao đổi lại như sau:

1. Tôi đề nghị ông Phan Thanh Hải nêu rõ tài liệu nào cho biết Nguyễn Xuân Diện đã sử dụng ý kiến của anh em nhân sĩ cố đô Huế theo kiểu “cầm nhầm”.

2. Viện chúng tôi là kho lưu trữ lớn nhất cả nước về di sản Hán Nôm. Ai cũng có thể đến đọc tài liệu tại chỗ. Còn việc ai muốn photocoppy, thì tất nhiên phải có đơn trình bày để lãnh đạo Viện ký duyệt. Chi phí 2000 đ/ trang photocoppy là do Bộ Tài chính quy định và tiền thu được chúng tôi đều nộp ngân sách. Xin ông Phan Thanh Hải nêu rõ tài liệu nào ông không thể đụng tới và ông xin photocoppy tài liệu đó để làm gì, chúng tôi xin trả lời ông rõ.

3. Về những tài liệu mà cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm tại Pháp, xin ông Phan Thanh Hải và quý vị xem bài của Ông Trịnh Khắc Mạnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm trên tạp chí Hán Nôm số 4 (89)- 2008, trang 71 – 78.

4. Xin gửi ông các bức ảnh chụp bia Ngự chế của Vua Thiệu Trị (ảnh chụp khi chúng tôi đã đặt tờ giấy bản lên để làm bản dập) và bia Võ Miếu để ông và bạn đọc được rõ. Ảnh chụp vào tháng 8 năm 2009.

Chiều cuối năm, xin có mấy nhời thưa lại với Ông Phan Thanh Hải như vậy. Xin cảm ơn Ông đã hồi âm.

Nguyễn Xuân Diện

—————–

Trao đổi tiếp của ông Phan Thanh Hải (sáng 01-01-2010):

Thứ nhất, rất xin lỗi vì vào dịp Năm Mới mà phải nói những điều không muốn nói. Mong ông Diện và độc giả lượng thứ!

Về những vấn đề mà ông Diện nêu ra, tôi xin có vài lời đáp lại như sau:

1. Chuyện ông “cầm nhầm” ý tưởng của người khác thì nhiều người nói đấy. Chắc ông phải hỏi thêm anh em ở Huế. Xin ông xem lại kỹ vì tôi nói ra không tiện lắm! Bản thân tôi thì thấy chuyện ông nói chuyện bộ phim Trần Thủ Độ (nguyên văn là “Việc chọn làm phim Trần Thủ Độ như một lễ vật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thật sự là một tối kiến của các nhà làm phim, và chủ đầu tư dự án. Vì ai cũng biết lễ kỷ niệm 1000 năm có điểm nhấn là vương triều Lý. Trớ trêu thay, theo chính sử thì chính Trần Thủ Độ đã chủ trương tận diệt nhà Lý bằng một việc làm không thể nói là có đạo đức”) có đúng là ý tưởng của ông không? Tôi đã nghe TS Trần Đức Anh Sơn (cũng là một người Huế, email anhsontd@yahoo.com ) đã nói chuyện này cách đây hơn một tháng (tại hôm gặp mặt Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật trưa ngày 29/11/09 với khá nhiều người tham gia)!

2. Viện Nghiên cứu Hán Nôm đúng là nơi lưu trữ nguồn tư liệu Hán Nôm lớn nhất VN nhưng khi các nhà nghiên cứu đến đây làm việc muốn xem, sao chụp tài liệu không phải thuận lợi lắm đâu! Chẳng hạn, muốn photocopy văn bia thì…không được! Tôi đã từng đại diện cho Trung tâm hơn một lần đến “Quý Viện” xin photocopy lại 32 tấm bia Tiến sỹ (vốn của Văn Miếu Huế do Trường Viễn Đông Bác Cổ đã rập từ những năm 20 của thế kỷ 20) để đối chiếu nghiên cứu với mong muốn phục hồi những chữ Hán đã bị mờ trên bia (hiện nay) khi có điều kiện nhưng nguyện vọng của chúng tôi không được đáp ứng! Vì sao vậy? Nếu ông biết thì xin trả lời. Photocopy văn bia không được thì tại sao các ông lại đòi đi rập văn bia ở tất cả mọi nơi trong nước về lưu trữ?

Xin tiết lộ với ông một điều nữa nhé: Trực tiếp xin photocopy thì không được nhưng sau đó lại có người gợi ý với chúng tôi là muốn có thì họ “sẽ giúp”. Và sau khi trả 500 ngàn đồng để được “giúp” chúng tôi đã có 2 bản văn bia! Chí đáng tiếc đó là văn bia của Văn Miếu Hà Nội chứ không phải của Huế!

3. Việc ông nói giá photocopy 2.000VNĐ/trang là do Bộ Tài chính quy định và tiền phí này các ông đều nộp vào ngân sách nhà nước. Vậy sao ông không nghĩ rằng lệ phí quay phim (cũng chỉ từ 2-2,5 triệu đồng/ngày chứ không phải 20 triệu đồng/ngày như ông nói) tại các khu di sản cũng do Nhà nước quy định và tất cả phí thu được đều nộp vào Kho Bạc Nhà nước? Mà chúng tôi có quy định rõ ràng, không phải thu phí với tất cả đoàn làm phim mà chỉ thu phí này đối với những đoàn làm phim truyện, phim quảng cáo… Còn tại “Qúy Viện” thì hình như ai đến photo tài liệu đều phải nộp 2.000đ/trang đúng không ông Diện? Tôi đã nghe không ít anh em nghiên cứu than phiền về mức phí photo quá đắt của Viện ông rồi đấy. Làm sao mà một nhà nghiên cứu bình thường dám photo một cuốn sách mấy nghìn trang với mức phí ấy?

3. Bức ảnh chụp bia Võ Miếu Huế nói lên điều gì? Ông đã biết tường tận về lịch sử ngôi miếu này chưa? Cách đây vài năm, khi nó chưa được giao cho Trung tâm chúng tôi quản lý thì mỗi bia còn nằm một nơi, không gian hoang phế, cổ dại um tùm… Sau khi tiếp nhận, chúng tôi đã quy tập tạm các bia về một chỗ (như ảnh ông cung cấp), rào quanh khuôn viên để bảo vệ và lập dự án trùng tu tổng thể (cùng với Văn Miếu, Khải Thánh Từ phía trên). Tuy nhiên, việc phê duyệt một dự án trùng tu di tích luôn phải tuân thủ những quy trình do Nhà nước quy định.

4. Chuyện ông đặt giấy rập tấm bia “Trạch nguyên tao lộc” ở Ngả ba Bằng Lãng (hiện đang nằm trong vườn nhà dân) là vi phạm quy định rồi đấy! Khi các ông lén lút rập tấm bia này bảo vệ tại lăng Minh Mạng đã không làm tròn nhiệm vụ (cũng vì tấm bia này nằm khá xa khu vực lăng). Ông có biết tấm bia này đã từng bị sụp đổ xuống sông, chúng tôi đã trục vớt và đưa dựng lại trên bệ tại vị trí nguyên thủy. Tuy nhiên đây là chỗ thấp, gần sông, thường xuyên bị ngập lụt và bị phù sa phủ lấp. Khi ông đến đó vào tháng 8/09 là thời điểm bia bị phù sa bồi lấp cả phần chân. Chúng tôi đang tính toán để dựng nhà che cho bia (tuy nhiên phải cân nhắc vì làm sao nhà che phải phù hợp). Toàn bộ khu vực dân cư trong vùng bảo vệ di tích lăng vua Minh Mạng hiện đang chuẩn bị được di dời, dải đất này sẽ được trồng rừng bảo vệ. Đó sẽ là cơ hội tốt nhất để chúng tôi bảo vệ các di tích liên quan, trong đó có tấm bia này.

Có mấy lời xin thưa lại để ông Diện rõ. Mong ông sang năm mới khi phát ngôn cần thận trọng hơn.

Phan Thanh Hải

———-

Và đây là trả lời của tác giả bài báo, ngay sáng nay 1-1-2010:

Trao đổi lại với Ông Phan Thanh Hải

Trước hết, xin cám ơn ông đã hồi âm và nhắc nhở  “sang năm mới khi phát ngôn cần thận trọng hơn”. Xin thưa lại vài điều sau:

1. Về chuyện “Cầm nhầm”! Úi giời! Tôi cứ tưởng ông bảo tôi “cầm nhầm” thế nào! Hóa ra ông Phan Thanh Hải là một Tiến sĩ Sử học mà phát biểu thật hồ đồ! Ông nghĩ rằng, tôi không có được cái “ý tưởng” đó ư?

Tôi xin thưa với ông rằng đã hàng năm nay tôi chưa gặp TS Trần Đức Anh Sơn, và tôi cũng chưa bao giờ được nghe ai nói về việc Trần Đức Anh Sơn phát biểu về phim Trần Thủ Độ. Tôi cũng chỉ biết việc Trần Đức Anh Sơn ra Hà Nội dự lễ trao giải thưởng Phạm Thận Duật khi đọc bài trả lời PV Thể thao & Văn hóa sau đó. Xin ông cứ liên hệ với ông Trần Đức Anh Sơn sẽ rõ.

Ông Phan Thanh Hải nên nhớ rằng, không phải chỉ có ông Trần Đức Anh Sơn mới nghĩ được như vậy khi Hà Nội làm phim Trần Thủ Độ để kỷ niệm đại lễ Thăng Long.

Nếu anh em nào ở Huế có nói tôi “cầm nhầm” của họ, xin ông cứ nêu tiếp nữa, để tôi và độc giả được thêm những trận cười trong những ngày đầu năm mới!

2. Trong những năm qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang thực hiện chương trình số hóa các tài liệu lưu trữ tại Viện. Ông cũng biết rằng, bản rập văn bia là những tài liệu có kích cỡ lớn, không thể có máy nào có thể photocoppy được vì vậy không thể đáp ứng yêu cầu này. Thay vào đó, hiện nay bản ảnh của hàng vạn bản rập đã được in ra phục vụ việc nghiên cứu của các học giả trên khắp thế giới. Ai cần đọc bản rập thì đều đọc tại Thư viện.

Còn chuyện một ông đại diện cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Đô Huế đến Viện Hán Nôm mà lại nghe lời gợi ý của một cá nhân (cá nhân nhé) nào đó giúp bằng 500 ngàn bạc, thì cả ông và cả ông bà nào đó cũng cần suy nghĩ lại về tư cách của mình, cả trên tư cách cá nhân lẫn trên “phương diện quốc gia”.

3. Tất cả mọi người, kể cả Viện trưởng Viện Hán Nôm, các độc giả trong và ngoài nước khi photocoppy tài liệu chữ Hán Nôm ở Viện Hán Nôm đều phải trả mức chi phí 2.000 đ/ trang. Nếu ai có thắc mắc, xin hỏi Bộ Tài Chính.

Hơn nữa, ông là người đi nhiều nơi trên thế giới (tôi biết vậy vì mỗi lần ông đi nước ngoài là ông viết hàng loạt bài báo kể chuyện người này đưa, người kia rước, rồi chuyện ăn uống chơi bời ở nước ngoài, đăng cùng lúc trên vài tờ báo, tạp chí) ông đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc ông thấy người ta cho ông tiếp cận tài liệu và trả chi phí sao chụp thế nào, chắc cũng ông cũng đã biết.

4. Chúng tôi đi công cán, đều có công lệnh đóng dấu son trong tay. Khi đến, đều đến chào và trình bày với chính quyền và nhà chức trách địa phương. Đáng tiếc, mặc dù công văn đã gửi từ trước, mà 3 tuần tôi và gần 20 cán bộ của Viện chúng tôi ở Huế  mà không thể gặp mặt được ông, ông Phùng Phu, hay bất cứ một ông bà nào có trách nhiệm trong cái Trung tâm của ông, dù chỉ vài mươi phút!

Tôi ở Hà Nội, làm sao biết được Ngã Ba Tuần có cái bia sắp lộn cổ xuống sông? Cán bộ UBND xã sở tại dẫn chúng tôi đến để làm bản rập cái văn bia đó. Khi biết đó chính là một văn bia quý giá khắc bài thơ Ngự chế của Vua Thiệu Trị, tôi hỏi họ cái bia này thuộc ai quản lý, họ nói không biết. Họ có nói với tôi, đã nhiều năm nay, có nhiều đoàn cán bộ về đây, xem xem đọc đọc rồi bỏ đi cả. May có gia đình này trông nom.

Thưa ông, đây là trả lời cuối cùng của tôi đối với Ông tại đây. Yêu Huế, xót Huế, tôi có dự kiến viết khoảng 15 bài về các vấn đề của Huế (đã viết được 4 bài) và đăng tải trên Blog cá nhân. Khi ấy, mới nói hết và đầy đủ về thực trạng di sản văn hóa Huế theo cảm nhận và thực chứng của mình!

Xin chúc ông và gia đình một năm mới An lành – Hạnh phúc và Thăng tiến trong công tác!

Trân trọng kính chào

Nguyễn Xuân Diện

———-

Phản hồi lần cuối của ông Phan Thanh Hải (tối 1-1-2010):

NÓI LẠI CHO RÕ

Đọc những lời ông Diện tôi hơi ngạc nhiên. Thực tình tôi không hề muốn nói qua nói về mãi về chuyện này, nhất là trong dịp đầu năm. Tuy nhiên, có những điều cần phải nói lại cho rõ.

1. Chuyện “cầm nhầm” ý tưởng của người khác, ông khoan cười vội! Hãy xem lại mình cẩn thận đã ông Diện ạ. Có nhiều người nói và có căn cứ hẳn hoi đấy. Mà chuyện này hình như ở chỗ ông cũng không phải là hiểm phải không? Tôi thấy chính ông còn tố cáo Viện trưởng của mình tội “cầm nhầm” của người khác ngay trên Blog của ông cơ mà?!

2. Về chuyện lệ phí photocopy ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm đắt rẻ như thế nào thì không phải tôi mà rất nhiều anh em trong giới nghiên cứu than phiền. Điều này chắc ai cũng biết. Ông Diện bảo tôi từng đi nhiều nơi, biết các nơi khác người ta cũng thu phí còn đắt hơn thế, nhưng thưa ông làm sao có thể so sánh mức sống của người dân Nhật Bản với người Việt Nam. Một nhà nghiên cứu người Nhật nếu có công việc ổn định, lương tháng 50-60 Vạn Yên, nếu photocopy một trang tư liệu quý cũng chỉ phải trả 100 yên (mà kỳ thực không phải là photocopy mà được chụp và in lại với chất lượng rất cao cơ). Nhưng tôi biết, đây không phải là chuyện của ông. Tôi chỉ muốn nói về sự khó khăn khi chúng tôi muốn có tư liệu từ Viện của ông mà thôi.

Tôi nói chuyện phải trả 500 ngàn để có 2 bản văn bia là chuyện cách đây đã hơn 10 năm ông Diện ạ, chứ không phải là chuyện mấy năm trở lại đây mà ông bảo là do Viện ông bận sao chụp số hóa các văn bia. Tôi và ông Phạm Đức Thành Dũng vì chỉ muốn có văn bia để đối chiếu làm sách mà phải cắn răng móc tiền túi ra để trả. Ông không được đánh đồng chuyện này với chuyện kia.

Còn chuyện đoàn làm phim Thái sư Trần Thủ Độ đã làm việc ở Huế như thể nào thì xin ông hỏi lại Đạo diễn Tất Bình, người phụ trách đoàn. Chúng tôi đã hỗ trợ tích cực cho đoàn như thế nào và mức thu phía ra sao, ông hỏi thì sẽ rõ. Đừng nên chỉ “nghe nói” mà vội hàm hồ nói chúng tôi chỉ biết thu “ngày 20 triệu đồng”. Đoàn làm phim sử dụng hiện trường tại ít ra là 3 khu di tích: lăng vua Đồng Khánh, lăng vua Minh Mạng và lăng vua Tự Đức. Thời gian tổng cộng là 90 ngày. Tổng mức thu là 197 triệu đồng, có Hợp đồng và hóa đơn đỏ hẳn hoi. Đó là chưa kể phần chúng tôi miễn giảm và hỗ trợ cho đoàn nữa.

3. Ông nói Giám đốc Trung tâm của tôi và tôi không tiếp đoàn của ông dù có giấy giới thiệu? Thưa với ông là những ngày đó chúng tôi người thì đi công tác, người thì bận đi họp. Nhưng tôi đã cẩn thận ký giấy miễn 100% vế vào các khu di sản cho đoàn của ông và dặn anh em bảo vệ tạo điều kiện cho đoàn ghi chép, chụp ảnh (chỉ trừ rập văn bia). Tôi thấy các ông đã không có một lời cảm ơn lại còn nói vậy thì thật tình chẳng biết nói sao nữa! Còn thái độ kiểu “những ông vua con” mà ông quy cho chúng tôi thì e phải xem lại vì chúng tôi chỉ làm đúng nguyên tắc và đúng phận sự thôi ông Diện ơi. Ông còn nhớ là sau khi các ông nhờ Cục Di sản có công văn (mà chỉ là công văn giới thiệu đề nghị hợp tác), ông đã gọi điện cho tôi và nói rằng, không cần biết đến quy chế hay thứ gì khác, các ông đã được cấp trên cho phép!.. Vậy thái độ ấy là gì ạ?

Chúng tôi chỉ cố gắng bảo vệ những gì cần bảo vệ cho Huế và cho đất nước mà thôi theo nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Nếu không vậy thì làm sao Huế có thể còn được như hôm nay. Dĩ nhiên, chúng tôi biết mình sức mọn tài hèn, còn rất nhiều những việc phải làm và phải làm tốt hơn. Bởi vậy chúng tôi rất cần sự đồng cảm, hỗ trợ và chia xẻ. Rất mong ông hiểu cho điều đó.

4. Đúng là tôi đã viết và đăng tải một số bài du ký sau các chuyến công tác xa nhưng đó là những lời tâm sự để bạn đọc hiểu thêm về nước người, văn hóa xứ người. Đó là những câu chuyện văn hóa, chẳng lẽ ông Diện đọc mà không hiểu ư?

Thật đáng buồn vì đầu năm mới đã phải nói những chuyện như thế này!

Tôi cũng xin thưa, đây là những lời cuối cùng mà tôi muốn tranh luận với ông Nguyễn Xuân Diện.

Xin chúc ông cùng gia quyến năm mới an lành!

Phan Thanh Hải

Đăng trong Đảng/Nhà nước | 64 phản hồi »

404. Chỉ cần quốc kỳ còn nguyên?

Đăng bởi anhbasam on 23/12/2009

RFA

Chỉ cần quốc kỳ còn nguyên?

Trân Văn, phóng viên RFA
2009-12-22

(Phỏng vấn ông Nguyễn Thành Rum-Giám đốc Sở Văn-Thể-Du)

Theo thông lệ, mỗi khi tới dịp có nhưng ngày cần kỷ niệm, Việt Nam lại dựng pano, treo băng rôn, dán áp phích, nhắc nhở mọi người.

Hồi đầu tháng này, một số pano đã được dựng tại một số khu vực ở TP.HCM, nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2009) và những pano ấy đã tạo ra một vụ tai tiếng.

Không dùng VN, chỉ tín nhiệm TQ

Năm nay, mẫu pano được chọn để kỷ niệm ngày 22 tháng 12 tại TP.HCM, có hình một đoàn quân mặc lễ phục, súng đeo trước ngực, mắt nhìn thẳng. Sau lưng đoàn quân này là bóng một vài cao ốc, cần cẩu loại lớn. Bên trên đoàn quân là quốc kỳ Việt Nam.

Tuy hình ảnh đoàn quân được đặt bên dưới quốc kỳ Việt Nam và dòng chữ “Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân” nhưng người ta thấy các quân nhân trong đoàn quân ấy, không giống quân nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chẳng hạn, các quân nhân trong đoàn quân xuất hiện trên pano không dùng AK. Những khẩu súng mà họ mang trước ngực không phải là loại vũ khí cá nhân mà Quân đội nhân dân Việt Nam trang bị cho quân nhân của mình.

Sau khi ngắm qua một tấm pano như thế ở gần trụ sở Hội Chữ thập đỏ quận Phú Nhuận, một vài blogger đã thử tìm kiếm tung tích của đoàn quân xuất hiện trên pano “Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân” và phát giác, những quân nhân trong ảnh là lính Trung Quốc.

Ảnh chụp đoàn quân Trung Quốc được lấy làm nền cho mẫu pano “Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân” hiện có trên khá nhiều trang web của Trung Quốc như: china.com.cn, xinhuanet.com,…

Khoảng đầu tháng 12, tin tức và những hình ảnh nhằm giúp đối chiếu, phân tích câu chuyện khó hiểu ấy đã được một số blog và diễn đàn điện tử loan báo qua Internet. Sau đó, một số blogger cho biết, pano dựng gần trụ sở Hội Chữ thập đỏ quận Phú Nhuận đã được dỡ bỏ.

Tuy nhiên đến ngày 12 tháng 12, một số blogger khác cung cấp thêm một số ảnh cho thấy, pano theo mẫu vừa kể lại thấy được dựng trước trụ sở UBND quận 4, TP.HCM và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, Quận ủy của quận này.

Mới đây, blogger Nguyễn Quang Vinh, đồng thời cũng là phóng viên báo Lao Động, kể trên blog của ông rằng, sau khi biết chuyện, ông đã gọi điện thoại cho ông Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Văn hoá – Thể thao – Du lịch và ông Phạm Hoa, Đại tá, Cục trưởng Cục Tư tưởng Văn hóa thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, để báo tin. Các ông này đã cho kiểm tra và hiện nay, những tấm pano theo mẫu mà blogger Nguyễn Quang Vinh gọi là “bậy bạ”, từng được dựng tại nhiều nơi ở TP.HCM, đã được tháo dỡ.

Tuy nhiên, blogger Nguyễn Quang Vinh cho biết, ông chưa đủ thông tin để trả lời thắc mắc chung của nhiều người là tại sao mẫu pano ấy ra đời và sẽ có những ai phải chịu trách nhiệm về chuyện này (?).

Để cùng mọi người tìm câu trả lời, chúng tôi đã gọi điện thoại cho ông Nguyễn Thành Rum, Giám đốc Sở Văn hoá – Thể thao – Du lịch TP.HCM. Mời qúy vị cùng nghe:

Chỉ sai về bản quyền và chưa… thương lượng?

Trân Văn: Thưa ông, chúng tôi được biết, vừa rồi tại TP.HCM có một số pano được dựng nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và hình ảnh trên những pano này lại là lính Trung Quốc. Ông có thể giải thích với thính giả của Đài RFA lý do tại sao lại xảy ra chuyện đó?

Ông Nguyễn Thành Rum: Tôi không biết là anh khẳng định như thế nào về chuyện đó?

Trân Văn: Tôi có được xem một số hình ảnh trên Internet và những hình ảnh này ghi lại cảnh pano được đặt trước một số cơ quan công quyền, thành thử chúng tôi muốn hỏi thăm chuyện đó hư, thực ra sao?

Ông Nguyễn Thành Rum: Cái đó… nói chung là thế này… trong đó anh có thấy lá cờ không?

Trân Văn: Dạ có! Có thấy quốc kỳ Việt Nam…

Ông Nguyễn Thành Rum: Ừ… Ừ… Anh có thấy những ngôi sao trên mũ của bộ đội không?

Trân Văn: Hình không được rõ lắm.

Ông Nguyễn Thành Rum: Thế thì cơ sở nào anh cho là… cái đó là… của Trung Quốc?

Trân Văn: Một số blogger có chụp lại ảnh một số trang web của Trung Quốc, trong đó có ảnh gốc…

Ông Nguyễn Thành Rum: Cho nên cái đó đó, có nghĩa là thế này nè… À… đối với một số nhân viên của tôi đó. À… Anh em nó có sơ suất cái chuyện đó nhưng mà nó đã, nó đã chỉnh sửa lại cái hình đó chứ không phải là nó lấy nguyên xi. Bị vì… anh… anh đã thấy lá cờ Việt Nam mà đúng không?

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: Ừ… nhưng mà có điều là mình sử dụng cái hình ảnh của người khác là sai về nguyên tắc bản quyền.

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: À… Cho nên cái đó là… là… sau khi anh em nó làm thì chúng tôi đã cho thu hồi cái đó.

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: Và… chúng tôi có kiểm điểm anh em vì sao sử dụng như thế (?). Bị vì một đó là mình sử dụng, mình phải tính toán đến cái tác quyền, tính toán đến cái sự thương lượng trao đổi với người ta về nhiều mặt.

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: Cái đó là cái sơ suất của nhân viên tôi, của chúng tôi.

Trân Văn: …nhưng thưa ông tại sao…

Ông Nguyễn Thành Rum: Cám ơn…

Trân Văn: Thưa ông tại sao lại không dùng ảnh quân đội nhân dân Việt Nam mà dùng ảnh quân giải phóng nhân dân Trung Hoa…

Đến đây dù không có tiếng gác máy nhưng chúng tôi không thấy ông Nguyễn Thành Rum trả lời nữa. Sau khi lập lại câu hỏi nhiều lần mà không được hồi đáp, chúng tôi đành gác điện thoại.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi sự kiện này và khi có thông tin mới, chúng tôi sẽ tường thuật tiếp.

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | 30 phản hồi »

363. Cần luận thuyết thích hợp cho Việt Nam phát triển mạnh

Đăng bởi anhbasam on 16/11/2009

Tuần Việt Nam

Cần luận thuyết thích hợp cho

Việt Nam phát triển mạnh

Tác giả: Trường Giang *

Thứ Hai, ngày 16-11-2009

Bước sang thế kỷ mới, thực tiễn đã vượt lên, chúng ta có trách nhiệm phải nhận thức lại, tìm hiểu nghiên cứu, rút ra những cái mới từ thực tiễn hiện đại; điều chỉnh bổ sung cho lý thuyết kinh điển phù hợp với hoàn cảnh đương đại.

LTS: Nhân dịp Ban Tuyên giáo Trung ương mở cuộc vận động tìm chủ thuyết phát triển cho đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, CTV Trường Giang gửi bài viết hưởng ứng. Để tôn trọng tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết thể hiện quan điểm riêng của ông. Mời độc giả cùng thảo luận.


Đảng ta ngay trong những ngày đầu thành lập đã chọn một học thuyết làm ngọn cờ lý luận cho hoạt động cách mạng của mình: học thuyết Mác – Ăng ghen. Chúng ta đã thực hiện học thuyết Mác thành công trong những bước đi ban đầu theo tinh thần vận dụng sáng tạo của Lê nin. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh của chúng ta đã tinh tường hiểu được tinh thần chống áp bức bóc lột, mang lại tự do cơm áo cho người lao động của Mác, đã nhanh chóng nắm bắt thấm nhuần cương lĩnh giải phóng dân tộc thuộc địa của Lê Nin, đã cùng Đảng dẫn dắt toàn dân đứng dậy, phá tan xiềng gông của thực dân Pháp, phát xít Nhật, bè lũ phong kiến phản động và chống lại thắng lợi cả bọn đế quốc Mỹ xâm lược sau này.

Công cuộc đấu tranh, giành độc lập tự do của nhân dân Việt Nam đã trở thành một tấm gương chói sáng, góp phần tích cực động viên các dân tộc thuộc địa ở các châu lục vùng lên tự giải phóng mình. Bản đồ thế giới đã được vẽ lại với nhiều thay đổi sáng sủa. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao rõ rệt.

Nhưng đáng tiếc, dường như chúng ta chưa hiểu thật đầy đủ ý tưởng của Mác, Ăng ghen – hai học giả vĩ đại của thế kỷ 19. Và đặc biệt khi bước sang những thập niên cuối thế kỷ 20, thực tiễn đã có nhiều biến đổi lớn, nhất là về kinh tế, khoa học – công nghệ, các mối quan hệ xã hội, bang giao quốc tế…, công việc nghiên cứu lý luận của ta vẫn chìm đắm trong chiều hướng triển khai, hiện thực hoá những chuẩn mực có sẵn trong học thuyết kinh điển của thế kỷ 19 mà chưa mạnh dạn nghiên cứu cái mới của của hiện tại để xây dựng những chuẩn mực mới, điều chỉnh, bổ sung, thậm chí xoá bỏ những chuẩn mực cũ đã lỗi thời, lạc hậu. Thỉnh thoảng, một vài cán bộ quản lý vẫn còn lớn tiếng phê phán những nghiên cứu trái với chiều hướng suy nghĩ truyền thống hoặc phân tích khác với lý thuyết kinh điển.

Mác viết bộ Tư bản (le Capital) tập 1thời còn trẻ. Nội dung bộ sách này đến với ta sớm và được khai thác phát huy mạnh mẽ. Nhưng dù sao, bộ sách đó (Tư bản tập 1) cũng mới chỉ là những suy nghĩ bước đầu về chủ nghyĩa tư bản khi Mác – Ăng ghen chỉ mới biết đến 3 nước tư bản Đức, Pháp, Anh trong thời kỳ sơ khai của chủ nghĩa Tư bản và cũng chỉ mới qua cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.

Đến sau này, khi nhiều tuổi, có một số điều kiện thuận lợi, Mác có đi rộng ra một số nơi (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ…), tiếp xúc mới một số tập đoàn tư bản, một số học giả lớn, đọc sách của Hê ghen, Saint Simon, Aritstote, Khổng Tư, Nho giáo, Phật giáo thấy rõ vai trò của khoa học công nghệ, Mác có thêm cơ sở thực tế và lý luận để tư duy sâu sắc và chính xác hơn về chân dung chủ nghĩa Tư bản và cuộc cách mạng vô sản. Mác đã tự phủ định một số ý kiến đã viết hoặc phát biểu trong thời trẻ của mình. Song thời kỳ này, Mác đã già yếu và cũng nghèo hơn, Ăng ghen cũng khong còn giúp được nhiều như trước vì bà vợ cũng kinh doanh thua lỗ. Do vậy, Mác, Ăng ghen không tự in ấn phát hành sách được như tập 1 bộ Tư bản; tập 2, 3 cũng chỉ còn ở dạng bản thảo chưa hoàn chỉnh, Mác chỉ tranh thủ viết báo, phát biểu tại một số diễn đàn, đặc biệt tranh luận ở câu lạc bộ Pruđông… Tất cả những tài liệu này nằm lang thang ở các nước châu Âu, chỉ đến Việt Nam bằng sự ghi chép vào sổ tay của một số người ham hiểu biết.

Về già, Mác và cả Ăng ghen đã đặt lại những vấn đề khá cơ bản như nhấn mạnh quyền tự do cá nhân (ngay trong tuyên ngôn đảng cộng sản, bản thảo thứ nhất, thứ hai, Mác đều ghi bằng chữ đậm: “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho phát triển tự do của cộng đồng”, chứng tỏ Mác rất coi trọng tự do cá nhân. Ý này Mác đã phát biểu rất nhất quán tại câu lạc bộ Pruđông nhiều lần. Từ đó, ta có thể khẳng định Mác từ sau 1860, không hề có tư tưởng xây dựng một chế độ thủ tiêu hoàn toàn mọi quyền cá nhân. Phải chăng ở đây có sự hiểu lầm khi truyền bá lại hay dịch sai từ Community của Mác. Điều này dẫn chúng ta đến một số sai lầm thu hẹp quyền sở hữu cá nhân, quyền tự do cá nhân lúc này nơi này, lúc khác nơi khác.

Nói về chuyên chính vô sản, nói về phương thức đấu tranh, thời trẻ, Mác và Ăng ghen thường hay nói đến bạo lực, coi đó là phương thức duy nhất, là bà đỡ của lịch sử nhưng đến thời già, cả Mác và Ăng ghen đều suy nghĩ lại và khẳng định chủ yếu là bằng hoà bình, giai cấp công nhân mà đại diện là đảng cộng sản sẽ thắng do sự gương mẫu và tư tưởng tiên tiến của mình. Đây là một sự chuyển biến về tư tưởng cách mạng của 2 vị.

Về quyết định luận kinh tế mà thời trẻ, Mác và Ăng ghen hay nói, cho rằng kinh tế là quyết định tất cả, hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc, vật chất quyết định tinh thần…. thì khi về già, 2 ông đã tự phủ định. Ăng ghen nói : “xét đến cùng mới là kinh tế”. Ý nói cứ giành chính quyền, xây dựng thượng tầng kiến trúc, xác định chính thể, rồi sẽ định hướng xây dựng kinh tế. Nếu xem kinh tế là nền móng thì phải biết cái toà lầu bên trên gồm có mấy tầng, cấu trúc như thế nào thì mới tính được kết cấu nền móng. Tinh thần, có khi tác động rất lớn đến vật chất. Mác đồng tình với Hê ghen luận điểm này. Đây cũng là một thay đổi lớn trong cách nhìn nhận sự vật về sự tương quan của chúng. Ý tưởng đó của 2 ông cũng chưa đến Việt Nam.

Đặc biệt, trong những tháng ngày cuối đời, khi thấy sức khoẻ của mình đã sút kém nhiều, Mác đã phát biểu nhắn nhe lại với những người trong phong trào cộng sản một cách thiết tha, rằng những điều ông dự đoán cho một xã hội sau chủ nghĩa tư bản là những điều có thể xảy ra chứ không phải là những điều tất yếu phải xảy ra. Và thật buồn, nếu có ai đó sau này cứ lắp lại y nguyên những điều trong sách hay tài liệu để lại của ông.

Chính chúng ta không thấm nhuần tinh thần này nên đã không coi trọng nghiên cứu cái mới trong thực tiễn hiện nay để xem xét lại những chuẩn mực trong các luận thuyết kinh điển. Rõ ràng thực tiễn mới đã vượt lên, không ít những vấn đề trong học thuyết Mác cần phải được điều chỉnh, bổ sung.

Mác khẳng định mâu thuẫn giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội, thúc đẩy sự vận động của lịch sử. Mác phân tích giai cấp Tư bản (những ông chủ) bóc lột đến tận xương tuỷ giai cấp vô sản (những người làm thuê) nên bùng nổ thường xuyên cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt. Chính giai cấp vô sản là tác nhân lịch sử, là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa Tư bản. Mác phân tích Tư bản bóc lột công nhân, tích luỹ tư bản chủ yếu là thu lợi nhuận từ thặng dư giá trị tức là phần lao độngd ư thừa không được hưởng tiền công của người lao động. Tầng lớp chủ ngày càng giàu lên và người làm thuê ngày càng nghèo đói; mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc; do đó cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, mạnh mẽ dẫn đến cuộc cách mạng vô sản.

Thực tế ngày nay, sự chênh lệch giàu nghèo giữa chủ và thợ vẫn còn nhưng mối quan hệ giữa chủ và thợ không căng thẳng như ngày xưa. Nhiều ông bà chủ cũng biết rút kinh nghiệm, điều chỉnh thái độ và chính sách quyền lợi đối với thợ thuyền. Ở một số nước, trong thợ thuyền, có một số người giàu lên, có xe hơi, có nhà tầng, có tiền mua cổ phiếu khá nhiều, trở thành cổ đôn lớn, tham gia và Hội động quản trị nhà máy hoặc công ty. Phần tích luỹ của chủ từ cái mà Mác gọi là thặng dư giá trị không đáng là bao so với phâầnlợi lộc từ sự cải tiến tổ chức sản xuất, cung cách quản lý, áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, sử dụng công nghệ tiên tiến…. Tính hợp tác thân thiện giữa chủ và thợ gnày càng tăng. Mâu thuẫn giữa chủ với thợ và cuộc đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn đó vẫn còn nhưng không thành một cuộc chiến diệt nhau, dẫn đến một cuộc cách mạng bằng bạo lực, chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Chính khoa học, công nghệ đang phát triển gia tốc, ngày càng đóng vai trò động lực chủ yếu thúc đẩy mọi sự phát triển xã hội, thúc đẩy sự vận động của lịch sử. Cái mới này trong thực tiễn đang sáng rực lên như một viên ngọc thời đại. Không khái quát, đúc kết nó thành một quy luật mới, xoá bỏ nhận thức cũ đã lỗi thời là có tội với lịch sử.

Có một vấn đề mà Mác nhắc đến như một sản phẩm của chủ nghĩa Tư bản và sẽ chấm dứt, bị chôn vùi cùng với chủ nghĩa Tư bản bằng cuộc cách mạng vô sản là kinh tế thị trường. Không, thực tiễn mới cho thẩy sức sống bền vững của nền kinh tế thị trường. Nó là sản phẩm của lịch sử đương đại, nó đang trở thành một dòng chảy mạnh tạo đà cho lịch sử phát triển, gia tốc, tạo môi trường cho hàng hoá, của cái vật chất ngày càng dồi dao, phong phú, đưa nhân loại đến một thế giới văn minh, phồn thịnh. Nó không thể bị chấm dứt. Chủ nghĩa tư bản cũng không phải đang giãy chết. Nó đang tự biến đổi mình, thích hợp dần với tính chất của thời đại. Tên của chính thể, tê của chủ nghĩa không còn là sự quan tâm nhiều của mọi người. Mục tiêu xã hội, nội dung cuộc sống (giàu mạnh, văn minh, độc lập, tự do, dân chủ) mới là sự lựa chọn thực sự của nhân loại tiến bộ, của lương tri con người. Đó là một nhận thức mới, một bài học thời đại. Thực tiễn mới không cho phép ta nuôi giữ những quan niệm cũ đã trở thành lạc hậu.

Mác đã từng tiên đoán, thế giới cuối cùng đều đi đến chủ nghĩa cộng sản. Mác tư duy theo 5 hình thái kinh tế xã hội, theo quy luật tất định. Nhưng thực tế ngày nay, với sự phát triển phi thường của khoa học kỹ thuật, với sự sáng tạo phi thường của con người, với sự biến đổi đa dạng, nhanh chóng, bất ngờ của thiên nhiên mà con người không thể kiểm soát hết được thì quy luật tát định không còn là nhận thức hiện đại. Hiện nay ta không có thể khẳng định được chủ nghĩa cuối cùng của loài người là chủ nghĩa gì. Trí óc của con người đang cố vươn tới làm chủ tương lại nhưng khẳng định là tương lai đã nằm trong tay ta là một sự ngộ nhân, là ảo tưởng.

Nói những điều trên đây là để tự kiểm điểm lại mình chứ không phải để phê phán Mác. Mác đã quá vĩ đại. Giữa giai đoạn lịch sử, con người còn mù mịt về nhận thức xã hội như thế mà Mác đã mổ xẻ phân tích chủ nghĩa tư bản được như thế là một thành tựu khai trí lớn lao đến nhường nào. Nhưng bây giờ ta nghiên cứu thực tiễn mới để kiến lập một luận thuyết mới thích hợp với thời đại, tạo điều kiện cho đất nước phát triển mạnh là trách nhiệm thiêng liên của con người có trách nhiệm với đời.

Cần xây dựng một luận thuyết hiện đại, thích hợp với Việt Nam phát triển. Đó là mệnh lệnh của thời đại. Một luận thuyết mang tính tổng hợp,kết tinh cao tri thức của nhânloại thế kỷ 21, đặc biệt là những ý tưởng triết học mới của những cái đầu tư duy thông minh, hiện đại mà hàm chứa đủ những tinh hoa còn thơm ngắt của kho tàng tư tưởng kinh điển trong quá khứ… sẽ là ngọn cờ, là kim chỉ nam hành động của toàn dân ta trên con đường đi tới tương lai. Luận thuyết đó phải bao gồm 6 nội dung lớn sau đây:

  1. Mục tiêu xã hội là xây dựng một cuộc sống giàu mạnh văn minh, dân chủ độc lập

Có người hỏi một xã hội  thực hiện được những mục tiêu ấy gọi là xã hội gì, theo chủ nghĩa gì? Tôi không quan tâm đến việc đặt tên. Mác, Ăng ghen gọi chủ nghĩa cuối cùng của loài người là chủ nghĩa cộng sản. Tôi thấy mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản mà Mác, Ăng ghen nêu lên là quá đẹp đẽ nhưng cái tên cộng sản thì tôi không thấy thể hiện đúng cái nội dung cao đẹp ấy. Một xã hội đáp ứng được mọi mong muốn của con người không nhất thiết phải cộng tất cả tài sản con người lại. Cũng đã cớngười nghi ngờ khả năng dịch thuật của các học giả châu Á thời trước. Các từ Community, communist, communisme mà Mác dùng không phải để diễn đạt ý tưởng đó. Ý cộng sản, cộng thê là ý của Ô Oen, Phua riê gán cho lý thuyết Mác để phê phán Mác.

Tôi thiết nghĩa, chúng ta chỉ cần xác định đúng mục tiêu và quyết tâm thực hiện cho kỳ được mục tiêu đó là đặt lắm, để quá nhiều thì giờ tranh cãi về cái tên thì chẳng ích gì.

  1. Tổ chức một bộ máy nhà nước pháp quyền nhân dân, một hệ thống tổ chức chính trị chặt chẽ, có năng lực hoạt động, tập hợp được rộng rãi các tầng lớp xã hội, phát huy đặc biệt giới trí thức và doanh nghiệp, coi đây là 2 lực lượng nòng cốt của xã hội hiện đại.
  2. Tập trung đẩy mạnh sản xuất bằng công nghệ cao, tăng nhanh số hàng hoá chất lượng, thực hiện kế hoạch thương mại đa phương, hoà nhập vào cuộc giao lưu quốc tế tích cực.
  3. Thiết lập một cơ chế xã hội khoa học, hợp lý, thông thoáng, phát huy được mọi tài năng, bảo đảm được sự bình đẳng, tự do chân chính của mọi công dân, bảo đảm cho hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, cho các tổ chức chính trị xã hội được hoạt động một cách chủ động độc lập theo ý nguyện của lòng dân để tạo nê sự đồng thuận xã hội cao, một quyết tâm mạnh mẽ của toàn xã hội, xoá bỏ tiêu cực, bảo vệ và xây dựng đất nước.
  4. Hết sức coi trọng xây dựng nền khoa học công nghệ hiện đại và phát triển với quy mô lớn nền giáo dục năng động, đào tạo ngày càng có hiệu quả các nguồn lực giầu sức sáng tạo, xoá bỏ nhanh chóng thực trạng tiến dích dắc của ngành khoa học công nghệ ta và thảm trạng trì trệ bảo thủ của ngành giáo dục hiện nay. Trên thực tế, không có một sự phát triển nào mà không sử dụng kết quả của giáo dục, không áp dụng khoa học, công nghệ mới. Do đó, khoa học, công nghệ và giáo dục phải luôn luôn được coi là ưu tiên hàng đầu, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận động lịch sử nhanh chóng đi tới tương lai.
  5. Xây dựng một nền kinh tế thị trường phồn thịnh, lành mạnh. Nền kinh tế thị trường là sản phẩm của lịch sử hiện đại – nó có sức sống mạnh mẽ, có giá trị trường tồn và luôn luôn biến đổi theo xu hướng thời đại và chính sách của mỗi nhà nước. Không nên quan niệm nó chỉ là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản và càng không nên coi số phận của nó chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Sức sống của nó, vú nuôi của nó là hệ thống sản xuất hàng hoá.

Nền kinh tế thị trường của chúng ta chấp nhận có cạnh tranh, thậm chí có lúc, có nơi cạnh tranh quyết liệt, mạnh mẽ nhưng tuyệt đối không tiêu diệt nhau, không có hiện tượng cá lớn nuốt cá bé, không có chuyện đấu tranh một mất một còn. Cạnh tranh ở một nền kinh tế thị trưòng lành mạnh là yếu tố kích thích phát triển, có kết hợp với hợp tác nên kết quả cuối cùng thường là dắt nhau cùng tiến, cùng lên tầng cao.

***

Tóm lại Mác, Ăng ghen, Lê nin, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường cách mạng đúng đắn. Chúng ta đã học tập và làm theo một cách tích cực, nghiêm túc. Bước sang thế kỷ mới, thực tiễn đã vượt lên, chúng ta có trách nhiệm phải nhận thức lại, tìm hiểu nghiên cứu, rút ra những cái mới từ thực tiễn hiện đại; điều chỉnh bổ sung cho lý thuyết kinh điển phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đương thời. Đây cũng là điều mong muốn của các bậc tiền bối.

Gần đây, Ban Tuyên giáo Trung ương cũng có mở cuộc vận động tìm chủ thuyết phát triển cho đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh. Hy vọng bài viết này được coi là sự hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của Đảng ta.

————

* Bài được đăng lên mấy tiếng đồng hồ, Ba Sàm điểm, biểu “nhạy cảm”, sau 2 tiếng thấy bà con la là không vô được. Vậy xin đăng lại đây phòng hờ lỡ đúng là bị gỡ xuống thiệt.

Quả tình nó là một bài viết hiếm thấy trên báo chí trong nước, nhắc nhở cần nhìn lại những thứ “giáo lý” của một thời.

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 4 phản hồi »

362. Đơn Kiến nghị UBTVQH của TS Nguyễn Quang A

Đăng bởi anhbasam on 16/11/2009

Kính gửi các phương tiện thông tin đại chúng,

Căn cứ vào Luật Khiếu nại và Tố cáo, tròn một tháng trước, ngày 16-10-2009 tôi đã có gửi một kiến nghị đến Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội (37- Hùng Vương- Hà Nội). Xin gửi các quý vị bức thư đó trong tệp đính kèm. Tôi cũng gửi kèm theo biên nhận về việc gửi bức thư đó (file pdf). Cho đến ngày hôm nay, 16-11-2009, tôi không hề nhận được bất cứ hồi âm nào:

  • không nhận được biên nhận chứng tỏ rằng UBTV Quốc Hội đã nhận được bức thư đó;
  • không nhận được chính bức thư đó (nếu giả như không có người nhận thì Bưu điện phải gửi lại cho người gửi);
  • không nhận được bất cứ hồi âm nào từ UBTV Quốc hội.

Tôi chưa rõ vì sao, do lỗi của “cô văn thư” hay “ông/bà Bưu điện” hoặc UBTVQH không muốn trả lời. Tôi sẽ làm rõ với Bưu điện sau.
Tôi hy vọng không phải là vì lý do sau cùng. Chính vì thế tôi nhờ các phương tiện thông tin đại chúng công bố bức thư ngày 16-10-2009 của tôi và đề nghị quý bạn đọc chuyển đến cho từng thành viên của UBTV Quốc Hội (do đã công bố nên các tài liệu đính kèm nêu trong thư ngày 16-10-2009 không được gửi kèm theo email này).
Xin chân thành cảm ơn.

Nguyễn Quang A

——————————-

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do –Hạnh phúc

Hà nội ngày 16-10-2009


Đơn kiến nghị Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành

Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

và trình Quốc hội bãi bỏ quyết định đó


Kính gửi: Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Căn cứ vào:

-          khoản 2, Điều 1,[1] các Điều 2, Điều 9, Điều 16, Điều 57, Điều 85 và 86 của Luật Khiếu nại Tố cáo (1998, sửa đổi 2004);

-          các khoản 2, 4 Điều 67 của Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật (sửa đổi 2008, có hiệu lực 1-1-2009);[2]

-          Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO);[3]

Tôi, công dân Nguyễn Quang A, chứng minh thư nhân dân số 11542826, hộ khẩu tại 19, Đoàn Nhữ Hài, Hoàn Kiếm, Hà Nội, khẩn thiết kiến nghị Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội:

1)      Xem xét ra quyết định đình chỉ việc thi hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg theo thẩm quyền của Quý Ủy Ban được quy định tại (điểm 5)[4] Điều 7 của Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 và trình Quốc hội bãi bỏ Quyết định 97/2009/QĐ-TTg theo (điểm 9)[5] Điều 2 của Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10;

2)      Trả lời tôi bằng văn bản về việc thụ lí và giải quyết đơn này theo quy định của Điều 34 và Điều 36 của Luật khiếu nại tố cáo[6];

3)      Giám sát để ngăn chặn khả năng các cơ quan quyền lực có thể trù dập, đe dọa, trả thù tôi và buộc họ phải thi hành nghiêm Điều 16 của Luật khiếu nại tố cáo[7].

Lý do: Ngày 24-7-2009 Thủ tướng chính phủ đã kí ban hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg. Việc xây dựng, thẩm định dự thảo Quyết định 97/2009/QĐ-TTg đã vi phạm nghiêm trọng trình tự và thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội và tại Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật sửa đổi 2008 (cụ thể là đã không tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; và đã không đưa dự thảo lên trang thông tin điện tử ít nhất 60 ngày để lấy ý kiến)[8]; (đó là chưa đề cập đến các sai phạm nghiêm trọng về nội dung của Quyết định 97/2009/QĐ-TTg mà một phần đã được phân tích trong kiến nghị ngày 6-8-2009 của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS gửi Thủ tướng Chính phủ [xem văn bản đính kèm]).

Xin gửi Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội lời chào trân trọng.


Nguyễn Quang A


[1] Khoản 2 Điều 1 của Luật Khiếu nại tố cáo viết:  “công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại… quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.

 

[2] Các khoản 2 và 4 của Điều 67. “Xây dựng, ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ” của Luật này viết:

…..

2. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm đăng tải toàn văn dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo lấy ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan.

…..

4. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến của cơ quan thẩm định, ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

[3] Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội (có hiệu lực thi hành từ 11-1-2007) nêu rõ:

“… Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới.

Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm” …

Theo Phụ lục đính kèm:

“Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Cơ quan chủ trì soạn thảo phải đăng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ trên Trang tin điện tử của Chính phủ và dành thời gian không ít hơn 60 ngày, kể từ ngày đăng dự thảo để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý vào dự thảo”.

[4] Điểm 5 của Điều 7 quy định Ủy Ban Thường vụ Quốc hội có quyền “Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hộitrình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội”;

[5] Điểm 9 của Điều 2 quy định Quốc hội có quyền “Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội

[6] Điều 34 quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn phải thông báo bằng văn bản cho tôi biết việc thụ lí có được tiến hành hay không, nếu không phải nêu lí do; Điều  36 (sửa đổi 2005) quy định thời hạn giải quyết không được quá 30 ngày (trong mọi trường hợp không được quá 45 ngày) kể từ ngày thụ lí.

[7] Điều 16 quy định: “Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại, tố cáo;…

[8] Tôi cũng đã có một thư ngỏ ngày 27-9-2009 gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp phân tích việc này (đáng tiếc không có tờ báo chính thức nào đăng), và một thư đảm bảo gửi ông Bộ trưởng ngày 1-10-2009 mà ông đã nhận được ngày 2-10-2009; sau 14 ngày (luật quy định không quá 10 ngày) tôi chưa nhận được trả lời của Bộ trưởng. Xin đính kèm thư đó và 1 bài phân tích chi tiết của tôi đã gửi đến 2 tạp chí của Bộ KHCN và Bộ Tư pháp nhưng không được đăng.

———————-

* Biên lai chuyển phát nhanh:

UBTVQH_ChungTu_GuiThu_16_10_2009

* Các báo khác:

Cc: Bauxite <BauxiteVN@gmail.com>; Dai Doan Ket <toasoan@baodaidoanket.com.vn>; Dan Tri <dantri@dantri.com.vn>; La Dong Xa Hoi <bldxh@hn.vnn.vn>; Lao Dong <baolaodong@hn.vnn.vn>; Nong Thon Ngay Nay <ntnnhn@hn.vnn.vn>; Nguoi Lao Dong <ng.laodong@hcm.fpt.vn>; Nha Bao Va Cong Luan <baocongluan@hn.vnn.vn>; Nhan Dan <toasoan@nhandan.org.vn>; Phap Luat <baophapluat@hn.vnn.vn>; Phap Luat TPHCM <phapluattphcm@hcm.vnn.vn>; Sai Gon Tiep Thi <sgtt@sgtt.com.vn>; Thanh nien <toasoan@thanhnien.com.vn>; Tien Phong <hotline@baotienphong.com.vn>; Tuoi tre <btv@tuoitre.com.vn>; Vietnamnet <hotnews@vietnamnet.vn>

Đăng trong Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | 4 phản hồi »

357. THÁCH THỨC CỦA VN KHI ĐẢM NHIỆM CHỨC CHỦ TỊCH ASEAN

Đăng bởi anhbasam on 11/11/2009

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM

KHI ĐẢM NHIỆM CHỨC CHỦ TỊCH

ASEAN VÀO NGÀY 1-1-2010

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Sáu, ngày 6-11-2009


(Đài BBC 1/11) - Một trong những thách thức đặt ra đối với Việt Nam sẽ là điều phối các mối quan hệ giữa ASEAN với các nước láng giềng và các cường quốc trên thế giới, trước hết là Trung Quốc.

Báo Hồng Công Bưu điện Hoa Nam buổi sáng vừa có bài phân tích tương quan Trung Quốc – ASEAN trong một chủ đề thuộc loại “tế nhị” và có tầm quan trọng đặc biệt: tranh chấp Biển Đông.

Trong bài tựa đề “Chiến thắng ngoại giao của Trung Quốc”, báo này nhận định rằng trong khi căng thẳng xung quanh chủ quyền lãnh thổi tại  Biển Đông tiếp tục lên cao, thì “dường như Trung Quốc đã đạt thắng lợi ngoại giao một cách nhẹ nhàng thông qua việc bảo đảm rằng khối ASEAN không tham gia các bất đồng lãnh thổ” trong thời gian trước mắt. Dưới áp lực của Trung Quốc, vấn đề tranh chấp Biển Đông, vốn liên quan đến nhiều quốc gia thuộc ASEAN, đã không được mang ra bàn tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 15 vừa diễn ra tại Hua Hin (Thái Lan).

Ngay trước thềm hội nghị, Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN đã tái khẳng định lập trường của Trung Quốc, rằng các bất đồng ở Biển Đông là “vấn đề song phương, không phải đa phương”. Bà Tiết Hãn Cần nói: ‘Trung Quốc cho rằng đây là bất đồng giữa Trung Quốc và ASEAN. Bởi vậy, Chính phủ Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổi thông qua các đàm phán song phương’.

Theo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, các nhà phân tích cho rằng động thái này rất hữu hiệu  trong việc củng cố vị trí quyền lực kinh tế và quân sự của Bắc Kinh.

Muốn gì được nấy?

Giới ngoại giao cho hay chủ đề Biển Đông thậm chí còn không được nói nhiều trong các cuộc tiếp xúc thân mật bên lề hội nghị ASEAN. Một nhà ngoại giao giấu tên nói với báo Hồng Công: “Bắc Kinh không muốn bàn về chủ đề này và nó đã không được bàn tới. Nếu nhìn vào hội nghị này, chẳng ai biết là hầu như các nước (ASEAN) đều lo ngại về khả năng xảy ra xung đột (xung quanh chủ đề này)”.

Ông nhận xét rằng ASEAN lại tiếp tục thói quen “mũ ni che tai” của mình và “Bắc Kinh đã buộc ASEAN vào đúng vị trí mà Trung Quốc muốn”.

Tiến sỹ Jusuf  Wanandi từ Viện Nghiên cứu Chiến lược và các vấn đề Quốc tế của Inđônêxia được trích lời nói nếu các quốc gia ASEAN không tìm ra được cách thức đối phó với Trung Quốc trong lĩnh vực này thì giảm căng thẳng trong tương lai. “Nếu ASEAN không sát cánh với nhau thì sẽ gẫy cánh từng nước một. Chủ đề Biển Đông cho thấy điều đó đang bắt đầu thành hiện thực”. Ông tiến sỹ được trích lời nói: “Đây là cơ hội bị ASEAN bỏ lỡ. Khối này cần đoàn kêt hơn trong ứng xử với Trung Quốc”.

Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), lúc đó được ca ngợi là bước đi quan trọng trong việc giảm căng thẳng và tạo điều kiện cho đàm phán trong tương lai.

Tại hội nghị Hua Hin vào tháng 10/2009, trong hội đàm ASEAN-Trung Quốc, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định lại cam kết của Việt Nam trong việc triển khai các thoả thuận đã đạt được giữa hai bên, trong đó có việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố chung DOC năm 2002, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử (COC), vì lợi ích hoà bình và ổn định chung của khu vực. Tuy nhiên, các quan sát viên ngày càng tỏ ra hoài nghi rằng tiến trình này sẽ được bắt đầu, cho dù Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển quan hệ với các nước ASEAN trên phương diện khác.

Trong khi Trung Quốc một mặt vẫn tuyên bố ủng hộ DOC năm 2002, mặt khác nước này cũng chỉ ra sự hạn chế của ASEAN trong giải quyết các vấn đề phức tạp và nhạy cảm như Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN Tiết Hãn Cần được trích lời nói: “Không nên thảo luận chủ đề tranh chấp lãnh hải nhạy cảm trong khuôn khổ hợp tác Trung Quốc-ASEAN. Các hôi nghị của ASEAN phải là cơ chế của hợp tác, chứ không phải là tranh luận”.

Việt Nam thua thiệt

Nỗ lực song phương hoá tranh chấp ở Biển Đông của Trung Quốc của Trung Quốc chắc hẳn không thể làm các nước liên quan hài lòng.

Khu vực Biển Đông giàu tàì nguyên và có nhiều tuyến đường hàng hải quan trọng đang là địa bàn tranh chấp của Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và một số nước ASEAN khác là Philippin, Malaixia, Brunây. Riêng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì hiện Trung Quốc đang hoàn toàn chiếm giữ.

Các quan chức quốc phòng trong khu vực cho hay cả Trung Quốc, Việt Nam và Mỹ đều đang tăng cường hoạt động hải quân tại Biển Đông, theo sau kế hoạch nâng cao năng lực hải quân đầy tham vọng của Trung Quốc. Việt Nam muốn theo dõi hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc ở đảo Hải Nam. Trung Quốc, ngoài việc phản đối Mỹ do thám ngoài khơi và cho đây là tiền đề để bình thường hoá quan hệ quân sự, cũng bày tỏ quan ngại về hoạt động của Việt Nam.

Cuối tháng 11/2009, một hội nghị quốc tế về Biển Đông sẽ diễn ra tại Hà Nội, và Trung Quốc chắc không vui vẻ trước thông tin này. Tiến sỹ Ian Storey từ Viện nghiên cứu Đông Nam Á đặt tại Xinhgapo, cho rằng, Trung Quốc sẽ còn tỏ lập trường cứng rắn hơn vì Việt Nam sẽ đảm nhiệm cương vị Chủ tịch ASEAN đầu năm 2010. Theo ông Storey, Trung Quốc đang nỗ lực chống lại việc quốc tế hoá chủ đề Biển Đông vì “làm việc với từng nước một đặt Trung Quốc vào vị thế mạnh hơn. Mỹ cũng hay làm như vậy, đó là chính sách ngoại giao dựa vào quyền lực”.

Giáo sư Carl Thayer từ Học viện  Quốc phòng Hoàng gia Ôxtraylia thì cảnh báo chính Hà Nội là bên thua thiệt lớn vì thái độ yếu thế của ASEAN trong chủ đề Biển Đông. “Tôi nghĩ là sẽ chẳng có Quy tắc ứng xử nào hết… Trung Quốc ngày càng tự tin và sẽ ngăn chặn mọi nỗ lực quốc tế hoá tranh chấp Biển Đông. Tôi cho rằng tình hình sẽ còn căng thẳng lâu dài nữa”.


Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 5 phản hồi »