BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Dân chủ/Nhân Quyền’ Category

583. HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Đăng bởi anhbasam on 18/07/2010

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam

Văn phòng Nhân quyền

Phát hành tháng một kỳ

Số 1, 6/2010

HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng,

Thứ trưởng Bộ Công an

Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ.

Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?

Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…

Họ áp đặt những “tiêu chí” về nhân quyền cho các quốc gia mà họ đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị. Họ muốn tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng “dân chủ” và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền hợp hiến. Nếu quốc gia nào không chịu nghe theo thì họ đưa vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt”; rồi gây khó dễ cho hoạt động kinh tế, thậm chí cấm vận từng phần…

Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây luôn đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để “mặc cả”. Họ luôn phê phán chúng ta “không có tự do tôn giáo”; “không có tự do báo chí”; “không có tự do lập hội”… Mỗi khi có công dân Việt Nam vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nếu là phóng viên báo chí thì họ cho là “đàn áp báo chí”. Nếu là người theo đạo, người tu hành, thì họ bảo là chúng ta “đàn áp tôn giáo”. Còn với những người cố tình xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, có những hành động, âm mưu xâm hại đến an ninh quốc gia bị xử lý… thì họ gọi đó là những người “bất đồng chính kiến”, “những nhà dân chủ”…?

Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?

Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” .

Trước Cách mạng Tháng 8, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì Việt Nam là nước thuộc đia nghèo khổ, bị cướp đi quyền độc lập và không có tên trên bản đồ thế giới. Nhân dân ta phải chịu cái nhục mất nước suốt gần một thế kỷ và trong thời gian đó, khái niệm nhân quyền không hề có với người Việt Nam. Nỗi khát khao độc lập, tự do, có được quyền làm Người khiến cả dân tộc vùng lên đấu tranh, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp để có được Bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Suốt hơn 30 năm sau đó, dân tộc ta một lần nữa đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hàng triệu người Việt Nam đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Tư tưởng về nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng về quyền con người.

Đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.


Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao. Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia. Người dân đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hiếm có một quốc gia nào mà mỗi khi xảy ra thiên tai bão lụt, người dân hăng hái đóng góp trên tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều… như ở Việt Nam. Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo. Đói nghèo bởi dân tộc Việt Nam từng là nạn nhân của chế độ phong kiến, thực dân đế quốc. Nhất là các dân tộc thiểu số miền núi hàng ngàn đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên và chế độ phong kiến thực dân đã đẩy họ đến bần cùng quay về hoang dã. Vậy mà hiện nay những tư tưởng đen tối vẫn tìm mọi cách tuyên truyền lôi kéo họ trở về đời sống đói nghèo vô định, cản trở công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh đầy khó khăn gian khổ… Mặc dầu vậy, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.

Cách mạng là làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dânViệt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam.

Không ít những người trước đây đã từng tham gia trong chính quyền Sài Gòn cũ nay trở về Việt Nam đã phải thốt lên rằng  họ không thể tưởng tượng nổi là Việt Nam lại phát triển đến như vậy.

Người dân đã bắt đầu quen với luật pháp, quen với nếp sống kỷ cương. Và ngày hôm nay người dân Việt Nam đang bắt đầu đi vào kỷ nguyên sống và làm việc theo luật pháp. Người dân được tự do sống theo các quy định của pháp luật và họ ý thức được rằng chỉ có những nguyên tắc của pháp luật mới bảo vệ được các giá trị đạo đức, quyền con người khi bị chà đạp. Lợi ích và quyền cá nhân của mỗi người phải được đặt trong quyền lợi chung của cộng đồng, của dân tộc chính vì thế người dân có thể tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội và các tổ chức chính trị đoàn thể. Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội. Đó chính là tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Đảng Cộng sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhìn sang các quốc gia bên cạch, nếu đa đảng để mà đất nước mất ổn định, lâm vào những cuộc chiến “nồi da xáo thịt”; để mà nạn khủng bố xảy ra thường xuyên thì chắc chắn người Việt Nam không thể chọn cái sự đa đảng ấy. Người dân Việt Nam chắc chắn cũng không thể chấp nhận một sự tự do mà công dân có quyền mang vũ khí rồi xả súng bắn chết học sinh, hoặc tự do chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau; phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống…

Họ không thể mang quan điểm nhân quyền của nước họ áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng vì thế không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.

Cũng vẫn còn có những tiếng nói, còn những người không thấy được thành tựu của dân tộc. Họ sao chép những quan điểm, những tư tưởng của nước ngoài đưa vào Việt Nam và rồi nói đó là “phản biện” . Họ không chỉ bày tỏ những quan điểm mà còn mưu đồ tổ chức gây bạo loạn, hoặc móc nối với các tổ chức phản động lưu vong âm mưu lật đổ chế độ. Đó là những người rắp tâm vì mục đích cá nhân của mình mà coi rẻ lợi ích chung của cả dân tộc.

Khi đời sống vật chất được nâng cao thì những đòi hỏi về đời sống tinh thần cũng phát triển theo, đặc biệt là tâm linh. Trong những năm qua, hàng ngàn chùa chiền, cơ sở thờ tự đã được xây cất mới hoặc được trùng tu; các lễ hội văn hóa truyền thống đã được khôi phục ở tất cả các địa phương… Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được phát triển và coi trọng. Người dân đã hoàn toàn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Tôn giáo chân chính thiêng liêng là khuyến khích con người sống nhân ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng ta rất tôn trọng và tạo điều kiện cho tôn giáo phái triển nhưng cũng kiên quyết không để xảy ra những âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, để phá hoại mối đoàn kết toàn dân. Cho nên ai chưa hiểu về nhân quyền ở Việt Nam thì phải biết nhân quyền ở Việt Nam là: Cá nhân vừa phải có trách nhiệm với bản thân nhưng cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, phải gắn quyền con người với việc thực thi luật pháp thì quyền con người mới được đảm bảo.

Đảng và Nhà nước ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh và mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Chúng ta phấn đấu cho những mục tiêu nhân quyền, dân chủ mà đã được xác định, nhưng cũng không thể chấp nhận cái thứ “nhân quyền, dân chủ” theo kiểu phương Tây.

Mỗi công dân hãy biết quý trọng giá trị, bản sắc của dân tộc mình và hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.

Nhân quyền ở Việt Nam là như vậy!

————-

BS chú thích:

- Bài đăng trên tạp chí in, không có trên mạng, được đánh máy lại nguyên văn, không biên tập để đảm bảo tính chính xác về bản chất nội dung.

- Tấm hình có các vị chức sắc Phật giáo do nằm liền trên hai trang nên khi sao chụp chất lượng không được tốt. Với trang tạp chí có độ dày nhất định mà dàn tấm hình trang trọng như vậy làm hai, thành thử vị cao tăng Thích Thanh Tứ  dễ bị “các thế lực thù địch” tưởng ta ám chỉ ổng “Thân này khoái xẻ làm hai mảnh/Mảnh cho đời và mảnh cho … quan”.

- Mời đọc tin liên quan:    + Việt Nam ra tạp chí về nhân quyền (BBC).  [Bấm vào đây để vượt tường lửa 'nhân quyền']

+ Tạp chí Nhân quyền Việt Nam ra số đầu tiên (VOV News)

- Và đọc bài phân tích rất sắc sảo, đích đáng của blogger Kami:  Trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng về Nhân quyền.  Đề nghị Ban biên tập Tạp chí nên đăng bài nầy vào số 2, 7/2010. Làm vậy mới chứng tỏ ta có “nhân quyền”, cụ thể là quyền tranh luận, bày tỏ quan điểm của mình, và tờ tạp chí mới xứng đáng với cái tên của mình.

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Việt, Đảng/Nhà nước | 98 phản hồi »

571. CÁC CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐANG MẤT DẦN NHƯ THẾ NÀO

Đăng bởi anhbasam on 02/05/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CÁC CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

ĐANG MẤT DẦN NHƯ THẾ NÀO

(Newsweek, 22/3/2010)

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 22-4-2-10

Sự suy giảm toàn cầu về quyền tự do chính trị một phần là lỗi của tầng lớp trung lưu.

Quyền tự do chính trị đã nở rộ ở thế giới đang phát triển vào những năm 1990 và những năm đầu thế kỷ 21. Trong khi những kẻ độc đoán vẫn cai trị phần lớn châu Phi, Đông Âu và châu Á vào năm 1990, đến năm 2005 các chế độ dân chủ đã nổi lên trên khắp các lục địa này. Liên Xô đã biến hình thành nước Nga, một xã hội không bị bó buộc mà có vẻ có đôi chút giống xã hội ảm đạm trước nó. Cùng với sự sụp đổ của Saddam Hussein, việc lật đổ Taliban, một sự kết thúc rõ ràng những can thiệp quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ, và nhiệm kỳ tổng thống theo đường lối cải cách của Mohammad Khatami ở Iran, ngay cả Trung Đông, một thời gian dài là người đến muộn trong cuộc cải cách dân chủ, xem ra đang tham gia xu hướng này. Vào năm 2005, Tổ chức Freedom House lưu ý rằng chỉ 9 nước trải qua các cuộc thoái trào của chế độ dân chủ; trong bản báo cáo của mình vào năm 2009, nó ghi nhận sự suy giảm tại 40 nước ở châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông, và Liên Xô trước đây. Qủa thực, tổ chức này đã phát hiện rằng số lượng chế độ dân chủ được bầu ra đã giảm xuống còn 116, con số thấp nhất kể từ năm 1995.

Các thủ phạm chính gây ra sự suy giảm của chế độ dân chủ có thể gây ngạc nhiên. Nhiều người đàn ông và phụ nữ thuộc chính tầng lớp trung lưu đã từng giúp đẩy những kể độc tài ra khỏi chiếc ghế quyền lực thì hiện đang nhận thấy khó khăn như thế nào để có thể thiết lập dân chủ, và đang mong muốn những ngày của chế độ chuyên quyền. Tại sao điều này xảy ra? Trong nhiều trường hợp là bởi vì các nhà lãnh đạo ban đầu của các chế độ dân chủ còn non trẻ nổi lên vào những năm 1990 đã không nhận ra rằng xã hội tự do đòi hỏi phải có các thể chế mạnh mẽ, sự phản đối có tính xây dựng đối với đảng cầm quyền, và sự sẵn sàng thỏa hiệp. Thay vào đó, họ nhìn nhận chế độ dân chủ chỉ như các cuộc bầu cử bán chuyên nghiệp; sau khi giành chiến thắng, họ sử dụng mọi công cụ quyền lực để thống trị đất nước của họ và phân phát lợi ích cho các đồng minh hoặc những người cùng bộ tộc với họ. Cách diễn giải về chế độ dân chủ theo nghĩa hẹp này không chỉ bóp méo ý nghĩa thực sự của từ này mà còn làm cho dân chúng ở nhiều nước xa lánh, họ trở nên phẫn nộ khi những người dân chủ này có vẻ như không tận tụy với lợi ích của cộng đồng hơn các chế độ độc đoán trước đây.

Quá thường xuyên, các nước phương Tây, mà sau sự kiện 11/9 chuyển hướng tập trung sự chú ý của họ từ sự dân chủ hóa vào những năm 1990 sang cuộc chiến chống khủng bố, hầu như không lên tiếng khi chế độ dân chủ tiêu tan. Phương Tây đơn giản là không có thời gian ủng hộ những người theo chế độ dân chủ ở nước ngoài nữa. Trong thời điểm khác, như trong các trường hợp ở Malaixia và Pakixtan, sự cai trị độc đoán đột nhiên đem lại lợi ích cho phương Tây, vì Mỹ có thể dựa vào những kẻ chuyên quyền để giúp bắt giữ những kẻ bị tình nghi là khủng bố. Trong khi đó, việc Chính quyền Bush gắn kết chiến tranh ở Irắc với sự thúc đẩy chế độ dân chủ đã làm hỏng sự dân chủ hóa trong tâm trí của nhiều người, đặc biệt là ở Trung Đông.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng gây phương hại đến sức lôi cuốn của chế độ dân chủ. Đối với nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu ở thế giới đang phát triển, sự truyền bá chế độ dân chủ gắn với sự truyền bá chủ nghĩa tư bản, vì nhiều trong số những nước này mở cửa nền kinh tế cùng thời điểm với lúc họ chấp nhận sự tự do chính trị. Khi cuộc khủng hoảng làm giảm thu nhập của người dân, nhiều người đã đổ lỗi một phần cho chế độ dân chủ vì sự suy giảm kinh tế. Tổng thống Leonel Fernánder của Dominica đã tuyên bố tại hội nghị thượng đỉnh các lãnh đạo Mỹ Latinh vào năm 2008: “Những sự mong đợi về những triển vọng của chế độ dân chủ ở khu vực (Mỹ Latinh) đã nhường chỗ cho sự vỡ mộng vì chế độ dân chủ đã không thúc đẩy được sự  thịnh vượng về kinh tế”.

Kết quả là trên gần như mọi lục địa, chế độ dân chủ đang đi xuống. Ở Irắc, các nhà lãnh đạo hậu Saddam đầu tiên đã dựa vào các công cụ đe dọa cứng rắn nhất để đánh bại các đối thủ của họ và leo lên đỉnh của hệ thống chính trị, làm cho dân chúng vỡ mộng. Trong cuộc bầu cử của Irắc mới đây, số người bỏ phiếu đã giảm so với cuộc bầu cử năm 2005, bất chấp việc quảng cáo rầm rộ khuyến khích người dân đi bỏ phiếu. Ở Philíppin, Tổng thống Gloria Macpagal Arroyo trên thực tế đã sử dụng một sắc lệnh khẩn cấp vào năm 2006 để tuyên bố tình trạng thiết quân luật, và triều đại của bà trùng khớp với việc số các vụ bắt cóc và ám sát nhà hoạt động cánh tả do các lực lượng an ninh ngày càng gia tăng. Ở Campuchia, Thủ tướng Hun Sen và đảng của ông, mặc dù cũng được bầu ra, đã sử dụng các vụ kiện bôi nhọ ở các phiên tòa diễn ra chóng vánh, và bị buộc tội vì các vụ tra tấn  và thủ tiêu các nhà hoạt động để giành được quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống chính trị. Ở Nga, bắt đầu vào năm 2000, Vladimir Putin đã lợi dụng sự tức giận đang lan rộng trước sự sụp đổ của nền kinh tế Nga vào những năm 1990 để thúc đẩy thông qua những sự thay đổi đã làm tiêu tan bất cứ cơ hội nào dành cho chế độ dân chủ thực sự, thay thế các thống đốc khu vực được bầu ra bằng những người được Cremli bổ nhiệm, tiếp quản gần như mọi đảng chính trị độc lập, và vô hiệu hóa hầu hết phương tiện truyền thông đại chúng. Hugo Chávez của Vênêxuêla trong hơn một thập kỷ đã sử dụng sự dồi dào về dầu lửa để duy trì sự mến mộ của đông đảo người nghèo, chiến thắng hai cuộc bầu cử liên tiếp thậm chí trong khi biến hầu như toàn bộ bộ máy chính trị thành một dàn hợp xướng nịnh hót bằng việc đóng cửa các phương tiện truyền thông, thu xếp cho những người thân cận với ông vào các công ty nhà nước quan trọng, và sử dụng một cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia để xóa bỏ giới hạn nhiện kỳ của ông. Ở nhiều nước châu Phi, cái gọi là các nhà cải cách, như Tổng thống Kênya hiện nay Mwai Kibaki, lên nắm quyền đã tuyên thệ thúc đẩy sự tự do chính trị thực sự nhưng đã sớm sử dụng vị trí của họ đơn giản chỉ để loại bỏ các đối thủ và ủng hộ các đồng minh sắc tộc của họ.

Một trong những ví dụ nổi bật nhất về hiện tượng này là Thái Lan, mà vào những năm 1990 được mọi người nhìn nhận là một trong những chế độ dân chủ trẻ có triển vọng nhất trên thế giới. Kể từ khi đó Thái Lan đã phải trải qua một trong những sự sa sút lớn nhất. Vào những năm 1990, Thái Lan đã thông qua một trong những hiến pháp tiên tiến nhất trên thế giới đang phát triển, xây dựng một nền văn hóa sôi nổi đầy khí lực của các tổ chức phi chính phủ (NGO) có thể so sánh được với bất cứ nền văn hóa NGO nào ở phương Tây, và đỡ đầu cho giới truyền thông không bị kiểm soát mà đã đào bới hết vụ bê bối này đến vụ bê bối khác. Vào năm 2001, lướt trên làn sóng bất bình của công chúng sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã gây thiệt hại cho nền kinh tế của Thái Lan, Thaksin Shinawatra, một trùm tư bản trong lĩnh vực truyền thông, đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc gia nhờ vào lời hứa chỉnh đốn lại nền kinh tế và đem lại các chương trình trợ cấp xã hội cho người nghèo, những người chiếm đại đa số dân trên cả nước nhưng trong lịch sử đã bị các nhà chính trị trong giới tinh hoa của Thái Lan đối xử với thái độ khinh thị. Khi còn nắm quyền Thaksin đã thực hiện được một số lời hứa hẹn trước công chúng: chính quyền của ông đã phát động kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người và cung cấp các khoản tiền cho vay cho mọi ngôi làng để khởi động sự tăng trưởng kinh tế. Vị thủ tướng này đã tổ chức tỉ mỉ việc lắng nghe người nghèo, đi từ ngôi làng này sang ngôi làng khác để nghe ngay cả những lời phàn nàn nhỏ nhất.

Nhưng Thaksin không phải là người làm lợi cho chế độ dân chủ của Thái Lan như ông dường như cho thấy vào buổi ban đầu. Thay vào đó, ngay dù ông mở rộng hệ thống bảo vệ xã hội thì ông đã bắt đầu phá hoại ngầm nhiều thể chế dân chủ non trẻ của Thái Lan. Ông đã phá hủy bên trong ngành dân chính và bộ máy tư pháp, thay thế các nhà tư tưởng độc lập bằng những người thân cận, và buộc các phương tiện thông tin đại chúng phải im lặng bằng việc để các đồng minh mua các tập đoàn truyền thông và sau đó không phát thông tin chỉ trích. Tuyên bố “cuộc chiến chống ma túy”, Thaksin đã bị các tổ chức nhân quyền trong nước và quốc tế buộc tội đã bỏ qua các vụ giết người không xét xử và các vụ mất tích do lực lượng an ninh gây ra. Các nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng như luật sư Somchai Neeelapaichit đơn giản là đã mất tích. Nhìn chung, hơn 2.500 người đã chết một cách bí hiểm trong cuộc chiến chống ma túy. Michael Montesano, một chuyên gia về các vấn đề chính trị của Thái Lan tại viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Xinhgapo nói rằng Thaksin rất giống một nhà lãnh đạo chính trị-quân sự Mỹ Latinh, như Juan Jerón, hơn là một nhà chính trị dân chủ.

Một trong những tác động không chắc có thực của những sự nắm quyền như vậy là ở nhiều nước nơi chế độ dân chủ gần đây đã bị đẩy lùi, tầng lớp trung lưu đã từng thúc đẩy quyền tự do chính trị hiện nay cũng đang viện đến các chiến thuật ngoài luật pháp và không dân chủ- được cho là để cứu rỗi chế độ dân chủ. Chẳng hạn, tầng lớp trung lưu sống ở thành thị của Thái Lan, vốn đã bị sự lạm dụng quyền hành của Thaksin làm thất vọng một cách cay đắng và lo lắng ông này trao quyền cho người nghèo, đã nổi loạn. Thay vì thách thức Thaksin thông qua tiến trình dân chủ, chẳng hạn như bằng việc ủng hộ các đảng đối lập hay bắt đầu những tờ báo của riêng họ, họ đã lật đổ chế độ dân chủ bằng hành động chấm dứt các thể chế của chính phủ và kêu gọi một cuộc đảo chính quân sự thậm chí trong khi tuyên bố ủng hộ chế độ dân chủ. Để đẩy trước hết là Thaksin, sau đó là các đồng minh của ông này ra khỏi vị trí cầm quyền, các đám đông những người phản kháng đã cố gắng làm tê liệt Băng Cốc vào năm 2006, 2007 và 2008, mở một cuộc bao vây quốc hội, và vào năm 2008 tiếp quản sân bay chính, một hành động đã gây thiệt hại lớn cho ngành du lịch của nước này. Nhiều người đã kêu gọi sự can thiệp quân sự hoặc một kiểu chế độ chuyên quyền ôn hòa nào khác để khôi phục pháp trị và chống lại nạn tham nhũng, mà họ tuyên bố đã trở nên trầm trọng dưới thời Thaksin. Một nhà ngoại giao Thái Lan cũng đồng tình với những người phản kháng nói: “Chúng tôi phải cứu chế độ dân chủ, cho dù điều đó có nghĩa là bỏ qua các cuộc bầu cử”. Giới tinh hoa của Thái Lan đã đạt được những gì mà họ mong chờ: Thaksin phải sống lưu vong, các đối thủ của ông lên nắm quyền, còn chế độ dân chủ của Thái Lan đã bị phá hủy hoàn toàn.

Một hình thái tương tự đã diễn ra ở nơi khác. Những người biểu tình thuộc tầng lớp trung lưu ở vùng phía Đông giàu có hơn của Bôlivia đã phát động một chiến dịch chống chính phủ chống lại Tổrng thống Evo Morales, một cựu lãnh đạo công đoàn theo đường lối dân túy đã nỗ lực phân phối lại của cải, quốc hữu hóa các doanh nghiệp, và sử dụng cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia để tăng đáng kể quyền lực của mình. Ở Philíppin, nơi thế hệ người Philíppin trước đây đã tập hợp lại hạ bệ nhà độc tai Ferdinard Marcos, các cư dân Manila thuộc tầng lớp trung lưu đã hợp lực lại lật đổ Joseph Estrada, được nhân dân bầu ra và được người nghèo yêu mến nhưng bị buộc tội đã nhận một khoản hối lộ lớn. Sau khi Etrada rời nhiệm sở, nhiều trong số những người phản kháng thuộc tầng lớp trung lưu này đã tập trung lực lượng vào những nỗ lực lật đổ Macapagal Arroyo, cho dù bà vẫn tồn tại và vẫn nắm quyền.

Thất vọng với những người chuyên quyên được bầu ra này và tức giận với nạn hối lộ của các chế độ dân chủ còn non trẻ, nhiều nhà hoạt động thuộc tầng lớp trung lưu ở các nước đang phát triển hiện nay thậm chí đang mong chờ những ngày cai trị độc đoán cũ. Ở châu Phi, các cuộc đảo chính gầy đây ở Môritani và Nigiê được tầng lớp trung lưu chào đón, trong khi dữ liệu từ các cuộc điều tra, thăm do dư luận thường xuyên của Tổ chức Baromete châu Á xem xét thái độ của châu Á đối với chế độ dân chủ, cho thấy nhiều người trả lời đã trở nên thất vọng với hệ thống dân chủ của họ. Yu-tzung Chang,Yunhan Zhu và Chongmin Pak trong một bài báo có tiêu đề “Nỗi luyến  tiếc quá khứ độc đoán ở châu Á” đã lập luận: “Sự ủng hộ chế độ độc đoán ở châu Á đang phát triển thay vì thu nhỏ lại”. Đó cũng là trường hợp ở Nga, nơi Putin, cho dù ông xóa bỏ hầu hết các thể chế dân chủ, có số phiếu bầu cao đáng ngạc nhiên từ tầng lớp trung lưu và các tầng lớp xã hội khác. Trong một cuộc thăm dò dư luận của Angus Reid mới đây, khoảng 80% người Nga nói rằng họ tán thành việc làm của Putin, một tỉ lệ mà các nhà lãnh đạo phương Tây chỉ có thể mơ tưởng. Ngay cả ở Trung Quốc, nơi chính những người nghèo ở các vùng nông thôn hiện nay đi đầu trong các cuộc phản kháng, tầng lớp trung lưu ở thành thị có vẻ hài lòng với chế độ đang cầm quyền. Trong một nghiên cứu của Tổ chức Pew tập trung vào các khu vực thành thị, đại đa số người Trung Quốc nói rằng họ hài lòng với các điều kiện của đất nước.

Việc tầng lớp trung lưu buộc chế độ dân chủ phải lùi bước, bằng cách đảo chính và các biện pháp chống dân chủ khác, đã tước đi quyền bầu cử của người nghèo, gây ra nhiều cuộc phản kháng hơn. Ở Thái Lan, các đám đông phản kháng, hầu hết là những người nghèo, đã tiến hành các cuộc biểu tình bạo lực nhằm vào tầng lớp trung lưu cố gắng đẩy Thaksin ra khỏi chiếc ghế quyền lực. Tương tự ở Bôlivia, những người biểu tình chống Morales thuộc tầng lớp trung lưu hiện nay đang đối mặt với những người ủng hộ Morales đang tức giận mà phần lớn là những người nghèo. Ở Philíppin, những người nghèo tức giận vì người hùng của họ, Estrada, đã bị tầng lớp trung lưu lật đổ, đã phát động các cuộc tuần hành ủng hộ Estrada . Hiện nay, với việc đất nước này đang tiến tới một cuộc bầu cử khác, Estrada đã ra khỏi trại giam và lại chạy đua, đang lấy lại sự ủng hộ của những người nghèo trong nỗ lực giành vị trí Tổng thống của ông.

Các cuộc phản kháng chống lại làn sóng biểu tình này đã dẫn đến những chia cắt về tầng lớp xã hội, mà có thể mất hàng thế hệ để hòa giải. sau hơn một thập kỷ của chế độ dân chủ mong manh, nhiều thể chế được tạo ra vào những năm 1990 đã bị phá hủy, còn các nhà cầm quyền chỉ còn lại ít công cụ để giải quyết tình trạng căng thẳng về chính trị. Chẳng hạn, ở Nga cho dù một nhà lãnh đạo lên nắm quyền muốn khôi phục nhiều quyền tự do hơn nữa, thì ông/bà ta phải chiến đấu với hệ thống và bộ máy hành chính theo kiểu Putin, mà tập trung mọi quyền lực vào Cremli. Ở Thái Lan, cho dù Thủ tướng hiện nay, Abhisit Vejjajiva, muốn đem trở lại cho đất nước này sự tự do của những năm 1990, thì ông cũng không thể bởi vì trong lúc Thaksin nắm quyền và sau cuộc đảo chính, các nhà cầm quyền của Thái Lan đã xé bỏ hiến pháp cải cách của riêng nước này, hủy hoại các tòa án, và chính trị hóa phương tiện thông tin đại chúng tới mức mà các tờ báo hiện nay được hậu thuẫn một cách mù quáng bởi các lực lượng chống và ủng hộ Thaksin. Có thể phải mất hàng năm, nếu không nói là hàng thập kỷ, để một nhà  lãnh đạo mới xây dựng lại ngành dân chính, các tòa án và các thể chế khác với những người được đào tạo và công tâm đã được phát triển trước đây.

Có lẽ vấn đề lớn nhất là ở Irắc, nơi hàng triệu cử tri đã đi bỏ phiếu vào giữa tháng 3 lần thứ hai kể từ khi Saddam Hussein sụp đổ. Nhiều người hi vọng có cuộc sống tốt hơn sau sự sụp đổ của Saddam nhưng sự ủng hộ chế độ dân chủ đã sớm ra đi một phần là bởi vì những người Irắc trung lưu đã chứng kiến tình trạng hỗn loạn và sự ẩu đả chính trị của hệ thống chính trị mới. Vào những thời điểm tồi tệ nhất của tình trạng hỗn loạn của Irắc sau năm 2003, khi ý tưởng biến Irắc thành một chế độ dân chủ kiểu mẫu cho Trung Đông dường như là điên rồ, nhiều người Irắc trung lưu, đặc biệt là người Sunni, đã bắt đầu mong đợi sự trở lại của một nhà cầm quyền độc đoán, cho dù là một nhà cầm quyền thô bạo như Saddam. Trong một cuộc điều tra của ABC News hồi năm 2007, chỉ 43% người Irắc cho là chế độ dân chủ là hệ thống chính trị tốt nhất đối với đất nước của họ. Số người tham gia cuộc bầu cử gần đây nhất cho thấy nhiều người Irắc vẫn hết sức thất vọng. Và cho dù chế độ dân chủ của họ phát triển, họ không thể lơ là mất cảnh giác. Lịch sử của các chế độ dân chủ non trẻ khác cho thấy thành công này có thể mong manh như thế nào./.

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Quốc tế, Đảng/Nhà nước | 4 phản hồi »

491. Con đường Đi tới nền Dân chủ-Điện tử

Đăng bởi anhbasam on 04/03/2010

Economist.com

Con đường Đi tới nền Dân chủ-Điện tử

Ngày 14-2-2008

Từ bản in [tuần san] The Economist


Chính phủ-Điện tử mới chỉ đang bắt đầu

CHÍNH PHỦ đã vượt hoặc chưa đuổi kịp so với thứ mà theo lối nói của người dùng internet là “web 1.0”, với thế giới ảo trực tuyến rộng lớn y như thế giới thực. Thư điện tử (E-mail) thay thế thư tín; trang web làm cho công việc xuất bản nhanh hơn và hiệu quả hơn; cơ sở dữ liệu được chứa trong máy tính của người dùng. Một tập hợp các chương trình, được trả tiền hoặc bị sao chép lậu, là những công cụ quan trọng giúp cho công việc được dễ dàng.

Song tất cả những thứ này đã bị vượt qua bởi “web 2.0”, một kiểu tốc ký cho việc tương tác giữa người và máy tính được đưa ra bởi những chương trình wiki (các trang web mà mọi người đều có thể tham gia chỉnh sửa nội dung) và blog (trong đó mọi người đều có thể tham gia bình luận). Dữ liệu có thể được truy cập thông qua internet; các chương trình được mở trên các cửa sổ trình duyệt hơn là phải tải từ ổ đĩa cứng; những thông điệp (message) tức thì, đôi khi được gắn vào những trang tỉ như Facebook, thay cho e-mail. Web 2.0 cũng được giành để tự do chia sẻ hình ảnh video trên các trang ví như YouTube và gọi điện thoại miễn phí giữa các máy tính với nhau. Sự phát triển này cho phép thông tin được chia sẻ có hiệu quả hơn, mà hầu như không tốn kém gì. Điều đó đem lại một niềm hy vọng to lớn cho việc đề xướng một nền dân chủ-điện tử.

Những công dân không phải chỉ là các khách hàng của nhà nước; họ còn là người chủ sở hữu nó. Giới hạn thường được sử dụng dưới một biệt ngữ của công nghệ nhà nước là citoyen (công dân), phản ánh cái khái niệm của Pháp về người công dân dính dáng tới chính trị. Công nghệ có thể khuyếch đại và tổng hợp những tiếng nói yếu ớt và bị bóp nghẹt. Những cử tri thường gửi thư tới cho các biên tập viên toà báo và hy vọng chúng có thể được đăng lên. Giờ đây chúng có thể được đưa lên blog. Việc tiếp xúc với các đại biểu được bầu đã trở thành chuyện đơn giản là gửi đi một cái e-mail.

Câu chuyện cho tới lúc này là công nghệ giúp tăng cường tiến trình dân chủ, song về căn bản thì không làm biến đổi nó. Ví dụ, internet giờ đây là một phương tiện sống còn cho việc kiếm ngân quỹ cho các chiến dịch vận động tranh cử ở Mỹ, song nó không thể thay thế cho các cuộc họp vận động công khai. Chiến dịch vận động tranh cử của Howard Dean cho việc đề cử của đảng Dân chủ năm 2004 là một thành công vang dội trong giới blog, song lại thất bại trong việc chuyển đổi chúng vào những lá phiếu ở cuộc sống thực. Internet đã cung cấp cho những công dân nguồn thông tin cực kỳ rộng lớn về những người đại diện được bầu của họ: việc bỏ phiếu của họ, nguồn tài chính của họ, những mối quan tâm bên ngoài của họ, những gì họ từng nói ra trong mọi cuộc giao tiếp công cộng. Song những hiệu quả lại phục vụ cho việc loại bỏ lẫn nhau. Khi một bên có lý lẽ nặng nề hơn, thì chiến trận trở nên ác liệt.

Một số nỗ lực dân chủ-điện tử trông có vẻ hơi như mánh lới quảng cáo. Cung cấp những địa chỉ e-mail riêng của các chính trị gia không giúp gì hơn là chỉ để đọc kết quả kiểm phiếu. Ví như những địa chỉ e-mail Gordon.brown@no10.gsi.x.gov.uk, hay president@whitehouse.gov chỉ làm cho người nhận có vẻ như dễ tiếp cận hơn, song thông điệp có thể sẽ được trả lời bởi một cái máy tính. Các chính khách và công chức những người từng cố gắng sử dụng blog đã nhận ra là nó rất khó cả cho niềm ham thích lẫn khả năng nhận thức. Giọng điệu tự nhiên (đôi khi ngô nghê) của giới blog tếu táo suồng sã với sự cần thiết phải có vẻ như có chừng mực và dứt khoát. Hầu hết các blog của giới chính khách hay lạm dụng các hình ảnh quảng cáo du lịch giải trí. Một quan chứ cấp cao của Anh, Jereny Gould, có một blog tuyệt vời trên mạng chính phủ-điện tử. “Chúng tôi nghĩ là ông ấy rất dũng cảm,” một đồng nghiệp thận trọng nhận xét.

Nơi mà nền dân chủ-điện tử có thể làm nên sự khác biệt là tại những khu vực mà giới trung lưu dần dần trở nên tách biệt hẳn với chính trị. Ví như tại Ấn Độ, những người có trình độ văn hóa nay không ưu chuyện bầu cử hơn là những giới khác. Những cuộc thăm dò ý kiến gợi ra rằng họ chán ghét với chính quyền tồi tệ, song điều này lại hiếm khi thể hiện vào trong những lá phiếu chống lại những đảng phái đương nắm quyền.

Tuy nhiên một ý niệm mơ hồ về niềm hy vọng đang xuất hiện. Ấn Độ đang phát triển một lối châm biếm ngày càng có tác dụng lên giới blog. Ví như Melody Laila, đã phê phán kịch liệt trên blog của mình vào những dịch vụ công cộng yếu kém tại Mumbai nơi cô sinh ra, cũng như tình trạng dung dưỡng cho giới chính trị tham nhũng ở Delhi. “Blog cho chúng tôi quyền tự do để nói ra những gì không được đưa lên báo chí của hệ thống truyền thông chính thống, và sự an toàn cho tình trạng nặc danh,” cô nói. Tại một nước như Ấn Độ, chúng cũng có thể tỏ ra có hiệu quả hơn là tại những nước có nền dân chủ lâu đời. Thật khó để hình dung ra hình ảnh một blogger sẽ ao ước đẩy mạnh cuộc đấu tranh với nạn tham nhũng và chính quyền tồi tệ.

Công nghệ trợ giúp cho sự cởi mở, hơn nữa, nó cung cấp cho Lok Satta chẳng hạn, một chiến dịch vận động cho một chính phủ-sạch được phát động bởi bác sĩ-nhà kinh tế học thực hành nổi tiếng ghê gớm J.P.Narayan. Nó đã đánh dấu một thắng lợi lần đầu tiên trong bầu cử vừa qua, trong các cuộc bầu cử cấp thành phố ở Mumbai. Ứng viên, một nhà thầu năng lượng và hoạt động xã hội có tên là Adolf D’Souza, vận động cho sự phi tập trung hóa, dự thảo ngân sách trực tuyến minh bạch và trách nhiệm công cộng. Điều làm nên sự khác biệt, ông giải thích, là trong suốt quá trình vận động từng gia đình ông đã tập hợp số điện thoại di động của các cử tri. Điều đó cho phép ông gửi các tin nhắn, vượt qua các phương tiện truyền thông địa phương thường gắn bó với các chính đảng lớn.

Chắc bạn sẽ nghĩ là xứ Hoa Kỳ là nơi tạo nên lợi ích cao nhất cho công nghệ trong việc thúc đẩy vai trò tham dự của công chúng, nơi mà giới chức giờ đây mời mọc những lời nhận xét trực tuyến từ những người ngoài cuộc khi họ soạn thảo luật pháp về những đề tài như bảo vệ môi trường. Một ví dụ: dự thảo luật của Bộ Nông nghiệp về tiêu chuẩn thức ăn hữu cơ, được thúc đẩy bởi hơn 250.000 lời bình luận (comment). Tuy nhiên ý kiến thực sự có chuyên môn hầu như đến từ một số ít các chuyên gia.

Theo Cary Coglianese, một chuyên gia chính phủ-điện tử của Mỹ, cho rằng sự tham khảo trực tuyến sẽ thổi một luồng sinh khí mới vào nền dân chủ “hơi giống như việc tưởng tượng rằng trao cho những người chủ xe hơi cái khả năng tải các sách kỹ thuật từ trên mạng xuống và đặt hàng trực tuyến những bộ phận linh kiện cho xe sẽ làm cho rất nhiều người trong số họ trở thành những thợ máy không chuyên”. Sự tham dự nhiều hơn của các chuyên gia có thể tăng cường khả năng xét đoán, song nó sẽ không đưa hệ thống quản lý công cộng lên vị trí hàng đầu.


Nào hãy vào cuộc chơi, hỡi các công dân

Thực tế đáng buồn rằng hầu hết công dân cứ nghĩ rằng chính quyền và chính trị thật tẻ nhạt và nghĩ là họ có thể dùng thì giờ của mình vào những chuyện thú vị hơn. Với những người ngoài cuộc, thế giới trực tuyến mơ hồ và rắc rối. Cũng vậy, sự cồng kềnh cố hữu của guồng máy thư lại thường dẫn đến việc chính quyền ngăn chặn những lợi ích mà công nghệ có thể đem lại. Rubert George, người điều khiển trang web tên là Giám sát Chính phủ Điện tử (eGov Monitor) mà nhiều người hâm mộ cho là rất hấp dẫn, đã giải thích: ” Đầu tư công nghệ thông tin trong lĩnh vực công quyền thường là rất phí phạm do tình trạng trì trệ tư duy khiến giới thư lại thường không thích ứng nhanh với đà thay đổi để nhận ra tiềm năng của nó.”

Trong ngắn hạn, những cơ quan tổ chức yếu kém trong quản lý sử dụng máy tính sẽ vẫn cứ yếu kém trong công việc quản lý. Đó là bài học có được từ doanh nghiệp tư nhân, và nó áp dụng chung cho khu vực công cộng, nơi mà chính phủ-điện tử vừa chỉ đủ để bắt đầu xới lên chút ít trên bề mặt của những gì nó có thể làm được. Đó là lý do cho một nỗi thất vọng, song cũng cho một hy vọng.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

———-

Economist.com

TECHNOLOGY AND GOVERNMENT

The road to e-democracy

Feb 14th 2008
From The Economist print edition

E-government is only the beginning

GOVERNMENTS have more or less caught up with what in geek-speak is called “web 1.0”, with the online world largely mimicking the offline world. E-mails replace letters; websites make publishing speedier and more effective; data are stored on the user’s computer. A collection of programs, paid-for or pirated, are the essential tools for getting going.

But all this has been overtaken by “web 2.0”, shorthand for the interactivity brought by wikis (pages that anyone can edit) and blogs (on which anyone can comment). Data are accessed through the internet; programs are opened in browser windows rather than loaded from the hard disc; instant messages, often attached to social-networking sites such as Facebook, replace e-mail. Web 2.0 also means free video-sharing on sites such as YouTube and free phone calls between computers. These developments allow information to be shared far more effectively, at almost no cost. That gives great hope to the proponents of e-democracy.

Citizens are not only the state’s customers; they are also its owners. The term often used in the jargon of government technology is citoyen, reflecting the French idea of the politically engaged citizen. Technology can amplify and aggregate voices that used to be faint and muffled. Voters used to write letters to newspaper editors and hope they would be published. Now they can blog. Contacting an elected representative has become a simple matter of sending an e-mail.

The story so far is that technology intensifies the democratic process, but does not fundamentally change it. For example, the internet is now a vital way of raising money for political campaigns in America, but it has not supplanted the public meeting. Howard Dean’s campaign for the Democratic party nomination in 2004 was a huge success in the blogosphere, but failed to translate into votes in real life. The internet has provided citizens with vastly more information about their elected representatives: their voting behaviour, their sources of finance, their outside interests, the content of every public speech they ever made. But the effects tend to cancel each other out. When each side has heavier ammunition, the battle rages on.

Some e-democracy efforts look like little more than gimmicks. Giving out politicians’ personal e-mail addresses does not make them any more likely to read the result. Gordon.brown@no10.gsi.x.gov.uk, or president@whitehouse.gov make the recipients seem more accessible, but the message will probably be answered by a computer. Politicians and civil servants who have tried blogging have found it remarkably difficult to be both interesting and sensible. The spontaneous (and sometimes half-baked) tone of the blogosphere sits ill with the need to sound measured and definitive. Most politicians’ blogs tend to degenerate into anodyne travelogues. One senior British official, Jeremy Gould, has an excellent blog on e-government. “We think he’s been very brave,” says a colleague, carefully.

Where e-democracy may make a difference is in places where the middle class has become largely disengaged from politics. In India, for example, educated people are much less likely to vote than the rest. Opinion polls suggest that they are disgusted with bad government, but this rarely translates into votes against the incumbent parties.

Yet a few glimmers of hope are appearing. India is developing a caustic and increasingly effective blogosphere. Melody Laila, for example, electronically lambasts the inadequate public services in her native Mumbai, as well as the kid-glove treatment of corrupt politicians in Delhi. “Blogs give us the freedom to say things that wouldn’t be published in the mainstream media, and the safety of anonymity,” she says. In a country like India, they may also prove more effective than their counterparts in older democracies. It is hard to imagine a blogger who would wish to promote the cause of corruption and bad government.

Technology offers an opening, too, to outfits such as Lok Satta, a clean-government campaign run by a formidable, Economist-wielding doctor called J.P. Narayan. It has recently celebrated its first electoral victory, in municipal elections in Mumbai. Its candidate, an energetic entrepreneur and community activist called Adolf D’Souza, campaigns for decentralisation, transparent online budgeting and public accountability. What made the difference, he explains, was that during house-to-house campaigning he collected voters’ mobile phone numbers. That allowed him to send text messages, bypassing the local media which are cosily tied to the established parties.

As you might expect, the place that makes the most advanced use of technology in promoting public participation is America, where officials now invite online comments from outsiders when they draw up legislation on subjects like environmental protection. A Department of Agriculture draft on organic-food standards, for example, prompted more than 250,000 comments. Yet the expertise mostly comes from a narrow range of specialists.

According to Cary Coglianese, an American e-government expert, imagining that online consultation will breathe new life into democracy “is a bit like imagining that giving automobile owners the ability to download technical manuals and order car parts online would turn a great number of them into do-it-yourself mechanics”. Greater involvement by experts may make for more sensible rules, but it will not turn the system of public administration on its head.

Aux armes, citoyens

The sad truth is that most citizens find government and politics rather boring and think they have better things to do with their time. For outsiders, the online world is obscure and complicated. Similarly, the inherent complexity of government risks blocking the gains that technology can bring. Rupert George, who runs a site called eGov Monitor that enthusiasts find fascinating, explains: “All too often, public-sector investment in technology has been wasted by administrations unable to tackle the cultural change necessary to realise its potential.”

In short, badly managed organisations with computers will stay badly managed. That has been the lesson from private business, and it equally applies to the public sector, where e-government has barely begun to scratch the surface of what is possible. That is reason for disappointment, but also for hope.

Đăng trong Blog/Báo, Dân chủ/Nhân Quyền | Tagged: , , | 2 phản hồi »

490. Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại VN

Đăng bởi anhbasam on 03/03/2010

FOREXPROS.COM

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại Việt Nam

John Ruwitch

Ngày 1-3-2010


Hà Nội ngày 1-3 (Reuters) Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tương đối tốt, GDP tăng trưởng 5,23% năm vừa qua, nhưng đất nước này vẫn còn bị xem như là một nơi đầu tư mạo hiểm và tương đối mù mịt.

Giao dịch trao đổi tín dụng mặc định loại 5 năm đang được thực hiện ở mức chênh lệch khoảng 254 điểm cho Việt Nam, cho thấy mức rủi ro cao đứng hàng thứ hai trong bảng liệt kê của Thomson Reuters dành cho các nước mới nổi lên ở châu Á, mức chênh lệch trung bình trong bảng liệt kê này là 140.

Dưới đây là tóm tắt các rủi ro chính cần lưu ý ở Việt Nam:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Tỷ giá trao đổi cố định của Việt Nam thường xuyên gây áp lực kinh tế chồng chất. Ngân hàng trung ương đã giảm giá đồng bạc Việt Nam lần thứ ba hồi tháng hai, kể từ đầu năm 2008, để giảm áp lực về tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sau đó đã đổ thêm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nói rằng trừ khi chính phủ khôi phục niềm tin về tiền tệ bằng cách kềm chế lạm pháp và giảm thâm thủng mậu dịch, nếu không thì sẽ phải giảm giá đồng bạc thêm nữa.

Chính phủ đã liên tục thực hiện các biện pháp khác để cố gắng khôi phục việc kiểm soát thị trường tiền tệ. Họ đã buộc các nhà xuất khẩu lớn thuộc sở hữu nhà nước bán đô la, và thuyết phục những ngân hàng do nhà nước điều hành đảm bảo đủ đô la cung cấp theo nhu cầu. Họ đã liên tục hứa hẹn thực hiện hình phạt đối với việc buôn bán tiền tệ ngoài biên độ chính thức. Họ đã ra lệnh đóng cửa sàn vàng vào cuối tháng ba. Nhưng hiệu quả của các biện pháp bị hạn chế.

Các phân tích gia nói rằng giá trị đồng bạc nước này vẫn còn được giữ ở mức cao và những vấn đề thuộc về cấu trúc vẫn chưa được giải quyết. Tuy nhiên, rủi ro về một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán không cao. Khi kinh tế đổi chiều, lượng ngoại tệ có khả năng tăng, sẽ hỗ trợ cho tiền đồng.

Cần lưu ý:

- Những bước mà ngân hàng trung ương sử dụng để kềm chế lạm phát và kiểm soát việc thâm thủng mậu dịch. Hầu hết các phân tích gia dự đoán có sự suy yếu tiền tệ vào năm 2010.

- Khoảng cách về tỉ giá đô la/ đồng giữa thị trường chợ đen và tỉ giá liên ngân hàng – thước đo chính về áp lực tiền tệ.

HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ

Thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, và quan liêu nặng nề tác động lên hiệu quả của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cải cách kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi lợi ích xung quanh và các thành phần bảo thủ trong một chính phủ tập trung quá nhiều về vấn đề an ninh, đặc biệt trong những tháng chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản vào năm tới.

Các nhà phân tích nói rằng, có thể có một mức độ tê liệt chính sách, hoặc ít nhất là thái độ bảo thủ trong năm tới như là nạn bè phái và dùng thủ đoạn để tranh giành chức vụ trước Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc đầu năm 2011 sắp tới. Những vị trí lãnh đạo quan trọng và những thay đổi chính sách thường chỉ xảy ra khi có đại hội, năm năm một lần. Các đảng bộ ban ngành địa phương tổ chức hội nghị riêng trong năm nay.

Cần lưu ý:

- Trong khi các gói kích cầu kinh tế giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đã có các câu hỏi đặt ra về việc làm cách nào thâm hụt ngân sách được cấp tiền bù đắp, làm cách nào áp lực lạm phát được kiềm chế, và làm sao tránh được nguồn vốn đầu tư tư nhân ào ạt rút đi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt tay vào một kế hoạch giảm bớt thủ tục quan liêu và đặc biệt các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ xem kết quả ra sao.

- Việc đàn áp bất đồng chính kiến đã dẫn tới một vấn đề gai góc, trong đó các nhà ngoại giao phương Tây và các phân tích gia xem các vụ kết án có động cơ chính trị. Điều này đã làm sôi động hơn trong việc kêu gọi Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao. Cũng vậy, vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ đang đẩy mạnh việc thông qua nghị quyết về nhân quyền. Những sự việc này làm sứt mẻ quan hệ thương mại.

- Các nhà đầu tư thường liệt kê cơ sở hạ tầng lạc hậu là một trong những rào cản lớn của Việt Nam. Khả năng của chính phủ phối hợp nhanh, phát triển hiệu quả trong lĩnh vực này sau khi cam kết trợ giúp phát triển chính thức là một vấn đề trọng điểm.

THAM NHŨNG

Tham nhũng là đặc tính cố hữu ở Việt Nam ở mọi cấp mọi ngành của chính phủ, và nó là rào cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Các nhà chức trách đã công bố kế hoạch tấn công chống tham nhũng, và khuyến khích các phương tiện truyền thông theo dõi và kiểm tra, nhưng những nỗ lực này đã tan thành mây khói, sau khi các nhà báo bị bắt giữ do viết bài về các vụ bê bối lớn. Tiến triển về vấn đề [chống] tham nhũng vẫn là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc hấp dẫn đầu tư dài hạn.

Cần lưu ý:

- Thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng nhận thức về tham nhũng. Một sự cải tiến hay suy giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn. Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2009 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi kể từ năm trước, được xếp hạng 120 trên 180 quốc gia.

BẤT ỔN XÃ HỘI

Các cuộc đình công ở Việt Nam gia tăng, biểu tình phản đối và tranh chấp đất đai trong những năm gần đây liên tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoài. Rối loạn nổ ra ở các vùng nông thôn do việc nhà nước chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng của các cán bộ địa phương.

Báo chí nhà nước trong tháng giêng nêu ra một quan chức Bộ Kế hoạch nói rằng kinh tế năm nay khó khăn có thể dẫn tới nhiều cuộc đình công hơn. Mặc dù hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng bất ổn lớn có khả năng xảy ra, hoặc có thể có bất kỳ rủi ro sắp xảy ra cho chế độ đang có thách thức ngầm từ bên dưới.

Cần lưu ý:

- Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một phong trào phản kháng rộng lớn mang tính toàn quốc sắp sửa xảy ra do các tranh chấp địa phương. Cho tới nay, điều này dường như là chưa có.

- Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa – (Biển Đông). Vấn đề này được tích tụ cao độ tại Việt Nam, nơi mà sự ngờ vực Trung Quốc luôn luôn cao. Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hay nhận thấy sự yếu đuối của Việt Nam về vấn đề này, đều có thể khơi dậy sự ủng hộ cho các cuộc biểu tình rộng lớn.

Vai trò của giáo hội Công giáo. Những người Công giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình định kỳ quanh việc đất đai của nhà thờ bị chính phủ chiếm đoạt sau 1954. Giáo hội Công giáo, trong khi chính thức không tham gia vào chính trị, có khoảng 6-7 triệu giáo dân tại Việt Nam và được tổ chức khá tốt.

Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | 3 phản hồi »

353. Berlin, sinh quán của châu Á Hiện đại

Đăng bởi anhbasam on 07/11/2009

PROJECT SYNDICATE *

Berlin, sinh quán của châu Á Hiện đại

1308_thumbBrahma Chellaney


NEW DELHI – Bằng việc ghi dấu ấn kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự tan rã của hình bóng Liên bang Sô Viết khổng lồ, sự sụp đổ của Bức tường Berlin 20 năm trước đã làm thay đổi những tính chất địa chính trị trên toàn cầu. Thế nhưng không có lục địa nào lại được hưởng lợi hơn là châu Á, nơi có nền kinh tế phát triển một cách ngoạn mục kể từ năm 1989, lóe sáng với một tốc độ và tầm cỡ không đâu sánh nổi trong lịch sử thế giới.

Đối với châu Á, ý nghĩa quan trọng nhất từ sự sụp đổ của Bức tường Berlin chính là việc chủ nghĩa cộng sản tan rã đã tạo ra một bước chuyển đổi về sức mạnh quân sự đứng ở vị trí hàng đầu sang sức mạnh kinh tế chiếm vị trí thống trị trong việc hình thành trật tự quốc tế. Đúng vậy, mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cũng đã diễn ra trong cuộc Cách mạng Công nghiệp và trong thời kỳ hậu Đệ nhị Thế chiến. Nhưng trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, tăng trưởng kinh tế tự nó đã góp phần làm thay đổi các mối quan hệ quyền lực trên toàn cầu.

Sự kiện rõ nét khác vào năm 1989 là vụ thảm sát những người biểu tình ủng hộ dân chủ trên Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Nếu như không phải vì mục tiêu muốn kết thúc Chiến tranh Lạnh, thì phương Tây có lẽ sẽ không để cho Trung Quốc thoát khỏi cái cạm bẫy từ những vụ giết người mà họ gây ra. Thay vào đó, phương Tây đã chấp nhận một cách tiếp cận thực dụng, lảng tránh việc trừng phạt về thương mại và giúp Trung Quốc hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu và các tổ chức quốc tế thông qua tầm ảnh hưởng tự do hóa đầu tư nước ngoài và giao dịch thương mại. Đã có Hoa Kỳ và các đồng minh của mình theo đuổi một cách tiếp cận tập trung vào những biện pháp trừng phạt khắc nghiệt, như với Cuba và Miến Điện, kết quả có lẽ là một nước Trung Quốc ít thành công hơn, kém cởi mở hơn, và tiềm ẩn nguy cơ bất ổn.

Quả thực, sự thành công kinh tế kỳ lạ của Trung Quốc – được minh họa bằng thặng dư thương mại vượt trội trên thế giới, dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, và sản lượng thép cao nhất – phải chịu ơn nhiều trước quyết định của phương Tây đã không duy trì những biện pháp trừng phạt thương mại sau cuộc tàn sát ở Quảng trường Thiên An Môn. Có được bước nhảy vọt vượt qua cả Đức để trở thành nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, Trung Quốc giờ đây dường như sẽ thay thế Nhật Bản như là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Sự trỗi dậy của Ấn Độ như một gã khổng lồ về kinh tế cũng liên quan tới những sự kiện sau 1989. Ấn Độ dính líu nhiều vào trao đổi thương mại với Liên Xô và các đồng minh cộng sản của nước này ở Đông Âu. Khi Khối Đông Âu tan rã, Ấn Độ đã phải bắt đầu chi trả cho các hàng hóa nhập khẩu bằng ngoại tệ mạnh. Điều này đã nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ còn khiêm tốn của nước này, gây ra một cơn khủng hoảng tài chính gay gắt vào năm 1991, để từ đó lần lượt buộc Ấn Độ phải bắt tay vào những cải cách kinh tế quyết liệt đặt những nền tảng cho sự trỗi dậy về kinh tế của quốc gia này.

Nhìn rộng ra hơn, thì sự thất bại điển hình của chủ nghĩa Marx năm 1989 đã cho phép các quốc gia châu Á, trong đó có Trung Quốc và Ấn Độ, theo đuổi các chính sách [kinh tế] tư bản một cách công khai. Mặc dù sự phục hồi kinh tế, văn hoá của Trung Quốc đã bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình, Đảng cộng sản Trung Quốc, sau năm 1989, mới có thể công khai cho phép người ta mơ tới việc làm giàu. Ví dụ đó, lần lượt, đã có một ảnh hưởng mang tính xây dựng cho việc duy trì sự tồn tại của các đảng cộng sản khác ở châu Á và những nơi khác.

Về mặt địa lý, những lợi ích của thời kỳ hậu 1989 đã được mở rộng vượt xa khỏi phương Tây. Sự sụp đổ của Liên bang Sô Viết là một lợi ích chiến lược đối với châu Á, loại bỏ một đế chế luôn đe dọa và mở đường cho Trung Quốc nhanh chóng theo đuổi những mối quan tâm của mình trên toàn cầu. Sự suy tàn của nước Nga trong những năm 1990 lại trở thành sự thành công của Trung Quốc.

Với Ấn Độ,  Chiến tranh Lạnh kết thúc đã gây ra một cuộc khủng hoảng trong chính sách đối ngoại với việc loại trừ đối tác đáng tin cậy nhất: Liên bang Sô Viết.

Nhưng, với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1991, Ấn Độ đã có thể nổi lên với một chính sách đối ngoại đã được sửa đổi – một đất nước đã bỏ đi những truyền thống hào hiệp viển vông và đi theo chủ nghĩa thực dụng và thực tế hơn hẳn.

Ấn Độ hậu Chiến tranh lạnh bắt đầu theo đuổi những quan hệ đối tác chiến lược, đôi bên cùng có lợi với những đối thủ then chốt khác ở châu Á và trên thế giới. “Quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu” mới với Hoa Kỳ – một nét đặc trưng rõ ràng của thập kỷ này – có thể xảy ra do những thay đổi sau năm 1989 trong suy nghĩ về chính sách của Ấn Độ.

Tất nhiên, không phải tất cả mọi sự phát triển sau năm 1989 đều là tích cực. Chẳng hạn như hiện tượng các quốc gia bị suy thoái, thứ đã ảnh hưởng nhiều nhất đến an ninh châu Á, chính là hậu quả trực tiếp của sự kết thúc Chiến tranh lạnh. Khi Chiến tranh lạnh bùng phát, một khối này hay khối kia đã làm chỗ dựa cho các quốc gia yếu kém. Nhưng, với sự biến mất của Liên bang Sô Viết, Hoa Kỳ đã từ bỏ cuộc chơi đó.

Kết quả là, tình trạng tê liệt hoặc thất bại bất ngờ xuất hiện vào những năm 1990, tạo thành một mối đe dọa cho an ninh khu vực và quốc tế bằng việc trở thành xứ sở của những tên cướp biển (Somalia) hoặc những tên khủng bố xuyên quốc gia (Pakistan và Afghanistan), hay bằng cách công khai phản kháng đối với những tiêu chuẩn toàn cầu (Bắc Triều Tiên và Iran). Châu Á đã hứng chịu nhiều tổn thất hơn từ sự gia tăng khủng bố quốc tế so với bất cứ khu vực nào khác.

Hơn nữa, hai thập kỷ sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, lan truyền dân chủ đã bị ngưng trệ. Từ năm 1988 đến năm 1990 khi Chiến tranh Lạnh đang hạ nhiệt, các cuộc biểu tình ủng hộ nền dân chủ bùng nổ từ Đông Âu, lật đổ các chế độ độc tài ở nhiều nước khác như Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan, và Chile. Sau sự tan rã của Liên bang Sô Viết, thậm chí Nga đã nổi lên như một ứng cử viên đáng tin cậy cho cải cách dân chủ.

Nhưng, trong khi việc lật đổ các chế độ độc tài hoặc chuyên quyền đã chuyển qua bước cân bằng quyền lực toàn cầu vì lợi ích của các lực lượng dân chủ, không phải mọi hoạt động ủng hộ dân chủ đều  thành công. Và “những cuộc cách mạng da màu” tiếp theo ở những nơi như Ukraina chỉ làm cho những chế độ độc tài còn sót lại thận trọng hơn, nhắc họ thực hiện các giải pháp chống lại những sáng kiến dân chủ hoá đầy sáng tạo từ nước ngoài.


Bên cạnh đó, sự thụt lù của nền dân chủ ở nước Nga, Trung Quốc – giờ là chế độ chuyên chế lâu đời nhất trên thế giới – đang chứng minh rằng khi chủ nghĩa độc đoán được củng cố, một thương trường hàng hoá và dịch vụ có thể ngăn cản môi trường của những ý tưởng chính trị. Hai mươi năm sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, chủ nghĩ tư bản độc đoán chuyên quyền đã nổi lên như là kẻ thách thức hàng đầu cho việc truyền bá các giá trị dân chủ.


Brahma Chellaney là Giáo sư  Nghiên cứu Chiến lược thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách ở New Delhi và là tác giả của cuốn sách Asian Juggernaut: The Rise of China, India and Japan.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Project Syndicate là tổ chức tình nguyện bao gồm 431 tờ báo hàng đầu của 150 quốc gia trên thế giới


Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , | 4 phản hồi »

280. Phản ứng của Mỹ về vụ L.C.Định trên truyền hình VN

Đăng bởi hoangtran204 on 26/08/2009

YAHOO! NEWS

US Ambassador to Vietnam Michael Michalak, seen here in January ...

AFP.US Ambassador to Vietnam Michael Michalak

Hoa Kỳ “khó chịu” trước lối đưa tin

trên truyền hình nhà nước Việt Nam

Thứ Tư, ngày 26-8-2009

HÀ NỘI (Reuters) – Chính phủ Hoa Kỳ đã “khó chịu” trước mô tả tiêu cực về sự giúp đỡ của mình đối với Việt Nam trong một chương trình truyền hình nhà nước vào tuần trước, và vẫn quan ngại về tình trạng nhân quyền của Việt Nam, đại sứ Hoa Kỳ đã tuyên bố hôm nay thứ Tư.

Chương trình truyền hình quốc gia của đài VTV đã phô bày ra trong hơn 20 phút thời lượng một chương trình bản tin vào giờ cao điểm tuần trước về “những lời thú tội” của bốn người bị bắt vì hành động ủng hộ dân chủ ở Việt Nam.

Một trong bốn người, luật sư Lê Công Định, đã xuất hiện khi kể ra các cuộc gặp gỡ với các viên chức Hoa Kỳ, bao gồm cựu Thứ trưởng Ngoại giao John Negroponte và Đại sứ tại Việt Nam Michael Michalak.

“Chúng tôi thấy thất vọng về chương trình của đài VTV đã viện dẫn “những lời thú tội” của một số công dân Việt Nam đối với các hoạt động mà, tại nhiều nơi trên thế giới, những hành động này được xem như là bình thường, đối với những cuộc thảo luận thường xuyên nhằm củng cố cho các nguyên tắc luật pháp tại Việt Nam,” ông Michalak đã nói với các phóng viên hôm nay như vậy.

“Chúng tôi cũng lo lắng trước sự mô tả tiêu cực về trợ giúp của Hoa Kỳ đối với Việt Nam,” ông cho biết thêm.

Các tổ chức nhân quyền và một số nhà phân tích cho rằng việc bắt giữ ông Định với những lời buộc tội “hoạt động tuyên truyền chống lại nhà nước” vào tháng Sáu, và các vụ bắt giữ một số nhà hoạt động khác nữa vào tháng này, là một phần của một cuộc đàn áp đang lan rộng bởi nhà nước độc Đảng của những người Cộng sản.

Ông Michalak nói rằng ông đã hoan nghênh sự tiến bộ của Việt Nam trong việc cải thiện khả năng cho những giáo dân hoạt động tín ngưỡng của mình, thế nhưng theo ông còn có những quan ngại trong những lĩnh vực nhân quyền, bao gồm quyền tự do cho các phương tiện truyền thông và quyền tự do ngôn luận.

Những ngày sau chương trình truyền hình trên VTV, các tờ báo do nhà nước nắm giữ đã đăng tải những bài báo cho biết có hơn hai tá các nhân vật, trong đó có ông Định, có thể sớm phải hầu tòa về các tội liên quan tới an ninh quốc gia.

Ông Định, và những người khác đã bị bắt với cùng một tội danh, có thể phải đối mặt với mức án tới 20 năm tù, theo tổ chức Giám sát Nhân quyền Human Rights Watch cho biết.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

———-

YAHOO! NEWS

U.S. “disturbed” by portrayal on Vietnam state TV

Wed Aug 26, 6:25 am ET

HANOI (Reuters) – The U.S. government was “disturbed” by the negative portrayal of its assistance to Vietnam in a state TV broadcast last week, and remains concerned about Vietnam’s human rights practices, the U.S. ambassador said on Wednesday.

State broadcaster VTV aired more than 20 minutes of footage during a prime-time newscast last week of “confessions” by four people arrested for advocating democracy in Vietnam.

One of the four, lawyer Le Cong Dinh, was showed mentioning meetings with U.S. officials, including former Deputy Secretary of State John Negroponte and Ambassador to Vietnam Michael Michalak.

“We were disappointed by the VTV broadcast that cited ‘confessions’ by several Vietnamese citizens for activities that, in many places in the world, are regarded as normal, usual discussions aimed at strengthening rule of law in Vietnam,” Michalak told reporters on Wednesday.

“We were also disturbed by the negative portrayal of U.S. assistance to Vietnam,” he added.

Rights groups and some analysts say Dinh’s arrest on charges of “conducting propaganda against the government” in June, and the arrests of several other activists in recent months, are part of a widening crackdown by the Communist one-Party state.

Michalak said he applauded Vietnam’s progress in improving the ability of religious people to practice their faith, but said there were concerns in other human rights areas, including media freedom and freedom of speech.

The day after the VTV broadcast, state-run newspapers carried articles saying more than two dozen people, including Dinh, would soon stand trial on security charges.

Dinh, and others arrested on the same charge, could face up to 20 years in prison, according to Human Rights Watch. (Reporting by John Ruwitch; Editing by Jeremy Laurence)

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Đảng/Nhà nước | 6 phản hồi »

278. Việt Nam trên bàn cờ của các nước lớn

Đăng bởi anhbagai on 25/08/2009

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Việt Nam trên bàn cờ của các nước lớn

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 17-8-2009

Mạng “www.x-cafevn.org”, vừa đăng tải bài viết nhan đề: “Việt Nam trên bàn cờ của các nước lớn” với nội dung sau:

1. Chính trị ở Đài Loan:

Từ năm 1979, trên thực tế là khi Washington – Bắc Kinh mặc cả sau lưng thì dù được Quốc hội Mỹ trấn an bằng cách thông qua Đạo Luật Quan hệ Đài Loan, nhưng Đài Bắc bắt đầu biết mình, biết ta. Dĩ nhiên, ở lãnh thổ này thì ý tưởng li khai lúc đó vẫn rất mạnh mẽ. Nhưng dần dần, đã có những thay đổi quan trọng.

Thứ nhất, việc Hongkong được trao trả về Trung Quốc trong mô hình “một nhà nước, hai chế độ” êm đẹp, thuyết phục người dân Đài Loan vào một tương lai tương tự. Thứ hai, ưu thế quân sự của Trung Quốc đã lên tới mức ước tính là Đài Loan chỉ có khả năng cầm cự trong vòng 1 tuần nếu xảy ra chiến tranh mà không có ngoại viện. Và thứ ba là những thành quả kinh tế của Trung Quốc và vị thế trên thế giới cho thấy việc quay lại với “đất mẹ” cũng không đến nỗi tệ.

Cho nên, dù chính trị Đài Loan vẫn đang bị xâu xé bởi các xu hương ly khai và thống nhất, các bên liên quan vẫn tích cực tác động để tìm cách giữ nguyên hiện trạng, nhưng về lâu dài thì có vẻ như tương lai “một đất nước” là khá chắc chắn.

2. Việt Nam trên bàn cờ khu vực:

Tương lai này khiến cho mọi quốc gia trong vùng hay có quyền lợi trong vùng buộc phải có động thái chuẩn bị.

Đầu tiên là Nhật Bản. Từ trước đến nay, Trung Quốc vẫn không công nhận chủ quyền quần đảo Ryuku và Okinawa của Nhật vốn là một mối lo, nay khả năng những con đường hàng hải huyết mạch đi qua Đài Loan đến Nhật Bản thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc lại càng khiến Nhật lo ngại hơn. Cho nên, từ năm 2000, Nhật bắt đầu tái vũ trang, và gần đây nâng Cục Phòng vệ Nhật Bản thành Bộ Quốc Phòng. Song song đó, Nhật triển khai chiến lược ngoại giao mới, tìm cách thắt chặt hơn nữa quan hệ với ASEAN mà đặc biệt chú trọng Việt Nam.

Sau Nhật dĩ nhiên là Mỹ. Hiện Mỹ đang sa vào tình thế vừa phụ thuộc, lại vừa phải dè chừng Trung Quốc, và Trung Quốc đang trở thành mối quan tâm chính yếu của Mỹ. Cho nên, Mỹ vẫn phải duy trì chiến lược kìm toả Trung Quốc suốt nhiều thập kỷ qua, để có thể sử dụng nó làm một quân bài mặc cả khi cần thiết. Chiến lược này chắc chắn không thay đổi về bản chất quan hệ hai nước, cho dù ngoài mặt Mỹ đôi lúc thể hiện như “không quan tâm” và “không có nhiều lợi ích trong vùng”.

Một mặt khác, bản thân Nhật và Mỹ lại có quan hệ đồng minh thân thiết với những ràng buộc quyền lợi bên ngoài chiến lược chung với Trung Quốc. Cho nên, duy trì thành công chiến lược kìm toả Trung Quốc cũng nằm trong ý đồ bảo đảm an ninh cho đồng minh quan trọng này.

Vì thế, vì vị trí địa lý đặc biệt của mình, hầu như đương nhiên Việt Nam được Mỹ lựa chọn làm ứng viên cho vị trí mà Đài Loan đang nắm giữ.

3. Việt Nam trên bàn cờ Trung Quốc:

Kể từ ngày đuổi được Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan, thì Trung Quốc luôn bị áp chế trong thế kìm toả: Phía Đông Bắc là Nam Hàn, phía Đông là Nhật Bản, phía Đông Nam là Đài Loan và phía Nam là Việt Nam. Vì thế, một cách hoàn toàn tự nhiên là họ phải tìm cách phá thế kìm toả ở các mặt này.

Từ đặc điểm địa lý cũng sẽ đi đến kết luận tương tự.

Trung Quốc có diện tích đất đến hơn 6 triệu km2. Mặt Bắc và Tây giáp với Mông Cổ, Nga, Ấn Độ với những địa hình khó khăn cho giao thương, thuận lợi cho phòng thủ. Với việc chiếm lấy Tân Cương, Trung Quốc coi như đã loại trừ mối đe doạ từ phía Ấn Độ. Và Nga thì Trung Quốc không phải lo lắng nhiều, do Nga có điểm yếu cố hữu là mặt Tây hoàn toàn trống trải lại đang bị thu hẹp biên giới, mặt khác sinh suất của Nga quá thấp nên chẳng mấy chốc mà Nga không còn đủ dân để sống và bảo vệ đất nước rộng lớn của mình.

Ở mặt Đông Bắc với Hàn Quốc là đồng minh thân cận của Mỹ, thì chắc chắn Trung Quốc sẽ tìm cách duy trì Bắc Triều Tiên như một vùng đệm. Nhất là khi Bắc Triều Tiên đã có vũ khí hạt nhân, thì Trung Quốc càng không muốn nhìn thấy một bán đảo Triều Tiên thống nhất, thân Mỹ và có vũ khí hạt nhân. Nên nỗ lực của Trung Quốc ở khu vực này cũng là dễ hiểu.

Như vậy, vấn đề còn lại là hai mặt Đông và Nam.

Về kinh tế, mặt Đông quan trọng vì nó liên quan đến giao thương qua Thái Bình Dương. Còn mặt Nam quan trọng vì đấy là con đường giao thương qua Ấn Độ Dương. Đường hàng hải phía Nam còn là con đường dầu mỏ từ Châu Phi – Trung Đông về, nên nó chính là huyết mạch an toàn năng lượng của Trung Quốc.

Kiểm soát được hai mặt này là vừa bảo đảm quốc phòng, vừa bảo đảm cho tương lai của nền kinh tế. Chính vì thế, mà tất yếu Trung Quốc phải đầu tư vào hải quân với chiến lược Đại dương Xanh của mình. Và Việt Nam cùng với Biển Đông là một vị trí quan trọng tất yếu trong chiến lược đó, mà hành xử của Việt Nam trong tương quan với Mỹ sẽ quyết định thái độ ứng xử của Trung Quốc.

4. Việt Nam trên bàn cờ lớn Trung – Mỹ:

Trong quan hệ Trung – Mỹ từ năm 1949 tới nay, ba yếu tố: đối đầu, hoà hoãn và hợp tác đan xen với nhau. Ngay cả khi một yếu tố nổi lên làm chủ đạo, thì vẫn có mặt một hoặc cả hai yếu tố kia. Xét tính chủ đạo, thì giai đoạn 1949-1972 đối đầu, 72-79 là đối đầu có hoà hoãn, từ năm 1979 đến 1990 là hoà hoãn có hợp tác. Thập niên 1990 là hợp tác trong hoà hoãn, và từ những năm 2000 đến nay, khi Trung Quốc hiện đại hoá quân đội và hải quân, thì yếu tố đồi đầu đang từ từ mạnh lên.

Vị trí của Việt Nam trên bàn cờ lớn này đương nhiên là liên quan mật thiết đến xu hướng nào là chủ đạo, và chiếm thế chủ đạo trong trong giai đoạn nào.

Trước hết, cần phải nói rằng xét về lịch sử, bất chấp ai lãnh đạo thì nhìn chung cả Trung Quốc và Mỹ đều là những tay chơi cờ xuất sắc và khá kiên nhẫn. Thứ hai, bàn cờ quốc tế hiện đại nảy sinh ra những ràng buộc quyền lợi chung đa dạng. Một mặt khác, trình độ kinh tế đương nhiên là có ảnh hưởng quyết định đến quan hệ này theo quy tắc: Trung Quốc yếu thì hợp tác là chủ đạo, Trung Quốc mạnh lên thì sẽ tất yếu có đối đầu để tái phân chia ảnh hưởng trên khu vực và trên toàn cầu.

Cho nên, thái độ và hành xử của hai nước này trong nhiều thập kỷ tới hầu như chắc chắn vẫn là hoà hoãn có đối đầu.

Trong tình hình đó, hành xử của Trung Quốc đối với Việt Nam sẽ đi theo một trong các kịch bản sau:

1. Nếu Việt Nam ngả theo hướng thân Mỹ, thì tất Trung Quốc buộc phải chiếm Trường Sa bằng vũ lực.

2. Nếu Việt Nam cũng chọn thái độ hoà hoãn, thì Trung Quốc sẽ tìm mọi cách đưa Việt Nam và vòng ảnh hưởng của mình.

Trong mọi tình huống, lựa chọn thái độ hợp tác với Việt Nam hầu như nằm ngoài dự tính của Trung Quốc. Điều này xuất phát từ nhận định của Trung Quốc về Việt Nam, rằng vị thế của hai nước từ trong lịch sử và mãi mãi là ở vị thế tranh chấp, và Việt Nam chưa bao giờ là một đồng minh hay đàn em đáng tin cậy cả. Cho nên, ngay cả lựa chọn thái độ hoà hoãn, thì Trung Quốc cũng tin chắc rằng hoà hoãn chỉ là nhất thời mà thôi.

Từ góc nhìn của Mỹ, thì để bảo đảm cho chiến lược kìm toả Trung Quốc của mình không bị vỡ, thì phải giữ cho được mục tiêu là Trung Quốc không khống chế được Việt Nam và không chiếm được Trường Sa. Đương nhiên, người Mỹ biết rõ về lịch sử đẫm máu của hai quốc gia này và những gì cả hai nghĩ về nhau, nên họ tin rằng họ luôn có cơ hội ở Việt Nam khi họ muốn.

Tuy nhiên, những cân nhắc về quyền lợi của họ ở Việt Nam thì luôn gắn với cân nhắc về thể chế. Cho nên, các kịch bản tương ứng của họ sẽ là:

1) Tìm cách giữ nguyên trạng tình hình chính trị ở Đài Loan càng lâu càng tốt, ngoài những lý do liên quan đến Đài Loan- Mỹ, thì còn vì họ cho rằng Việt Nam chưa sẵn sàng để làm bạn với Mỹ, đồng thời bản thân họ cũng chưa vào thế kẹt để chấp nhận làm bạn với Việt Nam.

Trong việc này, hiển nhiên họ phải đối mặt với rủi ro là Trung Quốc có thể bất ngờ tấn công Trường Sa, loại bỏ vai trò chiến lược của Việt Nam đối với thế kìm toả của Mỹ. Cho nên, để có thể giúp Việt Nam bảo vệ Trường Sa lúc chưa có một hiệp ước chính thức, Mỹ sẽ hành xử theo 3 điểm như sau:

a) Khuyến khích Việt Nam tham gia vào các cơ chế đa phương và hỗ trợ cho các cơ chế này.

b) Một mặt khác, họ có vài động tác hỗ trợ quân sự cho Việt Nam để hãm bớt những toan tính của Trung Quốc.

c) Xây dựng những quan hệ lợi ích cơ bản, nhằm dự phòng làm tiền đề cho quan hệ gần gũi hơn sau này.

2) Trường hợp Đài Loan chắc chắn về với Trung Quốc thì buộc Mỹ vào thế phải làm bạn với Việt Nam, và chắc chắn là Mỹ phải có những động thái sớm nhất có thể, nhằm loại bỏ nguy cơ Trung Quốc bất ngờ chiếm Trường Sa. Để làm động thái này, có lẽ trước đó Mỹ phải chuẩn bị cho Việt Nam vào trong một cơ chế đa phương hay một cơ chế kinh tế nào đó của mình (cũng có thể chỉ là một liên doanh khai thác dầu khí) để có thể danh chính ngôn thuận triển khai Hải quân ở khu vực Biển Đông.

3) Trường hợp Việt Nam lựa chọn đường lối thân Trung Quốc: Dĩ nhiên với Mỹ đây là lựa chọn xấu nhất có thể, vì trong trường hợp này họ buộc phải tìm cách can thiệp tích cực vào tình hình chính trị của Việt Nam, với suy nghĩ đương nhiên rằng một chính quyền dân chủ ở Việt Nam sẽ phụ thuộc vào Mỹ, ít nhất cũng phải thân Mỹ.

Cho nên, ngay trong lúc này, Mỹ vẫn phải chơi ván bài hai mặt với Việt Nam: một mặt là xích lại gần hơn với Việt Nam hiện tại, một mặt kia là lựa chọn và ủng hộ cho phong trào dân chủ nhằm dự phòng cho phương án 3 trên đây.

Những lựa chọn của lãnh đạo Việt Nam

Có thể nói hiện tại lãnh đạo Việt Nam đang phải đối mặt với những nguy cơ như sau:

Nguy cơ mất lãnh thổ từ phía Trung Quốc: Vì Trường Sa quá quan trọng đối với chiến lược Đại dương Xanh của Trung Quốc, nên việc lấy Trường Sa chỉ là vấn đề “bằng cách nào”, trong cân nhắc với quan hệ Việt – Mỹ và thể diện quốc tế của chính mình.

Cho nên, hành xử của Trung Quốc sẽ đi theo một trong 3 sách lược như sau:

1. Thượng sách: Gây sức ép nặng nề lên Việt Nam để đạt mục tiêu chia sẻ quyền khai thác dầu ở Trường Sa, và sau đó sẽ tính đường chiếm đoạt một phần hoặc toàn phần quần đảo này một cách hoà bình (Biện pháp này từng được thảo luận như là giải pháp lâu dài cho Trường Sa, nhưng thực chất là con đường cực kỳ nguy hiểm cho Việt Nam)

2. Trung sách: Nếu Việt Nam có ý ngả sang Mỹ, hoặc nội bộ Việt Nam có vấn đề, thì ngay lập tức chiếm đoạt Trường Sa bằng vũ lực trong điều kiện Mỹ chưa có lý do chính đáng để triển khai Hải quân ở Biển Đông (Trung Quốc sẵn sàng làm điều này nếu tin tưởng rằng việc chiếm Trường Sa hoàn thành trong vòng vài ngày).

3. Hạ sách: Giải quyết vấn đề Trường Sa trong tổng thể bàn cờ tay đôi với Mỹ bằng cách vừa tăng cường ảnh hưởng lên nền tài chính của Mỹ, vừa tích cực chạy đua hải quân với Mỹ nếu như Mỹ kịp thời có mặt ở Biển Đông (Mỹ phải dàn trải lực lượng khắp các đại dương, nên Trung Quốc có khả năng giành ưu thế cục bộ trong khu vực Biển Đông).

Trong 3 sách lược đó, hiện tại Trug Quốc có vẻ như đang áp dụng thượng sách, nhưng luôn phải quan sát phán đoán thời điểm để sẵn sàng chuyển qua trung sách.

Nguy cơ thay đổi chính trị từ phía Mỹ: Đối với Mỹ, việc cải thiện tình hình dân chủ ở Việt Nam là cần thiết, nhưng được đặt trong bài toán về vai trò của Việt Nam trong cân nhắc quyền lợi của mình theo các trường hợp như sau:

1. Trường hợp bức bách: Khi Việt Nam vẫn giữ thái độ chưa rõ ràng và thời gian Đài Loan về với Trung Quốc là cận kề, hoặc khả năng Trung Quốc sử dụng trung sách cao, thì Mỹ vào thế phải giành lấy ảnh hưởng ở Việt Nam bằng mọi giá, trong đó có thể có cam đoan không can thiệp vào tình hình chính trị của Việt Nam.

2. Trường hợp hoà hoãn: Khi Việt Nam giữ thái độ chưa rõ ràng và tình hình Đài Loan cho phép, hoặc Việt Nam có một vị thế hoà hoãn tương đối với Trung Quốc, Mỹ sẽ chỉ tác động nhẹ đến tình hình chính trị bằng hình thức ngoại giao, song song với ủng hộ ngầm cho các phong trào dân chủ.

3. Trường hợp xấu nhất: Khi Việt Nam bộc lộ thái độ ngả về Trung Quốc, thì dĩ nhiên Mỹ buộc phải can thiệp tích cực vào tình hình chính trị ở Việt Nam.

Lựa chọn khả dĩ của Việt Nam: Phân tích nguy cơ từ phía Trung Quốc thì rõ ràng là lãnh đạo Việt Nam không có nhiều lựa chọn – ngay khi khả năng chia sẻ tài nguyên Trường Sa vừa ló dạng, thì chắc chắn Mỹ sẽ chọn phương án hành xử thứ ba, và khả năng xấu nhất là nội bộ ban lãnh đạo bị chia rẽ. Kết hợp cả khả năng Trung Quốc sẽ lợi dụng đục nước béo cò, thì đây sẽ là lựa chọn khó có khả năng xảy ra.

Cho nên, các nước cờ của lãnh đạo Nhà nước có thể sẽ là:

1. Kéo dài trạng thái hoà hoãn: Mục tiêu của nước cờ này là một mặt thuyết phục Trung Quốc không sử dụng trung sách, một mặt chờ cho tình hình Đài Loan rõ ràng hơn (để trở nên quan trọng hơn), nhằm giành ưu thế khi nói chuyện với Mỹ.

2. Tìm kiếm sự bảo vệ an ninh của Mỹ ở Biển Đông: Khi nguy cơ Trung Quốc sử dụng trung sách khá rõ ràng, thì Việt Nam buộc phải bắt tay chia sẻ khai thác Trường Sa với Mỹ, để Mỹ có thể danh chính ngôn thuận triển khai Hải quân ở đây. Đương nhiên, đây là việc cực kỳ nhạy cảm với Trung Quốc, nên Việt Nam buộc phải đi nhiều nước cờ nghi binh phức tạp.

3. Chọn thời điểm đàm phán với Mỹ: Việc chọn đúng thời điểm đàm phán là tối quan trọng để cân đối được lợi ích toàn vẹn lãnh thổ với lợi ích chính trị của Việt Nam.

Ứng với sách lược như trên, thì những biện pháp tiên quyết hiện tại phải là:

- Giữ ổn định chính trị trong nước: Đây là điều kiện căn bản nhằm tránh Trung Quốc đục nước béo cò.
- Nhượng bộ Trung Quốc một số điểm ít quan trọng chiến lược hơn trong điều kiện Trung Quốc gây áp lực mạnh về phương án chia sẻ khai thác Trường Sa.
- Tiếp tục tăng cường phòng thủ Biển Đông cùng với các biện pháp ngoại giao tích cực khác (trong đó có cả ngoại giao quân sự với Mỹ) nhằm tạo cảm giác khó khăn cho Trung Quốc.

Đe doạ bên ngoài có khả năng chuyển thành nguy cơ bên trong như thế nào?

1. Nền tảng ủng hộ của người dân dành cho thể chế:

Về cơ bản, thể chế XHCN ở Việt Nam hiện đại bắt đầu từ một phong trào giải phóng dân tộc, và có thể nói rằng, nền tảng ủng hộ của người dân dành cho phong trào này từng thời kỳ có thể tóm tắt như sau :

- Từ 1930 – CMT8: Độc lập dân tộc
- Từ CMT8 – 1975: Độc lập dân tộc + lý tưởng XHCN
- Từ 1975 – 1990: Lý tưởng XHCN + ổn định chính trị
- Từ 1990 – nay: Ổn định chính trị + phát triển kinh tế

Từ khi Liên Xô và khối XHCN sụp đổ, thì cái nhìn mơ hồ về một lý tưởng XHCN được xây dựng trong suốt thời kỳ trước đó không còn cơ sở thực tế để tồn tại. Trong suốt thời kỳ này (đoạn này bị cắt bỏ so với bản gốc) mặc dù Đảng CSVN đã rất cố gắng tìm kiếm một tầm nhìn mới để tìm lại sự ủng hộ của người dân trước đó, tuy nhiên, thành công hầu như duy nhất của Đảng CSVN tạo dựng được về mặt tuyên truyền là “Sự lãnh đạo của Đảng là thành tố cơ bản cho sự ổn định chính trị, là tiền đề cho việc phát triển kinh tế”.

Song song với luận đề này, thì các yếu tố đa nguyên, dân chủ, dân quyền được tuyên truyền như là các yếu tố gây bất ổn, còn các phong trào đòi hỏi những giá trị này được đánh giá là “phản động”. Và thể chế không ngần ngại trong việc sử dụng sức mạnh chuyên chế, vì nhận định rằng nếu không hành động như thế thì sẽ mất ủng hộ của người dân.

Từ phía người dân, họ chuyển sự quan tâm của mình đến những nhu cầu cấp bách hơn của cuộc sống và trở nên xa lạ với chính trị, hoặc chỉ đơn giản là chấp nhận cách lý giải đó.

Và ổn định xã hội trở thành giá trị cốt lõi của thể chế.

Thế nhưng, dưới những tác động của các nguy cơ đến từ bên ngoài như đã phân tích, thì giá trị này có nguy cơ bị phá vỡ.

2. Đe doạ mất lãnh thổ có tác động như thế nào?

Một cách hoàn toàn tự nhiên, người Việt Nam có tinh thần dân tộc chủ nghĩa rất cao, cho nên nguy cơ mất lãnh thổ hoặc những áp lực từ phía nguy cơ này sẽ nhanh chóng được diễn dịch thành sự bất ổn từ hai hướng:

- Những hành động hay chính sách mang xu hướng nhân nhượng hay thoả hiệp đối với Trung Quốc đều có khả năng được diễn dịch trực tiếp thành sự suy thoái lòng tin, bắt đầu từ lòng tin về khả năng lãnh đạo nói chung và khả năng giữ ổn định nói riêng.

- Bản thân giới lãnh đạo ở các cấp cũng có khả năng phân hoá thành những nhóm chủ trương khác nhau, và khi áp lực càng tăng thì sự phân nhóm càng rõ rệt hơn và có thể biến thành những tín hiệu bất ổn.

Cả hai yếu tố này nếu kết hợp lại, thì sẽ làm suy yếu giá trị cơ bản của thể chế và do đó, nếu cộng hưởng lại sẽ có tác động rất nguy hiểm.

3. Đe doạ thay đổi chính trị tác động như thế nào?

Mặc dù sự can thiệp chính trị từ phía Mỹ vẫn có thể được coi là yếu tố bất ổn trong ngắn hạn, nhưng cái lợi có được – an ninh lãnh thổ nhờ quan hệ với Mỹ – lại là yếu tố ổn định. Nên khi áp lực từ nguy cơ mất lãnh thổ tăng lên, thì trong ý thức người dân xu hướng chấp nhận đánh đổi yếu tố bất ổn từ chính trị để đổi lấy ổn định nhờ an ninh lại tăng lên (đoạn này bị cắt bỏ so với bản gốc).

Một khía cạnh khác, trong giá trị cốt lõi của thể chế, sự phát triển về kinh tế là mục tiêu, còn giữ ổn định là phương thức. Mà với tiềm lực kinh tế của Mỹ, với những hình mẫu của Nhật Bản và Hàn Quốc trong quan hệ với Mỹ, qua lăng kính của người dân được diễn dịch dễ dàng thành cơ hội phát triển. Cho nên, khi nhìn thấy sự quan tâm trở lại của Mỹ, sự hấp dẫn của cơ hội có thể vượt qua sự e ngại về bất ổn trong ngắn hạn.

Một điểm khác nữa, bản thân xã hội Mỹ và nền kinh tế Mỹ có một sức hấp dẫn lớn. Cho nên sự công nhận từ phía Mỹ đối với các yếu tố đa nguyên, dân chủ sẽ có vai trò phản tuyên truyền, giúp làm nhẹ bớt cách nhìn về chúng như là “yếu tố bất ổn”.

Từ hai mô hình phân tích trên đây, thì chúng ta có thể thấy một số vấn đề:

- Áp lực từ phía Trung Quốc làm suy thoái giá trị ổn định của thế chế, làm lực đẩy hướng đến thay đổi.

- Những cái lợi từ phía quan hệ với Mỹ tạo ra ý niệm khác về sự ổn định, là lực đẩy hướng đến sự thay đổi.

Khi các xu thế này kết hợp đủ mạnh, thì nó hoàn toàn có khả năng tạo ra sự sụp đổ hoàn toàn của nền tảng ủng hộ, và nếu song song đó xuất hiện một lựa chọn nội bộ nào đó có khả năng đem lại ổn định, thì một “cửa sổ cơ hội” cho sự thay đổi có thể xuất hiện.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | 14 phản hồi »

260. Con bò của anh Ba Sàm

Đăng bởi anhbasam on 07/08/2009

Con bò của anh Ba Sàm

Photobucket

Thú vui của phó thường dân độc lập, tự do, dân chủ là mỗi sáng café cóc, đọc báo vỉa hè bên trái, nghe anhbasam.tk điểm tin trong ngày từ tờ lá cải đến hãng thông tấn nước ngoài.

Gọi là thú vui, nhưng mấy khi vui với ngổn ngang trăm chuyện lớn nhỏ! Từ những vụ án giết người vì tình tiền trên tờ Pháp Luật đến chó cắn, xe cán trên báo Công An, … cho đến Biển Đông, bauxit, dân chủ với phản động!!! Buồn, nản, chán… Cảm giác bất lực của sự nhỏ nhoi, yếu hèn, oan ức!!!
Chợt nhận ra, có một hình ảnh diễn đạt rất rõ cảm giác của chính mình: Con bò.


Con bò bên trái trên trang chính của tờ báo vỉa hè dành cho dân đen dốt nát như mình!

Con bò trông hiền lành, nhưng buồn bã, yếu đuối … Nó lắc lắc cái đầu chậm chạp? Một sự phản đối nhẹ nhàng nhưng kiên trì, hiền lành và nhẫn nhục. Nhưng vẫn kiên quyết phản đối?

Đã có những ngày mình trốn cái chốn quen thuộc này, bởi sự thất vọng và chán nản đến không thể chịu đựng được!

Trốn cái trò “dạo quanh”, “đi lòng vòng” trên thế giới phẳng này!  Chui vào một thế giới khác, thế giới “vô thường” trong những dịch phẩm của Nguyễn Tường Bách, hay đi tìm kiếm thứ “ánh sáng nội tâm” của Paulo Coelho… Nhưng con bò…Vẫn đứng đó trên trang chính, để chứng kiến mọi diễn biến, để nghe basam điểm tin … Nó không có nơi nào để trốn chạy khỏi những sự kiện đang xẩy ra. Nó vẫn kiên trì lúc lắc đầu phản đối! Nhẹ nhàng thôi, nhưng vẫn là phản đối. Đôi mắt buồn ẩn ức! Ai quan tâm tới con bò? Người ta chả bảo “lo bò trắng răng” sao? Không có cái để nhai, cũng chả ai lo nó đói? Cả đời chỉ ăn cỏ! Mà cỏ thì trời cho… tràn lan bất cứ nơi nào không có bàn tay người. Người ta lấy sức cày, sức kéo, lấy sữa, lấy thịt… Lấy mọi cái có thể, mọi thứ họ cần, họ muốn! Và ra rả kể công: Tao đã cho mày ăn cỏ! Nó sẽ phải cúi đầu mang ơn họ suốt đời! Chỉ vì họ biết kể công? Chỉ vì họ đã lừa được con bò tưởng họ có công nuôi dạy nó?
Con bò chỉ có một hàm răng, nó không cắn, không xé, không cào không cấu… được! Nó có cái lưỡi giúp tém cỏ mà rứt! Không nhanh như lưỡi rắn, không nhám nhúa như lưỡi cọp, không la liếm như lưỡi mèo…


Người ta bảo cái lưỡi của nó liếm cả biển Đông?

Nó lắc đầu:
Bảo tao hiền, tao ngu, tao phải mang ơn chúng mày vì ăn cỏ của trời?! Phải mang ơn chúng mày vì giết thịt ba đời nhà tao? Cứ việc đè đầu cỡi cổ, bóp vú nặn sữa của con tao, lấy thịt, lấy mạng của tao…!!!

Nhưng dùng lưỡi của bò để uống dầu, ăn cá biển Đông! Thì chúng mày điêu quá thể.
Bây giờ thì tao mới lúc lắc đầu thôi đấy nhé. Tao chỉ phản đối nhè nhẹ thôi đấy nhé!
Đừng đợi tao húc lòi ruột, phơi gan ra mới thấy cái thứ gì chúng mày ăn vào bụng.


Con bò vẫn lúc lắc cái đầu!


N.T. My Lien

(blog Pink Heart)

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Văn hóa | Tagged: , | 5 phản hồi »

243.TỰ DO DÂN CHỦ CỦA MỸ Ở MIỀN NVN 54′-73′

Đăng bởi anhbahoa on 23/07/2009

SỰ THIẾT LẬP NỀN

“TỰ DO DÂN CHỦ” CỦA MỸ Ở

MIỀN NAM VIỆT NAM, 1954 – 1973

TS. Nguyễn Ngọc Dung *

Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh


Theo quan điểm của người Mỹ thì chủ nghĩa cộng sản là chế độ độc đoán, đối lập với bản chất tự do dân chủ của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, chiến lược “ ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản đồng thời cũng là chiến lược mở rộng nền dân chủ trên thế giới theo cách hiểu của người Mỹ.

Tuy nhiên, chủ nghĩa cộng sản, hiện thực qua phong trào cộng sản quốc tế lại không phải là một thực thể thuần nhất, mà là một hiện tượng phức tạp bao gồm nhiều lực lượng, trong đó chủ yếu là những quốc gia – dân tộc với trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau, thân phận lịch sử khác nhau, đeo đuổi những mục tiêu chính trị khác nhau. Nhưng đối với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, tất cả họ đều là kẻ thù của nền dân chủ.

Cho nên, để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, từ sau 1945 Mỹ đã can thiệp vào công việc nội bộ của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dưới sự bảo trợ của Mỹ, chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam đã ra đời, về phương diện chính trị, nhằm thực thi những giá trị dân chủ của Mỹ và phương Tây.

Trọng tâm của bài viết là tìm hiểu quá trình thiết lập nền tự do dân chủ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam vốn được các chính khách Mỹ gắn liền với mục tiêu chống cộng . Dân chủ và chống cộng trở thành lá bài chiến lược trong suốt thời kỳ Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam, 1954 – 1973. Bên cạnh đó, bài viết còn góp thêm cái nhìn vào bản chất cuộc chiến tranh ở Việt Nam 1954 – 1975.

1. Chiến lược “ngăn chặn” Containment) của Mỹ ở Đông Nam Á và mục tiêu xây dựng một quốc gia dân chủ ở miền Nam Việt Nam.

Ngay sau khi chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hai cường quốc Xô – Mỹ đã hoàn tất việc phân chia ảnh hưởng của mình qua Hội nghị Postdam nhóm họp từ ngày 17/7 – 2/8/1945. Từ đây, nước Mỹ trở thành đồng đạo diễn với Liên xô trên kịch trường chính trị châu Âu (sau đó trên toàn thế giới). Lịch sử nhắc nhở chúng ta đừng quên rằng hơn một thế kỷ trước, người Mỹ vẫn còn lo lắng thế lực của các cường quốc châu Âu can thiệp vào công việc châu Mỹ qua học thuyết Monroe. Còn đối với Liên xô, những mất mát lớn lao trong chiến tranh cũng được bù đắp xứng đáng khi vào đầu thập niên 1950, hầu hết các quốc gia Đông Âu, sau khi được Hồng quân giải phóng, đã thiết lập được các nhà nước kiểu xô viết, trở thành vùng đệm của Liên Xô; như vậy, sau Chiến tranh thế giới lần II, vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của Liên Xô xã hội chủ nghĩa đã rộng hơn rất nhiều so với vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của nước Nga Sa hoàng phong kiến trước kia.

Ở châu Á, cuộc tranh giành ảnh hưởng Xô – Mỹ bắt đầu từ Trung Quốc. Việc chính quyền Truman quyết định giúp Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch trong cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm 1946 – 1949, đã buộc Liên xô phải lựa chọn Đảng cộng sản Trung Quốc làm đối tượng ủng hộ. Tháng 10 năm 1949 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Dưới con mắt của phương Tây, ở châu Á bấy giờ đã hình thành trục chiến lược Trung – Xô nhằm kiểm soát vùng châu Á – Thái Bình dương, khu vực mà hơn một trăm năm trước, Mỹ đã tốn nhiều công sức buộc một số quốc gia trong khu vực phải “mở cửa” cho hoạt động thương mại Mỹ.

Biến cố quan trọng thứ hai ở châu Á trong thời gian này là cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên (1950 – 1953), cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên giữa hai lực lượng quốc tế nhằm chia cắt sự thống nhất của một quốc gia. Chiến tranh Triều Tiên nổ ra đúng vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đi vào giai đoạn thắng lợi cuối cùng. Song, dưới cái nhìn ý thức hệ, nhiều người Mỹ lại hiểu rằng chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên là “Hai cuộc xung đột theo mỗi cách khác nhau. Nhưng rõ ràng mỗi xung đột đều có vị trí trong một tổng thể phức tạp mang tính chính trị và chiến lược. Chúng đều chia sẻ một sự kiện căn bản. Mỗi cái là kết quả từ cuộc bành trướng của thế lực Xôviết tới khu vực, đẩy vệ tinh của họ về phía trước, lợi dụng để chống lại phương Tây và chủ nghĩa quốc gia…”1

Trong sự tưởng tượng dồi dào của người Mỹ thời điểm đó, ảnh hưởng của khối Trung – Xô đang lan tỏa mạnh mẽ xuống vùng châu Á – Thái Bình Dương, khiến giới lãnh đạo Mỹ nghĩ ra học thuyết Domino, coi rằng sự sụp đổ của Đông Dương sẽ kéo theo phản ứng dây chuyền khắp vùng Đông Nam Á, đến tận Úc châu. Có thể thấy quan điểm này qua lời phát biểu của Tổng thống Eisenhower trong cuộc họp báo ngày 5 tháng 4 năm 1954: “Nhưng khi chúng ta đối diện với một khả năng có thể tuần tự, sự mất Đông Dương, Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Indonesia tiếp theo; thì chúng ta bắt đầu nói về một khu vực không chỉ làm tăng gấp bội những bất lợi mà chúng ta sẽ phải hứng chịu qua việc mất mát vật chất, tài nguyên, mà còn nói về hàng triệu, hàng triệu con người … cuối cùng (là) vị trí địa – chính trị đã có (của khu vực), vì thế làm được rất nhiều việc. Điều đó quay trở lại cái gọi là chuỗi đảo phòng thủ Nhật Bản, Đài Loan, Philippines và đến tận phía Tây, dẫn đến đe dọa cả Úc châu và Tân Tây Lan …Như vậy, kết cục mất mát có thể là mở rộng đến cả thế giới Tự do.”2

Như vậy, người Mỹ nhìn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để giành lại độc lập của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản. Trước tình thế này, phản ứng của người Pháp và người Mỹ rất khác nhau: người Pháp chọn “giải pháp Bảo Đại”, công nhận Việt Nam độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp tháng 3 năm 1949, dựng lên một chính phủ bù nhìn do Bảo Đại làm Quốc trưởng, hòng gạt bỏ Việt Minh khỏi quyền lực thực tế; còn người Mỹ thì muốn loại trừ ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam, xây dựng một chế độ chống Cộng và chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu chống cộng và chia cắt lâu dài Việt Nam, người Mỹ đã từ chối ký vào Hiệp định Geneva và lựa chọn con bài chính trị Ngô Đình Diệm để xây dựng một nhà nước dân chủ ở miền Nam Việt Nam. Ngô Đình Diệm là người vừa có tinh thần chống cộng và chống Pháp, một tín đồ Kitô giáo cuồng tín. Ông sinh năm 1911, mới 31 tuổi đã được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Lại (1932), tuy nhiên khoảng một năm sau thì ông đã từ chức. Suốt thời gian từ 1933 – 1945 Ngô Đình Diệm tạm gác đời sống chính trị của mình. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh có mời ông tham chính cho nền cộng hòa non trẻ nhưng ông từ chối3. Một thời gian ông đã qua Mỹ (1950 – 1953) và sống tại tu viện Maryknoll, giao thiệp với nhiều lãnh tụ Kitô giáo, sau đó ông sang Bỉ, tiếp tục sống cuộc đời tu sĩ của mình cho đến khi được người Mỹ hậu thuẫn, ông trở về Việt Nam 4.

Người có vai trò to lớn trong việc đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam chấp chính là thượng nghị sỹ Mỹ Mike Manafield và đức Hồng y Spellman5. Tuy nhiên Ngô Đình Diệm còn nhân được sự ủng hộ nồng nhiệt của người đứng đầu nước Mỹ. J F. Kennedy trước khi trở thành tổng thống Mỹ, ông đã tham gia câu lạc bộ “Tổ chức những người bạn Mỹ của Việt Nam” (năm 1955). Sau này, trong một bài phát biểu tại Thượng viện, dưới nhan đề “Lập trường của Mỹ tại Việt Nam” ông nhấn mạnh:

Việt Nam thể hiện là hòn đá tảng của Thế giới Tự do ở Đông Nam Á, là viên đá chốt của mái đá vòm, xương sống của con đê. Miến Điện, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines và tất nhiên cả Lào và Cambodia là trong số đó; nền an ninh của các nước này có thể bị đe dọa nếu làn sóng cộng sản đổ vào Việt Nam.

Việt Nam thể hiện khả năng cung cấp thứ dân chủ nền tảng tại châu Á. Dù rằng chúng ta có thể xem thường hay phản đối điều này. Sự lớn mạnh về uy tín và ảnh hưởng của Trung cộng ở Á châu là một sự kiện không gì có thể thách thức. Việt Nam thể hiện sự thay thế đối với chế độ độc tài cộng sản. Nếu sự thể nghiệm dân chủ này mà sụp đổ, nếu vài triệu người tị nạn buộc phải từ bỏ chế độ độc đoán tại miền Bắc để không tìm thấy gì sự an toàn ở miền Nam thì thật sự là yếu kém chứ không phải là hùng mạnh – sẽ mang ý nghĩa đặc trưng của nền dân chủ trong suy nghĩ của những người châu Á khác nữa. Nước Mỹ chịu trách nhiệm trực tiếp về sự thử nghiệm này… chúng ta không cho phép sự thử nghiệm này thất bại.

Chúng ta không có ý đồ mua lấy tình bạn của những người Việt Nam. Chúng ta không thể giành lấy trái tim họ bằng cách buộc họ phải phụ thuộc vào đôi tay chúng ta. Thứ mà chúng ta phải đưa ra cho họ là một cuộc cách mạng – cuộc cách mạng về chính trị, kinh tế, xã hội vượt xa với những gì mà những người cộng sản có thể đề xuất – hòa bình hơn nhiều, dân chủ hơn nhiều và kiểm soát cục bộ được hơn nhiều. Một cuộc cách mạng như thế sẽ đòi hỏi rất nhiều từ nước Mỹ cũng như rất nhiều từ Việt Nam 6 …

Ngay cả những người cộng sản cũng thật khó phê phán quan điểm trên của Tổng thống Kennedy, nhưng đây chỉ là lời nói của một chính khách. Hầu hết nội dung tư tưởng này đã vắng bóng trên thực tế, ngoại trừ nguyên tắc kết hợp giữa mục tiêu chống cộng và xây dựng nền dân chủ giả hiệu ở miền Nam Việt Nam là được người Mỹ theo đuổi mà thôi

2. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – cuộc thử nghiệm lần thứ nhất

Những người đặt viên gạch thiết kế một chính quyền chống cộng – dân chủ ở miền Nam Việt Nam là trung tướng Ó Daniel, Trưởng phái bộ viện trợ và cố vấn quân sự Mỹ (Military Assistance and Advisory Group), đại tá W.Lansdale sỹ quan CIA (sau được phong cấp tướng) và giáo sư tiến sỹ W. Fishel, Trưởng phân bộ Khoa Chính trị, Đại học Michigan Mỹ.

Kể từ tháng 7/1954 khi vừa lên nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã mời giáo sư Fishel, người có tư tưởng chống cộng đến miền Nam Việt Nam làm cố vấn. Đến tháng 9/1954 có thêm bốn giáo sư chuyên ngành khác: Arthur Brandstat chuyên gia về hành chính, James Denission chuyên gia về quan hệ cộng đồng, Eward chuyên gia chính trị học, Charles Killingsworth chuyên gia kinh tế. Nhóm giáo sư Fishel cùng với nhóm sỹ quan CIA của Lansdale trở thành cầu nối giữa Ngô Đình Diệm với chính phủ Mỹ.

Ngay khi lên làm thủ tướng cho Bảo Đại, Ngô Đình Diệm đã phải đối mặt với hai thácthức to lớn; thứ nhất, quyền lực của trung tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng quân đội quốc gia, người có tư tưởng thân Pháp và được lực lượng Pháp tại Việt Nam ủng hộ; thứ hai, các phe phái đối lập như giáo phái Cao đài, Hòa hảo và lực lượng Bình xuyên với lãnh địa rộng lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền Bảo Đại. Vì vậy, chỉ sau 3 tháng nhậm chức, chính phủ Ngô Đình Diệm đã rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng, có nguy cơ sụp đổ.Nhưng nhờ có sức mạnh của đồng đô – la rót từ chính phủ Mỹ, nhất là sự lèo lái trực tiếp của Lansdale và Fishel, chính phủ Diệm đã đứng vững. Các phe đối lập Diệm lần lượt bị triệt hạ. Trong những năm từ 1954 – 1959, Mỹ đã viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm khoảng 1,2 tỷ đô – la; khoảng 80% chi phí quân sự và 50% chi phí phi quân sự của chính phủ Diệm được Washington bao trả 7.

Dưới sự chỉ đạo của nhóm cố vấn Mỹ, Ngô Đình Diệm đã tổ chức “trưng cầu dân ý “ phế truất Bảo Đại (23 tháng 10 năm 1955), tổ chức tuyển cử riêng rẽ để lập quốc hội (4 tháng 3 năm 1956), ban hành hiến pháp, dựng lên chính thể Việt Nam Cộng hòa, cự tuyệt miền Bắc hiệp thương tuyển cử thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, Phái bộTrường Đại học Michigan còn ký với chính phủ Diệm một hợp đồng lớn về tổ chức và phát triển cơ quan an ninh, mật vụ cảnh sát8. Cho nên, từ 1956 – 1959 Fishel cùng nhóm khoảng 30 chuyên gia Đại học Michigan phụ trách Uỷ ban tư vấn đào tạo cán bộ, công chức hành chính, cảnh sát cho bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm . Fishel cũng giúp chính quyền Diệm tiến hành cải cách điền địa theo mô hình Philippines và Đài Loan9 Đến cuối 1959, về cơ bản, người Mỹ đã dựng lên ở miền Nam Việt Nam một chính phủ dân sự hợp hiến theo mô hình chính thể Mỹ. Nó được chính phủ Mỹ và đồng minh của họ công nhận là “quốc gia độc lập, dân chủ”, thuộc về thế giới tự do. Trong diễn văn đáp từ cho Phó Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson khi ông này viếng thăm Sài gòn tháng 5/1961, Ngô Đình Diệm đã nói “Biên giới của thế giới tự do chạy dài từ Alaska đến sông Bến Hải” 10

Tuy nhiên, mọi nỗ lực của người Mỹ chỉ đủ khoác lên chính phủ Ngô Đình Diệm một thứ dân chủ hình thức. Chính thể cộng hòa đã nhanh chóng biến thành chính thể gia đình trị. Anh em Diệm – Nhu cùng đảng Cần lao Nhân vị thao túng quyền lực ở trung ương, cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện) ngay từ năm 1957 đã bị họ quân sự hóa. Tính đến đầu năm 1963, trong số 44 tỉnh cả nước đã có 38 tỉnh trưởng là sỹ quan quân đội.

Song song với tình trạng quân sự hóa chính quyền là chính sách chống cộng, giết hại hàng nghìn tù chính trị trong vụ thảm sát tại nhà tù Phú lợi (tháng 12/1958). Tháng 5/1959 Diệm đã ban hành Luật chống cộng, giết hoặc bỏ tù bất kể ai bị nghi ngờ là cộng sản. Theo những khuyên bảo của cố vấn Mỹ, ông ta cũng xây dựng các “khu trù mật” “ấp chiến lược” nhằm tách quần chúng khỏi những người cộng sản.Cuối năm 1963, có gần 7000 ấp chiến lược được xây dựng, tập trung khoảng 8 triệu nông dân vào đó sinh sống. Ấp chiến lược là một hình thức quản thúc người dân, tước đi của họ hầu hết mọi quyền tự do tối thiểu.

Cùng với chính sách chống cộng là chính sách đàn áp các tôn giáo khác, nhất là Phật giáo, mặc dù là không có bằng chứng thuyết phục về sự ủng hộ của Phật giáo đối với người cộng sản. Những chính sách phát xít trên làm phẫn nộ nhiều chính phủ trên thế giới, kể cả Anh và Pháp. Tháng 2/1963, Thượng nghị sỹ Mansfield, người ủng hộ nhiệt thành Ngô Đình Diệm trước đây, đã đọc phúc trình trước Thượng viện Mỹ sau chuyến đi thực tế của 6

ông tại miền Nam Việt Nam, kết luận rằng “Điều rất đáng lo ngại là sau 7 năm theo chế độ cộng hòa, miền Nam Việt Nam lại còn bất ổn định hơn so với giai đoạn đầu, càng xa rời với bộ mặt một chính phủ xuất phát từ dân chúng”11.

Như vậy, toàn bộ những nỗ lực của chính phủ Mỹ nhằm xây dựng một chế độ cộng hòa dân chủ ở miền Nam Việt Nam thời Ngô Đình Diệm đã trở nên hão huyền. Đã đến lúc người Mỹ phải thay ngựa giữa đường. Tiếc rằng, lý do thay ngựa lại không phải vì mục tiêu thiết lập nền tự do dân chủ ở miền Nam Việt Nam. Dẫu sao, việc thay con bài Ngô Đình Diệm đã cho thấy chủ trương kết hợp chống cộng với xây dựng nền dân chủ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam bước đầu bị phá sản. 3. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – lần thử nghiệm thứ hai. Lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm, người Mỹ đã chính thức vứt bỏ sự thử nghiệm xây dựng chính quyền tay sai dân sự ở miền Nam Việt Nam theo mô hình “quốc qia dân chủ, độc lập” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của hệ thống cố vấn Mỹ. Họ chuyển sang một hình thức linh hoạt hơn là thiết lập một chính phủ bán dân sự mà thành phần cốt cán là những tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa. Là người cầm đầu cuộc đảo chính quân sự chống Diệm, tướng Dương Văn Minh được người Mỹ ủng hộ, đã được bổ nhiệm làm Quốc trưởng tháng 11/1963, đồng thời là chủ tịch “Hội đồng quân nhân cách mạng”. Hội đồng này nắm quyền lập pháp và hành pháp; nó chỉ định ra một chính phủ lâm thời do Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng, tuy nhiên, thành phần nội các chủ yếu là các sỹ quan cao cấp. Bên cạnh Chính phủ lâm thời còn có “Hội đồng nhân sỹ” 60 người do Trần Văn Lắm làm Chủ tịch.

Về hình thức, chế độ Dương Văn Minh là bước thụt lùi của dân chủ so với chế độ Ngô Đình Diệm. Nó đánh dấu một khuynh hướng quân sự hóa bộ máy nhà nước của Việt Nam Cộng hòa. Song, sự tồn tại của chế độ Dương Văn Minh chỉ kéo dài trong 3 tháng (từ tháng 11/1963 – đến 1/1964) cho thấy tính chất mong manh của một chính phủ bán dân sự ở miền Nam Việt Nam. Hình như người Mỹ hiểu được điều này nên đã để cho tướng Nguyễn Khánh tổ chức một cuộc đảo chính khác (30/1/1964) để lật đổ “Hội đồng quân nhân cách mạng”, thành lập một chính phủ mới mang màu sắc dân chủ hơn.

Chính phủ mới này, ngoài phái quân sự còn có Nguyễn Tôn Hoàng, lãnh tụ của phái Tân Đại việt. Ông là nhân vật thân Mỹ, được người Mỹ nhiều lần giới thiệu vào chính phủ Ngô Đình Diệm, nhưng bị Diệm từ chối. Lần này Nguyễn Tôn Hoàng được bổ nhiệm làm Phó thủ tướng thứ nhất12. Đảng Đại việt của ông sẽ thay thế đảng “Cần lao Nhân vị” của Ngô Đình Diệm, tạo ra một thể chế chính trị – quân sự song đôi trong chính phủ mới, giữ phần nào tính dân chủ hình thức cho chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Nhưng sự thử nghiệm hình thức chính phủ bán dân sự của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam là con dao hai lưỡi, không đảm bảo cho một chính thể dân chủ thực sự. Tướng Nguyễn Khánh đã từng nói câu nổi tiếng “Quân đội là cha quốc gia”, sự lạm quyền của khối tướng lãnh quân đội là điều khó tránh khỏi. Tháng 8/1964, chỉ sau 6 tháng đảo chính, Nguyễn Khánh đã phế truất Nguyễn Tôn Hoàng, tự công bố bản “Hiến chương Vũng Tàu”, một mình làm Chủ tịch Hội đồng quốc gia, Thủ tướng chính phủ và Tổng tư lệnh quân đội.

Hành động chuyên quyền của tướng Nguyễn Khánh đã gây nên làn sóng công phẫn trong nhiều tầng lớp xã hội. Không để cho đường lối độc tài quân sự của Nguyễn Khánh gây nguy cơ phá vỡ sự thể nghiệm xây dựng chính phủ bán dân sự của người Mỹ, họ đã buộc ông phải từ chức, hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu, thành lập “Tam đầu chế” gồm Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm để giải thể chế độ quân phiệt.

“Tam đầu chế” chỉ là bước quá độ để người Mỹ quay trở lại việc thiết lập một chính phủ bán dân sự mới. Từ tháng 10/1964 – 1/1965 người Mỹ đưa ê kíp mới là Phan Khắc Sửu (Quốc trưởng), Trần Văn Hương (Thủ tướng) lên làm bức bình phong dân chủ ; bên trong vẫn là các tướng lĩnh: Nguyễn Văn Thiệu (Phó thủ tướng), Trần Văn Minh (Tổng trương quân lực), Linh Quang Viên (Tổng trưởng Bộ chiến tranh tâm lý), Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Thanh niên).

Sau chính phủ của Trần Văn Hương lại đến chính phủ của Phan Huy Quát (từ tháng 2 – 6/1965). Phan Huy Quát thuộc phái Đại Việt miền Bắc, muốn hợp tác với một số nhân vật Quốc dân Đảng là Trần Văn Tuyến (Phó Thủ tướng), Nguyễn Hòa Hiệp (Tổng trưởng Nội vụ). Tuy nhiên, bản chất mong manh của một chính phủ bán dân sự chỉ cho phép nó tồn tại trng vòng 4 tháng. Tính ra Phan Huy Quát là chính phủ thứ 9 được thành lập, kể từ khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ.

4. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – lần thử nghiệm thứ ba.

Những chính phủ bán dân sự từ thời Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát đều là những bước thụt lùi về dân chủ nhưng vẫn đảm bảo tính chất chống cộng đầy đủ như chính phủ của Ngô Đình Diệm trước đây. Tuy nhiên, việc xây dựng những chính phủ bán dân sự như thế không đưa lại cho người Mỹ những kết quả mong muốn ; trái lại, làm hạn chế khả năng thực hiện các mục tiêu chống cộng, do sự bất ổn triền miên về chính trị ở miền Nam Việt Nam. Điều này giải thích vì sao người Mỹ quyết định vứt bỏ mô hình chính phủ bán dân sự để đi đến xây dựng một chính phủ quân sự thuần túy gồm những tướng lĩnh có lập trường chống cộng khét tiếng, đáp ứng mục tiêu của Mỹ lúc này là can thiệp mạnh mẽ vào miền Nam Việt Nam bằng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.

Sự kiện khởi đầu của sách lược xây dựng chính phủ quân sự ở miền Nam Việt Nam là cuộc đảo chính ngày 11/6/1965 do các tướng trẻ lưu manh Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thực hiện, lật đổ chính phủ dân sự Phan Huy Quát. Từ đây, con đường quân phiệt hóa chế độ Việt Nam Cộng hòa đã được xác lập.

Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1923 tại Ninh Thuận, một tỉnh miền Trung của Việt Nam. Ông từng là sỹ quan trong quân đội Liên hiệp Pháp. Từ 1955, Nguyễn Văn Thiệu gia nhập quân lực Việt Nam Cộng hòa và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội. Sau khi giải tán chính phủ bán dân sự Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Thiệu trở thành quốc trưởng, Nguyễn Cao Kỳ được bổ nhiệm làm thủ tướng chính phủ mới. Trái ngược với nền Đệ nhất Cộng hòa Ngô Đình Diệm, nền Đệ nhị Cộng hòa của Nguyễn Văn Thiệu là một chính phủ quân sự độc tài, nhưng, được sơn phết một cách hoàn hảo thứ độc lập và dân chủ giả hiệu.

Để khoác lên mình lớp áo “chính phủ dân sự”, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã tổ chức “Đại hội chính trị toàn quốc” (12/4/1966), sau đó thành lập “Uỷ ban lãnh đạo quốc gia mở rộng” và bầu cử “Quốc hội lập hiến” (tháng 8/1966). Thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu trở thành vị tổng thống của nền Đệ nhị Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1967 – 1975). Tình trạng quân sự hóa thành phần nội các chính phủ làm cho Phan Huy Quát, nguyên Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa đã phải thốt lên rằng “Công việc của họ (tướng lĩnh quân sự) là đánh nhau ở mặt trận, vậy mà họ nhào vào hết các lĩnh vực, làm tổng thống, phó tổng thống, làm thủ tướng, chiếm hết các ghế bộ trưởng, tỉnh trưởng. Ở miền Nam này chỉ có một đảng chính trị thôi, đó là đảng quân đội”13.

Cũng giống như Ngô Đình Diệm, trong quá trình tập trung quyền lực cá nhân, Nguyễn Văn Thiệu đã dần loại bỏ những lực lương đối lập, xây dựng một chế độ dựa trên lực lượng quân đội và cảnh sát, đưa cả miền Nam vào cuộc chiến chống cộng với quy mô chưa từng có. Để kiểm soát số dân cư khoảng 10 triệu sinh sống trên vùng đất thuộc chính quyền Sài gòn và phục vụ chiến tranh, Nguyễn Văn Thiệu xây dựng một lực lượng vũ trang hùng hậu gồm khoảng 1,1 triệu binh lính, 12 vạn cảnh sát. Ông bố trí các sỹ quan thân tín của mình vào tất cả các vị trí chủ chốt trong bộ máy hành chính và tư pháp ở các tỉnh, thành. Đầu năm 1973, với sắc luật số 60/72, ông tổ chức ra Đảng Dân chủ và xóa bỏ cùng lúc gần 30 đảng phái chính trị khác. Ông tăng cường quyền hành pháp cho mình bằng cách cải tổ nội các, đặt thêm các “Phủ tổng ủy”, “Văn phòng cố vấn đặc biệt” trực thuộc Phủ Tổng thống để tước bớt quyền hành của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Ngay trong quân đội, ở cương vị Tổng tư lệnh, Nguyễn Văn Thiệu bỏ qua vai trò Tổng tham mưu trưởng của tướng Cao Văn Viên, liên lạc trực tiếp với các quân khu qua hệ thống thông tin đặt tại Dinh Độc lập14. Như vậy, Ngô Đình Diệm thiết lập chế độ độc tài với cả một gia đình, còn Nguyễn Văn Thiệu – với chỉ một cá nhân.

5. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – nguyên nhân thất bại.

Mặc dù người Mỹ nhìn nhận vai trò quan trọng của Việt Nam như “hòn đá tảng của thế giới tự do ở Đông Nam Á”, có khả năng “cung cấp thứ dân chủ nền tảng tại Á châu”, nhưng thứ tự do, dân chủ mà người Mỹ tạo dựng ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn xa lạ với chính bản thân xã hội Mỹ. Tự do dân chủ ở đây không phải là mục tiêu, mà là phương tiện, là lý do để người Mỹ gây chiến tranh xâm lược, lừa gạt người dân Việt Nam, cộng đồng thế giới và cả người dân Mỹ.

Vì bản chất lừa gạt, nên người Mỹ rất khó khăn thực hiện mục tiêu xây dựng một quốc gia tự do dân chủ ở miền Nam Việt Nam, nhất là khi ý thức một dân tộc thống nhất đã được cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 và cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 chiếu sáng trong tâm khảm của tuyệt đại đa số người Việt Nam lúc bấy giờ. Trong điều kiện lịch sử như vậy, chiến lược chống cộng kết hợp với thiết lập nền dân chủ kiểu Mỹ là một sai lầm về chính trị. Kết quả, là chỉ tạo ra một loại chính phủ bù nhìn. Thứ chính phủ này luôn phải tự vật lộn trong mâu thuẫn sâu sắc giữa “độc lập” quốc gia và “lệ thuộc” ngoại bang, giữa “tự do, dân chủ” và “độc tài quân sự” để phục vụ chiến tranh đế quốc, đi ngược lại nguyện vọng hòa bình thống nhất nước nhà.

Trong mối quan hệ với mục tiêu chống cộng ở miền Nam Việt Nam, quân sự hóa hệ thống chính quyền là khuynh hướng tất yếu. Chỉ có quân sự hóa chính quyền miền Nam mới đáp ứng được những đòi hỏi của các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” “Chiến tranh cục bộ” hay “Việt Nam hóa chiến tranh” của người Mỹ. Rõ ràng chống cộng dẫn đến triệt tiêu dân chủ xã hội.

Có thể giai cấp tư sản và các đảng phái chính trị ở miền nam Việt Nam căn bản thống nhất với nhau về mục tiêu chống cộng, nhưng bị chia rẽ vì mục tiêu dân chủ. Số lượng đảng phái chính trị khá lớn, có thời kỳ lên tới hơn 100 tổ chức chính trị và tôn giáo. Họ bị cuốn vào vòng tranh đấu quyền lực cá nhân hoặc phe phái hơn là tranh đấu vì một nền dân chủ tư sản đích thực như ở phương Tây.

Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất làm sụp đổ mưu đồ chống cộng là cuộc đấu tranh anh dũng, bền bỉ của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền tay sai Sài Gòn. Ở Việt Nam, lập trường chống cộng thực chất là lập trường chống lại nhân dân, chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước. Các chế độ độc tài từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu,càng thực hiện những biện pháp chống cộng bao nhiêu thì càng trực tiếp đánh vào dân bấy nhiêu. Vì vậy, chính quyền Sài gòn bị mất dần cơ sở chính trị lẫn cơ sở xã hội. Họ trở thành một nhóm nhỏ đối lập với biển cả nhân dân, chỉ còn biết dựa vào những người Mỹ xâm lược; khi người Mỹ rút thì họ phải sụp đổ.

6. Thay lời kết luận

- Chống cộng kết hợp với xây dựng chế độ dân chủ kiểu Mỹ là hai mục tiêu chiến lược mà người Mỹ muốn thực hiện ở miền Nam Việt Nam. Nhưng trong quá trình thực hiện, mục tiêu chống cộng không thể nào đi cùng với mục tiêu dân chủ. Đã chống cộng thì không thể nào xây dựng được dân chủ.

- Song người Mỹ đã cố gắng lèo lái thực hiện hai mục tiêu chống cộng và dân chủ bằng cách thiết lập các chính phủ từ dân sự đến bán dân sự, sau cùng, chuyển sang chính phủ quân sự thuần túy. Dù là chính phủ kiểu nào, cũng chỉ là những chính phủ độc đoán, tính chất quân phiệt của chúng gia tăng cùng với diễn tiến can thiệp ngày càng sâu của người Mỹ vào công việc nội bộ Việt Nam.

- Mặc dù cố tình tạo ra thứ dân chủ giả hiệu cho chính quyền Sài gòn, nhưng từ sau năm 1965, vấn đề dân chủ hóa miền Nam Việt Nam không còn là mối quan tâm của người Mỹ nữa. Họ đã vứt bỏ thứ “quốc gia độc lập, dân chủ” của Việt Nam Cộng hòa, đổ quân xâm lược Việt Nam. Quá trình người Mỹ xây dựng nền dân chủ cho miền Nam Việt Nam thực sự là quá trình thiết lập các chính thể phát xít phản động, được mở đầu bằng chế độ Ngô Đình Diệm và kết thúc bằng chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

- Sự thất bại của chiến lược chống cộng và thiết lập chế độ dân chủ kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam bắt đầu từ chính những mâu thuẫn bên trong của chiến lược này. Trước tiên là người Mỹ không thể xây dựng được ở miền Nam Việt Nam một quốc gia độc lập mà không lệ thuộc Mỹ. Mặt khác, người Mỹ luôn cố gắng khoác cho các chính phủ phát xít hoặc quân phiệt của Việt Nam Cộng hòa chiếc áo dân chủ, giả hiệu như chính nền độc lập của nó ; từng buớc leo thang chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam. Họ đã quên những ý tưởng khôn ngoan mà Tổng thống Kennedy từng tuyên bố: “Chúng ta không có ý đồ mua lấy tình bạn của những người Việt Nam. Chúng ta không thể giành lấy trái tim họ bằng cách buộc họ phải phụ thuộc vào đôi tay chúng ta. Thứ mà chúng ta phải đưa ra cho họ là một cuộc cách mạng – cuộc cách mạng về chính trị, kinh tế, xã hội vượt xa với những gì mà những người cộng sản có thể đề xuất – hòa bình hơn nhiều, dân chủ hơn nhiều và kiểm soát cục bộ được hơn nhiều…”

———-

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

235.PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

240.NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ

———-

1 Jacques Soustelle, “ Indochina and Korea: One front”, Foreign Affairs 29.Oct 1950, pp.56 – 66.

2 Eisenhower Press Conference, 7 April 1954, in Foreign Relation of the United States, 1952 – 1954, vol 13. Indochina, pp.1280 – 81.

3 Gary R. Hess, Vietnam and the United States, Origins and Legacy of War. Twayne Publishers. An Imprint of Simon Schuster Macmillan, New York, pp. 56

4 Tường Hữu, Những điều ít được biết về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975. Nxb Công An, tr.249 – 55.

5 John Cooney, The American Pope : the Life and Time of Francis Cardinal Spellman. A Dellbook, New York.

6 William Conrad Gibbons, The US Government and the Vietnam War. Part II, 1961 – 1964. Princeton Univ Press, pp.5 – 6

7 Gary R. Hess, Vietnam and the United States, Origins and Legacy of War. Twayne Publishers. An Imprint of Simon Schuster Macmillan, New York, pp.60

8 Tường Hữu, Những điều ít được biết về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975. Nxb Công An, tr.267 – 68.

9 Tường Hữu, Những điều ít được biết về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975. Nxb Công An, tr.267 – 68.

10 www.wikipedia / Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.

11 Sđd, tr. 308.

12 Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Phông Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (phần chính trị, nội an, ngoại giao).

13 Tài liệu đã dẫn

14 www.wikipedia/ Đại tướng Việt Nam cộng hòa Cao Văn Viên.

Đăng trong Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử | Tagged: , | 3 phản hồi »

209.Ý kiến của Giám Đốc Hiệp Hội Báo chí ĐNA về việc bắt giữ LS Lê Công Định

Đăng bởi hoangtran204 on 21/06/2009

Asia Times Online - 

Chính Quyền Việt Nam bắt giữ một người

hay chõ mũi vào chuyện của kẻ khác

Roby Alampay

20-6- 2009

Người dịch : Trần Hoàng

Băng Cốc, Thái Lan – Trên bề mặt, chẳng có gì mới mẻ về cuộc bắt bớ một luật sư nổi tiếng của chính quyền Việt Nam hôm 13-6 vì các tội trạng luôn luôn thuộc về tuyên truyền chống lại nhà nước. Lê Công Định được giáo dục ở Mỹ – ông ta có một bằng cao học luật của Viện Đại Học Tulane (tiểu bang Louisiana) – và tham gia vào nhóm các luật sư quốc tế và các luật sư bênh vực cho nhân quyền và dân chủ.

Điều dễ hiểu nhất trong việc bắt giữ ông Định là dựa vào sự quan sát bình thường cho thấy rằng chính phủ Viêt nam đã quyết định và thực hiện việc bắt giữ (người) thêm lần nữa. Chính phủ đã và đang bắt giữ một người chịu ảnh hưởng của phương Tây đang đi rao giảng sự thay đổi. Việc bắt giữ ông Định là cọng thêm vào một danh sách của một nhóm 30 người bất đồng chính kiến, bao gồm các nghệ sĩ, các nhà hoạt động cho tôn giáo, các nhà văn mà Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nói rằng những người nầy đã và đang nhận được những bản án tù lâu năm kể từ năm 2006.

Tuy nhiên, điều quan tâm của quốc tế và bên trong nước về việc bắt ông Định thì ở trên một mức độ khác. Việc bắt giữ một nhân vật thường hay phát biểu thẳng thắn thì không phải là chuyện mới lạ gì. Những lời buộc tội chống lại ông Lê Công Định đang gây  khó khăn cho chính quyền vì một lý do liên quan đặc biệt tới thế đứng của ông ta trong xã hội Việt Nam, vị thế ấy là: ông Định không phải là một nhà bất đồng chính kiến.

Ông Định chỉ mới 41 tuổi và đã thành công, với việc hành nghề luật sư đang phát triển mạnh và lập gia đình với một hoa hậu, Ông Định có thể được xem như là một thành phần của nhóm cầm quyền. (vậy thì) Điều gì đã và đang làm ông tách xa (khỏi nhóm cầm quyền) thì không liên quan nhiều tới việc bênh vực công khai của ông ta dành cho sự đổi mới và cải cách, mà chính là niềm tin của ông ta vào các nguyên lý đã lựa chọn. Chính các nguyên lý tương tự đó đang làm cho những lời buộc tội chống lại ông ta không còn ý nghĩa nữa.

Ông Định đã và đang bênh vực rất nhiều cho dân chủ, và các quyền của người Việt Nam. Ông đã và đang đứng bên trong các giới hạn thuộc quyền của ông với tư cách là một luật sư ở Việt Nam. Khi ông biện hộ cho các blogger, các nhà văn và các nhà hoạt động nhân quyền, ông Định không viết hay dựa vào các quan điểm bên ngoài Việt Nam hay tổ chức các cuộc vận động bên trong nước.

Ông Định được biết đến vì lối nói chuyện đơn giản và rõ ràng của một luật sư, ông bàn cãi và thảo luận thuần túy từ những gì ở trong hiến pháp của Việt Nam. Sự biện hộ và bênh vực của ông là tuân thủ theo luật pháp.  Ông chỉ rõ rằng quyền phát biểu tự do được diễn đạt và được vinh danh một cách hiển nhiên ở trong hiến pháp, cùng với quyền tự do báo chí và tự do thành lập hội đoàn.

Nơi nào mà các nhà bất đồng chính kiến bắt bẻ rằng những bảo đảm hợp pháp dành cho quyền tự do diễn đạt tư tưởng là chỉ có trên danh nghĩa, con người luật sư ở trong ông Định được người ta biết làm việc với hàm ý đó, “ điều đó là hợp lý, tôi đồng ý là vậy, nhưng chúng ta có thể chịu đựng chuyện nầy đến đâu.”  Ông Định đã và đang bảo vệ các thân chủ của ông dựa trên cơ bản hợp lý tương tự mà qua đó các nhà báo và các blogger ở Việt Nam nói rằng sự thay đổi có thể, sẽ, và trên thực tế đang diễn ra rồi, bằng chứng là trên mạng internet.

Làn Sóng của sự Cởi Mở

Mặc cho các hạn chế, sàng lọc tin tức và ngăn chận các trang mạng, sự cởi mở đang phát triển trên mạng internet thì có thể nhìn thấy, nghe thấy, và nhận thấy được ở Việt Nam. Thông qua các blog và các phương thức mạng trực tuyến, những người Việt Nam  đang nói nhiều về các đề tài như tham nhũng, cải cách kinh tế và tôn giáo. Rõ ràng là vẫn còn có những biên giới, nhưng thật là chính xác đối với những ai đang tự họ vượt qua đường biên giới nầy (ý thức hay không có ý thức), ông Định trở nên được người ta biết đến như là một người đại diện cho tập thể ấy và ông là người đáng tin cậy.

Những gì mà các blogger và các nhà văn muốn tin vào internet, ông Định dường như đang cố gắng để chứng minh trong lãnh vực luật pháp. Ghi nhận sự đàn áp đã được hệ thống hóa của đảng Cộng sản đang nắm  quyền hành, sự cam kết của luật sư Định để làm việc từ bên trong hệ thống nầy  có tính chất vô giá và không dễ dàng gì để đạt được.

Tổ chức Giám sát Nhân Quyền (HRW) bênh vực cho các quyền của con người đóng ở Mỹ ghi nhận rằng “hầu hết các tù nhân chính trị và tù nhân các tôn giáo ở Việt Nam không có quyền tiếp xúc với các luật sư độc lập suốt thời gian xử án của họ”. Cùng lúc ấy, “Các luật sư nào khác tìm cách để bảo vệ cho các bị can (hoạt động cho nhân quyền của người Việt Nam và các nhà hoạt động cho tôn giáo) thì lại đối diện với sự hăm dọa và quấy nhiễu (của chính quyền).”

Tổ chức Giám sát Nhân Quyền (HRW) thuật lại trường hợp của “luật sư Bùi Kim Thành, bà ta bị chính quyền cưỡng chế và giam giữ  trong một bệnh viện tâm thần vào năm 2008 và năm 2006 bởi vì hành động bảo vệ của bà dành cho các nông dân tìm kiếm sự bồi thường vì  (nhà nước) tịch thu đất đai của họ” .

Ở mức độ nầy, ông Định không phải là người đầu tiên mà cũng không phải là người duy nhất đối diện với sự quấy nhiễu của chính quyền. Năm 2007, các thân chủ của ông Định là hai nhà luật sư quen biết (LS Đài và LS. Công Nhân), và ông Định đã biện hộ thành công để có được các bản án tù ngắn hơn sau khi hai luật sư nầy đã bị phạt tù trước đó vì tội “Tuyên truyền chống lại nhà nước”.

Ông Định trước đó đã thành công làm nhẹ các bản án tù cho các đồng nghiệp của ông, và đó là một loại chiến thắng có tính chất đạo đức đã hổ trợ cho ông Định. Nhưng đây là phiên tòa đang chờ đợi của chính ông – sự bắt giữ một người khác nổi tiếng nhất ở Việt Nam vì hay chõ mũi vào chuyện của người –  phiên tòa nầy đang nhấn mạnh tới sự thắng hay thua sau cùng (của ông).

Chính quyền Việt Nam cho rằng ông Định “đã lợi dụng công việc của ông ta với tư cách là một luật sư bảo vệ cho một số bọn phản động…để tuyên truyền chống lại chế độ và xuyên tạc luật pháp và hiến pháp của Việt Nam”.

Tổ chức Bảo vệ quyền Tự Do Truyền Thông ở Đông Nam Á (SAMLDN), một tổ chức của các nhà bảo vệ cho ngành truyền thông được độc lập của khu vực này, cho rằng Việt Nam đang hình sự hóa một cách hiệu quả sự bó buộc có tính chất nghề nghiệp của luật sư để biện hộ cho các thân chủ của ông Định. Bằng cách tuyên phạt những lời biện hộ của ông Định dành cho quyền tự do phát biểu ý kiến, bao gồm những ai đã lên tiếng biện hộ bên trong tòa án và bên trong quá trình thưa kiện, (khi làm thế) chính quyền đang quấy nhiễu nguyên cả khối luật gia và làm cho cả nước Việt Nam không còn có được sự bảo vệ nữa.

Không phải chỉ có người Việt Nam sẽ lo lắng. Việt Nam đang nhận lãnh trách nhiệm chủ tịch Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (7 nước) vào năm 2010, đúng vào lúc hiệp hội nầy đang lên lịch làm việc để đưa lên bàn họp lần cuối cùng về một dự án dành cho việc  thành lập một tổ chức về nhân quyền đang thành hình. Vì chưa có một nước nào có thể quyết định chuyện tổ chức nhân quyền đó sẽ là một hội đồng, một ủy hội, một tòa án, hay một bàn làm việc trong một văn phòng nho nhỏ, phương hướng và sự tiến bộ của tổ chức nhân quyền nầy phụ thuộc cao độ vào ước muốn chính trị.

Lối đối xử của chính quyền Việt Nam dành cho ông Định tiên đoán được ý kiến không ưa thích hay sự bất hạnh về khả năng phát triển và tính chất thực dụng của tổ chức nhân quyền ấy. Một số người cho rằng các động lực của việc bắt giữ ông Định có thể không nhất thiết đưa ra tín hiệu về một sự thắt chặt có tính chất trừng phạt trên toàn cả nước VN, mặc dù việc bắt giữ vào tuần nầy ba nhà hoạt động dân chủ bị cáo buộc về việc bí mật hành động để hợp tác với ông Định đang dương cao ngọn cờ đỏ báo động (về chuyện thắt chặt ấy).

Người ta ngờ rằng các tội chống lại ông Định có nguyên nhân chính trị. Đối với mọi người ông Định đã và đang giúp đỡ — cho quyền của những người nông dân, một sự thách thức đối với việc khai thác mỏ, các khẳng định của Việt Nam về các hòn đảo đang tranh chấp với Trung Quốc, và nhiều vấn đề khác nữa – người ta cho rằng ông Định có nhiều kẻ thù ở nhiều lãnh vực.

Mọi việc đều không đổi, tất cả đều do trách nhiệm một phần nào đó của hệ thống luật pháp không được mang ra thi hành chức năng và  lợi dụng làm phương hại tới cả nước Việt Nam – và khu vực nầy—đã làm nhơ nhuốc và tàn hại quyền tự do ngôn luận và làm nhơ bẩn các báo cáo về nhân quyền.

Bất luận trường hợp nào, người Việt Nam sẽ mất đi một người đàn ông, một người đã từng khăng khăng, cố gắng để thúc đẩy cho một sự thay đổi bên trong chế độ. Giờ đây chính ông đang cần có một luật sư, những triển vọng dành cho mọi người mà ông Định đã đứng lên và tranh đấu ở Việt Nam đã trở thành không còn chắc chắn nữa.


Roby Alampay là giám đốc của Hiệp Hội Báo Chí  Đông Nam Á


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

————

Vietnam arrests a pragmatist
By Roby Alampay

BANGKOK – On the surface, there is nothing new about Vietnam’s arrest on June 13 of a prominent lawyer for the usual charges of spreading anti-state propaganda. Le Cong Dinh is American-educated – he obtained has a master’s degree in law from Tulane University – and well-networked with international lawyers and human rights and pro-democracy advocates.

The easiest insight into his arrest is the plain observation that Vietnam has gone and done it again. They’ve arrested a Western-influenced change-monger, adding to some 30 deemed dissidents, including artists, religious activists, writers, that Amnesty International says have received long prison sentences since 2006.

The national and international concern over Dinh’s arrest, however, is quite on another level. The attack on a man so vocal is nothing new. The charges against Le Cong Dinh are troubling for a reason peculiar to his standing in Vietnamese society, which is this: he is not a dissident.

Still only 41 and already successful, with a thriving law practice and married to a beauty queen, Dinh may well be considered part of the ruling establishment. What has set him apart is not so much his open advocacy for reform, but his faith in his chosen platform. It is the same platform that makes the charges against him preposterous.

For as much as Dinh has advocated for democracy, and the rights of Vietnamese, he has stayed well within his prescribed boundaries as a lawyer in Vietnam. When he defends bloggers, writers and human-rights activists he does not write from outside Vietnam or organize campaigns from within the country.

He is known for speaking plainly as a lawyer, arguing purely from what is within the Vietnam constitution. His advocacy, if anything, is for the rule of law. He points out that free expression is stated and ostensibly valued in the constitution, along with press freedom and freedom of assembly.

Where dissidents carp that the legal guarantees for free expression are nominal at best, the lawyer in Dinh is known to have worked with the implicit message, “Fair enough, but let’s see how far we can take this.” He has defended clients on the same premise by which journalists and bloggers in Vietnam say that change can, will, and in fact already does, manifest on the Internet.

Tide of openness
Despite restrictions, filtering and the blocking of websites, the growing openness of the Internet is palpable in Vietnam. Through blogs and other online platforms, Vietnamese are more vocal about topics such as corruption, economic reform and religion. Clearly there are still boundaries, but it is precisely for those who find themselves having crossed the line (wittingly or otherwise) that Dinh became known as a collected and confident representative.

What bloggers and writers want to believe about the Internet, Dinh has seemingly tried to prove within the legal sector. Given the ruling Communist Party’s institutionalized suppression, Dinh’s commitment to work from within the system is invaluable and is not easy to come by.

United States-based rights advocacy group Human Rights Watch (HRW) notes that “most political and religious prisoners in Vietnam do not have access to independent legal counsel during their trials”. Meanwhile, “Other lawyers seeking to defend Vietnamese human-rights defenders and religious freedom activists have faced threats and harassment.”

HRW cites the case of “Bui Kim Thanh, who was involuntarily committed to a mental institution in 2008 and 2006 because of her defense of farmers seeking redress for confiscation of their land”.

On this level, Dinh is neither the first nor the only person facing harassment. In 2007, his clients were two fellow lawyers for whom he successfully pleaded shorter sentences after they had also been effectively penalized for “propagandizing against the state”.

That he had managed to at least shorten the prison terms for his colleagues was the kind of moral victory that sustained Dinh. But it is his own pending trial – the arrest of the most famous pragmatist in Vietnam – that underscores what is finally at stake. The government says Dinh “took advantage of his work as a defense lawyer for a number of reactionaries … to propagandize against the regime and distort Vietnam’s constitution and laws”.

The Southeast Asia Media Legal Defense Network, a network of independent media defenders from around the region, says Vietnam is effectively criminalizing the lawyer’s professional obligation to defend his clients. By penalizing his arguments for free expression, including those uttered within the boundaries of the court and in the course of litigation, they are harassing the whole legal sector and leaving the nation defenseless.

It is not just the Vietnamese who should be worried. Vietnam takes over the chairmanship of the Association of Southeast Asian Nations in 2010, just as the body is scheduled to finally table terms of reference for the formation of a still nebulous human-rights body. Because nobody can yet say whether that “body” will ultimately be a council, a committee, a court, or a desk in some cubicle, its direction and momentum are highly dependent on political will.

The Vietnamese government’s treatment of Dinh augurs ill for the viability of the human-rights body. Some say the motives for Dinh’s arrest may not necessarily signal a wider state-sanctioned clampdown, though the arrest this week of three pro-democracy activists accused of colluding with Dinh raises red flags.

There is speculation that the charges against Dinh are politically motivated. For all he has espoused – farmers’ rights, a challenge to mining operations, Vietnam’s claims over disputed islands with China, among others – he is known to have enemies in many arenas. All the same, it all still redounds to a compromised legal system further exploited at the expense of Vietnam’s – and the region’s – already tarnished free speech and human-rights records.

Whatever the case, Vietnamese will lose one man who was stubborn enough to push for change within the system. Now that it is he who needs a lawyer, the prospects for all he has stood and fought for in Vietnam have become all the more dubious.

Roby Alampay is executive director of the Southeast Asian Press Alliance.

Đăng trong Blog/Báo, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 4 phản hồi »