BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Khối XHCN sụp đổ’ Category

522. CNTB,du lịch,công nghệ đã kéo VN ra khỏi quá khứ

Đăng bởi anhbasam on 27/03/2010

CUMBERLAND TIMES NEWS

Việt Nam ngày nay

Chủ nghĩa tư bản, du lịch và công nghệ

đã kéo đất nước này ra khỏi quá khứ

Bài của CNHI News Service

Ngày 17-9-2008

Ghi chú của biên tập viên: ông William B. Ketter là phó chủ tịch phụ trách tin tức cho Community Newspaper Holdings Inc.[CHNI], có trụ sở tại Birmingham, tiểu bang Alibama, Hoa Kỳ, và sở hữu 89 tờ nhật báo gồm tờ Cumberland Times-News. Đoạn trích dưới đây là từ những ghi chép ông đã lưu lại trong một chuyến du ngoạn vào tháng Bảy khi ông đi dọc Đường mòn Hồ Chí Minh trên một chiếc xe máy.


Ba phần viết về Việt nam này là dựa vào những cảm tưởng mang tính cá nhân của William Ketter, phó chủ tịch phụ trách tin tức của CNHI, trong một chuyến du ngoạn hai tuần gần đây tới đất nước đã đóng một vai trò to lớn trong sự thay đổi đối với nền chính trị, các mối quan hệ đối ngoại và văn hóa của Mỹ suốt những năm 1960 và 1970.

Chuyến du ngoạn bao gồm một chặng đường vất vả bằng xe máy cùng với năm người Mỹ khác trong 8 ngày trên những đoạn đường còn sót lại của con Đường mòn Hồ Chí Minh khét tiếng. Cả nhóm đã vượt qua 850 dặm, từ những dãy núi ở phía bắc Việt Nam tới căn cứ quân sự của Mỹ trước đây tại Đà nẵng và Bãi biển Trung Hoa, trên bờ biển Nam Trung Quốc.

Đây là chuyến du ngoạn thứ hai tới Việt Nam của Ketter. Chuyến viếng thăm thứ nhất xảy ra năm 1995, khi ông dẫn một nhóm các viên tập viên người Mỹ trong một nhiệm vụ tìm hiểu thực tế.

Việt Nam: Mảnh đất của chủ nghĩa tư bản cộng sản

Những cảm tưởng cá nhân – Phần 1

Khi những đạo quân của Hồ Chí Minh băng băng tiến vào Sài Gòn 33 năm trước để thiết lp nên một nước Việt Nam tái thống nhất, những kẻ xâm chiến cộng sản đã thực hiện một toan tính sai lầm đáng chê trách: chiến thắng bằng quân sự sẽ làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn cho dân tộc đã kiệt quệ vì chiến tranh.

Thay vào đó, các điều kiện kinh tế đã trở nên tồi tệ hơn, tình trạng đói kém lan rộng khắp cả nước, và sự hy sinh cả một dân tộc đã trở nên thứ mẫu số chung cho thấy một thời kỳ hậu chiến dài lâu và đen tối cho cả miền bắc và miền nam.

“Chúng tôi đã phải vật lộn suốt những năm dài vô cùng đói khổ sau khi người Mỹ ra đi,” đó là những ký ức của Nguyễn Ngọc, con trai một sĩ quan quân đội Bắc Việt Nam. “Chính quyền đã phải phân phát định mức lương thực thực phẩm. Một bát gạo đã phải ăn trong một tuần; cả tháng mới có vài miếng thịt tẻo teo. Anh phải thịt một con gà làm sao không gây tiếng kêu để anh không phải chia xẻ nó cho những người hàng xóm.”

Chắc chắn đó không phải là giấc mơ xã hội chủ nghĩa mà “Bác Hồ” đã nói tới trước khi qua đời vì một cơn nhồi máu cơ tim vào năm 1969 và điều mà những môn đệ của ông thay ông thực hiện với sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền đối với hoạt động kinh doanh và buôn bán nhờ vào chiến thắng trong cuộc chiến.

Thị trường tự do đang vận hành và phổ biến tại Nam Việt Nam trong sự hiện diện của người Pháp và người Mỹ, phải trả giá cho một cuộc rút lui vội vã, đã bị tiêu diệt bởi tín điều cộng sản mình-vì-mọi-người và mọi-người-vì-mình. Đầu tư kinh doanh cá nhân và tập thể bị tàn lụi.

Điều đó kéo dài cho tới những năm 1990. Đó là khi Việt Nam hoàn toàn đi theo mô hình tư bản chủ nghĩa mở cửa thị trường của Trung Quốc trong khi vẫn bấu víu vào một hệ thống chính trị cộng sản khắc nghiệt. Nỗi tuyệt vọng đã chuyển thành liều lĩnh. Thậm chí những người Việt Nam từng chạy trốn khỏi đất nước mình – được biết đến với cái tên Việt Kiều – đã được mời gọi trở về quê hương. Và họ đã đầu tư – với một mức 7 tỉ đô la mỗi năm, theo như các số liệu của chính phủ.

Ngày nay, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới, song một kỳ nghỉ hai tuần vừa qua tại đó, bao gồm tám ngày trên một chiếc xe máy xuôi theo những dấu vết còn lại của con Đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng, đã cung cấp những bằng chứng về một quốc gia có đôi mắt tinh tường quan tâm tới việc mở cánh cửa của mình ra với thế giới.

“Chúng tôi sẽ không bao giờ giàu được như người Mỹ các bạn,” Ngọc nói. “Thế nhưng chúng tôi giờ đây đang có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chúng tôi có thể sở hữu bất động sản, khởi sự chuyện kinh doanh, kiếm được nhiều tiền. Chúng tôi có lúa gạo, cà phê, chè, cao su và dầu lửa” – những mặt hàng xuất khẩu quan trọng góp phần khích lệ những cải cách trên thị trường tự do, để rồi lần lượt, xuất hiện những tờ nhật báo, tạp chí và chương trình truyền hình tiếng Anh. Tất nhiên, chẳng ai được hưởng nền tự do báo chí như chúng ta biết. Tuy vậy, báo chí đã tường thuật những tội ác, tham nhũng và tình hình thiên tai. Và Báo chí đã không có vẻ tô vẽ cho những khó khăn về kinh tế của đất nước.

“Sự thật là những người cộng sản đang có sự kiểm soát tối đa đối với báo chí,” Ngọc nhận xét. “Thế nhưng không có mấy quan tâm từ những người cộng sản hay tại Việt Nam trong việc ngăn chặn tin tức về những gì mà mọi người biết thông qua Internet.”

Ngọc, người vừa đóng vai trò hướng dẫn viên vừa là người phiên dịch cho chuyến du hành bằng xe máy, là một ví dụ về một Việt Nam mới, xếp hạng nhì chỉ sau Trung Quốc về tăng trưởng kinh tế tại Á châu kể từ năm 2002.

Ở tuổi 34, anh không có ký ức riêng về cuộc chiến tranh đã cướp đi 3 triệu sinh mạng binh lính và dân thường Việt Nam cũng như gần 60.000 quân nhân Mỹ chiến đấu trên nửa phần phía nam Việt Nam. Tốt nghiệp đại học và nói trôi chảy tiếng Pháp và tiếng Anh, anh đọc và nghe tin tức bằng cả ba thứ tiếng, cùng vợ và đưa ton gái ba tuổi sống trong một ngôi nhà khiêm nhường ở Hà Nội. Anh được xem như một người thông thạo về du lịch, làm việc trong vai trò một cố vấn cho các công ty du lịch và là chủ nhân đáng tự hào của một công ty mới khởi sự (Vietnamontrails.com) chuyên về các chuyến du lịch bằng xe gắn máy theo yêu cầu của khách hàng.

Ngọc yêu đất nước Việt Nam, tôn kính ông Hồ Chí Minh như George Washington của nước mình, thích cưỡi trên một chiếc xe gắn máy và say sưa nói về vẻ đẹp trong khung cảnh miền bắc quê hương mình. Tuy nhiên, anh không phải là một đảng viên Đảng Cộng sản.

Hai phần ba trong số 85 triệu người Việt Nam ở đây giống như Ngọc, đều sinh ra sau cuộc chiến của Mỹ chấm dứt năm 1973. Họ được nhắc nhở về cuộc xung đột đẫm máu bởi những người lớn tuổi, từ các tượng đài và nhà bảo tàng – tất cả đều quảng bá cho chiến thắng đối với “chủ nghĩa đề quốc Mỹ.” Thế nhưng cuộc chiến không lôi cuốn tinh thần Việt Nam theo cái cách mà nó đè nặng lên tâm trí người Mỹ.

Hơn nữa, các nhà lãnh đạo cộng sản của đất nước này không còn khăng khăng điều khiển và kiểm soát cuộc sống hàng ngày của người dân nữa. Dân chúng được khuyến khích đưa ra những sáng kiến và vươn lên phía trước. Ngọc ước lượng hiện chỉ có khoảng 3 triệu đảng viên cộng sản có thẻ đảng viên.

“Bạn tham gia đảng cộng sản nếu như bạn muốn có một sự nghiệp chính trị hoặc muốn tham gia vào chính quyền,” Ngọc nói. “Ngoài ra, chẳng cần phải tham gia. Ở mức độ cả nước chúng tôi cảm thấy thoái mái với sự sắp đặt này. Tất cả chúng tôi đều muốn một Việt Nam thịnh vượng.”

Việt Nam: Ràng buộc với quá khứ, tìm tới tương lai

Những cảm tưởng cá nhân – Phần 2


Việt Nam là một quốc gia được ban cho những miền đất phì nhiêu, những vùng biển tuyệt đẹp và một tinh thần chăm chỉ làm việc trong dân chúng. Tuy nhiên thu nhập trung bình chưa tới 500 đô la mỗi người một năm, và gần một phần ba dân số sống trong tình trạng nghèo khổ.

Thật khủng khiếp khi những số liệu thống kê đó có thể cho thấy có những tiến bộ lớn lao từ thời kỳ đen tối của đất nước trong và sau Cuộc chiến tranh Việt Nam và trước khi chuyển đổi sang chủ nghĩa tư bản thị trường cạnh tranh tự do vào những năm 1990.

Giờ đây, thậm chí người Việt Nam bình thường cũng có vẻ lạc quan về tương lai kinh tế của mình, chỉ ra mục tiêu đã đạt được của đất nước trong việc làm cho Internet có mặt ở khắp nơi, trong đó có cả các làng bản miền núi xa xôi.

“Chúng tôi đang trên con đường hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn,” đó là tâm sự của Nguyễn Ngọc, một doanh nhân 34 tuổi mạnh bạo ở Hà Nội mới đây đã mở dịch vụ du lịch bằng xe gắn máy. “Ngày mai sẽ to đẹp hơn hôm qua.”

Việt Nam bước một bước dài hướng tới mục tiêu đó khi đất nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới hai năm trước, mở đường vào các thị trường nước ngoài nhiều hơn và thu hút nguồn đầu tư nước ngoài nhiều hơn.

Hoa Kỳ, nước từng từ chối giao thương với Việt Nam trong gần 20 năm sau chiến tranh, đã ký một thỏa thuận thương mại song phương với cựu thì của mình vào năm 2001, và giờ đây đang dẫn đầu thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam, tiếp theo là Liên hiệp châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc.

Trên mặt trận trong nước, một lực lượng lao động có kỹ năng với giá nhân công rẻ cạnh tranh với Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ trong các lĩnh vực sản xuất hàng điện tử và may mặc. Hãng Canon mới đây đã khai trương một nhà máy sản xuất máy in phun lớn ở ngoại thành Hà Nội. Sony, Intel, Samsung và các hãng điện tử khác cũng đang lạc quan và hy vọng vào mảnh đất của con rồng châu Á này. Ngành may mặc và đóng giầy cũng đang chuyển động. Hãng Nike sản xuất ra hơn 80 triệu đôi giày tại Việt Nam mỗi năm.

Tuy nhiên, Việt Nam chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp, với hơn 70 phần trăm dân số sống nhờ vào canh tác và tại các làng quê, và phần lớn trong nền kinh tế gắn bó với số phận của cây lúa, cà phê, chè, cao su, hạt tiêu và hạt điều.

Đất nước này cũng còn để lại một mối mâu thuẫn giữa phương pháp canh tác từ thế kỷ 19 và kỹ nghệ của thế kỷ 21 – được chứng kiến trong suốt chuyến du ngoạn dài 850 dặm bằng xe máy từ những ngọn núi cao 10.300 foot ở phía bắc Hà Nội, thủ đô nước này, cho tới Hội An, một cộng đồng dân cư sống ven bờ biển đầy quyến rũ ở phía tây nam.

Trên đất nước này, những con trâu nước cày bừa trên ruộng lúa, và những người đàn bà dưới những chiếc mũ hình chóp phải cúi gập mình hàng giờ để thu hoạch mùa màng cho kịp thời vụ. Trên đường trở về nhà, họ đeo những bó củi sau lưng hoặc gánh rau quả trên hai đầu của một thanh tre để về chuẩn bị cho bữa cơm tối trong căn nhà có một hay hai phòng.

Song thật kinh ngạc khi tới những làng bản xa xôi phía bắc như Phù Yên, Mai Châu, Tân Kỳ – những nơi mà nhóm xe máy của chúng tôi gồm sáu người Mỹ đã ở lại qua đêm – những quán cà phê Internet phục vụ du khách và người địa phương, gồm cả những thanh thiếu niên chơi các trò Bubble Shooter, Raider X và các trò chơi trực tuyến phổ biến khác. Điện thoại di động là thứ bình thường tại cả nông thôn và thành thị.

“Thật là lạ, phải không?” đó là nhận xét của Hoàng Ngọc Minh, một hướng dẫn viên du lịch 26 tuổi từ người Hà Nội. “Chúng ta đang ở trên một đất nước của những điều khác biệt. Internet có ở khắp nơi. Cho nên có rất nhiều lối sống truyền thống không còn nữa.”

Đào Quang Bình, một kinh tế gia và là nhà báo làm cho tờ Vietnam Economic Times, đã nhận xét về đất nước này theo cách dưới đây trong một cuộc phỏng vấn tại Khách sạn Quốc tế sang trọng ở Hà Nội:

“Đất đai là tài sản của toàn dân Việt Nam và khi sử dụng cho nông nghiệp thì không bị đánh thuế hay thuê lại,” ông giải thích. “Khi chúng tôi chuyển đổi ngày càng mạnh sang một nền kinh tế thị trường, sự hiện đại hóa sẽ được thực hiện một cách tự nhiên tại những vùng nông thôn cùng với thành phố. Những kỹ thuật mới và hiệu quả hơn sẽ được đem ra áp dụng.”

Ông Bình cho là Việt Nam đang giữ vững bước phát triển nhanh chóng của mình. Ông đã đầu tư vào một số xuất bản phẩm viết về lối sống có ý nghĩa, và có những kế hoạch khởi sự một tạp chí về xe hơi cùng lúc cuốn Great Wheel tại nước này được xác định là giành cho xe máy.

Xe hơi sẽ tất yếu thay cho phương tiện vận tải hai bánh trong khi dân chúng có được đời sống sung túc trong một Việt Nam mới, ông Bình nói. Khi điều đó xảy ra, họ sẽ cần đến một nguồn tham khảo đáng tin cậy để xác định loại xe hơi nào cần mua và làm cách nào để bảo quản được chúng, đó là những gì mà ông trông đợi cuốn tạp chí của mình sẽ cung cấp.

“Không thể nhầm lẫn được,” ông khẳng định.

Tuy nhiên, với hiện tại, đang có hơn 20 triệu chiếc xe máy, mô tô và scooter tại Việt Nam, và chưa tới 750.000 xe hơi và xe tải. Kết cục là một biển xe máy liên tục bấm còi rống lên trong thành phố.

Thoát ra khỏi mớ hỗn mang này thật khốn khó. Luật lệ giao thông không được chấp hành, đèn và các biển báo hiệu dừng hầu như không tồn tại, và việc đi bộ băng qua đường hay lái xe qua những điểm giao cắt tạo nên nguy hiểm cho cuộc sống của bạn. Có hơn 40 cái chết bất hạnh do tai nạn giao thông xảy ra mỗi ngày, làm cho Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có số người chết trên đường cao nhất thế giới.

Bí quyết để tránh bị thương tật và còn sống sót là “luôn luôn đi tới. Đừng giật lùi hay dừng lại trên đường đi,” theo lời của Margie Mason, một thông tín viên của hãng AP tại Hà Nội.

Lời khuyên tốt khi bạn đang đi bộ băng qua đường hay cưỡi trên một chiếc xe máy.

Việt Nam: Phát triển mạnh du lịch tới những nơi diễn ra cuộc chiến đẫm máu

Những cảm tưởng cá nhân – Phần 3

Bức ảnh chụp năm 1975 về chiếc trực thăng cuối cùng của Hải quân bốc lên khỏi mái nhà Toà Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, một hàng dài những người Việt Nam xui xẻo bị mắt kẹt bên dưới, đã tạo nên một bức chân dung không thể phai mờ về nỗi tuyệt vọng của con người.

Những người bị rớt lại phía sau là binh lính trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa (ARVN) bại trận, hoặc những người của chính phủ Hoa Kỳ. Họ đoán được những hậu quả khủng khiếp khi rơi vào tay của những kẻ thuộc hạ của ông Hồ Chí Minh đang chiến thắng.

Vẻ đẹp của Việt Nam hiển hiện bằng những ngọn đồi và thung lũng trên vùng cao nguyên. Sương mù bay lên từ mặt đất tương phản với ánh bình minh tạo nên một khung cảnh như trên bức danh thiếp.

Họ đã đoán đúng. Chế độ cộng sản đã xử tử hình những người nào được xem là trung thành với chủ nghĩa quốc gia. Những người khác đã phải chịu bản án giam giữ lâu dài. Song hầu hết đã bị tống vào các trại được gọi là cải tạo để đi theo tín điều xã hội chủ nghĩa, làm những gì người ta bảo làm, lao động liên tục và cực nhọc cho lợi ích chung, và quên đi chuyện cất nhắc lên cao thông qua sáng kiến của bản thân.

May thay, đối với tương lai của Việt Nam, những bài học kinh tế của chủ nghĩa cộng sản đã không được nắm chắc. Và 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã từ bỏ việc kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động kinh doanh mỗi ngày và thay vào đó đã khuyến khích nhận thức về một tinh thần kinh doanh chưa từng thấy kể từ khi có sự hiện diện của người Mỹ.

Chủ nghĩa tư bản thị trường cạnh tranh tự do đã đẻ ra những doanh nghiệp với, giao thương với những kẻ cựu thù, đầu tư tư nhân – và một tham vọng của chính phủ muốn thu hút những đồng ngoại tệ mạnh thông qua việc đấy mạnh du lịch.

Mục tiêu là: đưa những địa điểm xảy ra các cuộc chiến đẫm máu thành nơi nổi tiếng cho du lịch để có thể kiếm được những đồng đô la nước ngoài trong lúc túng bấn nhất.

Những địa điểm như Đường mòn Hồ Chí Minh, một loạt những con đường quanh co nổi tiếng đã cung cấp vũ khí và trang thiết bị cho các đội quân cộng sản ở miền nam. Từng bị dội bom nặng nề bởi các lực lượng của Mỹ trong suốt cuộc chiến, những nơi đây vẫn được coi như biểu tượng thành công của quốc gia.

Vậy là chính phủ đã cam kết giành hơn 400 triệu đô la để khôi phục các đoạn quan trọng có tính lịch sử của con đường mòn, và mở rộng nó suốt đoạn đường tới Sài Gòn, giờ được gọi là Thành phố Hồ Chí Minh. Dự án đường cao tốc được cho rằng sẽ giảm bớt tình trạng tắc nghẽn trên Đường số 1 ven bờ biển hẹp, con đường huyết mạch bắc-nam duy nhất nối liền đất nước từng bị chia cắt.

Cưỡi một chiếc xe máy dọc theo con đường mòn đòi hỏi phải tránh né những con trâu nước, bò, dê, chó, vịt, gà và lợn – và phải giữ thăng bằng khi những chiếc xe tải và xe buýt lớn ép bạn ra vệ đường. Bạn cũng cần cảnh giác trước những chiếc mô tô và những khách bộ hành lao ra nhanh như tên bắn từ các con đường khác trong thành phố và ở làng quê.

Tuy vậy, đáng ngạc nhiên là những đoàn xe xây dựng đã biến những lối mòn lấm bùn trong rừng rậm thành một con đường lớn đen bóng mà các du khách có thể vượt qua bằng xe máy, mô tô hay đi bộ.

Những điểm dừng được khuyến cáo bao gồm các khu vực bị phi cơ Mỹ đánh bom, và cũng bị rải Chấn độc Da cam có tác dụng diệt cỏ rất mạnh để làm lộ ra các nguồn tiếp tế và hoạt động của các toán quân. Những ảnh hưởng của chất hoá học cũng vẫn còn thấy rõ khi những tán lá cây dọc theo chân đồi và các khu rừng ngập mặng ở miền bắc trung bộ Việt Nam không phát triển được.

Con đường mòn nguyên sơ đã được mở rộng sang Lào và Cambodia, kéo dài hơn 10.000 dặm. Sự phát triển của những khu rừng nhiệt đới rậm rạp đã khẳng định rõ rệt điều này từ sau chiến tranh. Song các khu vực mang tính chiến lược đã được duy trì như là một sự nhắc nhở tới những người cộng sản sẽ chiến đấu cho một dân tộc không bị chia cắt …


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Khối XHCN sụp đổ, Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | 4 phản hồi »

515. Kim Chính Nhật: thuở Học trò của một kẻ bạo chúa

Đăng bởi anhbasam on 22/03/2010

THE INDEPENDENT

Kim Chính Nhật: thuở Học trò của một kẻ bạo chúa

Một người thầy đang phải sống lưu vong của Kim Chính Nhật đã tiết lộ về cách mà lần đầu tiên ông gặp một học sinh ‘bình thường’, người đã trở thành quái vật giải thoát cho Bình Nhưỡng khỏi những con người tàn tật – và đã ra lệnh giết cả nhà ông.

Bức ảnh chụp năm 1992 cho thấy Kim Chính Nhật (phải) và nhà lãnh đạo khi đó, cha Kim Chính Nhật, Kim Nhật Thành (trái) đang đi kiểm tra một sân vận động tại Bình Nhưỡng

Bài của David McNeill

Thứ Năm, ngày 21-8-2008

Có vẻ như đó là một khoảnh khắc bình thường, lặp đi lặp lại tới hàng ngàn lần tại các trường học khắp nơi trên thế giới. Ngồi một bên là một đứa trẻ nhút nhát “với đôi gò má tấy đỏ”, trả lời ấp úng qua một bài kiểm tra dịch tại văn phòng hiệu trường nhà trường. Ngồi bên cạnh là một gia sư được cha cậu thuê để coi sóc cậu học hành.

Thế nhưng ngôi trường này lại ở Bắc Triều Tiên, người cha là nhân vật huyền thoại sáng lập nên đất nước này, ông Kim Nhật Thành, và cậu bé là con ông và là nhà lãnh đạo tương lai, Kim Chính Nhật. Và mối quan hệ giữa người học trò và vị gia sư đã đạt đến đỉnh cao trong một kết cục khủng khiếp: cậu bé đã lớn lên rồi ra lệnh thi hành án tử hình tất cả gia đình của người thầy giáo đó.

Câu chuyện này được kể bằng những lý lẽ ôn hòa hơn của người thầy, ông Kim Hyun-sik, giờ đã 76 tuổi và là một giáo sư nghiên cứu tại trường đại học George Mason University, bang Virginia.

“Rất nhiều lần tôi đã hình dung là mình sẽ giết ông ta rồi tự sát,” ông viết về người học trò cũ của mình trong một tự truyện mới đăng gây tác động mạnh trên tạp chí Foreign Policy góp phần vén lên bức màn về lai lịch của vị Lãnh tụ Tối cao này.

Đoạn hồi ức nằm trong những công bố có sức thuyết phục nhất ở Hoa Kỳ, có khả năng đổ thêm dầu vào lửa quanh vụ trang bị hạt nhân của Bắc Triều Tiên và khích lệ thêm những người trong giới bảo thủ Hoa Kỳ vẫn đòi có sự can thiệp quân sự vào nước này.

Song giáo sư Kim cho biết ông chỉ có một ước nguyện: rằng ông Kim Chính Nhật sẽ mở cửa đất nước cho tự do và thịnh vượng như phần còn lại của thế giới vẫn đang được hưởng. Cho tới lúc đó, chắc chắn ông sẽ nói tới mọi người những gì ông đã được thấy: “Một cậu bé ngây thơ trong trắng, người đã biến thành một ác quỉ, và một đất nước đầy khả năng bị biến thành một trại tập trung.”

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1959. Vị giáo sư, người mà ông Kim Nhật Thành đã lựa chọn cẩn thận để dạy tiếng Nga cho gia đình mình, đã gọi Kim Chính Nhật khi đó mới 17 tuổi đến để thực hiện một cuộc kiểm tra vấn đáp.

Bối rối và “với những giọt mồ hôi trên trán”, cậu bé đã chịu đựng cuộc sát hạch mà “không hề tỏ ra khoe khoang rằng mình là con trai của vị Lãnh tụ Vĩ đại”.

Mấy năm sau khi Kim Chính Nhật thừa kế quyền lực độc nhất của cha mình, Giáo sư Kim cho biết rằng học sinh có thể yêu cầu nhà trường của ông quở trách để loại ra những địch thủ tiềm tàng đối với con cái Kim Chính Nhật.

Ông mô tả Kim Chính Nhật như một “học sinh khá là tầm thường” không có điểm gì trội và có rất ít bạn bè. Sau cuộc kiểm tra chỉ vài tháng, tính dễ hoảng sợ, thiếu tự tin của Kim Chính Nhật biến mất khi cậu ta phô trương những kỹ năng tiếng Nga của mình trước các giáo viên. “Với tư cách là một nhà giáo dục, tôi khá là hài lòng,” vị giáo sư kể lại. Thế nhưng niềm hãnh diện đó đã biến thành cơn thịnh nộ.

Năm 1991, một nhân viên mật vụ Nam Triều Tiên đã tới gặp Giáo sư Kim khi ông đang ở Moscow, nói rằng anh ta có thể thu xếp cho ông một cuộc gặp với người chị gái.

Giống như hàng ngàn gia đình khác, gia đình ông Kim từng bị ly tán trong cuộc chiến tranh 1950-1953 đã chia cắt bán đảo Triều Tiên. Người chị, từ lâu bị cho là đã chết, lúc này đang sống ở Chicago và muốn em mình qua gặp. “Tôi đã cố kim nén cảm giác xúc động,” ông viết.

Thế nhưng một ngày sau, vị giáo sư đã được lệnh trở về Bình Nhưỡng sau khi một điệp viên nhị trùng của Bắc Triều Tiên phản bội ông. Trong khi có một người trong cuộc được tin vậy với những hiểu biết gần gũi về gia đình đang nắm quyền cai trị đất nước này đã bị bắt vì chuyện trò với phe miền Nam thù nghịch, ông biết rằng việc trở về của mình có nghĩa là gì. “Tôi sẽ bị coi như là một kẻ phản bội.” Ông đã trốn sang Seoul và không bao giờ nhìn thấy căn nhà của mình, trường đại học hay gia đình mình nữa.

Kim Chính Nhật đã bắt ông phải trả một cái giá khủng khiếp cho sự phản bội đó. Vợ, con gái vào con trai của giáo sư Kim, các con dâu rể và “thậm chí cả những đứa cháu nội ngoại thân yêu của chúng tôi” dường như đều bị tống vào các trại cải tạo kiểu gulag và bị giết. “Cho tới ngày này, tôi không biết chi tiết gì về cái chết của họ, rằng liệu họ có oán trách tôi khi họ bị giết hay không.” Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ngày nay, có tới 200.000 người vẫn còn đang bị đày ải trong các trại cải tạo ở miền Bắc.

Cuốn hồi ký cũng kể đến những trò viện cớ “tẩy rửa” như kiểu Nazi của Đức quốc xã đối với những người tàn tật và “không đủ tiêu chuẩn”.

Trong một chương, Giáo sư Kim đã miêu tả cách thức Bình Nhưỡng được “thanh lọc” khỏi tất cả những cư dân bị tàn tật ra sao trước khi diễn ra Festival Thanh niên Sinh viên Thế giới năm 1989, một màn phô trương được dàn dựng hơn hẳn Olympic được tổ chức tại Seoul năm trước. Hầu hết các nạn nhân là “những thợ đồng hồ, thợ chạm khắc, thợ khoá và thợ sửa giày” bị biến mất trong đêm.

Thậm chí cả những người thấp bé còi cọc cũng không được an toàn, Giáo sư Kim kể lại. Nhà nước phân phát những cuốn sách mỏng cho hàng ngàn người Bình Nhưỡng diễn tả một loại thuốc kỳ diệu sẽ nâng được chiều cao của họ. Để thay thế, “họ được gửi tới những hòn đảo bỏ hoang khác nhau trong một cố gắng kết liễu loại gene “không đạt tiêu chuẩn” của họ không để lặp lại trong một thế hệ mới khác. Để họ ở đó cho tới chết, và không ai trong số những người đó trở về nhà được.”

Bradley K Martin, tác giả của cuốn Dưới Sự Chăm Sóc Đầy Tình Thương Yêu của Lãnh tụ Nhân từ như Người Cha và là một cựu ký giả chuyên viết về các vấn đề Bắc Triều Tiên, đã cho biết đúng là ta không thể tìm đâu ra những người tàn tật tại Bình Nhưỡng. “Nếu bạn muốn nhìn thấy những người phát triển không bình thường do đang phải chịu đựng tình trạng thiếu dinh dưỡng thì bạn phải ra khỏi thủ đô. Tôi không có lý do gì để nghi ngờ mục đích của chủ trương này.”

Bản tố cáo gây bùng nổ dư luận của Giáo sư Kim, trích từ một cuốn sách được xuất bản năm ngoái tại Nam Triều Tiên có tựa đề là Một kẻ Du cư Ý thức hệ trong Thế kỷ 21, đã được công bố vào một thời điểm nhạy cảm. Sau bảy năm đe doạ, nội các của Tổng thống Bush vào tháng trước đã đưa Bắc Triều Tiên ra khỏi danh sách “những kẻ bảo trợ cho khủng bố”, tỏ dấu hiệu rằng đàm phán, chứ không phải đối đầu, sẽ có một cơ hội tốt hơn để dỗ dành Bắc Triều Tiên đang trong tình trạng cô lập.

Đáp lại, Bình Nhưỡng đã gợi ý về một bản kê khai chương trình hạt nhân của mình và đã cam kết tháo dỡ các vũ khí hạt nhân. Mặc dù có những bước lùi, song các mối quan hệ của quốc gia này với Seoul cũng vẫn đang được cải thiện. Khoảng 70 công ty Nam Triều Tiên đã thiết lập các cơ sở tại phía bắc biên giới trong Khu Công nghiệp Kaesong, một dự án thí nghiệm mô hình tư bản có thể đem tới thịnh vượng cho đất nước bị bần cùng hóa này.

Thế nhưng Giáo sư Kim đưa ra khả năng về sự thay đổi ý kiến của Hoa Kỳ sẽ là một thắng lợi cho Lãnh tụ Kính yêu, người đã quyết định vào những năm 1990 rằng đất nước của ông ta, sẽ bị cô lập hơn nữa trước sự sụp đổ của người bảo trợ cho mình là Liên Xô, có thể sẽ khép kín trước ảnh hưởng quốc tế nếu như ưu tiên phát triển năng lực quân sự. “Ngày nay, rõ ràng như ông ta đã hy vọng, ảo mộng của Kim Chính Nhật đã được thực hiện,” Giáo sư Kim viết. “[Ông ta] đã xoay xở để kiếm chác những niềm an ủi từ các quốc gia giàu có và mạnh hơn nhờ những cơn khủng hoảng sản xuất kinh doanh và phát sinh tình trạng mất ổn định quốc tế. Vết nhơ từ trò tống tiền bằng chương trình hạt nhân của ông ta là một sự bảo đảm trên thực tế cho viện trợ quốc tế vào cái thùng không đáy đối với một xã hội được quân sự hóa mạnh nhất trên thế giới.”

Bài báo trên tạp chí Foreign Policy còn nêu chi tiết về một bộ máy bí mật thuộc các tổ chức nhà nước của Bắc Triều Tiên có tên gọi là Cục 3, hoạt động chống lại Nam Triều Tiên, bao gồm, theo như Giáo sư Kim khẳng định, việc ám sát đã được lên kế hoạch đối với tổng thống và đoàn tùy tùng trong một chuyến viếng thăm của ông tới Miến Điện năm 1983. Vụ nổ bom đã giết chết 17 thành viên nội các Nam Triều Tiên, song mục tiêu chính đã thất bại.

Tài liệu đã tiết lộ về cách thức mà những đứa trẻ thuộc thành phần ưu tú của đảng được gửi tới những ngôi trường dành riêng cho gia đình quyền thế và được nuôi bằng gạo, thịt, cá, trứng trong khi những đứa trẻ bình thường chỉ được ăn súp bột ngô và đậu tương. Lớp trẻ đặc quyền đặc lợi chỉ phải bắt buộc làm việc tại các nông trường ít ngày trong một năm lao động, không như những đứa trẻ nghèo hơn khác phải làm trung bình từ 60 đến 90 ngày.

Vị lãnh tụ này sẽ không cho phép các sinh viên tốt nghiệp cùng trường cũ với ông ta tham gia vào nhóm lãnh đạo hàng đầu. “Những ai đã từng biết Kim Chính Nhật từ thời trẻ sẽ nhìn nhận ông ta như một con người – chứ không phải là tâm điểm của một tư tưởng sùng bái như đức chúa trời trong một con người nổi tiếng,” Giáo sư Kim giải thích. Ông cho biết mình vẫn lạc quan rằng Bắc Triều Tiên sẽ thay đổi và ông muốn được gặp lại người học trò cũ của mình để có một bài học cuối cùng. “Tôi, người đã trở thành một giáo sư đại học phải cám ơn cha ông ta; tôi, người đã tới nước Nga, Seoul, và giờ đây là Washington – tôi không còn ghê tởm ông ta nữa. Tôi thương hại cho ông ta. Mặc dù ông ta đã giết cả gia đình tôi, nhưng tôi sẵn sàng tha thứ cho ông ta.”


Những kẻ độc tài thời đi học


Robert Mugabe

Sinh năm 1924 tại nơi giờ đây là Rhodesia, Mugabe đã có một thời thơ ấu cô độc. Người cha đã từ bỏ gia đình khi Mugabe mới lên 10 và ông ta đã chịu ảnh hưởng của một thầy tu người Ái Nhĩ Lan, người đã nuôi dưỡng tinh thần cho ông ta bằng những câu chuyện tranh đấu của dân Ái Nhĩ Lan để giành độc lập trước người Anh. Khi còn là một đứa trẻ, ông ta đã phải lao động động cực nhọc ở trường song lại sống xa lánh những đứa trẻ khác, chỉ thích kiếm ăn một mình. Mugabe vào học tại trường đại học ở Nam Phi, nơi ông được giới thiệu về những tư tưởng chính trị dân tộc chủ nghĩa.


Adolf Hitler

Sinh tại Áo năm 1889, Hitler đã có một tuổi trẻ gian khó, khi hầu như hàng ngày bị cha đánh đập. Mặc dù chứng tỏ khả năng học tập giỏi ở trường, song ông ta đã làm bà mẹ thất vọng do quyết định không theo học để trở thành một linh mục. Hitler tới Viena khi 18 tuổi để theo đuổi giấc mơ trở thành một nghệ sĩ. Sau hai lần nỗ lực giành được vị trí trong viện hàn lâm nghệ thuật không thành, Hitler đã cố gắng theo học kiến trúc, song lại không có đủ tiền ăn học. Gần như không có bạn bè, ông ta đã phải chắt bóp tiền bạc để sống bằng việc vẽ tranh bán cho du khách. Bị quân đội Áo từ chối không cho gia nhập, Hitler đã tham gia quân đội Đức năm 1914.


Mao Trạch Đông

Sinh năm 1893 và là con trai cả trong một gia đình nông dân khá giả tại tỉnh Hồ Nam, miền trung Trung Quốc. Cha ông có thể chu cấp học phí cho đi học, nhưng ông muốn giúp đỡ gia đình làm ruộng khi đang còn trẻ. Ông bỏ học năm 13 tuổi để đi làm cả ngày phụ giúp cha, song tính ham hiểu biết tri thức cuối cùng đã lôi cuốn ông đi tìm những người thầy mới trong một thị trấn lân cận. Nhờ vào việc hoàn thành chương trình học phổ thông, ông đã tới được Peking (nay là Bắc Kinh) để theo học tại trường Đại học Bắc Peking.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ | Tagged: | 3 phản hồi »

485. Nhà vô địch quyền Anh thiếu niên Bắc Triều Tiên đào tị

Đăng bởi anhbasam on 27/02/2010

The Christian Science Monitor

Choi Hyun-mi, nhà vô địch quyền Anh thiếu niên,

đã khích lệ những người Bắc Triều Tiên đào tị

cùng cảnh tiếp tục tranh đấu

Choi Hyun-mi chạy trốn sang Nam Triều Tiên khi còn là một cô gái bình thường và rồi sớm dành chức vô địch quyền anh. Cô đã khích lệ tinh thần của những người Bắc Triều Tiên đào ngũ như mình tiếp tục tranh đấu ở đất nước mà họ đang sống.

Geoffrey Cain

Ngày 17-2-2010

Seoul, Nam Triều Tiên

Đối với hàng ngàn người Bắc Triều Tiên đào tị đang sống khổ cực trên khắp thế giới, thì nhà vô địch quyền anh Choi Hyun-mi được xem như là Mohammad Ali của họ.

Người phụ nữ trẻ đã trốn chạy khỏi Bắc Triều Tiên trở thành một trong những khuôn mặt được tôn kính nhất ở Nam Triều Tiên từ khi giành chiến thắng trong giải vô địch quyền anh hạng lông năm 2008 của Hiệp hội Quyền anh Thế giới (WBA), một danh hiệu mà cô vẫn còn nắm giữ tới  ngày nay.

Những người ủng hộ gọi cô là “Cô võ sĩ quyền anh đào tị”, và báo chí đã phong tặng cô là “Cô bé triệu đô” đến từ Bắc Triều Tiên, ám chỉ nhân vật chính Hillary Swank trong bộ phim nói về một võ sĩ quyền anh đã vươn lên từ cảnh nghèo túng để trở nên nổi tiếng.

“Cô ấy đã vượt qua những khó khăn và đã đạt được ước mơ của mình, cho dù có thể cô bị phân biệt đối xử vì cô là phụ nữ Bắc Triều Tiên”, theo lời Kim Kyung-soo, một người đào tị ở Seoul, phải sử dụng một bí danh do anh sợ chính quyền sẽ trả thù gia đình anh đang còn ở lại Bắc Triều Tiên. “Cô ấy đã thúc đẩy tôi vượt qua được những khó khăn phía trước”.

Nhận những cú đấm

Cuộc sống không phải lúc nào cũng đầy vinh quang đối với Choi. Cha cô, một thương gia giàu có muốn bắt đầu một cuộc sống mới ở miền Nam dân chủ. Nên năm 2004, cô và gia đình đã thực hiện một cuộc di cư táo bạo từ Bắc Triều Tiên, qua Trung Quốc, hạ cánh xuống Việt Nam, thành những cư dân tị nạn Nam Triều Tiên bốn tháng sau đó. Nhà chức trách Bắc Triều Tiên mà bắt được cô đang chạy trốn, thì họ đã bỏ tù hoặc xử tử rồi, Choi cho biết. Hầu hết những người bỏ trốn rồi quay lại Bắc Triều Tiên đều bị đánh đập, bị bỏ tù, và đôi khi chết trong trại giam.

Giống như những người Bắc Triều Tiên khác đến sống một nơi xa lạ ở miền Nam, Choi và gia đình cô đã phải đối mặt với nhiều bất lợi. Cha cô không tìm được việc làm và mẹ cô thì thường than khóc cho những người thân vẫn còn phải sống trong cảnh khắc nghiệt ở miền Bắc.

Khi còn là một đứa trẻ ở Bắc Triều Tiên, Choi đã bị giám sát để trở thành một võ sĩ quyền anh tham dự Olympic Bắc Kinh 2008, cô đã xin rút lui khỏi đời sống xã hội của trường trung học Seoul để tập trung vào việc luyện tập – và sử dụng tài năng của mình để nâng đỡ cho gia đình tan nát của mình. “Tôi đã rất cô đơn. Tôi không có nhiều ký ức về thời gian đó”, cô kể.

Thế nhưng làm việc cực nhọc đã nhanh chóng mang tới thành công. Sau khi tham gia vào các vòng thi đấu nghiệp dư tại Nam Triều Tiên năm 2006, cô đã thắng 17 trận và thua một trận, đem lại những chiếc cúp cho nước nhà qua năm giải thi đấu. Năm 2007, cô đã chuyển sang chuyên nghiệp, và năm sau cô giành được danh hiệu vô địch thế giới.

Những ngày này, đôi khi Choi được những người hâm mộ cuồng nhiệt chào đón ở nơi công cộng, và cô đã trở thành ngôi sao trong các chương trình truyền hình bên cạnh các diễn viên và ca sĩ nổi tiếng của Nam Triều Tiên. “Thật tuyệt vời khi trở thành một nhân vật tiêu biểu cho những người đào tị”, cô tâm sự với một nụ cười thân mật. “Họ tới nước này để được sống một cuộc sống tốt đẹp, cho nên họ cũng cần có một lý do để vui mừng”.

Cuộc sống khắc nghiệt ngay cả ở Nam Triều Tiên

Khoảng 20.000 người đào tị đang sống ở Nam Triều Tiên thường phải vật lộn để thích nghi với cuộc sống ở đây. Chính phủ đưa ra một chương trình điều chỉnh về văn hóa trong hai hoặc ba tháng, song trong một cuộc khảo sát năm 2006, hơn phân nửa số người đào tị cho biết họ không có việc làm và cảm thấy “bị phân biệt đối xử”.

Thành kiến đối với di dân Bắc Triều Tiên càng trở nên xấu hơn trong những năm gần đây, khi quan hệ giữa hai nước tồi tệ hơn, một phần do các vụ thử hạt nhân của Bắc Triều Tiên năm 2006 và 2009, theo Yoon In-jin, một nhà xã hội học thuộc trường Đại học Hàn Quốc và là tác giả của cuốn “Những người di cư Bắc Triều Tiên”.

“Dân Nam Triều Tiên có những ký ức không hay về việc đưa ra những trợ giúp hào phóng cho Bắc Triều Tiên”, ông giải thích. “Mối quan hệ xấu đi [giữa Bắc và Nam] làm cho nhiều người Nam Triều Tiên cảm thấy ít hào phóng và khoan dung hơn, và điều này đã làm cho công luận có cái nhìn xấu đi đối với những người đào tị”.

Sau năm 2000, số lượng người Bắc Triều Tiên định cư ở Nam Triều Tiên đã gia tăng nhanh chóng do nạn đói, hình thành một nhận thức rằng họ đang là một gánh nặng tài chính lớn hơn cho ngân sách các dịch vụ công cộng.

“Người Nam Triều Tiên bắt đầu có những thái độ tiêu cực về những người đào tị này”, Giáo sư Yoon nói tiếp. “Họ đặt nghi vấn về chính sách hào phóng của chính phủ trợ giúp người đào tị”.

Ông cho biết, cho tới năm 2005, chính phủ đã chi cho những người đào tị khoảng 1.500 đô la một tháng, một căn hộ, và đào tạo nghề, nhưng dưới sức ép chính trị, sự trợ giúp đó đã bị giảm xuống còn 700 đô la một tháng.

Ông Kim, người đã đến Nam Triều Tiên năm 2007 sau khi trải qua một năm ở Mông Cổ, nhớ lại ông đã phải khó khăn như thế nào để điều chỉnh cuộc sống hối hả ở đây. Ông nhớ lại: “Tôi rất sợ người Nam Triều Tiên nghĩ gì về tôi. Tôi sợ phải nói với họ tôi đến từ đâu”.

Cho những người đào tị một lý do để cổ vũ

Đối với ông và những người khác, xem Choi thi đấu là để giải thoát khỏi những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày.

“Cô ấy thật tuyệt vời!” theo nhận xét của ông Choi Kyung-jun, một giám đốc phong trào Đoàn kết của những Trí thức Bắc Triều Tiên, một tổ chức của những người đào tị ở Seoul, cũng đang sử dụng bí danh [thay cho tên thật của ông]. “Cô ấy còn quá trẻ, và cô đã vượt qua được quá nhiều để đạt được danh tiếng của mình. Cô ấy là một nhân vật tiêu biểu cho tất cả chúng tôi”.

Những người hâm mộ kể, mỗi năm, sự thành công của Choi lại có vẻ như vang xa hơn trên thế giới. Vào tháng tư, cô sẽ so găng với Claudia Andrea Lopez của Argentina để một lần nữa bảo vệ danh hiệu vô địch lần thứ hai, sau khi đánh bại Tsubasa Tenku của Nhật Bản tháng 11 năm ngoái.

Choi hy vọng cuối cùng mình sẽ giành được tất cả năm danh hiệu vô địch thế giới, một kỳ công mà ít có võ sĩ quyền anh nào sánh được.

Choi nghĩ là cô cũng có thể truyền cảm hứng cho những người hâm mộ mình theo cách khác. Nhà vô đich đang chuẩn bị cho một thách thức thứ hai sẽ bắt đầu vào tháng ba: học về khoa học thể thao tại một trường đại học ở Seoul.

“Tôi biết mình không thể là một võ sĩ mãi mãi”. Choi nói. “Thế nhưng tôi có thể luôn luôn truyền cảm hứng theo những cách khác”.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , | 1 Comment »

476. Bữa tiệc sinh nhật quá cỡ dành cho Kim Chính Nhật

Đăng bởi anhbasam on 18/02/2010

Los Angeles Times

Bắc Triều Tiên tổ chức một bữa tiệc sinh nhật

quá cỡ dành cho Kim Chính Nhật

Khi đất nước chào mừng nhà lãnh đạo và là ‘vị chỉ huy sáng ngời vô song’ của mình, thì ở thế giới bên ngoài người ta đặt nghi vấn về tình trạng sức khỏe của Kim, nghi ngại về tuổi thọ của ông ta.

Sinh nhật Kim Nhật Thành được chào mừng bằng một lễ hội trượt băng quốc tế tại Bình Nhưỡng (Yonhap / EPA / Ngày 16-2-2010)

John M. Glionna

Ngày 16-2-2010


Tường trình từ Seoul – Một bữa tiệc dâng hiến [cho một người] tương xứng với một vị hoàng tử: có những diễn viên múa, những ca sĩ và các vận động viên bơi nghệ thuật, không phải để nhắc tới những chức sắc vô danh ở nước ngoài – tất cả để chào mừng sinh nhật lần thứ 68, nhằm vào ngày thứ Ba, của Kim Chính Nhật, “Lãnh tụ Kính yêu” của Bắc Triều Tiên.

Tại Bình Nhưỡng, các phương tiện truyền thông đều là của nhà nước đã tán dương người anh hùng dân tộc “được toàn nhân loại ngợi ca là nhà chính trị lão luyện nổi tiếng nhất và là vị chỉ huy sáng ngời vô song của thời hiện đại”.

Tuy nhiên, bên ngoài đất nước biệt lập này, đưa tin về sự kiện trọng đại của ông Kim không quan trọng bằng việc các nhà phân tích đặt dấu hỏi về tình trạng sức khỏe thể xác và tinh thần của ông ta theo sau nghi ngờ ông bị đột quỵ vào năm 2008.

Trong một bài báo phát hành tại Nam Triều Tiên tháng này, một nhà phân tích kỳ cựu đã viết rằng nhiều quan chức Bắc Triều Tiên không tin là Kim sẽ sống được thêm năm năm nữa.

Cheong Seong-chang, một nhà phân tích kỳ cựu thuộc nhóm cố vấn của Viện nghiên cứu tư nhân Sejong, cho là ông Kim phải trải qua đều đặn các ca lọc máu do biến chứng từ căn bệnh tiểu đường.

Trích dẫn thông tin mà bài báo đã nhắc lại những nguồn đáng tin cậy, Cheong viết rằng ông Kim đã bị bệnh trầm cảm và bất ổn về tâm lý.

“Được biết là không giống như trong quá khứ, Kim Chính Nhật có lúc đã phải rơm rớm nước mắt khi các vệ sĩ ở bên ông ta,” theo bài báo trên cho biết.

Cheong nói là tình trạng sức khỏe suy nhược của Kim đã thúc đẩy ông ta tìm một người kế vị. Những lời đồn đoán vẫn khăng khăng là năm ngoái Kim đã chỉ định người con trai thứ ba của mình là Kim Chính Vân, làm người kế vị mình.

Một chuyên gia tình báo ẩn danh Nam Triều Tiên nói với Hãng thông tấn AP (Associated Press) rằng Kim đã từ bỏ y học phương Tây để đổi lấy các phương pháp điều trị tốn kém, khó tìm như mật gấu, sừng tê giác và xạ hương – phần lớn được nhập khẩu từ Trung Quốc.

Nhưng Kim vẫn còn đi lại được. Truyền thông chính phủ thường công bố những tấm ảnh không ghi ngày tháng khi ông ta đi kiểm tra các nhà máy và các doanh trại quân đội.

“Kim Chính Nhật có vẻ như đang làm tốt công việc quản lý. Ông ta đang làm việc nhắm tới các mối quan hệ đối ngoại và ra ngoài để chỉ đạo”, ông Yang Moo-jin, một giáo sư tại Đại học Nghiên cứu về  Bắc Triều Tiên ở Seoul nói. “Và dường như ông ta sẽ sớm thăm Trung Quốc”.

Bắc Triều Tiên gần đây đã hoàn tất một thỏa thuận đầu tư với Trung Quốc, bằng một nửa sản lượng của nền kinh tế hàng năm của ước này, theo tin từ hãng tin Yonhap của Seoul.

Trong khi đó, Bình Nhưỡng đã tổ chức một bữa tiệc vào ngày được xem là ngày lễ sầu thảm nhất của đất nước Bắc Triều Tiên.

Trình diễn trước những vị khách nước ngoài vô danh, các diễn viên bơi nghệ thuật  ”mô tả vẻ đẹp của những bông hoa phủ đầy sương giá mang theo niềm tôn kính vô bờ bến” đối với ông Kim khi họ bơi theo các giai điệu dân tộc của Bắc Triều Tiên như là “Hãy gặp nhau trên mặt trận” và “Hãy để những người lính là những anh hùng”, theo truyền thông nhà nước cho hay.

Đoàn Thanh niên Xã hội của đất nước cũng đã trình diễn các bài ca trong đó có bài “Tiếng sét trên đỉnh Nhật Thành .”

“Có các lễ hội ở các thành phố và các tỉnh, bao gồm nhiều trò chơi thể thao, trình diễn, bồng súng và các cuộc thi, nhằm đề cao tình đoàn kết của người dân Bắc Triều Tiên “, ông Yang nói. “Tất cả mọi thứ là nhắm tới việc làm nổi bật con người Kim Chính Nhật.”

Nhưng cũng có sự rạn nứt trong hoạt động tuyên truyền dữ dội đó.

Trong những tháng gần, đây Bắc Triều Tiên bị bao vây bởi tình trạng thiếu tiền mặt và ngay cả sự bất ổn nội bộ theo sau lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc và một quyết định sai lầm khi hạ giá tiền tệ và việc này đã đưa nền kinh tế èo uột gần như đi tới chỗ bế tắc.

Bản thông báo của Thông tấn xã Trung ương Bắc Triều Tiên cho biết rằng, tất cả trẻ em trên đất nước thường nhận được quà tặng từ Kim để kỷ niệm sinh nhật của ông.

Nhưng không phải trong năm nay.

Hãng thông tấn này viện dẫn “điều kiện khí hậu bất thường” và “các tuyến đường biển bị chặn ” để giải thích lý do tại sao điều đó đã không xảy ra trong năm nay.

Tuy nhiên, Nhà Lãnh đạo Yêu quý vẫn được tán dương: “Những món quà được vận chuyển bằng máy bay trực thăng cho một số ít trẻ em,” tin tức cho hay, “một biện pháp được ông Kim Chính Nhật đưa ra.”


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , | 13 phản hồi »

454. Berlin phục hồi những công trình kỷ niệm từng bị chối bỏ

Đăng bởi anhbasam on 28/01/2010

SPIEGEL

‘Chào Lenin’

Berlin hướng tới phục hồi những

công trình kỷ niệm từng bị chối bỏ

David Crossland

Ngày 26-1-2010

Trong một dấu hiệu cho thấy thời gian đang làm lành lại những vết thương của Berlin như thế nào, thành phố này đã lên kế hoạch đào lên lại bức tượng khổng lồ của Lenin mà họ đã chôn vùi kỹ lưỡng vào năm 1991 và đặt nó trong một khu bảo tàng mới giành cho những pho tượng bị thất sủng. Những công trình sẽ được mở rộng qua các thời cộng sản và Đức Quốc xã và quay ngược trở lại tới các nhân vật từ thời nước Phổ.

Chỉ hai năm sau sự sụp đổ của Bức tường [Berlin], vào năm 1991, Berlin đã giật đổ pho tượng Lenin lớn nhất thành phố này, một bức tượng to khủng khiếp, cao 19 mét. Hành động loại bỏ đó đã tượng trưng cho cuộc trốn chạy tuyệt vọng của Berlin nhằm tự giải thoát khỏi tất cả những ký ức về quá khứ cộng sản của mình, và đã được đề cao trong bộ phim mang lại thành công có tựa đề “Goodbye Lenin”.

Trong một dấu hiệu mà Berlin có được kể từ khi họ có một cái nhìn vô tư hơn về lịch sử của mình, cái đầu nặng 3,5 tấn, bị chôn vùi trong một hố cát ở ngoại vi thành phố, sẽ được khai quật và đặt vào một khu triển lãm cố định cùng với rất nhiều pho tượng đồ sộ khác từ thời Chiến tranh Lạnh.

Những pho tượng của các nhân vật thuộc chủng tộc Aryan được lý tưởng hóa từ thời Đức Quốc xã cũng sẽ được đem ra trưng bày, cùng với các đài tưởng niệm các vị tướng từ hồi thế kỷ 18, thoát ra sự quyền uy và quân phiệt của nước Phổ.

“Một quãng thời gian nào đó đã đi qua trước khi người dân có thể có một cách tiếp cận cởi mở hơn đối với lịch sử”, Andrea Theissen, người đứng đầu dự án nhận định, khi trao đổi với trang SPIEGEL ONLINE. “Triển lãm là một phương cách kỳ diệu để miêu tả sinh động về việc các tượng đài lịch sử đã được đối xử như thế nào. Nó là đặc trưng cho lịch sử hỗn loạn của Berlin mà chẳng còn gì ở lại nơi mà nó đã từng được dựng lên”.

Bị ô uế bởi lịch sử

Các thành phố khác đã đi đầu trong việc phục hồi những tượng đài không cần đến nữa từng bị lịch sử làm hư hỏng, mặc dù chỉ nằm trong những công viên ngoài trời tựa như những bãi tha ma của chủ nghĩa cộng sản. Thành phố Budapest có công viên Statue Park để lưu giữ những bức tượng có phong cách khoa trương của Lenin và Karl Marx cũng như những nhà lãnh đạo cộng sản Hungari. Thủ đô Moscow có công viên Fallen Monument Park, nơi đó có tất cả các nhân vật nổi tiếng hàng đầu.

Berlin dường như đã quyết định rằng sau hàng thập kỷ mỏi mòn ở dưới đất hoặc bị bụi bám dưới các hầm mộ đã bị quên lãng, những tượng đài bị chối bỏ này chịu đựng như thế là quá đủ.

100 bức tượng sẽ được đưa ra trưng bày tại Spandau Citadel, một pháo đài được xây dựng từ thời Phục hưng tại quận Spandau của Berlin, vào năm 2013. Cuộc triển lãm sẽ được gọi với cái tên là “Hé mở. Berlin và những tượng đài của mình”. Hai gian phòng lớn cùng với những trần nhà cao chín mét đang được chuẩn bị cho các vật trưng bài  từng được tôn vinh trong lịch sử.

“Không phải là một nơi thờ phụng”

“Nơi này sẽ không phải là một chốn thờ phụng”, theo lời ông Theissen. “Nó là nơi để giải thích và thách thức tệ sùng bái đối với các đài tưởng niệm”.

Một số bức tượng sẽ đến từ những căn hầm trong bảo tàng German Historical Museum và cơ quan bảo vệ các tượng đài trong khu vực. Các bức tượng khác ví như một bức tượng đá hoa cương của Vua Phổ Friedrich Wilhem III và Nữ hoàng Luise đã có sẵn tại Citadel và đang được chuẩn bị cho việc trùng tu. Một số đã bị hư hỏng trong Thế chiến thứ Hai và những vết sẹo của chúng sẽ được bảo quản như là bằng chứng thêm nữa cho lịch sử hỗn loạn của nước Đức.

Cuộc triển lãm cũng sẽ trưng bày một nhóm 16 bức tượng lớn của các vị công tước, nhà vua và các hoàng đế từng được dựng ở công viên Tiergarten của Berlin năm 1901 dưới thời Hoàng đế Wilhelm II. Chúng đã bị quân Đồng minh dời đi sau Thế chiến thứ Hai.

Một trong những bức tượng thời Đức Quốc xã sẽ được đem trưng bày là tượng “Decathlete”(Vận động viên mười môn phối hợp) của nhà điêu khắc Arno Breker. Gerhard Hanke, thành viên hội đồng quận Spandau phụ trách các hoạt động văn hóa, đã nói: “Cuộc triển lãm sẽ thu hút sự quan tâm quốc tế”.


Hiệu đính: NM

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , | 1 Comment »

421. Tình trạng ốm yếu của nhà độc tài Cuba 84 tuổi Fidel Castro

Đăng bởi anhbasam on 05/01/2010

Daily Mail

Tình trạng ốm yếu của nhà độc tài Cuba 84 tuổi Fidel Castro

đã lộ ra trong những bức ảnh hiếm hoi cùng với bà Dalia vợ ông

Ban Đối ngoại, Daily Mail

Ngày 5-1-2010


Người ta nói là phía sau mỗi người đàn ông vĩ đại là một người đàn bà vĩ đại, song người trợ giúp số 1 của Fidel Castro đã được nhìn thấy thậm chí còn ít hơn cả nhà lãnh đạo đang ốm yếu của Cuba trong những lần gần đây.

Tuy nhiên, Dalia Soto del Valle, người ít hơn ông 20 tuổi, đã xuất hiện trong một số bức ảnh mới thấy tối qua, làm rõ nét thêm thần tượng 84 tuổi này.

Ortega (thứ hai-trái) và vợ ông Rosario Murillo (phải) đứng cạnh Castro (thứ hai-phải) và vợ ông Dalia Soto del Valle trong chuyến thăm Havana

Các bức ảnh cho thấy cuộc gặp gỡ mà ông tổ chức tại Havana năm ngoái cùng với Tổng thống Nicaragua Daniel Ortega.

12 bức ảnh màu đã được đưa lên mạng tối qua bởi El 19, La Voz del Sandinismo và Chủ tịch El Pueblo, là những trang web có những mối quan hệ gần gũi với đảng cánh tả của Ortega, đảng Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandinista.

Dalia Soto del Valle là một cựu giáo chức từ thành phố miền trung-nam của Trinidad, từng gặp Castro trong những cuộc vận động xóa nạn mù chữ từ thập niên 1960, theo lời Fuentes, một thành viên của những nhóm đầu não của Cuba từng gặp bà vài lần trước khi ông này đào ngũ năm 1994.

Giờ đây ở tuổi 60, bà được đánh giá là người sôi nổi, song cũng khô khan như bản thân Castro, lo toan những công việc trong gia đình ông và chưa bao giờ tham gia vào những hoạt động công khai của ông, Fuetes, người hiện sống ở Miami cho biết.

Những người con trai của họ với độ tuổi từ 25 là Angel, đang học ngành y, cho tới 30, là Alex, một giám đốc hệ thống máy tính. Antonio đang học để trở thành một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình, và Alejandro với Alexis là những lập trình viên máy tính.

Nhà cựu lãnh tụ Cuba Fidel Castro (giữa) gặp gỡ Chủ tịch Nicaragua Daniel Ortega (thứ hai,phải), vợ ông Ortega Rosario Murillo (phải), em trai ông, Chủ tịch Cuba Raul Castro (thứ hai, trái), và Ngoại trưởng Cuba Bruno Rodriguez (trái) tại Havana

Họ đều dùng họ là Castro Soto del Valle, và tên thánh của họ đều được xuất phát từ biệt hiệu mà Castro đã chấp nhận trong thời gian diễn ra cuộc cách mạng vào những năm 1950 – là Alejandro, để ngưỡng mộ những chiến thắng quân sự của Alexander Đại đế.

Đây là lần đầu tiên Castro 84 tuổi xuất hiện trong một chiếc xe lăn kể từ khi ông phải phẫu thuật cấp cứu năm 2006.

Báo chí Cuba đã đưa tin về những cuộc gặp giữa Ortega và Castro năm ngoái.

Một đoạn chú thích ngắn được đưa lên cùng những bức ảnh trên cả ba trang web cho biết những cú bấm máy được thực hiện trong giời gian diễn ra hai chuyến viếng thăm của ông Ortega tới Cuba vào tháng Tư và tháng Mười hai, song không ghi rõ họ gặp nhau mấy lần.

Từ những bộ quần áo mà họ mặc, có vẻ như những bức ảnh này được chụp trong thời gian diễn ra ba cuộc gặp.

Năm bức ảnh cho thấy Castro đang ngồi trên một vật trông như một chiếc xe lăn có điều khiển, với bốn bánh nhỏ và một cái tựa đầu ở trên cao.

Chủ tịch Nicaragua Daniel Ortega (phải) tổ chức cuộc họp mặt với ông Castro và Chủ tịch Cuba Raul Castro: đây là lần đầu tiên ông Castro xuất hiện trong một chiếc xe lăn

Trong bảy bức ảnh chụp nhanh, ông ngồi ở phía trước một cái bàn loại được dùng trong bệnh viện.

Những bức ảnh khác cho thấy ông đang nói chuyện với ông Orrega ngoài trời, phía sau dường như là một chiếc xe tải, với những cánh cửa sau mở và một tay vịn kim loại dẫn vào trong xe.

Những bức ảnh kia cũng cho thấy vợ Castro và vợ Ortega, Rosario Murillo, cùng người em trai của Fidel là Raúl và Ngoại trưởng Cuba Bruno Rodríguez.


Hiệu đính: N.T.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ông Ortega (phải) đang chuyện trò với ông Castro (trái) trong khi bà Dalia Soto del Valle vợ ông (giữa), đang mỉm cười: Nhà cựu độc tài có vẻ như đang lên một chiếc xe cứu thương

Những nhà cựu cách mạng từng có những mối bang giao tốt đẹp trong nhiều năm qua. Ông Castro đã cung cấp sự trợ giúp cho ông Ortega trong suốt thời gian diễn ra cuộc nội chiến Nicaragua vào những năm 1980.

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Quốc tế | 6 phản hồi »

363. Cần luận thuyết thích hợp cho Việt Nam phát triển mạnh

Đăng bởi anhbasam on 16/11/2009

Tuần Việt Nam

Cần luận thuyết thích hợp cho

Việt Nam phát triển mạnh

Tác giả: Trường Giang *

Thứ Hai, ngày 16-11-2009

Bước sang thế kỷ mới, thực tiễn đã vượt lên, chúng ta có trách nhiệm phải nhận thức lại, tìm hiểu nghiên cứu, rút ra những cái mới từ thực tiễn hiện đại; điều chỉnh bổ sung cho lý thuyết kinh điển phù hợp với hoàn cảnh đương đại.

LTS: Nhân dịp Ban Tuyên giáo Trung ương mở cuộc vận động tìm chủ thuyết phát triển cho đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, CTV Trường Giang gửi bài viết hưởng ứng. Để tôn trọng tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết thể hiện quan điểm riêng của ông. Mời độc giả cùng thảo luận.


Đảng ta ngay trong những ngày đầu thành lập đã chọn một học thuyết làm ngọn cờ lý luận cho hoạt động cách mạng của mình: học thuyết Mác – Ăng ghen. Chúng ta đã thực hiện học thuyết Mác thành công trong những bước đi ban đầu theo tinh thần vận dụng sáng tạo của Lê nin. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh của chúng ta đã tinh tường hiểu được tinh thần chống áp bức bóc lột, mang lại tự do cơm áo cho người lao động của Mác, đã nhanh chóng nắm bắt thấm nhuần cương lĩnh giải phóng dân tộc thuộc địa của Lê Nin, đã cùng Đảng dẫn dắt toàn dân đứng dậy, phá tan xiềng gông của thực dân Pháp, phát xít Nhật, bè lũ phong kiến phản động và chống lại thắng lợi cả bọn đế quốc Mỹ xâm lược sau này.

Công cuộc đấu tranh, giành độc lập tự do của nhân dân Việt Nam đã trở thành một tấm gương chói sáng, góp phần tích cực động viên các dân tộc thuộc địa ở các châu lục vùng lên tự giải phóng mình. Bản đồ thế giới đã được vẽ lại với nhiều thay đổi sáng sủa. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao rõ rệt.

Nhưng đáng tiếc, dường như chúng ta chưa hiểu thật đầy đủ ý tưởng của Mác, Ăng ghen – hai học giả vĩ đại của thế kỷ 19. Và đặc biệt khi bước sang những thập niên cuối thế kỷ 20, thực tiễn đã có nhiều biến đổi lớn, nhất là về kinh tế, khoa học – công nghệ, các mối quan hệ xã hội, bang giao quốc tế…, công việc nghiên cứu lý luận của ta vẫn chìm đắm trong chiều hướng triển khai, hiện thực hoá những chuẩn mực có sẵn trong học thuyết kinh điển của thế kỷ 19 mà chưa mạnh dạn nghiên cứu cái mới của của hiện tại để xây dựng những chuẩn mực mới, điều chỉnh, bổ sung, thậm chí xoá bỏ những chuẩn mực cũ đã lỗi thời, lạc hậu. Thỉnh thoảng, một vài cán bộ quản lý vẫn còn lớn tiếng phê phán những nghiên cứu trái với chiều hướng suy nghĩ truyền thống hoặc phân tích khác với lý thuyết kinh điển.

Mác viết bộ Tư bản (le Capital) tập 1thời còn trẻ. Nội dung bộ sách này đến với ta sớm và được khai thác phát huy mạnh mẽ. Nhưng dù sao, bộ sách đó (Tư bản tập 1) cũng mới chỉ là những suy nghĩ bước đầu về chủ nghyĩa tư bản khi Mác – Ăng ghen chỉ mới biết đến 3 nước tư bản Đức, Pháp, Anh trong thời kỳ sơ khai của chủ nghĩa Tư bản và cũng chỉ mới qua cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.

Đến sau này, khi nhiều tuổi, có một số điều kiện thuận lợi, Mác có đi rộng ra một số nơi (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ…), tiếp xúc mới một số tập đoàn tư bản, một số học giả lớn, đọc sách của Hê ghen, Saint Simon, Aritstote, Khổng Tư, Nho giáo, Phật giáo thấy rõ vai trò của khoa học công nghệ, Mác có thêm cơ sở thực tế và lý luận để tư duy sâu sắc và chính xác hơn về chân dung chủ nghĩa Tư bản và cuộc cách mạng vô sản. Mác đã tự phủ định một số ý kiến đã viết hoặc phát biểu trong thời trẻ của mình. Song thời kỳ này, Mác đã già yếu và cũng nghèo hơn, Ăng ghen cũng khong còn giúp được nhiều như trước vì bà vợ cũng kinh doanh thua lỗ. Do vậy, Mác, Ăng ghen không tự in ấn phát hành sách được như tập 1 bộ Tư bản; tập 2, 3 cũng chỉ còn ở dạng bản thảo chưa hoàn chỉnh, Mác chỉ tranh thủ viết báo, phát biểu tại một số diễn đàn, đặc biệt tranh luận ở câu lạc bộ Pruđông… Tất cả những tài liệu này nằm lang thang ở các nước châu Âu, chỉ đến Việt Nam bằng sự ghi chép vào sổ tay của một số người ham hiểu biết.

Về già, Mác và cả Ăng ghen đã đặt lại những vấn đề khá cơ bản như nhấn mạnh quyền tự do cá nhân (ngay trong tuyên ngôn đảng cộng sản, bản thảo thứ nhất, thứ hai, Mác đều ghi bằng chữ đậm: “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho phát triển tự do của cộng đồng”, chứng tỏ Mác rất coi trọng tự do cá nhân. Ý này Mác đã phát biểu rất nhất quán tại câu lạc bộ Pruđông nhiều lần. Từ đó, ta có thể khẳng định Mác từ sau 1860, không hề có tư tưởng xây dựng một chế độ thủ tiêu hoàn toàn mọi quyền cá nhân. Phải chăng ở đây có sự hiểu lầm khi truyền bá lại hay dịch sai từ Community của Mác. Điều này dẫn chúng ta đến một số sai lầm thu hẹp quyền sở hữu cá nhân, quyền tự do cá nhân lúc này nơi này, lúc khác nơi khác.

Nói về chuyên chính vô sản, nói về phương thức đấu tranh, thời trẻ, Mác và Ăng ghen thường hay nói đến bạo lực, coi đó là phương thức duy nhất, là bà đỡ của lịch sử nhưng đến thời già, cả Mác và Ăng ghen đều suy nghĩ lại và khẳng định chủ yếu là bằng hoà bình, giai cấp công nhân mà đại diện là đảng cộng sản sẽ thắng do sự gương mẫu và tư tưởng tiên tiến của mình. Đây là một sự chuyển biến về tư tưởng cách mạng của 2 vị.

Về quyết định luận kinh tế mà thời trẻ, Mác và Ăng ghen hay nói, cho rằng kinh tế là quyết định tất cả, hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc, vật chất quyết định tinh thần…. thì khi về già, 2 ông đã tự phủ định. Ăng ghen nói : “xét đến cùng mới là kinh tế”. Ý nói cứ giành chính quyền, xây dựng thượng tầng kiến trúc, xác định chính thể, rồi sẽ định hướng xây dựng kinh tế. Nếu xem kinh tế là nền móng thì phải biết cái toà lầu bên trên gồm có mấy tầng, cấu trúc như thế nào thì mới tính được kết cấu nền móng. Tinh thần, có khi tác động rất lớn đến vật chất. Mác đồng tình với Hê ghen luận điểm này. Đây cũng là một thay đổi lớn trong cách nhìn nhận sự vật về sự tương quan của chúng. Ý tưởng đó của 2 ông cũng chưa đến Việt Nam.

Đặc biệt, trong những tháng ngày cuối đời, khi thấy sức khoẻ của mình đã sút kém nhiều, Mác đã phát biểu nhắn nhe lại với những người trong phong trào cộng sản một cách thiết tha, rằng những điều ông dự đoán cho một xã hội sau chủ nghĩa tư bản là những điều có thể xảy ra chứ không phải là những điều tất yếu phải xảy ra. Và thật buồn, nếu có ai đó sau này cứ lắp lại y nguyên những điều trong sách hay tài liệu để lại của ông.

Chính chúng ta không thấm nhuần tinh thần này nên đã không coi trọng nghiên cứu cái mới trong thực tiễn hiện nay để xem xét lại những chuẩn mực trong các luận thuyết kinh điển. Rõ ràng thực tiễn mới đã vượt lên, không ít những vấn đề trong học thuyết Mác cần phải được điều chỉnh, bổ sung.

Mác khẳng định mâu thuẫn giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội, thúc đẩy sự vận động của lịch sử. Mác phân tích giai cấp Tư bản (những ông chủ) bóc lột đến tận xương tuỷ giai cấp vô sản (những người làm thuê) nên bùng nổ thường xuyên cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt. Chính giai cấp vô sản là tác nhân lịch sử, là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa Tư bản. Mác phân tích Tư bản bóc lột công nhân, tích luỹ tư bản chủ yếu là thu lợi nhuận từ thặng dư giá trị tức là phần lao độngd ư thừa không được hưởng tiền công của người lao động. Tầng lớp chủ ngày càng giàu lên và người làm thuê ngày càng nghèo đói; mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc; do đó cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, mạnh mẽ dẫn đến cuộc cách mạng vô sản.

Thực tế ngày nay, sự chênh lệch giàu nghèo giữa chủ và thợ vẫn còn nhưng mối quan hệ giữa chủ và thợ không căng thẳng như ngày xưa. Nhiều ông bà chủ cũng biết rút kinh nghiệm, điều chỉnh thái độ và chính sách quyền lợi đối với thợ thuyền. Ở một số nước, trong thợ thuyền, có một số người giàu lên, có xe hơi, có nhà tầng, có tiền mua cổ phiếu khá nhiều, trở thành cổ đôn lớn, tham gia và Hội động quản trị nhà máy hoặc công ty. Phần tích luỹ của chủ từ cái mà Mác gọi là thặng dư giá trị không đáng là bao so với phâầnlợi lộc từ sự cải tiến tổ chức sản xuất, cung cách quản lý, áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, sử dụng công nghệ tiên tiến…. Tính hợp tác thân thiện giữa chủ và thợ gnày càng tăng. Mâu thuẫn giữa chủ với thợ và cuộc đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn đó vẫn còn nhưng không thành một cuộc chiến diệt nhau, dẫn đến một cuộc cách mạng bằng bạo lực, chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Chính khoa học, công nghệ đang phát triển gia tốc, ngày càng đóng vai trò động lực chủ yếu thúc đẩy mọi sự phát triển xã hội, thúc đẩy sự vận động của lịch sử. Cái mới này trong thực tiễn đang sáng rực lên như một viên ngọc thời đại. Không khái quát, đúc kết nó thành một quy luật mới, xoá bỏ nhận thức cũ đã lỗi thời là có tội với lịch sử.

Có một vấn đề mà Mác nhắc đến như một sản phẩm của chủ nghĩa Tư bản và sẽ chấm dứt, bị chôn vùi cùng với chủ nghĩa Tư bản bằng cuộc cách mạng vô sản là kinh tế thị trường. Không, thực tiễn mới cho thẩy sức sống bền vững của nền kinh tế thị trường. Nó là sản phẩm của lịch sử đương đại, nó đang trở thành một dòng chảy mạnh tạo đà cho lịch sử phát triển, gia tốc, tạo môi trường cho hàng hoá, của cái vật chất ngày càng dồi dao, phong phú, đưa nhân loại đến một thế giới văn minh, phồn thịnh. Nó không thể bị chấm dứt. Chủ nghĩa tư bản cũng không phải đang giãy chết. Nó đang tự biến đổi mình, thích hợp dần với tính chất của thời đại. Tên của chính thể, tê của chủ nghĩa không còn là sự quan tâm nhiều của mọi người. Mục tiêu xã hội, nội dung cuộc sống (giàu mạnh, văn minh, độc lập, tự do, dân chủ) mới là sự lựa chọn thực sự của nhân loại tiến bộ, của lương tri con người. Đó là một nhận thức mới, một bài học thời đại. Thực tiễn mới không cho phép ta nuôi giữ những quan niệm cũ đã trở thành lạc hậu.

Mác đã từng tiên đoán, thế giới cuối cùng đều đi đến chủ nghĩa cộng sản. Mác tư duy theo 5 hình thái kinh tế xã hội, theo quy luật tất định. Nhưng thực tế ngày nay, với sự phát triển phi thường của khoa học kỹ thuật, với sự sáng tạo phi thường của con người, với sự biến đổi đa dạng, nhanh chóng, bất ngờ của thiên nhiên mà con người không thể kiểm soát hết được thì quy luật tát định không còn là nhận thức hiện đại. Hiện nay ta không có thể khẳng định được chủ nghĩa cuối cùng của loài người là chủ nghĩa gì. Trí óc của con người đang cố vươn tới làm chủ tương lại nhưng khẳng định là tương lai đã nằm trong tay ta là một sự ngộ nhân, là ảo tưởng.

Nói những điều trên đây là để tự kiểm điểm lại mình chứ không phải để phê phán Mác. Mác đã quá vĩ đại. Giữa giai đoạn lịch sử, con người còn mù mịt về nhận thức xã hội như thế mà Mác đã mổ xẻ phân tích chủ nghĩa tư bản được như thế là một thành tựu khai trí lớn lao đến nhường nào. Nhưng bây giờ ta nghiên cứu thực tiễn mới để kiến lập một luận thuyết mới thích hợp với thời đại, tạo điều kiện cho đất nước phát triển mạnh là trách nhiệm thiêng liên của con người có trách nhiệm với đời.

Cần xây dựng một luận thuyết hiện đại, thích hợp với Việt Nam phát triển. Đó là mệnh lệnh của thời đại. Một luận thuyết mang tính tổng hợp,kết tinh cao tri thức của nhânloại thế kỷ 21, đặc biệt là những ý tưởng triết học mới của những cái đầu tư duy thông minh, hiện đại mà hàm chứa đủ những tinh hoa còn thơm ngắt của kho tàng tư tưởng kinh điển trong quá khứ… sẽ là ngọn cờ, là kim chỉ nam hành động của toàn dân ta trên con đường đi tới tương lai. Luận thuyết đó phải bao gồm 6 nội dung lớn sau đây:

  1. Mục tiêu xã hội là xây dựng một cuộc sống giàu mạnh văn minh, dân chủ độc lập

Có người hỏi một xã hội  thực hiện được những mục tiêu ấy gọi là xã hội gì, theo chủ nghĩa gì? Tôi không quan tâm đến việc đặt tên. Mác, Ăng ghen gọi chủ nghĩa cuối cùng của loài người là chủ nghĩa cộng sản. Tôi thấy mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản mà Mác, Ăng ghen nêu lên là quá đẹp đẽ nhưng cái tên cộng sản thì tôi không thấy thể hiện đúng cái nội dung cao đẹp ấy. Một xã hội đáp ứng được mọi mong muốn của con người không nhất thiết phải cộng tất cả tài sản con người lại. Cũng đã cớngười nghi ngờ khả năng dịch thuật của các học giả châu Á thời trước. Các từ Community, communist, communisme mà Mác dùng không phải để diễn đạt ý tưởng đó. Ý cộng sản, cộng thê là ý của Ô Oen, Phua riê gán cho lý thuyết Mác để phê phán Mác.

Tôi thiết nghĩa, chúng ta chỉ cần xác định đúng mục tiêu và quyết tâm thực hiện cho kỳ được mục tiêu đó là đặt lắm, để quá nhiều thì giờ tranh cãi về cái tên thì chẳng ích gì.

  1. Tổ chức một bộ máy nhà nước pháp quyền nhân dân, một hệ thống tổ chức chính trị chặt chẽ, có năng lực hoạt động, tập hợp được rộng rãi các tầng lớp xã hội, phát huy đặc biệt giới trí thức và doanh nghiệp, coi đây là 2 lực lượng nòng cốt của xã hội hiện đại.
  2. Tập trung đẩy mạnh sản xuất bằng công nghệ cao, tăng nhanh số hàng hoá chất lượng, thực hiện kế hoạch thương mại đa phương, hoà nhập vào cuộc giao lưu quốc tế tích cực.
  3. Thiết lập một cơ chế xã hội khoa học, hợp lý, thông thoáng, phát huy được mọi tài năng, bảo đảm được sự bình đẳng, tự do chân chính của mọi công dân, bảo đảm cho hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, cho các tổ chức chính trị xã hội được hoạt động một cách chủ động độc lập theo ý nguyện của lòng dân để tạo nê sự đồng thuận xã hội cao, một quyết tâm mạnh mẽ của toàn xã hội, xoá bỏ tiêu cực, bảo vệ và xây dựng đất nước.
  4. Hết sức coi trọng xây dựng nền khoa học công nghệ hiện đại và phát triển với quy mô lớn nền giáo dục năng động, đào tạo ngày càng có hiệu quả các nguồn lực giầu sức sáng tạo, xoá bỏ nhanh chóng thực trạng tiến dích dắc của ngành khoa học công nghệ ta và thảm trạng trì trệ bảo thủ của ngành giáo dục hiện nay. Trên thực tế, không có một sự phát triển nào mà không sử dụng kết quả của giáo dục, không áp dụng khoa học, công nghệ mới. Do đó, khoa học, công nghệ và giáo dục phải luôn luôn được coi là ưu tiên hàng đầu, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận động lịch sử nhanh chóng đi tới tương lai.
  5. Xây dựng một nền kinh tế thị trường phồn thịnh, lành mạnh. Nền kinh tế thị trường là sản phẩm của lịch sử hiện đại – nó có sức sống mạnh mẽ, có giá trị trường tồn và luôn luôn biến đổi theo xu hướng thời đại và chính sách của mỗi nhà nước. Không nên quan niệm nó chỉ là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản và càng không nên coi số phận của nó chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Sức sống của nó, vú nuôi của nó là hệ thống sản xuất hàng hoá.

Nền kinh tế thị trường của chúng ta chấp nhận có cạnh tranh, thậm chí có lúc, có nơi cạnh tranh quyết liệt, mạnh mẽ nhưng tuyệt đối không tiêu diệt nhau, không có hiện tượng cá lớn nuốt cá bé, không có chuyện đấu tranh một mất một còn. Cạnh tranh ở một nền kinh tế thị trưòng lành mạnh là yếu tố kích thích phát triển, có kết hợp với hợp tác nên kết quả cuối cùng thường là dắt nhau cùng tiến, cùng lên tầng cao.

***

Tóm lại Mác, Ăng ghen, Lê nin, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường cách mạng đúng đắn. Chúng ta đã học tập và làm theo một cách tích cực, nghiêm túc. Bước sang thế kỷ mới, thực tiễn đã vượt lên, chúng ta có trách nhiệm phải nhận thức lại, tìm hiểu nghiên cứu, rút ra những cái mới từ thực tiễn hiện đại; điều chỉnh bổ sung cho lý thuyết kinh điển phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đương thời. Đây cũng là điều mong muốn của các bậc tiền bối.

Gần đây, Ban Tuyên giáo Trung ương cũng có mở cuộc vận động tìm chủ thuyết phát triển cho đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh. Hy vọng bài viết này được coi là sự hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của Đảng ta.

————

* Bài được đăng lên mấy tiếng đồng hồ, Ba Sàm điểm, biểu “nhạy cảm”, sau 2 tiếng thấy bà con la là không vô được. Vậy xin đăng lại đây phòng hờ lỡ đúng là bị gỡ xuống thiệt.

Quả tình nó là một bài viết hiếm thấy trên báo chí trong nước, nhắc nhở cần nhìn lại những thứ “giáo lý” của một thời.

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 4 phản hồi »

356. Vì sao Bức tường Berlin sụp đổ

Đăng bởi anhbasam on 10/11/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Vì sao Bức tường Berlin sụp đổ

Từ Truman cho tới Reagan, những lợi ích của sự rành rẽ về đạo lý

Ngày 9-11-2009


Trong cuộc tranh luận quanh vấn đề xem ai xứng đáng được ghi danh trong việc đã gây nên sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào đêm mùng 9 tháng Mười một năm 1989, nhiều cái tên đã hiện diện trong tâm trí mọi người, cả ở cấp cao lẫn cấp thấp.

Có Günter Schabowski, phát ngôn viên của bộ chính trị Đông Đức khi tình tình trở nên hỗn loạn, người tham gia vào một cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp vào buổi tối hôm đó với việc loan báo bất ngờ rằng những hạn chế đi du lịch của nước này đã được dỡ bỏ “ngay tức khắc”. Có Mikhail Gorbachev, người đã tuyên bố rõ rằng Liên Xô sẽ không đàn áp khốc liệt sức mạnh của nhân dân tại các nước chư hầu như nó đã từng làm trong những thập kỷ trước tại Czechoslovakia và Hungrari. Có những người anh hùng trong phong trào công đoàn Đoàn Kết Ba Lan, ít nhất là có Giáo hoàng John Paul II, người đã làm được nhiều điều để phơi bày sự phá sản hoàn toàn về đạo đức của chủ nghĩa cộng sản.

Và có Ronald Reagan, người đã tin rằng công việc của nghệ thuật quản lý nhà nước phương Tây là tập trung tài lực tinh thần, chính trị, kinh tế và quân sự để không chỉ đơn giản là ngăn chặn khối Số Viết, mà còn phải chôn vùi nó. “Những gì tôi đang mô tả lúc này là một kế hoạch và một niềm hy vọng cho dự tính lâu dài – cuộc tuần hành vì tự do và dân chủ sẽ ném chủ nghĩa Marx-Lenin vào đống tro tàn lịch sử,” ông đã tuyên bố như vậy năm 1982, trước sự ngạc nhiên và chế nhạo của những người chỉ trích mình. Giờ đây, một niềm hy vọng táo bạo.

Tất cả các nhân vật này đã đóng vai trò riêng của mình, khi họ là thế hệ những nhà lãnh đạo đi trước từng khẳng định rằng phương Tây có một bổn phận đạo lý để bảo vệ cho vùng đất tự do nhỏ nhoi lọt thỏm giữa Berlin.

Việc làm trọn bổn phận đó đã phải trả một cái giá – 71 quân nhân Anh và Mỹ đã hy sinh cuộc đời mình trong thời gian thực hiện cuộc Không vận khẩn cấp vào Berlin * – mà những nhà chính trị “thực dụng” hơn có lẽ đã từ bỏ một cách vui vẻ trước lời hứa có những mối quan hệ tốt đẹp hơn với những người Sô Viết. Không phải chỉ có một ít các tướng lĩnh trong Khối NATO đã nghĩ rằng việc bảo vệ Berlin đã làm lộ ra một cách không cần thiết các lực lượng quân sự của họ tại một vị trí không thể chống giữ được về quân sự, khi đem tới cho người Nga một cơ hội tống tiền phương Tây như họ đã từng chủ động thực hiện tại địa điểm có ý nghĩa sống còn hơn về chiến lược, đặc biệt là Cuba.

Tuy nhiên, nếu như lập trường của phương Tây ở Berlin giải thích mọi điều, thì có nghĩa là lời cam kết đạo lý có một cách gặt hái những cổ tức chiến lược vượt thời gian. Bằng cách ra lệnh tổ chức cuộc không vận khẩn cấp vào năm 1948, Harry Truman đã cứu được một thành phố đang chết đói và bất chấp hành động bắt nạt của Liên Xô. Để có ý nghĩa quan trọng, ông đã cho thấy rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Âu châu lại cho những kẻ chuyên trả thù, như nó đã từng có sau cuộc Đệ nhất Thế chiến, vì vậy mà Hoa Kỳ đã giúp mở đường cho việc thành lập khối quân sự NATO vào tháng Tư năm 1949.

Với việc giữ vững trong 40 năm qua, Truman và những người kế vị ông đã biến đổi những gì được cho là điểm yếu nhất của khối liên minh Đại Tây Dương thành thứ vững mạnh nhất của nó. Để biết về những gì mà phương Tây đã phải chịu đựng trong hầu hết quãng thời gian của những năm đó, người ta đã phải tới Berlin, nhìn thấy Bức tường, xém xét mục đích của nó, và quan sát những sự tương phản giữa khung cảnh phồn vinh đầy sức sống ở bên này thành phố với trạng thái đơn điệu buồn tẻ trong cảnh bị áp bức ở phía bên kia.

Những tương phản đó thậm chí còn rõ ràng hơn đối với những người Đức mắc kẹt lại bị giam hãm bên kia Bức tường. Dây thép gai, những khu quân sự khép kín và cỗ máy tuyên truyền cộng sản có thể giữ cho khung cảnh thịnh vượng của phía Tây không lọt vào tầm nhìn của hầu hết người dân sống bên phía đông của Bức Màn Sắt. Song điều đó không đúng đối với người dân Đông Berlin, nhiều người trong số họ chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ nhà mình là hiểu được mức độ vô nghĩa và vô đạo lý ra sao trong những lời hứa hẹn về chủ nghĩa xã hội so với thực tế của hệ thống thị trường tự do.

Tuy nhiên điều này lại nảy sinh sự khơi gợi rằng thậm chí những thực tế chính trị hiển nhiên đó lại lờ mờ khó hiểu đối với nhiều người dân từng sống trong xã hội tự do và họ cần phải được biết rõ hơn nữa. “Bất chấp những gì mà nhiều người Mỹ suy nghĩ, hầu hết người Liên Xô không thấy khát khao chủ nghĩa tư bản hay nền dân chủ theo hình mẫu phương Tây,” đó là nhận xét của Dan Rather của đài CBS chỉ hai năm trước khi Bức tường sụp đổ. Và khi Reagan đọc bài phát biểu lịch sử của ông kêu gọi ông Gorbachev hãy “kéo đổ bức tường này,” ông đã làm như vậy sau khi được các cố vấn cao cấp của mình cảnh báo rằng cách diễn đạt đó “không phải là với cương vị tổng thống,” và sau khi hàng ngàn người biểu tình đã tuần hành trên khắp phía Tây Berlin với thái độ đối lập.

Nó là một thứ tặng vật cho phẩm hạnh và quyết tâm chiến lược của Reagan, như với bất cứ ai khác từng tham dự phần mình vào việc hạ bệ Bức tường, rằng họ có thể hiểu thấu những lời lẽ ngụy biện của các tuyên truyền viên Sô Viết, những gã du khách phương Tây của họ, và những bè lũ ăn nói đạo lý lập lờ và những kẻ xã giao xảo trá và đơn giản là hãy mở to mắt mà nhìn vào Bức tường.

“Để nhìn vào những gì ngay trước mũi của mình thì cần có một nỗ lực không ngừng,” George Orwell đã từng nói. Đó là những gì mà những người anh hùng của năm 1989 đã làm một cách bình thản với lòng trung thực và can đảm trong nhiều năm liên tục cho đến, ít nhất, là khi Bức tường đổ nhào.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* The Berlin Airlift – còn được gọi là The Berlin Blockade (24 June 1948 – 12 May 1949): là chiến dịch bao vây phong tỏa Tây Berlin của Liên Xô, dẫn tới cuộc không vận khẩn cấp của Hoa Kỳ, một trong những cuộc khủng hoảng quốc tế lớn đầu tiên của Chiến tranh Lạnh (wikipedia).

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ | Tagged: | 2 phản hồi »

355. “Sự đồng thuận của Bắc Kinh” sẽ không thể kéo dài

Đăng bởi anhbasam on 09/11/2009

THE WALL STREET JOURNAL

“Sự đồng thuận của Bắc Kinh”

sẽ không thể kéo dài

Đảng chỉ mở ra con đường mới để đi tới thất bại.

GORDON G. CHANG

Ngày 8-11-2009


Tháng trước, Bắc Kinh đã bắt đầu ngăn chặn việc truy cập từ Trung Quốc vào một trang web do chính phủ Đức tài trợ nói về Bức tường Berlin. Sự sụp đổ của Chủ nghĩa Cộng sản châu Âu cuối thế kỷ qua, giờ là biểu tượng bởi việc chọc thủng thứ rào chắn đó cách đây 20 năm, dường như làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc khó chịu. Lối kiểm duyệt đã trở thành nỗi ám ảnh này cho thấy Trung Quốc có lẽ yếu kém, không phải là một siêu cường mới phất lên như nó vẫn thể hiện cho người ta thấy. Và nếu một nhà nước Trung Quốc hiện đại thực chất là yếu ớt, thì liệu chủ nghĩa Cộng sản có thể tồn tại được ở mọi nơi?

Cho đến nay, nước thành công nhất trong số năm nước Cộng sản còn sót lại [trên thế giới] là Trung Quốc. Kể từ năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình đưa ra chính sách cải cách ở Trung Quốc, sự kết hợp của nền kinh tế nửa thị trường và sự cai trị cứng rắn đã thành công tốt đẹp để nhiều người có thể nghĩ rằng nó trở thành một mô hình nhân rộng, đôi khi được gọi là Đồng thuận Bắc Kinh. Mặc dù các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thừa nhận rằng họ đang thiết lập một khuôn mẫu cho các nước khác, Cộng sản Việt Nam về cơ bản đã áp dụng cùng một công thức tăng trưởng và đã tạo nên “sự kỳ diệu” cho riêng mình. Suốt ba thập niên cải cách của Trung Quốc, đất nước này đã tăng trưởng trung bình 9.9%/ năm; trong chính sách Đổi Mới của Việt Nam, bắt đầu từ năm 1986, kinh tế đã phát triển với một con số ấn tượng là 7.1%/ năm.

Cải cách kinh tế ở hai nước thuộc khối cộng sản này, bằng nhiều cách, đã gia tăng sức mạnh cho đảng cầm quyền bằng cách tạo nên sự thịnh vượng. Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng về cơ bản chính là sự thay đổi hoàn toàn vẻ bên ngoài ở hai quốc gia này. Ví dụ như hai nước không còn “chuyên chế” nữa. Hai quốc gia này không còn quản lý từng cá nhân riêng lẻ, quyết định nơi sống hoặc làm việc của một người hoặc [cho phép] người ta dùng thời gian của mình làm việc gì. Tư hữu hoá tạo ra của cải, và của cải làm nảy sinh bản năng bảo vệ chính nó từ con người, cũng như mong muốn có được thêm nhiều của cải hơn, xung lực đó được thấy rõ ở mỗi con người, từ anh nông dân cho tới những người thuộc tầng lớp trung lưu. Cải cách kinh tế là guồng máy của sự thay đổi trong xã hội, làm cho những xã hội từng là cộng sản này mang đầy màu sắc, tươi tắn và năng động.

Chẳng khác gì một sự thách thức. Tờ bản tin China Labor Bullentin đóng tại Hồng Kông và các ấn phẩm khác cho biết năm 2008 có 127.000 “vụ xô xát lớn” xảy ra ở Trung Quốc, một sự gia tăng rõ rệt so với những năm trước. Chính phủ Việt Nam dường như cũng bị bao vây bởi xu hướng đi lên nói chung về bất đồng quan điểm. Các nhà lãnh đạo trong những xã hội cải cách cần làm cho trí nhớ mình nhạy bén hơn để nghĩ tới Tocqueville, người từng lưu ý rằng nông dân trong thời kỳ tiền Cách mạng Pháp đã tỏ ra ghê tởm chế độ phong kiến hơn cả những nông dân khác đang sống trong điều kiện tồi tệ hơn ở châu Âu. Sự bất mãn dâng lên cao nhất ở nhiều vùng trên đất nước Pháp, nơi đã có nhiều thay đổi tiến bộ nhất. Hơn nữa, Cách mạng Pháp theo sau là một mức cải thiện tình hình kinh tế rất nhanh. Các lãnh đạo Cộng Sản chớ nền tìm nguồn an ủi từ thực tế rằng Tocqueville khi đó đang viết về thế kỷ 18 ở Pháp. Chúng ta thấy cũng xu hướng này đã diễn ra vào cuối thế kỷ 20 ở Thái Lan, Nam Hàn và Đài Loan, tất cả đều đến từ các chính phủ độc tài.

Các lãnh tụ cộng sản cao cấp giờ đây đang phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan cho tất cả những kẻ độc đoán chuyên quyền đang tiến hành cải: sự thành công về kinh tế gây nguy hiểm cho việc tiếp tục cầm quyền của họ. Họ có thể cố mạnh tay hơn – chiến thuật được Hồ Cẩm Đào ủng hộ – nhưng họ sẽ bị thất bại. “Chẳng ai còn sợ chính phủ nữa cả”, một thương gia nổi tiếng ở Thượng Hải đã nói với tôi vào mùa xuân này. Và người dân Trung Quốc không chỉ mất cảm giác sợ hãi. Có lẽ xu hướng thú vị nhất ở Trung Quốc là sự liên tục chế nhạo các lãnh tụ của họ trên internet và trong các câu chuyện hàng ngày. Vì cách phát âm của từ “con cua đồng” tương tự như từ “hài hoà” trong cuộc vận động gần đây nhất Đảng, tên là “xã hội hài hoà”, hình ảnh con vật đó thường đeo 3 chiếc đồng hồ trên cổ tay – từ đồng âm của “Ba Đại diện”, một cuộc vận động được Giang Trạch Dân đưa ra – đã trở thành biểu tượng cho cả nước phản đối sự kiểm duyệt và nhằm nhạo báng hệ tư tưởng. Khi đất nước Trung Quốc chuyển động theo xu hướng tiến bộ, vị thế của bộ máy quan liệu bị suy giảm.

Điều này cũng đã xảy ra với các nhà lãnh đạo của Liên Xô, và họ đã phản ứng lại bằng cách cố buộc mình phải dính dự vào. Năm 1961, Đảng Cộng sản Liên Xô chính thức bãi bỏ khái niệm về cuộc đấu tranh giai cấp và tuyên bố nó là “đảng của tất cả mọi người”. Thú vị thay, người Trung Quốc bây giờ cũng đi theo cùng một con đường, với chính sách Ba Đại diện của Giang Trạch Dân và nguyên tắc “xã hội hài hòa” của ông Hồ [Cẩm Đào], tránh xa việc đẩy mạnh cuộc cách mạng vô sản. Tuy nhiên, những ý niệm này phụ thuộc vào khái niệm của Bắc Kinh về “thời kỳ đầu của Chủ nghĩa Xã hội”. Theo lý thuyết này, các chính sách định hướng tư bản chủ nghĩa hiện tại của Trung Quốc chỉ dự định mang lại các điều kiện để rồi dần dần – và tất yếu – sẽ dẫn tới trạng thái hoàn hảo của Chủ nghĩa Cộng sản thuần khiết.

Việc xây dựng nên hệ tư tưởng này là chuyện nực cười, thế nhưng Bắc Kinh vẫn nắm lấy ý tưởng này và những ý tưởng khác tương tự như vậy một cách nghiêm túc, tiếp thêm sinh lực cho việc truyền bá chủ nghĩa Marx tại tất cả các trường học trong những năm gần đây. Tất cả những lối bóp méo nhận thức này, mặc dù có khéo léo, cũng chỉ đơn thuần phục vụ cho tính bất hợp pháp của các đảng cầm quyền dưới con mắt người dân, những người không sử dụng các công thức lý thuyết suông. Do các ý kiến của mình bị nghi ngờ, những nhà lãnh đạo cộng sản cải cách có thể duy trì quyền lực của họ bằng cách liên tục ban phát giàu có thịnh vượng, nhưng công việc này khó khăn hơn do những thúc ép miễn cưỡng về tư tưởng.

Trung Quốc trải nghiệm sự tăng trưởng trong ba thập kỷ qua chủ yếu là do sự hình thành và phát triển thành phần kinh tế tư nhân, nhưng Đảng của Tài sản Công – một kiểu dịch theo nghĩa đen của tên Đảng Cộng sản Trung Quốc – không thể tư nhân hoá tất cả các doanh nghiệp còn lại của nhà nước. Để làm như vậy, các nhà lý thuyết lập luận rằng nó sẽ làm suy yếu trụ cột tư tưởng của một đảng cầm quyền. Đó chính là một trong những lý do tại sao việc quốc hữu hoá lại nền kinh tế là một điểm quan trọng trong kế hoạc kích thích kinh tế của Bắc Kinh đã được thông qua cách đây một năm. Chương trình như thế thích hợp với tư tưởng của Chủ nghĩa Marx, nhưng việc loại bỏ doanh nghiệp tư nhân sẽ gắn chặt với tình trạng chậm phát triển trong những năm tới.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như không lo lắng gì trước tiến trình phát triển bị đảo chiều. Sau mọi chuyện, họ chỉ trích Mikhail Gorbachev về việc cải cách quá nhanh, đó là một trong những bài học hời hợt mà họ rút ra được từ sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết. Nhưng các quan chức và các nhà lý luận Trung Quốc đã quên rằng sự thay đổi, một khi đã được bắt đầu, thì không thể lên kế hoạch, ra lệnh hoặc kiểm soát được.

Bắc Kinh rõ ràng là đi trên một lộ trình khác với Moscow trong vấn đề cải cách. Tuy nhiên, chỉ vì các nhà lý luận Trung Quốc phủ nhận chủ nghĩa Gorbachev, không có nghĩa là họ sẽ thành công. Hình như họ đang đi tiên phong trong việc sử dụng phương pháp mới để mà thất bại. Theo nhà sử học ở Harvard, Ross Terrill ghi nhận rằng, Trung Quốc có thể từ từ lái xe ra khỏi vách đá với tốc độ bình thường. Điều này đặc biệt đúng bởi vì, khi Đảng Cộng sản cố gắng trong một giai đoạn gia tăng sự kỳ vọng để làm giảm nhịp độ thay đổi, thì người dân Trung Quốc lại đang đòi hỏi nhiều hơn như thế nữa.

Hai thập kỷ trước đây, các nền kinh tế trì trệ đã giết chết hệ thống cộng sản. Thời gian sắp tới có thể là một nền kinh tế phát triển sôi động và thay đổi xã hội chưa từng thấy dẫn đến sự kết thúc của [Chủ nghĩa Cộng sản]. Đối với Chủ nghĩa Cộng sản, không có những chiến lược để tồn tại lâu dài.


Ông Chang là tác giả của cuốn sách “Sự sụp đổ đang tới gần của Trung Quốc” do nhà Xuất bản Random House phát hành năm 2001

(Bản dịch do một độc giả của BS gửi tới)


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc | 5 phản hồi »

353. Berlin, sinh quán của châu Á Hiện đại

Đăng bởi anhbasam on 07/11/2009

PROJECT SYNDICATE *

Berlin, sinh quán của châu Á Hiện đại

1308_thumbBrahma Chellaney


NEW DELHI – Bằng việc ghi dấu ấn kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự tan rã của hình bóng Liên bang Sô Viết khổng lồ, sự sụp đổ của Bức tường Berlin 20 năm trước đã làm thay đổi những tính chất địa chính trị trên toàn cầu. Thế nhưng không có lục địa nào lại được hưởng lợi hơn là châu Á, nơi có nền kinh tế phát triển một cách ngoạn mục kể từ năm 1989, lóe sáng với một tốc độ và tầm cỡ không đâu sánh nổi trong lịch sử thế giới.

Đối với châu Á, ý nghĩa quan trọng nhất từ sự sụp đổ của Bức tường Berlin chính là việc chủ nghĩa cộng sản tan rã đã tạo ra một bước chuyển đổi về sức mạnh quân sự đứng ở vị trí hàng đầu sang sức mạnh kinh tế chiếm vị trí thống trị trong việc hình thành trật tự quốc tế. Đúng vậy, mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cũng đã diễn ra trong cuộc Cách mạng Công nghiệp và trong thời kỳ hậu Đệ nhị Thế chiến. Nhưng trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, tăng trưởng kinh tế tự nó đã góp phần làm thay đổi các mối quan hệ quyền lực trên toàn cầu.

Sự kiện rõ nét khác vào năm 1989 là vụ thảm sát những người biểu tình ủng hộ dân chủ trên Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Nếu như không phải vì mục tiêu muốn kết thúc Chiến tranh Lạnh, thì phương Tây có lẽ sẽ không để cho Trung Quốc thoát khỏi cái cạm bẫy từ những vụ giết người mà họ gây ra. Thay vào đó, phương Tây đã chấp nhận một cách tiếp cận thực dụng, lảng tránh việc trừng phạt về thương mại và giúp Trung Quốc hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu và các tổ chức quốc tế thông qua tầm ảnh hưởng tự do hóa đầu tư nước ngoài và giao dịch thương mại. Đã có Hoa Kỳ và các đồng minh của mình theo đuổi một cách tiếp cận tập trung vào những biện pháp trừng phạt khắc nghiệt, như với Cuba và Miến Điện, kết quả có lẽ là một nước Trung Quốc ít thành công hơn, kém cởi mở hơn, và tiềm ẩn nguy cơ bất ổn.

Quả thực, sự thành công kinh tế kỳ lạ của Trung Quốc – được minh họa bằng thặng dư thương mại vượt trội trên thế giới, dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, và sản lượng thép cao nhất – phải chịu ơn nhiều trước quyết định của phương Tây đã không duy trì những biện pháp trừng phạt thương mại sau cuộc tàn sát ở Quảng trường Thiên An Môn. Có được bước nhảy vọt vượt qua cả Đức để trở thành nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, Trung Quốc giờ đây dường như sẽ thay thế Nhật Bản như là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Sự trỗi dậy của Ấn Độ như một gã khổng lồ về kinh tế cũng liên quan tới những sự kiện sau 1989. Ấn Độ dính líu nhiều vào trao đổi thương mại với Liên Xô và các đồng minh cộng sản của nước này ở Đông Âu. Khi Khối Đông Âu tan rã, Ấn Độ đã phải bắt đầu chi trả cho các hàng hóa nhập khẩu bằng ngoại tệ mạnh. Điều này đã nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ còn khiêm tốn của nước này, gây ra một cơn khủng hoảng tài chính gay gắt vào năm 1991, để từ đó lần lượt buộc Ấn Độ phải bắt tay vào những cải cách kinh tế quyết liệt đặt những nền tảng cho sự trỗi dậy về kinh tế của quốc gia này.

Nhìn rộng ra hơn, thì sự thất bại điển hình của chủ nghĩa Marx năm 1989 đã cho phép các quốc gia châu Á, trong đó có Trung Quốc và Ấn Độ, theo đuổi các chính sách [kinh tế] tư bản một cách công khai. Mặc dù sự phục hồi kinh tế, văn hoá của Trung Quốc đã bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình, Đảng cộng sản Trung Quốc, sau năm 1989, mới có thể công khai cho phép người ta mơ tới việc làm giàu. Ví dụ đó, lần lượt, đã có một ảnh hưởng mang tính xây dựng cho việc duy trì sự tồn tại của các đảng cộng sản khác ở châu Á và những nơi khác.

Về mặt địa lý, những lợi ích của thời kỳ hậu 1989 đã được mở rộng vượt xa khỏi phương Tây. Sự sụp đổ của Liên bang Sô Viết là một lợi ích chiến lược đối với châu Á, loại bỏ một đế chế luôn đe dọa và mở đường cho Trung Quốc nhanh chóng theo đuổi những mối quan tâm của mình trên toàn cầu. Sự suy tàn của nước Nga trong những năm 1990 lại trở thành sự thành công của Trung Quốc.

Với Ấn Độ,  Chiến tranh Lạnh kết thúc đã gây ra một cuộc khủng hoảng trong chính sách đối ngoại với việc loại trừ đối tác đáng tin cậy nhất: Liên bang Sô Viết.

Nhưng, với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1991, Ấn Độ đã có thể nổi lên với một chính sách đối ngoại đã được sửa đổi – một đất nước đã bỏ đi những truyền thống hào hiệp viển vông và đi theo chủ nghĩa thực dụng và thực tế hơn hẳn.

Ấn Độ hậu Chiến tranh lạnh bắt đầu theo đuổi những quan hệ đối tác chiến lược, đôi bên cùng có lợi với những đối thủ then chốt khác ở châu Á và trên thế giới. “Quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu” mới với Hoa Kỳ – một nét đặc trưng rõ ràng của thập kỷ này – có thể xảy ra do những thay đổi sau năm 1989 trong suy nghĩ về chính sách của Ấn Độ.

Tất nhiên, không phải tất cả mọi sự phát triển sau năm 1989 đều là tích cực. Chẳng hạn như hiện tượng các quốc gia bị suy thoái, thứ đã ảnh hưởng nhiều nhất đến an ninh châu Á, chính là hậu quả trực tiếp của sự kết thúc Chiến tranh lạnh. Khi Chiến tranh lạnh bùng phát, một khối này hay khối kia đã làm chỗ dựa cho các quốc gia yếu kém. Nhưng, với sự biến mất của Liên bang Sô Viết, Hoa Kỳ đã từ bỏ cuộc chơi đó.

Kết quả là, tình trạng tê liệt hoặc thất bại bất ngờ xuất hiện vào những năm 1990, tạo thành một mối đe dọa cho an ninh khu vực và quốc tế bằng việc trở thành xứ sở của những tên cướp biển (Somalia) hoặc những tên khủng bố xuyên quốc gia (Pakistan và Afghanistan), hay bằng cách công khai phản kháng đối với những tiêu chuẩn toàn cầu (Bắc Triều Tiên và Iran). Châu Á đã hứng chịu nhiều tổn thất hơn từ sự gia tăng khủng bố quốc tế so với bất cứ khu vực nào khác.

Hơn nữa, hai thập kỷ sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, lan truyền dân chủ đã bị ngưng trệ. Từ năm 1988 đến năm 1990 khi Chiến tranh Lạnh đang hạ nhiệt, các cuộc biểu tình ủng hộ nền dân chủ bùng nổ từ Đông Âu, lật đổ các chế độ độc tài ở nhiều nước khác như Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan, và Chile. Sau sự tan rã của Liên bang Sô Viết, thậm chí Nga đã nổi lên như một ứng cử viên đáng tin cậy cho cải cách dân chủ.

Nhưng, trong khi việc lật đổ các chế độ độc tài hoặc chuyên quyền đã chuyển qua bước cân bằng quyền lực toàn cầu vì lợi ích của các lực lượng dân chủ, không phải mọi hoạt động ủng hộ dân chủ đều  thành công. Và “những cuộc cách mạng da màu” tiếp theo ở những nơi như Ukraina chỉ làm cho những chế độ độc tài còn sót lại thận trọng hơn, nhắc họ thực hiện các giải pháp chống lại những sáng kiến dân chủ hoá đầy sáng tạo từ nước ngoài.


Bên cạnh đó, sự thụt lù của nền dân chủ ở nước Nga, Trung Quốc – giờ là chế độ chuyên chế lâu đời nhất trên thế giới – đang chứng minh rằng khi chủ nghĩa độc đoán được củng cố, một thương trường hàng hoá và dịch vụ có thể ngăn cản môi trường của những ý tưởng chính trị. Hai mươi năm sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, chủ nghĩ tư bản độc đoán chuyên quyền đã nổi lên như là kẻ thách thức hàng đầu cho việc truyền bá các giá trị dân chủ.


Brahma Chellaney là Giáo sư  Nghiên cứu Chiến lược thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách ở New Delhi và là tác giả của cuốn sách Asian Juggernaut: The Rise of China, India and Japan.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Project Syndicate là tổ chức tình nguyện bao gồm 431 tờ báo hàng đầu của 150 quốc gia trên thế giới


Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , | 4 phản hồi »