BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Điểm sách’ Category

432. Những sự kiện dẫn tới sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 12/01/2010

Các tù binh Pháp bị Việt Minh áp giải ra khỏi Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng Bảy năm 1954

California Literaly Review

Những sự kiện dẫn tới

Sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam

Rufus Phillips

Ngày 30-10-2008


Hoa Kỳ đã tung các điệp viên OSS nhảy dù xuống miền bắc Việt Nam từ năm 1945, trước khi kết thúc cuộc Đệ nhị Thế chiến ở châu Á. Sự trợ giúp đã được giành cho phong trào kháng chiến của Việt Nam để chống lại Nhật Bản, chủ yếu cho hoạt động của mặt trận dân tộc chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Tuy nhiên, sự tham dự đáng kể của Hoa Kỳ đã không bắt đầu liền lúc ấy mà cho mãi về sau đó.

Năm 1949, Trung Quốc rơi vào tay những người Cộng sản. Cuộc Chiến tranh Lạnh đã lên tới đỉnh điểm của nó tại Âu châu, với cuộc Không Vận Berlin * đang được thực kiện và Hoa Kỳ đang cố gắng hết sức để hàn gắn Tây Âu vào một hiệp ước phòng thủ chung. Nằm trong số các mối quan tâm chủ yếu là Pháp và Ý, hai nước có các đảng Cộng sản hoạt động mạnh mẽ ở bên trong. Pháp đã quay lại Đông Dương năm 1945 để xác nhận lại quyền kiểm soát thuộc địa và bị sa lầy vào một cuộc chiến quân sự thu hút số lượng binh lính gia tăng chưa từng thấy để chống lại phong trào Việt Minh đang bị Cộng sản kiểm soát. Để giúp đỡ cho đồng minh Pháp của mình chống lại những người Cộng sản ở Âu châu, Tổng thống Truman đã chịu áp lực ngày càng tăng để cung cấp sự trợ giúp quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Hơn nữa, sự sụp đổ của Trung Hoa Quốc Gia năm 1949 làm cho tình hình có vẻ như toàn bộ Đông nam Á có thể sẽ đi theo con đường tương tự, bắt đầu với những quốc gia Đông Dương: Việt Nam, Cambodia và Lào. Kết quả là vào tháng Ba năm 1950, Tổng thống Truman đã phê chuẩn một chương trình viện trợ quân sự đầu tiên mười lăm triệu đô la cho Đông Dương và Thái Lan, với hầu hết số viện trợ được gửi tới trực tiếp cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Sự dính líu của người Mỹ chúng ta đã có một bước tiến quan trọng.

Vào đầu năm 1954, sau chín năm chiến đấu, tương lai của Đông Dương đã ở trong tình cảnh nguy kịch. Cuộc chiến của Pháp chống lại Việt Minh đang diễn ra không thuận lợi. Một kế hoạch để ngăn chặn Việt Minh chiếm lấy Lào bằng cách tạo ra một vị trí cố thủ trong thung lũng Điện Biên Phủ phía bắc Việt Nam, để khóa tuyến đường xâm chiếm chính của quân đội Việt Minh và nhử họ vào một cuộc đối đầu có tính quyết định với hỏa lực vượt trội của người Pháp, đã chứng tỏ một thất bại thê thảm.

Mùa Xuân năm 1954, xuất hiện khả năng người Pháp có thể thất bại tại trận địa Điện Biên Phủ, làm cho việc trợ giúp Pháp trong cuộc chiến tranh cũng chấm dứt. Các giới chức bên trong Chính phủ của Eisenhower đã trở nên mất bình tĩnh. Câu hỏi vào lúc ấy là liệu Hoa Kỳ có nên trực tiếp can thiệp giúp bằng quân sự để tránh một cuộc thất bại của Pháp hay không? Tuy nhiên, Tổng thống Eisenhower đã mạnh mẽ chống lại ý niệm can thiệp trực tiếp bằng binh lính hoặc các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.

Thậm chí trước khi tai hoạ lờ mờ hiện ra ở Điện Biên Phủ, sức ép công luận Pháp đã gia tăng đòi kết thúc cuộc chiến, đưa đến kết quả người Pháp hoan nghênh một hội nghị quốc tế về Đông Dương để tìm kiếm một sự kết thúc xung đột qua đàm phán. Hội nghị Geneva bắt đầu vào ngày 26 tháng Tư năm 1954, với Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tư cách là những các Cường Quốc tham gia cùng với Việt Minh và Chính phủ Việt Nam (do ông Bảo Đại đứng đầu) cũng như các quốc gia Lào và Cambodia. Vào ngày 7 tháng Năm, 11 ngày sau đó, Điện Biên Phủ rơi vào tay lực lượng Việt Minh của Tướng Võ Nguyên Giáp, giật khỏi tay người Pháp bất cứ điều kiện nhượng bộ nào mà họ có thể đòi hỏi.

Sau khi tờ nhật báo Le Journal d’Extreme Orient ở Sài Gòn, ngày 4 tháng Năm năm 1954, đăng một lời tuyên bố của Tổng ủy Pháp, Maurice Dejean, rằng không có “ý định” chia cắt Việt Nam, tách Việt Nam ra làm hai vùng lãnh thổ vào tháng Sáu, tâm điểm của những cuộc thảo luận bí mật giữa người Pháp và Việt Minh. Trong lúc thành phần chủ yếu của các lực lượng Việt Minh chính quy đang ở miền Bắc, thì các lực lượng hỗn hợp Pháp Việt thực ra đã kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ cả ở phía Bắc cũng như phía Nam. Hơn nữa, một phần quan trọng dân cư ở miền Bắc là người Thiên chúa giáo, đã kiên quyết chống lại Việt Minh và chắc chắn là mục tiêu cho một cuộc trả thù.

Trong lúc người Pháp bí mật thương lượng với Việt Minh, những người Việt Nam không phải cộng sản bị bỏ rơi trong bóng tối cho tới khi thỏa thuận được thi hành. Khi hội nghị diễn ra đều đều tẻ nhạt trong tháng Sáu thì một khuôn khổ thỏa thuận không chính thức đã đạt được ở hậu trường. Việt Nam sẽ bị chia cắt từ vĩ tuyến 17, các lực lượng của Pháp và đồng minh Việt Nam của họ sẽ tản cư khỏi miền Bắc rồi tập hợp tại miền Nam, và các lực lượng Việt Minh sẽ tản cư từ miền Nam ra miền Bắc, tất cả hoạt động này được hoàn tất vào tháng Năm năm 1955. Một Uỷ ban Kiểm soát Quốc tế, gồm có Ba Lan, Ấn Độ và Canada, giám sát việc thực hiện những điều khoản của Hiệp định Ngừng bắn tại ba Nước Liên hiệp Đông Dương. Trong một nghị định thư không được ký kết tại Geneva, các cuộc bầu cử quốc gia, diễn ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, dự định được tổ chức trong vòng hai năm sau khi kết thúc hội nghị. Chính phủ Eisenhower có quan điểm bên trong nội bộ coi [hiệp định] Geneva như là một tai hoạ. Đặc biệt làm trầm trọng thêm là sự thất bại của người Pháp trong việc huấn luyện nhiều hơn cho những binh lính người Việt và sớm tạo sự độc lập thực sự cho những người Việt Nam không cộng sản. Trong khi ông Bảo Đại trị vì với tư cách Hoàng đế từ tận vùng Riviera (nước Pháp), thì hệ thống cai trị của ông như là một thành viên của Liên hiệp Pháp vẫn không có được điều kiện độc lập thực sự. Quân đội Việt Nam chưa bao giờ hoàn toàn tự mình hành quân tác chiến và đã phải phụ thuộc hết vào sự hỗ trợ hậu cần của người Pháp.

Người Việt Nam không theo cộng sản đã rơi vào tình trạng cực kỳ choáng váng, chán nản và giận dữ. Căn cứ vào môi trường chính trị ở miền Nam, một cuộc tiếp quản của Cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong vòng hai năm, hoặc thậm chí ít hơn, có vẻ như không thể nào tránh khỏi. Ngoài những khái niệm mập mờ là bằng cách nào đó tập hợp được người Việt Nam ở miền Nam và những kế hoạch không rõ ràng cho việc cài cắm các nhân viên đặc vụ ngầm ở lại ngoài Bắc để hướng dẫn cuộc chiến tranh du kích chống lại Việt Minh, Hoa Kỳ đã có chút ít kế hoạch là làm thế nào để tránh một cuộc tiếp quản hoàn toàn của Cộng sản.

Như một giải pháp tuyệt vọng, Đại tá Edward G. Lansdale, khi đó đã được chỉ định làm cho Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), được gọi trở lại vào tháng Một năm 1954, khi sự bất hòa đối với người Pháp đã kéo dài thêm, nếu như ông ta đến Việt Nam chỉ để làm cái trò “ảo thuật” giống như ông đã từng làm ở Philippines. Ở đó, trong vai trò một cố vấn, ông đã giúp người Philippines đánh bại những người Huk ** cộng sản và bầu Ramon Magsaysay với tư cách là Tổng thống trong một cuộc bầu cử không có gian lận. Quyết định cử ông tới Việt Nam là một hành động kết hợp bởi Ngoại trưởng John Foster Duller, anh trai ông ta là Allen Dulles, Giám đốc CIA, và Tổng trưởng Quốc phòng. Tướng John “Iron Mike” O’ Daniel, đứng đầu nhóm cố vấn quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MAG) và Đại sứ Donald Heath, cũng đề cử ông.

Khi Ngoại trưởng Dulles nói cho Lansdale biết rằng Tổng thống Eisenhower muốn ông nhận nhiệm vụ này, Lansdale đã trả lời là ông sẽ đi, song chỉ là để giúp cho người Việt Nam thôi, chứ không phải cho người Pháp. Đó là kế hoạch hành động, ông được truyền đạt như vậy. Điều này đã trở thành một nền tảng quan trọng cho nhiệm vụ của ông, thứ đã chi phối, trong một thời gian ngắn, đối với tiến trình lịch sử. Nó cũng làm thay đổi đường đời của tôi và đến cả những người khác nữa. Lansdale đã không nhận những chỉ thị để tới Việt Nam cho đến hết tháng Năm khi kết quả của hiệp định Geneva đã rõ ràng. Những chỉ thị này đã chấm dứt với một câu viết mang tính riêng tư khác thường là “Chúa trời ban phúc cho anh” từ Allen Dulles. Lansdale đã tới Sài Gòn vào ngày 1 tháng Sáu năm 1954. Sau khi đặt chân xuống đất, Lansdale đã yêu cầu có một nhóm để trợ giúp mình, được biết tới như là Phái bộ Quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission). Cơ quan này có hai mục đích đáng chú ý: ngăn chặn người Bắc Việt Nam xâm chiếm miền Nam và chuẩn bị trụ lại kháng chiến ở miền Bắc và tại miền Nam trong trường hợp các lực lượng ở đây sụp đổ.

Trước khi người Pháp đặt chân tới vào nửa cuối Thế kỷ 19, toàn bộ Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền với một ngôn ngữ chung và một lịch sử tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của Trung Hoa trong Thế kỷ 14. Sau các cuộc chiến qua nhiều triều đại giữa các vùng lãnh thổ, Hoàng đế Gia Long của Triều Nguyễn đã thống nhất đất nước vào năm 1802. Hoàng đế Bảo Đại đại diện cho thế hệ thứ 13 của triều đại này.

Sau khi Pháp hứa nhưng không bao giờ chịu trao quyền độc lập cho Việt Nam, trong một chuỗi những thỏa thuận liên tiếp bắt đầu vào năm 1948, họ đã bỏ lại nửa phía bắc của nước này cho Việt Minh trong khi vẫn kiểm soát một cách hiệu quả nửa phần còn lại. Họ đã phát hành đồng tiền Việt Nam và điều hành ngân hàng quốc gia của mình, quản lý những ngành dịch vụ công cộng như điện nước, hướng dẫn trên thực tế quân đội và cảnh sát quốc gia, chỉ có nguồn xăng dầu cho xe cộ và các máy bay là thuộc về Liên Đoàn Công Binh của người Pháp. Giới lãnh đạo nước Pháp thì bị tiêm nhiễm với huyền thoại tự cho là đúng rằng người Việt Nam sẽ không chịu chiến đấu và Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia nên Ngoại trưởng Pháp Bidault đã long trọng tuyên bố với Ngoại trưởng Dulles vào tháng Tư năm 1954, rằng “Sự độc lập không phải là yếu tố then chốt để đưa tới lòng can đảm. Việt Nam đã là một quốc gia, là nước, mà trong 1.500 năm qua, chưa bao giờ có bất cứ chủ quyền nào.”

Với thái độ miễn cưỡng đầy giận dữ, Cao ủy Pháp đã không dọn đi khỏi Dinh Norodom ở Sài Gòn cho tới tháng Chín năm 1954 để nhường chỗ cho kẻ chiếm đóng mới, Thủ tướng Ngô Đình Diệm, người đã tới đây từ tháng Bảy. Được Bảo Đại bổ nhiệm như là một hy vọng cuối cùng cho Nam Việt Nam, ông Diệm được nhiều quan chức Mỹ xem như là một nhân vật tầm thường với ít cơ may để tạo nên sự ủng hộ của dân chúng. Đi tới những phạm vi quanh quan điểm của người Mỹ là những cách nhìn nhận của Tòa đại sứ Mỹ tại Paris rằng ông Diệm là “một nhân vật thần bí như đạo sĩ Yoga … ông xuất hiện quá thanh tao và chất phác để có khả năng đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng và những kẻ vô liểm sỉ mà ông sẽ bắt gặp ở Sài Gòn.” Ông Diệm đã nhận thấy bản thân mình chẳng khác gì một tù nhân trong Dinh Gia Long, nơi ông được đưa vào chức vụ lúc ban đầu. Lúc đó, lực lượng canh gác dinh thự của ông được cung cấp bởi Cảnh sát Quốc gia là cơ quan lần lượt bị kiểm soát bởi Bình Xuyên, một nhóm giang hồ với quân đội riêng được người Pháp chu cấp và hoạt động bằng cách tống tiền.

Một thuật ngữ Pháp được ưa chuộng để miêu tả Nam Việt Nam sau hiệp định Geneva là một “panier de crabes” (cái giỏ cua). Người Pháp và người Mỹ đã bất hòa là do sự cạnh tranh các quyền lợi. Người Việt Nam bị chia rẽ giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Hoàng đế Bảo Đại, các giáo phái gồm Cao Đài và Hòa Hảo, nhóm giang hồ Bình Xuyên và Quân đội Việt Nam, cũng như nhiều đảng phái chính trị bị hất cẳng từ miền Bắc (Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt) và số người tị nạn chạy trốn từ miền Bắc. Trong nhiều năm, người Pháp đã chơi trò chia để trị nhằm làm cho nhiều nhóm phái người Việt ít tin tưởng lẫn nhau. Câu hỏi trong tâm trí người Mỹ là làm sao có một quốc gia nào hoặc một chính phủ đoàn kết nào bị xiết chặt như vậy mà có thể vặn mình thoát khỏi tình trạng hỗn loạn này?

***

Bài trên trích từ đoạn Mở đầu của cuốn “Why Vietnam Matters” với sự cho phép của nhà xuất bản Naval Institute Press.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* The Berlin Air Lift (Cuộc Không Vận Berlin): bắt đầu bằng Cuộc Phong tỏa Berlin (The Berlin Blockage), từ ngày 24-6 đến ngày 11-5-1949, là một trong những khủng hoảng nghiêm trọng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Lạnh lúc mới nổ ra. Nó bắt đầu khi những Liên Xô phông tỏa tuyến đường sắt và đường bộ từ ba cường quốc phương Tây là Mỹ, Anh và Pháp tới phần phía Tây của thành phố Berlin do phương Tây chiếm đóng… Sau đó Mỹ và đồng minh phương Tây phải lập cầu hàng không để tiếp vận cho Tây Berlin … (answer.com).

** Huk: hoạt động du kích do Cộng sản cầm đầu ở Philippines, được triển khai trong thời gian diễn ra cuộc Đệ nhị Thế chiến khi du kích quân có vũ trang chống lại người Nhật … (answer.com)

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Việt, Điểm sách | Tagged: , , , , | 1 Comment »

417. Điểm sách: OSS và HỒ CHÍ MINH

Đăng bởi anhbasam on 02/01/2010

OSS và HỒ CHÍ MINH

Đồng minh bất ngờ trong

cuộc chiến chống phát xít Nhật

Cuốn sách nầy cùng một cuốn nữa (Why Viet Nam – Tại sao lại là Việt Nam) là những thứ rất cần cho ta nhìn lại cái bi kịch của Dân tộc, dường như luôn bị lỡ những “chuyến tàu” đi cùng với bè bạn bốn phương, để rồi nay bị anh “bạn” phương Bắc lấn lướt mà cắc cớ khó làm cho người bạn nào khác tin là mình thật lòng làm bạn với bốn phương, để đặng dang tay giúp đỡ, phần vì kẻ ức hiếp lại là “anh em môi răng” với mình. “Ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đau quá!

Tại sao cứ phải cố giấu đi, làm sai lệch nhiều sự thực lịch sử vô cùng quan trọng liên quan tới vận mệnh, tương lai Dân tộc? Đọc cuốn sách nầy, bà con sẽ thấy một phần.

Trong sử “chính thống” cũng như tài liệu về Hồ Chí Minh, chưa bao giờ các sử gia nói tới chuyện ổng đã từng có những quan điểm tương đồng, những mối quan hệ gần gũi, hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ của người Mỹ ra sao. Gần như duy nhứt có tình tiết ổng trích một đoạn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, hoặc gần đây đôi ba bài báo thận trọng đưa ra vài thông tin “tham khảo” … Nhưng chuyện này vẫn vô cùng là bí ẩn, nên mới từng có tổng biên tập một tờ báo danh tiếng bị mất chức vì dám … rờ tới sự thật lịch sử liên quan tới lãnh tụ. Đến cả chuyện mới nữa là người ta bỏ tiền sao chép,mua rất nhiều tài liệu về  HCM lưu trữ bên Nga, vậy mà mấy năm qua rồi hổng thấy có công bố ra hết cho nhân dân biết mà mừng (vì được biết sự thực), nhân dịp đợt học tập dài dài tấm gương đạo đức nữa chớ (sao không ai nêu tấm gương ổng kiên trì chịu đựng khi bị cái ông Sít-ta-lin trù ẻo bảy tám năm trời bên đó?)

Tui xin tóm lược cuốn sách, là thời Thế chiến thứ hai, khi HCM đang hoạt động ở bên Nga-Sô, sau đó là Tàu, tình hình thế giới và trong nước cực kỳ phức tạp. Mỹ tuy là đồng minh với tụi Tây thực dân nhưng lại rất chống chánh sách thực dân của Anh, Pháp, Hòa Lan. Những người kháng chiến Việt Nam tuy chống Tây đô hộ nhưng lại là “đồng minh” với Tây và nhiều nước chống phát xít Đức, I-ta-li, Nhựt Bổn. Anh chàng Nga-Sô tuy là đồng minh với Mỹ, nhưng lại là cộng sản-tử thù với phe tư bổn Mỹ. Ảnh cũng hổng tin gì cái lực lượng kháng chiến Việt Nam của HCM, vì ảnh xét lý lịch, ngó bộ ổng khoái lo giải phóng Dân tộc mình là chính chớ không mấy mặn mà cái vụ “giải phóng toàn nhơn loại” (nay càng thấy tào lao quá trời rồi – ổng tài quá há?) Thêm nữa ổng cũng từng bị đì bảy tám năm bên “thành trì XHCN” rồi, nên mới tính chuyện bắt tay với anh Mẽo hay hơn. Nhưng Mẽo bị cắc cớ, tuy chống thực dân nhưng cũng không muốn mất lòng ông bạn Tây thực dân, cần chung lưng chống phát xít và cộng sản, lại vừa nghi ngờ HCM là cộng sản gộc, mà trong nội bộ cũng có hai phe (phe bênh HCM, phe chống). “Đen” cho ta nữa, là Tổng thống Mỹ Roosevelt, người hăng hái chống chủ nghĩa đế quốc-thực dân Pháp nhứt thì lại mất sớm đúng vô lúc quan trọng. Ổng từng có nhiều động thái và tuyên bố có lợi cho nền độc lập hoặc “uỷ trị quốc tế” của Việt Nam, như “Đông Dương không thể quay lại với Pháp”, “… Đông Dương nên được lấy khỏi tay người Pháp và đặt dưới sự ủy trị quốc tế”. Hay trong một giác thư gởi cho ngoại trưởng Cordell Hull, ổng viết ”Hơn một năm qua tôi đã bày tỏ quan điểm rằng, Đông Dương không nên trở lại với người Pháp mà nên được quản lý bởi một cơ quan ủy trị quốc tế. Pháp đã chiếm nước này – 30 triệu dân – trong gần 100 năm, và lúc này người dân nghèo khổ hơn giai đoạn đầu … Trường hợp Đông Dương hoàn toàn rõ ràng. Pháp đã bòn rút nơi này 100 năm. Người dân Đông Dương có quyền hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”(trang 75). Đương nhiên lý do ông này chống Pháp cai trị tiếp xứ này còn nhiều, đọc vô sẽ thấy hấp dẫn vô cùng.

Chưa hết cực cho ông già. Đó là trong nước nhiều lãnh tụ cộng sản ít được “đi đây đi đó” như ổng, lại sớm được đưa vô “lò luyện” của “thành trì XHCN”, nên cái đầu cách mạng nó “nóng” quá, vậy là các cha nội này cũng coi ổng là người không “kiên định lập trường” … Còn nữa. Đó là nhiều đảng phái không phải “cộng sản” cũng kháng chiến chống Tây đô hộ, họ cũng có thế lắm chớ bộ. Vậy là vô cùng khó nếu như muốn có “ngọn cờ” đoàn kết các lực lượng kháng chiến trong nước, đồng thời tranh thủ Mẽo, Nga-Sô, … Nhưng thiệt kỳ lạ, ông Hồ Chí Minh ổng ra chiêu hợp tác, nhận cung cấp tin tức tình báo cho cơ quan tình báo Mẽo OSS (tiền thân của Xịa CIA ngày nay) cùng đồng minh chống phát xít. Có cái chưn đó rồi, ổng dựa vô, tận dụng cái “mác” có cao bồi Mẽo sau lưng. Trời đất, bữa ổng từ bên Tàu về nước sau bao nhiêu năm phiêu bạt, rồi từ Tân Trào về Hà Nội, đều có Mẽo mắt xanh súng ống, điện đài … ngon lành đi theo “hộ tống”, ổng còn thủ bức hình chụp chung tới tướng Mẽo Claire Chennault chỉ huy Không đoàn Cọp Bay 14 khét tiếng, đem ra nhá nhá … làm các “đàn em” trong nước ngó xanh le mắt, theo rần rần, khỏi thắc mắc chi cho mệt. Vì hồi đó cả thế giới kính nể anh cao bồi Mẽo nầy dễ sợ luôn.

Nhưng rồi làm sao mà sau đó ta hổng thân với Mẽo nữa? Rồi còn uýnh nhau te tua …, theo hai anh Nga, Tàu rồi “khánh kiệt”. Thiệt là bi kịch lịch sử. Nhìn vô đó mà rút kinh nghiệm cho ngày nay, mai sau. Xin bà con đọc hết mới rõ được.

Và trong những ngày sục sôi chuyện anh “bạn 16 chữ vàng” xâm lấn đảo này, ta càng thấy cần suy ngẫm kỹ chuyện cũ để rút ra bài học kinh nghiệm, biết tìm bạn mà chơi, biết cách “chơi” ra sao cho bạn tin. Riêng Ba Sàm tui còn liều đưa ra cái ngu ý là nay ta học tập tấm gương HCM, vậy nên học ngay cái cách chơi với Mẽo mà hạn chế bớt anh Tàu hay ức hiếp đi. Thời đó nhiều cái khó khăn, nên ổng mới hổng đi tới được với Mẽo, còn ngày nay thời thế thuận lợi quá trời rồi … Uở, nhưng hổng còn “ông cụ” nữa ? … Còn lại mấy “ông kẹ” giờ thì … bà con biết rồi. Tui chào thua!

À, chút xíu quên! Còn cái lý do là làm sao người ta hổng muốn nói tới cái màn hợp tác thân thiện này với anh Mẽo, để tới giờ mới nhín nhín đưa ra? Hiểu dễ ợt. Đó là nhiều năm sau, vì cái trớ trêu của lịch sử buộc ta phải uýnh nhau với Mẽo, dzậy mà nếu “ca” là từng thân với nó, tổng thống của nó chống chánh sách thực dân, đấu tranh cho tự do … thì còn ra cái gì nữa. Phải chưởi, nói xấu nó tới số đi chớ ! Rồi ta theo “thành trì XHCN”, còn Mẽo là “thành trì TBCN”, vậy mà kể ra là ta từng thân thiết với kẻ thù thì coi như ta “phản bội” chớ còn chi nữa. Nhứt là đã từng tuyên truyền về “chủ nghĩa thực dân cũ” (Pháp) và “chủ nghĩa thực dân mới” (Mỹ) rồi, giờ không lẽ lộ ra là chính Mẽo rất chống “chủ nghĩa thực dân” sao? Các quan trên coi dân mình còn đang ngu si vì bị cái “chánh sách ngu dân” của Tây bao năm rồi, nên sợ nói thiệt ra bà con hổng có tin. Rồi các cha cũng ngán cái vụ nếu nói ra, bà con, cán bộ mình khoái Mẽo quá, chạy theo rần rần là … quê độ. Dzậy đó. Giờ thì nói thiệt hết cũng chưa hết … ngán, nhứt là mấy cha từng ham xạo thấu trời luôn, giờ cũng run, thôi thì nó thiệt … từ từ. Bà con ráng chờ nha. Kiếp sau là sướng thôi à.

Xin chú ý thêm: đó là cuốn sách nầy cũng được chua bên trang trong là “Sách tham khảo”, ở xứ sở đầy dẫy điều bí mật không biết tới kiếp nào mới được bật mí thì nó mang tính “tiếp thị” cực cao. Nhưng quan trọng nhứt là ba cái sách loại nầy ưa nói … thiệt, ít bị “ăn bớt” chữ khi dịch, biên tập. Mua nhanh rủi hết nha bà con!

—-

Một độc giả méc là toàn bộ cuốn nầy đã được đưa lên Việt Nam Thư quán, mời bà con bấm bô đây để coi. Xin lưu ý: trong đó có mục lựa chọn “Xem dưới dạng Ebook”, rất thuận tiện, ngay trên đầu trang, cả chọn lựa cỡ chữ nữa… Và thêm  một mẹo vặt mà trong đó không có. Đó là khi bà con đang xem nửa chừng phải nghỉ, nên save (lưu) lại trên máy ngay đoạn đó, bữa sau chỉ việc mở luôn trang đã lưu, đỡ phải lần lại từ đầu mất công.

Nhân đây xin giới thiệu lại với bà con về trang VNTQ nầy, một Thư viện điện tử khổng lồ, với số người truy cập hàng ngày ngang một trang báo lớn của VN, hiện được Alexa xếp hạng 217 tại VN, 6026 tại Hoa Kỳ và 10.714 trên toàn thế giới. Kính mời.

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Điểm sách, Đảng/Nhà nước | 19 phản hồi »

415. Cựu Trưởng Ban Biên giới Lưu Văn Lợi nói về bức Công hàm của TT Phạm Văn Đồng

Đăng bởi anhbasam on 31/12/2009

Mời bà con tham khảo thêm một đoạn trong chương trình truyền hình của Đài ARTE.TV, ngày 15. 03. 2006, nói về Lịch sử của Đài Loan và Trung quốc. Phút thứ 03:05 có chỉ rõ ranh giới biển của Trung Quốc năm 1885 không có Hoàng Sa và Trường Sa.

Cựu Trưởng Ban Biên giới Lưu Văn Lợi

nói về bức Công hàm

của TT Phạm Văn Đồng

CUỘC TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

(Trích, phần nói về bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng)


LỜI NÓI ĐẦU

Từ Hội nghị các ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) tại Manila tháng 7 năm 1992 đến Hội nghị SEAPOL ba khu vực tại Bangkok tháng 12 năm 1994, các đại biểu đều lo lắng về tình hình an ninh của Biển Đông và trao đổi ý kiến về sự hợp tác trong khu vực.

Trong khu vực này có hai vấn đề lớn nổi lên: vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và vấn đề hợp tác trước hết là về khai thác tài nguyên. Các đại biểu đều cho rằng nếu không giải quyết được vấn đề chủ quyền thì khó mà giải quyết được vấn đề hợp tác khai thác tài nguyên. Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, phức tạp là vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ba năm lại đây, cùng với việc giải quyết vấn đề Campuchia, việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một nhân tố ổn định quan trọng đối với Đông Nam châu Á. Việt Nam không chỉ mở rộng quan hệ với các thành viên của ASEAN mà Việt Nam đã trở thành quan sát viên của ASEAN, vấn đề trở thành thành viên chính thức của ASEAN chỉ còn là vấn đề thời gian, vì điều kiện đã chín muồi.

Giữa Việt Nam và Trung Quốc quan hệ các mặt đang phát triển, đang còn những cố gắng từ cả hai phía để giảm bớt bất đồng, từng bước giải quyết các tranh chấp giữa hai nước. Vì lợi ích của hai nước, nên và cần tính việc giải quyết cuộc tranh chấp về hai quần đảo Hoàng Sa và trường Sa.

Trong bối cảnh thuận lợi đó, Nhà xuất bản CÔNG AN NHÂN DÂN trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn “CUỘC TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA” của ông Lưu Văn Lợi, một nhà nghiêm cứu quen thuộc. Trên cơ sở những tài liệu lịch sử vững chắc, xuất phát từ những tiêu chuẩn được chấp nhận của luật pháp quốc tế, tác giả đã bình tĩnh, khách quan phân tích lập trường của cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc để đánh giá khả năng, phương hướng giải quyết vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa.

Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề Hoàng Sa vì lợi ích của hai nước Việt-Trung, vì hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á.

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN, 1995

LƯU VĂN LỢI

Nhà báo, luật gia, nhà ngoại giao:

- Chủ bút báo tiếng Pháp LA REPUBLIQUE năm 1945, tờ báo tiếng Pháp LEPEUPLE năm 1946 đều xuất bản tại Hà Nội – Thư ký toà soạn tờ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, tờ báo của QĐNDVN (1951)

- Uỷ viên thường vụ Hội Luật gia Việt Nam (1980-1985)

- Thành viên Đoàn đại biểu Bộ Tổng tư lệnh QĐNDVN gặp đoàn đại biểu Bộ Tư lệnh Quân Đội viễn chinh Pháp tại Hội nghị Trung Giã năm 1954.

Trợ lý đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thuỷ trong các cuộc thương lượng bí mật với ông Henry Kissinger, cố vấn an ninh của Nhà trắng (1972-1973).

Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị liên hợp bốn bên tại Sài Gòn năm 1973.

Trưởng ban Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989).


CHƯƠNG V

3. Họ nói Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa.

Bắc Kinh tuyên truyền rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa nhưng sau lại thay đổi thái độ. Họ đã đưa ra bằng chứng là bức thư của Thủ tướng Phạn Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai về vấn đề lãnh hải của Trung Quốc, tuyên bố của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà năm 1965 nói rằng Tây Sa là của Trung Quốc.

Trước hết nói về bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mọi người chắc chưa quên rằng khi đó là thời kỳ của chiến tranh lạnh, đế quốc Mỹ đang can thiệp vào miền Nam Việt Nam để ngăn chặn chủ nghĩa xã hội. Tuy bị thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, những phần tử diều hâu trong giới quân sự Mỹ vẫn hò hét chiến tranh chống Trung Quốc, hạm đội của Mỹ hoạt động trong eo biển Đài Loan. Trung Quốc cũng phải phòng ngừa một hành động phiêu lưu của hạm đội Mỹ, nhất là từ khi quân Trung Quốc pháo kích liên tục Kim Môn (quémoy) Mã Tổ (matsu). Trong bối cảnh đó, ngày 4-9-1958 Trung Quốc công bố quy định lãnh hải của mình rộng 12 hải lý.

Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai bức công hàm sau đây:


“Thưa đồng chí Tổng lý”

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hai lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.


Ở đây thủ tướng Phạm Văn Đồng không định đề cập đến vấn đề pháp lý, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không định nói về Hoàng Sa, Trường Sa, mà chỉ nghĩ đến một điều: sự hung hăng của đế quốc Mỹ và hoạt động của hạm đội 7 trong eo biển Đài Loan đe doạ Trung Quốc, do đó thấy cần ủng hộ càng sớm càng tốt việc quy định lãnh hải rộng 12 hải lý để cản tay đế quốc Mỹ.

Những người Việt Nam và Trung Quốc trung thực đã sống những năm 50, 60 đều còn nhớ mối quan hệ giữa nhân dân hai nước “vừa là đồng chí vừa là anh em”, trong ý nghĩ “Trung-Việt nhất gia”, do đó coi bản công hàm đó là biểu hiện của tình hữu nghị Trung-Việt. Nếu ai cho đó là sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa thì là đi quá nội dung và mục đích của công hàm, đồng thời phủ nhận tình cảm thiêng liêng trong lòng người Việt Nam, người Trung Quốc thời bấy giờ.

Việc nói Tây Sa là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ hay câu nói của thứ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây Sa là có thật, nhưng đó không phải là lời tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, càng không phải là từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Cần đặt các sự kiện đó trong bối cảnh lịch sử của nó, vào thời gian những năm 1956 đến 1965 khi nhân dân Việt Nam phải đấu tranh chống sự can thiệp xâm lược của đế quốc Mỹ ở cả hai miền.

Tình hình nước Việt Nam khi đó.

Về mặt hành chính, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 Việt Nam tạm chia làm hai miền với vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời trong khi chờ đợi thống nhất. Miền Nam Việt Nam, Chính phủ Việt Nam cộng hoà đã tiếp quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1956 khi Pháp rút khỏi Đông Dương và từ đó đã tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính, tổ chức khảo sát và khai thác tài nguyên về biển đồng thời kiên quyết bảo vệ hai quần đảo chống lại những hành động và ý đồ xâm chiếm của Bắc Kinh cũng như các nước khác. Chính phủ Việt Nam cộng hoà cũng bảo vệ lợi ích và chủ quyền của mình tại các hội nghị và tổ chức quốc tế. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam cùng với Chính phủ Sài Gòn đã tham gia ký kết Định ước về Việt Nam và đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trách nhiệm quản lý lãnh thổ bên này bên kia vĩ tuyễn 17 là rõ ràng.

Về mặt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ năm 1965 nhân dân Việt Nam phải đối phó với cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc. Đây là một cuộc chiến tranh ác liệt nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó lực lượng quân sự cực mạnh của Mỹ đã huy động tất cả bộ máy chiến tranh của nó từ pháo đài bay, thiết bị điện tử đến vũ khí hoá học. Nhân dân thế giới coi đây là cuộc chiến đấu giữa David và Goliath và coi cuộc chiến tranhViệt Nam là vấn đề lương tri của thời đại. Nhân dân Việt Nam nhất định không thể chịu để mất nước một lần nữa và quyết định làm tất cả cái gì có thể làm được để chống xâm lược, đó là vấn đề sống còn của cả dân tộc Việt Nam.

Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa đế quốc ngay từ khi mới ra đời và cũng ngay từ đó các nước thuộc địa hoặc mới giành được độc lập đều coi Bắc Kinh là niềm tin và hy vọng. Trung Quốc không muốn đụng đầu một lần nữa với đế quốc Mỹ, nhưng cần phải tiếp tục giương cao ngọn cờ chống đế quốc, tiếp tục giúp đỡ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc. Việt Nam lại là một nước xã hội chủ nghĩa, một nước láng giềng anh em, “núi liền núi, sồn liền sông”. Trong tình hình đó, Trung Quốc trở thành đồng minh trên thực tế của Việt Nam về chính trị, tinh thần và vật chất. Họ đã gửi sang Việt Nam vũ khí, đạn dược, lương thực, xe cộ và dành con đường quá cảnh cho hàng viện trợ của Liên Xô và Đông Âu và các nước khác. Người Việt Nam và Trung Quốc coi quan hệ giữa hai nước như “môi với răng”.

Mỹ cũng không muốn một lần nữa đụng đầu với Trung Quốc. Việt Nam muốn gắn chặt cuộc kháng chiến của mình với Trung Quốc càng nhiều càng tốt. Việt Nam chân thành tin cậy Trung Quốc và cho rằng chiến tranh xong mọi vấn đề lãnh thổ sẽ đượch giải quyết tốt đẹp giữa những người “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Về lý luận và thực tiễn đối với người Việt Nam đó là tình đoàn kết quốc tế.

Phải đứng trên tinh thần đó của nhân dân Việt Nam và bối cảnh những năm 50-60 để hiểu các tuyên bố nói trên. Và cũng để hiểu hành động của những đồng minh của Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1949 quân đội nhân dân Việt Nam, theo yêu cầu phối hợp của những người cộng sản Trung Quốc ở phía Nam, đã đưa quân vào vùng Thập Vạn Đại Sơn Tây, dãy núi lớn giữa hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông, tiêu diệt nhiều vị trí quân sự của Tưởng Giới Thạch, giải phóng được Trúc Sơn (lãnh thổ Trung Quốc) và sau đó đã trao trả Trúc Sơn cho quân giải phóng Trung Quốc. Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1945, năm 1955 Pháp rút khỏi miền Bắc vĩ tuyến 17 và đảo Bạch Long Vĩ khi đó quân đội nhân dân còn bận tiếp quản và quản lý các nơi khác mà Pháp đã trao trả, cho nên trước mắt không đủ sức quản lý đảo Bạc Long Vĩ ở cách xa Hải Phòng 170km, họ đã phải nhở Trung Quốc quản lý hộ. Phía Trung Quốc đã chấp nhận và năm 1957 đã trao trả phía Việt Nam đảo và còn tặng một tầu thuỷ nhỏ để đảm bảo sự liên lạc giữa đất liền và đảo. Sự tin cậy của Việt Nam đến mức là khi Trung Quốc giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng, Tổng cục đường sắt Việt Nam đã chấp nhận một văn bản có ghi điểm nối ray giữa hai nước “đi qua đường quốc giới”, vào sâu lãnh thổ Việt Nam 316 mét so với đường biên giới chính thức giữa hai nước đã xác định trong Hiệp định đường sắt Việt-Trung ngày 25-5-1955.

Việt Nam cũng đã cư xử như thế với những anh em người Lào. Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, phía Việt Nam đã tạm để một số lãnh thổ của Việt Nam cho lực lượng yêu nước Lào làm căn cứ hoạt động như vùng Na Mèo (tỉnh Thanh Hoá), vùng Keng Đu (tỉnh Nghệ An). Cũng như lực lượng yêu nước Lào đã đồng ý tạm để Việt Nam xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh trên một bộ phận lãnh thổ Lào giáp với Việt Nam (những vùng đất gọi là giải phóng, do lực lượng yêu nước Lào quản lý).

Sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã cùng nhau giải quyết thoả đáng mọi vấn đề: Việt Nam đã trả lại Lào những lãnh thổ đã mượn của Lào và Lào đã trả Việt Nam những lãnh thổ đã mượn của Việt Nam. Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia trên cơ sở tôn trọng đường biên giới vốn có, khi hai nước tuyên bố độc lập năm 1945.

Quan hệ giữa PLO và nước A Rập ngày nay, về nhiều mặt, cũng tương tự mối quan hệ giữa Việt-Trung Quốc và mang dấu ấn của tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Nói đây là một đặc điểm của thời đại cũng không có gì là quá đáng.

Những lời giải thích trên đây có thể được chấp nhận hoàn toàn, một phần hay không được chấp nhận . Mặc dầu vậy những lời tuyên bố nói trên không phải là sự tuyên bố của Việt Nam từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và vẫn phản ảnh một sự thật trong giai đoạn tốt đẹp nhất của tình hữu nghị Việt-Trung.

*

* *

Trung Quốc rất quan tâm tuyên truyền vấn đề bản đồ, họ đã đưa ra nhiều bản đồ. Đây không phải là vấn đề quan trọng, nhưng cũng cần nêu thêm một vài nhận xét:

1. Trung Quốc luôn luôn nói các đảo Nam Hải là phần cực Nam của Trung Quốc và đưa ra nhiều bản đồ. Nhưng họ lại không dẫn chứng những sách hoặc bản đồ cổ của Trung Quốc chỉ vẽ lãnh thổ Trung Quốc trên đảo Hải Nam. Chẳng hạn đoạn tổng luận của cuốn Trung Quốc địa lý giáo khoa thư đã viết:

“Phía Nam từ vĩ độ Bắc 180 13’, tận cùng là bờ biển Nhai Châu đảo Hải Nam, phía Bắc đến vĩ độ 530 50’, tận cùng là chỗ gặp nhau giữa sông Hắc Long Giang và sông U-xu-ri; phía Tây đến kinh tuyến 420 11’, tận cùng là núi Tùng Lĩnh, Nam bắc gồm hơn 36 độ, rộng hơn 7.100 dặm, Đông Tây gồm hơn 61 độ, dài hơn 8000 dặm. Diện tích 32.605.156 dặm vuông, chiếm ¼ Châu Á, 1/10 lục địa thế giới, lớn hơn cả Châu Âu”.

Tổng luận đó hoàn toàn ăn khớp với Hoàng thanh trực tỉnh toàn đồ năm 1862 đời vua Đồng Trị và Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ năm 1894 đời vua Quang Tự, đều là bản đồ chính thức, mà không vẽ các quận đảo Tây Sa và Nam Sa.

Trong Quảng Đông dư địa đồ năm 1897 đời vua Quang Tự do tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuân đề tựa, có Quảng Đông toàn tỉnh dư địa tổng đồQuỳnh Châu phủ đồ cũng không vẽ bất cứ quần đảo nào ở biển Nam Hải, phù hợp với lời dẫn ghi giới hạn “cực nam” của lãnh thổ Trung Quốc là “núi ngoài cảng Du Lân, Châu Nhai”.

Theo các án lệ, giá trị của các bản đồ trong một cuộc tranh chấp về chủ quyền chỉ là tương đối. Phán quyết của trọng tài Max Huber trong vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ và hà Lan đã nhận xét:

“…Chí với một thái độ cực kỳ chân trọng mới có thể tính đến việc dùng các bản đồ để giải quyết một vấn đề về chủ quyền lãnh thổ…”

Phán quyết còn nói rõ hơn:

“Khi mà trọng tài biết chắc chắn rằng có những sự kiện pháp lý có tính chất quyết định của những người vẽ bản đồ mà không rõ họ lấy nguồn tin ở đâu thì hoàn toàn có thể bỏ qua giá trị của các bản đồ dù cho nó có nhiều và được đánh giá cao đến đâu chăng nữa”

Vấn đề giá trị của những bản đồ của phía Trung Quốc đưa ra như trên thế là rõ.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, Điểm sách, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 11 phản hồi »

407. Điểm sách “TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT“

Đăng bởi anhbasam on 25/12/2009

Đôi lời: Triết gia-nhà toán học Bertrand Russell từng nói:”Sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”.

Từ một cuốn sách mua trong quán sách cũ vỉa hè, không biết tới khi nào mới được phép tái bản, nhưng lại nói lên bao điều, không phải chỉ về nội dung trong đó, mà cả về những lý do cho sự có mặt và rồi không được có mặt của nó trên giá sách “chính thống” nữa …

Tôn trọng cứ liệu lịch sử, xin được giới thiệu cùng bà con hai lời tựa của cuốn sách. Trộm nghĩ, trong cái không may bao giờ cũng có những điều may mắn.


TRƯỜNG ĐẠI HỌC XOÓC – BON

VIỆN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI


TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT

CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT

(GIƠ – NE – VƠ – 1954)

PHƠ – RĂNG – XOA GIOAY – Ô

Tiến sĩ Văn chương

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN LÝ LUẬN

HÀ – NỘI 1981

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn “Trung – quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương’’ là một công trình soạn thảo rất công phu của Phơ -răng – xoa Gioay – ô (Francois Joyaux) một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung – quốc. Công trình này được hoàn thành vào tháng 3 năm 1979, đúng vào thời điểm tập đoàn phản động Bắc – kinh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía bắc nước ta.

Để biên soạn công trình này, tác giả đã được phép khai thác nhiều tài liệu mật của cơ quan lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp như các biên bản các cuộc họp tay đôi giữa phía Pháp với phía Trung – quốc, những điện mật của đoàn Pháp báo cáo về chính phủ Pháp đánh giá diễn biến của hội nghị và thái độ của các nước dự hội nghị, những biên bản các phiên họp hẹp của hội nghị đó, những điện mật của đại diện ngoại giao Pháp ở những nước tham dự hội nghị …Như mọi người đều biết, trong hội nghị Giơ – ne – vơ năm 1954 về Đông – dương, những người lãnh đạo Trung – quốc đã cùng với đế quốc Pháp thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung – quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt – nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam – phu – chia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước Đông – dương để đảm bảo an ninh cho Trung – quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt-nam và Đông dương, đồng thời giữ vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế: Trước hết là ở Châu Á. Cho nên những tài liệu mật được tác giả nêu lên trong cuốn sách này là những tư liệu có giá trị, cung cấp cho chúng ta nhiều điều làm sáng thêm một số vấn đề trước đây đã được nghiên cứu về hội nghi Giơ – ne – vơ năm 1954.

Khi biên soạn công trình này, tác giả còn tham khảo hầu hết các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về hội nghị này, những cuốn hồi ký của nhiều nhân vật đóng vai trò chủ chốt trong hội nghị, đồng thời đọc rất nhiều báo chí của những nước tham dự hội nghị hoặc liên quan mật thiết đến hội nghị để dẫn ra những tư liệu cần thiết cho chủ đề cuốn sách. Có thể nói đây là bản tổng hợp những tài liệu chứng minh chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh đối với nước ta và các nước khác ở Đông – dương.

Giá trị của cuốn sách không chỉ dừng lại ở đó. Là một nhà nghiên cứư lịch sử, tác giả không chỉ hạn chế ở việc dẫn ra những tư liệu phân tích sâu sắc về thái độ của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương. Chính từ sự phân tích đó, qua các chính sách của Trung-quốc từ lịch sử xa xưa cho đến hội nghị Giơ-ne–vơ về Đông dương, tác giả đã khách quan làm rõ “sợi chỉ đen” xuyên suốt trong chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung – quốc đối với ba nước Việt – nam – Lào và Cam – pu – chia.

Cuốn sách này gồm 4 phần:

Phần thứ nhất chủ yếu phân tích những nhân tố quyết định thái độ của Bắc-kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương, đó là:

Vào năm 1954. Mao Trạch Đông “hoàn toàn chế ngự” Đảng, quân đội, Nhà nước, song rõ ràng tình hình kinh tế có khó khăn. Hơn nữa đã có những rạn nứt trong quan hệ Trung – Xô mà “sự liên minh bền vững trong chừng mực cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung-quốc”. Trước tình hình đó, lại muốn đạt quy chế cường quốc, Bắc- kinh “có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ bình thường với các nước phương Tây” để công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy, phá thế cô lập với các nước phương Tây là một yêu cầu chiến lược của Trung-quốc lúc đó. Pháp, Mỹ đã đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế đó “có thể đóng vai trò quyết định trong thái độ của Bắc Kinh”. Đó là “đề tài của sự mà cả ngầm” (Pháp), “lợi ích của Trung -quốc là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông – dương” (Mỹ).

Nhưng những nhân tố trên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thái độ của Trung – quốc. “Tính truyền thống lâu đời trong quan hệ Trung -Việt, và ở mức độ thấp hơn đối với Lào và Cam- Pu Chia, cũng sẽ đóng vai trò quyết định”.

Lịch sử mối quan hệ đó từ các triều đại phong kiến Trung-quốc đến Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, đều cho thấy các chế độ chính trị ở Trung – quốc luôn coi Việt – nam có một vị trí đặc biệt đối với họ. “Các đế chế Trung-hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ hoà bình kiểu Trung – quốc đối với các bờ cõi phía nam…ngày nay cũng như trước đây; điều đó đã thực sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng ở Giơ – ne – vơ”.

Trước hội nghị Giơ –ne – vơ năm 1954, trong khi ở phương Tây người ta lo ngại Trung-quốc có thể can thiệp trực tiếp vào Đông Dương thì ngược lại, Bắc kinh lại làm rùm beng, tỏ ra lo sợ Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông – dương. “ Vào mùa xuân năm 1954, Trung -quốc đã lựa chọn sự cùng tồn tại hoà bình” và đối với Bắc – kinh, “Đông – dương không được trở thành một Triều –tiên mới”. Thái độ đó bắt đầu từ sau khi đình chiến ở Triều – tiên. Trên thực tế, Bắc – kinh nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề Đông –dương bằng thương lượng từ mùa thu năm 1953, trước cả Việt – nam, và chỉ viện trợ cho Việt – nam “đủ để tạo thuận lợi cho Việt – Minh giành thắng lợi, song không vì thế mà viện trợ vô hạn độ để Việt – Minh có thể làm cho Mỹ và đồng minh của Mỹ can thiệp, dù cho lúc đó đồng minh có thể “viện trợ to lớn hơn viện trợ mà họ đã thực sự dành cho Việt Minh”.

Do đó, việc tiến hành thương lượng về Đông –dương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung – quốc: làm dịu tình hình căng thẳng ở Viễn –đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế ở Trung – quốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông – dương, tạo khả năng cho Trung – quốc chấm dứt được sự bài xích của phương Tây, chứng tỏ Trung – quốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới và tạo cơ hội cho Trung – quốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với phương Tây”.

Phần thứ hai và thứ ba của cuốn sách chủ yếu nói về diễn biến của hội nghị Giơ – ne – vơ và thái độ của giới cầm quyền Bắc –kinh đến Giơ – ne –vơ “không phải để ủng hộ quan điểm của Việt Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”.

Trong giai đoạn đầu của hội nghị đồng thời là bước đầu của Trung – quốc vào sân khấu quốc tế, thái độ của Bắc – kinh trên công khai là “cứng rắn và lập trường triệt để đứng về phía Liên – Xô”. Nhưng Bắc – Kinh cũng đã để lộ ra là “tránh không tố cáo” tuyên bố giữa Pháp và bù nhìn ngày 28-4-1954 về việc Pháp trao trả độc lập cho Việt –nam. Và từ giữa tháng 5, chỉ ít ngày sau khi khai mạc hội nghị (8 tháng 5), Bắc- kinh “nhanh chóng chứng tỏ rằng lập trường của Trung – quốc không phải chỉ phản ánh một cách đơn giản lập truờng của Liên – Xô”. Trong các phiên họp hẹp và những cuộc tiếp xúc tay đôi với Anh và đặc biệt với Pháp, họ đã nói rõ:

Ngày 18 tháng 5: “Chúng tôi đến đây không phải để ủng hộ quan điểm của Việt- Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”. Trung-quốc không nhất thiết khuyến khích hoạt động quân sự của Việt – Minh tiến về đồng bằng”.

Ngày 27 tháng 5: “Về Lào và Cam – Pu – Chia, quan điểm của Trung – quốc phù hợp với quan điểm của Pháp”; “ các vùng tập kết phải được xác định trên cơ sở hình thái quân sự chứ không phải chính trị”.

Ngày 7 tháng 6: “Chúng tôi không có điều kiện nào cả, chúng tôi chỉ đơn giản muốn hoà bình”.

Vì vậy hội nghị về vấn đề Đông-dương vẫn không tiến triển được. Ngày 15 tháng 6, hội nghị Giơ – ne – vơ về vấn đề Đông-dương chịu chung số phận đó. Trong khi đó ở Pháp, chính phủ Măng – đét Phrăng (Mendes – France) lên cầm quyền, Bắc – kinh đã chọn thời điểm phù hợp này để triển khai trở lại hội nghị về vấn đề Đông – dương “bằng cách đưa ra một đề nghị cốt tử về các vấn đề Lào và Cam – pu – chia”. Đề nghị đó “có tính chất thúc đẩy quyết định” mà Mỹ cũng hoan nghênh đó là:

Ngày 16 tháng 6: Chu Ân Lại gặp ngoại trưởng Anh, đã nói là “có thể thuyết phục Việt – Minh rút quân khỏi Lào và Cam – pu – chia” sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của chính phủ Vương quốc Lào và Cam – pu – chia. Trong phiên họp toàn thể ngay chiều hôm đó, Bắc – kinh đưa ra đề nghị 6 điểm tách riêng biệt việc giải quyết các vấn đề Lào và Cam – Pu – Chia khỏi vấn đề Việt – nam. Còn phía Việt- nam thì vẫn đòi công nhận Pa – thét Lào và Khơ – me It – xa – rắc. Và ngày hôm sau, 17 tháng 6, Chu Ân Lai nói với ngoại trưởng Pháp nội dung cụ thể giải pháp vấn đề Cam –pu – chia, được đánh giá là “chưa có một bản trình bày nào lại rõ ràng và chính xác hơn thế”. Trong bản trình bày đó, Chu Ân Lai còn nói đến một vùng tập kết quân Pa – thét Lào ở biên giới Việt – nam và Trung – quốc, nhưng cùng ngày, phía Việt- nam đòi Pa – thét Lào kiểm soát một nửa nước Lào.

Ngày 23 tháng 6, khi gặp Măng – đét- Phrăng ( Mendes France), Chu Ân Lai nói rằng Trung – quốc “không đòi đền bù gì về những nhượng bộ đối với vấn đề về Lào và Cam – Pu – chia, không lợi dụng khó khăn của Pháp để đòi chính phủ Pháp phải nhân nhượng điều gì”. Về hội nghị thì “cần thảo luận các vấn đề quân sự trước các vấn đề chính trị, và giải pháp chính trị có thể tiến hành theo nhiều bước trong một thời gian khá dài: Cần đẩy nhanh việc thương lượng về việc tập kết quân đội Việt – nam, thời hạn là ba tuần”.

Chu Ân Lai còn khẳng định sẽ “thúc đẩy đoàn đại biểu Việt – nam dân chủ cộng hoà nhích lại gần không những với nước Pháp và còn với Việt – nam của Bảo Đại”.

Tác giả nhận xét là tiếp đó, với nội dung Măng – đét – Phrăng (Mendes France) chỉ thị cho đoàn Pháp thương lượng với Việt – nam dân chủ cộng hoà (tập kết quân, đường danh giới ở vào vĩ tuyến 18…) thì “ kể từ nay việc chia cắt Việt – nam đã trở thành mục tiêu chính của đoàn đại biểu Pháp”.

Giai đoạn chót của hội nghị bắt đầu từ trung tuần tháng 7, sau ba tuần lễ dậm chân tại chỗ trong khi vắng mặt các trưởng đoàn và diễn ra cuộc gặp giữa Chu Ân Lai và chủ tịch Hồ Chí Minh từ 3 đến 5 tháng 7 vì “sự tồn tại mối bất hoà giữa Trung – quốc và Việt – Minh vào cuối tháng 6 năm 1955 là không thể nghi ngờ được”.

Ngày 13 tháng 7 gặp lại Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đề cập đến vấn đề ranh giới tạm thời giữa Nam và Bắc Việt – nam, Chu Ân Lai tin rằng nếu Pháp “tiến lên một buớc thì phía bên kia sẽ đi nhiều bước hơn để đón các ngài” và “theo sự thoả thuận”, ngay chiều hôm đó phía Pháp đưa đến cho Trung – quốc bản dự thảo về tuyên bố chính trị cuối cùng của hội nghị.

Từ đó, phía Trung – quốc “đóng vai trò nổi bật” trong việc giải quyết những vấn đề tồn tại của hội nghị, với những nhượng bộ “có ý nghĩa quyết định” của phía Trung – quốc đối với đòi hỏi của Pháp và việc gây sức ép đối với phía Việt – nam dân chủ cộng hoà, trong những vấn đề then chốt:

Với thời hạn tuyển cử: trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà đòi thời hạn 6 tháng, Chu Ân Lai đề nghị một cách phải chăng rằng “các cuộc tuyển cử nên lùi lại 2 năm cho đến năm 1956, các đại biểu hai miền Nam Bắc sẽ thoả tuận với nhau về thời hạn chính xác”.

Về giới tuyến: Trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà vẫn giữ ý kiến vĩ tuyến 16 thì Chu Ân Lai nói “ thực tế là Việt-nam dân chủ cộng hoà tuyệt đối không cần đến con đường số 9” mà phía Pháp coi đó là con đường ra biển của Lào. Sau đó khẳng định với phía Pháp là “đã làm cho Việt Minh chấp nhận” ý kiến của Trung – quốc.

Kết thúc hội nghị Giơ – ne – vơ tối ngày 22 tháng 7, Chu Ân Lai mời cơm các truởng đoàn Việt – nam dân chủ cộng hoà, vương quốc Lào và vương quốc Cam – pu – chia, và cả Ngô Đình Luyện, “tập hợp các đại biểu của bốn nước Đông – dương”. Trong bữa cơm, Chu Ân Lai chúc sức khoẻ Bảo Đại, gợi ý Nam Việt – nam đặt một Công sứ quán tại Bắc – kinh, “một gợi ý mà Việt – Minh tuyệt nhiên không được báo trước”.

Phần thứ tư của cuốn sách chủ yếu nói lên thái độ của giới cầm quyền Bắc – kinh đối với việc thi hành hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông – dương đặc biệt về vấn đề thống nhất Việt – nam và chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương.

Về vấn đề thống nhất Việt – nam, sau hội nghi Giơ – ne – vơ, “trong khi các nhà lãnh đạo và báo chí Việt – nam luôn luôn lên tiếng ủng hộ các tuyên bố của Trung- quốc liên quan đến vấn đề Đài Loan thì việc Trung – quốc bỏ qua một cách có hệ thống không nói đến vấn đề thống nhất của Vịêt – nam lại càng trắng trợn”. Điện mừng của Mao Trạch Đông, khi ký Hiệp định Giơ – ne – vơ, phát biểu của thủ tướng Chu Ân Lai khi tiếp thủ tướng Phạm Văn Đồng đi qua Bắc – kinh đầu tháng 8 năm 1954, phát biểu của đại sứ La Quý Ba khi trình quốc thư đều không nói đến vấn đề đó. Ngược lại, phía Việt–nam “ không ngừng khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng là thồng nhất đất nước”.

Từ thực tế trên tác giả nhắc lại rằng Măng – đét – Phrăng (Mendès France) khi đàm phán với Chu Ân Lai, đã tin tưởng là Trung – quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài, Việt – nam, tán thành sự tồn tại của phía nam Trung – quốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc – kinh đã hạn chế các yêu sách của Việt – Minh ở hội nghị Giơ – ne – vơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt – nam dân chủ cộng hoà phải giảm bớt “ tham vọng” đối với miền nam Việt – nam và đối với các nước khác ở Đông – dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt – nam và cả trên bán đảo Đông – dương. Ý đồ của Bắc – kinh còn ở chỗ là “ bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam – kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung – quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu” ; “ sau khi Việt – nam bị chia cắt, miền Bắc gắn bó mật thiết hơn với nền kinh tế Trung – quốc từ nay duy nhất có khả năng cung cấp cho những nhu cầu chủ yếu của một nước không thể tự cung tự cấp được. Tình trạng đó từ nay sẽ là một chủ bài quan trọng với chính sách của Trung – quốc ở Việt – nam”.

Về chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương, sự khác nhau cũng thể hiện ngay trên các tuyên bố công khai. Từ đó, tác giả cho rằng quan điểm của Trung – quốc về một Đông – dương đa dạng có nghĩa là “ Lào và Cam – Pu – Chia phải là đối trọng với Việt – nam”. Và “ lập trường của nhân dân Trung – hoa muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở Đông – dương, muốn Ban-căng hoá Đông – dương dĩ nhiên dẫn đến sự chia rẽ tình đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông – dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Cam – Pu – Chia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới”. Đó là: “ một chính sách Đông – dương nối tiếp chính sách của các triều đại hoàng đế xưa kia”, mà một trong những nét nổi bật nhất của chính sách đó là ý muốn thường xuyên duy trì hoà bình ở sườn phía nam, dựa trên thế cân bằng lập ra từ những sự cạnh tranh giữa các nước khác nhau ở trong vùng …một chính sách chia để trị cổ xưa”.

Tóm lại, tác giả kết luận, “phải chăng người ta thấy lại cách đối xử “vô tư” xưa kia, dưới cái vỏ trật tự nho giáo, thường chỉ phục vụ lợi ích chính trị của đế chế Trung – hoa”.

“Thái độ của Trung – quốc đối với Việt – Minh là thái độ của một cường quốc ủng hộ kiên quyết đồng minh của mình chừng nào mà mục tiêu của đồng minh có thể khớp với thế cân bằng (Bắc –kinh) đang tìm kiếm, nhưng cũng biết áp đặt một vài điều bó buộc trong trường hợp ngược lại”. Và Đông – dương thống nhất trong cuộc cách mạng như trước đây ở dưới chế độ thực dân nhường chỗ cho Đông – dương trở nên phức tạp biểu hiện ở bữa cơm cuả Chu Ân Lai ngày 27 tháng 7”.

Chiến lược của Bắc – kinh rõ ràng là muốn Đông – dương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ ,”đa dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung – quốc chi phối và buộc phải đi theo quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc – kinh. Cho nên Bắc – kinh ngầm tán thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt-nam, duy trì các chính phủ vương quốc ở Lào và Cam – Pu – Chia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách của các đế chế Trung – hoa. Và trong suốt mấy chục năm qua mặc dầu bối cảnh quốc tế và tình hình nội bộTrung – quốc có những đảo lộn lớn, song Bắc – kinh vẫn duy trì một cách liên tục chính sách không thay đổi đó. Sau khi Việt – nam đã thống nhất năm 1976, quan hệ Việt – Lào được tăng cường, bối cảnh căn bản khác với năm 1954 và những năm sau đó, nhưng Bắc – kinh vẫn “tiếp nối thẳng tắp thái độ ở Giơ – ne – vơ” nhằm duy trì cái gì còn có thể giữ đựơc trong chính sách “chia đề trị” ở Đông – dương. Vì vậy nếu ngày hôm qua, vào giữa những năm 1950, họ muốn có một Cam – Pu – Chia theo “chủ nghĩa quốc gia” và là một đối trọng với Việt- nam thì ngày nay, vào giữa những năm 1970, họ tạo nên một Cam – Pu – Chia “cách mạng” để chống lại nước Việt- nam thống nhất. Đó là mục tiêu không thay đổi trong chính sách Đông – dương mà tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc – kinh theo đuổi.

“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương“ là một cuốn sách mà mọi người chúng ta nên đọc để hiểu thêm về kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất của nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tuy nhiên, do tác giả đứng trên lập trường tư bản để viết nên cuốn sách này cũng có những nhận định sai lầm. Chúng ta đã có cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, một công trình nghiên cứu có hệ thống, một tài liệu đấu tranh sắc bén chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh.

Chúng tôi trích dịch cuốn sách này để bạn đọc tham khảo.

Tháng 3 năm 1981

Nhà xuất bản Thông tin lý luận

———


LỜI NÓI ĐẦU

Phải thẳng thắn thừa nhận sự ngu dốt của mình, không đem tưởng tượng và bịa đặt thay thế cho điều mình không biết. Phải kể lại chính xác các sự kiện, và sau đó chỉ đưa ra những điều suy nghĩ ngắn gọn đối với những cái mà những sự suy nghĩ ấy có thể có giá trị.

(Hồi ký của Xanh Xi –mông)

“Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa phương Đông và phương Tây, có sự tham dự của Trung – hoa, Bắc – kinh, đại sứ Giăng – Sô – ven (Jean Chauvel) trong hồi ký của mình đã nêu lên việc Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham gia hội nghị Giơ – ne – vơ như vậy.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên ư? Chắc chắn là như vậy: Nếu cuộc đàm phán quan trọng giữa Trung – quốc và Liên – xô trong những năm 1949 và 1950 ở nhiều điểm được coi là “một cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây thì ngược lại, sự giống nhau về lý tưởng của hai chế độ hiện diện đã làm cho cuộc gặp gỡ có tính chất một sự bình thường hoá quan hệ trong nội bộ khối hơn là một sự chạm trán giữa hai hệ thống. Còn cuộc thương lượng tại Bàn – môn – điếm, kết thúc chín tháng trước hội nghị Giơ – ne – vơ thì chưa bao giờ vượt qua giai đoạn của một thảo luận hạn chế về quân sự nhằm đi đến ngừng bắn ở một giới tuyến đã được số phận vũ khí định đoạt.

“Cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây” ? Triển vọng là to lớn. Nhưng chúng tôi thấy gọi như thế có vẻ đúng. Ý niệm đó thể hiện rõ ý hơn là dùng thuật ngữ “gặp gỡ Đông – Tây”. Đúng là chúng ta đang ở bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh vào thời kỳ quyết liệt, hai khối đang đối trọi nhau gay gắt. Thái độ cư xử của một Bi – đơn Xmit (Bedell Smith), của một Đa-let (Foaster Dulles), một Bi- đơn (Georges Bidault), một Mô-lô-tốp (Molotov) gần như luôn luôn nhắc tới điều đó.

Tuy vậy chúng tôi thích dùng “giữa phương Đông và phương Tây” hơn. Bởi vì Giơ – ne – vơ cũng là thái độ ôn hoà khôn khéo của một I-đơn (Anthony Eden), hay niềm tin còn nóng vội của một Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đứng trước ngoại giao quỷ quyệt khôn lường của Chu Ân Lai hoặc hơn nữa là sự giận giữ lo âu của Phạm Văn Đồng. Tấm thảm kịch của một Đông – dương chia cắt đang thoát khỏi sự ràng buộc của thuộc địa. Sự cố gắng căng thẳng của một Trung – quốc mong muốn thế giới cũ và thế giới mới chấp nhận. Một châu Á đang vươn lên, mong muốn người ta hiểu mình trên diễn đàn quốc tế lâu nay bị châu Âu hay Hoa – kỳ chi phối. Đối với chúng tôi, Giơ – ne – vơ thuộc loại các cuộc thương lượng quan trọng, từng thời kỳ một, chúng ghi lại những sự biến đổi của thế giới.

Nhưng tại sao lại tìm cách tách riêng thái độ đặc biệt của Trung – quốc như vậy?

Ít nhất là vì hai lý do, bổ sung cho nhau là đằng khác.

Trước hết, bởi vì việc nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại của Trung – quốc hiện đại – chưa được phát triển ở Pháp- đòi hỏi phải xem xét kỹ càng, từng cái một và kiên nhẫn những thời điểm có ý nghĩa nhất trong quá trình tiến triển của nó trước khi có thể nghĩ đến những bức tranh rộng rớn về chính sách đối ngoại của Trung- quốc trong một thời kỳ lịch sử, Giơ – ne – vơ, cuộc đối mặt lớn lao đầu tiên của nước Trung – hoa mới với thế giới Phương Tây, đối với chúng tôi là một trong những thời điểm đó – thời điểm đáng để chúng ta bỏ công nghiên cứu đề tài đó – đáng để chúng ta bỏ công phân tích việc nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa bước vào “hệ thống quan hệ liên quốc” (quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác) như các nhà xã hội học về quan hệ quốc tế đã viết.

Từ nhận xét này chúng tôi đi thẳng đến lý do thứ hai phải ưu tiên nghiên cứu thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương. Đây còn là một lý do về phương pháp nữa. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế hiện đại mà chỉ dựa vào kinh nghiệm phương Tây thì không hợp lý lắm, còn nói gì đến lý thuyết? Làm sao có thể thúc đẩy việc nghiên cứu tiến triển nếu chúng ta xem nhẹ tính đặc thù của các thế giới xa lạ nhất với chúng ta? Trong một tác phẩm của Vôn – te (Voltaire), khi xem xét “Trích Dự án hoà bình vĩnh cửu của ông thày dòng xanh Pi –e (Sanit – Piere)” do Rút – xô (J.J.Rousseau) công bố, Hoàng đế Trung – hoa đã nói : “Nhưng trẫm rất ngạc nhiên khi đã tìm mãi mà không thấy tên Trẫm trong danh sách”. Hai thế kỷ sau, ý nghĩ trào lộng này hình như vẫn không mất đi tính thời sự của nó.

Thật vậy, trong chừng mực nào đó, hệ thống quốc tế có cái lo-gích riêng của nó và nó buộc các nhà dương cục là các quốc gia phải tuân theo. Nhưng sự phản ứng của các quốc gia đó về căn bản cũng còn thể hiện nhân cách của mỗi nước. Bởi vậy, chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng không nên đề cập đến chính sách đối ngoại của Trung – quốc ít nhất là ở Đông – dương, giống như chính sách của Mỹ hay của Liên – xô mà công trình nghiên cứu này không đả động đến. Phải chăng đây là cuộc tranh luận triền miên giữa những “nhà nghiên cứu cái phổ biến” và những “nhà nghiên cứu cái đặc thù” ? Có thể như vậy.

Có nhiều công trình nói đến một phần đề tài chúng tôi đang quan tâm, đã được xuất bản đặc biệt là ở nước ngoài.

Một nhận xét đầu tiên, về hình thức: Ở nước Trung – hoa nhân dân chưa hề có một công trình nghiên cứu lịch sử có liên quan xa, gần đến thái độ của chính phủ Bắc – kinh đối với vấn đề Đông – dương năm 1954. Điều đó không có nghĩa là không có các nguồn Trung – quốc liên quan đến vấn đề đó, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi nói về báo chí. Giờ đây, chúng tôi chỉ muốn nói rõ rằng một vài cuốn sách tuyên truyền về vấn đề Đông-dương dương xuất bản trong những năm 1950 ở nước Trung – hoa nhân dân có thể đem lại những dữ kiện đáng chú ý. Chẳng hạn như cuốn sách nhỏ của HuCh ‘i-an tên là “Trình bày về vấn đề Đông – dương” xuất bản ở Thượng – hải năm 1954 trong đó có một chương nói về hội nghị Giơ – ne – vơ và một chương khác nói về việc giải quyết cuộc khủng hoảng (chương IX và X). Một vài tạp chí chuyên ngành hiếm hoi xuất bản ở Bắc – kinh như “Nghiên cứu về các vấn đề quốc tế” cũng có thể cung cấp những tư liệu có ích.

Ngoài ra ở Đài – loan và Hồng – công cũng đã xuất bản nhiều công trình, sách nhỏ hay bài báo liên quan đến khía cạnh này, khía cạnh khác của vấn đề, và đó là những nguồn thông tin đáng quan tâm. Ví như cuốn sách nhỏ của Chang Tachiin “Vấn đề cộng sản Lào” nói về quan hệ giữa Việt Minh, Đảng cộng sản Trung – quốc và Pa- Thét Lào. Hoặc nữa, các bài trong các tạp chí của Trung – hoa quốc gia như “Nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản Trung – quốc” (đó là tạp chí nghiên cứu về Bắc –kinh), “Những vấn đề và những đề tài nghiên cứu” xuất bản ở Đài – bắc, hoặc là “Triển vọng”, “Xuân Thu” xuất bản ở Hồng – công, …Đối với những nguồn như vậy, cần phải phê phán nghiêm túc về mặt lịch sử, nhưng sự đóng góp của chúng đôi khi có giá trị.

Ở Pháp – người ta có thể nói cả ở châu Âu – chúng tôi chỉ biết có một cuốn “Sự kết thúc của một cuộc chiến tranh” của Giăng La- cu – tuya (Jaen Lacouture) và Phi –lip Đơ – vi – le (Philippe Devillere) xuất bản ở Pa –ri năm 1960.

Cũng như thường xảy ra, sự đóng góp về nguồn tư liệu chủ yếu là của Mỹ. Sự can thiệp ngày càng tăng của Mỹ vào bán đảo Đông-dương kể từ khoảng năm 1960 đã lôi cuốn các trường đại học và trung tâm nghiên cứu của Mỹ vào việc phát triển các công trình nghiên cứu về lịch sử Đông – dương, nhất là về chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản Việt –nam cũng như về việc thủ tiêu chủ nghĩa thực dân Pháp. Một công trình tiêu biểu của Men –vin Guốc – tốp (Melvin Gurtov) là cuốn Cuộc khủng hoảng Việt – nam đầu tiên có một tiêu đề mục “Chiến lược của cộng sản Trung – quốc và sự dính líu của Mỹ, 1953-1954” do trường đại học Cô – lum – bi – a xuất bản năm 1967. Công trình của Kinh C.Chen, Trung – quốc và Việt – nam, 1938- 1954, do trường Đại học Prin –xơ – tơn xuất bản hai năm sau đó, phản ánh cùng một mối quan tâm của một nước Mỹ phiền muộn, muốn tìm hiểu sự thật. Phải kể đến công trình nghiên cứu quan trọng của Rô- be – Ran – đơn (Robert Randle) Giơ – ne – vơ 1954: việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương cũng do trường đại học Prin – xơ – tơn xuất bản năm 1969, theo chúng tôi biết, đó là công trình duy nhất nghiên cứu một cách tổng thể về hội nghị Giơ – ne – vơ kể từ khi có cuốn sách Giăng – la – cu –tuya và Phi – lip Đơ – vi – le. Hết thảy các công trình nghiên cứu đó dựa một phần vào những nguồn tư liệu gốc. Đặc biệt R.F. Ran- đơn đã cố gắng khai thác những hồ sơ lưu trữ riêng của J.F. Đa – let cũng như “Sưu tập lịch sử về Đa let” của trường đại học Prin – xơ – tơn. Nhưng nếu nguồn này có thể cung cấp những dữ kiện đáng chú ý để tìm hiểu thái độ của Mỹ trong việc giải quyết (cuộc chiến tranh Đông – dương) thì hiển nhiên là nó lại không thể đem lại những tư liệu quyết định về thái độ của Trung – hoa nhân dân, vì các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Trung Quốc như người ta sẽ thấy, là rất sơ sài trong thời gian hội nghị Giơ – ne – vơ. Không kể một vài cuộc nói chuyện với các nhân vật chính trị, những tác giả nói trên chủ yếu đã phải dựa vào các hồi ký của các nhà chính trị và các báo chí Mỹ và Trung – quốc.

Đồng thời chúng tôi cũng phải nói đến các công trình nghiên cứu của Liên – xô đã tăng lên gấp bội trong những năm gần đây, nhất là các công trình của Viện nghiên cứu Viễn đông – Mát – xcơ – va. Rõ ràng sự phát triển mối xung đột Trung – Xô đã đưa các sử gia Nga ngày càng nhấn mạnh đến những sự bất đồng giữa Liên – xô và Trung-quốc về chính trị đối ngoại. Do đó các công trình nghiên cứu của Liên–xô là một kho thông tin tư liệu quý báu có thể khai thác được. Nhưng cũng chắc chắn rằng nếu ở đâu cần phải chú ý đặc biệt đến việc phê phán về mặt lịch sử thì chính là ở các công trình này. Việc so sánh giữa hai công trình nghiên cứu của M.S. Ca-pit-sa (M.S. Kapitsa) (nguyên là thành viên của đoàn đại biểu Liên – Xô tại Giơ – ne – vơ), cuốn “Quan hệ Xô – Trung” xuất bản năm 1958 và cuốn “Nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa: hai chục năm – hai chính sách” xuất bản năm 1969, có tác dụng đặc biệt soi sáng về phương diện này. Các công trình mới xuất bản đó cũng thường đưa lại những dữ kiện mới không thể phủ nhận được. Chính vì vậy chúng tôi sẽ coi trọng các công trình đó.

Sự đóng góp của công trình nghiên cứu của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, là ở chỗ công trình đó dựa trên những hồ sơ lưu trữ, trong trường hợp đặc biệt này là những hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Pháp.

Những hồ sơ này là của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị Giơ – ne – vơ, của Vụ chính trị và của Bộ các quốc gia liên kết trước đây. Tức là những biên bản của các cuộc nói chuyện bán chính thức diễn ra tại hội nghị Giơ – ne – vơ giữa hai đoàn đại biểu Trung – quốc và Pháp và đó là những nguồn tư liệu đáng chú ý nhất. Trong số này có cả thư từ trao đổi giữa Pa-ri với Giơ – ne – vơ và Sài Gòn, cũng như Pháp và các đồng minh của mình.

Việc sử dụng những hồ sơ lưu trữ đặt ra một vấn đề phương pháp mà chúng tôi không có ý định lẩn tránh: có thể chấp nhận đến mức nào việc phân tích chính sách đối ngoại của một Nhà nước, trong trường hợp này là Trung – quốc, bằng cách dựa rất nhiều vào hồ sơ của một nước khác, như trong trường hợp này là nước Pháp, như chúng tôi sẽ làm? Cách tiến hành như vậy – có cần phải nhấn mạnh điều này không? Không thể coi là hoàn hảo. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng con đường phải đi là như vậy vì ba lý do chính:

Trước hết, vì cho đến lúc kết thúc, Đông – dương chủ yếu vẫn là một vấn đề của nước Pháp. Trong quá trình hội nghị Pháp vẫn là người đối thoại được Trung – quốc ưu đãi. Vậy thì nếu những hồ sơ lưu trữ của Pháp rõ ràng là không thể đem ra thay thế hồ sơ lưu trữ của Trung-quốc thì người ta có thể thừa nhận rằng, ngoài hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc ra, đó là những tài liệu bổ ích nhất để nắm được đâu là những phương hướng chủ yếu của nền ngoại giao Trung – quốc.

Thứ hai, vì các biên bản của các cuộc họp tiếp xúc hẹp và bí mật mà lần đầu tiên chúng tôi có thể khai thác được, cho phép nắm được, nếu không phải là nguyên nhân thì ít nhất cũng là điều kiện, bối cảnh của chính sách Trung Quốc như đã được diễn đạt đúng như thế.

Cuối cùng, vì trong một chế độ xã hội chủ nghĩa như là Trung –quốc, báo chí, đài phát thanh hoàn toàn do Nhà nước kiểm soát, cũng là một ngồn thông tin không thể xem thường được. Báo chí Trung – quốc tự một mình nó – chủ yếu là báo hàng ngày như Nhân dân nhật báo và bản tin Tân Hoa xã – không thể là một cơ sở đủ cho việc nghiên cứu lịch sử. Trái lại, đem đối chiếu với các loại tư liệu gốc thì ngược lại báo chí trở thành một loại tư liệu bổ sung cần thiết. Một thứ bổ sung cứ mỗi bước lại đưa ra những sự so sánh đôi khi khá phong phú. Về phương diện này, chúng tôi coi báo chí Trung – quốc như một nguồn nếu không phải là chủ yếu thì ít nhất cũng là quan trọng hàng đầu.

Như vậy, tính chất của ngay các hồ sơ lưu trữ của chúng tôi chắc chắn sẽ đưa đến chỗ nói quá nhiều về quan hệ Trung – Pháp. Chắc chắn là trong cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Trung-quốc và phương Tây, nước Anh cũng đóng vai trò quyết định. Vậy mà, để phân tích quan hệ Trung–Anh, chúng tôi chỉ có tập Hồi ký của ngài I-đơn (Sir Anthony Eden) người dẫn đầu đoàn đại biểu Anh đã có nhã ý trao đổi với đoàn đại biểu Pháp. Thật là ít. Chắc chắn rằng đến ngày nào có thể khai thác được hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Anh thì sẽ hài lòng được thấy rõ hơn tầm quan trọng của các cuộc hội đàm giữa người đứng đầu nền ngoại giao Anh và Chu Ân Lai nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng Đông – dương.

Những tập hồi ký của nhiều nhân vật chính giới được xuất bản từ 1954 cũng giúp đỡ chúng tôi ít nhiều. Nhưng ở lĩnh vực này, việc phê phán các nguồn tư liệu cũng phải đặc bịêt ghiêm túc.

Trước hết, bởi vì thể loại văn học này cực kỳ phức tạp. Thế nào gọi là hồi ký? Hiển nhiên là không thể nghi ngờ gì được các tập Hồi ký I-đơn, nhật ký bảy năm của Ô–ri–ôn (Vincent Auriol). Bình luận của So–ven. Hồi ký của tướng Sa–lăng (Raoul Ralan) hoặc của Ê – ly (paul Ely) thuộc thể loại này và được sử dụng như các loại hồi ký. Nhưng những trang (171-176) trong cuốn Đảng cộng sản Trung – quốc cầm chính quyền mà Ghi – éc – ma (Jacques Guilermaz) viết về hội nghị Giơ – ne – vơ phải chăng được coi là “hồi ký” bởi lẽ tác giả là thành viên của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị? Hay là những trang (108-117)- không bổ ích gì lắm-trong cuốn Vấn đề Đông – dương từ sau chiến tranh thế giới lần thứ haiQuan hệ Xô – Trung của M.S. Ca – pít – sa cũng thế, bởi vì cũng như La-vrit – sép, M.S. Ca – pít – sa có mặt ở Giơ – ne – vơ lúc đó? Chắc chắn không phải như vậy. Vì chúng tôi đã cố ý chọn những cuốn sách mà việc biên soạn đã làm cho các công trình mang tính chất nghiên cứu bậc đại học, nghiên cứu chính thức chứ không phải là hồi ký. Nhưng giữa những thái cực đó, chúng ta sẽ xếp vào loại nào cuốn sách nhỏ nhan đề Tiếng vang trung thực của đại tá Ê – vôn (Reyert B. Ek vall) nguyên là phiên dịch tiếng Trung – quốc của đoàn đại biểu Mỹ tại Giơ – ne – vơ? Đó là kỷ niệm của một cuộc hội nghị hay là những điều khó hiểu về chính trị bắt nguồn từ những sự khó khăn trong việc phiên dịch. Hoặc cuốn sách của Hoàng Văn Chi nhan đề Từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản. Đó là một công trình nghiên cứu về cải cách ruộng đất của Vịêt-Minh trong những năm 1953 – 1956 hay là chuyện kể của một nhân vật đặc biệt nhạy cảm đối với sự bành trướng về ý thức hệ của Trung – quốc ở Việt-nam? của La-vrit-sép (Alexandr Lavrisev) cũng được coi là “hồi ký” chăng ? Bởi vì tác giả cũng đã tham dự hội nghị với tư cách Tổng thư ký của đoàn đại biểu Liên – xô. Hoặc những trang (401-403) trong cuốn

Nhưng đương nhiên, những lầm lẫn về tài liệu hoặc việc “viết lại” lịch sử là những khó khăn nghiêm trọng nhất. Nhớ nhầm chăng? Đại sứ Sô – ven là ngưòi đã có mặt tại hội nghị từ ngày đầu tiên đến ngày cuối đã nhớ lại rất kỹ “cái động tác rất tiêu cực của Đa-let” lúc 20 giờ 40 ngày 15 tháng 6 khi ông này giơ tay tỏ ý không muốn hội nghị tiếp tục bàn về vấn đề Triều – tiên. Vậy mà Đa-let đã rời Giơ – ne – vơ ngày 3 tháng 5 không bao giờ trở lại đó nữa cho đến khi đạt được thoả thuận ngày 21 tháng 7. Hoặc nữa là cuộc nói chuyện dài với Chu Ân Lai ngày 19 tháng 6 khiến cho phiên họp của hội nghị phải lùi lại bốn tiếng đồng hồ, nhưng cuối cuộc nói chuyện, đại sứ Sô – ven đã dành được điều ông ta muốn. Vậy mà hồ sơ của Bộ Ngoại giao thì lại chứng minh một cách không thể bác bỏ được rằng cuộc nói chuyện đó đã diễn ra ngày 2 tháng 6 và Chu Ân Lai đã hoãn câu trả lời đến ngày hôm sau. Và người ta thường ngờ rằng nhiều tập hồi ký khác cũng có thể đưa ra nhiều ví dụ tương tự.

Tuy nhiên, nhiều công trình về thể loại đó là những nguồn thông tin có giá trị. Đặc biệt là tập hồi ký của I-đơn hay của đại sứ So-ven là những tư liệu, mặc dù có những nhầm lẫn mà chúng tôi nêu lên ở trên, đã phác một bức tranh không phải là không bổ ích về cuộc hội nghị. Chúng tôi cũng nhớ những hồi ký của các vị chỉ huy quân sự (các tướng Sa-lăng, G.Ga-tơ-ru, H.Na-va, P. Ê-li) đã cung cấp những nguồn tin quý giá về sự giúp đỡ của Trung – quốc cho Việt – Minh trong năm 1953 – 1954 hoặc về cách thức các tướng lĩnh đó đánh giá sự “đe doạ” của Trung – quốc. Cuối cùng là các hồi ký của chính khách nhà nước Pháp và nước ngoài (D.Ai-xen – hao, J.La- ni – on, V. ô – ri – ôn) là những người trước và trong cuộc khủng hoảng đã cầm vận mệnh của những nước trực tiếp dính líu đến.

Phần lớn những nhận xét của chúng tôi đối với các tập hồi ký mà chúng tôi đã sử dụng, cũng áp dụng đối với các cuộc hỏi chuyện các nhân vật Pháp và nước ngoài trực tiếp liên quan đến các sự kiện đó. Chắc chắn rằng khả năng có thể hỏi chuyện trực tiếp những người có vai trò chính lúc bấy giờ là một chủ bài đáng kể. Nhưng cũng có mối nguy hiểm hiển nhiên không kém. Một phần bởi vì hai chục năm đã trôi qua kể từ năm 1954, những kỷ niệm và cảm tưởng lúc bấy giờ đã dần dần phai nhạt trong những sự giải thích sau này. Làm sao những nhân chứng của năm 1954 và mà phần lớn tiếp tục theo dõi sát hoặc ít tiến trình chính trị ở Viễn – đông, ngày nay lại có thể dừng lại ở những điều mà họ đã từng biết, từng suy nghĩ năm 1954 mà không xen lẫn những ý nghĩ nảy sinh ra do những sự kiện mới đây hơn? Đó là một nhận xét chung nhưng càng tỏ ra thích hợp khi đối với một vấn đề mà từ hội nghị Giơ – ne – vơ đến nay luôn luôn chiếm vị trí thời sự hàng đầu.

Vả lại, – có cần phải nói rõ ra không – trong các cuộc hỏi chuyện đó, không thể hoàn toàn loại trừ ý muốn dựa vào kinh nghiệm đã qua để bào chữa cho thái độ này hoặc thái độ khác. Những cuộc tranh luận của các vị thủ tướng Bi – đôn và Măng – đét – Phrăng về vấn đề Đông – dương đã được biết đến đủ đến nỗi không cần thiết phải nhấn mạnh nhiều hơn đến những giới hạn vốn có của loại nguồn tư liệu lịch sử nói trên.

Những khó khăn đó, quá hiển nhiên, đã không làm chúng tôi hoàn toàn xa lánh việc nhờ cậy các cuộc nói chuỵện để bổ sung cho thiếu sót này hoặc thiếu sót khác trong hồ sơ lưu trữ hoặc để soi sáng trường hợp này hoặc trường hợp khác. Nhưng nói chung, chúng tôi chỉ sử dụng thông tin lượm được qua các cuộc nói chuyện như những nguồn phụ mà thôi. Không bao giờ chúng tôi dựa trên một kết quả duy nhất của một cuộc nói chuyện để nói một điểm quyết định trong luận văn của chúng tôi. Trong phần lớn trường hợp, những thông tin tập hợp được theo cách đó chỉ sử dụng ở phần chú thích ở cuối trang.

Còn về các hồ sơ lưu trữ thì điều mong muốn là các cuộc hội đàm với các nhân vật Trung – quốc. Chắc chắn là nếu không có thể hỏi chuyện được những người có vai trò hàng đầu, thì tình hình có thể khác khi hỏi đến các nhân vật cấp thấp hơn. Một vài lần tiếp xúc với ông Đào Quý Sinh (Tsao Kuet – Sheng), bí thư (hoặc phó bí thư) ở Bộ Ngoại giao Trung – quốc năm 1954, thành viên của đại biểu Trung – quốc tại Giơ – ne – vơ, mới đây là tham tán Đại sứ Trung – quốc tại Pháp đã mau chóng chỉ cho thấy điều mong muốn của chúng tôi là ảo tưởng. Có nghĩa là những cuộc hỏi chuyện về vấn đề này chỉ có thể thực hiện được với những nhân vật không cộng sản của Pháp hay của nước ngoài.

Còn một điểm cuối cùng về phương pháp mà chúng tôi muốn đề cập đến.

Thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất là do một loạt nhân tố bên trong – việc phân tích những nhân tố đó là giai đoạn đầu của cuộc điều tra của chúng tôi – và bên ngoài. Về nhân tố bên ngoài không thể đem cô lập một cách độc đoán so sánh lực lượng trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa với so sánh lực lượng giữa Đông và Tây. Tất cả những nhân tố đó gắn quá chặt chẽ với nhau mà không thể tách rời nhau. Tuy nhiên chúng tôi sẽ dành phần chủ yếu trong sự trình bày của chúng tôi cho thái độ của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa đứng trước các cường quốc của phương Tây. Nếu chúng tôi cố ý hạn chế phạm vi điều tra của chúng tôi chính là vì những hồ sơ lưu trữ mà chúng tôi dựa vào không cho phép chúng tôi đi xa hơn. Chắc chắn là chúng tôi sẽ phải luôn luôn đề cập đến mối quan hệ giữa Cộng hoà nhân dân Trung – hoa và đồng minh (Liên – xô và Việt- nam dân chủ cộng hoà) hay với các nước bạn bè (Ấn độ, nhất là Miến – điện). Vì một lần nữa, tất cả các mối quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể đề cập đến một cách nào hơn là xem xét tổng thể các mối quan hệ đó. Nhưng cũng phải rõ là mức độ “đúng đắn” của các dữ kiện của chúng tôi cũng không ngang nhau tuỳ theo khi nói về quan hệ giữa Trung – quốc và phương Tây hoặc ngược lại, giữa Trung – quốc và các đồng minh xã hội chủ nghĩa hay các nước bạn bè và châu Á. Có nghĩa là công trình nghiên cứu này có thể đi đến một vài kết luận vững chắc đối với quan niệm của Trung – quốc về cùng tồn tại hoà bình với Phương Tây năm 1954 chẳng hạn, nhưng không nên trông đợi nhiều vào những kết quả dứt khoát khi nghiên cứu về tình hình quan hệ Trung – Xô hoặc Trung -quốc – Việt – Minh trong cùng thời gian đó.

Thiếu nguồn tư liệu gốc, lại phải giới hạn mục tiêu của cuộc điều tra, một vài kết luận có thể đạt được còn mỏng manh, vậy thì làm sao lẩn tránh được câu hỏi cuối cùng nhưng cơ bản này: Ngày nay liệu người ta có thể viết lịch sử về vai trò của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất hay không?

Thực ra vấn đề này trùm lên một vấn đề khác, nghiêm trọng hơn: có thể viết lịch sử thời đại hiện nay không? Bởi vì năm 1954 đó chính là thời đại chúng ta. Không thể chối cãi rằng những sự kiện chúng ta muốn phân tích và giải thích hiện vẫn còn tồn tại một cách kỳ lạ. Vào lúc chúng tôi biên soạn công trình này, vấn đề Đông – dương chưa được hoàn toàn giải quyết. Những con người, nhiều khi vẫn là những con người ấy: Phạm Văn Đồng, Xu – pha –nu – vông, và những người khác. 25 năm sau, vẫn còn đứng ở hàng đầu thời cuộc. Có nghĩa là những ham muốn cách đây 20 năm vẫn còn là một phần những ham muốn hiện nay. Vậy thì, phải chăng đó là lịch sử?

Chúng tôi ý thức được những khó khăn do một tình hình như vậy gây ra. Nhưng chúng tôi càng không chịu bỏ cuộc.

Tất nhiên lịch sử cần một bước lùi để hiểu biết nó. Nhưng nó cũng cần nhân chứng, kể cả nhân chứng còn sống. Lịch sử không thể vô tình theo cách cảm thụ cả bản thân những người đương thời đối với những sự kiện nó. Việc khai thác báo chí, hoặc có mặt tại cuộc thương lượng có thể, theo chúng tôi, về phương diện đó, một lịch sử nào đó có thể và phải viết cùng với sự kiện diễn ra.

Vả lại – nhưng phải chăng đó là một lý lẽ? – trông chờ có được hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc, tức là chịu bó tay không biết được lịch sử trong một tương lai thấy trước. Vậy mà chính sách của Trung – quốc tiếp diễn, ở Đông – dương cũng như ở nơi khác. Những phương tiện điều tra của chúng tôi dù không hoàn hảo thì ngay từ giờ phải cố tìm hiểu. Chúng tôi cảm thấy những lý lẽ đó làm sôi sục cuộc thảo luận bất tận về chức năng của lịch sử. Bảo tồn quá khứ ư? Hướng dẫn tương lai ư? Chúng tôi không đi vào con đường đó. Nhưng có lẽ chúng tôi nhớ rằng lịch sử bao giờ cũng là con đẻ của thời đại, đã và sẽ không bao giờ có lịch sử chung cục. (?)

Vậy thì tại sao ngay từ hôm nay ít nhất lại không trình bày những nhân tố có sẵn trong tay? Chúng tôi biết rằng có những giới hạn không thể vượt qua. Giá trị duy nhất của công trình nghiên cứu của chúng tôi có lẽ sẽ là bản liệt kê những cái gì chúng tôi còn chưa biết. Nhưng phải chăng đó là cách góp phần vào tìm hiểu lịch sử?

Công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ phát triển thành bốn phần.

Phần thứ nhất muốn giới thiệu tình hình Trung – quốc năm 1954 (chương I). Vấn đề Đông – dương nhìn từ Bắc – kinh (chương II) đồng thời các cuộc thương lượng quốc tế sẽ phải dẫn đến việc mời Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham dự hội nghị Giơ – ne – vơ (chương III).

Quả thực, việc nghiên cứu tình hình chính trị và kinh tế Trung – quốc mũa xuân năm 1954 là cần thiết để phân tích và tìm hiểu những mục tiêu chủ yếu mà Chu Ân Lai theo đuổi khi đến Giơ – ne – vơ. Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, mức độ ưu tiên dành cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, tình hình bên ngoài của quốc gia trẻ tuổi và những tham vọng của nó trong lĩnh vực này sẽ quyết định ở mức độ lớn nền ngoại giao Trung – quốc tại cuộc hội nghị. Thêm vào đó là cách nhìn đặc biệt và truyền thống đối với mối quan hệ Trung-Việt, mà chúng tôi thấy cần nêu lên một số chi tiết, bởi vì cách nhìn đó sẽ đóng vai trò có lẽ là không thể coi thường được, về phía Trung – quốc cũng như về phía Việt – nam trong việc tiến hành cuộc thương lượng.

Nhưng một chính sách đối ngoại không phải chỉ là tổng hợp các lực lượng bên trong: đó còn là sự thích nghi thường xuyên các biện pháp và mục tiêu của dân tộc với các trở ngại và khả năng với các hệ thống quốc tế đem lại. Có nghĩa là cần phải đồng thời chú ý đến viện trợ chính trị, kinh tế và quân sự của Trung – quốc cho cộng sản Việt – nam và những phản ứng của phía Pháp và cường quốc phương Tây khác đối với sự viện trợ đó.

Cuối cùng, chương III, một loại chuyển tiếp đi đến nghiên cứu chính hội nghị Giơ – ne – vơ, nói về cuộc gặp gỡ ở Béc – lin, có nghĩa là việc bốn “nước lớn” khác mời Cộng hoà nhân dân Trung – quốc đến Giơ – ne – vơ và các phản ứng của chính phủ Bắc – kinh đối với lời mời đó.

Với phần thứ hai, chính là nghiên cứu diễn biến bản thân cuộc thương lượng, đánh dấu bằng sự thất bại của cuộc đàm phán về vấn đề Triều – tiên ngày 15 tháng 6 năm 1954. Giai đoạn Triều – tiên của hội nghị Giơ – ne – vơ không bao giờ được các cường quốc coi như một cuộc gặp gỡ quốc tế có tầm quan trọng hàng đầu, khi rõ ràng là không một thoả thuận nào có thể đạt được từ hội nghị đó. Tuy nhiên chắc chắn đánh giá rất sai lầm, nhất là đối với Trung – quốc, nếu tách rời hoàn toàn các vấn đề Triều – tiên và Đông – dương. Việc nghiên cứu đơn thuần trình tự thời gian các sự kiện sẽ chỉ ra rằng sự thất bại của cuộc hội nghị về Triều tiên đã thay đổi đến mức nào thái độ của Chu Ân Lai. Vấn đề này, được đề cập ngay từ chương IV nói về việc khai mạc hội nghị, sẽ là kết luận lo-gích của chương IV, đồng thời của cả phần hai. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ nói đến các cuộc gặp diễn ra “song song” ngay từ đầu, giữa đoàn đại biểu Trung – quốc với những người phương Tây trong nhiều vấn đề chính trị và kinh tế (chương V). Nếu cuộc hội nghị Giơ – ne – vơ, theo con mắt phương Tây , còn đáp ứng với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất, thì đó cũng là cơ hội để Trung – quốc tiến hành nhiều cuộc thương lượng khác nhau, không trực tiếp ảnh hưởng đến Đông – dương nhưng lại có tầm quan trọng chủ yếu đối với việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Trung – quốc trong thời kỳ này.

Thái độ của Trung – quốc trong giai đoạn hai của hội nghị – giai đoạn bổ ích nhất – sẽ là đề tài chính của phần thứ ba. Đó sẽ là dịp đề cập chi tiết hơn vấn đề Lào và Cam-pu-chia. Trong đó, thủ tướng Trung- quốc đóng vai trò quyết định (chương VII). Cũng là dịp chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu đến toàn bộ chính sách Trung – quốc ở Nam Á và Đông Nam Á bằng cách theo dõi chuyến đi thăm của Chu Ân Lai ở Niu – Đê – li và Răng – gun (chương VIII). Cuối cùng, Chu Ân Lai trở lại Giơ – ne – vơ để tiến hành mười ngày thương lượng cuối cùng (chương IX); mười ngày thiết yếu để hiểu được những mục tiêu của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng này.

Đối với ba phần đầu của công trình này, chúng tôi đã đưa ra đề mục chung: “Tự khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế”. “Ngăn cấm Mỹ vào Đông –dương” và “áp đặt các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”. Sự lựa chọn của chúng tôi là do các đề tài chủ chốt trong mỗi phần: Vị trí của cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong hàng ngũ các “nước lớn” khi nói về hội nghị Béc – lin, vấn đề quốc tế hoá cuộc chiến tranh vào giờ phút khai mạc hội nghị Giơ – ne – vơ và vấn đề năm nguyên tắc, khi nói đến quan hệ giữa Trung – quốc, Lào và Cam –pu – chia, cũng như khi nói đến cuộc đi thăm của Chu Ân Lai ở Ấn Độ và Miến – điện. Như vậy, rất rõ ràng đó là ba tư tưởng chủ đạo của toàn bộ chính sách Trung – quốc năm 1954 vào bất cứ thời kỳ nào, bất cứ vấn đề gì và ở bất cứ vùng nào trên thế giới.

Cuối cùng, phần thứ tư dành cho kết luận và suy nghĩ có thể rút ra từ cuộc gặp gỡ ở Giơ – ne – vơ giữa Trung -quốc và các cường quốc phương Tây. Để làm việc đó, chúng tôi đi theo ba hướng: Nghiên cứu các điều đã thoả thuận cách thức Trung – quốc giải thích và tôn trọng (hiệp định) để đưa chúng ta đến xác định rõ bản chất của chính sách Trung – quốc ở Đông – dương (chương X). Rồi vượt khỏi khuôn khổ địa lý chật hẹp đó, chúng tôi thử lường các hậu quả của việc giải quyết cuộc khủng hoảng đó đối với “hình ảnh” và vị trí của Trung – quốc mới trên thế giới (chương XI)…Cuối cùng đi từ cái riêng nhất đến cái chung nhất, chúng tôi cố gắng nêu bật điều chủ yếu mà việc nghiên cứu kỹ lưỡng cuộc hội nghị này có thể đem lại là phân tích những phương hướng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Trung-quốc (chương XII).

Đăng trong Chiến tranh VN, Trung Quốc, Điểm sách | 1 Comment »

119:Một thời Chiến tranh

Đăng bởi hoangtran204 on 08/04/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Một thời Chiến tranh

Có phải cuộc chiến tranh Việt Nam là ‘không thể chiến thắng’ hay không?

“kẻ sát nhân thô bạo…” – Thuỷ quân lục chiến Mỹ ôm em bé Việt Nam bị thương chạy tại mặt trận (Việt Nam, 1965)
Nguồn: Paul Schutzer/Time Inc.

ARTHUR HERMAN

Ngày 7-4-2009

[Bookshelf]

Cuộc chiến gây nhiều tranh cãi nhất đã kết thúc cách đây 34 năm vào tháng nầy. Có hai trường phái đưa ra ý kiến về những gì đã xảy ra ở Việt Nam.

Trường phái thứ nhất được dạy trong các trường đại học và trong những cuốn giáo khoa cho  rằng chiến tranh VN là cuộc chiến sai lầm, hiện diện không đúng chỗ và không đúng lúc. Vì sự hoang tưởng về Chiến tranh Lạnh, trường phái nầy tiếp tục câu chuyện, rằng Hoa Kỳ đã bị vướng vào giữa một cuộc nội chiến mà Bắc Việt Nam và nhà lãnh đạo của họ, ông Hồ Chí Minh, chắc chắn sẽ thắng và rằng Mỹ và đồng minh của họ, miền Nam Việt Nam, chắc chắn sẽ thua.

Trường phái thứ hai, mới xuất hiện gần đây hơn, liên quan tới sự tái xem xét các bằng chứng trên chiến trường và tại Ngũ Giác Đài — và rút ra chứng cớ từ chính những người miền Bắc Việt Nam — đang kết luận rằng quân đội Hoa Kỳ đã thành công hơn nhiều tại Việt Nam so với những gì mà người ta vẫn tưởng. Quan điểm của những người xét lại nầy cho rằng cuộc xung đột không phải chỉ có thể chiến thắng mà còn thắng lớn vào tháng Một năm 1973, khi Hiệp định Hòa bình Paris được ký kết thuyết phục Bắc Việt Nam công nhận Nam Việt Nam và chấp nhận đường ranh giới giữa hai quốc gia nầy (một bản thỏa thuận mà miền Bắc ngay tức khắc đã vi phạm). Tuy nhiên, vào lúc đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã từ chối không chịu hỗ trợ miền Nam Việt Nam nữa. Bởi vậy, nước Mỹ đã đứng qua một bên khi mà một tấn thảm kịch đã xảy ra sau đó và chắc có lẽ hai triệu thường dân vô tội đã bỏ mạng — và chủ nghĩa cộng sản đã giành được một chiến thắng không xứng đáng trong cuộc Chiến tranh Lạnh.

Cuốn sách của John Prados “Việt Nam: Lịch sử của một cuộc Chiến tranh không thể thắng, 1945-1975″, như tựa đề của nó đã gợi lên, là một toan tính cố níu kéo những chướng ngại chống lại trường phái thứ hai (trường phái nhận thức mới) và làm hồi sinh trường phái thứ nhất (trường phái xưa cũ).

Ông Prados, một thành viên kỳ cựu của Cục Lưu trữ An ninh Quốc gia thuộc trường đại học George Washington University và, theo như ông nói với chúng tôi, đã là một người chống cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông đưa ra một bức tranh chi tiết về một chính phủ Hoa Kỳ không có ước muốn để đương đầu với những sai lầm của họ và một quân đội Mỹ đã bị thất bại bởi một sự nổi dậy của lực lượng du kích quân. Ông thêu dệt câu chuyện về hoạt động phản chiến vào trong bản miêu tả về chính cuộc chiến tranh đó trong một nỗ lực phô bày cho thấy làm cách nào mà ông ta cùng những người phản chiến khác đã hiểu thấu sự không ích lợi gì của cuộc chiến (VN) sớm hơn rất nhiều những chính trị gia ở Washington.

Trên tất cả, ông Prados biện minh rằng nước Mỹ đã thất bại tại Việt Nam là bởi Mỹ “đã không hiểu cuộc cách mạng Việt Nam,” một cuộc cách mạng, theo quan điểm của ông, về căn bản là một cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thuộc địa.

Nhưng tấn bi kịch phơi bày ra sau khi người Mỹ rời khỏi Việt Nam đã gợi lên rằng các nhà lãnh đạo Mỹ, khởi đầu là Harry Truman, đã hiểu “cuộc cách mạng” Việt Nam quá rõ, ông coi Hồ Chí Minh không phải là một nhà dân tộc chủ nghĩa mà là một người ưa chuộng lý thuyết (CS) và có ước muốn làm công cụ  (tự nguyện) cho  cả Joseph Stanlin lẫn Mao Trạch Đôngnghĩa là, như một người đã sẵn sàng đưa chủ nghĩa cộng sản vươn xa mà không cần biết cái giá (chiến tranh) phải trả.

Trong điều này, ông Hồ tương tự nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, Kim Nhật Thành. Trên thực tế, những nét tương đồng giữa Triều Tiên và Việt Nam đang trở nên ngày càng đáng chú ý hơn qua thời gian. Trong cả hai trường hợp, một chế độ theo chủ nghĩa Stalin ở miền Bắc đã cố gắng chiếm lấy nước láng giềng (Nam Hàn và Nam Việt Nam) ở phương nam của họ; trong cả hai trường hợp, quân đội Hoa Kỳ đã được triển khai để đẩy lui sự gây hấn. Ông Prados đã che đậy phần (sai lầm) này của câu chuyện, bằng cách không nói gì về việc làm thế nào mà chế độ (cộng sản) đã giành được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954 đã tàn sát một cách có hệ thống những đối thủ chính trị của họ và khủng bố  tầng lớp nông dân bằng nhiều cách thức đã chứng tỏ là tương tự một cách đáng sợ với những trò khủng bố kinh hoàng của Khmer Đỏ ở Cambodia 20 năm sau đó (1975-1978).

Ông Prados đặc biệt không muốn  thừa nhận rằng chính sự can thiệp của các đơn vị bộ binh Mỹ đã chận đứng trước tiên — và sau đó, trong cuộc Tổng tấn công Tết (Mậu Thân) tháng Một năm 1968 — đã bẻ gãy cuộc nổi loạn của Việt Cộng được Hà Nội hậu thuẫn tại miền Nam, đẩy quân đội Bắc Việt Nam phải rút lui vào nơi trú ẩn của họ tại Lào và Cambodia. Nỗ lực của chính quyền Nixon phá tan những nơi ẩn náu này và tăng cường cuộc chiến tranh trên không (cuộc ném bom) tại miền Bắc Việt Nam là thành quả cuối cùng bắt buộc Hà Nội phải ngồi vào bàn hội nghị thương lượng.

Thay vì đó, ông Prados đã đem tới cho chúng ta một cuộc chiến mà trong đó những người Mỹ chưa bao giờ làm bất cứ điều gì đúng và những người cộng sản chưa bao giờ làm bất cứ điều gì sai, cho tới khi cuối cùng hàng ngàn người biểu tình phản chiến, trong đó có John Kerry và các cựu bình Việt Nam Chống lại cuộc Chiến tranh, cùng xuống đường để buộc Washington và công luận Mỹ phải đối mặt với thực tế và rút ra khỏi Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tế thì rõ ràng và khác xa với những gì được nhìn thấy, phái tả phản chiến đã dựng nên một phiên bản được tiểu thuyết hóa về những gì đang xảy ra tại Việt Nam. Ông Hồ độc tài đã được miêu tả sinh động như là một (tổng thống) George Washington Á châu; một chiến thắng có tính quyết định như dịp Tết (Mậu Thân 1968) thì được tô vẽ lên như là một sự thất bại của người Mỹ [1]. Người lính Mỹ bình thường đã được miêu tả như là một kẻ vũ phu sát nhân. Tương tự, cuộc ném bom vào Cambodia để ngăn chận cho đất nước đó khỏi bị Hà Nội tấn công chiếm giữ — một hành động mà các nhà lãnh đạo Cambodia và các nghị sĩ và dân biểu của Quốc hội đã biết rõ và đã chấp thuận — thì lại bị quy cho như là hành động bí mậtbất hợp pháp; và cuộc tấn công của Mỹ vào Cambodia năm 1970 phá tan các căn cứ trú ẩn của Bắc Việt Nam và giảm cường độ cuộc chiến đã được trình bày như là một hành động mở rộng chiến tranh.

Rồi sau đó, vào năm 1975, khi quân đội Bắc Việt với số lượng lớn lao đã tấn công miền Nam Việt Nam vi phạm hiệp định Paris không thể nào chối cải được và các bạn đồng minh của miền Bắc Việt Nam, như Khmer Đỏ, đã chiếm lấy Cambodia, một số các thành viên của phe cánh tả đã tổ chức kỷ niệm chiến thắng nầy của cộng sản cứ như là chiến thắng của chính họ — theo những ngôn ngữ chính trị đó là cuộc chiến thắng. Khi Sài Gòn sụp đổ, hàng tít lớn từ bài tường thuật trên tờ New York Times của Sydney Schanberg viết là: “Đông Dương Không còn Người Mỹ nữa: Đối với Đa số Mọi Người, một Cuộc sống sẽ Tốt đẹp hơn.”

Giờ đây chúng ta biết rõ hơn. Chúng ta biết về 65.000 người Nam Việt Nam đã bị tàn sát khi Hà Nội tiếp quản và về hàng ngàn thuyền nhân đã chết trong khi trốn chạy khỏi chính thể cộng sản và về con số có lẽ chắc chắn tới 250.000 người đã chết trong các trại cải tạo.

Thế nhưng ông Prados  kết thúc cuốn sách của mình bằng cách đơn giản kéo một tấm mạng che lên những gì đã xảy ra sau đó khi nước Mỹ đã rời bỏ Việt Nam và những người cộng sản đã tiếp quản.

Đó là một thực tế mà cánh tả (cộng sản) vẫn thường chống lại, khi đó cũng như bây giờ: những người Mỹ đã chiến đấu và hy sinh ở Việt Nam cho tự do, cũng giống  như công việc mà họ đang làm ở Iraq và Afghanistan hôm nay. Bất luận những sai lầm nào mà các vị tướng và các nhà hoạch định chính sách đã thi hành trong cuộc chiến ấy thì cũng không thể tách khỏi cái sự thật quan trọng nói trên—sự thật ấy phải là một phần của bất cứ thứ lịch sử đáng tin cậy nào.


Cuốn sách “Gandhi and Churchill: Sự tranh giành những thành tựu to lớn đã đánh bại một đế chế thuộc địa và nặn ra thời đại của chúng ta” của ông Herman sẽ được phát hành vào cuối tháng này.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


[1] theo tài liệu của miền Bắc, miền Nam và của Mỹ, cuộc tổng kết chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 cho thấy đã có 70.000 ngàn bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng đã chết, so với 4000 lính của miền Nam Việt Nam175 lính Mỹ đã chết, và khoảng hơn 10.000 thường dân vô tội  miền Nam đã bị thiệt mạng; trong ấy gần 6000 – 7000 người miền Nam bị cộng sản trói tay, bắn, đập đầu chôn sống tại thành phố Huế.

———–

THE WALL STREET JOURNAL

A Time of War

Was the Vietnam War ‘unwinnable’?

  • APRIL 7, 2009

By ARTHUR HERMAN

America‘s most controversial war ended 34 years ago this month. There are two school s of thought about what happened in Vietnam. The version taught in colleges and textbooks is that it was the wrong war in the wrong place at the wrong time. Thanks to Cold War paranoia, the story goes, the U.S. wound up caught in the middle of a civil war that North Vietnam and its leader, Ho Chi Minh, were bound to win and that America and its ally, South Vietnam, were bound to lose.

The second, more recent, version, involving a re- examination of the evidence on the battlefield and at the Pentagon — and drawing on testimony from the North Vietnamese themselves — concludes that the U.S. military succeeded far better in Vietnam than was once supposed. The revisionist view suggests that the conflict was not only winnable but largely won by January 1973, when the Paris Peace Accords were signed compelling North Vietnam to recognize South Vietnam and to honor the border between the two countries (an agreement the North immediately violated). By then, however, the U.S. Congress refused to support South Vietnam any further. So America stood on the sidelines while a tragedy ensued and perhaps as many as two million innocent people lost their lives — and communism won an unearned Cold War victory.

John Prados‘s “Vietnam: The History of an Unwinnable War, 1945-1975″ is, as its title suggests, an attempt to hold the barricades against the new version and resuscitate the old. Mr. Prados, a senior fellow of the National Security Archive at George Washington University and, as he tells us, once a Vietnam War protester, offers a detailed picture of a U.S. government unwilling to confront its mistakes and an American military baffled by a guerrilla insurgency. He weaves the story of the antiwar movement into his account of the war itself in an effort to show how he and other protesters grasped the futility of the war far earlier than the politicians in Washington.

Mr. Prados argues, above all, that America failed in Vietnam because it “failed to understand the Vietnamese revolution,” which, in his view, was essentially a long anticolonial struggle. But the tragedy that unfolded after America left Vietnam would suggest that America’s leaders, starting with Harry Truman, understood the Vietnamese “revolution” only too well, seeing Ho Chi Minh not as a nationalist but as an ideological soul mate and willing tool of both Josef Stalin and Mao Zedong — that is, as a man prepared to extend communism’s reach regardless of the cost.

In this, Ho resembled North Korea’s leader, Kim Il Sung. In fact, the parallels between Korea and Vietnam become more striking over time. In both cases a Stalinist regime in the north tried to overrun its neighbor to the south; in both cases U.S. military force was deployed to fend off the aggression. Mr. Prados glosses over this part of the story, saying nothing about how the regime that took power in North Vietnam in 1954 systematically butchered its political opponents and terrorized the peasantry in ways that would prove to be frighteningly similar to those of the Khmer Rouge in Cambodia 20 years later.

Mr. Prados is particularly unwilling to concede that it was the intervention of American ground troops that first halted — and then, during the Tet Offensive of January 1968 — finally broke the Hanoi-backed Viet Cong insurgency in the South, compelling the North Vietnamese army to pull back to its sanctuaries in Laos and Cambodia. The Nixon administration’s effort to smash those sanctuaries and to intensify the air war over North Vietnam was what finally forced Hanoi to the negotiating table.

Mr. Prados gives us instead a war in which the Americans can never do anything right and the communists never do anything wrong, until finally thousands of antiwar protesters, including John Kerry and the Vietnam Veterans Against the War, take to the streets to force Washington and the American public to face reality and get out of Vietnam.

Far from seeing reality more clearly, however, the antiwar left constructed a fictionalized version of what was happening in Vietnam. The totalitarian Ho was portrayed as an Asian George Washington; a decisive victory like Tet was painted as an American defeat. The average American soldier was depicted as a murderous brute. Likewise, the bombing of Cambodia to prevent that country from being overrun by Hanoi — a move that Cambodia’s leaders and members of Congress knew about and approved — was branded as secret and illegal; and the American incursion into Cambodia in 1970 to break up North Vietnamese sanctuaries and wind down the war was presented as a move that widened it.

Then, in 1975, when a massive North Vietnamese army overran the South in blatant violation of the Paris treaty and the North’s former allies, the Khmer Rouge, took over Cambodia, certain members of the left celebrated the communist victory as if it were their own — which, in political terms, it was. When Saigon fell, the headline to Sydney Schanberg’s New York Times story read: “Indochina Without Americans: For Most, a Better Life.”

Now we know better. We know of the 65,000 South Vietnamese murdered when Hanoi took over and of the thousands of boat people who died fleeing the communist regime and of the perhaps 250,000 who died in re-education camps. But Mr. Prados ends his book by simply pulling a veil over what ensued when America left Vietnam and the communists took over.

It is a fact that the left routinely resists, then as now: Americans fought and died in Vietnam for freedom, just as they are doing in Iraq and Afghanistan today. Whatever mistakes generals and policymakers have made along the way cannot detract from that essential truth — which should be a part of any reliable history.

Mr. Herman‘s “Gandhi and Churchill: The Epic Rivalry That Destroyed an Empire and Forged Our Age” appears in paperback later this month.

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Điểm sách | 5 phản hồi »

10:Điểm sách – Bằng Sức Mạnh Tư Duy

Đăng bởi anhbasam on 16/12/2008

image0019

Điểm sách

Bằng Sức Mạnh Tư Duy

Lâu rồi Ba Sàm mới trở lại mục điểm sách hầu bà con. Bữa nay xin giới thiệu cuốn hồi ký mới xuất bản và một cuốn sách nghiên cứu về bản chất chủ nghĩa xã hội của một kinh tế gia nổi tiếng thế giới, Viện sĩ Kornai János. Cả hai cuốn đều được TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) dịch.

Nếu ai đó ở Việt Nam muốn hiểu thấu bản chất của một xã hội XHCN trên tất cả các bình diện chính trị, kinh tế, xã hội từ góc nhìn khoa học, khách quan nhất, và thêm nữa, điều đặc biệt quan trọng, là sự chuyển đổi của mô hình xã hội đã sụp đổ hàng loạt này sang một hình thái khác tạm gọi là “đổi mới”, thì khó có thể có tác gia nào phù hợp hơn cho họ tìm đến là Kornai János. Bởi vì không những là một nhà kinh tế uyên bác, mà ông còn là một trong những học giả hiếm hoi thoát ra từ một xã hội XHCN, để rồi sống, nghiên cứu, giảng dạy tại trung tâm của hệ thống TBCN. Như lời giới thiệu của cuốn hồi ký đã viết:

“Kornai János là nhà kinh tế học Hungari nổi tiếng thế giới, giáo sư danh dự của Đại học Harvard, nhà nghiên cứu danh dự dẫn đầu của Collegium Budapest Institue for Advanced Study và giáo sư nghiên cứu của Đại học Trung Âu. Ông tốt nghiệp phổ thông trung học và chưa từng học một ngày tại đại học nào nhưng đã tự học thành nhà nghiên cứu và nhà giáo lỗi lạc và trở thành viện sĩ chính thức của Viện Hàn lâm Khoa học Hungari và viện sĩ chính thức cũng như danh dự của nhiều viện hàn lâm khoa học nước ngoài khác. Ông đã dạy nhiều năm ở Đại học Harvard và nhiều đại học khác. 13 trường đại học trong và ngoài nước đã chọn ông làm tiến sĩ danh dự. Ông đã giữ nhiều chức vị quan trọng trong các tổ chức khoa học quốc tế như: chủ tịch Hội Kinh tế Lượng Quốc tế, chủ tịch Hội Kinh tế học Châu Âu, chủ tịch Hội Kinh tế học Quốc tế. Sách của ông đã được dịch ra 21 thứ tiếng. Một số tác phẩm của ông cũng đã được xuất bản bằng tiếng Việt như: Mâu thuẫn và nan giải (1988), Con đường dẫn tới nền kinh tế tự do (2001, tái bản 2002, 2007), Hệ thống Xã hội chủ nghĩa (2002), Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (2002), Lịch sử với những bài học (2007). Theo lời mời của Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, đầu năm 2001 ông đã sang Việt Nam trình bày và trao đổi về những kinh nghiệm chuyển đổi ở Đông Âu với nhiều cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách của Việt Nam. Ông cũng đã nhiều lần được các cơ quan nhà nước Trung Quốc mời góp ý cho chính sách cải cách kinh tế của họ từ các năm 1980 và được thủ tướng Triệu Tử Dương tiếp” *

Còn trong cuốn Hệ thống Xã Hội chủ nghĩa, Lawrence H. Summers, Phó Chủ tịch, Kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới nhận xét: “Kornai János đã từ lâu là nhà phân tích và phê phán chủ nghĩa cộng sản có con mắt sắc sảo nhất thế giới. Những biến chuyển quan trọng của vài năm qua gây ra nhiều căng thẳng. Quyển sách này, chắc chắn sẽ trở thành kinh điển, soi rọi thấu đáo chủ nghĩa cộng sản – vì sao nó tồn tại, và cuối cùng vì sao nó thất bại, nó phải và sẽ biến chuyển ra sao.” Còn Anders Aslund, Giám đốc Viện Kinh tế học Xô Viết và Đông Âu, Stockholm, tác giả cuốn Gorbachev’s Struggle for Economic Reform viết: “Đây là một phân tích toàn diện nhất về kinh tế xã hội chủ nghĩa từ trước đến nay. Sách viết sáng sủa và có cấu trúc cân đối, làm cho nó trở thành một cuốn sách giáo khoa lí tưởng cho một dải rộng sinh viên học hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đây có thể là công trình cuối cùng về kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhà nghiên cứu lớn nhất của kinh tế học xã hội chủ nghĩa đã tạo ra công trình vĩ đại (grand oeuvre) của mình.”

Trong lời nói đầu của cuốn Hệ thống Xã hội chủ nghĩa, Kornai János đã viết: “Những bài viết của tôi cho thấy rằng bản thân hệ thống này sản sinh ra những mâu thuẫn nội tại không thể giải quyết được, và làm cho những hình thức hoạt động của chính nó không hoạt động được đúng chức năng. Nhưng những phân tích trước đây của tôi bị giới hạn chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế và chỉ dám ám chỉ đến vài trò của giới chính trị. Cuốn sách này đã vượt được ra ngoài giới hạn đó.”“Kết luận mang tính chính trị cuối cùng của cuốn sách rất dễ tóm tắt. Chủ nghĩa xã hội cổ điển Stalin rất hà khắc và không hiệu quả, nhưng nó thiết lập một hệ thống nhất quán. Khi hệ thống này thực hiện cải cách đối với chính nó, sự nhất quán này trở nên lỏng lẻo và những mâu thuẫn nội tại của nó lại mạnh lên. Bất chấp việc tạo ra một loạt các thay đổi tốt đẹp, cải cách tất phải thất bại: hệ thống xã hội chủ nghĩa không có khả năng đổi mới bản thân nó từ bên trong để chứng tỏ được khả năng hoạt động về lâu dài. Do vậy, cuối cùng thì thời gian cho những thay đổi mang tính cách mạng thực sự cũng đã đến, xóa bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa và đưa xã hội hướng đến nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.”

Đúng như ông đã viết ở trên, cuốn Hệ thống Xã hội chủ nghĩa hoàn toàn không phải là một cuốn sách thuần tuý kinh tế, nó cho ta thấy một bức tranh tổng quan về hệ thống chính trị từ trên xuống dưới, tất cả các “ban ngành đoàn thể” hoạt động ra sao, và những điều phi lý, các căn bệnh, di chứng,… để rồi khi bước sang những mô hình gọi là chuyển đổi thì nó tiếp tục biến thái như thế nào.

Như trong phần cuối cuốn sách, nói về những cải cách để khỏi đi tới sụp đổ, tác giả viết: “Đảng Cộng sản, giữa các quá trình cải cách, muốn giữ độc quyền quyền lực, nhưng giữa chừng đã giải phóng các lực lượng chính trị, mà những lực lượng đó đòi xoá ngay độc quyền này. Đảng Cộng sản công bố chủ trương cởi mở “glasnost”, nhưng người dân thay vì biểu lộ lòng biết ơn nhân dịp này, lại bới móc tất cả những bi kịch và uất ức mà họ đã phải trải qua, và cho là Đảng Cộng sản và Chế độ có trách nhiệm về những việc đó. Những người cộng sản công bố sự sẵn sàng từ bỏ áp dụng những phương pháp tàn nhẫn để đe doạ người dân. Nhưng khi ít sợ hơn, bản năng mãnh liệt của người dân nổ ra đòi xoá bỏ hoàn toàn chế độ cường quyền, và đòi hỏi những bảo đảm được thể chế hóa về dân chủ. Điều này đẩy quyền lực của Đảng Cộng sản tới chỗ nguy hiểm, thậm chí vào chỗ nguy hiểm tột cùng trong tình thế căng thẳng.”

Hy vọng không những các nhà kinh tế tương lai, mà cả giới trí thức, những người dân ham muốn hiểu biết, và đặc biệt những quan chức Đảng, Nhà nước đều tìm thấy trong hai cuốn sách này những điều bổ ích để hiểu hơn chính mình, chế độ mình, để rồi ngẫm xem liệu có như tác giả tiên đoán, rằng “cải cách tất phải thất bại”.

image0020

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Điểm sách, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »