BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Giáo dục’ Category

468. Quy định mới về đánh giá học sinh làm phụ huynh bối rối

Đăng bởi anhbasam on 10/02/2010

BERNAMA

Việt Nam: Quy định mới về đánh giá học sinh

làm phụ huynh bối rối

10-02-2010


HÀ NỘI, ngày 10 tháng 2 (Bernama) – Các bậc phụ huynh đã tỏ ra nghi ngờ trước các quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với học sinh tiểu học, đòi hỏi đánh giá các em trên cả những kết quả học tập và hoàn thiện đạo đức, Thông tấn xã Việt Nam đưa tin.

Những quy định mới có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 12 năm ngoái, cũng sẽ tính đến các kết quả học tập của học sinh trong học kỳ hai của năm học.

Bộ cho biết, những xem xét về đạo đức bao gồm các yếu tố như thời gian có mặt ở lớp, thái độ tôn trọng cha mẹ và người già, thể dục thể thao, tham gia vào các hoạt động nhóm và bảo vệ môi trường.

“Những thay đổi khác sẽ ảnh hưởng đến cách đánh giá các môn học của các em. Các môn học bây giờ sẽ được chia thành hai loại: loạn nhận được điểm và loại nhận được ý kiến nhận xét,” Thông tấn xã VN trích dẫn lời của Bộ.

Học sinh sẽ nhận được điểm cho các môn: toán, tiếng Việt, khoa học, lịch sử, địa lý, ngoại ngữ và học về máy tính.

Trong khi đó, kết quả học tập của các môn khác như đạo đức, âm nhạc, mỹ thuật, thể dục và khoa học tự nhiên, thì sẽ nhận được hoặc là A (đậu), hoặc là B (trượt) kèm theo ý kiến nhận xét.

Để nhận được toàn bộ kết quả “tuyệt vời”, học sinh phải nhận được ít nhất 9/10 điểm đối với các môn học cho điểm như quy định, được điểm “A” cho các môn học đánh giá bằng nhận xét và thực hiện tất cả các yêu cầu về đạo đức.

Kết quả hàng năm bây giờ được đánh giá từ kết quả học tập của học sinh qua học kỳ hai, một sự thay đổi so với trước đây, khi kết quả cuối cùng được tính từ điểm trung bình của hai học kỳ.

Theo bà Phạm Bích Ngọc, hiệu trưởng trường tiểu học Nam Trung Yên ở Quận Cầu Giấy, Hà Nội, quyết định sử dụng kết quả học kỳ hai để đánh giá kết quả hàng năm của học sinh là không hợp lý.

Hơn nữa, nếu một học sinh vì một lý do nào đó mà không thể tham dự kỳ thi cuối cùng của học kỳ hai, thì tất cả những cố gắng của các em trong cả năm học sẽ không được tính.

Bà Nguyễn Thúy Hằng, phụ huynh của một trường tiểu học, cho là quy định sẽ gây khó khăn cho các em.

“Nếu một học sinh có điểm trung bình là 9/10 trong học kỳ đầu và nhận được kết quả ‘tuyệt vời’, nhưng nếu bị điểm 5 trong học kỳ hai, các em sẽ không còn được xếp vào loại ‘xuất sắc’ nữa,” bà Hằng nói.

“Như vậy sẽ không công bằng. Và hệ thống [giáo dục] này sẽ khuyến khích phụ huynh hối lộ cho giáo viên, nếu học sinh học dưới trung bình”, bà Hằng nhận xét.

Bà Nguyễn Tố Nga, mẹ của một học sinh lớp năm tại Hà Nội đồng ý với đánh giá trên và nói rằng, Bộ cần  xem xét lại các quy định.

“Quy định này chỉ làm cho học sinh thêm căng thẳng vì những cố gắng trong cả năm của các em sẽ được đánh giá chỉ từ kết quả của một học kỳ”, bà nói.

Trong khi đó một giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học của trường Cao đẳng TP HCM nói rằng, quy định như vậy chỉ làm cho các em học sinh lười biếng. Nếu chỉ xem xét kết quả học kỳ hai, học sinh sẽ không học tập chăm chỉ trong học kỳ đầu.

Ông nói thêm rằng, cách tốt nhất để làm cho các em học sinh lúc nào cũng đạt kết quả tốt nhất, đó là thường xuyên đánh giá kết quả học tập của các em..

Tuy nhiên, Giám đốc vụ Giáo dục Tiểu học thuộc Bộ GD & ĐT, Lê Tiến Thành cho biết, các quy định nhằm giảm bớt áp lực cho các em học sinh, đòi hỏi các em phải thi kiểm tra hai lần một năm.

Ông nói thêm rằng nếu học sinh được điểm 10 trong học kỳ đầu và điểm 2 trong học kỳ hai, thì kết quả cho cả năm học sẽ là 6, nghĩa là học sinh đó vẫn được lên lớp.

Trong khi đó, nếu một học sinh bị điểm 2 trong học kỳ đầu và được điểm 9 trong học kỳ hai (kết quả trung bình là 5.5), học sinh này cho thấy có kiến thức sâu hơn so với học sinh trong ví dụ đầu tiên.

Vì thế, sử dụng kết quả học kỳ hai cho cả năm theo kinh nghiệm thì hợp lý, ông nói.


Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Giáo dục | Tagged: | 7 phản hồi »

384. Tự lập, độc lập suy nghĩ…

Đăng bởi anhbasam on 03/12/2009

Tự lập, độc lập suy nghĩ…

(Báo Tuổi trẻ – Ngày 12-7-2004)


TT – Đọc trên Tuổi Trẻ bài giới thiệu cuốn phim của Nhật sẽ chiếu trên VTV, toàn những cảnh quay “lén” hoạt động tự nhiên hằng ngày của lũ trẻ: tự lập làm việc, độc lập suy nghĩ… Chưa xem mà đã thấy ham. Người ta cũng “máu đỏ da vàng” như mình, chứ đâu có kiểu tự do như Tây! Vậy mà… Chợt nghĩ đến “chiến lược phát triển con người” của chúng ta, không thể không có những điều cần suy ngẫm:

Ngay từ bé thơ, trẻ đã được “ngấm” câu hát buổi đầu vào nhà trẻ – mẫu giáo: “…cô yêu cháu vì cháu không khóc nhè…”, hay “thứ hai… bé hứa cố gắng chăm ngoan, thứ ba… càng ngày cháu càng cố gắng, …thứ bảy cô cho cháu phiếu bé ngoan,… cả nhà đều vui vì bé ngoan suốt tuần”.

Những câu hát đó minh họa thật chính xác cho phương pháp dạy dỗ từ mẫu giáo cho đến hết phổ thông: không khóc, ngồi im, muốn nói phải giơ tay đúng kiểu chờ cô cho phép, khoanh tay lắng nghe không được tranh luận với cô, hạn chế cười đùa, luôn được theo dõi bằng hệ thống điểm, phiếu, cán bộ cờ đỏ… (vậy nên những vụ bắt trò liếm ghế, đánh đòn hạ nhục lẫn nhau mà ta đã được biết gần đây không phải lạ).

Trẻ thơ hồn nhiên và ngây thơ, khóc – cười, nghịch ngợm nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, vui – buồn – yêu – ghét rõ ràng nơi chúng, thậm chí đánh nhau đôi khi là thể hiện một nhân cách đáng nể. Thay vì quá khuôn mẫu trong mọi hoạt động hằng ngày, hãy cho chúng nhiều hơn những không khí vui tươi tự nhiên, tính trung thực thẳng thắn.

Trong giáo dục từ lâu dường như đang có một xu hướng: cố giữ cho trường lớp một cái vẻ ngoài tĩnh lặng, nghiêm túc, mà ngầm chấp nhận tình trạng quay cóp, nâng điểm, làm bài theo mẫu, “đóng kịch” với đoàn tham quan dự giờ…; nặng hơn là một lối sống ù lì, thụ động, giả tạo nơi học sinh, hay ngược lại là hiện tượng “bùng nổ” khi ra khỏi cổng trường bằng đua xe, phạm tội. Tất cả là vì thành tích và sự dễ dàng hơn cho việc dạy dỗ của thầy cô. Tựa như đại dương, lặng sóng phía trên nhưng bên dưới có thể là những đợt sóng ngầm nguy hiểm.

Hãy nhìn những hiện tượng tha hóa hằng ngày ngoài xã hội, nơi cán bộ có chức quyền, hoàn toàn có cội rễ bởi cách giáo dục con người từ thời tấm bé. Nếu cứ khuyến khích những kẻ đạo đức giả, luôn tỏ ra “ngoan ngoãn”, “gọi dạ bảo vâng”, đe nẹt những người có chính kiến riêng, nhiều tài năng nhưng thiếu khả năng “đặt đâu ngồi đó”, chúng ta sẽ bị mất nhân tài ghê gớm, làm méo mó nhân cách con người ngay từ nhỏ, tạo môi trường thuận lợi cho những kẻ xu thời, cơ hội phát triển.


Nguyễn Hữu Vinh


Đăng trong Bài của Ba Sàm, Gia đình/Xã hội, Giáo dục | 4 phản hồi »

377. Xã Giao hay nói thật

Đăng bởi anhbasam on 26/11/2009

Xã Giao hay nói thật


Trên báo điện tử Dân Trí ngày 24/11/2009 có đăng bài phỏng vấn GS Trần Thanh Vân,  nhà khoa học khả kính, một trong những trí thức Việt kiều tài năng,  khi ông về dự Hội Nghị Việt kiều Thế giới lần thứ 1 được tổ chức tại Hà Nội . Đọc bài báo mấy lần, tôi xin lỗi khi phải nói ra cảm giác thật sự thất vọng, nghĩ rằng nhà báo nọ ghi chép vội, không đúng lời phát biểu của GS TTVân khi ông đề cập đến những sáng kiến táo bạo của Bộ GD-ĐT, rằng ”tôi thấy Chính phủ Việt Nam hiện đang xây dựng 4 trường ĐH đẳng cấp quốc tế và đào tạo 20.000 tiến sĩ, đây là một điều rất mừng. Với việc đào tạo 20.000 tiến sĩ, nhiều người lo ngại chất lượng không tốt nhưng theo tôi, trong số này có 500 tiến sĩ giỏi thì tốt lắm rồi, ít còn hơn không”. Đọc đi đọc lại, sợ mình nhầm, nhưng không, giấy trắng mực đen rành rành đến thế kia…. ! Là một nhà khoa học và cũng là một nhà giáo nhưng GS TTVân đã lấy con số 20,000 TS được đào tạo trong đó có 500 TS giỏi…để  “rất mừng” thì không hiểu đây là lời nói mang tính chất “ngoại giao”(protocolaire) hay thực sự GS nghĩ như thế .Thế nào là TS giỏi và thế nào là TS “không” giỏi ? Đào tạo nhà khoa học với học vị Tiến Sĩ thì có nên chạy theo số lượng như vậy chăng ? Mong là câu phát biểu đó nằm ở vế thứ nhất, còn nếu như thuộc vế thứ hai thì mạn phép xin được trao đổi tiếp.

GS Trần Thanh Vân người gốc Quảng Bình. Năm 1953, khi mới 17 tuổi, ông qua Pháp học. Năm 1956, ông tốt nghiệp Đại học Paris với 2 bằng cử nhân vật lý và toán học. Năm 1958, ông bảo vệ thành công luận án thạc sĩ và đến 1966 trở thành tiến sĩ về lĩnh vực vật lý hạt cơ bản.

Ông đã giảng dạy tại Đại học Paris, là nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu KH Quốc gia Pháp, được Chính phủ Pháp tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, Viện Hàn lâm khoa học Nga bầu làm Viện sĩ danh dự.

GS Vân đã có trên 300 công trình khảo luận và 115 đầu sách về vật lý mang tên ông.


Cũng trong không khí tưng bừng, hồ hởi của một hội nghị “hoành tráng”, GS còn phát biểu ”Tôi khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc. Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình. Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục ở nước ngoài không được như thế”. Có chủ quan lắm không thưa GS TTVân ? Nếu “hấp dẫn” thật sự thì tại sao số nhà khoa học về giảng dạy và nghiên cứu từ nước ngoài về làm việc trong nước quá hiếm hoi ? Cái khổ phải “rửa chén bát…” ở nước  ngoài và cái khổ không có điều kiện để tiếp tục nghiên cứu khoa học” ,”đồng lương chết đói”(không quá 3 triệu đồng/tháng) của trí thức (có học hàm học vị) trong nước, kể cả anh em Việt kiều đã hồi hương thì cái nào đáng nói, và có nên so sánh về  “nổi khổ” khập khiểng thế kia không ? Đành rằng ở đoạn dưới GS không quên thông cảm cho hoàn cảnh của trí thức trong nước: ”Tôi biết số lượng GS ở Việt Nam rất ít mà lương GS ở Việt Nam lại rất thấp nên để trang trải cuộc sống họ phải đi dạy thêm không còn thời gian dành cho nghiên cứu khoa học” bên các những nhận xét chí lí như “Trước hết Chính phủ bỏ một số đông trường đại học không đủ điều kiện là trường đại học chuyển thành trường dạy nghề”.

Hi vọng trong lần về nước nầy Giáo sư tiếp tục tìm hiểu sâu hơn, kĩ hơn và chính xác hơn về thực trạng của nền giáo dục nước nhà(**), trong đó phong trào lập Đại học để kinh doanh khắp nơi nở rộ trong mấy năm gần đây như GS đã phê phán ở phần trên cũng như tránh ca ngợi “cảm tính” để….và tôi tin rằng nhiều người rất buồn khi đọc phải những lời ca ngợi “ngoại giao” chiếu lệ của Giáo sư.


Hồng Lê Thọ (VK Nhật)

11/2009

(*) Những đoạn chữ nghiêng, in đậm là trích dẫn theo “

(**)xin tham khảo các bài viết của GS Hoàng Tụy và một số nhà giáo khác ở trong nước.

Bình thêm của Ba Sàm: Có lẽ tác giả bài nầy bận bịu nên không được may mắn đọc bài báo dưới đây, để dễ hiểu hơn những phát ngôn “xã giao” của GS Trần Thanh Vân: GS Trần Thanh Vân xây trung tâm gặp gỡ khoa học Quốc tế tại Quy Nhơn (DTrí).

Hình trên: Vợ chồng GS Trần Thanh Vân nhận bằng khen của Chính phủ năm 2008 (DT)

Đăng trong Giáo dục, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | Tagged: , | 21 phản hồi »

304. Giáo dục Việt Nam: cải cách nửa phần

Đăng bởi anhbasam on 21/09/2009

Trần Hoàng, Hữu Vinh

Giáo dục Việt Nam: cải cách nửa phần


Nhiều năm nay, trong các trường phổ thông ở Việt Nam, câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” đã trở thành quen thuộc. Nhưng không rõ liệu có bao nhiêu thầy, trò tự giải thích cái ý nghĩa của câu ngạn ngữ ấy, và họ giải thích ra sao? “Văn” thì có vẻ dễ hiểu, nó là tri thức, nhưng còn “lễ” là cái gì thì không dễ giải thích.

Trong cuốn Nho Giáo của cụ Trần Trọng Kim về chữ Lễ được phân tích rất cầu kỳ, kỹ lưỡng, chỉ xin trích một đoạn tóm lược, gồm bốn ý:

  1. Hàm dưỡng tính tình;
  2. Giữ tình cảm cho thích hợp đạo trung.
  3. Định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự trên dưới cho phân minh.
  4. Tiết chế cái thường tình của người ta.

Nhưng một khẩu hiệu mang hơi hướng đạo lý Nho giáo, được áp dụng dưới mái trường xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong một xã hội với nền kinh tế thị trường và bang giao quốc tế rộng mở, hiểu biết và quan niệm trong lớp trẻ về các quyền tự do cá nhân đã thay đổi rất nhiều so với chỉ mươi năm về trước, thì sẽ càng khó thêm để hiểu cho đúng, ngay cả với thầy chứ chưa nói tới trò.

Cho nên, nếu tìm một khái niệm cho đơn giản dễ hiểu, thì “học lễ” là rèn lối sống sao cho thành người tử tế, văn minh. Nhưng quan niệm về dạy chữ “lễ” ở mỗi người mỗi khác nhau. Có người thì cho là dạy theo đúng lễ giáo phong kiến xưa; người khác muốn phải như thời ở miền Bắc cách nay nửa thế kỷ; lại có người cho là phải học theo lối sống văn minh phương Tây (mà như Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia châu Á cũng có truyền thống Nho giáo lâu đời đã làm được).

Trên thực tế trong nhiều năm qua đã nổi lên hai mối nguy lớn qua việc soi chiếu vào câu khẩu hiệu này. Đó là: quá chú trọng “văn”, tức là trí dục, trong khi với “lễ” – đức dục – lại vừa quá coi thường, vừa tiếp tục đi theo lối mòn nguy hiểm. Điều này dễ thấy ngay trong các chương trình gọi là cải cách, hoàn toàn tập trung vào nội dung, chương trình dạy, học, thi cử. Nhiều kiến nghị của các bậc trí thức, nhà giáo uy tín, có kinh nghiệm cũng đều tập trung nói về trí dục, tức học văn, còn chữ lễ có nói tới cũng thường được lồng trong chương trình học, không có tính hệ thống. (Có chăng người ta chỉ sửa nội dung môn Giáo dục Công dân. Song, đâu phải chỉ môn này là tác động tới tư cách con người học sinh trong suốt 12 năm học?)

Không khó để giải thích vì sao. Đó chủ yếu là do tính nhạy cảm của vấn đề.

Bài này xin gợi mở một vài điều quanh khái niệm học lễ – đức dục – trong trường phổ thông. Nó liên quan tới một hệ thống từ tiêu chuẩn, quyền hạn, trách nhiệm của bộ máy quản lý giáo dục, của thầy cô, cho tới những nguyên tắc quản lý học sinh, tổ chức hoạt động của trường lớp,… rồi cả một hệ thống chính trị gồm Đội Thiếu niên, Đoàn Thanh niên, tổ chức bộ máy trường lớp, tiêu chí đánh giá thầy cô, học sinh… Tầng tầng lớp lớp rất nặng nề, với vô vàn những quy định tùy tiện (tựa những văn bản dưới luật trong điều hành bộ máy nhà nước) kìm hãm sự phát triển tự nhiên từ trẻ thơ cho tới trưởng thành, thậm chí là căn nguyên lớn cho lối sống đạo đức giả, dối trá mà ngành giáo dục trong hơn một năm qua phát động tuyên chiến.

Tuy nhiên, để tiện hình dung, so sánh, rút kinh nghiệm, phần hai của bài sẽ dẫn chứng phương pháp dạy, học liên quan tới đức dục của nền giáo dục miền Nam trước 1975 và một vài dẫn chứng đối chiếu với giáo dục Mỹ (môi trường mà Chính phủ Việt Nam mới đây đã rất quan tâm và có những bước đi mạnh mẽ tìm sự trợ giúp).

Phần Một

1. Hạnh kiểm: đánh giá đạo đức học sinh.

Lớp mẫu giáo: đã có phương pháp sơ khai là phiếu bé ngoan được phát vào ngày cuối tuần. Trên thực tế phiếu bé ngoan có ít nhất năm điều tai hại:

  • Rất hình thức, gần như các cháu đều được.
  • Mang tính hù doạ (ít khóc, ít tè dầm- ị đùn… là được), tạo tâm lý lo sợ mỗi ngày, mỗi cuối tuần, thui chột bản chất hồn nhiên.
  • Trao quyền sinh sát quá lớn cho cô giáo khi không có tiêu chuẩn, cơ chế đánh giá gì rõ ràng, tạo dần thói quen e sợ cấp trên cho trẻ ngay từ bé.
  • Gây cảnh bất công phi lý (khi chỉ có hai loại: được hoặc không được phiếu, tức là “hư” hoặc “ngoan”).
  • Tác động xấu tới cả cha mẹ trong phương pháp giáo dục con cái.

Cấp 1, cấp 2, và cấp 3:

Từ lớp một đến mười hai, hạnh kiểm xếp theo 4 tiêu chuẩn: tốt, khá, trung bình, và yếu. Cách xếp loại này cũng khá hình thức, tuỳ thuộc nhận thức và tùy tiện ở thầy cô. Tai hại nhất là một quan niệm rất phổ biến: hễ học sinh nào hiền lành, ít đùa nghịch, không “cãi lại” thầy cô thì thường được gọi là “ngoan”, dễ được hạnh kiểm tốt. Trong khi việc đánh giá hạnh kiểm lại vô cùng quan trọng và đôi khi trở thành ác mộng cho các em vì ảnh hưởng việc chuyển cấp, chuyển trường, và vào đại học…

Hậu quả của vấn đề đánh giá hạnh kiểm này ở cấp 1, 2 , 3 là nảy sinh dối trá và tiêu cực. Thêm vào đó, việc đánh giá hạnh kiểm hoàn toàn bất công và không khách quan. Điển hình là một mình giáo viên chủ nhiệm mà được trao quyền quyết định sinh mệnh chính trị của năm sáu chục con người, trong khi với chính họ và đội ngũ công chức, để đánh giá tư cách phải có quy trình bình bầu rất công phu.

Đề xuất chung là nên bỏ hoàn toàn cách đánh giá hạnh kiểm này.

2. Quy chế. Kỷ luật:

– Học sinh lớp mẫu giáo được dạy phải ngồi im và khoanh tay nghe cô giảng, hát đồng ca, vỗ tay khi cô yêu cầu, cô hỏi thì phải thưa đồng loạt, ít được tự do chạy chơi vui đùa hồn nhiên. Phương pháp dạy dỗ này một phần bị ảnh hưởng bởi điều kiện dạy, học, đời sống giáo viên thấp kém.

– Vào trường phổ thông là hàng loạt quy định nghiêm ngặt từ nhà trường cho tới thầy cô chủ nhiệm, từ quy chế nhà trường cho tới quy định riêng tùy hứng của thầy cô. Học sinh có được biết, học và kiểm soát việc thi hành Luật Giáo dục để được tự bảo vệ mình không? E rằng điều này quá xa lạ với các em, trong khi những thứ dưới luật thì vô thiên lủng. Xin đơn cử:

  • Hàng tuần có buổi xếp hàng nghe đọc điểm thi đua rất chi tiết, nêu tên lớp, học sinh vi phạm… Mức độ nhiều ít, coi trọng tới đâu đều tùy trường – nông thôn hay thành phố, trường điểm hay bình thường, tư thục hay công lập – nhưng tóm lại là rất tùy tiện. Việc này vừa mất thì giờ, vừa gây tâm lý nặng nề, ý thức ganh đua hình thức, sinh bất công, thậm chí xúc phạm nhân phẩm học sinh.
  • Thầy cô (thường là chủ nhiệm lớp) hầu như được tuỳ ý đưa ra quy định đánh giá hoặc hình phạt với trò, từ không được nhuộm tóc; tóc ngắn quá / dài quá thì bắt kiểm điểm, đuổi về, xỉ vả; cho đến vui chơi đùa nghịch gây khó chịu cho thầy cô đều có thể bị nhận hình phạt dưới đủ mọi hình thức tùy theo tâm trạng, tính cách, thái độ yêu/ghét thầy cô, và cả “sáng kiến” một khi họ tự cho là mình “bất lực”, phải tìm phương pháp mới. Những hiện tượng hành hạ học sinh mà báo chí mấy năm nay đưa rất nhiều là minh chứng rõ nhất.
  • Một hiện tượng khá nghiêm trọng hiện nay liên quan tới vấn đề kỷ luật học sinh là: do hệ thống giáo dục Việt Nam từ nhiều năm không khuyến khích phát triển tư thục, nên nó như một thứ doanh nghiệp nhà nước độc quyền (bán một thứ hàng hóa quá ư đặc biệt, khách hàng không bao giờ được nắm đằng chuôi, như “đâm lao phải theo lao”) nên việc xin học, chuyển trường/lớp rất gian nan, phản ánh những sai trái của giáo viên, nhà trường là đối mặt với nguy hiểm. Từ đó, nảy sinh thái độ cửa quyền từ thầy cô, nhà trường.

Một khi học sinh bị vi phạm với mức độ nào đó, lớp, nhà trường có thể tìm cách ép dưới mọi hình thức để học sinh đó phải chuyển đi, đảm bảo không khí trong lành cho riêng mình. Đây là một thứ như “hù doạ” cho cả phụ huynh lẫn trò, từ đó họ phải chịu sức ép để mà ngoan ngoãn dưới mọi hình thức.

Muốn sửa căn bản thói quen lâu đời làm mụ mị lớp trẻ này, phải đảo ngược các quy định, đó là thay vì để cho giáo viên tự có quyền dường như vô hạn, thì nay hãy dần dần đặt ra các hình phạt với giáo viên nếu trong phương pháp giáo dục có biểu hiện xúc phạm hay hạn chế khả năng phát triển tính tự chủ của học sinh. Đồng thời có cơ chế thích hợp để học sinh được có ý kiến riêng của mình, tốt nhất là mở diễn đàn trên blog hoặc web cho trường, lớp, giao cho học sinh tự quản. Cách làm này cũng sẽ hạn chế phần nào tiêu cực từ phía thầy cô (ép học thêm, bạo hành…)

3. Hệ thống quản lý: quá nhiều, gồm có giáo viên chủ nhiệm, ban lãnh đạo lớp, giám thị, sao đỏ, sổ liên lạc, ban phụ huynh.

– Giáo viên chủ nhiệm: tình cảm của các em học sinh vui, buồn sướng khổ phụ thuộc vào giáo viên chủ nhiệm. Học sinh không được cãi lại thầy cô giáo, không biết nơi nào để có thể phản ánh những sai trái và bày tỏ sự tín nhiệm hay không với giáo viên chủ nhiệm. Trong khi đó, lương, điều kiện sống, làm việc của giáo viên lại kém so với rất nhiều ngành nghề khác, đem tới hậu quả tiêu cực dưới nhiều hình thức. Từ đó có hiện tượng tập trung quyền “sinh sát” trong tay của giáo viên chủ nhiệm. Trước hết liên quan tới hạnh kiểm – một vấn đề rất hệ trọng với học sinh, nhưng lại rất mơ hồ về cách xếp loại. Cần có thay đổi ngay quyền hạn, trách nhiệm của vị trí này. Tốt nhất giáo viên chủ nhiệm chỉ nên là người chăm sóc tinh thần cho học sinh, tuyệt đối không có quyền đánh giá hạnh kiểm. Việc này đi đôi với hủy bỏ chế độ đánh giá hạnh kiểm học sinh.

– Ban lãnh đạo lớp: nếu tính tất cả những học sinh có chức vị trong lớp thì có thể chiếm tới 1/4 sĩ số (lớp trưởng/phó, tổ trưởng/phó, cán bộ đoàn/đội, sao đỏ,…). Số này thường được thầy cô chủ nhiệm cử, nếu có được học sinh bầu cũng chỉ là hình thức. Tâm lý háo danh, ham quyền lực, tình trạng bất bình đẳng, mất đi chất hồn nhiên tuổi trẻ dễ phát sinh từ đây.

– Giám thị: nhiều năm nay có thêm hệ thống này, thường là các thầy giáo đã nghỉ hưu đảm trách, lãnh trách nhiệm như cảnh sát trật tự, nhưng quyền hạn không rõ ràng, hành xử hầu như theo cảm tính. Họ cần được hạn chế tối thiểu quyền, tốt nhất chỉ nên đóng vai trò quan sát, nhắc nhở chung.

– Sao đỏ: là những học sinh thường “ngoan”, có năng lực phát hiện và chịu mách thầy cô những vi phạm kỷ luật của bạn bè. Đội ngũ này hình thành trong hàng chục năm qua, góp phần giữ không khí kỷ luật trong trường, lớp. Thế nhưng, mặt trái của nó dường như chưa bao giờ được xem xét. Đó là gây không khí căng thẳng, ganh đua không cần thiết, mất hồn nhiên của tuổi trẻ, nghi kỵ lẫn nhau, kích thích thói đam mê quyền lực, cậy quyền cậy thế, nịnh hót, dò xét thóc mách… giữa học sinh với nhau. Cần bỏ hoàn toàn.

– Ban phụ huynh: nhiều năm nay, do những đặc thù nêu trên, nên vai trò như cầu nối giữa nhà trường với phụ huynh / học trò của tổ chức này rất yếu. Hầu như họ được cô chủ nhiệm chỉ định, chỉ làm nhiệm vụ giải quyết chính sách chế độ với thầy cô; khá hơn thì vài lần tổ chức cho trò đi cắm trại. Họ thường không dám phản ứng với thầy cô, nhà trường. Lý do có nhiều, từ thói quen chung của xã hội, sợ con bị trù úm, cho tới ảnh hưởng từ hệ thống quản lý, kỷ luật dễ nảy sinh tùy tiện như nêu trên.

– Sổ liên lạc: đây cũng là thứ rất hình thức, làm giáo viên mất nhiều thì giờ vô ích, song thêm tâm lý gò bó cho học sinh.

– Một cách gián tiếp, hệ thống quản lý giáo viên nhiều tầng nấc và khắt khe từ soạn giáo án, bình bầu, thanh tra… mang tư duy cũ cũng gây áp lực không tốt cho những thầy cô muốn mày mò tự cải tiến phương pháp dạy dỗ học sinh theo hướng chống lối hình thức giả tạo, khích lệ tính tự chủ hơn. Vậy cần giảm bớt quyền lực, tăng khả năng hướng dẫn cho các cấp quản lý giáo dục – từ Bộ cho tới nhà trường.

4. Phong trào: có quá nhiều đợt phát động phong trào thi đua trống dong cờ mở, mất thì giờ, tiền của. Nó tựa một bước tập dượt để sau này như ta thấy ở các cơ quan, địa phương cũng áp dụng, gây tốn kém hình thức, thậm chí giả tạo. Kể cả các cuộc thi giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp, các giờ dạy mẫu v.v… cũng nặng tính hình thức, thầy trò công khai hành động đối phó là rất phổ biến.

Để thay đổi, cần lưu ý vấn đề này có liên quan mật thiết với việc đánh giá hạnh kiểm và quy chế kỷ luật, do đó, phải có những thay đổi đồng bộ theo hướng giảm bớt dần. Thêm nữa, việc phát động phong trào cũng nằm trong cả hệ thống quy định của các cơ quan đoàn thể; vậy cần có quy định thí điểm áp dụng riêng cho ngành giáo dục.

5. Hệ thống chính trị: cụ thể là Đội Thiếu niên, Đoàn Thanh niên.

Đây là nét đặc thù và có lẽ là nhạy cảm nhất mà hiếm có nhà giáo dục nào muốn nêu ra.

Đội, Đoàn trước hết là những tổ chức xã hội tự nguyện. Nhưng hàng chục năm nay đã như thành lệ, ít nhất đó là nơi đánh giá hạnh kiểm học sinh, coi việc gia nhập như là lẽ đương nhiên để tiến thân, tới một lúc nào đó mà không được đeo khăn quàng, không có huy hiệu đoàn là trong con mắt mọi người, đó là kẻ chậm tiến, chưa nói tới sẽ ảnh hưởng việc lên lớp, vào lớp nào, thậm chí như bị cô lập. Ngược lại, với uy quyền này, những người có trách nhiệm trong tổ chức dễ nảy sinh thái độ ban ơn, quyền uy, đương nhiên bản chất thực của tổ chức bị mất nhiều.

Không hiếm chuyện khôi hài về lối “đánh trống ghi tên”, hoạt động rất hình thức. Hậu quả khó có thể kể hết, nhưng lớn nhất là thói đạo đức giả.

Không dễ để thay đổi thực trạng này, nhưng không thể cứ như vậy mãi. Thay đổi theo hướng nhỏ mà mạnh, chứ không phải lớn, đông mà yếu, thiếu thực chất (xin chớ lo sợ).

Nên trước tiên cần thay đổi từ điều lệ Đoàn, Đội để căn bản giảm bớt cơ cấu tổ chức trong nhà trường (ví dụ: bỏ chi đoàn lớp, chỉ có tổ chức đoàn của trường, chấm dứt vai trò vừa là giáo viên vừa làm lãnh đạo đoàn – giáo viên không nên tham gia cùng cơ cấu tổ chức đoàn với học sinh; tham khảo mô hình “hướng đạo sinh” đã có từ thời Pháp thuộc). Tiếp đến là những quy định trong ngành giáo dục, và cao hơn là đưa vào Luật Giáo dục liên quan tới hoạt động này.

6. Luật Giáo dục: Cũng như nhiều bộ luật, Luật Giáo dục Việt Nam có rất nhiều điều khoản quá chung chung như hô khẩu hiệu, giống với đường lối, chính sách trong các nghị quyết của Đảng, không có chế tài cụ thể cho những hành vi vi phạm mang tính đặc thù trong lĩnh vực này. Ví dụ: một số hình phạt nhục hình với học sinh như nhốt vào nhà xí, bắt học sinh tát lẫn nhau, bắt liếm ghế,… trong Bộ Luật Hình sự không có chế tài, vậy Luật Giáo dục phải có (cụ thể như trong những trường hợp này, giáo viên sẽ phải chịu những hình phạt từ phạt tiền, đuổi việc, cấm bao nhiêu năm không được đứng lớp, cải tạo lao động…) Hiện tượng học sinh tự vẫn, trò / phụ huynh đánh thầy cô một phần có lý do từ đây. Nói đơn giản là một khi luật nhà nước thiếu, không nghiêm, họ phải tự giải quyết bằng “luật rừng”.

7. Các trường sư phạm: Đây là khâu rất quan trọng, vì dù có những văn bản quy định, điều luật thích hợp để cải cách về đức dục như nói ở trên mà không thay đổi sớm nội dung, phương pháp đào tạo đội ngũ giáo viên thì cũng vô ích. Trong khi toàn bộ hệ thống giáo dục đại học hiện nay đang cực kỳ lạc hậu mà ngành giáo dục loay hoay nhiều năm vẫn chưa tìm được / chưa muốn tìm lối ra.

Trong những thay đổi thuộc hệ thống sư phạm liên quan tới đức dục này, một yêu cầu quan trọng là phải giảm nhẹ nhiều đòi hỏi không cần thiết, quá cũ kỹ cho giáo viên (như việc soạn giáo án), từ đó giảm áp lực trách nhiệm lên vai họ hơn, họ sẽ có nhiều thì giờ, tâm trí hơn để học hỏi cách dạy trò về đức dục theo phương pháp mới. Tốt nhất cần tham khảo phương pháp giáo dục tiên tiến, không phải chỉ phương Tây, các nước đi trước ở châu Á, mà cả dưới chế độ Sài Gòn trước 1975, thời Pháp thuộc.

8. Hậu quả: tất cả những điều nêu trên đã ăn sâu vào thói quen, quan niệm xã hội trong hàng chục năm của thế kỷ trước, đi vào bộ máy quản lý giáo dục, nhận thức, chương trình đào tạo của các trường sư phạm một triết lý giáo dục xuyên suốt chỉ nằm trong một chữ “ngoan” duy nhất khi nói về đức dục. Và chữ “ngoan” này luôn được hiểu là gọi dạ bảo vâng, đặt đâu ngồi đó, ít đùa nghịch, miễn sao càng tập trung vào “học gạo”, “thầy đọc trò chép” càng tốt. Thái độ này đi liền với cái được gọi là “bệnh thành tích” mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân khi mới nhận chức đã phát động tuyên chiến.

Quả tình, trong giai đoạn chiến tranh, thứ nguyên lý giáo dục này có tác dụng nhất định, tạo sự ổn định chính trị xã hội, đồng tâm hiệp lực phục vụ chiến tranh, trong khi nhu cầu phát triển tài năng, cá tính không quan trọng bằng yêu cầu đồng thuận. Thế nhưng chúng ta đã qua chiến tranh hơn 30 năm rồi, chế độ chính trị đã vững vàng, lại thêm mở cửa ra với thế giới, thực tế học sinh được chứng kiến từ ngoài xã hội cho tới các nước khác trái ngược với lối giáo dục trong nhà trường rất nhiều, nên không thể tiếp tục lối giáo dục cũ với nhu cầu cần những con người giỏi nghe mệnh lệnh hơn là biết chủ động sáng tạo, phát hiện và phản ánh những điều phi lý. Tình trạng thua kém mọi mặt trên thương trường, trong giao lưu quốc tế, trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là sự băng hoại đạo đức, tham nhũng tràn lan một nguyên nhân quan trọng là từ cái nguyên lý giáo dục coi trọng chữ “ngoan” này.

Còn một hậu quả rất lớn không thể coi nhẹ, đó là chính sự méo mó trong giáo dục nhân cách này lại tác động xấu ngay vào kết quả học tập, có nghĩa trí dục và đức dục luôn có mối quan hệ chặt chẽ, không thể quan niệm thô thiển là miễn sao nhồi được nhiều chữ vào đầu là tốt. Cũng như bởi chương trình học quá nặng, méo mó, không sát thức tế đang cùng với phương pháp rèn trí dục quá cũ kỹ làm khổ cả thầy lẫn trò. Và cải cách giáo dục phải là sự song hành cải cách cả phương pháp đào luyện trí dục lẫn đức dục, nó cũng là tiền đề cho những bước đổi mới kinh tế phải đi liền với đổi mới trong cơ cấu chính trị, xã hội.

Trong lúc việc cải cách từ nhiều năm nay chỉ toàn những giải pháp chắp vá, nửa vời, thiên về trí dục, mà nửa phần còn lại này – đức dục – rất cần cải cách nhưng cũng vô cùng khó khăn, đụng chạm nhiều đến nền tảng thiết chế chính trị, xã hội, nên nếu không có quyết tâm chính trị thực sự (và phải từ những cấp cao nhất), chắc chắn nền giáo dục nước nhà sẽ ngày càng đi xuống, tác động xấu ngay tới phát triển kinh tế, ổn định xã hội.

Vẫn còn chưa nói tới một điều, là nếu chấp nhận khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn”, nghĩa là coi chữ “lễ” (đức dục) phải đi trước, thì chúng ta đang đi ngược – chỉ lo cải cách trong trí dục, còn đức dục lại như bị lờ đi.

Như một hệ quả tất yếu, chúng ta đang rộng cửa giao lưu, mời gọi đầu tư, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân để hòng xây lên một tòa lâu đài nguy nga, nhưng lại trên cái nền móng là hệ thống giáo dục cũ kỹ kéo theo cả một lớp nhân công, công chức yếu kém. Đương nhiên tai hoạ kinh tế ập đến, song chắc chắn cũng chỉ mới như vài vết nứt rạn ban đầu của tòa lâu đài này.

Phần Hai

Từ trước năm 1975, trong mỗi lớp học ở miền Nam, hàng chữ “tiên học lễ, hậu học văn” nằm trang trọng trên tường, ngay trên bảng đen của mỗi lớp.

Để dạy được chữ “lễ” cho học sinh, thiết tưởng nên viết sơ lược về cách đào tạo thầy cô, trường đại học sư phạm, và các giáo sư ở miền Nam theo mức độ hiểu biết của tác giả bài này.

1. Sau khi thi xong tú tài 1 (cuối năm lớp 11), và đậu luôn tú tài 2 (cuối năm lớp 12), muốn dạy trường tiểu học hay trung học thì phải nộp đơn vào đại học. Trước năm 1960, muốn dạy tiểu học chỉ cần học xong tú tài 1 và nộp đơn vào Trường Sư phạm ở Qui Nhơn. Về sau, phải có tú tài 2 mới vào được trường này. Các thầy cô giáo phần lớn được đào tạo tại trường Sư phạm Qui Nhơn, hoặc đại học sư phạm Sài Gòn, hoặc Đại học Sư phạm Huế, và Sư phạm Cần Thơ (sau này mới có). Cũng có nhiều thầy cô được đi tu nghiệp về giáo dục ở Hoa Kỳ trong giai đoạn 1955–1974 và cũng có rất nhiều các cô giáo thầy giáo tốt nghiệp ở Hoa kỳ, Pháp, Úc, Canada, Tân Tây Lan, và các quốc gia Âu châu. Ngoài ra, các sinh viên học xong đại học ban cử nhân có thể lấy thêm chứng chỉ sư phạm và được đi dạy tại các trường trung học.

Các giáo sư giảng dạy đại học sư phạm miền Nam là các nhà giáo chuyên nghiệp thật sự được đào tạo ở nước ngoài, hoặc là những nhà giáo dục quá nổi tiếng và kỳ cựu và nhận được sự kính trọng của sinh viên và các thầy cô đang dạy ở trung và tiểu học. Mục đích duy nhất trong đời họ là giáo dục, sinh viên, và gia đình. Tài trí và đạo đức của các giáo sư đại học để lại những dấu ấn mạnh mẽ trong thế hệ các sinh viên được đào tạo trong giai đoạn trước năm 1975.

2. Chương trình học là sự cân bằng giữa Đông phương và Tây phương. Các môn khoa học, toán, tâm lý và triết lý giáo dục phương Tây, tâm lý học sinh được giảng dạy chung với các môn học thuần của phương Đông và của nước ta. Chương trình học của sinh viên không có môn chính trị hay ngợi ca chính phủ đương nhiệm.

Tất cả các trường Đại học đều được quyền tự trị. Tất cả các viên chức chính quyền hầu như không thể gây ảnh hưởng gì đến tiến trình tuyển chọn, thi tuyển, nhập học ở các cấp tiểu học, trung học, và đại học. Gần như các sĩ quan cao cấp trong quân đội, các tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng không thể ra lệnh cho các hiệu trưởng làm việc theo ý muốn của họ. Tất cả các hiệu trưởng đều không làm việc theo chỉ thị của các đảng phái. Nên thực tế con cái của các viên chức cao cấp ở các quận, các tỉnh, và thành phố lớn, nhỏ đều học chung trường với con cái của các nhân viên có cấp bậc thấp nhất. Các kỳ thi tú tài hầu như không thể quay cóp, đề thi không thể lộ ra ngoài trước, thí sinh không thể nhận được sự trợ giúp của bất cứ ai. Việc xét đơn nhập học vào trường đại học rất công bằng và hầu như không gây những tai tiếng trên báo chí và dư luận. Chuyện học sinh được xuất ngoại du học căn cứ trên tài năng thật sự. Con cháu của các nhân viên cao cấp, các nhân viên của bộ giáo dục, các trường đại học không thể lợi dụng chức vụ để chiếm lấy các học bổng của các đại học nước ngoài dành cho học sinh. Vì vậy, một số rất nhỏ các gia đình khá giả, đa số là các thương gia hoặc nhà giàu, phải gửi con đi du học dạng tự túc và trả học phí 100%. Con cái của tất cả các sĩ quan cao cấp và các nhân viên cao cấp trong chính phủ đều học ở trong nước vì hầu hết không đủ tiền để chi trả học phí đại học ở nước ngoài.

Học sinh tiểu học và trung học không đem chức vụ cha mẹ ra khoe với nhau, và bản thân mỗi học sinh cũng không có thói quen nói về cha mẹ của chúng trong các câu chuyện thường ngày với bạn bè ở lớp. Nói chung, bầu không khí học hành trong mỗi lớp, mỗi trường là thuần túy giáo dục.

3. Hạnh kiểm: đánh giá học sinh ở 4 mức: giỏi, khá, trung bình, và xấu.

– Ở lớp mẫu giáo chắc chắn là không có thầy cô nào đánh giá học sinh nhỏ ở lứa tuổi này và lấy tiêu chuẩn hạnh kiểm để xét nhập học vào một trường nào đó. Học sinh mẫu giáo không có phiếu khen thưởng hàng tuần.

Mục tiêu chính của trường mẫu giáo là làm cho các em thích đến lớp để học, vui chơi, đếm số, đọc các chữ cái a, b, c,… tập vẽ, tô màu, và về sau tập đánh vần khi học sinh sắp vào lớp một. Không có tiêu chuẩn thi đua trong lớp, giữa các lớp, và giữa trường này với trường kia.

Ở Mỹ, lớp mẫu giáo cũng không có đánh giá, không có phiếu khen thưởng, chỉ có nụ cười mà em nào cũng vẽ được trên giấy và các hình ảnh, huy hiệu (sticker) có nụ cười thân thiện cô giáo vẫn phát cho các em dán vào áo hay đem về nhà dán cho cha mẹ.

– Cấp 1, 2, 3: Từ lớp 1 đến lớp 12, ở miền Nam, việc đánh giá khả năng học tập (trí dục) của học sinh là chính và mỗi tháng một lần.

Hạnh kiểm của học sinh cũng được đánh giá tốt, khá, trung bình, xấu. Những đánh giá về hạnh kiểm của giáo viên chỉ dành riêng cho cha mẹ của học sinh biết con em của mình ra sao và tìm hiểu con cái của minh để khuyên và giúp chúng sửa đổi. Việc đánh giá này không phải là một tiêu chuẩn có một ảnh hưởng gì đến chuyện nhập học, chuyển trường, khi cha mẹ di chuyển đến một nơi khác.

Việc chuyển trường, xin nhập học trường mới thuộc về một qui định hành chính của địa phương quận, huyện kết hợp với ty giáo dục (hay sở giáo dục) của tỉnh hoặc thành phố.

Trong tổ chức hành chính điều hành không có phòng giáo dục quận hay phòng giáo dục huyện, chỉ có ty giáo dục của tỉnh và xuống thẳng đến hiệu trưởng của trường trung học, tiểu học.

Theo đúng qui định hành chính nói trên, cha mẹ hoặc học sinh có địa chỉ ở đâu, thì trường học ở nơi ấy phải thu nhận con em của họ. Chuyện này đã được phân định rõ ràng theo văn bản hành chính, nên nhân viên văn phòng của trường chiếu theo đó mà làm và cũng không có ai có thể làm khác được ngay cả hiệu trưởng (trừ trường hợp trường tư).

Vì qui định hành chính nghiêm ngặt và được tất cả tôn trọng, nên trên thực tế, hiệu trưởng của chính trường ấy và các giới chức cao cấp của tỉnh, thị xã, quận, phường và ngay các thầy cô giáo, nhân viên của trường cũng không thể dùng sự quen biết hay quyền lực gây ảnh hưởng về việc nhập học của bất cứ ai.

Tóm lại, vì cách tổ chức nói trên, tiêu chuẩn hạnh kiểm không có chỗ đứng trong việc xem xét nhập học. Thầy cô giáo không vì thế mà có cơ hội làm những chuyện tiêu cực.

Ở trường tiểu học (lớp 1 – lớp 5) không có danh xưng giáo viên chủ nhiệm. Không có thi đua giữa các lớp ở trong một trường. Có lẽ cách dạy và phương pháp dạy ở đại học sư phạm đã đào tạo ra đúng các nhà giáo dục thật sự. Và trường học không nhằm mục đích để phục vụ cho một đảng phái chính trị hay chính quyền đương nhiệm, và cũng không làm theo lệnh các viên chức các đảng chính trị, hoặc hành chính.

Ở Mỹ, việc cứu xét nhập học của các em học sinh, trường học không nhằm mục đích để phục vụ cho một đảng phái chính trị hay chính quyền đương nhiệm, và cũng không làm theo lệnh các viên chức các đảng chính trị, hoặc hành chính (giống y như miền nam Việt Nam). Trong trường học, cũng như trường học ở miền Nam Việt nam, trường học ở Mỹ không có sự thi đua giữa các lớp với nhau trong một trường, hoặc thi đua giữa trường này và trường kia.

Hiện nay, kể từ lớp 2 đến lớp 6, mỗi lớp có 6 thầy cô phụ trách dạy các môn khác nhau. Cô giáo chính của lớp, người phê hạnh kiểm thường là cô giáo dạy môn toán, Anh văn, khoa học, các môn học xã hội (social study). Từ lớp 7 đến lớp 12, cũng có đánh giá về hạnh kiểm, đạo đức, thói quen trong lớp, cách học tập của các em, cách cư xử của các em với bạn bè và trong lớp có tuân theo hướng dẫn của thầy cô hay không. Nhưng các đánh giá ấy cũng chỉ có mục đích giúp cho cha mẹ hiểu con cái của họ chứ không được nâng lên thành một tiêu chuẩn cho bất cứ chuyện gì khác hoặc ảnh hưởng đến chuyện nhập học vào trường này trường kia.

4. Quy chế. Kỷ luật:

Học sinh mẫu giáo 3, 4 tuổi đến trường chủ yếu là chơi đồ chơi trong lớp, vui vẻ với bạn bè, và được dạy ca hát. Chương trình lớp học như sau. Buổi sáng, khi mới vào lớp, các em được tập hát, tập đếm số, hoặc nhận ra các chữ a, b, c,… sau đó được tô màu, và chơi đồ chơi. Mỗi lớp có hàng trăm món đồ chơi. Mỗi cô trông nom 8 học sinh, và mỗi lớp có hai cô, 16 học sinh. Sau khi ăn trưa xong, các em được ngủ trưa 1 giờ hoặc 1 giờ 30 phút. 2 giờ, các em được đánh thức dậy, được xếp hàng đi tiểu, sinh hoạt đếm số hoặc vẽ hoặc chơi đồ chơi. Khoảng 2 giờ 30 các em được ăn thức ăn nhẹ, bánh và được uống nước trái cây và được ra sân chạy nhảy chơi đùa chờ cha mẹ hoặc gia đình đến đón vế nhà. Buổi sáng, sau khi ăn sáng, các em được vui chơi trong sân trường trước khi vào lớp học.

Ở trường tiểu học Mỹ, mỗi lớp có 16–20 em. Hợp đồng của thầy cô giáo và phòng giáo dục quy định mỗi lớp có dưới 25 học sinh.

Các cô giáo đứng lớp làm nhiệm vụ giảng dạy. Nếu trong lớp có học sinh quậy, phá, nói tục, đánh nhau… cô giáo bấm vào đường điện thoại liên lạc với văn phòng thư ký, và ban cố vấn học sinh (counselor). Cô giáo đứng lớp không phải là người xử phạt các trường hợp vi phạm nghiêm trọng của học sinh.

Các trường hợp nhẹ như nói chuyện trong lớp, làm ồn, hình thức kỹ luật rất đơn giản. Cô giáo nhắc nhở học sinh ấy không làm nữa, hoặc yêu cầu em ấy ra đứng ngoài hành lang ngay cửa ra vào trong 1 phút, hoặc cho em ngồi sát bàn của cô giáo, hoặc dời em đến ngồi một chỗ khác xa chỗ cũ.

Nếu các em không vâng lời, cô giáo gọi điện thoại xuống văn phòng trường và sẽ có nhân viên cố vấn giáo dục lên mời em ấy xuống văn phòng nói chuyện. Như vậy, cô giáo không phải là người làm chuyện xử phạt và sẽ dành toàn bộ thời gian để dạy các em khác, và học sinh bị phạt cũng không cảm thấy mất mặt trước các bạn.

(Mỗi 300 em học sinh, trường phải thuê 1 cố vấn về giáo dục, và 1 bảo vệ. Cố vấn giáo dục (high school counselor, tốt nghiệp đại học ngành tâm lý giáo dục) nhằm giúp học sinh chọn lớp học, ngành nghề, và lắng nghe lời giải thích của các em học sinh vì sao quậy phá, và đưa ra lời khuyên, đóng góp ý kiến giúp em chọn một lối cư xử hợp lý hơn và liên lạc với gia đình, mời phụ huynh đến trường để báo cho biết con cái của họ quậy như thế nào, và đề ra các biện pháp giúp đỡ. Cố vấn giáo dục tìm hiểu lỗi lầm của học sinh vi phạm kỷ luật, tìm phương cách giải thích cho học sinh hiểu vấn đề, và hiệu phó sẽ quyết định xử phạt đuổi học 1 ngày hoặc 3 ngày.

Trong trường học ở Mỹ, không có chuyện đánh đập, đá, bạt tai học sinh, không được hỏi với tính cách điều tra, hạch hỏi và kết tội. Thiển nghĩ, những chuyện ấy nằm ngoài lĩnh vực của trường học, không nằm trong số các môn học mà các thầy các cô đã được học ở trường sư phạm.

Như vậy, cô giáo, thầy giáo dạy các môn học khác và giáo viên của lớp (tương đương với giáo viên chủ nhiệm) chỉ việc chuyên tâm làm nhiệm vụ giảng dạy. Và giáo viên này không đưa ra các hình thức kỷ luật học sinh.

Từ lớp 1 đền lớp 12, tất cả đều diễn ra theo hệ thống kỷ luật như trên.

Thầy giáo cô giáo ký hợp đồng làm nhiệm vụ giảng dạy, ban cố vấn và hiệu phó làm nhiệm vụ kỷ luật. Hình thức kỷ luật là gửi em học sinh về nhà 1 ngày, 3 ngày.

Không có chuyện hiệu trưởng hay bất cứ ai ép cha mẹ phải chuyển học sinh đến trường khác. Vị trí địa lý nhà em ở đâu trong vùng ấy, đã được khoanh lên bản đồ, và mỗi cha mẹ cứ chiếu theo bản đồ ấy để chuyển con mình đến đấy học.

Nhân viên bảo vệ không mang súng, chỉ trang bị bằng điện thoại và trông coi học sinh trong giờ ra chơi, giải tán và can thiệp nếu các em đánh nhau.

5. Hệ thống quản lý:

Từ lớp 1 đến lớp 12, có bầu trưởng lớp và phó trưởng lớp, trưởng ban học tập của lớp. Vì mỗi lớp có 45–50 học sinh, chia làm 4 hoặc 5 đội, có đội trưởng và đội phó.

Mục đích chính và duy nhất là xếp hàng chào cờ ở sân trường vào mỗi sáng. Trưởng lớp đứng đầu trước mỗi lớp 1 bước, các đội trưởng đứng đầu hàng và sau lớp trưởng, đội phó đứng cuối hàng.

Các em này chỉ có nhiệm vụ giúp bạn bè xếp hàng khi chào cờ buổi sáng. Nhờ vậy các thầy cô được rảnh tay chuẩn bị giảng bài. Ngoài nhiệm vụ chào cờ ra, các em nói trên không có họp hành gì với nhau, và cũng không giúp thầy cô giữ nhiệm vụ kỷ luật của lớp. Học sinh quá kính trọng thầy cô giáo, ham học, các học sinh yếu kém và ở hạng trung bình các môn học thường có hạnh kiểm tốt để bù đắp cho học lực không có gì nổi bật, và số học sinh đi học hàng ngày gần như 100%, trừ khi bị bệnh. Chuyện đến lớp muộn cũng rất hiếm. Nên chỉ cần 2, 3 thầy giám thị trông coi việc kỷ luật học sinh cho cả trường. Thậm chí nhiều trường không cần có giám thị.

Thứ hạng của học sinh được chấm điểm và cộng lại hàng tháng. Các em học giỏi được phát bảng danh dự. Trong một lớp 50 em, 5 em có điểm hàng tháng cao nhất được phát bảng danh dự, từ hạng 6 đến hạng 10 được bảng tưởng lệ. Ngoài ra, các em có nhiều cố gắng trong một tháng nào đó, thí dụ tháng trước đứng hạng 30 hay 40, tháng sau lên hạng 15, thầy cô giáo sẽ phát cho em ấy một bảng-tưởng-lệ để khen thưởng và ghi nhận sự cố gắng. Mỗi em cũng có sổ điểm hàng tháng đem về nhà cho cha mẹ xem, ký tên, và học sinh đem trở lại nộp cho thầy giáo.

Ở Mỹ, ở bậc tiểu học từ lớp 1 đến lớp 6, không có lớp trưởng hoặc lớp phó và cũng không có ban lãnh đạo lớp.

Ở Mỹ, mỗi 3 tháng có phiếu điểm một lần. Vào ngày có phiếu điểm, các em học sinh sau giờ ăn trưa được về nhà sớm. Thầy, cô giáo không phải dạy vào buổi chiều hôm ấy. Tất cả thầy cô ngồi trong lớp và chuẩn bị tiếp phụ huynh bắt đầu lúc 2 giờ đến 6 giờ chiều. Phụ huynh đến trường và từng người một được mời vào lớp nói chuyện 5–15 phút với thầy cô dạy con em của mình. Ai đến trước vào trước, ai đến sau thì đứng ngoài lớp chờ đợi phiên mình. Phiếu điểm được phát tận tay phụ huynh và phụ huynh có thể hỏi thêm về khả năng học tập của con cái mình. Phụ huynh thường ghé thăm 4 thầy hoặc cô giáo và hỏi điểm từng môn học, sự tiến bộ của con mình. Ngay từ lớp 2, lớp 3, các em đã học các môn toán, khoa học, tiếng Anh, môn học xã hội (social study như địa lý nước Mỹ, lịch sử nước nhà, các nước láng giềng, văn hóa nước nhà, sinh hoạt hay các hoạt động trong cộng đồng, kinh tế… mỗi cô giáo chỉ đánh giá hay ghi điểm môn mà họ giảng dạy.

Đánh giá về cá nhân của học sinh nhiều chi tiết như sau:

– Thói quen và thái độ: A = giỏi; B = Khá; C = trung bình; D = không đạt; F = failing; N = cần sửa đổi.

Trong đó có việc đánh giá cá tính của học sinh như:

– Hạnh kiểm, đạo đức, cách cư xử (conduct):

  • tự kìm chế
  • tôn trọng
  • tham dự các hoạt động trong lớp
  • luôn luôn có thái độ biết suy nghĩ đến người khác
  • tôn trọng quyền của người khác
  • tôn trọng của cải và đồ dùng của người khác


– Ý thức học tập (work and study habits):

  • Biết cách tổ chức công việc
  • Hoàn tất công việc
  • Học tập độc lập không nhờ bạn bè, cô giáo giúp đỡ
  • Theo đúng sự hướng dẫn cách làm bài
  • Hoàn thành các bài học, bài làm ở nhà và nộp đúng thời hạn
  • sử dụng thời gian có hiệu quả
  • sử dụng và bảo quản sách vở sạch sẽ và bàn học sạch sẽ

Hạnh kiểm và đạo đức cũng chỉ để dành riêng cho cha mẹ hiểu biết thêm về con mình, yếu tố này không ảnh hưởng gì đến việc chuyển trường và nhập học (giống như miền Nam Việt Nam trước 1975).

6. Hệ thống chính trị: Trong trường học không có chương trình học tập chính trị. Không có học về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản và các học thuyết.

Trường học chỉ thuần túy là giáo dục. Vì giáo dục và chính trị là hai lĩnh vực khác nhau.

Ngoài giờ học, vào ngày thứ bảy và chủ nhật, các em học sinh có thể tham gia Hướng Đạo Sinh Việt Nam hoặc Phật tử, hoặc các phong trào sinh hoạt của thanh thiếu niên công giáo như đoàn Thánh Thể. Các em tham gia với tinh thần tự nguyện. Không ai đề nghị hay ép buộc phải tham gia. Các phong trào này chủ yếu là sinh hoạt cắm trại, ngủ đêm trong các lều, thăm các thắng cảnh trong nước, giúp các em yêu thích cuộc sống và sinh hoạt ngoài trời. Các phong trào này dạy cho các em các trò chơi, các môn thể thao lành mạnh, các bài ca cộng đồng vui tươi và nhiều sức sống, tập cho các em làm việc với tinh thần đồng đội và giúp đỡ lẫn nhau trong công việc.

Sâu xa hơn là tạo cho các em thói quen tháo vát và chia sẻ với cha mẹ mọi việc trong gia đình. Nhờ vậy việc học tập của các theo các phong trào này cũng cải thiện hơn. Ngoài ra, các phong trào còn giúp các em sống hướng thiện, nhân ái, giúp đỡ người gặp hoạn nạn, giúp phân phối các vật phẩm cứu trợ cho đồng bào bị thiên tai, bão lụt, cháy nhà, chiến tranh.

Mặt lợi ích mà phong trào này đem lại cho các em là không hút thuốc, không uống bia, rượu, không nói tục, nói dối, ngay thẳng và chính trực. Trường học nào có nhiều em tham gia các phong trào thường được các phụ huynh tin tưởng và yêu thích. Các em theo các phong trào này khi lớn lên trong xã hội thường trở thành các công dân gương mẫu trong gia đình, nơi làm việc, và thành đạt trong đời sống. Người thanh niên và thiếu nữ Việt Nam nào có tham gia các phong trào Hướng đạo, Phật tử, các phong trào Công giáo hầu như về sau khi lớn lên ít phạm pháp, nhất là luật hình sự. Có thể nói các phong trào này là những nơi sinh hoạt lành mạnh nhất, làm cho họ trưởng thành hơn, có nhiều trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội. Đó cũng là những nơi hun đúc lòng yêu nước, xây dựng nền tảng gia đình và tạo nếp sống lành mạnh của các thanh thiếu niên miền Nam.

Những trao đổi trên đây chỉ mới xới lên một vấn đề rất hệ trọng mà hầu như chưa được bàn tới, từ một góc nhìn của người “ngoài cuộc”, chắc chắn còn hạn chế nhiều, chúng tôi mong rằng sẽ có thêm những ý kiến của chính các học sinh, phụ huynh, nhà giáo và các học giả.


© 2008 talawas

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Bài của Trần Hoàng, Giáo dục | 7 phản hồi »

287. Giả Dối là cha Gian Dối

Đăng bởi anhbasam on 02/09/2009

Giả Dối là cha Gian Dối


- Út Măng ơi, ăn mừng đi, quả này thắng lớn rồi …

- Oáo, sếp Phó Bí tôi hồi này còn chơi lô-tô Kiến thiết Thủ đô nữa hay sao đây ?

- … Cậu biết không, các thầy vừa thông báo quyết định đặc cách cho tớ …

- Thành “Ông Trạng” luôn khỏi học ?

- Không, có mà điên ….

- Được làm … thầy luôn ?

- Cậu cứ lăng nhăng. Tức là giờ tớ chả phải thi thố, “vượt rào” vượt cạn môn nào hết. Một phát luận án tốt nghiệp là xong !

- Dóc tổ … à, xin lỗi … là sếp nói chơi hay thiệt dzậy ?

- Tớ có nói dối … mà làm gì … Nhưng mà có điều làm tớ hơi băn khoăn …

- Băn khoăn là không “quay” mà phải chuyển qua “cọp” luận án chớ gì ?

- Không phải, mà là cái tên của nó cơ, là “CHỐNG-GIAN-DỐI-TRONG-THI-CỬ“.

- ???

- Làm sao mà mắt trợn ngược thế ? Cậu cho là khó quá à ? Không biết là tớ đang bán tín bán nghi đây này, là có phải các bố muốn “chơi” mình, thấy mình “dính” mấy quả thi mấy môn trước nên giờ …

- Sếp lại đa nghi rồi. Theo thằng em thì đây là chiến thuật gọi là”dĩ độc trị độc” và “nhất cử lưỡng tiện” cực hay. Tức là các thầy biết sếp quá siêu cái dzụ … “ảo thuật” trong thi cử, giờ vừa khó đối phó với sếp, lại vừa muốn “tìm kiếm tài năng”… trẻ để chống gian dối …, nên mới quyết dzậy.

- Cậu nói nghe có lý … Thôi, giờ mình bàn thẳng luôn vào nội dung nhá. Là theo cậu, sẽ viết gì đây, chẳng nhẽ mình lại … không giữ “bản quyền” các “chiêu” của mình à ?

- … Đúng là khó … À, mà được rồi … em có cách cực hay, đi vào bản chất vấn đề mà lại không lộ “chiêu” …

- Được lắm, nói đi !

- Giờ bắt đầu, mình phải xác định xem căn nguyên làm sao mà sinh ra cái dzụ gian dối này. Nên em hỏi sếp nghen. Sếp có thích đi học không ?

- Có mà điên, vì sự nghiệp … là phải thăng tiến thì đi chứ. Tần này tuổi rồi, lại chả có năng khiếu khỉ gió gì …

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường,

Ham rong chơi qua mỗi lần trốn học” …

- Đó … vấn đề là ở đó đó … Dzậy nếu sếp không đi học thì sao ?

- Cậu hỏi ngớ ngẩn quá. Thứ nhất là cái bằng này là bắt buộc này, nếu không có nó là … nghỉ khỏe. Thứ hai, cái học vị kia mà không có, thì … mình như cái thằng “vô học”, chúng nó có cả. Lúc đưa lên “bàn cân”, người ta cân nhắc … là mình thua. Ai mà đánh giá rõ được năng lực, tư cách … với lại nói chung cái khoản này, nếu xét kỹ thì mình cũng … hơi bị gay.

- Dzậy là xong, đó là một phần của cái Luận án này, nó được đổi tên là “DIỆT-GIẢ-DỐI-ĐỂ-CHỐNG-GIAN-DỐI” …

- Nghe lạ quá. Giả dối cái gì ?

- Tức là cái chuyện sếp đi học chớ cái gì nữa, đâu phải do nhu cầu nâng cao kiến thức, rồi chuyện đánh giá cán bộ qua bằng cấp, cũng dễ bị “dỏm” theo cái bằng của sếp luôn. Giờ tiếp nghen. Thế em hỏi sếp là nếu sếp, sếp A, sếp B … nhiều sếp bự đi học, mà thi đều bị rớt thì có ảnh hưởng gì không ?

- Ảnh hưởng quá đi chứ. Nhà trường sẽ bị đánh giá chất lượng dạy này, rồi … người ta cười cho … toàn thằng tai to mặt nhớn mà … dốt, lười.

- Quá chuẫn đi. Nghĩa là các thầy cũng sẽ phải tìm cách dạy, thi cử kiểu du di cho các cha đậu “chăm phần chăm” là thầy trò cùng dzui cả. Dzậy là được ba mục trong luận án rồi. Tiếp … Còn sắp nhỏ ở nhà, tụi nó có thắc mắc chuyện sếp đi học không ?

- … À, chúng nó cứ trêu tớ. Thằng nhớn nó còn bảo “bố cứ yên tâm đi, khi nào thi, con chỉ cần đeo râu mang kính vào, con vào con thi hộ bố là … ngon hết”. Bọn trẻ giờ khôn đáo để, gì cũng biết hết !

- Đó, chúng nó “khôn” là tại sếp, tại người lớn hết … Tức là nội cái dzụ “giả đi học” của sếp cũng thành như “vẽ đường hươu chạy” cho tụi trẻ, nó sẽ coi gian dối trong thi cử là … chân-lý-sáng-ngời. Rồi nó cũng phải “phấn đấu” học … “quay” sao cho giỏi, cho hơn cha thì sau này nhà mới có phước chớ. Sơ sơ vài mục dzậy là cũng thấy được tình trạng giả dối tràn lan trong xã hội nó là căn nguyên của chuyện gian dối thi cử, học hành … Tức là mấy thằng Giả Dối nó là cha cái tụi Gian Dối đó. Mình muốn chống Gian Dối, thì trước tiên, mình phải phăn cho ra hết mấy thằng cha … mắc dịch của nó đã. Diệt được thằng cha rồi thì làm sao có được thằng con. Khỏi chống với đỡ gì luôn, khỏe re à !…

- Ấy, hượm đã. Thế còn mẹ nó, mẹ mấy thằng Gian Dối ấy ? Mình mà diệt mẹ nó đi thì có phải tốt hơn không ?

- Á, … ý hay tuyệt ! Chứng tỏ là sếp cũng … đâu đến nỗi. Đây chính là phần hai của luận văn. Nhưng hơi bị kẹt đây …

- Kẹt gì ?

- Kẹt vì mẹ tụi nó … là … chính là sếp đó, chớ còn ai …

- Cái gì ???

- … Tức là mấy thằng Giả Dối ấy, nó … “tằng tịu” với sếp, sếp cũng “thương” lại nó luôn, rồi sếp mới mang “bầu”, mới “đẻ” ra mấy thằng Gian Dối … Ghê chưa ?

- Trời ơi ! Nghe khủng khiếp quá ! Thế chả nhẽ …

- … “chả nhẽ” sếp tự diệt sếp chớ gì ? Rồi sếp cũng tội nghiệp cho “người tình” của sếp nữa phải hông ? Dzụ này thì em chịu … xin để sếp quán triệt cái “phê, tự phê” coi …

- Hượm đã ! Út Măng, hượm đã … Thế … thế còn ông nội nó, cụ cố nội nó, cả lò nhà nó … của mấy thằng Gian Dối í … còn sống cả không ?

- Trời ơi Trờ … ời … ! … Bộ sếp muốn “tiêu” luôn hay sao mà hỏi dzậy ??


Ba Sàm

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | 4 phản hồi »

284. Từ chuyện buồn học sinh không thích môn Sử

Đăng bởi anhbasam on 30/08/2009

Nguyễn Hữu Vinh

Từ chuyện buồn học sinh không thích môn Sử

Ðó là điều mà công luận đã lên tiếng báo động cách đây ngót một năm trước con số 60% bài thi sử Ðại học – Cao đẳng 2005 dưới điểm 1. Nhưng rồi thời gian cứ bình thản trôi qua như cái bình thản của những người có trách nhiệm với nền sử học và sự nghiệp chấn hưng giáo dục nước nhà, để tới năm nay, một điệp khúc tương tự lại diễn ra. Trong bài báo này, chỉ xin đề cập chút ít về tư liệu sử hiện đại Việt Nam để lẩy ra vài lý do vì sao không phải chỉ học sinh, mà cả người lớn cũng không mấy quan tâm đến lịch sử nữa. Biết đâu trong đó có bóng dáng cái nguyên nhân của mọi nguyên nhân, từ đó mới hình dung xem tình trạng này liệu có cứu vãn được hay không.

1. Trước hết điểm qua vài sách sử

Bộ Ðại cương lịch sử Việt Nam – tập III: 1945-2000 [1] được soạn nhắm nhiều đến các nhà giáo-nhà sử học tương lai, người sẽ trực tiếp truyền vào tim thế hệ đi sau niềm hứng khởi với môn sử. Dù được dành một phần đáng kể (55 năm – nhưng chiếm già 1 phần 3 pho quốc sử 4000 năm. Quả là bất bình thường!), viết về hiện thời, với phương tiện thông tin, lưu trữ hiện đại, nguồn sử liệu vô cùng phong phú (trong, ngoài nước), thế mà đọc hết lại thấy một cảm giác rất lạ, như sau bữa ăn thời “bao cấp”, hiếm thịt cá, chỉ toàn rau mì, bụng căng mà mắt vẫn hoa, rõ là bị thiếu những chất đang rất cần cho cơ thể, mà quá thừa những gì không cần nữa, hay khó tiêu hoá nổi. Ðó là:

  • Cuốn sách như để giảng dạy, ca ngợi về học thuyết chiến tranh cách mạng hơn là một thứ thông sử. Sử liệu thì ít, chủ yếu về chiến tranh, lại quá nhiều lời bình luận, đánh giá kiểu đại ngôn mang tính “định hướng tư tưởng” của những thập niên 50-60 thế kỷ trước.
  • Tuy thiên về chiến tranh nhưng toàn thấy “ta thắng, địch thua”, làm giảm tính chất ác liệt của cuộc chiến, sự hy sinh, tổn thương ghê gớm của dân tộc.
  • Tư liệu hầu hết là về cách mạng, miền Bắc, quá ít về xã hội thuộc Pháp, Mỹ – chính quyền Sài Gòn (chỉ chưa tới 10 trong 340 trang sách).
  • Về kinh tế, xã hội ở miền Bắc, cả nước sau 1975 cũng toàn “thành công”, “đúng đắn”, còn tổn thất, sai lầm chỉ sơ qua vài trang (kể cả những sai lầm đã được công khai thừa nhận); đầy những trích dẫn (hoặc giọng văn) của các báo cáo tổng kết thành tích, Văn kiện Ðại hội.
  • Ðáng lo nữa là với một cuốn chính sử mà lại toát lên một cách nhìn quá thấp về lớp trẻ hiện nay.

Ðọc thêm bộ Việt Nam những sự kiện lịch sử, cuốn 4: 1945-1975 [2] và cả bộ Những sự kiện lịch sử Việt Nam [3] . Tuy không dàn trải những bình luận, ngợi ca ngoài sử liệu (vì thuộc loại sử biên niên), nhưng hai bộ này đều mắc những “bệnh” hệt như bộ Ðại cương lịch sử Việt Nam. Hãy thử nghe các tác giả giãi bày: “…có hai dòng trái ngược: dòng lịch sử chính thống, cách mạng… và dòng lịch sử đối lập, phản bội…” Lý do của sự thiên lệch quá mức về sử liệu là “vì khuôn khổ có hạn của cuốn sách”(?) nên cái dòng gọi là “đối lập, phản bội” kia chỉ được đề cập “trong chừng mực có thể” (nghĩa là khoảng 5-7 trong 600 trang). Không hổ thẹn sao, với khoa học, với lịch sử mà có thể bằng giọng lấp liếm dễ dãi đến thế?

Bước qua một “địa hạt” khác, bộ Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975 thì khác hẳn [4] . Mặc dù rất nhiều điều còn phải bàn về những sự thiên lệch cố hữu, nhưng dù sao trong bộ này cũng đã ít đi những mảng “tối” của sự thiếu vắng, sai lệch, che lấp tư liệu. Bên cạnh nỗ lực kiên cường của quân dân trong lao động và chiến đấu, những mất mát đau đớn trong những đợt cải cách ruộng đất, chỉnh đốn đảng, cải tạo tư bản, nền kinh tế bao cấp… cũng được nêu kha khá, kể cả đôi nét về vụ án bí ẩn được gọi là “nhóm xét lại chống Ðảng”. Ðặc biệt có hẳn một phần về vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát (những 250/1100 trang). Ngoài ra, cùng bộ sách này, còn có cuốn Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975 rất công phu, cho ta biết được một nền kinh tế năng động và có khả năng hội nhập, có thể phát huy khi đất nước được giải phóng, nhất là từ khi đổi mới, như tác giả – chủ biên Ðặng Phong viết.

2. Vài chuyện sử bên ngoài sách sử

Ðể có được ham thích học, tìm tòi về lịch sử nói chung đã là vô cùng khó với lớp trẻ thời nay, nên không chỉ có những cuốn sử khô khan, mà rất cần nhiều đóng góp của báo chí-thông tin, văn hoá nghệ thuật, làm cho từng nhân vật, sự kiện lịch sử xa mờ sống động lại trong mắt hậu thế, khơi gợi trí tưởng tượng cho chính sử gia để có được lý giải, tìm tòi những trang sử bị khuất lấp. Vậy thử điểm vài món ăn tinh thần qua mấy chục năm nay.

  • Cách đây khoảng phần tư thế kỷ, có hai vở kịch lịch sử của Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Trãi ở Ðông quanRừng trúc và bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt. Nhưng số phận chúng khá khốn khổ, không phải do giá trị nghệ thuật (vì người xem rất hưởng ứng), mà lại là những đánh giá không thuận của lãnh đạo.
  • Cũng thời đó có bộ phim tài liệu Hà nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn Thủy, báo động về hiểu biết, thái độ của chúng ta đối với lịch sử. Bộ phim tạo nên một lúc hai làn sóng, một là sự thích thú của đại đa số công chúng, một khác là những bất đồng quá mức ở cấp cao nhất về việc có cho nó lưu hành không.
  • Tiếp đến, trong không khí được “tự cởi trói” của giới văn nghệ, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã làm sôi sục văn đàn bằng hàng loạt truyện ngắn; nhưng trong đó, những truyện có nhân vật Quang Trung, Nguyễn Du cũng đã chịu không ít “búa rìu” của giới phê bình quan phương. Ðơn giản vì người ta đã “phong thánh” những anh hùng, danh nhân dân tộc, sẽ không thể chịu nổi một tài năng nhưng có “tật” là muốn “lật đổ thần tượng” bằng lối “người hoá” trở lại nhân vật.
  • Tương tự, cuốn Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng, và gần đây là phim truyện về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đều có đề cập đến người phụ nữ đầu tiên trong cuộc đời riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà từ lâu coi như húy kỵ. Chỉ tiếc rằng hai tác phẩm có lẽ ở vào hai thời điểm quá cách xa nhau, xuất phát từ hai chủ thể khác nhau (một đằng cá nhân, một đằng là Nhà nước) nên đã chịu hai thái độ nhìn nhận rất khác nhau của những người có trách nhiệm.
  • Gần đây, qua văn học nước ngoài, ta cũng có thêm chút sử liệu quý giá, dù còn quá ít, dưới dạng hồi ký, như những cuốn Tại sao Việt Nam?, Cuộc chiến tranh Ðông Dương, Paris Saigon Hanoi… ít bị cắt xén, hoặc của những nhân vật tiếng tăm trong chế độ Sài Gòn được trích đăng báo, tập hợp thành sách như Ðỗ Mậu, Phạm Duy, Nguyễn Tiến Hưng… Có lẽ phải bằng việc gia nhập WTO thì chúng ta mới có thể dễ được tiếp cận hơn những tư liệu về chính mình đến từ bên ngoài?
  • Có một thứ tuy không phải là món ăn tinh thần thuần túy như những tác phẩm văn học, điện ảnh, nhưng lại quá đặc biệt trong mối tương giao giữa chính trị-lịch sử-văn hoá truyền thống-tâm linh, đó là di chúc và ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không nghi ngờ gì nữa, việc thông tin sai lệch rồi miễn cưỡng trả lại tính chân xác hiển nhiên của những sự kiện này chính là điển hình nhất cho thái độ của chúng ta đối với lịch sử.

3. Mấy lời bàn

Chỉ qua một vài phác hoạ trên, dù cho thấy có những lối tư duy đã xa lạ với hôm nay, hay sự ấu trĩ mà chúng ta cứ mãi đối mặt, để rồi khi nhìn lại phải xót xa nuối tiếc cho bao mất mát, thì cũng góp phần nhận diện rõ thêm một phần bức tranh về nền sử học nước nhà, thường hay bị ám ảnh “duy cảm”, “duy tâm” thay vì “duy vật” như đáng ra nó phải là.

Trước hết ta thấy chút căn nguyên cho lời giải đáp vì sao học sinh không thích môn sử. Mới tạm điểm qua sách dành cho thầy cô, cho “người lớn” thôi mà đã thấy nặng tư duy “thời chiến”, “cái búa cái liềm” trong lối viết sử ở thời đại văn minh, bùng nổ thông tin này. Khi cả nước trải qua liên tiếp mấy cuộc kháng chiến trong hơn nửa thế kỷ, rồi đối đầu bằng chiến tranh lạnh, đời sống xã hội mọi mặt đã phải đặt “nhiệm vụ chính trị” lên hàng đầu. Ðó là minh hoạ đường lối, nhấn mạnh truyền thống chống ngoại xâm, kể cả cường điệu cái xấu của kẻ thù, vẻ đẹp của “ta”…, tạm gác lại thiên chức nhà sử học để mà viết ra những gì có lợi cho “ta” thôi. Mặt trái của “tấm huân chương” chính là cái giá đắt phải trả cho lối thực dụng tiểu nông đó. Nhưng không thể cứ tiếp tục trả giá mãi khi mà đất nước đã độc lập, thống nhất, chiến tranh lạnh cũng chấm dứt từ lâu. Việc xây dựng một xã hội văn minh hiện đại giờ là yêu cầu hàng đầu, nên thế hệ sau rất cần hiểu nhiều, đầy đủ, chính xác, khách quan nền tảng văn hoá, đời sống lao động sản xuất, giao thương… của tiền nhân (đủ cả cái hay, cái dở).

Thời “bao cấp” kéo dài từ trong chiến tranh cho tới giai đoạn 1975-1986, nhưng không phải chỉ trong kinh tế, mà mọi mặt, có sử học. Tiếp đến là thời “đổi mới”, nhưng những thay đổi mới tập trung cho phát triển kinh tế; tâm lý e ngại, những thói quen do tình trạng trì trệ quá lâu đã tự làm khó sử gia trong việc thay đổi căn bản lối tư duy-viết sử (nói rộng hơn là cả về khoa học xã hội). Phải chăng chúng ta mới chỉ đang xoá “bao cấp” trong kinh tế thôi chứ chưa dám xoá “bao cấp” về tư tưởng? Nghĩ giản dị rằng con người hễ “no cơm ấm áo” là khắc văn minh, vui tươi yêu đời? Có phải vì thế mà thông sử thì vẫn không thoát được cái “vòng kim cô” xưa cũ, nhưng chuyên sử kinh tế thì được “cởi trói” dần theo với nền kinh tế thị trường? Hay đó còn là cả một quan điểm giáo dục, muốn thông qua môn sử và vài môn xã hội khác để “đúc sẵn” vào đầu những nhận thức chính trị, lòng trung thành với chế độ cho lớp trẻ? Chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm, rồi nào là “mở cửa”, hội nhập… mà vẫn quanh quẩn với lối nghĩ đó thì thật tai hại; khi mà cũng chỉ với từng đó thời gian thôi, nước Nhật phong kiến Minh trị Duy tân đã làm cuộc đổi thay cách mạng mới có được như ngày hôm nay, trước hết là do biết nâng cao dân trí, ý thức sớm việc bảo vệ độc lập quốc gia phải bằng một nền dân chủ văn minh tiên tiến thay vì bằng súng đạn, máu xương.

Một điều trái ngược với thực trạng đáng buồn này là lịch sử hiện đại của Việt Nam lại vô cùng đa dạng, phong phú, đầy “kịch tính” trên mọi lĩnh vực, là “đất màu mỡ” cho những khám phá, tranh luận… tạo hấp dẫn thêm cho mọi tìm tòi phát hiện táo bạo của các sử gia. Nhưng cũng ngược lại, với những đa dạng phức tạp đó, nếu ta không sớm định cho nó một “hình hài” đúng như nó vốn có mà để các sử gia tiền bối nhắm mắt xuôi tay, cả bao “pho sử sống” dần khuất núi đem theo xuống mồ bí ẩn lịch sử, rồi phó mặc cho hậu thế thì sẽ vô cùng nan giải cho cái việc nắn lại một “cơ thể” đã mang đầy khiếm khuyết, dị tật. Ấy thế mà ít nhất chúng ta vẫn đang có tới 2500 sử gia để mà lo lắng cho điều này!

Nhiều nhà nghiên cứu – trong, ngoài giới sử học – từng một thời phơi phới hăng say nghiên cứu khoa học mà không nhận ra sớm thực tế rằng phải “uốn mình” theo khuôn mẫu để phục vụ nhiệm vụ chính trị, nên họ đã gặp bao khốn đốn. Giờ như “con chim đậu phải cành cong”, họ chọn giải pháp an toàn, dễ trở thành bảo thủ, thậm chí mang tiếng vô trách nhiệm mặc dù có thể chưa đến nỗi hoàn toàn buông xuôi. Vẫn còn đó không ít người đã, đang bị lương tâm cắn rứt trước những sự thật lịch sử bị che giấu, xuyên tạc! Họ quá hiểu đã là một sử gia, phải biết đặt mình ra ngoài mọi thiên kiến chính trị, để tìm kiếm, sắp xếp sử liệu sao cho đúng với sự thật khách quan. Làm sao khi đọc tác phẩm, chỉ thấy được nhà sử học hoàn toàn thuộc về nhân dân, dân tộc muôn đời, chứ không phải của nhất thời, làm tôi tớ cho chính trị đương quyền. Cách đây ngót 20 năm, nhà báo được kêu gọi “không bẻ cong ngòi bút”, vậy với nhà sử học “không bẻ cong sự thực lịch sử” âu cũng là cái đức để được sống mãi trong lòng hậu thế.

Thực trạng như mảnh đất màu mỡ cho những kẻ, những thói lười biếng, dối trá, kèn cựa địa vị, hư danh, nhiều khi còn nấp bóng “kiên định lập trường” để che đậy tha hoá. Sự đời chịu nhận cái xấu ở mình đã khó, huống hồ là của bề trên, thành thử hay có lối “mẹ hát con khen”. Chỉ so với các sử gia Việt Nam ta xưa mà cũng thấy thật xấu hổ, chưa nói tới nước ngoài. Như chuyện về quan chép sử nước Tề, chỉ có câu “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công” mà bị chém đầu, người em lên thay vẫn cứ viết vậy liền bị chém nốt, cho đến người em thứ ba thì Thôi Trữ đành “thua”. Họ quả là thánh nhân chứ đâu phải người trần nữa!

Nhưng “tiền hô hậu ủng”. Một khi các sử gia đã vậy thì thử hỏi liệu có được bao nhiêu nhà hoạt động văn hoá muốn đóng góp chút ít bằng tác phẩm của mình có đủ can đảm để “xông pha” như những tài năng Tào Mạt, Nguyễn Ðình Thi, Trần Văn Thủy, Nguyễn Huy Thiệp…?

Ðáng lo hơn cả là suy cho cùng, những người có trách nhiệm cao nhất hình như không muốn thay đổi thái độ trước những vấn đề liên quan đến sử học. Bởi thực trạng hôm nay với đầy dẫy tệ nạn tham nhũng luồn lách tới mọi ngõ ngách quyền lực chẳng lẽ không run sợ sự thực lịch sử sẽ ghi khắc cho muôn đời?

Qua phác hoạ như trên, để có được niềm say mê học, dạy môn sử, thầy trò sẽ phải nỗ lực rất nhiều để nhặt nhạnh thông tin, tìm kiếm nguồn cảm hứng ở bên ngoài môi trường học tập, bù đắp những gì mà hệ thống sách vở không đem lại, đem lại không đúng cho họ. Khốn nỗi, họ phải theo giáo án, đi đúng trong lằn ranh đã được vạch sẵn chứ khó dám liều để dạy “sử ngoài luồng”; cuộc sống khó khăn với đồng lương không nuôi nổi bản thân, điều kiện giảng dạy thì nghèo nàn không cho phép họ phiêu lưu lãng mạn với “tình yêu nghề nghiệp” duy ý chí. Và đáng lo ngại nữa là thế hệ trẻ ngày nay sẽ vẫn bằng mọi cách riêng để tự hiểu mình là ai, hiểu thế hệ cha ông; đương nhiên chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt cho điều đó: Là thái độ phản kháng bằng lên án, mất niềm tin và sự kính trọng thế hệ đi trước; nảy nở thói đạo đức giả, thực dụng, vô ơn… Còn một giá đắt nhãn tiền mà chúng ta đã phải trả từ lâu cho nhiều quyết định sai lầm để lại hậu quả nặng nề là từ sự chủ tâm coi thường tính thẩm định, dự báo, phản biện của khoa học xã hội (trong đó không thể thiếu sử học) mà chỉ sử dụng nó như thứ công cụ để tô hồng chế độ. Sẽ như “gậy ông đập lưng ông” cho một nền sử học-giáo dục minh hoạ phải đứng trước nhiều thế hệ nhắm mắt, bịt tai, quay lưng lại. Như câu bất hủ của Abutaliv “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn lại anh bằng đại bác”. Ở góc nhìn khác, giản dị mà ý nhị, cố thủ tướng – giáo sư sử học Phạm Văn Ðồng lại nói: “Lịch sử là lịch sử”. Chứ lịch sử không được để bị chính trị hoá, không thể dối trá, có phải đó chính là điều ông ngụ ý đau xót? Bởi nó luôn không dễ nói, nên xưa Nguyễn Trãi mới từng than:

Ai ai đều đã bằng câu hết
Nước chẳng còn có Sử Ngư! [5]


[1]Nxb Giáo dục, 2005
[2]Nxb Giáo dục, 2004 (Viện Sử học)
[3]Phan Ðình Nhân, 2002
[4]Nxb Khoa học Xã hội, 2005 (Viện Kinh tế)
[5]Quan chép sử nổi tiếng ngay thẳng, trung thực, cùng Khổng Tử một thời dưới triều đại thối nát của vua Linh Công nước Vệ – thế kỷ thứ V trước Công nguyên.

Nguồn: Bài đã đăng một phần trên tạp chí Tia sáng (Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội) số 17, tháng 9-2006. Bản đăng trên talawas là bản đầy đủ.

Đăng trong Giáo dục, Lịch sử | 12 phản hồi »

275. Bịt mắt bắt sâu

Đăng bởi anhbasam on 22/08/2009

Bt mt bt sâu


Con: con chào bố, chào cả nhà …

Bố: vui thế, điểm 10 nữa hả ?

Con: còn gấp nghìn lần điểm 10 ấy chứ ạ …

Bố: chà … chà … được đi báo cáo thành tích chứ gì ?

Con: không … mà là ngược lại đấy bố ạ. Tức là giờ người ta phát động “tuyên chiến với bệnh thành tích” này, rồi “nói không với gian dối trong thi cử” nữa. Như vậy là con vừa không phải “cá mè một lứa” với mấy đứa chuyên quay cóp, mà bọn con cũng chả phải báo cáo thành tích học tập, thầy cô cũng đỡ đi thi “giáo viên giỏi” cấp nọ cấp kia, phát mệt.

Bố: vớ vẩn ! Tất cả chỉ như trò “vạch lá tìm sâu”. Chả đi đến đâu.

Con: bố bi quan quá …

Bố: chúng mày ngây thơ quá đi thì có. Cái trò gian dối, thành tích này có mới mẻ gì đâu, có phải chưa phát động phát đậy đâu. Rồi thì đâu lại hoàn đấy thôi … Vẫn muốn cãi à ? … Thế thì bây giờ tao hỏi thế này thôi nhá. Là có bao nhiêu cái trò gian dối trong dạy, trong học ? “Bệnh thành tích” nó gồm những cái gì, có rõ ràng không hay là mờ mờ ảo ảo, đầy dẫy ra đấy ? Có cái luật nào để mà “tuyên chiến” với nó không, hay chỉ hô khẩu hiệu cái mồm ? Rồi tại sao lại sinh ra những trò gian dối này, “thành tích” này … ? Đủ thứ tệ nạn trong giáo dục ấy chứ.

Con: … nhưng chúng con là trẻ con thì làm sao mà biết được …

Bố: đấy, rõ là khó chưa ? Làm sao dễ thấy được hết những cái căn nguyên của nó. Chẳng khác gì cái cây, nó có cái cành bị sâu đục thân mục ruỗng ra, thấy lá héo úa, thế là lăn vào nhặt mấy con sâu vớ vẩn trên lá thôi, chả giải quyết được gì.

Con: bố nói nghe cũng hay đấy. Thế thì phải làm thế nào ạ ?

Bố: chả làm thế nào cả.

Con: … à, con nghĩ ra rồi ! Chỉ có cách là ta chặt béng nó … cả cái cây đi, giồng cây khác là xong …

Bố: ừ … nhưng mà mày chặt cái cành sâu … của mày thôi chứ. Chứ chặt cả cây thì … mày chặt cả tao … tao ở cái cành khác mà … ?

Con: vâng ! … Sâu nó từ đấy sang mà. Từ cành của bố, cành của mẹ, từ nhiều cành lắm … từ tận gốc lên nữa đấy bố ạ.

Bố: …


Ba sàm

* Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 37-2006, biên tập sửa tựa đề thành: Từ nhiều cành lắm

*(Diễn Đàn – ngày 24/11/2007)

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục | 7 phản hồi »

238.Đúc người vì lợi ích dăm năm

Đăng bởi anhbasam on 18/07/2009

Đúc người vì lợi ích dăm năm

(Thư ngỏ – Kính gửi các bác lãnh đạo ngành giáo dục từ xưa cho tới mai sau)

Cháu không còn trẻ nữa, cũng không phải đi học nữa, nhưng thấy mình vẫn còn non nớt lắm, nên xin được xưng hô vậy. Già người mà vẫn thấy còn non cái dạ, lại hèn kém, đó chính là một trong những lý do quan trọng thôi thúc cháu viết lá thư này. Ngành giáo dục mà các bác lãnh đạo cháu xin được gọi là “cỗ máy đúc người”, và bức thư này cháu xin được gửi tới hết thảy các bác lãnh đạo của ngành trong nhiều thế hệ mà cháu cũng xin được mạn phép gọi là các “quản đốc phân xưởng đúc”. Tại sao vậy? Cháu sẽ xin được làm rõ.

  • Trước hết là ý muốn chia sẻ nỗi lo của các bác đang vật vã với chuyện đúc người bao nhiêu năm nay, cứ cải (cách) đi rồi cải lại mà càng bế tắc thêm.
  • Cái cỗ máy đúc người này nó làm cháu nhớ tới cuốn phim Đồi thịt băm, tức là nó băm vằm, nuốt chửng danh tiếng và mọi nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo các bác (nếu như ai đó thực tâm có). Các bác không thấy được, hoặc làm như không thấy, là nó chỉ như một cỗ máy trong một nhà máy khổng lồ, đã vận hành từ rất lâu với một sức mạnh và quán tính khủng khiếp. Hơn nữa, nó lại đóng vai trò vô cùng quan trọng là đúc ra mọi chi tiết cho những cỗ máy cái ở các phân xưởng khác. Thế mà cứ cố vặn vẹo nó nay tí mai tí mà không chịu cải đổi hẳn đi, không quan tâm tới các cỗ máy khác đang lôi kéo nhằng nhợ với nó thì đương nhiên sẽ bị nó nuốt chửng.
  • Cái cỗ máy này thực ra đã một thời có công tích ghê gớm, có điều hình như chưa thấy ai phân tích cái kiểu công tích này và việc nó tác động lại theo lối phản tác dụng ghê gớm ra sao tới xã hội chúng ta, và đến chính nó, cái cỗ máy làm ra công tích đó.


1. Công

Phải nói là giờ nhớn rồi, lại được mở mang hiểu biết ra bên ngoài nước mình, cháu mới càng thấy một điều là cái kiểu đúc người (giáo dục) ở ta trong những năm chiến tranh quả là tuyệt diệu. Đó là “triệu người như một”, đều tăm tắp, tuân lệnh răm rắp, không giống bên Tây nó “đúc” thì ra mỗi người mỗi kiểu. Duyên do thì nhiều lắm, cháu xin kể lể vài điều ra đây. Số là dân mình tuyệt đại đa số vốn đã nghèo khổ, ngoài việc chả biết gì ngoài lũy tre làng, lại phải chịu ảnh hưởng đủ thứ tư tưởng, văn hóa Nho Khổng, Phật, Lão nhưng bị thăng trầm méo mó đi qua bao đời, nên con người ta sống rất chi là khiêm nhường, yếm thế với “bề trên”, không kênh kiệu như bên Tây. Đến khi cách mạng nổi lên, giành độc lập, họ được bảo là mình giờ thành ông bà chủ xã hội hết rồi, nhưng khốn nỗi lại cứ bị các bố đầy tớ (tức là cán bộ – “đầy tớ của nhân dân”) mắng mỏ dạy bảo đủ kiểu, từ trẻ nứt mắt cho tới già kề miệng lỗ. Thành thử bà con chả biết đâu mà lần, càng phải khiêm tốn tợn, phát triển thêm luôn cái đức tính giả vờ nữa, tức là nói, nghĩ một đằng làm một nẻo. Điều này vô cùng là móc xích với cái công nghệ đúc người ở ta. Cụ thể là bọn trẻ con chúng cháu là nhân dân, thì nhẽ ra thầy cô, đến cả các bác bộ trưởng nữa, phải là đầy tớ của chúng cháu, đúng với cái khẩu hiệu của chế độ, là phải hết lòng phục vụ. Thế nhưng sự tình nó cứ ngược lại hết làm cho chúng cháu quen dần cái lối sống giả vờ mà ngày nay các bác đang khốn khổ để “tuyên chiến”, ấy là “gian dối trong thi cử”, “bệnh thành tích trong giáo dục”. Khởi đầu là cái “cá nhân” trong mỗi con người luôn được đè nén xuống dí dị; làm gì, nghĩ gì cứ là vừa phải theo “tập thể”, “đoàn thể”, vừa phải tin tưởng tuyệt đối ở “trên” (tức là ở các ông bà đầy tớ). Từ ngày còn bé tẹo, chúng cháu đã biết nhận thức là mình rất ngu, rất hư, rất chi là “cá nhân chủ nghĩa,” nên mọi hoạt động phải đi vào khuôn phép. Nào là hát đồng ca, vỗ tay đồng loạt, tập đánh vần cũng phải đồng thanh theo nhịp thước cô gõ chan chát (có nhẽ để sau này nhớn lên mà phát triển cái “đồng tình”, “đồng chí”, “đồng lòng”…?) Học được mấy bài hát mà thấy bài nào cũng có từ “ngoan”, “cố gắng”, “không khóc nhè” nên nó ngấm vào máu cái tính “ngoan” hết mực, đói mấy cũng phải tươi cười tin tưởng phơi phới. Kế đến là cái khoản “xin-cho” thôi thì đủ kiểu. Đến cả buồn tè, mót ị mấy cũng phải giơ tay xin phép, cô cho thì mới được đi, không thì cố mà nín, đùn ra đấy là rất hư, hết cả “phiếu bé ngoan”. (Ngày qua ngày, càng già cháu càng rõ là cái cảnh xin xỏ này nó cứ diễn ra suốt đến lúc chết. Nào là xin vào trường học, xin đăng ký hộ khẩu, xin khai sinh, khai tử, xin khai thành tích để được khen… Còn cái chuyện “nín” thì càng lớn lên càng giỏi, cháu xin nói ở phần sau). Cô kể chuyện xong mà không vỗ tay là hỗn, cũng hư là cái chắc. Thành thói quen như từ cha sinh mẹ đẻ để sau này cấp trên có nói (bậy) ra cái gì cũng cứ vỗ tay rào rào, làm láo mà cũng phải khen nức nở.

Nhớn lên tí, học cái kiến thức thì cũng rất đặc biệt, chúng cháu được vun đắp thật là nhiều, những thứ rất cao siêu nhưng thuộc “phe ta” thôi; những gì về thế giới bên ngoài, của kẻ địch, hay phe khác thì được coi là nọc độc nên rất hạn chế. Còn chuyện hai bên đánh nhau thì cũng toàn ta dũng cảm, khôn ngoan, thắng ào ào, địch thì hèn nhát, ngu si nên thua chạy như vịt cả. Viết bài luận về thơ, văn của các vị nổi tiếng, nhất là có chức sắc nữa, là cứ phải khen ngất giời chứ cấm có được chê, kể cả hơi “băn khoăn” tí cũng ăn điểm không là còn nhẹ. Làm văn về đất nước là phải “rừng vàng biển bạc”, phải có “gương người tốt việc tốt”, “chế độ ta tươi đẹp”. Tóm tắt là cái gì của ta, từ “trên” là “cực kỳ” (đúng, tốt), còn của địch là khốn nạn hết. Trong quá trình vun đắp là phải căng tai trợn mắt ra mà lĩnh hội, chứ đứa nào nhỡ có hơi “thiên nhiên” tí, nảy nòi ra cái tính thắc mắc, cãi bướng, ưa tranh luận là mệt ngay. Cái kiểu dạy “thầy đọc trò chép” mà giờ các bác đang khốn khổ loại trừ phát sinh chính từ đây, nó giúp cho chúng cháu là những kẻ được “lập trình” vào đầu ngay từ tấm bé cho những nhận thức là ý kiến của “trên” thì chỉ có đúng, phải tuân theo răm rắp, kẻ nào không đồng ý với “trên” là coi như kẻ thù. Còn đã là kẻ thù thì ắt xấu xa, phải tiêu diệt nếu như không chịu cải tạo. Để được rèn giũa thì ngoài thầy cô còn có tầng tầng lớp lớp các đoàn thể ngay từ nhi đồng, thiếu niên… kèm cặp cho chúng cháu ngày càng ngoan (nghĩa là kiểu “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”), có thêm “tinh thần tập thể”, giảm bớt cái “cá nhân” đi (mà giờ cháu mới hiểu là bên Tây nó hay gọi là có “cá tính”). Chưa hết, lại còn một lực lượng kiểu cảnh sát dân sự biệt danh là “Cờ đỏ”, tai mắt của thầy cô, xem có đứa nào vẫn còn hư không, làm cho đứa nào cũng cảm giác khó hiểu về bạn bè mình, còn mình thì lại tập cái tính sống ít hồn nhiên đi, thích phát hiện những đứa bạn hư để hớt lẻo với cô, để được công tích cho đỡ bị bảo là hư, là ngu. Mà chuyện công tích thì quan trọng khủng khiếp, trong hơn cả một đời người, từ khi đẻ ra cho qua cả lúc chết rồi. Vì có nhiều danh hiệu vô cùng để phấn đấu mà đạt cho được. Đứa nào không được danh hiệu thì sợ hãi khủng khiếp, cảm giác như bị bọn có danh hiệu nhìn ngắm mình như quái vật; vì số này rất ít, nên dưới đẳng cấp này thì chỉ còn có bọn tội phạm đi tù, cải tạo thôi. Để có danh hiệu là phải qua những công đoạn chấm điểm rèn luyện kỷ luật, từ đầu tóc, quần áo, nói năng, giờ giấc, rồi bọc, dán nhãn, giữ gìn sách vở sạch đẹp… (nhiều không kể hết được, cho cả cá nhân và tập thể). Thế rồi tính toán, “cân đối”, bình bầu, kèm theo là nhiều cuộc họp hành nữa. Cả trường xếp hàng nghe đọc điểm thi đua mỗi tuần, điểm cao là được khen, thấp là bị bêu riếu. Không khí ganh đua kèn cựa nhau từng li một muốn nghẹt thở, cứ gọi là mụ mị cả người, cảm giác tội lỗi, hèn kém luôn thường trực trong mình. Lại còn luôn luôn được hô những khẩu hiệu đạo đức mà những chữ “khiêm tốn”, “đoàn kết”, “kỷ luật” cứ gọi là ưu tiên hàng đầu. Trong mọi ngôn từ hàng ngày cho tới bài vở viết ra chúng cháu đều được dạy những từ ngữ rất chi là hoành tráng, gọi là ngôn ngữ ngợi ca. Nên cái không khí chung là cực kỳ… (xin lỗi, cháu không tìm ra được từ nào để diễn tả nữa). Và các bác sẽ chả lạ gì cái lối làm “bài văn mẫu” ngày nay đầy dẫy là có ngọn nguồn từ đây. Đến như cái “khẩu hiệu” nhiều năm nay trường nào cũng có, nghe rất chi là “đậm đà bản sắc dân tộc”, là “tiên học lễ, hậu học văn”, mà nào có mấy ai từ thầy đến trò được hiểu cho đúng cái chữ “lễ” của cụ Khổng Tử nó mênh mông đến nhường nào đâu. Cứ nghĩ theo lối tộc tệch là bọn trò chúng cháu phải trước hết “thấm nhuần” cái thái độ “lễ bái”, “lễ độ”, “lễ phép”, nhũn như con chi chi, có khi lại phải dâng “lễ lạt”, “lễ vật” nữa (tức là có… “phong bì”, “con gà nải chuối” cho thầy cô).

Ngoài nhà trường ra thì khắp nơi hang cùng ngõ hẻm, trong xóm ngoài làng, xưởng máy, ruộng đồng, cơ quan, đoàn thể, đêm ngày bằng mọi phương tiện từ báo, đài, thơ, truyện, ca, múa, nhạc, kịch, thể thao… cả “chuyên” và “không chuyên”, chúng cháu luôn luôn được tiếp tục “hun, đúc” không ngừng tất tật những gì thuộc về lòng trung thành, tin tưởng tuyệt đối, tự hào vô cùng về hiện tại, tương lai đất nước, chế độ, “bề trên”, căm thù tận xương tủy kẻ thù xấu xa. Tức là cái gì cũng có ranh giới tuyệt đối: tốt và xấu, ta và địch. Nên cái chữ “trồng người” nó phải được gọi là “đúc người” mới phải. Nghĩa là không có chăm bón, vun xới, nâng niu theo lối mơn trớn, “dân chủ giả hiệu” gì sất, mà là nung chảy, đổ khuôn, rèn, đột, dập, mài, dũa, cắt gọt, đánh bóng cho đến nhẵn thín, tròn xoe ra mới… vẫn chưa thôi.

Thế là những lớp người được trở nên vô cùng hoàn hảo, chả có chống đối, nghi ngờ, thắc mắc, tơ tưởng “đứng núi nọ trông núi kia”. Bảo đi là đi, bảo đánh là đánh, không một tí tiếc rẻ tài sản, máu xương. Sống cực kham khổ nhưng vẫn tươi hơn hớn, có biết bên ngoài người ta sống ra sao, nghĩ cả thế giới này cũng vậy, phần thì tin tưởng, phó thác ở “trên” dẫn lối chỉ đường hết. Cả triệu người như một hàng quân, tay nào khác đi một tẹo, dù là ý nghĩ, ánh mắt là trơ thổ địa ra, dễ bị nghi là phản động ngay, ít ra cũng là “thiếu kiên định”, phải tự đấm ngực kiểm thảo. Những diện có thể có những biểu hiện khác thường nhất, như là các nhà thơ, văn, nhạc…, dễ bất ngờ “thai nghén” những sản phẩm tinh thần trái cựa có nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, lòng trung thành tuyệt đối, thì cũng được luyện làm sao các sản phẩm đó không những vẫn ở trong vòng kiểm soát (được gọi là theo “định hướng”) mà còn phải trở thành những khẩu hiệu hành động nóng dẫy. Những nhu cầu bản năng của con người từ ăn uống cho tới làm tình đều bị phỉ nhổ là thấp hèn, phải cố mà nín nhịn, kể cả nín không được mà tuôn ra thành văn, xổ ra thành tranh là cũng “ăn đòn” ngay; ngộ nhỡ có hơi tham tí mà “ăn vụng” lại không biết “chùi mép” là thôi rồi, tương lai mờ mịt luôn (dạo ấy có cái từ nghe còn kinh hơn án tử, gọi là “hủ hóa.” May quá giờ hiếm ai nhắc đến nữa). Vì rõ là mọi thứ nó đều có “suất” cả (giờ gọi là “bao cấp”). Sợ chết, thèm ăn, thèm “sinh hoạt” cũng phải bảo là không sợ, không thèm. Tức là cái trình độ nghĩ một đằng, nhưng nói, làm một nẻo điêu luyện lắm, như được “lập trình” sẵn cả rồi. Tóm tắt lại thì cháu tự cảm thấy mình như thể một thứ người-máy-sinh-học, được đúc ra từ cái phân xưởng đúc mà các bác gọi là “ngành giáo dục,” lại còn được nhiều phân xưởng khác gọt dũa, “mông má” thêm, nên giờ nhớn như lão già rồi mà nhìn ra thế giới thấy mình vẫn còn non nớt lắm. Cứ thế, cái thế hệ người-máy này lại quay lại rèn đúc, đẽo gọt thế hệ người-máy khác (nói bỏ quá, chứ cháu biết các bác cũng nằm trong số này, có khác chăng là thuộc loại “chất lượng cao” thôi – tức khả năng bắt chước, giả vờ, tuân lệnh răm rắp là hơn hẳn đồng loại). Cũng thi thoảng có vài người-máy do bẩm sinh hoặc quy trình đúc bị lỗi mà sinh cái tật hay có ý kiến riêng là được căn chỉnh ngay. Đó là loại bướng bỉnh, thiếu ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh chính trị kém. Mà căn chỉnh tức là “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “mất thi đua”… cuối cùng là ảnh hưởng đến lương, thưởng, tem phiếu. Vậy là đâu lại vào đấy. Thật là tuyệt!

Báo hại cho phe địch cứ cậy giàu có văn minh mà không biết là đánh nhau với những lực lượng này thì chỉ có thiệt trở lên. Vì bên họ thì không có cái lối đúc người như thế này, mỗi sản phẩm mỗi kiểu, nên nó có cuộc sống rất là “cá nhân chủ nghĩa”. Nào là thắc mắc, đấu tranh, buồn nhớ nhà thì rên rỉ, hát nhạc vàng, rượu chè cờ bạc, ăn diện phè phỡn, gái mú. Ngoài đời họ cũng chả có đông đảo các ban ngành đoàn thể, phát động tuyên truyền, văn hóa tinh thần để rèn đúc theo kiểu “đồng tâm nhất trí” như ta; đã vậy lại còn để cho nhiều đoàn thể, báo đài nói cái giọng phản tuyên truyền lung lạc ý chí chiến đấu của quân dân nữa chứ. Nhất là cái lối thấy đánh nhau bị thua, chết nhiều quá là xót, đòi xem với xét. Thế thì khác gì bàn lùi, là nhận mình kém cỏi, không có chính nghĩa. Như thể hai phe dàn trận ra, một bên thì “triệu người như một” đều bắn, cùng a-la-sô đánh chí chết, chấp nhận hy sinh vô hạn, còn bên kia thì lại phải cãi nhau tiến hay lùi, không “tin tưởng ở trên”, lo thiệt hại nhiều nhân mạng. Thua sặc tiết là cái chắc! Thế mà giờ vẫn còn cãi nhau như mổ bò là vì sao bị thua. Giá chịu khó ngó đến lịch sử xa xưa thì sẽ thấy xã hội này được tổ chức cũng hao hao như cái thị quốc quân sự hùng mạnh Sparte ở Hy lạp thế kỷ thứ V trước Công nguyên, để mà biết mà dàn hòa chịu thiệt ngay từ đầu thì có phải yên chuyện không.

Đó là tóm tắt vài biểu hiện trong cái công tích của cỗ máy đúc người, chứ đi sâu chỉ ra hết, phân tích rõ thì đa dạng, thâm thúy vô cùng tận, phải những trí thức học giả mới làm nổi.

2. Tội

Thế rồi hòa bình lập lại, nhiều năm sau nữa mà cái cỗ máy đúc này nó chạy lại còn khỏe hơn hẳn xưa. Hình như cũng có nhiều vị hay chữ kiến nghị phải thay nó đi, đơn giản là xưa “đúc” chiến binh là chính, giờ thì phải “trồng người” như bên Tây để cho ra nhiều trí thức, công nhân bậc cao, nông dân giỏi công nghệ. Xưa đánh nhau lo mất nước, có phe nọ phe kia, nên cần “muôn người như một”. Giờ đâu còn lo nữa, thế giới đơn cực, chế độ thì vững như bàn thạch rồi, lại còn chơi với tất tật, kể cả những loại ngày xưa là kẻ thù nữa. Với lại cái trò đúc ấy nó cũng có mặt trái kinh khủng, làm cho ta thiếu hẳn những người-thật. Trước nay mình toàn “đúc”, mà người ta thì “trồng”; như cái cây ấy, chăm bón, vun xới rồi tự nó nhớn lên mơn mởn mỗi cây mỗi vẻ, chứ cứ khuôn hình “đúc” ra cứng nhắc, khô không khốc thì có mà đánh nhau mãi à? Hậu quả đau đớn là cứ bị mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, mới ngộ ra là vì ta quá thiếu người-thật, chỉ rặt những người-máy thôi, nào có dám cãi lại khi thấy “trên” làm sai. Thêm nữa là do “trên” thì các bác quản đốc, giám đốc biết thân biết phận, tâm niệm cái câu “ba anh hàng da thành anh Gia Cát Lượng” nên lãnh đạo theo lối “tập thể”, chứ không chơi kiểu “cá nhân” như bọn tư bản. Yên tâm quá, có chuyện gì thì cũng chịu trách nhiệm “tập thể”, tức là “hòa cả làng.” Cùng lắm là các bác đổ tại cái thằng… “cơ chế”, sợ gì chuyện làm sai, nên càng hay sai. Các bác lại còn thích kiểu ăn quả chắc, nên tuyển toàn loại người-máy thôi, ngại tuyển người-thật vì chúng nó hay cãi, dám hỗn láo vạch mặt cả cấp trên. Nhưng người- máy thì trông nó cứ “muôn người như một” nên cũng cực kỳ khó chọn, lý lịch anh nào thấy cũng na ná như anh nào, toàn “chấp hành”, “trung thành”, “khiêm tốn” cả. Các bác đành tổ chức thi… “chạy”. Anh nào “chạy” khỏe là ăn. Nhưng hóa ra những tay “chạy” khỏe thì làm việc lại cực ngu. Thế là các bác lại càng dễ mắc thêm sai lầm nữa.

Nhưng có lẽ các bác vẫn tính là thể nào cũng còn đánh nhau? Hay là cần các trí thức có phong cách như chiến binh người-máy? Hay các bác thấy giờ vi tính, rô-bốt ở tây nó phát triển quá nên nghĩ mình cả nửa thế kỷ nay thế là đi đúng cái kiểu “đi tắt đón đầu” rồi (đúc được người-máy)? Nên cỗ máy đúc vẫn cứ được dùng tiếp. Thi thoảng có tiếng kêu ca thì các bác lại xê dịch nó đi tị tẹo, sơn phết vào, hô là “cải cách”! Thế là yên chuyện.

Nhưng cái lũ người-máy-sinh-học giờ nó cũng quái ra phết. Không thấy đánh nhau nữa, lại thấy nhờ có cái “cơ chế thị trường” nên các người-máy có “cương vị” sống hơi bị Tây quá chứ không kham khổ như xưa nữa. Còn nhìn ra ngoài thì mới thấy là mình “thua em kém chị” ghê gớm. Thế là chúng nó nhao nhao lên. Một số thì lăn vào mà kiếm tình, tiền các kiểu, trong khi vẫn giữ cái vỏ người-máy. Số khác thì cố công nhồi nhét kiến thức bị hổng bao lâu nay, chỉ có điều nó vẫn bị cái thói quen là nhút nhát, sợ sệt không sửa được mấy, nên nhiều khi có cái sáng kiến cũng đành câm miệng, sợ dạy khôn người trên là bị mắng “thiếu khiêm tốn”, “gây mất đoàn kết nội bộ”. Cũng có một số ngộ ra là mình phải được có tí quyền này nọ chứ không thể như lớp trước mãi. Vậy là nảy sinh những xung đột xưa nay chưa từng thấy. Như tại xưởng đúc, nhiều thợ đúc bắt đầu áp dụng các ngón nghề cai ngục như ép học thêm, tra tấn, hỏi cung, lăng nhục người-máy, nhưng họ thường chỉ nhắm vào những loại hiền lành, ù lì thôi (khôn thế, chứ tra tấn loại người-máy khùng khùng có khi lại bị nó tra tấn lại thì khốn. Vì cũng có vài vụ người-máy nổi điên “xử lý” thợ đúc rồi). Đến độ nhiều người-máy bị hỏng “phần mềm”, bác sĩ gọi là sì-chét, là tâm thần, nói năng hành động lung tung, có những trường hợp tự tử nữa mới kinh. Tình trạng này giờ nhiều quá, công luận lên tiếng đòi có giải pháp, làm cho các bác quản đốc rối tinh không xoay xở kịp.

Khổ nữa là trong cái công cuộc “ra biển lớn” này (tức là làm ăn, quan hệ với khắp thế giới), những người-máy được đúc ra theo công nghệ cũ ngày càng bộc lộ kém cỏi. Vì không quen tự học hỏi, thường thụ động nên đơn giản là ra biển gặp sóng to gió lớn, cá mập, cướp biển nó rình rập mà cứ “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”, chả có sáng kiến tối kiến gì cho ra hồn; khó khăn tí thì lại đòi về xin ý kiến chỉ đạo của “trên”, “trên” lại thỉnh thị “trên” nữa, hoặc dở “cẩm nang” ra đọc, thì có mà làm mồi cho bạch tuộc tư bản, nó chả phải vươn vòi gì mà cũng kiếm ăn tại chỗ được.

Vậy mà nhiều năm nay, cỗ máy cổ quái này lại còn được gia cố để hoạt động mạnh hơn. Vì tình hình hai chục năm qua theo cái “cơ chế thị trường”, nhiều vị chức sắc cũng kiếm ra phết, cả danh lẫn lợi (nói trắng ra là chức tước, đô-la và bằng cấp, thành tích rởm), đến độ nổi tiếng ra cả thế giới chuyện ta bị giặc nội xâm tham nhũng nó đánh, chả kém tiếng tăm ngày xưa ta đánh giặc ngoại xâm; thế nhưng các em người-máy có biết được bác nào là “giặc” thì cũng im thin thít, an toàn quá chứ còn gì. Lại có nhiều người-máy có cương vị vào là muốn được đúc lại, nâng cấp, dán thêm tem nhãn cho oách, dễ được lên làm đốc công, quản đốc… Cả xã hội giờ cứ như một đại công trường đúc người-máy. Các kiểu đúc: Đúc giả, giả vờ đúc, đúc lại, giả vờ đúc lại, giả vờ đã được đúc, đúc “tại chức”, đúc “từ xa”, đúc “thường xuyên”, đúc kiểu nâng cấp, kiểu khẩn cấp, “đẳng cấp quốc tế” nữa (nghe nói đang có phương án), vân vân và vân vân, mà lại vẫn cứ rập khuôn theo cái công nghệ cũ ấy. Cỗ máy đúc giờ phải tăng ca, ngày tới 4-5 ca mà vẫn không hết việc, thế mà các bác lại còn mới đưa ra chỉ tiêu phải đúc nâng cấp thêm mấy chục nghìn nữa mới ghê. Cung không kịp cầu nên tức khắc phát triển cực mạnh cái dịch vụ mua bán tem nhãn chứng nhận rởm là đã được đúc, được nâng cấp (mới thử kiểm tra cái tỉnh gì trên Tây Nguyên mà đã ngót gần hai nghìn vị “dính” rồi). Thử hỏi làm sao mà thay cái cỗ máy này đi được, nhất là ai cũng thấy “đúc” dễ hơn “trồng” rất nhiều, cho cả thợ đúc lẫn người-máy. Chỉ thấy thay hết đời bác quản đốc này lại đến bác quản đốc khác mà điều tiếng thì ngày càng nhiều là tại sao chất lượng người-máy ngày càng tệ. Rồi còn nảy sinh ra đủ kiểu phong phú, như thi thoảng lại có bác quản đốc phân xưởng khác muốn được giả vờ đúc lại, giả vờ nâng cấp để được tại vị hoặc lên chức giám đốc, mà to thế thì phải chiều chứ. Chưa kể mỗi khi các bác có hô hào “từ nay chấm dứt cái trò giả vờ đúc nhé” (tức là phát động “nói không với bệnh thành tích”, “chống gian dối trong thi cử”), cũng không ăn nhằm gì, vì các phân xưởng khác họ cũng “làm giả, ăn thật” đầy dẫy ra cả rồi, mà thu nhập, năng suất của họ lại còn bằng vạn phân xưởng đúc. (Nên nói trắng ra là người nhớn, “bề trên” không làm gương chống gian dối, “bệnh thành tích” trước đi mà lại bảo trẻ con, kẻ nghèo hèn chống thì chống thế nào được). Thành thử công nhân phân xưởng của các bác cũng phải thi đua tăng thu nhập với họ thì mới sống nổi chứ. Vậy là các người-máy nay được đúc ra thậm chí còn tệ hơn với sản phẩm của cái lối “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” ngày xưa. Mệt nữa là các phân xưởng khác còn có đủ những quyền hạn khống chế cái xưởng đúc này để mà “vào guồng” cùng với mình. Ví như bên thiết kế (kiểu như tuyên giáo í mà), hay bên tài vụ (giống cái ngành tài chính ấy), quyền hành họ rất to, không nghe theo là họ “siết hầu bao”. Nhưng cũng chả thể đổ tại thiên hạ hết được vì cái công nghệ đúc của các bác nó quá lỗi thời rồi, trẻ con giờ nó lên vi tính, nhoằng một cái là nó biết hết ở bên Tây người ta thế nào, thế mà các bác cứ muốn nó phải nghe, phải tin những lời giáo lý theo kiểu “nói vậy mà không phải vậy” mãi sao được. Các bác cũng nào có chịu tin là bao nhiêu tệ nạn xã hội, giặc nội xâm tham nhũng, trò giả vờ ở cái xã hội này một phần chính là do cái lối đúc người của các bác mà ra. Có điều, thi thoảng cũng thấy thương các bác thật. Ấy là chuyện các công nhân đúc, họ vốn xuất thân cũng người-máy cả, quen cái công nghệ cổ quái này rồi, giờ đổi lại là họ chóng mặt, “chập mạch” ngay. Rồi xoay đủ kiểu để đánh bài cù nhầy. Nhất là giờ họ phải lo nhiều hơn tới cuộc sống, vì của đáng tội, lương ba cọc ba đồng sống sao nổi, nhìn ra ngoài thì đâu đâu cũng kiếm mạnh quá, họ có phát khùng lên, hay không chịu cố mà đổi từ “đúc” sang “trồng” cũng không lạ. Vừa rồi các bác mới hứa đại là mấy năm nữa thì lương họ được nâng lên mức “đủ sống”. Nói hay thế! Thế nào là đủ sống, sống dật dờ, hay sống phây phây? Thế lâu nay chả phải là họ vẫn sống, có thợ đúc nào chết đói đâu? Làm sao họ tin được. Càng rõ là ngay trong bản thân nhiều vị trong số các bác cũng không nhận ra hoặc không chịu nhận là mình có những thói quen cũ khác gì những công nhân đúc dưới mình đâu, thậm chí còn nặng hơn nhiều. Thật nan giải vô cùng!

Vậy thì thấy ngay là muốn thực sự đúc (trồng) được người-thật theo kiểu tiên tiến như bên Tây, phải bắt đầu bằng các bác lãnh đạo nhà máy, rồi tất tật các phân xưởng khác nữa đồng tâm nhất trí mới được. Đằng này các bác chỉ ở tầm quản đốc phân xưởng đúc thôi, đơn thương độc mã mà xoay xở, thì có bị nó nuốt chửng cũng chả oan. Chưa nói tới chuyện (xin lỗi các bác đừng giận) trong số các bác, nhiều vị i-qui cũng hơi bị cao, biết tỏng là chẳng đi đến đâu, nhưng thôi thì tặc lưỡi chấp nhận cống hiến theo kiểu “ngậm miệng…” là khỏe. Nên bao nhiêu năm nay cứ nghe các bác “cải cách” hết đợt này đến đợt khác xoành xoạch, mà toàn theo kiểu “giật mình,” tức là theo lối hình thức, manh mún, vội vã, chứ không có chiến lược lâu dài gì cả. Thành thử cái ngành “đúc người” càng đi vào ngõ cụt thêm, càng nhiều thêm chuyện tồi tệ trong học hành thi cử, từ các quan chức, thầy cô cho tới học trò.

Từ bé cháu đã nghe mãi lời giáo huấn “… vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cháu nghĩ quả tình chả thấy các bác trồng trọt gì mấy, thấy toàn là đúc thôi, ra rặt những người-máy, còn người-thật khan quá. Cái lợi ích thì cũng có, nhưng nó nặng về trước mắt vài năm để phục vụ chiến tranh, chứ làm gì được tới trăm năm, cho việc xây dựng đất nước, chưa nói tới chuyện “lợi bất cập hại” thì vô cùng tận, khó mà nói ra được hết.

3. Chữa trị

Giờ thì chắc các bác sẽ mắng “thế mày giỏi thì hiến kế đi xem nào”! Vâng, cháu xin hiến kế, để chia sẻ cái cơn vật vã của các bác với công cuộc “trồng người” này.

Thứ nhất: trước hết nếu đồng ý với những lý sự này của cháu, rằng cái lối đúc người bao năm nay là nguyên nhân đem đến nhiều thói tật tệ hại, ăn vào máu mấy thế hệ, vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, dưới đủ mọi hình thức, mức độ, giờ thay đổi là vô cùng khó, vướng víu nhằng nhịt với cả thiết chế xã hội, thì các bác hẵng đọc tiếp.

Thứ hai: các bác đừng sợ là “trồng người” theo kiểu Tây thì sinh ra những loại người-thật là sẽ “khó bảo”, hay “chống đối”, là mình “mất chế độ”. Nghĩ thế là các bác không tin tưởng vào đường lối đổi mới của “trên” rồi. Còn cứ sợ bóng sợ vía, lại cả nuối tiếc cuộc sống phè phỡn với bọn giặc nội xâm, rồi đâm ra nhùng nhằng, giả vờ cải cách, chẳng kiểu nào ra kiểu nào, dở Tây dở ta chẳng những tốn kém vô cùng, mà còn đúc ra thêm những người-máy quái dị nữa thì càng gay. (Thí dụ chả đâu xa, cái bác quản đốc xưởng đúc vừa về hưu ấy, rất tỉnh, biết tỏng là mình cũng dạng người-máy, nên xin tiền nhà máy để sang Tây cho nó “trồng” lại mình thành người-thật, chả biết để về mà làm gì. Thế là sinh chuyện dở mếu dở cười). Với lại cháu đọc sách mới biết là cách nay cũng gần trăm năm rồi, các cụ tiền bối mà ta tưởng là cổ hủ đã từng khuyên là phải học Tây, Nhật cái cách “trồng người” chứ có phải không đâu. Khi nước mình còn nô lệ, có cụ còn bỏ tiền túi ra đưa khối mầm non sang Nhật cho họ “trồng” hộ, đến lúc vừa độc lập mình còn mời nhiều vị được Tây thực dân nó “trồng” về giúp đất nước giỏi phết. Chưa hết, nhiều vị còn tranh thủ học Tây tại chỗ nữa, nên trội hơn hẳn, mới được tôn lên cầm đầu cách mạng. Thế là một phần nhờ những vị này, được học Tây, Tây học mà nên người-thật, để sau đó ta cướp lại được chế độ lần nữa chứ nào có mất mát (chế độ) gì đâu.

Có điều hình như nhiều bác cũng vẫn đinh ninh, là lối đúc người này của ta lâu nay, chính là học theo “Tây” từ lâu rồi, nên cứ yên trí vậy mà theo. Nhưng các bác hơi bị nhầm. “Tây” mà ta học theo ở đây thực ra là Tây-đông, tức là nước Liên-xô, thành trì XHCN đã sụp đổ mười mấy năm nay rồi. Mà bố này sụp đổ thì ta còn chạy theo học làm gì nữa, có mà học cái bóng ma! Hay là các bác cũng muốn…?

Thứ ba: khi đã “quán triệt” hết rồi (tức là phải cả ban giám đốc nhà máy, nhiều phân xưởng cũng chịu cắn răng mà theo), thì ta phải tìm ra tất tật những biểu hiện của lối đúc người theo kiểu cũ, mà cháu mới đưa ra được có vài ví dụ ở trên thôi. Tìm quyết liệt như truy nã tội phạm ấy. Phải nhấn mạnh là nó nhiều vô cùng vô tận, chọc sâu cắm rễ cực chắc vào toàn bộ đời sống xã hội, các ban ngành đoàn thể, tác động khủng khiếp tới cái công cuộc “trồng người”. Từ những ngôn ngữ cửa miệng (ví dụ ngay như cái từ “quán triệt” cháu quen mồm mà vừa dùng ấy, cũng nên bớt đi), chữ nghĩa trên sách, báo, diễn văn, bài học, khẩu hiệu, giọng điệu nói năng hàng ngày kêu cứ choang choang (như trên vô tuyến cứ ra rả “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”, e là thứ hoa sớm nở tối tàn, nên bỏ dần)… cho đến tác phong, thái độ, hành động cư xử giữa con người với nhau, đâu đâu cũng thấy tràn ngập cái lối đúc người lồ lộ. Tiếp đến là các danh hiệu này nọ thôi thì nhiều vô thiên ủng, các đoàn thể gọi là “quốc doanh” với những bộ máy khổng lồ. Hai thứ này mấy chục năm nay tham gia vào cái công cuộc đúc người vô cùng đắc lực. Tạm gọi các đoàn thể này nó như những phân xưởng đánh bóng, mạ kền cho sản phẩm đúc. Còn những danh hiệu này nọ lại như cái nhãn mác “hàng Việt Nam chất lượng cao”… Tất cả nó đi vào luôn chuyện dạy dỗ, nhìn nhận, đánh giá con người, không theo kiểu “trồng”, mà là “đúc.”

Thứ tư: khi tìm ra hết rồi, giờ mới đến cái thực sự được gọi là “tuyên chiến”. Đó là tuyên chiến với cái bệnh hoạn này trong toàn xã hội, chứ không phải chỉ riêng trong cái ngành đúc người của các bác. Mà tuyên chiến là rất nghiêm trọng rồi (như kiểu chiến tranh giữa hai nước), thì phải lập tức đưa ngay vào hệ thống luật pháp. Phải sửa luật giáo dục, luật báo chí, luật thi đua khen thưởng (nên cho luật này teo dần), luật dân sự (cả luật nhà giáo, luật về hội mà các bác đang tính làm nữa) v.v…, để có biện pháp áp chế từ kỷ luật cho tới phạt tiền, bỏ tù những ai mắc cái căn bệnh đúc người theo lối cũ. Sửa lại, thay thế hết những sách, báo, văn bản rặt những ngôn ngữ kiểu đúc người.

Có luật rồi thì phải có cái bộ máy nó chấp hành luật này. Vậy là cái tòa án để xét xử phải được coi trọng, được độc lập, phát triển mạnh vào, để cho phép học trò nó kiện cả nhà trường nếu vi phạm, chứ đừng coi đó là hỗn. Vì ta cứ hô chế độ ta dân chủ gấp triệu lần chế độ cũ thì phải chứng tỏ ra chứ.

Có hai cái này rồi, giờ nếu bố bộ trưởng nào mà có bằng tiến sĩ theo kiểu “học giả bằng thật”, nhân viên nó kiện ra tòa là mất chức như chơi. Trẻ con nó nhìn vào đó mà hãi, không dám học kiểu lếu láo nữa. Thầy cô mà lại đi hành hạ, đấm đá, cưỡng bức học trò, dạy kiểu “đọc-chép”, “làm bài văn mẫu”, “lớp mẫu”, “giờ dạy mẫu”, không chịu khích lệ tự học, tranh luận là nó cũng kiện ra tòa luôn. Quan tòa nào mà kiếm cớ không xử thì cũng bị… ra tòa luôn. Bố nào mà quen mồm, đọc diễn văn toàn kiểu “thành công rực rỡ”, “phấn khởi thi đua”, “đồng tâm nhất trí” là phạt tiền luôn, thậm chí đưa ngay vào trường để được “trồng” lại theo chương trình mới. Có thể lúc đầu thì các bác chưa quen, dễ bị ăn phạt, phải châm chước tí chút, nhưng rồi dần dần sẽ quen thôi, là ổn.

Nhưng có lẽ các bác lại bảo “phạt lắm thế, mà lương thì ba cọc ba đồng, lấy đâu mà nộp?” Ấy là cái chuyện xã hội hóa giáo dục, y tế. Khởi thủy là do các bác cứ cố, cứ vội mà chứng tỏ chế độ ta ưu việt hơn bọn Tây tư bản, vì sợ không làm nhanh thì lại “mất chế độ”, nên chơi kiểu “nhà nước lo tất”; rồi lại sợ thả ra cho tư nhân thì lại chả phổ cập được cái công nghệ đúc người, lo nó trồng người kiểu tư bản thì mình cũng “mất chế độ”. Khốn nạn là nhà nước giờ đang còn nghèo lấy đâu ra tiền mà “lo tất”. Báo hại vô cùng, “ôm tất” rồi chả còn tiền mà trả lương cho các bác để có ngày nộp phạt. Nhưng giờ bỏ kiểu đúc này rồi, mà chuyển sang trồng người hẳn hoi, thì phải nhanh chóng cho phát triển tư nhân để họ gánh đỡ cho nhà nước chứ gì nữa. Còn sợ “mất chế độ” á? Cứ sợ thế nên mới mất lòng tin, mất nhân tài, tài nguyên… thậm chí mất cả thể diện quốc gia, rồi có ngày mới mất chế độ vào tay bọn giặc nội xâm thật ấy chứ.

Nhưng cũng phải đề phòng khả năng các vị lập pháp lại không đồng lòng sửa những luật này, vì thực tình trong ngót 500 vị, thể nào cũng không thiếu những vị chịu ơn nghĩa cái lối đúc người cũ. Vậy chỉ còn cách nữa là ông chủ tịch nước ra cái sắc lệnh, bao quát hết luôn, chiếu vào đó mà thực hiện thôi.

Song song với luật (sắc lệnh) và tòa là phải có cái bộ máy để tẩy não cho người-máy, tức là tuyên truyền. Mà những bộ máy này cũng phải được quản chặt bằng luật, nếu lơ-tơ-mơ tuyên truyền theo kiểu cũ là cũng phạt. Nhất là phải cho các vị này đi học, tự học, tự đọc tử tế mà thấm nhuần, biết chọn lọc trong những giáo lý Phật, Lão, Khổng đẹp đẽ cao quý từ ngàn đời cả thế giới người ta kính nể, rồi đưa vào cuộc sống, vào nhà trường, chứ cứ để các vị “tự biên tự diễn” chế ra những lời dạy, khẩu hiệu của mình mà bắt người ta tin như là của thánh hiền bao năm nay là nguy hiểm vô cùng.

Còn chuyện nan giải nữa là những thợ đúc, đông đúc như thế mà thay đổi để họ đều biết cách trồng trọt là khó lắm. Phải đưa họ đi trồng lại thôi. Ai lo chuyện này? Đành giật gấu vá vai vậy. Đó là những thợ đúc trông đỡ giống người-máy nhất, nói trắng ra đó mới thực sự là thành phần ưu tú. Thêm nữa là khi đỡ lo “mất chế độ” rồi thì phải mạnh dạn mà thuê thợ trồng trọt bên Tây, nhất là số anh chị em định cư bên ấy thuộc diện gọi là “một bộ phận của dân tộc” về để cùng mở lớp. Ta cứ lặng lẽ mà làm thôi, đừng hô hoán là “đẳng cấp quốc tế” này nọ như lâu nay, chả lại bị phạt. Có tốn kém, thiếu kinh phí thì cứ cắt bớt ngân sách của mấy cái phân xưởng đánh bóng, mạ kền đi cũng tạm ổn, vì số này ngốn tiền là hơi bị kinh.

Thế là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, tuyên chiến với một thứ giặc giã mới từ nhà trường cho tới xã hội – giặc gian dối, giả dối, háo danh hão, hám thành tích cuội, u mê, đớn hèn… rồi sinh ra tham nhũng.

Nhưng cũng còn nhiều biện pháp lắm, chứ chả phải làm qua quít mà xong đâu, cháu cứ nôm na tạm vậy đã, để phần cho các chuyên gia của các bác lo tiếp.

Cháu xin hết và cũng xin các bác bỏ quá nếu cháu ăn nói có hàm hồ, hỗn xược, vì cháu vẫn còn non nớt như đã thưa ngay từ đầu.

Kính chúc các bác khỏe, luôn tỉnh táo để khỏi bị cái máy đúc nó nuốt chửng mất sự nghiệp.


Nguyễn Hữu Vinh

© 2007 talawas

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục | 9 phản hồi »

235.PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

Đăng bởi anhbahoa on 15/07/2009

VỊ TRÍ QUAN TRỌNG CỦA PHONG TRÀO

DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ

VĂN HOÁ VIỆT NAM

PGS.TS. Chương Thâu, Viện Sử học *


Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ (XIX và XX) ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc. Vận động duy tân ở Nhật Bản, bắt đầu tới Minh Trị Thiên hoàng, đưa đến kết quả rực rỡ. Nước Nhật tiến lên thành một cường quốc, đánh thắng được nước Nga. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á, thừa nhận là nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu lớn như vậy. Vận động duy tân ở Trung Quốc, bắt đầu với vua Quang Tự, gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi. Nhưng chính cuộc vận động này đã dồn dập xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị xã hội, làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc sực tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng. Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó có Việt Nam.

Riêng ở đất nước ta, tình hình đầu thế kỷ này cùng đầy biến động. Phong trào Cần Vương đã bị dập tắt, nhưng tinh thần diệt thù cứu nước vẫn chưa chìm xuống. Tiếng vang từ các cuộc khởi nghĩa (từ Phan Đình Phùng đến Đề Thám) vẫn còn ảnh hưởng lớn, vẫn thôi thúc mọi người. Lớp văn thân trước kia, có vai trò chỉ đạo các cuộc nổi dậy, tuy không còn người lãnh tụ tiêu biểu nữa, song cái chí nguyện độc lập, tự do, chống bọn xâm lăng của họ vẫn còn đó, còn nung nấu chí nguyện phục thù. Một số nhà nho kế cận vẫn còn bị hấp dẫn bởi những ngọn cờ quật khởi, vẫn ước mong được vì “non nước tuốt gươm ra”. Tuy nhiên, đã phảng phất cái quan niệm nhận thấy rằng những biện pháp đấu tranh: lập căn cứ riêng, cướp thành, giành đất như các cuộc khởi nghĩa trước đây có lẽ là không ổn. Phải gánh đích bằng những phương sách khác phải tiến hành cách mạng bằng các hình thức đấu tranh khác. Thời kỳ bình định cơ bản đã qua rồi, chính quyền thực dân đang chuyển sang đường lối khai thác, và vì thế mà đất nước này mang thêm những cục diện mới. Vừa muốn kìm hãm xã hội, nhưng lại cũng vừa cần phải có sự đổi thay mới hợp với sự điều hành của kẻ cầm quyền. Miền Bắc, miền Trung chưa có bao nhiêu, nhưng miền Nam đã đổi thay nhiều lắm. Tổ chức quản lý khác việc học hành phải theo chương trình Pháp, khoa cử bị bỏ, việc đào tạo trước nhất là kiếm người phục vụ cho bọn thực dân. Việc kinh doanh được mở mang, các đồn điền, nhà máy bắt đầu phát triển. Khá quan trọng là sự ra đời của những người làm nghề tự do, và sự tiếp thu văn hoá mới từ phương Tây đưa đến. Bấy nhiêu biến cố đã làm cho các nhà nho phải nhìn thế cuộc bằng con mắt khác. Rõ ràng là xã hội đang có cái mới, ngày càng nhiều và phát triển, nhà nho không muốn chấp nhận cái mới ấy cũng không được. Đúng lúc ấy thì có khuynh hướng duy tân – nhất là từ bên Nhật đưa sang. Những nhà nho còn dồi dào nhiệt huyết nhất bỗng thấy tăng sức mạnh cho “giống da vàng đánh bại bọn da trắng”. Vậy là phải duy tân, và có thể bắt chước hướng duy tân của Nhật Bản. Một số nhà nho mạnh bạo nhất, có ý chí phục thù quyết liệt nhất, đã thiên về khuynh hướng ấy.

Nếu tấm gương duy tân Nhật Bản kích thích một bộ phận nhà nho Việt Nam một cách sôi nổi, thì ở một bộ phận nhà nho khác, tình huống cuộc duy tân Trung Quốc lại có phần đậm đà hơn. Lý do đơn giản là vì sách báo của Trung Hoa vào Việt Nam dễ hơn, đọc nhanh và cũng hiểu nhanh hơn. Chưa thấy nói có tác phẩm nào của Nhật Bản bằng tiếng Nhật được lưu hành ở nước ta, và những hiểu biết về Nhật Bản lúc đó, cũng chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ của Trung Quốc. Lúc đó, ở Trung Quốc tư tưởng duy tân càng thêm sôi nổi. Một loạt tác giả mới, sách báo mới của những hội nghiên cứu, hội chính trị mới đã ra đời, đều có tính hướng đến Việt Nam. Tất cả đều nhất loạt hô hào cái mới, lên án Thanh triều hủ bại, đòi bỏ khoa cử, phủ nhận chế độ phong kiến, đề cao dân chủ, tán thành dân quốc. Các tác phẩm phương Tây cổ xuý cho tư tưởng dân chủ đều được dịch ra, những tên tuổi mới lạ được phiên âm thành Hán tự ta trở nên quen thuộc: Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Lư Thoa (J.J Rousseau), Phúc Lộc Đắc Nhĩ (Voltaire), v.v… Các nhà nho Việt Nam đã được đọc những sách ấy và hào hứng tiếp thu, trân trọng những kiến giải mà họ cho là hợp lý nhất, mới nhất đúng nhất với lịch sử nhân loại tiến hoá. Họ cảm thấy phải đi theo con đường này, và đó cũng là con đường cứu nước hiệu nghiệm. Cũng như một số nhà nho trên, lòng yêu nước của họ chưa hề nguội lạnh, con đường duy tân này cũng là con đường thích hợp mà có phần nào chưa phải trực tiếp đương đầu với gươm súng của bọn thực dân.

Thế là hình thành ra hai phái trong công cuộc vận động cứu nước. Một phái chủ trương giành độc lập trước nhất, phải vũ trang bạo động, nếu sức mình chưa đủ thì tìm viện trợ ở ngoài. Hoạt động theo hướng này, nếu ở ngay trong nước thì phải tiến hành một cách bí mật, nếu ở ngoài nước thì hăng hái học tập Nhật Bản và Trung Quốc, tất nhiên phải đề phòng sự khủng bố truy lùng của địch. Những nhà nho đi con đường này được xem là nằm trong tổ chức bí mật, gọi là ám xã. Phe ám xã sang Tàu, nhất là sang Nhật, tức là làm nhiệm vụ Đông du. Còn phe kia, tiến hành vận động đổi mới ngay trong nước, tìm cách khai thác triệt để những điều kiện công khai, hô hào nâng cao dân trí, với danh nghĩa là thúc đẩy cho quần chúng thấy rõ cái hủ bại của đất nước dưới chế độ phong kiến quân chủ. Việc làm này có thể tiến hành đàng hoàng trước bộ máy chính quyền thực dân và tay sai. Vì thế, người ta gọi họ là ở trong phái minh xã. Minh xã hay ám xã, thì vẫn cùng chung mục đích đổi mới đất nước, giải phóng dân tộc.

Trong quá trình tuyên truyền giải thích chủ trương, có trường hợp các nhà nho trong hai phái này tranh luận với nhau, thậm chí phản đối nhau kịch liệt, nhưng thật ra thì họ “tương phản nhi tương thành” (chữ dùng của Huỳnh Thúc Kháng). Dân chúng không hề nhầm lẫn điều đó, mà vẫn kính trọng, vẫn ủng hộ cả hai với nhiệt tình ca ngợi và tuân thủ như nhau. Họ đều được xem là những nhà chí sĩ cứu nước. Có người còn nghĩ rằng, chính các nhà nho phân công nhau, chia việc cho nhau và để cùng đi tới kết quả. Bản thân hai phái nhà nho này, trong nhiều trường hợp, đã có cách nói như nhau, đặt vấn đề phục vụ dân tộc như nhau, chứ không hề trái ngược gì nhau cả.

Hai ông Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu không nhất trí với nhau về đường lối, nhưng vẫn là bạn đồng chí, đồng tâm, và phong trào được gọi là Duy Tân (bao gồm cả Đông Kinh nghĩa thục) cũng có quan hệ với Duy Tân hội và với Quang Phục hội. Bọn thực dân và tay sai, hiểu rõ điều này hơn ai hết, và đã tìm cách khủng bố cả hai phái ám xã, minh xã với biện pháp khắc nghiệt như nhau.

Việc vận động duy tân trong nước chủ yếu là do phái minh xã. Cách tiếp nhận tư tưởng duy tân của hệ, chủ yếu là bằng tân thư, nghĩa là bằng sách báo ở Trung Quốc, ở Nhật Bản truyền sang. Có thể nhận ra trong kho sách này những loại tài liệu sau đây:

1. Loại sách giới thiệu, thuyết minh về tư tưởng duy tân dân chủ (tân thư). Có những bộ phận sách tiêu biểu như Đại đồng thư của Khang Hữu Vi, nhất là bộ sách Ẩm Băng Thất tùng thư của Lương Khải Siêu. Bộ sách này có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà nho Việt Nam. Đọc Trung Quốc hồn, người ta cảm thấy Lương Khải Siêu không chỉ nói về Trung Quốc mà đang nói về Việt Nam với tất cả các lạc hậu của xã hội, những hiểm hoạ đối với nòi giống trước tình hình mới. Quyển sách Mậu Tuất chính biến ký, kể rõ cuộc vận động duy tân thất bại của Quang Tự, cho thấy được những xáo động lớn lao của Trung Quốc và đã thôi thúc nho sĩ Việt Nam cần phải kịp thời đổi mới, thấy rõ hơn bộ mặt và bản chất phản động của chế độ phong kiến quân chủ. Hai tác giả Khang, Lương trở thành những lý thuyết gia chỉ lối đưa đường cho các nhà nho duy tân.

2. Cùng với Mậu Tuất chính biến ký, còn có một số sách có tính cách là những tập vịnh sử, ký sự về tình hình hiện đại của Nhật Bản như Nhật Bản duy tân tam thập niên sử (bản dịch chữ Hán của La Hiếu Cao), v.v… Tấm gương duy tân của các nước láng giềng được các sách này vẽ ra trước mắt các nhà nho, càng tăng thêm hào hứng và quyết tâm đi vào hoạt động.

3. Nhiều tập sách nêu những tấm gương chiến đấu của các chí sĩ các nhà hoạt động chính trị, hoạt động cách mạng của toàn thế giới cũng được các nhà nho đón đọc một cách say sưa. Có tập như Kinh quốc mỹ đàm, nêu gương phụ nữ: Các bà Qua Đặc (Jeane d’Arc), bà La Lan (Roland); có tập như Cận thế chi quái kiệt, đề cập đến đủ loại anh hùng, đều là những người anh hùng có công đổi mới đất nước của họ, dù đó là vua chúa hay tổng thống, giám quốc: Vua Bỉ Đắc (Pierre le Giand) ở Nga, Hoa Thịnh Đốn (Washington) ở Mỹ, Nã Phá Luân (Napoléon) ở Pháp, Tỉ Sĩ Mạch (Bismarck) ở Đức v.v… Nhiều sách báo khác cũng nêu những tấm gương như Mã Chí Nê (Mazzini), Gia Lý Ba Đích (Garibaldi) ở Ý, như Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi), Cát Điền Tùng Âm (Yoshida Syoin) ở Nhật, v.v… Tóm lại, nhà nho Việt Nam lúc này đã được làm quen và sùng mộ tất cả những nhà ái quốc cổ kim. Tất cả đều được xem là thần tượng và đều được đưa vào văn chương cổ động Việt Nam: người đọc nếu không hiểu, phải tìm lấy mà hiểu 1. Thậm chí, có những người lấy ngay tên các thần tượng ấy đặt làm biệt hiệu của mình. Phan Châu Trinh tự đặt tên mình là Hy Mã (Mã Chí Nề: Mazzini).

4. Cùng với loại sách này là những tập sách dịch các luận thuyết của các nhà tư tưởng thế kỷ XVIII ở phương Tây (có nhiều bản dịch ra Hán văn của nhiều tầng lớp dịch giả). Được quen thuộc nhất là bộ Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cứu (Esprit aes Lois của Montesquieu), bộ Dân ước của Lư Thoa (Contrat social của J.J. Rousseau). Rồi những sách của Đạt Nhĩ Văn (Đarwin), Tư Tân Tắc Nhĩ (Spencer), v.vTư tưởng dân chủ trong các lý thuyết này có giá trị chi đạo rất lớn, và các lý thuyết gia này luôn được ca ngợi. Phan Bội Châu khi viếng Phan Châu Trinh đã phải viết:

Cậy Tây học dặn dò phương tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức so sánh người xưa.

Câu văn ấy đã nói đủ ý tứ sùng mộ của các nhà nho thời ấy.

5. Cuối cùng, còn phải nhắc đến các báo chí (tân văn) nhất là của Trung Quốc được truyền sang Việt Nam lúc bấy giờ, đều là tài liệu quý được các nhà nho đón nhận. Đặc biệt là tờ Dân báo của Trung Quốc Đồng minh do Chương Thái Viêm làm chủ bút. Cùng với các ông Đàm Tự Đồng, Trâu Dung, Lương Khai Siêu, v.v… Chương Thái Viêm là một kiện tướng xuất sắc trong trường ngôn luận lúc bấy giờ.

Cùng với những loại sách báo này, người ta cùng tìm cách cho lưu hành những văn bản của những người Việt Nam tiên giác như Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, bản Thiên hạ đại thể luận của Nguyễn Lộ Trạch. Ngoài ra, khuynh hướng chú trọng về thực nghiệm khiến cho một số nhà nho cũng tìm cách nghiên cứu một số vấn đề khoa học. Các sách cũ (không thuộc thời kỳ duy tân) ở Trung Quốc lại được lục ra để tìm hiểu về nhiều lĩnh vực: Sách nông nghiệp như Nông chính toàn thư, sách thiên văn như Quản khu trắc lệ. Rồi những sách theo dạng tu tri (toán pháp, cách trí, v.v…) đều được tìm đọc. Đã nói cách học xưa là học hư văn, thì học mới phải chuyên về thực nghiệp. Điều đó được các nhà nho nhận thức một cách sâu sắc và cảm động, khiến cho họ phải tìm cách tự trang bị kiến thức, trong hoàn cảnh giáo dục lúc bấy giờ.

Tiếp thu tân thư tân văn như vậy, đồng thời các nhà nho minh xã cũng bắt tay vào hành động. Việc làm của họ tập trung vào một chủ đích lớn là thức tỉnh đồng bào, cốt nhằm cho nhân dân quần chúng cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà chúng ta sống trong tình trạng “người ngu, nước yếu “(chữ dùng của Ngô Đức Kế). Họ trực tiếp đả kích cái học cũ, đầu óc hủ nho và lối văn chương bát cổ làm mê muội con người. Họ công kích những thói hư tật xấu và lên án chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, nhắc nhở đến lịch sử cha ông, vạch rõ những thảm cảnh của đất nước lâm vòng nô lệ. Hướng đi của họ là nhằm cổ động cái học mới (tân học) và cổ động cho thực nghiệp. Để thực hiện cho chủ trương này, việc làm cụ thể của họ là:

- Mở các trường học: Các nhà Duy Tân ở Quảng Nam (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp) đi đầu trong việc đề xướng khai dân tự với việc mở hàng loạt trường ở hầu khắp các làng quê của xứ Quảng. Đó là các ngôi trường kiểu mới của dân tộc đầu thế kỷ trước. Nhưng tiêu biểu hơn cả là trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội (đã có nhiều tài liệu viết về trường này). Nhà trường có chương trình đường lối như Văn minh tân học sách, có tổ chức quy mô thu nhận hàng nghìn học sinh, có nhiều hình thức hấp dẫn: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách tới như mưa

- Nhà trường có nhiều tác phẩm xuất sắc được lưu hành, phổ biến ra cả ngoài trường như những tài liệu tuyên truyền cứu nước. Nhiều địa phương khác trong Nam ngoài Bắc đã cố gắng phỏng theo mô hình này, dù ở quy mô nhỏ hẹp hơn. – Tổ chức diễn thuyết ở nhiều nơi, nói về các đề tài liên quan đến vận động học mới, đả kích tư tưởng, phong tục cổ hủ, đề cao dân chủ dân quyền. Rất nhiều nhà nho có uy tín (các vị tiến sĩ, cử nhân, tú tài, các ông đốc học, giáo thụ, huấn đạo) tham gia công việc này, gây một phong trào truyền bá tân học rất sôi nổi.

- Lập các hội buôn, các nhà hàng để giới thiệu, thông thương các hàng nội hoá, bán sách tân thư. Cửa hàng Hồng Tân Hưng (nối theo Đông Kinh nghĩa thục) miền Bắc, cửa hàng Triệu Dương thương quán (Nghệ An), cửa hàng Liên Thành (miền Nam Trung Bộ),là những thí dụ.

- Ngoài những hình thức trên đây, ở một số nơi khác trong nước, còn có những phong trào đột khởi, cũng do những nhà nho duy tân tiến hành. Khởi đầu, có lẽ là do sáng kiến của một vài vị thân sĩ nào đó, sau được lớp nhà nho trẻ tuổi thực hiện một cách ào ạt. Thí dụ như phong trào cắt tóc: cắt cái búi tóc được xem là một hình thức tiêu biểu cho cái cục hủ cổ truyền của Việt Nam.

Những hành động như trên, cố nhiên là do sự chỉ đạo, sự thôi thúc của các nhà nho trong phái minh xã. Nhưng trong phạm vi bí mật, không phải không có tác động của phái ám xã. Tài liệu học tập ở Đông Kinh nghĩa thục có những thơ văn cổ động của phái Đông Du được dịch và lưu hành (Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch). Có cả những liên lạc kín đáo giữa phong trào Đề Thám với trường này. Và ở miền trong, sự thân tình của Phan Bội Châu (lãnh tụ phái ám xã) cùng các ông Đặng Nguyên Cẩn, Trần Quý Cáp càng chứng tỏ họ cùng chung mục đích. Bản án kết tội Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh của thực dân, nói rõ là những người này (minh xã) đã thông đồng với Phan Bội Châu (ám xã).

Rồi như chúng ta đã biết, tất cả thế hệ nhà nho này, từ Nam chí Bắc, đều bị khủng bố. Hàng trăm nhà nho đều bị đưa ra Côn Đảo giam cầm. Trong cuộc đàn áp phong trào chống thuế, một số nhà nho cầm đầu đã bị địch tử hình (Trần Quý Cáp, Trịnh Khắc Lập, Nguyễn Bá Loan…). Huỳnh Thúc Kháng nói đây là giai đoạn “mạt kiếp của chữ Hán” (Thi tù tùng thoại).

Điều đặc biệt đáng ghi nhận ở đây là những nhà nho trong phái duy tân, có khá nhiều là những cây bút văn chương xuất sắc. Họ trung thành với chủ trương đánh thức đồng bào, bài xích hư văn, hô hào thực nghiệp. Có lẽ lần đầu tiên đất nước Việt Nam này mới có một chương trình vận động văn hoá có bài bản, có lý luận hẳn hoi. Trước đây, văn chương và học thuật Việt Nam không đề xuất được một tí lý luận nào, ngoài cái phương châm “văn dĩ tải đạo” quen thuộc từ bên ngoài đưa đến. Mãi sau này, vào giữa thế kỷ XX, một vài năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản mới đưa ra Đề cương văn hoá, đề xuất lý luận quan điểm tiến bộ về phương diện này. Vinh dự cho các nhà nho duy tân, cho Đông Kinh nghĩa thục là đã đưa ra bản Văn minh tân học sách, chỉ rõ được bốn nguyên nhân kìm hãm văn hoá dân tộc và đề ra sáu phương châm vận động văn hoá mới. Giờ đây, ta có thể thấy nhiều bất cập trong đường lối chính sách đó, nhưng đặt vào hoàn cảnh đương thời, thì đó phải xem là một thành tựu lớn trong lịch sử phát triển văn hoá Việt Nam. Tiếp theo đường lối cơ bản đó là những tác phẩm có giá trị nhất định cả về văn chương và tư tưởng. Các nhà văn của Đông Kinh nghĩa thục có rất nhiều sáng kiến biến hoá, sử dụng nhiều thể loại phục vụ mục đích tuyên truyền giáo dục của mình:

- Họ viết rất nhiều các bài thơ cổ động, dùng vần điệu lục bát, nhắc nhở quần chúng về từng nhiệm vụ duy tân cụ thể. Họ có sáng kiến tìm những đầu đề hấp dẫn, khêu gợi, rất hợp với tâm lý quần chúng. Bài thơ ngắn này là Kêu hồn nước, bài ca trù gọn nhẹ kia là để hú hồn thanh niên. Rồi những lời mẹ dạy con, vợ khuyên chồng rất thích hợp với sự tiếp nhận của đại đa số quần chúng.

- Họ viết những bài thơ có tính cách chuyên đề, đi hẳn vào những yêu cầu tố cáo thói hư tật xấu, hoặc hướng dẫn một nhiệm vụ cụ thể, chỉ rõ từng vấn đề thiết cốt trong nhiệm vụ duy tân. Đây là bản Cáo hủ lậu văn, kia là bản Giác thế tân thanh, rồi đến những bài Khuyên học quốc ngữ, học chuyên môn, học công nghệ, học buôn bán. Kia là những bài khuyên đoàn kết, khuyên hợp quần. Tất cả những gì cần thiết cho sự đổi mới, Đông Kinh nghĩa thục tiêu đề cập đến một cách gọn gàng, thiết thực.

- Đông Kinh nghĩa thục là một trường học. Nhà trường phải có tài liệu giáo dục, có sách giáo khoa. Cũng là lần đầu tiên mà đất nước ta có những bài dạy lịch sử, địa lý Việt Nam bằng văn chương quốc ngữ. Những tập sách như Quốc dân độc bản đã được biên soạn và phát hành với số lượng lớn, được quần chúng cả nước hoan nghênh. Nhiệm vụ duy tân thể hiện bằng phương pháp giáo dục công khai trước mũi của chính quyền thực dân, phải nói là sáng kiến tài tình và là điều rất mới trong lịch sử giáo dục. Từ xưa, các nhà nho chỉ biết giáo khoa là Ngũ kinh Tứ thư quá lắm nữa là các bài giảng về đạo đức, các sách gia huấn hoặc sách từ vựng chứ đã biết đến những hình thức giáo khoa này đâu. Đó thực sự là nét duy tân của phong trào, có ý nghĩa lịch sử.

- Ngoài ra, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục còn là những tài liệu cổ động của các nhà cách mạng ở nước ngoài, như bản Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, Tỉnh quốc hồn ca của Phan Châu Trinh đã được các thầy giáo Đông Kinh nghĩa thục cho phổ biến rộng rãi. Còn phải nhắc đến những bài nói chuyện, bài diễn thuyết của nhiều trí thức, có chân trong phong trào Duy Tân hay không, đều dược chấp nhận, miễn là góp phần vào sự thức tỉnh quốc dân mà các chí sĩ duy tân đang thiết tha cổ vũ. Chắc có thể có cả những tài liệu của các học giả nước ngoài, những loại tân thư của Trung Quốc như trên đã nói.

Có kế hoạch tổ chức quy mô như vậy, có trình độ biên soạn, tuyên truyền và huấn luyện như vậy, điều không đáng ngạc nhiên là Đông Kinh nghĩa thục đã đạt được những thành công. Chính quyền thực dân nhất định phải e sợ tổ chức của các nhà duy tân, và đã thành lập những kiểu trường gọi là trường Tân Quy 2 đã tranh giành ảnh hưởng. Nhưng tranh giành sao được, khi mà những con người do đế quốc thực dân chỉ định không có lý tưởng duy tân, và nhất là không có được niềm tin của quần chúng. Bọn cầm quyền chỉ có cách cuối cùng là bóp chết Đông Kinh nghĩa thục. Nhưng cũng không có cách nào để bóp chết, mà chỉ mượn cớ vu vạ cho các chí sĩ duy tân đã chỉ đạo phong trào chống thuế, liên lạc với phái ám xã, để dồn tất cả vào ngục tù, không cho phát huy ảnh hưởng nữa. Đông Kinh nghĩa thục bị dập tắt, nhưng thành tích của nó là to lớn. Những tác phẩm của nó đã tồn tại với thời gian, trong đó ngoài những giá trị lịch sử, còn phải nói đến giá trị n chương. Một số người như Nguyễn Quyền, Lê Đại, Ngô Quý Siêu,xứng đáng là những ngòi bút xuất sắc. Thêm một điểm cũng đáng lưu ý nữa, là với văn chương của Đông Kinh nghĩa thục, các thể văn như lục bát, song thất lục bát, ca trù, v.vđược có thêm một giá trị sử dụng hơn. Trước đây, ta chỉ gặp nó trong những truyện Nôm, những bài ca phong hoa tuyết nguyệt, thì giờ đây, nó thực sự trở thành văn chương cổ động – điều mà trước đây văn học Việt Nam chưa biết đến, và sau này các chiến sĩ trong phong trào vận động cách mạng phản đế, cách mạng vô sản sẽ rút kinh nghiệm để phục vụ chính trị một cách tích cực hơn.

Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, trên dưới chục năm, những hoạt động của các chiến sĩ duy tân ở cả ba miền Trung Nam Bắc đã viết nên những trang sử đẹp đẽ cho đất nước này ở cả hai bình diện chính trị và văn học (nói chung là văn hóa). Lịch sử Việt Nam ở đầu thế kỷ XX này ghi nhận công lao của họ, và lịch sử văn hoá cũng phải thừa nhận sự đóng góp của họ là to lớn.

Vấn đề trước nhất, xứng đáng được tôn vinh là tinh thần yêu nước, nguyện vọng thiết tha của họ đối với độc lập tự do của xứ sở, với danh dự của dân tộc, của giống nòi. Nói minh xã hay ám xã thực ra là để cho dễ nhận, dễ phân biệt phạm vi lĩnh vực hay biện pháp hoạt động mà thôi, chứ thực ra cả hai phái này đều chung mục đích phấn đấu, cùng chung đối tượng đấu tranh. Giữa một số người lãnh đạo phong trào, có khi có sự không nhất trí trong cách thức điều hành, trong phương pháp vận động, nhưng họ vẫn nhận là bạn trong tâm, đồng chí với nhau. Thậm chí có khi họ kịch liệt phê phán nhau một cách công khai, nhưng chỉ là để cho tiện xử lý một vài trường hợp cụ thể (như việc Phan Châu Trinh sang Nhật để gặp Phan Bội Châu), chứ thực ra yêu cầu khôi phục nền độc lập, lật đổ chế độ quân chủ, đưa nước nhà lên cõi văn minh, vẫn là mục tiêu chung của tất cả những người yêu nước. “Vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn (chữ dùng của Phan Bội Châu) là điều mà có lẽ tất cả những người được xem là trong phái minh xã hay ám xã đều nhất trí. Có một sự thực là minh hay ám, chỉ là để gây ấn tượng với kẻ địch mà thôi, chứ với nhân dân quần chúng thì không hề có sự phân biệt này. Người duy tân hay người đông du trước dân tộc, trước đồng bào đều là những chí sĩ và chiến sĩ. Đối với chính quyền thực dân hay với bọn tay sai cũng vậy. Chúng vẫn nhận ra được: minh hay ám, đều là những người đang gây nguy hiểm cho chúng, và chúng đã thẳng tay đối phó, không trừ một hành động tàn bạo nào. Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là không thế căn cứ vào những hoạt động cụ thể của các thành phần chí sĩ đầu thế kỷ XX này để nhận chân những đóng góp của họ đối với quốc gia dân tộc.

Mặt khác, bên cạnh những thành tựu rực rỡ của các nhà chí sĩ theo khuynh hướng bạo động, chúng ta cũng phải định vị cho các chiến sĩ văn hoá trên mặt trận đấu tranh công khai này. Họ là những chiến sĩ duy tân tiên phong của đất nước, họ xứng đáng nhận được sự tôn vinh của các thế hệ. Những nhà duy tân đã làm cho chúng ta được làm quen với văn hoá thế giới, văn hoá khu vực.

Người Pháp đem văn hoá của họ sang ta, cho đến thời điểm đó đã có đến trên bốn mươi năm, nhưng ngoài những chương trình đào tạo những kẻ tay sai, những người giúp việc, nào có giới thiệu cho chúng ta được gì. Phải có các nhà duy tân, chúng ta mới được làm quen với những lý thuyết mới, những nhân vật mới trên khắp toàn cầu. Cho đến những thập kỷ 30 trở về sau, thì cái mới theo âu hoá, theo văn minh tư sản, cũng không phải là những cái mới tiến bộ nhất, phù hợp với cuộc tiến hoá của lịch sử nhân loại. Công lao của phái duy tân đầu thế kỷ này chính là ở đó.

Và cũng chính ở hướng tiến bộ đó, mà các nhà duy tân phát hiện ra được căn bệnh truyền kiếp loay hoay với cách học từ chương khoa cử, cái căn bệnh hư văn làm thui chột những tài năng, làm lệch lạc những tâm hồn. Sự “nhiệt thành cáo hủ” ở đầu thế kỷ này, xét về một mặt nào đó, có giá trị như một cuộc cách mạng. Phải nhờ có các cuộc duy tân này, mà lớp trí thức – loại ông nghè, ông cống – và cả đại đa số quốc dân nữa mới hiểu cái câu “thiên ngoại hữu thiên”! Trên cái đà đổi mới nhận thức này, chúng ta mới thực sự được tiếp xúc nơi khoa học, kỹ thuật (tuy chỉ là ở bước đầu), và nhất là đối với khuynh hướng thực nghiệp. Phải nói rằng đây cũng chính là điều mà hàng trăm năm qua, những thức giả Việt Nam không phải là không biết đến. Dưới các triều đại cũ đã có những học giả mong muốn thay đổi cách học, thay đổi thể văn. Cả thế kỷ XIX, đã có những nhà nho “Giật mình khi ở xó nhà, văn chương chữ nghĩa khéo là buồn tênh” (Cao Bá Quát); đã có những con người tiên giác viết ra những điều trần tâm huyết. Nhưng tất cả hoặc chìm trong quên lãng, hoặc bị rẻ rúng nghi ngờ, thì đến đây mới thực sự được các nhà duy tân thức tỉnh. Ưu điểm của phái duy tân là biết khai thác lòng yêu nước để hướng dẫn vấn đề, biết đi vào quần chúng để vận động. Đó là cái rất mới trong sự nghiệp vận động văn hoá ở nước ta. Dựa vào lòng yêu nước, dựa vào lực lượng quần chúng thì có thể thổi những tia le lói thành ngọn lửa. Đông Kinh nghĩa thục gây được phong trào, tân thư trở thành động lực thôi thúc quần chúng Nam Ngãi, Nghệ An rồi cả Bắc, Trung, Nam chính là vì lẽ đó.

Và cũng chính trên cơ sở của khuynh hướng cơ bản đó, mà phái duy tân, đã cùng với phái bạo động xuất dương viết nên trang sử hiện đại, mở đầu cho thế kỷ XX ở đất nước này. Cả hai phái đều xứng đáng với quê hương, với dân tộc và trong thực tế đã gây nên bước chuyển mạnh mẽ trong tiến trình lịch sử và lịch sử văn hoá nước nhà.

———-

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

———-

1 Thí dụ hai câu trong một bài hát nói: Tỉ diện, Cách mi quân đối cánh Qua tình, La tứ thiếp tân trang Nghĩa là: – Bộ mặt của ông Ti Tư Mạch (Bismarck), lông mày của ông Cách Lan Tư Đốn (Gladstone), anh nên soi gương. – Tấm tình của bà Qua Đặc (Jeana d’Ars), tinh thần của bà La Lan (M. Roland), thiếp xin tô điểm theo. Trong phong trào cố động đương thời, những điển tích ấy trở nên dễ hiểu và rất được ưa chuộng.

2 Trường Tân Quy (Học quy tân trường) được toàn quyền Beau ra Nghị định thành lập ngày 24-91907 do Nguyên Tái Tích (anh ruột nhà thơ Tản Đà) làm Hiệu trưởng. Trường khai giảng ngày 11-11-1907, nhằm “đối trọng” với Đông Kinh nghĩa thục, nhưng số “sinh viên” đăng ký chưa đầy 50 người. Và chỉ hoạt động được vài tháng thì phải đóng cửa, trường phải giải thể!

Đăng trong Giáo dục, Hội thảo VN học-3, Lịch sử | Tagged: , , | 5 phản hồi »

220.Xây trường không có phòng vệ sinh;phát hiện 2006,nhưng 2010 vẫn chưa chắc sẽ sửa sai xong

Đăng bởi hoangtran204 on 01/07/2009

IRIN NEWS

Việt Nam: nơi các trường học

không có nhà vệ sinh

Integrated Regional Information Networks (IRIN),

United Nations, 17-6-2009

Hà Nội-Đối với em Nguyễn Công Tuấn, 10 tuổi, một học sinh tiểu học ở Hà Nội, sử dụng cầu tiêu ở trường học là một kinh nghiệm đáng sợ.

Rác rưỡi và mùi hôi thúi đã làm em sợ không dám tới gần. Vì thế Tuấn chờ đợi cho tới khi em về tới nhà; một cách rất có lý, má của em đã lo ngại rằng, em Tuấn có thể mắc các bệnh đường tiểu.

Nhưng em Tuấn có thể được xem là một trong những người may mắn nhất – nhiều trường học ở Hà Nội, ngay cả ở thủ đô Hà Nội, cũng không có cầu tiêu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (MoET) gần đây đã kiểm tra các phòng vệ sinh trong 11.200 trường học khắp nước. ông Lã Quý Đôn, vụ phó vụ công tác học sinh và sinh viên, đã cho biết:

“Vào khoảng 30% của các trường học đã được kiểm tra là không có nhà vệ sinh hay không có những nhà vệ sinh thích đáng.”  (tức là khoảng 3360 trường ở tình trạng nầy)

Một cuộc khảo sát riêng được tiến hành ở Hà Nội đã phát hiện ra rằng gần như tất cả 1400 trường học đã không có đủ các nhà vệ sinh, ông Nguyễn Như Hòa, phó phòng kế hoạch và tài chánh thuộc sở giáo dục của thành phố Hà Nội, đã cho biết thế.

Không Đạt Tiêu Chuẩn

Các qui định đòi hỏi rằng: phải có một chỗ đi cầu cho mỗi 100 học sinh, và có một vòi nước rửa tay cho mỗi 60 học sinh.

“Hiện nay có rất ít trường học ở Hà Nội đạt được các tiêu chuẩn đó,” ông Hòa nói. “Và nhiều trường học trong những huyện nằm ngoài Hà Nội không có một cầu tiêu nào hết.”

Trần Thu An, một nhân viên của chương trình vệ sinh làm việc cho Quỹ Phát Triển Giáo Dục Trẻ Em của Liên Hiệp Quốc, cho biết rằng: vấn đề các cơ sở vệ sinh hiếm khi nhận được sự quan tâm mà nó xứng đáng cần phải có.

Liên Hiệp Quốc, là một thành phần trong  chương trình vận động các trường học “thân thiện với trẻ em”, đã và đang tập trung vào việc xây dựng các nhà vệ sinh sao cho đúng tiêu chuẩn. Năm ngoái, (các nhân viên của) chương trinh nầy đã và đang làm việc với Bộ Giáo Dục và Đào tạo, đang giúp đỡ để thiết kế và xây dựng các nhà vệ sinh tốt hơn khắp toàn quốc.

Các Ưu Tiên

Một phần của vấn nạn là: có quá nhiều nhu cầu cấp bách khi nói đến giáo dục đến nổi mà vấn đề vệ sinh thường thường là điều cuối cùng được quan tâm xem xét. [1]

Hiện vào lúc nầy, ưu tiên của chính quyền là thay thế tất cả các lớp học tạm thời đang được sử dụng như các phòng học bằng các ngôi trường xây bằng bê tông để các trường nầy có thể chống chọi được với bảo và mưa, cô Thu An cho biết. Nhưng, khi các ngôi trường mới nầy được xây dựng, các nhà vệ sinh không được thiết kế trên các bản vẽ. [2]

Trách nhiệm cho việc xây cất các nhà vệ sinh (một phần nào đó) nằm trong tay của chính quyền địa phương, những nơi nầy thường thường thiếu tiền bạc hay thiếu sự quan tâm. Cô Thu An nói tiếp: vì vậy, cuối cùng, các nhà vệ sinh không được xây dựng.

Kết quả là các học sinh đang buộc phải dùng “các bụi rậm chung quanh các trường học”, cô Thu An cho biết. “Thật khó lòng mà tin được.” [3]

Trần Duy Tạo, vụ trưởng vụ Xây dựng cơ bản và thiết bị trường học thuộc bộ Giáo Dục và Đào tạo, nói rằng: vấn đề không phải luôn luôn là thiếu tiền bạc. Mặt bằng cũng là một đề tài (phải nói đến). Trong các khu vực đô thị giàu có, các trường học có thể có ngân quỹ nhưng không có đủ chỗ để xây thêm nhiều nhà vệ sinh. (trong khi đó) Các chính quyền vùng thôn quê thường có đất đai (rộng lớn) để xây dựng các nhà vệ sinh, nhưng lại không có tiền.

Vấn Đề Sức Khỏe

Chính quyền đang cố gắng chận đứng vấn nạn nầy, ông Lã Quý Đôn, vụ phó vụ công tác học sinh và sinh viên, cho biết.

Năm 2006, nhà nước đã tuyên bố rằng tất cả các nhà trẻ và các trường học sẽ có các nhà vệ sinh và tất cả các học sinh sẽ có nước sạch để dùng trước năm 2010.

Nhưng ông Đôn nói rằng tại tốc độ hiện nay của việc xây cất, chắc chắn rằng mục địch nầy sẽ không đạt được.

“Điều nầy gây ra một hiệu quả tiêu cực lên sức khỏe của các học sinh cũng như khả năng học hành của các em. Các học sinh có thể cố nín vì sợ các nhà vệ sinh dơ bẩn. Và ở nơi nào mà các trường học không có nhà vệ sinh, các học sinh phải đi tiểu và đi cầu ở một chỗ nào khác và điều nầy gây ra các vấn nạn về môi trường.” [4]

Trong trường hợp của em Tuấn, em không còn phải chờ đợi cho tới khi em về tới nhà (để đi tiểu hay đi cầu). Các bậc cha mẹ ở trường tiểu học Hà Nội đã rất bất mãn về chuyện các nhà vệ sinh quá dơ bẩn và quan tâm đến sức khỏe của con cái họ, vì thế cách đây một vài tháng, họ đã quyết định nhúng tay vào, và họ trả một lệ phí hàng tháng để thuê người đến chùi rữa dọn sạch phòng vệ sinh. [5]

Với việc mỗi gia đình đóng góp 50 cents mỗi tháng, em Tuấn và các bạn cùng lớp của em hiện giờ không còn sợ để đi vào nhà vệ sinh nữa.

Người dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Lời bình của BBT

[1] Ha ha có việc gì cấp bách nữa sao? Giáo sư Hoàng Tụy đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn vào tháng trước. Giáo sư nói đại khái là Gs và 25 người (bao gồm  các nhà giáo dục, các giáo sư trong nước và 5 nhà giáo dục và giáo sư Việt Kiều) đã kiến nghị vào năm 2004 lên nhà nước và yêu cầu cải cách giáo dục gấp.

Nhưng tới nay, 5 năm trôi qua, nhà nước cũng vẫn không nhắc nhở gì đến chuyện đó. Gs Hoàng  Tụy nói thêm rằng việc cải thiện giáo dục đã được đề nghị suốt 30 năm nay, mà giờ nầy GD  vẫn chưa có gì thay đổi hết. Cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu qua thăm Việt Nam mới đây cũng đã nhắc VN nên cải cách và đầu tư vào giáo dục, vì đó là con đường tốt nhất để giúp đất nước đẩy mạnh phát triển. Nhưng vô ích, đối với nhà nước ta, ai khuyên gì thì khuyên, chuyện cải cách  giáo dục chưa có gì cấp bách hết.

[1] và [2] Ta cứ tạm tin là ngành giáo dục chỉ “vừa mới phát hiện” 3360 trường học trong (tổng số 11.200 trường) không có nhà vệ sinh cho các em học sinh hoặc thiếu phòng vệ sinh hoặc phòng vệ sinh ở trường quá dơ bẩn các em không dám đi tiểu. Thế rồi bộ GD ĐT sửa sai bằng cách đề ra kế hoạch 4 năm, đến 2010 là chấm dứt nạn nầy.

Nhưng đọc qua đoạn văn kế tiếp, ta sẽ thấy lỗi lầm được lập lại: “Hiện vào lúc nầy, ưu tiên của chính quyền là thay thế tất cả các lớp học tạm thời đang được sử dụng như các phòng học bằng các ngôi trường xây bằng bê tông để các trường nầy có thể chống chọi được với bảo và mưa, cô Thu An cho biết. Nhưng, khi các ngôi trường mới nầy được xây dựng, các nhà vệ sinh không được thiết kế trên các bản vẽ. [2]

Vậy là sau năm 2010, chắc chắn là việc: xây trường học mà không xây  phòng đi tiêu và đi tiểu cho các em sẽ là chuyện ác mộng dài dài cho các em học sinh.

Mọi chuyện xảy ra theo kiểu vòng tròn; đi trên vòng tròn ấy thì chẳng bao lâu sẽ trở lại điểm xuất phát, là chỗ cũ. Như vậy, tuyển người không đúng chuyên môn vào làm việc chính là mẹ đẻ của các vấn nạn hôm nay.

[2] Đã bao năm qua, nhà nước có thói quen tuyển người vào làm việc ở tất cả các ngành theo chính sách “hồng tốt hơn chuyên”. Chính sách ấy tràn lan suốt hơn 60 năm qua, từ quận huyện phường xã lên tới tỉnh, bộ, trung ương… và gây tác hại to lớn khôn cùng cho xã hội, văn hóa, luật pháp, hành chánh, đời sống của tuyệt đại đa số tất cả mọi người Việt. Bài báo của Liên Hiệp Quốc nầy  là một thí dụ cho thấy: chính sách “hồng tốt hơn chuyên”, tuyển người thiếu khả năng vào làm việc trong các ban ngành, đã gây thất bại về mặt xây dựng con người và xã hội dân sự.

Trong việc xây trường học mà không xây nhà vệ sinh, sự sai lầm xảy ra ít nhất là 2 lần. Hai lần lầm lỗi nầy đều có thể tránh được nếu sử dụng chính sách tuyển người có chuyên môn thích hợp vào làm việc.

Lần thứ nhất. Trước khi cho thi công, người có chuyên môn về xây dựng (thuộc sở GDĐT hoặc do bộ giáo dục thuê mướn duyệt công trình) khi duyệt bản vẽ, hoặc chính quyền địa phương quận huyện có các thanh tra về xây dựng, sẽ bắt buộc trong bản thiết kế xây dựng trường học phải có phòng vệ sinh.

Nếu nhà cầu và phòng vệ sinh cho trường học không có trên bản vẽ, thì phòng thanh tra về xây dựng của quận huyện làm biên bản không đồng ý cấp giấy phép cho xây thì ai mà dám xây? Và phòng xây dựng cơ bản trực thuộc sở giáo dục cũng không đồng ý phê chuẩn cho xây dựng trường và sẽ không trả tiền cho công ty xây dựng. Nếu cả hai chuyện nầy  có văn bản, có giấy tờ công khai, thì không một công ty xây dựng nào dám thi hành việc xây trường không có phòng vệ sinh.

Chuyện thiếu mặt bằng cơ sở và thiếu tiền bạc chỉ là chuyện lấp liếm bao che một chính sách tuyển người vào làm việc không đúng với khả năng chuyên mơn, và tham nhũng là kết quả tất yếu  phải xẩy ra của chính sách tuyển dụng “hồng tốt hơn chuyên”.

Còn thêm một khả năng nữa có thể phát hiện và ngăn chận lỗi lầm tái phạm ở các trường sắp được xây dựng, nhưng đã không có ai và không có nhà báo nào dám viết lên: Ai là người đến cắt băng khánh thành trường học mới? Người nầy có đi tham quan một vòng các phòng ốc, nhà vệ sinh hay không để tận mắt nhìn thấy thành quả của việc xây dựng trường?

[3] Hi Hi. Chuyện nầy đã xẩy ra ít lắm là hơn 30 năm qua. Báo chí VN chỉ mới nhắc tới năm 2006, nhưng Cô An cứ làm như đây là chuyện mới mẻ, và ta mới phát hiện vấn nạn nầy vào tháng trước!

Các bà con cô bác nào ở tuổi 40-50 trở lên, bị bệnh đi tiểu són;  mỗi lần cười là són nước tiểu; chưa kịp bước tới phòng vệ sinh, hoặc chỉ cần hơi cảm xúc một chút là són một chút nước tiểu ra quần…mặc dầu không có nghiên cứu và thống kê, nhưng trường học không có phòng vệ sinh làm cho mọi người phải nín tiểu…có lẻ đóng một vai trò quan trọng cho nguyên nhân gây ra nhiều bệnh và trong đó có bệnh tiểu són (dẫu cho bệnh nầy có nhiều nguyên nhân, nhưng NÍN … quá lâu, làm cho bọng đái bị dãn nở, về sau khi lớn tuổi, dễ bị mắc bệnh đái són hơn các người khác chăng? )

[4] Thật là tắc trách, vô nhân đạo và khó tin. Thế kỷ 21 rồi mà cung cách làm việc còn tệ hơn năm 1800. Thời Pháp thuộc, Pháp xây trường học cho ta còn tốt hơn thời hiện tại. Bây giờ, ta bước chân vào trường học nào của Pháp, ta cũng có thể thấy nhà vệ sinh cho học sinh rất khang trang và sạch sẽ. Cũng vậy, các trường học ở miền Nam được xây dựng trước năm 1975 cũng không bao giờ có vấn nạn: xây trường học, mà không xây nhà vệ sinh cho học sinh và thầy cô giáo.

Thực tế, trong các trường học được xây dựng từ thời Pháp, trước 1954 và các trường học ở miền Nam, trước năm 1975, các thầy cô giáo và nhân viên làm việc trong văn phòng trường có phòng vệ sinh riêng của họ và không cần phải dùng chung với học sinh. Các học sinh nam và nữ ở các trường tiểu học có các phòng vệ sinh riêng được lau chùi hàng ngày và giữ gìn rất sạch sẽ. Hóa ra, tới thế kỷ 21, ta vẫn còn thua xa thời Pháp thuộc và dĩ nhiên là thua miền Nam ít nhất là nửa thế kỷ về mặt xây phòng vệ sinh trong trường học cho các em học sinh.

Hóa ra, 35 năm qua ta xây dựng xã hội mới trên toàn cả nước, xây dựng con người mới, xây dựng con người có nội dung XHCN là: không cần đi cầu, không cần đi tiểu ở …trường học. Học sinh của ta là những người NÍN…suốt 12 năm trời, hoặc đi tiêu đi tiểu trong các bụi rậm quanh trường.

Tóm lại, muốn thay đổi đất nước, muốn cho mọi việc đâu vào đó, trong giáo dục và trong công tác tuyển người vào làm việc, hãy bỏ chính sách “hồng tốt hơn chuyên”, và dùng chính sách “cử hiền dữ năng”. Nghĩa là dùng người có tài và có học bổ nhiệm vào các chức vụ chuyên môn của họ, những người nào không có chuyên môn thì nên chuyển qua các việc khác hoặc cho về hưu sớm mà cũng được hưởng lương như khi đi làm để tránh cho họ khỏi sự bất mãn và duy trì được cuộc sống của họ và gia đình… thì dần dần 2, 3 năm sau, xã hội sẽ thay đổi tới một mức tốt đẹp hơn hiện nay.

[5] Nếu ở nước ta coi chuyện giải quyết đóng 50 cents (hay 10000 đồng) là yên chuyện, là một giải pháp bình thường, thì đây là một cú tát vào mặt của nền hành chánh địa phương quận huyện, trung ương và nền giáo dục hiện nay. Việc xây trường học mà không xây phòng vệ sinh đi tiêu và đi tiểu cho trẻ em đã từng được báo chí VN loan tin ra mấy năm nay, khá lâu, nhưng không một ai trong chính quyền dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm. Không một ai dám đứng ra nói đại khái một vài câu như sau: “Đây là lầm lỗi của tôi (hoặc của người tiền nhiệm).  Tôi chân thành xin lỗi các em học sinh và các bậc phụ huynh. Giờ đây tôi loan báo là bất cứ trường học nào chưa có phòng vệ sinh cho các học sinh, việc xây cất sẽ được lên kế hoạch để thi hành vào ngày mai, và sẽ hoàn tất trong thời hạn 30 – 45 ngày. Và kể từ hôm nay, tất cả những nhà vệ sinh ở trường học đều phải được lau chùi hàng ngày để giữ cho không có mùi hôi. Nếu các việc nầy không được sửa sai trong thời hạn nói trên, điều ấy chứng tỏ tôi thiếu năng lực quản lý và điều hành, hoặc tôi không có quyền hạn thật sự để thi hành, và nếu như thế tôi sẽ xin từ chức.”

Kế hoạch dùng tiền để kích thích nên kinh tế không có gì tốt hơn bằng chuyện  xây dựng phòng vệ sinh trong các trường học, xây dựng thêm trường học để giảm sĩ số học sinh mỗi lớp xuống còn 20 em, và cải tiến giáo dục ngay theo hướng đề nghị của giáo sư Hoàng  Tụy và các nhà giáo dục khác.

——————————

VIETNAM: Where the schools have no loos

Photo: Martha Ann Overland/IRIN
Lucky break for him. This school in Hanoi has proper facilities for students. Many schools in Vietnam, even in the capital, lack toilets

HANOI, 17 June 2009 (IRIN) – For Nguyen Cong Tuan, 10, a primary school student in Hanoi, using the toilets at school was a frightening experience.

The filth and stench made him afraid to go near them. So Tuan would wait until he got home; his mother rightly worried that he could develop urinary tract problems.

Yet Tuan could be considered one of the lucky ones – many schools in Vietnam, even in the capital, Hanoi, lack any toilets at all.

The Ministry of Education and Training (MoET) recently surveyed sanitation facilities in 11,200 schools across the country.

“About 30 percent of inspected schools had no toilets or inadequate toilets,” says La Quy Don, deputy head of the ministry’s student affairs department.

A separate survey conducted in Hanoi found that of 1,400 schools nearly all failed to have enough sanitation facilities, says Nguyen Nhu Hoa, deputy head of the office for planning and finance in the city’s education department.

Failed standards

Regulations require one toilet for every 100 students and one tap for every 60 students.

“There are few schools in Hanoi that meet these standards,” says Hoa. “And many schools in the outlying districts have no toilets at all.”

Tran Thu An, a sanitation programme officer with the UN Children’s Fund (UNICEF), says the issue of toilet facilities rarely gets the consideration it deserves.

The UN, as part of its “child-friendly” schools campaign in Vietnam, has been trying to focus on proper sanitation facilities. In the past year, it has been working with MoET, helping to design and build better toilet facilities across the country.

Priorities

Part of the problem is that there are so many pressing needs when it comes to education that sanitation is often the last thing considered.

At the moment, the government’s priority is to replace all the makeshift shelters that serve as classrooms with concrete schools that can withstand monsoon winds and rains, says An. Yet when these new schools are built, toilets are not part of the plans.

The responsibility for building latrines lies in part with local authorities and communities, who often lack the funds or interest. So in the end, says An, toilets just do not get built. The result is that students are forced to use “the bushes surrounding the schools”, she says. “It’s hard to believe.”

Tran Duy Tao, head of administration for the school infrastructure and equipment department at the education ministry, says it is not always a lack of money. Space is also an issue. In crowded, yet wealthier, urban areas, schools may have the funds but no room to build more toilets, he says. The rural authorities often have the land to build sanitation facilities but no money.

Health issues

The government is trying to tackle the problem, says Don, at MoET’s student affairs department. In 2006, the government declared that all kindergartens and schools would have hygienic toilets and all children would have access to clean water by 2010.

But Don says at the current rate of construction, it is highly unlikely this goal will be met.

“This has a negative effect on students’ health as well as their studying ability,” says Don. “Students may try to hold it in due to their fear of dirty toilets. And where schools do not have toilets, students have to do it somewhere else and it causes environmental problems.”

As for Tuan, he no longer has to wait until he gets home. Parents at the Hanoi elementary school were so upset over the dirty facilities and concerns for their children’s health that a few months ago they decided to chip in and pay a monthly fee to have them cleaned.

For US50 cents a month per family, Tuan and his classmates are no longer afraid to go to the bathroom.

mo/ds/mw

Theme(s): (IRIN) Children, (IRIN) Education, (IRIN) Health & Nutrition, (IRIN) Urban Risk, (IRIN) Water & Sanitation

[ENDS]

Đăng trong Giáo dục | Tagged: | 4 phản hồi »