BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Kinh tế Việt Nam’ Category

577. Kornai János trả lời phỏng vấn Tạp chí Kinh Tài

Đăng bởi anhbasam on 07/05/2010

Kornai János trả lời phỏng vấn Tạp chí Kinh Tài *


Caijing (财经-Kinh Tài, đọc từ phải sang) là tạp chí kinh tế tài chính độc lập nổi tiếng, có nhiều người đọc nhất Trung Quốc. Kinh Tài do bà Hu Shuli (胡舒立- Hồ Thư Lập; sinh năm 1953) làm tổng biên tập từ 1998 đến 2009, Kinh Tài trực thuộc Ủy Ban Chứng khoán. Kinh Tài là tạp chí ra 2 số một tháng với lượng ấn bản 220.000 bản một số và là tạp chí kinh tế tài chính có lập trường độc lập. Kinh Tài đã gửi các câu hỏi phỏng vấn đến Kornai János, nhà kinh tế học Hungary nổi tiếng thế giới, giáo sư đại học Havard, hiện sống ở Budapest. Ông đã có trả lời bằng tiếng Hung ngày 27-2-2010 và bản dịch tiếng Anh ngày 21-3-2010. Bài phỏng vấn đã được Kinh Tài đăng và đã có tiếng vang lớn tại Trung Quốc. Ngày 3-4 Kornai János gửi cho người dịch bài trả lời phỏng vấn bằng tiếng Hung và bản dịch ra tiếng Anh. Trân trọng giới thiệu với độc giả tiếng Việt bài phỏng vấn này do Nguyễn Quang A dịch từ nguyên bản tiếng Hung, có tham khảo bản dịch tiếng Anh.

Câu hỏi 1.

Ông giữ quan điểm rằng các cuộc cải cách hệ thống trong chuyển đổi bao gồm nhiều phần, một số phần với các chi phí thấp (low cost), một số với chi phí cao. Trung Quốc chọn các cuộc cải cách chi phí thấp để đột phá cho nên đã có một sự chuyển đổi tương đối ổn định. Theo quan điểm của ông, cách tiếp cận Trung Quốc về cải cách đều đặn có thành công? Ông nghĩ có loại “Mô hình Trung Quốc” nào đó trong các cuộc cải cách và chuyển đổi của một nước hay không? Nếu có, lời bình của ông về mô hình này là gì?

Bạn đặt câu hỏi khó và phức tạp. Trong khả năng của mình tôi muốn cho câu trả lời càng chính xác càng tốt. Để làm việc này, một mặt tôi phải phân câu hỏi lớn thành các câu hỏi nhỏ hơn và tôi phải tìm cách làm rõ vài khái niệm có thể bị hiểu lầm.

Trong từ vựng của bạn từ “mô hình” có nghĩa là gì? Chúng tôi, các nhà kinh tế học thường gọi “mô hình” là cái kết cấu lý thuyết – đa phần với sự trợ giúp của các công thức toán học – mà trong đó chúng tôi ánh xạ (phỏng chiếu) một số quan hệ của nền kinh tế thực. Rõ ràng là bạn sử dụng từ này với ý nghĩa khác: bạn gọi  một quá trình lịch sử thực là mô hình mà nó có thể được dùng như hình mẫu, như tấm gương cho các nước khác. Thế nhưng Trung Quốc là độc nhất vô nhị và không thể bắt chước được! Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với quá khứ lịch sử dài và truyền thống văn hóa không thể so sánh được. Đối với tôi, ý tưởng về “mô hình Trung Quốc” là không thể cắt nghĩa được.

Thay vào đó tôi đề nghị, hãy phân tích các đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển Trung Quốc trong các thập kỷ vừa qua, phân tích từng đặc điểm một và chung trong quan hệ với nhau của chúng, và chúng ta thử xác định: chúng là thuận lợi hay bất lợi? Và nếu là thuận lợi, chúng có được thực hiện chỉ riêng ở Trung Quốc ư, hay cũng có thể được thực hiện ở nơi khác nữa?

Còn hai từ trong câu hỏi của bạn, mà theo quan niệm của tôi là mơ hồ, cần sự giải thích và định nghĩa rõ ràng.

Một từ như vậy là thuật ngữ có vấn đề [mà bạn dùng] là từ “ổn định”. Bạn hiểu ổn định là gì? Có phải bạn hiểu là, sản xuất của Trung Quốc từ sau cái chết của Mao đã liên tục tăng, nhiều nhất có thể nói về tốc độ có lúc tăng lúc giảm, nhưng giảm sút tuyệt đối thì không? Đây là một đặc điểm hấp dẫn nhất của sự phát triển của Trung Quốc, đặc điểm gây ấn tượng lớn cho toàn thế giới.

Những so sánh là rõ ràng. Tại các nước dân chủ mới hình thành trong khu vực của Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu trước kia, sau bước ngoặt chính trị 1989-1990, sự biến đổi hệ thống kinh tế đã bắt đầu với sự sụt giảm sản lượng lớn, với suy thoái biến đổi (transformational recession) kéo dài nhiều năm, cho đến khi lấy lại được mức sản xuất trước biến đổi.

Liên quan đến các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, tại đó cuộc suy thoái sâu và đau đớn đã xảy ra một-hai năm vừa qua và ngày nay chúng ta vẫn chưa thể nói rằng nền kinh tế đã lấy lại được đà.

Dưới ánh sáng của những so sánh này, thành tích của Trung Quốc thật đáng nể trọng.

Từ “low cost-chi phí thấp” trong câu hỏi của bạn có nghĩa là gì? Ai là người đã trả giá thấp? Đối với người tiêu dùng Âu-Mỹ đúng là “low cost”, nếu mua hàng Trung Quốc giá rẻ. Nhiều nhân tố có vai trò trong thành công của Trung Quốc bán được hàng hóa giá rẻ vào thị trường của các nước giàu. Tỷ giá (exchange rate) có ảnh hưởng đến việc này; nhưng bây giờ tôi không muốn đề cập đến vấn đề này. Thế nhưng có lẽ nhân tố quan trọng nhất là lương thấp của công nhân Trung Quốc. Ở đây không chỉ phải để ý đến số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, mà cả các khoản thuế và đóng góp xã hội trên lương, tỷ lệ với lương nữa, kể cả các khoản đóng góp để tài trợ cho hưu bổng và dịch vụ y tế. Ngoài những thứ khác, chi phí của nhà nước phúc lợi cung cấp sự chăm sóc xã hội rộng rãi cũng là gánh nặng lên chi phí lao động Bắc Mỹ và Châu Âu. Việc này làm giảm tính cạnh tranh của nhiều ngành trong cạnh tranh với các sản phẩm Trung Quốc.

Cái mà chúng ta đi đến ở đây, không phải là vấn đề kinh tế theo nghĩa hẹp, mà là các vấn đề đạo đức căn bản. Tốc độ tăng trưởng vũ bão của Trung Quốc có thể đạt được là do – bên cạnh nhiều yếu tố khác – tỷ lệ đầu tư rất cao và tương ứng  là tỷ lệ tiêu dùng thấp trong sử dụng GDP. Các thế hệ hiện thời chịu sự hy sinh – một sự hy sinh to lớn – cho các thế hệ tương lai. Đây là một giải pháp khả dĩ, có thể thực hiện được về mặt lịch sử của vấn đề phân chia giữa các thế hệ “hiện tại-tương lai” – nhưng tôi muốn nhắc nhở rằng cũng có thể có các con đường khác. Nếu chúng ta suy ngẫm lịch sử kinh tế thế giới ở tầm thế kỷ, hiện lên trước mắt chúng ta con đường của Hoa Kỳ, của các nước Bắc Âu (Scandinavian), hay của Australia. Họ đã chẳng bao giờ tăng trưởng nhanh đến mức như Trung Quốc ngày nay, thế nhưng họ vẫn đạt đến đỉnh của sự phát triển kinh tế. Và trong quá trình phát triển, tăng tiêu dùng đã tiến bước hài hòa với tăng sản xuất.

“Low cost” – một thuật ngữ như thế, khá phổ biến trong cách nói Trung Quốc ngày nay, thậm chí chỉ đánh lạc hướng sự chú ý khỏi những nan giải chiến lược thực sự quan trọng mà thôi.

Câu hỏi 2.

Nền kinh tế Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng trong nhiều năm. Ông xem xét hiện tượng này thế nào? Các lực lượng chính nào ở đằng sau sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc? Nó có bền vững?

Tôi đã trả lời một phần cho câu hỏi. Ở Trung Quốc tỷ lệ tiết kiệm-đầu tư cao độc nhất vô nhị xét về mặt lịch sử thế giới. Khó, có lẽ là không thể để xác định xem sự tiết kiệm này ở mức độ nào là tự nguyện và ở mức độ nào là tiết kiệm bị ép buộc (forced saving).

Hãy suy ngẫm lịch sử của các nước Bắc Âu. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm, nhìn lại một trăm năm, đã thấp hơn rất rất nhiều so với mức hiện nay Trung Quốc đạt được. Nhưng trong một trăm năm này nền dân chủ xã hội Thụy Điển đã hết lần này đến lần khác thắng trong các cuộc bầu cử quốc hội, được sự ủng hộ của các nghiệp đoàn và ngoài ra của đa số dân cư. Nó đã đấu tranh liên tục và thành công vì tiền lương cao hơn, vì sự an toàn việc làm, vì sự phát triển y tế, vì một hệ thống hưu bổng đảm bảo cuộc sống tuổi già tử tế.

Hay hãy nhìn lại lịch sử Hoa Kỳ. Ở đây tinh thần kinh doanh đóng vai trò đặc biệt mạnh. Đa phần những đổi mới lớn của 60-80 năm qua được đưa vào bởi các nhà kinh doanh Mỹ dẫn đầu sự phát triển công nghệ thế giới. Tất cả việc này đi cùng với việc họ cũng đi đầu trong thiết lập nhà nước pháp quyền, các hình thức tranh đua giữa các lực lượng chính trị và hiến pháp dân chủ.

Hoặc hãy ngó tới Ấn Độ. Xét về số dân chỉ có Trung Quốc vượt nước này và – giống như Trung Quốc – cho đến tận thời gian gần đây Ấn Độ vẫn thuộc vào các nước nghèo và trì trệ. Tuy nhiên kể từ khi người ta dỡ bỏ nhiều cản trở quan liêu đối với phát triển và mở không gian tự do hơn cho chủ nghĩa tư bản kinh doanh, thì tốc độ phát triển đã tăng nhanh một cách ngoạn mục. Hơn thế nữa, hình thức cai trị đại nghị vẫn tồn tại với sự thay đổi này.

“Tính bền vững-sustainability” – từ này có một ý nghĩa hẹp và một ý nghĩa rộng. Có lẽ theo nghĩa kinh tế hẹp cũng có những giới hạn có thể cản trở sự tăng trưởng: thí dụ sự đông nghẹt tăng lên của các thành phố lớn, sự tổn hại môi trường do tăng trưởng công nghiệp nhanh và sự bành trướng nhanh của xe cộ gây ra. Thế nhưng có lẽ còn quan trọng hơn để tính đến các điều kiện chính trị. Liệu cái cơ cấu chính trị đảm bảo cho tình hình kinh tế vĩ mô hiện thời, cho các tỷ lệ hiện thời của tiêu dùng và đầu tư còn có thể tồn tại được đến bao giờ mà không có thay đổi và cải cách? Tôi nghĩ, đúng hơn cần phải đặt các câu hỏi này cho các nhà nghiên cứu chuyên sâu về khoa học chính trị và lịch sử đương đại.

Sau các câu hỏi và các câu trả lời cho đến lúc này tôi cảm thấy quan trọng để đưa ra một cảnh báo nghiêm khắc. Tôi không kiến nghị Trung Quốc hãy theo “mô hình Bắc Âu”, hay “mô hình Bắc Mỹ”, hay “mô hình Ấn Độ”, cũng giống như tôi không khuyến nghị Thụy Điển, hay Hoa Kỳ hay Ấn Độ hãy theo “mô hình Trung Quốc”. Bằng việc phác họa các con đường lịch sử khác nhau tôi muốn đưa ra ý tưởng sau đây:

Không thể tiến hành được một loại phân tích chi phí-lợi ích đơn giản nào đấy mà từ đó bằng phép tính số học đơn giản có thể tính được con đường phát triển tối ưu. Trong thực tế, những niềm vui và những đau khổ, các thành quả và những sự hy sinh có thể được phân chia theo nhiều cách khác nhau cho các tầng lớp xã hội, các khu vực và các thế hệ. Và sự phân phối này liên quan không chỉ đến phúc lợi vật chất, mà cả đến những niềm vui và đau khổ mà sự hạn chế tự do cá nhân và các quyền tự do gây ra. Tôi không muốn đưa ra các đơn thuốc cho việc giải quyết các vấn đề phân phối sâu sắc này, mà là tôi muốn lưu ý đến những nan giải của sự lựa chọn.

Câu hỏi 3.

Trong chuyển đổi kinh tế một cách có hệ thống, làm thế nào để thiết kế một cách thích hợp các chức năng khác nhau của thị trường và các chức năng của chính phủ? Ở Trung Quốc, có quá nhiều thị trường hóa trong một số lĩnh vực nhưng trong các lĩnh vực khác lại có quá ít. Đây là vấn đề rất khó mà Trung Quốc phải đối mặt. Dưới ánh sáng của thực tiễn Hungary, những gợi ý của ông là gì?

Bây giờ bạn hỏi về kinh nghiệm Hungary. Ở Hungary không có sự đồng thuận về vấn đề này. Đây chính là một trong những vấn đề được tranh luận gay gắt trên các diễn đàn chính trị dân chủ, trên báo chí và trong các thảo luận của giới trí thức. Và tất nhiên đây là đề tài tranh luận không chỉ ở Hungary, mà ở khắp thế giới. Đây là một trong những vấn đề cơ bản của thời đại chúng ta mà lịch sử đã đặt ra hầu như đồng thời ở tất cả các khu vực lớn của thế giới. Ở những nơi trước kia hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ngự trị với đặc trưng nhà nước áp đảo cực độ, thì hiển nhiên người ta đã cố gắng và nay cũng đang cố gắng để giảm vai trò của nhà nước. Ngược lại, cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế nổ ra gần đây ở các nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển lại thức tỉnh họ về nhu cầu đối với sự điều tiết nhà nước hữu hiệu hơn.

Theo tôi, một trong những đặc điểm hấp dẫn nhất – thực sự đáng làm gương – của sự phát triển Trung Quốc là sự thử nghiệm. Ở nhiều nước, kể cả Hungary, các nhà cải cách nóng đầu thảo ra một ý tưởng [cải cách] mà sau đó họ muốn đưa vào áp dụng nhanh như chớp với hiệu lực phổ quát trên toàn lãnh thổ đất nước. Tôi cho rằng ở Trung Quốc trình tự thông thường của các sự kiện là khác. Mỗi thay đổi lớn thường bắt đầu với sự xuất hiện một sáng kiến địa phương. Các nhà lãnh đạo trung ương chú ý đến sáng kiến đó, ủng hộ nó và nếu thực sự thành công, thì đưa nó ra làm gương cho các địa phương khác. Nếu sáng kiến thực sự có sức sống, thì nó lan rộng, và tốc độ lan rộng thậm chí giữa chừng có thể gia tăng.

Không có tỷ lệ tổng quát và có hiệu lực phổ quát giữa điều phối nhà nước-quan liêu và điều phối thị trường, chẳng hạn 30:70, hay 50:50 hay 70:30. Các tỷ lệ khác nhau là đáng mong mỏi trong khu vực ngân hàng và giáo dục, trong ngành y tế và cảnh sát. Có các lĩnh vực mà trong đó nhà nước phải đóng vai trò chính và có các lĩnh vực trong đó thị trường phải chiếm ưu thế.

Trong khi chúng ta thử hình thành các tỷ lệ và hình thức tốt nhất cho sự phân công lao động giữa nhà nước và thị trường [trong mỗi lĩnh vực], thì trên hết rất quan trọng là chúng ta làm việc này với sự tỉnh táo cần thiết và không có những ảo tưởng. Thị trường chẳng phải là cỗ máy kỳ diệu hoạt động hoàn hảo – nhưng rừng rậm chẳng biết đâu mà lần được dùng làm lãnh thổ săn mồi của các thú dữ cũng không. Không đúng rằng nhà nước nằm trong tay các công chức biết mọi thứ, hoạt động với sự khách quan và sự chính trực hoàn hảo, không thể bị mua chuộc – nhưng cũng chẳng đúng rằng các quyết định nhà nước chỉ phụ thuộc vào những kẻ tham quyền cố vị và tham nhũng. Cả hai cơ chế còn xa mới hoàn hảo. Và cũng chẳng hề chắc chắn rằng tác động cùng nhau của hai cơ chế sẽ triệt tiêu lẫn nhau các sai sót của cả hai. Thậm chí điều ngược lại cũng có thể xảy ra: hai cơ chế tác động lẫn nhau lại hủy hoại cả cái mà trong mỗi cơ chế riêng biệt có thể là thuận lợi.

Không cần những khẩu hiệu chung chung và vô nghĩa: “Cần nhà nước mạnh hơn để chống những thái quá của thị trường!” – hay “Hãy dẹp can thiệp quan liêu đi; rồi thị trường sẽ giải quyết các vấn đề”. Thay vào đó, cần đến sự phân tích có trách nhiệm, khách quan và không định kiến về các vấn đề cụ thể của mỗi lĩnh vực bộ phận và hình thành các mức độ và giới hạn cần thiết của sự ảnh hưởng nhà nước.

Câu hỏi 4.

Một số người nghĩ rằng sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc sẽ tự động dẫn chúng ta đến những cải cách hệ thống. Ông nghĩ thế nào về quan điểm này? Những cải cách hệ thống có nhất thiết là sản phẩm phụ của tăng trưởng kinh tế?

Nếu nghiên cứu lịch sử của nhiều nước ở tầm thế kỷ, chúng ta có thể rút ra kết luận: không có mối quan hệ tự động, tất định giữa mức độ phát triển kinh tế và các hình thái chính trị. Càng ít có thể chỉ ra một loại quan hệ nhân quả đơn giản nào đó giữa tốc độ tăng trưởng và mức độ phát triển của đời sống chính trị. Sản xuất ở Liên Xô trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Stalin đã phát triển với tốc độ lớn nhất – và việc này đi cùng với làn sóng khủng bố, sự áp bức khủng khiếp. Nước Đức đã thuộc về các nước công nghiệp phát triển nhất và giàu nhất, khi rơi vào sự thống trị của Hitler và của đảng Quốc Xã-Nazi. Và ngược lại, trong một loạt các nước châu Âu đã bắt đầu hình thành nhà nước pháp quyền và nền dân chủ đại nghị ở mức phát triển [kinh tế] thấp hơn mức hiện nay rất nhiều.

Sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, sự phổ biến của cơ chế điều phối thị trường tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cải cách chính trị – nhưng không đảm bảo một cách tự động việc thực hiện cải cách chính trị.

Câu hỏi 5.

Ông đi Trung Quốc năm 1986 để dự một hội nghị về quản lý kinh tế vĩ mô. Trong hội nghị đó, ông đã gợi ý bốn mô hình mục tiêu cho các cuộc cải cách kinh tế và ông thích [mô hình] điều phối thị trường với quản lý vĩ mô hơn. Bây giờ hơn 20 năm đã trôi qua và Trung Quốc đã đi một quãng đường dài trong những cải cách định hướng thị trường, nhưng các mục tiêu cải cách thị trường của nó vẫn chưa được thực hiện: hệ thống thị trường và sở hữu tư nhân chưa được thiết lập một cách thỏa đáng; chính phủ vẫn xía vào công việc của các doanh nghiệp tư nhân; các độc quyền hành chính vẫn chưa bị nghiền nát. Mỉa mai thay, cùng lúc đó, kiểm soát vĩ mô của chính phủ đã được tăng cường. Theo ông, Trung Quốc phải có những nỗ lực gì để đạt các mục tiêu cải cách thị trường của mình?

Từ xa, từ Budapest, tôi muốn dè dặt để đừng đưa ra các lời khuyên cho chính sách kinh tế Trung Quốc. Nước các bạn có các nhà kinh tế học xuất sắc, những người hiểu kỹ hoàn cảnh, tình hình chính trị, kinh tế và xã hội – họ có tư cách hơn tôi nhiều để nói cần phải làm gì. Nhiều nhất tôi có thể đưa ra nhận xét của mình về vài vấn đề.

•  Theo cảm tưởng của tôi có các vấn đề lớn trong khu vực ngân hàng. Sự thực rằng nhiều ngân hàng Mỹ và châu Âu hiện nay lâm vào tình thế khó khăn, thậm chí một vài lâm vào tình trạng khủng hoảng, trong khi nhìn từ bên ngoài các ngân hàng Trung Quốc có vẻ vững chắc, không có nghĩa là tất cả đều ổn. Các chuyên gia Trung Quốc phải phân tích chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, cơ cấu các khoản vay, đặc biệt là việc xử lý các khoản nợ xấu với con mắt mở và phê phán.

•  Đáng sợ là, giữa sự phát triển có tốc độ rất nhanh này nảy sinh những bất cân đối và thiếu-cân bằng trong nền kinh tế mà muộn hơn có thể gây ra những rắc rối lớn. Bốn mươi năm trước tôi có viết một cuốn sách với đầu đề: “Rush versus Harmonic Growth – Tăng trưởng Hấp tấp đối lại Tăng trưởng Hài hòa.” Khi đó người ta cũng đã dịch ra tiếng Trung Quốc, nhưng tôi e là đã hết từ lâu và không còn trong các hiệu sách. Trong cuốn sách này, rút ra từ kinh nghiệm Liên Xô và Đông Âu, tôi đã lên tiếng chống lại “thói tôn sùng tốc độ tăng trưởng”. Trong khi các chính trị gia kinh tế thúc tăng trưởng GDP càng nhanh càng tốt, họ bỏ qua một số nhiệm vụ phát triển quan trọng, chẳng hạn như xây dựng nhà ở, bảo vệ môi trường, giao thông đô thị và vân vân. Trong cuốn sách cũng có một sự so sách để minh họa cho sự bất hài hòa: một người đàn ông mặc áo veston mới sang trọng, mặc quần sờn nhưng vẫn có thể dùng được, và đi chân trần. Có lẽ bõ công lại đưa cuốn sách này vào tay bạn đọc Trung Quốc.

•  Từ các số liệu mà tôi được biết cho thấy sự bất bình đẳng thu nhập đã tăng mạnh ở Trung Quốc. Điều này cũng bất lợi về mặt kinh tế, chưa kể đến việc đúng là nó xúc phạm cảm nhận công lý của người dân. Hiện tượng này sớm muộn có thể trở thành nguồn gốc của những căng thẳng xã hội nghiêm trọng.

•   Phải chuẩn bị rằng thị trường xuất khẩu của Trung Quốc có thể bị thu hẹp. Rồi tiêu dùng cá nhân và xã hội của Trung Quốc càng tăng, thì khoảng cách giữa chi phí lương của các sản phẩm sản xuất ở Trung Quốc và ở các nước phát triển sẽ càng nhỏ. Cho đến nay Trung Quốc theo đuổi chính sách kinh tế theo chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và đầu tư. Trung Quốc được chuẩn bị chưa cho việc sửa đổi chiến lược này?

•  Để cho nền kinh tế thị trường hiện đại hoạt động suôn sẻ thì không thể thiếu nhà nước pháp quyền. Các bước quan trọng đã được tiến hành để hiện đại hóa hệ thống pháp luật, nhưng – tôi tin – vẫn còn rất nhiều việc phải làm để bảo vệ cả tài sản tư lẫn tài sản công, và để buộc tôn trọng và thực thi các thỏa thuận.

Việc liệt kê các vấn đề, những lo âu và những việc cần làm là không hề đầy đủ. Tôi thành tâm hy vọng rằng chính sách kinh tế Trung Quốc sẽ tìm được các câu trả lời đúng cho các câu hỏi khó.

Câu hỏi 6.

Các nhà kinh tế học Trung Quốc nghĩ rằng nếu Trung Quốc muốn tiếp tục thực hiện cải cách của mình, nó sẽ phải chịu những chi phí nặng hơn. Ông thấy triển vọng cho cải cách của Trung Quốc thế nào? Chúng tôi có thể học những bài học gì từ Đông Âu?

Tôi kiềm chế khỏi việc rút ra những kết luận có hiệu lực phổ quát từ biến đổi Đông Âu. Dân cư của khu vực này cộng chung lại cũng không lớn hơn dân số của một tỉnh duy nhất của Trung Quốc – thế nhưng, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cỡ nhỏ và trung bình này lại muôn màu muôn vẻ đến thế nào! Nếu chúng ta khảo sát một năm cho trước, một nước vừa đạt những kết quả to lớn, ở nước khác rắc rối tích tụ lại. Trong mỗi nước thành công và thất bại luân phiên lẫn nhau. Đặc biệt quan trọng là, các nước khác hãy rút ra bài học từ những bước thành công một nửa.

•    Chủ nghĩa dân túy trong dài hạn là không thích hợp. Sớm muộn dân chúng cũng đòi truy cứu việc thực hiện các lời hứa được lòng dân, nhưng vô trách nhiệm và sẽ quét sạch những kẻ đã theo đuổi chính sách kinh tế nông nổi sang bên lề.

•   Việc áp đặt những cải cách cưỡng bức lên dân chúng là không thích hợp. Các cuộc cải cách tỏ ra bền vững là các cuộc được tranh luận rộng rãi trước đó và được sự ủng hộ rộng rãi.

•   Bóp nghẹt các quan điểm phê phán chính sách của chính phủ là không thích hợp. Trong nhiều nước Đông Âu các đảng cầm quyền đã thử bóp nghẹt các tiếng nói đối lập, đàn áp các cuộc phản đối, đe dọa những người có chứng kiến độc lập. Việc làm này đã có thể tạo trật tự một thời gian ngắn, nhưng sớm muộn vẫn phải khai mở khả năng cho sự cạnh tranh giữa các quan điểm, cho sự thể hiện tự do chứng kiến.

•  Sự ngạo mạn dân tộc chủ nghĩa, sự khoe khoang thành tích là không thích hợp. Thế giới bên ngoài có thiện cảm hơn với các nước tuyên bố: sẵn sàng học hỏi, sẵn sàng thâu nạp và thích ứng theo điều kiện địa phương những kinh nghiệm chính trị và kinh tế nước ngoài đã thành công.

Các nước kế thừa sau khi Liên Xô tan rã và các nước Đông Âu một thời dưới sự lãnh đạo cộng sản cùng nhau tạo thành một phòng thí nghiệm lớn. Việc thí nghiệm nhiều loại thể chế chính trị và kinh tế xảy ra ở đây. Tôi khuyến nghị cho các bạn Trung Quốc của mình: hãy chớp lấy cơ hội đặc biệt này. Hãy ngó quanh một cách kỹ càng trong phòng thí nghiệm khổng lồ này, hãy rút ra bài học từ những sai lầm và tận dụng khéo những kinh nghiệm thành công.

* Bài được đăng một phần trên Sài Gòn Tiếp thị. Bản ở đây là đầy đủ.

Mời đọc thêm tiểu luận: Chủ nghĩa xã hội thị trường?

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc | Tagged: | 5 phản hồi »

546. Việt Nam trong sự hỗn loạn kinh tế

Đăng bởi anhbasam on 15/04/2010

Asia Sentinel

Việt Nam trong sự hỗn loạn kinh tế

Philip Bowring

13-04-2010

Một số điểm sáng, một số không sáng lắm

Việt Nam đang đùa giỡn với sự xuống cấp đáng kể trong nhận thức của nước ngoài về tiềm năng và triển vọng. Nhưng không phải tất cả các tin đều xấu vào thời điểm nền kinh tế thế giới đang hồi phục và các nhà đầu tư nước ngoài tìm cách đa dạng hóa (*) khỏi [nền kinh tế] bị thổi phồng quá mức của Trung Quốc.

Việt Nam hiện nay có hai vấn đề nhận thức được xem như là có liên quan – mặc dù gián tiếp – đến Đại hội Đảng Cộng sản năm sau, dẫn tới sự thay đổi trong tầng lớp lãnh đạo.

Vấn đề thứ nhất là chính sách tiền tệ và tài khóa lỏng lẻo, do mong muốn duy trì chỉ số tăng trưởng kinh tế 6% bằng mọi giá đã làm cho lạm phát bùng phát trở lại, làm suy yếu đồng nội tệ và giảm điểm tín dụng của Việt Nam. Tháng trước, cơ quan đánh giá Fitch đưa Việt Nam vào loại tiêu cực, cho thấy nó có thể bị hạ xuống từ mức không tốt thành mức [tệ hơn] BB-. Fitch đã chỉ ra tình trạng lạm phát và hạ giá hai lần, đồng nội tệ giảm 7% từ tháng 11 đến tháng 2 và tỉ giá ở thị trường chợ đen cho thấy sự lo sợ đồng nội tệ sẽ giảm thêm nữa.

Vấn đề thứ hai là sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc về kinh tế có thể nhìn thấy rõ, ít nhất là ở khu vực tài nguyên được quan tâm. Điều này tập trung vào hai dự án quan trọng, cả hai hiện đã dừng lại. Kết quả hình như cuối cùng khi khởi động lại, nó sẽ làm như vậy với đa số quyền sở hữu địa phương thay vì đa số nước ngoài, điều mà về nguyên tắc ít nhất đã được cho phép.

Dự án lớn nhất là dự án Khai khoáng của công ty Tiberon tại Núi Pháo ở Tây Bắc Việt Nam, dự án này được hứa hẹn là một trong [các dự án khai thác] mỏ quặng kim loại lớn nhất thế giới (quặng vonfamat) và cũng sản xuất khoáng huỳnh thạch, bạc và các khoáng sản khác. Tiberon ban đầu là một công ty Canada có tên ở Toronto, nhưng đã được Công ty Đầu tư Tài nguyên Việt Nam mua lại năm 2007, [công ty với] quỹ định hạn nước ngoài, và các quỹ khác quản lý bởi công ty vốn Dragon có trụ sở tại [TP] Hồ Chí Minh.

Dự án đầu tiên gặp rắc rối khi nguồn tài chính giảm do kết quả của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu và giá kim loại bị giảm mạnh. Dự án còn gặp trở ngại hơn khi chính phủ đề xuất, liên doanh có thể bị mất giấy phép khai thác vì không hoàn thành dự án đúng thời hạn. Điều này làm cho vấn đề tài chính thậm chí càng khó khăn hơn. Vài quyết định về vấn đề có vẻ như liên quan đến tình trạng kiểm soát lãi suất và ngân quỹ bằng văn bản đã làm giảm giá trị đầu tư của họ. Nhưng nợ tài chính vẫn còn là một vấn đề khó khăn và việc này đã làm nản lòng sự đầu tư nước ngoài khác trong lĩnh vực tài nguyên có tiềm năng dồi dào ở Việt Nam.


Một dự án khác thậm chí nhạy cảm về chính trị hơn nhiều so với dự án Núi Pháo, đó là dự án khai thác bô xít, phần lớn do Trung Quốc sở hữu ở trung phần Việt Nam. Dự án này trở thành trọng tâm của các nhà phê bình chính phủ và thậm chí làm cho vị anh hùng trong cuộc chiến, tướng Võ Nguyên Giáp cất tiếng nói lên quan điểm của mình rằng, dự án sẽ dẫn tới một làn sóng công nhân Trung Quốc vào [Việt Nam], là đòn bẩy giúp kinh tế Trung Quốc vốn đã mạnh lại càng mạnh hơn, chiếm chỗ của dân thiểu số địa phương và nói chung là phá hoại an ninh quốc gia. Vấn đề đã trở thành tâm điểm cho việc chính thức xâm phạm một cách trắng trợn, hack vào email và các trang web của những người phê bình dự án.

Điểm mấu chốt của tất cả vấn đề này là Hà Nội sẽ có thái độ hạn chế nhiều hơn nữa trong việc đầu tư nước ngoài về khai thác mỏ, có thể hạn chế việc tham gia cổ phần nhỏ. Điều đó sẽ làm chậm sự phát triển ngành mỏ và nền kinh tế. Mặc dù [nhiều người] cho rằng điều đó không có khả năng lan rộng đến các lĩnh vực khác, hai vấn đề này có một số tác động đến nhận thức của nước ngoài và [ảnh hưởng] tiêu cực lên một số giá trị quỹ đầu tư.

Ban hội thẩm (?) thì vẫn ở ngoài vấn đề lạm phát và tiền tệ suy yếu, và có lẽ vẫn ở ngoài như thế cho đến thời gian sau này trong năm nay. Lạm phát có thể sẽ đạt hai con số trong năm nhưng trong danh mục [lạm phát], nặng nhất là thực phẩm, giao thông vận chuyển và vật liệu xây dựng, không rõ chính phủ có thể ảnh hưởng [lạm phát] như thế nào ngoài việc thông qua tỷ giá hối đoái. Lãi suất và chi tiêu chính phủ chỉ ảnh hưởng hạn chế lên tổng cầu.


Hiện tại, ít có khả năng tiền tệ bị giảm giá mạnh. Dự trữ ngoại hối bắt đầu phục hồi sau khi giảm mạnh hồi năm ngoái trong một nỗ lực chính thức không có kết quả, để tránh đồng tiền bị mất giá thêm và cải cách khu vực tài chính gần đây có vẻ âm thầm nhưng là những bước thúc đẩy quan trọng.


Tài khoản (?) hiện tại đã bị giảm giá trị rất mạnh nhưng phần lớn trong vấn đề này dường như là do phòng ngừa nhập khẩu, bao gồm cả vàng, vẫn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiền tệ Việt Nam. Số lượng và giá xuất khẩu hiện nay nhìn chung có vẻ thuận lợi. Xuất khẩu hàng may mặc vượt quá dự đoán và tổng sản lượng dầu và giá cả đã tăng đáng kể. Thanh toán quốc tế đang đứng vững và việc giảm giá đồng nội tệ có thể giúp ngăn chặn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, vấn đề luôn gai góc cho các ngành công nghiệp địa phương.

Mặc dù có những áp lực từ một vài người bên trong nội bộ đảng nhằm ngăn chặn những cải cách theo hướng thị trường và tiếp tục ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước, các biện pháp mới nhất cho thấy ngân hàng trung ương đã giành được một chiến thắng quan trọng trong cuộc đấu tranh để gỡ rối vấn đề lãi suất. Trợ cấp lãi suất được đưa ra hồi năm 2009 như là một biện pháp chống suy thoái kinh tế đã được rút lại và có một hướng đi tới tỷ giá thương lượng.

Vì vậy, ngay cả khi ngân hàng nhà nước tiếp tục được điều tiết đối với khu vực nhà nước, các ngân hàng tư nhân, chiếm 50% thị trường, sẽ được tự do hơn để cho khu vực tư nhân vay, [khu vực này] có thể có đủ khả năng để trả lãi suất cao hơn, nhưng không an toàn như các doanh nghiệp có nhiều tiền của như nhà nước.

Việc chuẩn bị cho bầu cử và đại hội đảng và có thể thấy cảnh báo chính thức về các vấn đề như cổ phần hoá hơn nữa. Nhưng dường như không có sự chia rẽ sâu xa về mặt tư tưởng giữa các ứng cử viên đối với các công việc hàng đầu trong tương lai. Cuộc khủng hoảng toàn cầu và thất bại của một số dự án đầu tư nước ngoài tiến hành như đã hứa, sẽ không rút lui, có vẻ không gây ra bất kỳ sự lùi bước quan trọng nào trong vấn đề tự do hóa. Đảng này vẫn tiếp tục phải cân bằng các lợi ích khác nhau và lòng trung thành, ở khu vực, ngành và cá nhân có thể gây ra các cuộc xung đột, tham nhũng và [cải cách với] tiến độ chậm. Nhưng ngoài lĩnh vực tài nguyên, không có vấn đề nào khác có vẻ tệ hại hơn.

Về vị trí bên ngoài của Việt Nam, tiền tệ là điểm yếu đối với thị trường địa phương siêu nhạy cảm và mức độ dự trữ ngoại tệ chính thức thấp. Tuy nhiên, nợ nước ngoài được  nhà nước hỗ trợ và là nợ dài hạn. Trong khi đó đô la và vàng tiếp tục đóng vai trò rất lớn trong hệ thống tài chính địa phương, một yếu tố có thể duy trì sức mua ngay cả khi đồng nội tệ bị giảm mạnh. Vấn đề dài hạn cần phải làm đối với Việt Nam là làm sao dứt bỏ vàng và đô la [khỏi hệ thống thanh toán], điều này đòi hỏi một khoảng thời gian duy trì ổn định tiền tệ một cách tương đối, hỗ trợ bởi lãi suất trên thị trường. Bằng chứng là mặc dù lạm phát và đồng nội tệ bị giảm giá trong những tháng gần đây, bây giờ nó đang di chuyển theo hướng lãi suất định hướng thị trường và thời gian sẽ làm cho đồng nội tệ ổn định hơn.


Người dịch: Ngọc Thu

————–

Ghi chú:

(*) Diversify: đa dạng hóa, chia đồng vốn ra đầu tư ở nhiều nước, thay vì tập trung vào Trung Quốc, trong khi kinh tế nước này như bong bóng, không biết bể lúc nào.

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | 3 phản hồi »

522. CNTB,du lịch,công nghệ đã kéo VN ra khỏi quá khứ

Đăng bởi anhbasam on 27/03/2010

CUMBERLAND TIMES NEWS

Việt Nam ngày nay

Chủ nghĩa tư bản, du lịch và công nghệ

đã kéo đất nước này ra khỏi quá khứ

Bài của CNHI News Service

Ngày 17-9-2008

Ghi chú của biên tập viên: ông William B. Ketter là phó chủ tịch phụ trách tin tức cho Community Newspaper Holdings Inc.[CHNI], có trụ sở tại Birmingham, tiểu bang Alibama, Hoa Kỳ, và sở hữu 89 tờ nhật báo gồm tờ Cumberland Times-News. Đoạn trích dưới đây là từ những ghi chép ông đã lưu lại trong một chuyến du ngoạn vào tháng Bảy khi ông đi dọc Đường mòn Hồ Chí Minh trên một chiếc xe máy.


Ba phần viết về Việt nam này là dựa vào những cảm tưởng mang tính cá nhân của William Ketter, phó chủ tịch phụ trách tin tức của CNHI, trong một chuyến du ngoạn hai tuần gần đây tới đất nước đã đóng một vai trò to lớn trong sự thay đổi đối với nền chính trị, các mối quan hệ đối ngoại và văn hóa của Mỹ suốt những năm 1960 và 1970.

Chuyến du ngoạn bao gồm một chặng đường vất vả bằng xe máy cùng với năm người Mỹ khác trong 8 ngày trên những đoạn đường còn sót lại của con Đường mòn Hồ Chí Minh khét tiếng. Cả nhóm đã vượt qua 850 dặm, từ những dãy núi ở phía bắc Việt Nam tới căn cứ quân sự của Mỹ trước đây tại Đà nẵng và Bãi biển Trung Hoa, trên bờ biển Nam Trung Quốc.

Đây là chuyến du ngoạn thứ hai tới Việt Nam của Ketter. Chuyến viếng thăm thứ nhất xảy ra năm 1995, khi ông dẫn một nhóm các viên tập viên người Mỹ trong một nhiệm vụ tìm hiểu thực tế.

Việt Nam: Mảnh đất của chủ nghĩa tư bản cộng sản

Những cảm tưởng cá nhân – Phần 1

Khi những đạo quân của Hồ Chí Minh băng băng tiến vào Sài Gòn 33 năm trước để thiết lp nên một nước Việt Nam tái thống nhất, những kẻ xâm chiến cộng sản đã thực hiện một toan tính sai lầm đáng chê trách: chiến thắng bằng quân sự sẽ làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn cho dân tộc đã kiệt quệ vì chiến tranh.

Thay vào đó, các điều kiện kinh tế đã trở nên tồi tệ hơn, tình trạng đói kém lan rộng khắp cả nước, và sự hy sinh cả một dân tộc đã trở nên thứ mẫu số chung cho thấy một thời kỳ hậu chiến dài lâu và đen tối cho cả miền bắc và miền nam.

“Chúng tôi đã phải vật lộn suốt những năm dài vô cùng đói khổ sau khi người Mỹ ra đi,” đó là những ký ức của Nguyễn Ngọc, con trai một sĩ quan quân đội Bắc Việt Nam. “Chính quyền đã phải phân phát định mức lương thực thực phẩm. Một bát gạo đã phải ăn trong một tuần; cả tháng mới có vài miếng thịt tẻo teo. Anh phải thịt một con gà làm sao không gây tiếng kêu để anh không phải chia xẻ nó cho những người hàng xóm.”

Chắc chắn đó không phải là giấc mơ xã hội chủ nghĩa mà “Bác Hồ” đã nói tới trước khi qua đời vì một cơn nhồi máu cơ tim vào năm 1969 và điều mà những môn đệ của ông thay ông thực hiện với sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền đối với hoạt động kinh doanh và buôn bán nhờ vào chiến thắng trong cuộc chiến.

Thị trường tự do đang vận hành và phổ biến tại Nam Việt Nam trong sự hiện diện của người Pháp và người Mỹ, phải trả giá cho một cuộc rút lui vội vã, đã bị tiêu diệt bởi tín điều cộng sản mình-vì-mọi-người và mọi-người-vì-mình. Đầu tư kinh doanh cá nhân và tập thể bị tàn lụi.

Điều đó kéo dài cho tới những năm 1990. Đó là khi Việt Nam hoàn toàn đi theo mô hình tư bản chủ nghĩa mở cửa thị trường của Trung Quốc trong khi vẫn bấu víu vào một hệ thống chính trị cộng sản khắc nghiệt. Nỗi tuyệt vọng đã chuyển thành liều lĩnh. Thậm chí những người Việt Nam từng chạy trốn khỏi đất nước mình – được biết đến với cái tên Việt Kiều – đã được mời gọi trở về quê hương. Và họ đã đầu tư – với một mức 7 tỉ đô la mỗi năm, theo như các số liệu của chính phủ.

Ngày nay, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới, song một kỳ nghỉ hai tuần vừa qua tại đó, bao gồm tám ngày trên một chiếc xe máy xuôi theo những dấu vết còn lại của con Đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng, đã cung cấp những bằng chứng về một quốc gia có đôi mắt tinh tường quan tâm tới việc mở cánh cửa của mình ra với thế giới.

“Chúng tôi sẽ không bao giờ giàu được như người Mỹ các bạn,” Ngọc nói. “Thế nhưng chúng tôi giờ đây đang có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chúng tôi có thể sở hữu bất động sản, khởi sự chuyện kinh doanh, kiếm được nhiều tiền. Chúng tôi có lúa gạo, cà phê, chè, cao su và dầu lửa” – những mặt hàng xuất khẩu quan trọng góp phần khích lệ những cải cách trên thị trường tự do, để rồi lần lượt, xuất hiện những tờ nhật báo, tạp chí và chương trình truyền hình tiếng Anh. Tất nhiên, chẳng ai được hưởng nền tự do báo chí như chúng ta biết. Tuy vậy, báo chí đã tường thuật những tội ác, tham nhũng và tình hình thiên tai. Và Báo chí đã không có vẻ tô vẽ cho những khó khăn về kinh tế của đất nước.

“Sự thật là những người cộng sản đang có sự kiểm soát tối đa đối với báo chí,” Ngọc nhận xét. “Thế nhưng không có mấy quan tâm từ những người cộng sản hay tại Việt Nam trong việc ngăn chặn tin tức về những gì mà mọi người biết thông qua Internet.”

Ngọc, người vừa đóng vai trò hướng dẫn viên vừa là người phiên dịch cho chuyến du hành bằng xe máy, là một ví dụ về một Việt Nam mới, xếp hạng nhì chỉ sau Trung Quốc về tăng trưởng kinh tế tại Á châu kể từ năm 2002.

Ở tuổi 34, anh không có ký ức riêng về cuộc chiến tranh đã cướp đi 3 triệu sinh mạng binh lính và dân thường Việt Nam cũng như gần 60.000 quân nhân Mỹ chiến đấu trên nửa phần phía nam Việt Nam. Tốt nghiệp đại học và nói trôi chảy tiếng Pháp và tiếng Anh, anh đọc và nghe tin tức bằng cả ba thứ tiếng, cùng vợ và đưa ton gái ba tuổi sống trong một ngôi nhà khiêm nhường ở Hà Nội. Anh được xem như một người thông thạo về du lịch, làm việc trong vai trò một cố vấn cho các công ty du lịch và là chủ nhân đáng tự hào của một công ty mới khởi sự (Vietnamontrails.com) chuyên về các chuyến du lịch bằng xe gắn máy theo yêu cầu của khách hàng.

Ngọc yêu đất nước Việt Nam, tôn kính ông Hồ Chí Minh như George Washington của nước mình, thích cưỡi trên một chiếc xe gắn máy và say sưa nói về vẻ đẹp trong khung cảnh miền bắc quê hương mình. Tuy nhiên, anh không phải là một đảng viên Đảng Cộng sản.

Hai phần ba trong số 85 triệu người Việt Nam ở đây giống như Ngọc, đều sinh ra sau cuộc chiến của Mỹ chấm dứt năm 1973. Họ được nhắc nhở về cuộc xung đột đẫm máu bởi những người lớn tuổi, từ các tượng đài và nhà bảo tàng – tất cả đều quảng bá cho chiến thắng đối với “chủ nghĩa đề quốc Mỹ.” Thế nhưng cuộc chiến không lôi cuốn tinh thần Việt Nam theo cái cách mà nó đè nặng lên tâm trí người Mỹ.

Hơn nữa, các nhà lãnh đạo cộng sản của đất nước này không còn khăng khăng điều khiển và kiểm soát cuộc sống hàng ngày của người dân nữa. Dân chúng được khuyến khích đưa ra những sáng kiến và vươn lên phía trước. Ngọc ước lượng hiện chỉ có khoảng 3 triệu đảng viên cộng sản có thẻ đảng viên.

“Bạn tham gia đảng cộng sản nếu như bạn muốn có một sự nghiệp chính trị hoặc muốn tham gia vào chính quyền,” Ngọc nói. “Ngoài ra, chẳng cần phải tham gia. Ở mức độ cả nước chúng tôi cảm thấy thoái mái với sự sắp đặt này. Tất cả chúng tôi đều muốn một Việt Nam thịnh vượng.”

Việt Nam: Ràng buộc với quá khứ, tìm tới tương lai

Những cảm tưởng cá nhân – Phần 2


Việt Nam là một quốc gia được ban cho những miền đất phì nhiêu, những vùng biển tuyệt đẹp và một tinh thần chăm chỉ làm việc trong dân chúng. Tuy nhiên thu nhập trung bình chưa tới 500 đô la mỗi người một năm, và gần một phần ba dân số sống trong tình trạng nghèo khổ.

Thật khủng khiếp khi những số liệu thống kê đó có thể cho thấy có những tiến bộ lớn lao từ thời kỳ đen tối của đất nước trong và sau Cuộc chiến tranh Việt Nam và trước khi chuyển đổi sang chủ nghĩa tư bản thị trường cạnh tranh tự do vào những năm 1990.

Giờ đây, thậm chí người Việt Nam bình thường cũng có vẻ lạc quan về tương lai kinh tế của mình, chỉ ra mục tiêu đã đạt được của đất nước trong việc làm cho Internet có mặt ở khắp nơi, trong đó có cả các làng bản miền núi xa xôi.

“Chúng tôi đang trên con đường hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn,” đó là tâm sự của Nguyễn Ngọc, một doanh nhân 34 tuổi mạnh bạo ở Hà Nội mới đây đã mở dịch vụ du lịch bằng xe gắn máy. “Ngày mai sẽ to đẹp hơn hôm qua.”

Việt Nam bước một bước dài hướng tới mục tiêu đó khi đất nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới hai năm trước, mở đường vào các thị trường nước ngoài nhiều hơn và thu hút nguồn đầu tư nước ngoài nhiều hơn.

Hoa Kỳ, nước từng từ chối giao thương với Việt Nam trong gần 20 năm sau chiến tranh, đã ký một thỏa thuận thương mại song phương với cựu thì của mình vào năm 2001, và giờ đây đang dẫn đầu thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam, tiếp theo là Liên hiệp châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc.

Trên mặt trận trong nước, một lực lượng lao động có kỹ năng với giá nhân công rẻ cạnh tranh với Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ trong các lĩnh vực sản xuất hàng điện tử và may mặc. Hãng Canon mới đây đã khai trương một nhà máy sản xuất máy in phun lớn ở ngoại thành Hà Nội. Sony, Intel, Samsung và các hãng điện tử khác cũng đang lạc quan và hy vọng vào mảnh đất của con rồng châu Á này. Ngành may mặc và đóng giầy cũng đang chuyển động. Hãng Nike sản xuất ra hơn 80 triệu đôi giày tại Việt Nam mỗi năm.

Tuy nhiên, Việt Nam chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp, với hơn 70 phần trăm dân số sống nhờ vào canh tác và tại các làng quê, và phần lớn trong nền kinh tế gắn bó với số phận của cây lúa, cà phê, chè, cao su, hạt tiêu và hạt điều.

Đất nước này cũng còn để lại một mối mâu thuẫn giữa phương pháp canh tác từ thế kỷ 19 và kỹ nghệ của thế kỷ 21 – được chứng kiến trong suốt chuyến du ngoạn dài 850 dặm bằng xe máy từ những ngọn núi cao 10.300 foot ở phía bắc Hà Nội, thủ đô nước này, cho tới Hội An, một cộng đồng dân cư sống ven bờ biển đầy quyến rũ ở phía tây nam.

Trên đất nước này, những con trâu nước cày bừa trên ruộng lúa, và những người đàn bà dưới những chiếc mũ hình chóp phải cúi gập mình hàng giờ để thu hoạch mùa màng cho kịp thời vụ. Trên đường trở về nhà, họ đeo những bó củi sau lưng hoặc gánh rau quả trên hai đầu của một thanh tre để về chuẩn bị cho bữa cơm tối trong căn nhà có một hay hai phòng.

Song thật kinh ngạc khi tới những làng bản xa xôi phía bắc như Phù Yên, Mai Châu, Tân Kỳ – những nơi mà nhóm xe máy của chúng tôi gồm sáu người Mỹ đã ở lại qua đêm – những quán cà phê Internet phục vụ du khách và người địa phương, gồm cả những thanh thiếu niên chơi các trò Bubble Shooter, Raider X và các trò chơi trực tuyến phổ biến khác. Điện thoại di động là thứ bình thường tại cả nông thôn và thành thị.

“Thật là lạ, phải không?” đó là nhận xét của Hoàng Ngọc Minh, một hướng dẫn viên du lịch 26 tuổi từ người Hà Nội. “Chúng ta đang ở trên một đất nước của những điều khác biệt. Internet có ở khắp nơi. Cho nên có rất nhiều lối sống truyền thống không còn nữa.”

Đào Quang Bình, một kinh tế gia và là nhà báo làm cho tờ Vietnam Economic Times, đã nhận xét về đất nước này theo cách dưới đây trong một cuộc phỏng vấn tại Khách sạn Quốc tế sang trọng ở Hà Nội:

“Đất đai là tài sản của toàn dân Việt Nam và khi sử dụng cho nông nghiệp thì không bị đánh thuế hay thuê lại,” ông giải thích. “Khi chúng tôi chuyển đổi ngày càng mạnh sang một nền kinh tế thị trường, sự hiện đại hóa sẽ được thực hiện một cách tự nhiên tại những vùng nông thôn cùng với thành phố. Những kỹ thuật mới và hiệu quả hơn sẽ được đem ra áp dụng.”

Ông Bình cho là Việt Nam đang giữ vững bước phát triển nhanh chóng của mình. Ông đã đầu tư vào một số xuất bản phẩm viết về lối sống có ý nghĩa, và có những kế hoạch khởi sự một tạp chí về xe hơi cùng lúc cuốn Great Wheel tại nước này được xác định là giành cho xe máy.

Xe hơi sẽ tất yếu thay cho phương tiện vận tải hai bánh trong khi dân chúng có được đời sống sung túc trong một Việt Nam mới, ông Bình nói. Khi điều đó xảy ra, họ sẽ cần đến một nguồn tham khảo đáng tin cậy để xác định loại xe hơi nào cần mua và làm cách nào để bảo quản được chúng, đó là những gì mà ông trông đợi cuốn tạp chí của mình sẽ cung cấp.

“Không thể nhầm lẫn được,” ông khẳng định.

Tuy nhiên, với hiện tại, đang có hơn 20 triệu chiếc xe máy, mô tô và scooter tại Việt Nam, và chưa tới 750.000 xe hơi và xe tải. Kết cục là một biển xe máy liên tục bấm còi rống lên trong thành phố.

Thoát ra khỏi mớ hỗn mang này thật khốn khó. Luật lệ giao thông không được chấp hành, đèn và các biển báo hiệu dừng hầu như không tồn tại, và việc đi bộ băng qua đường hay lái xe qua những điểm giao cắt tạo nên nguy hiểm cho cuộc sống của bạn. Có hơn 40 cái chết bất hạnh do tai nạn giao thông xảy ra mỗi ngày, làm cho Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có số người chết trên đường cao nhất thế giới.

Bí quyết để tránh bị thương tật và còn sống sót là “luôn luôn đi tới. Đừng giật lùi hay dừng lại trên đường đi,” theo lời của Margie Mason, một thông tín viên của hãng AP tại Hà Nội.

Lời khuyên tốt khi bạn đang đi bộ băng qua đường hay cưỡi trên một chiếc xe máy.

Việt Nam: Phát triển mạnh du lịch tới những nơi diễn ra cuộc chiến đẫm máu

Những cảm tưởng cá nhân – Phần 3

Bức ảnh chụp năm 1975 về chiếc trực thăng cuối cùng của Hải quân bốc lên khỏi mái nhà Toà Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, một hàng dài những người Việt Nam xui xẻo bị mắt kẹt bên dưới, đã tạo nên một bức chân dung không thể phai mờ về nỗi tuyệt vọng của con người.

Những người bị rớt lại phía sau là binh lính trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa (ARVN) bại trận, hoặc những người của chính phủ Hoa Kỳ. Họ đoán được những hậu quả khủng khiếp khi rơi vào tay của những kẻ thuộc hạ của ông Hồ Chí Minh đang chiến thắng.

Vẻ đẹp của Việt Nam hiển hiện bằng những ngọn đồi và thung lũng trên vùng cao nguyên. Sương mù bay lên từ mặt đất tương phản với ánh bình minh tạo nên một khung cảnh như trên bức danh thiếp.

Họ đã đoán đúng. Chế độ cộng sản đã xử tử hình những người nào được xem là trung thành với chủ nghĩa quốc gia. Những người khác đã phải chịu bản án giam giữ lâu dài. Song hầu hết đã bị tống vào các trại được gọi là cải tạo để đi theo tín điều xã hội chủ nghĩa, làm những gì người ta bảo làm, lao động liên tục và cực nhọc cho lợi ích chung, và quên đi chuyện cất nhắc lên cao thông qua sáng kiến của bản thân.

May thay, đối với tương lai của Việt Nam, những bài học kinh tế của chủ nghĩa cộng sản đã không được nắm chắc. Và 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã từ bỏ việc kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động kinh doanh mỗi ngày và thay vào đó đã khuyến khích nhận thức về một tinh thần kinh doanh chưa từng thấy kể từ khi có sự hiện diện của người Mỹ.

Chủ nghĩa tư bản thị trường cạnh tranh tự do đã đẻ ra những doanh nghiệp với, giao thương với những kẻ cựu thù, đầu tư tư nhân – và một tham vọng của chính phủ muốn thu hút những đồng ngoại tệ mạnh thông qua việc đấy mạnh du lịch.

Mục tiêu là: đưa những địa điểm xảy ra các cuộc chiến đẫm máu thành nơi nổi tiếng cho du lịch để có thể kiếm được những đồng đô la nước ngoài trong lúc túng bấn nhất.

Những địa điểm như Đường mòn Hồ Chí Minh, một loạt những con đường quanh co nổi tiếng đã cung cấp vũ khí và trang thiết bị cho các đội quân cộng sản ở miền nam. Từng bị dội bom nặng nề bởi các lực lượng của Mỹ trong suốt cuộc chiến, những nơi đây vẫn được coi như biểu tượng thành công của quốc gia.

Vậy là chính phủ đã cam kết giành hơn 400 triệu đô la để khôi phục các đoạn quan trọng có tính lịch sử của con đường mòn, và mở rộng nó suốt đoạn đường tới Sài Gòn, giờ được gọi là Thành phố Hồ Chí Minh. Dự án đường cao tốc được cho rằng sẽ giảm bớt tình trạng tắc nghẽn trên Đường số 1 ven bờ biển hẹp, con đường huyết mạch bắc-nam duy nhất nối liền đất nước từng bị chia cắt.

Cưỡi một chiếc xe máy dọc theo con đường mòn đòi hỏi phải tránh né những con trâu nước, bò, dê, chó, vịt, gà và lợn – và phải giữ thăng bằng khi những chiếc xe tải và xe buýt lớn ép bạn ra vệ đường. Bạn cũng cần cảnh giác trước những chiếc mô tô và những khách bộ hành lao ra nhanh như tên bắn từ các con đường khác trong thành phố và ở làng quê.

Tuy vậy, đáng ngạc nhiên là những đoàn xe xây dựng đã biến những lối mòn lấm bùn trong rừng rậm thành một con đường lớn đen bóng mà các du khách có thể vượt qua bằng xe máy, mô tô hay đi bộ.

Những điểm dừng được khuyến cáo bao gồm các khu vực bị phi cơ Mỹ đánh bom, và cũng bị rải Chấn độc Da cam có tác dụng diệt cỏ rất mạnh để làm lộ ra các nguồn tiếp tế và hoạt động của các toán quân. Những ảnh hưởng của chất hoá học cũng vẫn còn thấy rõ khi những tán lá cây dọc theo chân đồi và các khu rừng ngập mặng ở miền bắc trung bộ Việt Nam không phát triển được.

Con đường mòn nguyên sơ đã được mở rộng sang Lào và Cambodia, kéo dài hơn 10.000 dặm. Sự phát triển của những khu rừng nhiệt đới rậm rạp đã khẳng định rõ rệt điều này từ sau chiến tranh. Song các khu vực mang tính chiến lược đã được duy trì như là một sự nhắc nhở tới những người cộng sản sẽ chiến đấu cho một dân tộc không bị chia cắt …


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Khối XHCN sụp đổ, Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | 4 phản hồi »

513. Giải cứu quốc gia vỡ nợ

Đăng bởi anhbasam on 21/03/2010

Giải cứu quốc gia vỡ nợ


Nguyễn Quang A (*)

Một công ty không trả được nợ khi đến hạn, sẽ lâm vào trạng thái vỡ nợ. Một quốc gia cũng vậy. Iceland năm ngoái đã rơi vào tình trạng đó, năm nay Hy Lạp đang đứng trước nguy cơ vỡ nợ.

Một công ty có nguy cơ vỡ nợ nếu không được các chủ nợ, hay các bên thứ ba cứu trợ, thì có thể bị phá sản, phải thanh lý mọi tài sản để trả nợ và bị xóa sổ.

Một quốc gia khó có thể bị xóa sổ, nhưng nguy cơ phải bán tài sản, tô nhượng đất đai hầm mỏ để trả nợ là cao, hay việc các thế hệ tương lai phải còng lưng ra làm việc, chắt bóp chi tiêu để trả nợ là chuyện đương nhiên.

Chính phủ Hy Lạp đã phải đưa ra các chính sách tăng thuế, cắt giảm chi tiêu để có khả năng trả lãi và một phần gốc của món nợ quốc gia hơn 400 tỷ euro. Người dân xuống đường biểu tình chống lại chính sách tăng thuế và cắt giảm phúc lợi.

16 Bộ trưởng tài chính các nước vùng euro dường như đã thống nhất kế hoạch giải cứu Hy Lạp trong cuộc họp tại Brussels ngày 15-3 vừa qua, tuy kế hoạch chi tiết chưa được tiết lộ.

Tại sao một quốc gia có thể lâm vào tình trạng vỡ nợ?

Cũng đơn giản như một hộ gia đình, hay một công ty, chính phủ phải chi tiêu (nuôi quan chức, quân đội, công an, đầu tư phát triển,…) Cân đối với các khoản chi, chính phủ có các khoản thu, nếu thu không đủ chi thì phải đi vay trong hay ngoài nước, còn dùng máy in tiền để chi sẽ gây ra lạm phát khôn lường (thực sự là một loại thuế trá hình đánh vào tất cả mọi người dân).

Nguồn thu nội địa của chính phủ là thuế, phí, bán tài nguyên (thí dụ, dầu, than đá), các khoản khác, và các khoản vay trong nước (bán trái phiếu, tín phiếu).

Các khoản thu từ nước ngoài gồm tiền viện trợ không hoàn lại (thường không đáng kể) và các khoản vay nước ngoài (ODA hay vay thương mại, thí dụ phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế như Việt Nam đã phát hành 1 tỷ USD trong thời gian vừa qua).

Nếu sử dụng các khoản vay không hiệu quả, tham nhũng gây thất thoát và thu không nghiêm (trốn thuế) hay thu không đủ, thì nợ nần có thể chồng chất và rất dễ lâm vào tình trạng vỡ nợ.

Báo chí nêu Hy Lạp vỡ nợ vì tham nhũng và trốn thuế. Xếp hạng tín dụng của Hy Lạp từ mức (A -) đã bị hạ xuống (BBB+) mức thấp nhất trong các nước Châu Âu. Xếp hạng tín dụng thấp càng gây khó khăn cho việc vay mới (khó có thể vay hay phải vay với lãi suất cao).

Việt Nam có lẽ cũng phải nghiêm túc học các bài học đau xót này của Iceland và Hy Lạp, tuy trước mắt tình hình của chúng ta khả quan hơn nhiều do các khoản vay (ODA) dài hạn, lãi suất thấp và tổng dư nợ chưa quá cao. Tuy nhiên mức tăng dư nợ và hiệu quả sử dụng có thể gây lo ngại.

Mức xếp hạng tín dụng của Việt Nam vừa bị Fitch (**) hạ xuống một bậc (xuống mức BB-). Thâm hụt ngân sách của Việt Nam liên tục ở mức cao suốt nhiều năm trời. Các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ tăng nhanh, tuy được nhà chức trách thông báo vẫn ở mức an toàn (mức dưới 40% GDP được gọi là mức an toàn).

Theo Bộ Tài chính, ở thời điểm 30-6-2009 nợ nước ngoài của Việt Nam bằng 29,8 % GDP (23,6 tỷ USD). Sau tháng 6-2009 Việt Nam đã ký thỏa thuận vay và bảo lãnh có giá trị tổng cộng gần 4,5 tỷ USD (1,205 tỷ USD với Ngân hàng Phát triển Châu Á, ADB; 927 triệu USD với Ngân hàng Thế giới; 1,33 tỷ USD với Nhật Bản; và đã phát hành 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế) đó là chưa kể khoản vay 290 triệu USD Nhật Bản vừa ký cho Việt Nam vay giữa tháng 3 này. Nếu giải ngân hết các khoản này thì nợ nước ngoài của Việt Nam có thể tăng lên khoảng 35% GDP. Chưa rõ nợ trong nước của Chính phủ là bao nhiêu. Nhiều người cho rằng nợ công (trong và ngoài nước) của nhà nước Việt Nam đã vượt quá 50% GDP.

Điều đáng lo ngại là hiệu quả chi tiêu, hiệu quả đầu tư không cao, nạn tham nhũng tràn lan và nạn “khát đầu tư” của các cơ quan nhà nước vẫn không hề dịu đi, và vì thế nợ có thể tăng nhanh nếu không được kiểm soát chặt.

Nào là các dự án bauxite, đường sắt cao tốc mà Quốc hội chắc sẽ bàn, điện hạt nhân, và bao nhiêu siêu dự án khác.

Rồi Bộ Tài chính vừa có Quyết định về việc bổ sung vốn điều lệ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) với số tiền trên 10.200 tỷ đồng… vân vân và vân vân.

Tất cả các siêu dự án đó và việc chi cấp vốn cho các tập đoàn và các đại gia quốc doanh cần các khoản tiền khổng lồ.

Nhà nước trung ương vay, các tập đoàn vay và các địa phương cũng vay.

Thành phố Hồ Chí Minh vừa thành lập công ty đầu tư tài chính nhà nước (HFIC) để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, phát hành trái phiếu, vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng; tiếp nhận các nguồn tài trợ, nhận ủy thác các nguồn vốn;…

Hà Nội cũng đang đề xuất để được vay nước ngoài hàng tỷ USD. Có lẽ Hà Nội cũng sẽ noi gương thành phố Hồ Chí Minh để lập ra công ty đầu tư tài chính của mình.

Không rõ các tỉnh thành khác ra sao.

Chưa nói đến chuyện các công ty đầu tư tài chính nhà nước này sẽ chèn ép các ngân hàng trong huy động vốn, tôi chỉ cảnh báo nếu không kiểm soát chặt thì các công ty đầu tư tài chính nhà nước địa phương và các tập đoàn có thể vay tràn lan để đầu tư tràn lan (với lãi suất cao hơn nhà nước trung ương vay) có thể đẩy đất nước lâm vào cảnh nợ nần và có thể có nguy cơ vỡ nợ trong tương lai, đẩy con cháu phải còng lưng trả nợ.

Nạn khát đầu tư là một căn bệnh của bất cứ nhà nước nào, nếu không được giám sát, kiểm soát một cách chặt chẽ. Có quá nhiều cám dỗ và quá nhiều lý do nghe rất “chính đáng” cho việc vay nợ và chi tiêu, song hãy đừng đổ gánh nặng lên các thế hệ tương lai.

Phải xác định thật rõ các việc nhà nước nhất quyết phải làm, phải đầu tư (nuôi quân đội, làm luật, ép thực thi luật, xây dựng hạ tầng,…), nhưng nhà nước đừng đi kinh doanh, đừng đầu tư kinh doanh.

Nếu vẫn còn mụ mẫm trong não trạng “chính phủ không dựa vào các tập đoàn thì dựa vào ai?” hay tập đoàn “khỏe” chính phủ “khỏe” thì khả năng đất nước đến ngày vỡ nợ là rất cao.

Các vị có chức có quyền hãy cẩn trọng.


* Bài viết đã được biên tập lại và đăng trên Tiền phong Chủ nhật, 21-3-2010. Bản ở đây là đầy đủ.

** Có rất nhiều tổ chức cung cấp chỉ số rủi ro tài chính và xếp hạng năng lực tài chính, trong đó chỉ số của Moody’s, Standard & Poor’s và Fitch Ratings được tín nhiệm hơn cả (wikipedia).

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | 5 phản hồi »

504. Lấy đâu ra 40% GDP?

Đăng bởi anhbasam on 14/03/2010

Lấy đâu ra 40% GDP?


Nguyễn Quang A

Khi cần nêu cao vai trò của các tập đoàn kinh tế nhà nước, người ta đưa ra các con số rất đẹp về hoạt động của chúng. Người ta đã nhắc đi nhắc lại con số gần 40%, là sự đóng góp của chúng cho tổng thu nhập quốc nội (GDP). Tại buổi làm việc của lãnh đạo Chính phủ với lãnh đạo của hơn 100 tập đoàn và tổng công ty nhà nước ngày 10-3-2010, con số 40% (và trên 40% GDP) lại được nhắc lại. “Chính phủ cho rằng các tập đoàn và Tổng công ty, lực lượng chiếm trên 40% GDP của cả nước luôn đóng vai trò quyết định” (Vnexpress). Từ “lực lượng” hơi tối nghĩa nhưng bài báo khẳng định chúng “tạo ra hơn 40% GDP cho nền kinh tế” nên không thể hiểu lầm. Các báo khác cũng đưa tin tương tự, thậm chí nói đến 40% GDP hàng năm, tức là thành tích đã được duy trì trong nhiều năm qua. Từ “gần 40%” trước kia đã được thay bằng từ “hơn 40%”.

Trong khi đó, Tổng cục thống kê, cơ quan có thẩm quyền nhất nước về công bố các số liệu thống kê chính thống, đưa ra các con số chính thức về đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước vào GDP từ 1995 đến 2008 (bảng sau lấy từ 1998) như sau:

Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
% GDP 40,00 38,74 38,52 38,40 38,38 39,08 39,10 39,40 37,39 35,93 34,35
Trừ bớt 30,95 30,32 30,35 30,31 30,42 30,74 31,29 31,33 29,46 28,15 27,17

Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là một bộ phận của các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước lại chỉ là một bộ phận của kinh tế nhà nước. Theo số liệu trên của Tổng cục thống kê, thì suốt từ 1999 đến 2007 kinh tế nhà nước đúng là đóng góp gần 40% GDP. Từ 2008 không thể nói là gần (vì đã dưới 35%). Như vậy, con số đóng góp 40% GDP hàng năm của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cần xem xét lại.

Cũng nên lưu ý rằng đóng góp của “kinh tế nhà nước” cho GDP, theo thống kê, bao gồm cả đóng góp của nhà nước trong các lĩnh vực: quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng (đóng góp 3,28% năm 1998 và 2,77% năm 2008); giáo dục đào tạo (3,66% năm 1998 và 2,61% năm 2008); y tế cứu trợ, văn hoá thể thao, đảng và đoàn thể (2,11% năm 1998 và 1,8% năm 2008) [tổng cộng là 9,05% năm 1998 và 7,18% năm 2008].

Rõ ràng đóng góp của các lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, hoạt động đảng và đoàn thể là thuần của nhà nước; giáo dục, y tế và văn hoá thể thao có sự đóng góp của nhân dân và doanh nghiệp.

Có thể ước lượng phần đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước nếu ta lấy đóng góp của kinh tế nhà nước và trừ đi phần đóng góp kể trên. Tính với số liệu của Tổng cục Thống kê có kết quả nêu ở hàng cuối của bảng trên (hàng trừ bớt).

Do không có số liệu chính xác về đóng góp của tư nhân (và doanh nghiệp) vào giáo dục, y tế và văn hoá thể thao, nên hàng cuối chỉ là ước lượng đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước vào GDP (nhưng không thể cao hơn các con số này 1-2%). Có thể thấy đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước vào GDP chỉ ở khoảng 27 đến 31% GDP và tỷ lệ này giảm nhanh trong ba năm trở lại đây.

Người ta có thể lý giải: có nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) có vốn góp của các doanh nghiệp nhà nước, có các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá và khi thống kê thành tích được tính cho khu vực FDI hay cho khu vực ngoài nhà nước. Lưu ý rằng nếu vốn nhà nước trên 50% thì doanh nghiệp vẫn được tính là doanh nghiệp nhà nước và số liệu thống kê cũng vậy. Đóng góp của khu vực FDI vào GDP năm 1998 là 10,03% và năm 2008 là 18,68%.

Nếu giả như chúng ta ước lượng đóng góp của phần nhà nước trong các doanh nghiệp FDI và cổ phần hoá là 5% GDP đi nữa (tôi nghĩ đấy là ước lượng cao) thì các doanh nghiệp nhà nước đóng góp được khoảng từ 36% đến 32% GDP là cùng, nếu không thấp hơn đáng kể.

Đóng góp của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước hiển nhiên là ít hơn các con số này, chứ quyết không thể là gần 40% và trên 40% được. Ai cũng có thể cảm nhận được rằng dầu và than đóng góp đáng kể cho các con số đó, tức là từ tài nguyên không thể tái tạo được của đất nước! Vậy thành tích thực của chúng là bao nhiêu?

Sự minh bạch, trách nhiệm giải trình, nhất là của các cơ quan công quyền, là đòi hỏi cấp bách của sự phát triển đất nước. Thông tin, số liệu do các quan chức chính phủ và các cơ quan hữu trách phải có tính nhất quán. Thông tin mỗi người một nẻo, ông chẳng bà chuộc như số liệu “đóng góp vào GDP của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước” nêu trên khiến có thể rút ra kết luận: tính minh bạch và trách nhiệm giải trình không cao, không góp phần xây dựng lòng tin.

Tôi nghĩ những người chuẩn bị báo cáo cho Thủ tướng, các Phó Thủ tướng nên làm rõ các con số này. Đánh giá không chính xác, hay tệ hơn nếu tô vẽ số liệu, sẽ có thể dẫn đến các chính sách sai lầm.

Với nguồn lực to lớn của đất nước mà các tập đoàn sử dụng, thành tích đóng góp cho GDP và cho tạo công ăn việc làm của chúng là rất kém. Chúng là vấn đề của nền kinh tế chứ không phải giải pháp. Cải tổ triệt để chúng phải là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế. Và đánh giá chúng một cách khách quan, chính xác là vô cùng quan trọng. Đừng lựa ý cấp trên, hay ý của các nhóm lợi ích mà tô vẽ số liệu.


* Bài viết đã được biên tập lại và đăng trên Tiền phong Chủ nhật, 14-3-2010. Bản ở đây là đầy đủ.

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , , | 10 phản hồi »

502. EIU ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Đăng bởi anhbasam on 12/03/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

EIU ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Bảy, ngày 3-3-2010

Cùng với báo cáo đánh giá về thực trạng và dự báo triển vọng chính trị- kinh tế Việt Nam, Bộ phận Đánh giá Nguy cơ Quốc gia (CRS) của Đơn vị Thông tin Kinh tế (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) tháng 2/2010 công bố báo cáo đánh giá về các nguy cơ đối với Việt Nam trên các lĩnh vực nợ công, tiền tệ, ngân hàng, chính trị…. Dưới đây là một số nội dung đáng chú ý của báo cáo:

I .Đánh giá về các nguy cơ đối với Việt Nam

1. Nguy cơ về nợ công

EIU cho rằng hiện có những quan ngại về những tác động thứ cấp tiêu cực tiềm tàng của các nỗ lực kích thích kinh tế đang thực hiện. Chính phủ Việt Nam đã mở rộng chương trình hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay dài hạn và trung hạn trong cả năm 2010 . Hiện nổi lên nhiều lo ngại về việc Chính phủ Việt Nam sẽ cung cấp tài chính cho các chương trình kích thích kinh tế như thế nào trong khi đồng thời phải trang trải thâm hụt ngân sách lớn. Với mức tương đương 8,1% GDP , thâm hụt ngân sách (không kể các khoản cho vay) dự kiến sẽ tiếp tục cao trong năm 2010 sau khi đạt con số 9% GDP năm 2009. Trong hai năm tới, nợ công của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng ở mức tương đối, từ con số ước tính 52,1% GDP trong năm 2009 lên tới 54,3% GDP vào năm 2011.

Đối với Việt Nam, hiện có các nhân tố tích cực bao gồm: (1) Sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà tài trợ. Tới thời điểm này, các nhà tài trợ nước ngoài đã cam kết sẽ ủng hộ 8 tỷ USD viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong năm 2010 cho Việt Nam, tăng đáng kể so với con số 5 tỷ USD cam kết trong năm 2009. (2) Tỷ lệ nguồn dự trữ ngoại tệ so với nợ ngắn hạn nước ngoài ở mức cao đã làm giảm đáng kể sự dễ tổn thương của Việt Nam trong bối cảnh xảy ra khủng hoảng tiền mặt. Tuy nhiên, tỷ lệ này gần đây đã giảm do sự tụt giảm của nguồn dự trữ ngoại tệ. Bên cạnh đó, Việt Nam phải đối mặt với các yếu tố tiêu cực, bao gồm: (1) Chính phủ cam kết thực hiện đúng hạn đối với các cam kết nợ công, cả ngoài nước và trong nước, nhưng cam kết này có thể không vững chắc khi đối mặt với các áp lực về kinh tế xã hôi; (2) Mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm 21,3% xuống còn 18,8 tỷ USD trong giai đoạn cuối năm 2008 tới cuối tháng 8/2009. Việc thiếu những số liệu cập nhật đã làm gia tăng những đồn đoán rằng dự trữ ngoại hối của Việt Nam còn giảm nhiều hơn nữa trong những tháng gần đây. Một mức độ dự trữ ngoại hối sẽ làm tăng nguy xơ rằng chính phủ sẽ không thể thực hiện những cam kết về nợ trong bối cảnh xảy ra khủng hoảng tiền mặt.

Về tổng thể, EIU nhận định vấn đề nợ công của Việt Nam ở mức ỔN ĐỊNH. Xếp hạng nguy cơ nợ công của Vịêt Nam có thể sẽ không được cải thiện hơn trong những năm tới (2010-2011). Chính phủ Việt Nam đã khẳng định sẽ thực hiện các cam kết về nợ. Hiện chỉ tồn tại một nguy cơ nhỏ rằng chính phủ sẽ không thể giải quyết các khoản nợ của mình trong năm 2010- 2011. Nếu điều này xảy ra, nhiều khả năng việc tìm kiếm nguồn tiền bằng phương thức nhượng bộ sẽ được thực hiện. Tính hiệu quả của các thể chế nhà nước trong việc định hình và thực hiện chính sách là nghèo nan, và điều này làm nổi lên nguy cơ rằng các phản ứng chính sách đối với các thách thức hiện nay sẽ là không đầy đủ. Các điểm yếu kém chính trong sổ sách tài khoá sẽ tiếp tục ngăn cản những phân tích độc lập về tình trạng sổ sách báo cáo chi tiêu của chính phủ . Trong 2 năm tới, việc Việt Nam sẽ tiếp tục phát hành trái phiếu quốc tế dưới dạng đồng USD là điều rất có thể, nhưng đây sẽ tiếp tục là một phương thức đắt giá của việc huy động tài chính.

2. Nguy cơ về tiền tệ

Nhu cầu gia tăng về đồng USD, được củng có thêm bằng mức thâm hụt thương mại lớn và những lo ngại về lạm phát ngày càng gia tăng, đã đẩy giá trị đồng VND xuống thấp so với đồng USD trong những tháng gần đây. Nhờ áp lực xuống giá liên tục này, tháng 11/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thu hẹp biên độ giao dich của đồng VND so với đồng USD từ ± 5% xuống còn  ±3%. Đồng thời, các nhà chức trách Việt Nam cũng thực hiện một hành động điều chỉnh giảm hơn 5% giá trị của đồng tiền. Chỉ cho tới khi tài khoản thương mại và lạm phát cho thấy các dấu hiệu cải thiện tích cực thì khi đó áp lực giảm giá của đông VND mới được xoá bỏ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam SBV cũng sẽ phải thực hiện việc phá giá một lần nữa và nới rộng biên độ giao dịch. Tuy nhiên, cho phép đồng VND giá trị thấp so với đồng USD có thể làm tăng giá trị tiền VND của các khoản nợ của các công ty hiện đang tích bằng USD, và điều này sẽ làm gia tăng nguy cơ vỡ nợ của nhiều công ty vốn phụ thuộc chủ yếu vào việc buôn bán bằng USD.

Đánh giá về các nhân tố tích cực đối với vấn đề tiền tệ của Việt Nam, EIU cho rằng nếu Chính phủ Việt Nam nới rộng biên độ giao dich của đồng VND trong năm 2010 thì sẽ mang lại tính linh hoạt nhiều hưon cho các thị trường giao dịch ngoại hối, giảm nguy cơ về việc thực hiện các biện pháp phá giá đồng tiền bắt buộc. Tuy nhiên , hiện Việt Nam đang đối mặt với hai yếu tố tiêu cực, gồm: (1) Nguồn dự trữ ngoại hối tương đối thấp có thể ngăn cản khả năng can thiệp của chính phủ trong bối cảnh đồng VND sụt giảm nhanh, làm gia tăng nguy cơ phá giá mạnh đồng tiền.

Trên cơ sở đánh giá trên, EIU xếp hạng nguy cơ tiền tệ của Việt Nam ở mức tiêu cực. EIU cho rằng có vẻ như có ít cam kết về việc tự do hoá cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong ngắn hạn. Điều này sẽ huỷ hoại niềm tin vào khả năng của chính phủ trong việc kiểm soát chính sách tỷ giá hối đoái một cách sáng suốt, từ đó làm gia tăng nguy cơ về sự bất ổn định nhanh chóng của đồng tiền. Về cơ bản không có một cơ chế thể chế nào đang hoạt động có thể bảo đảm rằng lạm phát sẽ ở mức thấp, và điều này làm gia tăng nguy cơ rằng sự tăng giá cả trong nước sẽ làm xói mòn giá trị của VND. Hiện tượng “đôla  hoá”- việc giữ tiền USD của người dân tăng khi niềm tin vào tiền VND giảm- có thể sẽ là một thách thức, đặc biệt là khi các nhà chức trách thể hiện không đủ khả năng kiểm soát lạm phát và cơ chế tỷ giá hối đoái không được tự do hoá.

3. Nguy cơ trong lĩnh vực ngân hàng

EIU nhận định rằng các sáng kiến của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy hoạt động kinh tế đã giúp mang lại một sự tăng trưởng tín dụng khác thường. Tăng trưởng tín dụng nội địa ước tính đạt 45,6% trong năm 2009, và điều này cho thấy thiếu sự đánh giá về các nguy cơ liên quan. Trong khi một số khoản vay này được định hướng vào các khoản đầu tư không hữu ích thì nhiều khả năng sẽ có một sự gia tăng các khoản cho vay khó đòi (NPL). Hơn nữa, do có sự can thiệp đáng kể của nhà nước vào lĩnh vực ngân hàng nên các khoản cho vay thường dựa trên tiêu chí chính trị hơn là tiêu chí tài chính đơn thuần, điều này cũng làm gia tăng các NPL. Tháng 12/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất cơ bản thêm 1 điểm phần trăm lên 8%. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng nhanh, nhiều khả năng SBV sẽ gia tăng lãi suất trong năm 2010, có thể là 2 điểm phần trăm. Tiến trình cổ phần hoá đang tiếp diễn đối với các ngân hàng thương mại do nhà nước sở hữu sẽ đóng góp vào việc gia tăng tính hiệu quả trong lĩnh vực ngân hàng. Chính phủ Việt Nam sẽ tiến hành cải cách ngành ngân hàng, nhưng những tiến bộ đạt được sẽ chậm chạp.

Trong lĩnh vực ngân hàng, EIU cho rằng Việt Nam có 2 nhân tố tích cực: (1) Tỷ lệ lãi suất chính thức thấp sẽ giảm chi phí bù nợ và vì thế sẽ hạn chế nguy cơ về một sự gia tăng các khoản cho vay khó đòi; (2)Cổ phần của chính phủ trong tất cả các ngân hàng lớn có nghĩa là chính phủ sẽ cung cấp sự hỗ trợ về tài chính nếu bất kỳ ngân hàng nào gặp khó khăn. Điều này giảm nguy cơ nợ hoặc khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn tủ ngành ngân hàng. Tuy nhiên, hiện cũng tồn tại 3 yếu tố tiêu cực, bao gồm (1) Hiện có sự thiếu hụt đáng kể trong việc điều hành và giám sát ngành tài chính, làm gia tăng nguy cơ về khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn từ các vấn đề trong hệ thống ngân hàng; (2) Lạm phát gia tăng sẽ khiến tỷ lệ lãi suất thực trả vào các ngân hàng ở mức tương đối thấp. Với việc bị kiểm soát tỷ lệ lãi suất cho vay, khả năng sinh lời của các ngân hàng sẽ bị kiểm soát đáng kể; (3) SBV chưa thành công trong việc định hướng các ngân hàng kiểm soát tăng trưởng trong lĩnh vực cho vay chế ngự tăng trưởng tín dụng nội địa. Điều này tạo ra một nguy cơ rằng tăng trưởng tín dụng sẽ tiếp tục tăng mạnh, và đồng thời là sự gia tăng của các khoản cho vay khó đòi.

Với đánh giá trên, EIU nhận định  xếp hạng nguy cơ trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam ở mức ỔN ĐỊNH. Theo EIU, các ngân hàng sẽ tiếp tục kêu gọi SBV dỡ bỏ trần lãi suất cho vay bởi nó kiềm chế khả năng sinh lời. Tuy nhiên, bỏ trần sẽ có thể dẫn đến việc tăng đáng kể lãi suất cho vay, và điều này có thể kiềm chế các hoạt động kinh tế, và vì thế nhiều khả năng chính phr sẽ không lăng nghe những lời kêu gọi này của các ngân hàng. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam sẽ cải thiện việc giám sát ngành nhân hàng về dài hạn. SBV đã đưa ra những đòi hỏi vốn tối thiểu với các ngân hàng thương mại nhằm tạo ra một hệ thống ngân hàng tập trung xung quanh một vài ngân hàng mạnh.

4. Đánh giá về nguy cơ chính trị

EIU đánh giá về xếp hạng nguy cơ chính trị của Việt Nam ở mức “B” và cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì quyền lãnh đạo, bảo đảm sự ổn định chính trị của Việt Nam ở mức cao. Giới lãnh đạo đang thực hiện các công cuộc cải cách theo định hướng thị trường, tuy nhiên có nguy cơ tốc độ cải thiện sẽ chậm lại. Mặc dù không phải vấn đề nằm trong dự báo trọng tâm của EIU nhưng đơn vị này cho rằng cuộc khủng hoảng y tế công có thể sẽ tạo một nguy cơ đáng kể đối với nền kinh tế của Việt Nam. Tính hiệu quả chính trị sẽ tiếp tục bị huỷ hoại bởi tham nhũng tràn lan và một trong những thách thức lớn nhất đối với Đảng cầm quyền trong việc nỗ lực duy trì quyền lực là việc đối phó với tệ nạn hối lộ trong chính đội ngũ quan chức đảng việ. Các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà tài trợ đã thường xuyên thể hiện quan ngại về vấn nạn tham nhũng ở Việt Nam. Hơn nữa, triển vọng về tự do chính trị và việc cải thiện vấn đề nhân quyền vẫn còn thấp. Hiện có một nguy cơ nhỏ mới xuất hiện về việc Việt Nam có thể có đụng độ quân sự với một nước khác.

II. Dự báo triển vọng kinh tế- chính trị Việt Nam 2010- 2011

Trong báo cáo tựa đề “ Vietnam – Country Forecast February 2010”, EIU cho rằng Việt Nam đã vượt qua được những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng những áp lực về thâm hụt ngân sách và làm phát vẫn còn đe doạ tới sự ổn định của nền kinh tế. EIU nhận định rằng triển vọng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam vẫn là tích cực. Trong năm 2010- 2011, kinh tế Việt Nam sẽ  tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của năm 2009 và sẽ đạt mức tăng trưởng GDP lần lượt là 6,2% và 7,0%. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam sẽ giảm xuống còn khoảng 7,8% GDP so với mức 9% GDP của năm 2009. Tuy nhiên, lạm phát của Việt Nam trong 2 năm 2010- 2011 sẽ ở mức cao, lần lượt là 10,3% và 9,9%.

1.Triển vọng chính trị Việt Nam 2010- 2011

* Chính trị nội bộ

EIU cho rằng Đảng CSVN sẽ phải đối mặt với một loạt thách thức lớn từ nay cho tới Đại hôi Đảng , dự kiến vào tháng 1/2011. Có thể sẽ có những thay đổi quan trọng về nhân sự trong đội ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng nhưng giáo lý trung tâm sẽ không thay đổi và mục tiêu quan trọng nhất vẫn là duy trì vị trí lãnh đạo của Đảng.

Sự thành công của Đảng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bất kể trong tình hình suy thoái toàn cầu, đã góp phần vừa gia tăng sự thờ ơ về chính trị của người dân và củng cố tuyên bố bấy lâu  về quyền điều hành đất nước của Đảng. Tuy nhiên, tính hợp pháp và việc bảo vệ những ưu việt của nhà nước một đảng của Đảng CSVN vẫn bị thách thức trong bối cảnh kinh tế phát triển không vững chắc, tham nhũng ở các địa phương, xuống cấp về môi trường và những bất bình của quần chúng liên quan đến việc thu hồi đất.

* Các mối quan hệ quốc tê

Việt Nam sẽ đóng vai trò trọng tâm trong sự phát triển của Đông Nam Á trong năm 2010 với việc năm giữ chức vụ Chủ tịch ASEAN và tháng 1/2010. Ưu tiên đã tuyên bố của chính phủ trong năm giữ chức vụ Chủ tịch ASEAN là thúc đẩy hợp tác trong khối ASEAN. Việt Nam cũng mong muốn vun đắp mối quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc. Mặc dù các vấn đề gai góc như chủ quyền tại các hòn đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có thể tạo ra căng thẳng ngoại giao nhưng xét về tổng thể thì các môi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục được tăng cường. Tất nhiên, Việt Nam không mong muốn điều này sẽ làm tổn hại các mối quan hệ của mình với Mỹ. EIU cho rằng. Chính phủ Việt Nam ssẽ tiếp tục gặt hái thành công trong việc duy trhi sự cân bằng, nhờ đó Việt Nam sẽ tránh không liên kết với một nước mà hy sinh các mối quan hệ với nước khác, thể hiên ở việc Việt Nam tỏ vẻ rất nóng lòng thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do (FTA). Hiện đã có những thảo luận liên quan đến khả năng đàm phán một FTA với EU, và Việt Nam gần đây cũng thể hiện mong muốn tham gia khối Đối tác Xuyên Thái Bình Dương- nhóm tới ngay gồm các thành viên Niu Dilân, xinhgapo, Chilê và Brunây.

2.Triển vọng chính sách kinh tế

* Các xu hướng chính sách

Theo đánh giá của EIU, chính phủ Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với thách thức chính sách lớn trong việc kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cũng phải đối mặt với sự thoả hiệp giữa thắt chặt chính sách tiền tệ để hỗ trợ cho tỷ giá hối đoái và giữ lạm phát ở trong tầm kiểm soát;hay là duy trì chính sách ở mức tương đối lỏng để khong làm các doanh nghiệp thiếu vốn và kìm kẹp hoạt động kinh tế. Liên quan tới việc kích thích kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã mở rộng chương trình hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay trung và dài hạn tới hết năm 2010. Tuy nhiên, hiện  xuất hiện những quan ngại về những hiệu ứng phụ tiêu cực tiềm tàng cua các nỗ lực kích thích kinh tế đang thực hiện. Việc hỗ trợ lãi suất, cùng với mức lãi suất cho vay chính chính thức thấp trong năm 2009, đã khiến cho tín dụng nội địa tăng vọt và làm gia tăng áp lực lạm phát. Hiện cũng có những quan ngại về việc liệu chính phủ sẽ cung  cấp tiền cho các chương trình kích cầu như thế nào trong khi vẫn tìm cách lấp đầy thâm hụt ngân sách lớn hiện nay.

Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam có thể sẽ tiếp tục các biện pháp chính sách truyền thống để cố gắng kiềm chế các áp lực lạm phát. Chẳng hạn như việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã tăng lãi suất cơ bản thêm 1 điểm phần trăm lên 8% trong tháng 12/2009. Tuy nhiên , vấn đề có thể quan trọng hơn là SBV đã giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngoại hối xuống 4% từ mức 7% trước đó, bắt đầu có hiệu lực từ 1/2/2010. Việc này sẽ cởi trói cho nguồn vốn trong ngắn hạn và thúc đẩy cho vay. Tuy nhiên, bằng việc nâng lãi suất và sau đó cắt giảm yêu cầu dự trữ, các nhà hoạch định chính sách dường như đang cố gắng thắt chặt và nới lỏng chính sách tiền tệ một cách đồng thời, tạo ra những quan ngại về định hướng chính sách xét về tổng thể.

Ngoài ra, các nhà cầm quyền Việt Nam có vẻ như đang xem xét thực hiện một số biện pháp gây tranh cãi nhiều hơn, chẳng hạn như kiẻm soát giá cả đối với các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân để bình ổn giá cả. Nếu được thực hiện, các biện pháp mạnh mẽ như vậy sẽ huỷ hoại niềm tin vào việc kiểm soát và điều hành kinh tế chủa chính phủ. Điều đó cũng cho thấy ràng những người trong Chính phủ Việt Nam – những người đang ủng hộ một cách tiếp cận tự do hơn đối với việc hoạch định chính sách kinh tế – đã bị lu mờ trước những người có tâm tính kiểm soát luôn muốn tái khẳng định sự can sự của nhà nước vào việc kiểm soát và điều hành kinh tế.

* Chính sách tài khoá

Theo nhận định của EIU, sau khi tăng lên khoảng 9% GDP, thâm hụt ngân sách của Viẹt Nam (không kể các khoản đang cho vay) sẽ tiếp tục ở mức cao trong năm 2010-2011. Nguồn thu của chính phủ sẽ được cải thiện trong  2 năm tới khi tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy và giá dầu thô toàn cầu tăng từ mức thấp trong năm 2009. Tuy vậy, chi tiêu chính phủ sẽ tiếp tục ở mức cao khi mà Chính phủ Việt Nam tiếp tục chi mạnh vào hạ tầng cơ sở và các chương trình cải thiên phúc lợi xã hội. Mặc dù thâm hụt ngân sách sẽ thu hẹp xuống còn khoảng 7,8% GDB trong giai đoạn 2010-2011 nhưng cũng có những quan ngại lớn về cách thức chính phủ sẽ tìm nguồn tài chính cho mức thâm hụt này , đặc biệt là trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đã vay rất nhiều tiền để tài trợ cho các chương trình kình cầu ngoài ngân sách. Cuối tháng 1/2010, Chính phủ Việt Nam đã huy động khoảng 1 tỷ USD thông qua phát hành trái phiếu quốc tế, nhưng việc này không phải là dễ làm. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục nhận các nguồn vốn từ các nhà tài trợ quốc tế.

* Chính sách tiền tệ

EIU cho rằng SBV sẽ tiếp tục thắt chặt hơn chính sách tiền tệ trong năm 2010-2011 khi mà những áp lực lạm phát được định hình. SBV đã nới lỏng đáng kể chính sách tiền tệ trong giai đoạn từ giữa năm 2008 tới đầu năm 2009, cắt giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống 7%. Tuy nhiên, vào thời điểm tháng 12/2009, SBV bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất co bản lên 8%. Trong bối cảnh mức tăng trưởng tín dụng có bước tăng mạnh, nhiều khả năng SBV sẽ tăng lãi suất trong năm 2010, có thể tăng thêm 2%. Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã kêu gọi các nhà cầm quyền Việt Nam thắt chặt chính sách tiền tệ và kìm cương tăng trưởng tín dụng. EIU dự báo rằng Chính phủ Việt Nam có thể sẽ chọn giải pháp nới lỏng chính sách tiền tệ thêm một lần nữa trong năm 2010 nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, những hành động như vậy sẽ có tác động tiêu cực hết sức nghiêm trọng tới sự ổn định của nền kinh tế.

3. Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2010-2011

* Đánh giá về kinh tế toàn cầu

EIU cho rằng kinh tế toàn cầu đã và đang hồi phục sau khủng hoảng nhờ các gói kích thích tài chình và tiền tệ mạnh mữ tại hầu hết các nền kinh tế lớn. Tuy nhiên, kích thích tài chính không thể duy trì một cách vô hạn mà không đặt ra những quan ngại về mức độ ổn định của các khoản nợ chính phủ. Câu hỏi chủ chốt đặt ra là liệu các nguồn cầu có đủ để duy trì “sức khoẻ” của sự hồi phục kinh tế toàn cầu sau năm 2010 hay không. Trên cơ sở đó, EIU dự báo rằng tăng trưởng GDB toàn cầu tính theo sức mua tương đương năm 2010 sẽ ở mức 3,6%. Nếu tính theo tỷ giá hối đoái thị trường thì GDB toàn cầu sẽ tăng trưởng ở mức 2,7% trong năm 2010. Trong năm 2011, một giai đoạn khó khăn sẽ xuất hiện trong nền kinh tế Mỹ và sự hồi phục chậm chạp tại khu vực đồng tiền chung châu Âu và Nhật Bản sec kiềm chế tăng trưởng toàn cầu. Nói một cách rộng hơn, nền kinh tế thế giới sẽ phải gánh chịu những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài nhính khởi điểm từ giữa năm 2007 và sự huỷ hoại tiền bạc sau đó của năm 2008-2009. Những yếu tố này sẽ ngăn cản thế giới trở lại với thời kỳ tăng trưởng nhanh như trong giai đoạn 2004-2007. Dự báo tăng trưởng GDB toàn cầu năm 2011 là 3,5%.

* Về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam

EIU nhận định dù triển vọng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam là tích cực song hai năm tới sẽ là những năm đầy thách thức. Trong năm 2010-2011, EIU cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng vượt qua mức 5,3% của năm 2009 nhưng sẽ không thể trở lại mức tăng trưởng cao như trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Về mặt tích cực, sự hồi phục của kinh tế toàn cầu mang lại thuận lợi cho ngành xuất khẩu của Việt Nam, và nhập khẩu tăng gần đây cho thấy nhu cầu của các nhà đầu tư và người tiêu dùng cũng đang được củng cố và tăng cường. Tuy nhiên, xet về mặt tiêu cực, cách tiếp cận tiên phong mà chính phủ thực hiện nhằm giữ cho nền kinh tế không bi chìm trong năm 2009 (đặc biệt là nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khoá) có thể sẽ tạo ra lạm phát, vì thế sẽ hạn chế sự linh hoạt chính sách trong 2 năm tới. Hơn nữa, lạm phát đang gia tăng và thất nghiệp ở mức tương đối cao có thể sẽ kiềm chế tăng trưởng chi tiêu của người tiêu dùng trong tương lai.

Đối với cách ngành cụ thể, EIU nhân định rằng tăng trưởng trong ngành công nghiệp sẽ tiếp tục được thúc đẩy trong năm 2010-2011. mặc dù sẽ có một sự cải thiện trong sản lượng chế tạo so với năm 2009, nhưng tăng trưởng về cầu đối với các sản phẩm chế tạo xuất khầu của Việt Nam sẽ không sáng sủa trong hai năm tới, đặc biệt là so với giai đoạn tiền khủng hoảng. Tương tự, dù các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lạc quan về triển vọng dài hạn của Việt Nam nhưng tăng trưởng trong lĩnh vực đầu tư vào ngành chế tạo sản xuất sẽ tương đối chậm trong 2 năm tới. Ngành xây dựng của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng nhanh, được thúc đẩy trong năm 2009 nhờ lãi suất thấp và giá cả nguyên vật liệu giảm. Ngoài sự phát triển của đầu tư vào xây dựng văn phòng, đầu tư của nhà nước trong các dự án phát triển hạ tầng cũng sẽ giúp hỗ trợ cho ngành công nghiệp xây dựng trong năm 2010-2011. Ngành dich vụ của Việt Nam, vốn là động lực chính của tăng trưởng trong những năm 2009, sẽ tiếp tục đạt mức tăng trưởng vững chắc trong những năm tới.

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

493. VN liên quan phục hồi toàn cầu

Đăng bởi anhbasam on 06/03/2010

Seeking Alpha

Việt Nam liên quan đến việc phục hồi kinh tế toàn cầu

Charlie Price

March 04, 2010

Tập đoàn Đầu tư Bespoke cho thấy có sự suy giảm trong rủi ro mặc định khoản nợ của chính phủ (1) đã xảy ra trong tháng trước. Điều này nêu bật một thực tế là, đối với một nước nói riêng, đã xảy ra trường hợp ngược lại.

Bảng đầu tiên của Bespoke cho thấy có sự thay đổi so với tháng trước, khi đo bằng giá hoán đổi tín dụng mặc định (2), với Việt Nam, cho thấy trường hợp ngoại lệ.

[Các nước khác giảm rủi ro mặc định kể từ ngày 5-2, trong khi VN thì rủi ro này tăng]

Bảng thứ hai cho thấy giá hợp đồng tín dụng mặc định dựa vào điểm cơ bản:

[Việt Nam cũng đứng gần cuối bảng này, cùng với các nước như Hy Lạp và Iceland. Vậy chuyện gì xảy ra với Việt Nam?]

Nước này đang đối mặt với nhiều vấn đề. Nợ quốc gia dự đoán lên tới 52% tổng sản lượng quốc gia và gần đây họ đã đi đến việc bán trái phiếu bằng đồng đô la. Điều đó cho thấy đơn vị tiền tệ này, đồng, là bán cố định (3) đối với đồng đô la, cần phải được quản lý. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với thâm thủng ngân sách là 9%, mức thâm thủng hiện tại là 10% và liên tục lạm phát. Tỷ lệ lạm phát trên 28% trong năm 2008, nhưng đã giảm còn 7,3% năm ngoái do sự suy thoái.

Suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới Việt Nam nhiều như phần còn lại của thế giới. Sau khi tăng trưởng bình quân 7% trong những năm làm ăn có hiệu quả, xuất khẩu giảm gần tới 10% trong năm 2009. Cam kết đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm 70%.

Xuất khẩu yếu và việc đầu tư nước ngoài giảm có nghĩa là tỉ giá trao đổi cố định (4) bị áp lực. Ngày 26 tháng 11 năm 2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hạ giá đồng tiền khoảng 5%. Sau đó cuối tháng, ngân hàng trung ương hạ giá thêm một lần nữa 3,3%.

Việc hạ giá này có khả năng giúp xuất khẩu, nhưng nhiều áp lực đặt ra cho chính phủ hơn về tài chính và lạm phát.

Một vấn đề nữa cho người Việt Nam là hiệu suất của chính đồng đô la.

Do tỉ giá trao đổi cố định, những biến động đáng kể của đồng đô la có tác động đáng kể đối với hàng hóa xuất khẩu không phải vào thị trường Hoa Kỳ, trong đó chiếm 81% tổng số. Sức mạnh của đồng đô la hiện tại phần nào giải thích cho lần hạ giá thứ hai trong thời gian 3 tháng.

[Nhìn vào thời gian] dài hạn hơn, các cơ hội ở Việt Nam trông đầy hứa hẹn. Dân số đông, nông nghiệp, dầu hỏa và chi phí sản xuất thấp, tất cả thêm vào việc thu hút [đầu tư]. Quỹ đầu tư như Market Vectors Việt Nam ( VNM), hoặc quỹ đầu tư VinaCapital Opportunity (VCVOF.PK), cung cấp việc truy cập vào thị trường chứng khoán dễ dàng. Những cổ phiếu này đem lại lợi nhuận từ việc đầu tư. Nếu [thị trường] toàn cầu hồi phục, các cổ phiếu đó rất tốt cho các cơ hội đầu tư.

Hiện tại, các dữ liệu trông có vẻ tốt cho các quỹ đầu tư này. Chỉ số JPMorgan Global All-Industry Output tăng đến 53,6 trong tháng hai, mức cao nhất kể từ tháng 10 năm 2009. Như báo cáo nói:

Chỉ số tiêu đề hiện tại giữ được trên chỉ số trung lập là 50,0 trong bảy tháng liên tiếp, với chỉ số gần đây nhất giữ vững ở mức tăng trưởng hàng năm của GDP toàn cầu là 3-4%

Đó là tin tốt cho Việt Nam. Có nghĩa là sự phục hồi mạnh mẽ trong thị trường xuất khẩu sẽ cho phép họ trả nợ. Vấn đề quan trọng là liệu sự phục hồi có ở lại hay không. Liệu cái đà phục hồi sẽ giữ vững hay là cần thiết để bắt đầu giải quyết thâm thụt, kéo sự phục hồi xuống?

Bất kỳ dấu hiệu nào về sự hồi phục rồi quay đầu đi xuống lần nữa (5) của kinh tế toàn cầu sẽ rất có hại cho Việt Nam. Một sự suy thoái tiếp tục sẽ làm cho họ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu, đau đớn khi phải thanh toán các khoản lãi suất cao và có nhiều khả năng hạ giá tiền tệ thêm nữa.

Việt Nam liên quan rất lớn đến việc phục hồi toàn cầu (nghĩa là: kinh tế toàn cầu phục hồi thì kinh tế VN mới phục hồi, kinh tế toàn cầu tiếp tục suy thoái thì VN tiếp tục bị ảnh hưởng)


Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú:

(1) Sovereign default risk: rủi ro mặc định khoản nợ vay của chính phủ, nghĩa là rủi ro có thể xảy ra do khủng hoảng kinh tế, mà quốc gia đi vay nợ không thể trả nợ, hoặc không trả nợ đúng hạn.

Thường một quốc gia đi vay nợ, nếu không thể trả nợ thì không thuộc thẩm quyền xét xử tại tòa án phá sản, do đó chính phủ có thể không trả nợ mà không bị hậu quả pháp lý. Ví dụ như trường hợp Bắc Triều Tiên, năm 1987 đã không trả nợ theo quy định. Trường hợp như vậy, bên cho vay và chính phủ Bắc Triều Tiên thỏa thuận lại về lãi suất, thời gian cho vay, và số tiền gốc phải thanh toán. Hay như khủng hoảng kinh tế ở Argentina năm 2002, Argentina đã không thể trả số nợ vay $1 tỉ đô la từ Ngân hàng Thế giới. Những rủi ro đó gọi là sovereign default risk.

Nếu rủi ro này giảm, nghĩa là quốc gia đó có nhiều khả năng trả nợ vay. Hình 1 cho thấy, trường hợp VN, rủi ro này không giảm như các nước khác mà gia tăng 4% trong tháng qua.

(2) Credit default swap: hoán đổi tín dụng mặc định, gọi tắt là CDS, như dạng bảo hiểm trên món nợ mà mình cho vay. Đây là hợp đồng mà người mua (thường là người cho vay nợ) trả tiền theo định kỳ cho người bán (hãng bảo hiểm), đổi lại, hãng bảo hiểm sẽ trả khoản nợ mà người mua cho vay, nếu bên vay nợ không trả được. Ví dụ: trường hợp bạn là nhà đầu tư, bạn cho Bắc Triều Tiên vay $1 triệu đô la, bạn đến hãng bảo hiểm AIG mua bảo hiểm trên số nợ $1 triệu đô la mà bạn cho vay. Trường hợp Bắc Triều Tiên không trả hoặc chỉ trả 1 phần trong số tiền $1 triệu đô la đó, thì phần còn lại AIG sẽ trả cho bạn.

CDS price càng cao thì khả năng trả nợ của quốc gia đó càng thấp, do đó số tiền bảo hiểm phải trả trên món nợ cao. Ví dụ như Argentina CDS price = 1.068, nếu bạn cho chính phủ Argentina mượn nợ, bạn phải trả số tiền thật cao để mua bảo hiểm trên món nợ cho vay của mình. Cũng có khả năng không có công ty bảo hiểm nào dám bán nếu họ nghĩ Argentina không thể trả nợ.

(3) The Dong, is semi fixed to the dollar: đồng tiền VN bán cố định so với đồng đô la, đồng VN không hẳn lệ thuộc hoàn toàn vào đồng đô la mà chỉ ảnh hưởng 1 phần thôi. Nghĩa là khi đồng đô la tăng (appreciate) có khả năng làm cho đồng VN tăng, đồng đô la giảm (depreciate) thì đồng VN cũng có thể giảm.

(4) Currency peg = fixed exchange rate: tỉ giá trao đổi cố định. Chính sách kiểm soát giá trị tiền tệ bằng cách nối kết với một loại tiền tệ khác. Đồng đô la thường được sử dụng như là peg currency cho nhiều loại tiền tệ.
(5) Global double dip: kinh tế toàn cầu lên xuống theo chu kỳ, double dip là xuống 2 lần, tức là kinh tế bị suy thoái rồi phục hồi, rồi lại suy thoái lần nữa.

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , | 1 Comment »

490. Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại VN

Đăng bởi anhbasam on 03/03/2010

FOREXPROS.COM

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại Việt Nam

John Ruwitch

Ngày 1-3-2010


Hà Nội ngày 1-3 (Reuters) Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tương đối tốt, GDP tăng trưởng 5,23% năm vừa qua, nhưng đất nước này vẫn còn bị xem như là một nơi đầu tư mạo hiểm và tương đối mù mịt.

Giao dịch trao đổi tín dụng mặc định loại 5 năm đang được thực hiện ở mức chênh lệch khoảng 254 điểm cho Việt Nam, cho thấy mức rủi ro cao đứng hàng thứ hai trong bảng liệt kê của Thomson Reuters dành cho các nước mới nổi lên ở châu Á, mức chênh lệch trung bình trong bảng liệt kê này là 140.

Dưới đây là tóm tắt các rủi ro chính cần lưu ý ở Việt Nam:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Tỷ giá trao đổi cố định của Việt Nam thường xuyên gây áp lực kinh tế chồng chất. Ngân hàng trung ương đã giảm giá đồng bạc Việt Nam lần thứ ba hồi tháng hai, kể từ đầu năm 2008, để giảm áp lực về tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sau đó đã đổ thêm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nói rằng trừ khi chính phủ khôi phục niềm tin về tiền tệ bằng cách kềm chế lạm pháp và giảm thâm thủng mậu dịch, nếu không thì sẽ phải giảm giá đồng bạc thêm nữa.

Chính phủ đã liên tục thực hiện các biện pháp khác để cố gắng khôi phục việc kiểm soát thị trường tiền tệ. Họ đã buộc các nhà xuất khẩu lớn thuộc sở hữu nhà nước bán đô la, và thuyết phục những ngân hàng do nhà nước điều hành đảm bảo đủ đô la cung cấp theo nhu cầu. Họ đã liên tục hứa hẹn thực hiện hình phạt đối với việc buôn bán tiền tệ ngoài biên độ chính thức. Họ đã ra lệnh đóng cửa sàn vàng vào cuối tháng ba. Nhưng hiệu quả của các biện pháp bị hạn chế.

Các phân tích gia nói rằng giá trị đồng bạc nước này vẫn còn được giữ ở mức cao và những vấn đề thuộc về cấu trúc vẫn chưa được giải quyết. Tuy nhiên, rủi ro về một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán không cao. Khi kinh tế đổi chiều, lượng ngoại tệ có khả năng tăng, sẽ hỗ trợ cho tiền đồng.

Cần lưu ý:

- Những bước mà ngân hàng trung ương sử dụng để kềm chế lạm phát và kiểm soát việc thâm thủng mậu dịch. Hầu hết các phân tích gia dự đoán có sự suy yếu tiền tệ vào năm 2010.

- Khoảng cách về tỉ giá đô la/ đồng giữa thị trường chợ đen và tỉ giá liên ngân hàng – thước đo chính về áp lực tiền tệ.

HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ

Thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, và quan liêu nặng nề tác động lên hiệu quả của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cải cách kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi lợi ích xung quanh và các thành phần bảo thủ trong một chính phủ tập trung quá nhiều về vấn đề an ninh, đặc biệt trong những tháng chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản vào năm tới.

Các nhà phân tích nói rằng, có thể có một mức độ tê liệt chính sách, hoặc ít nhất là thái độ bảo thủ trong năm tới như là nạn bè phái và dùng thủ đoạn để tranh giành chức vụ trước Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc đầu năm 2011 sắp tới. Những vị trí lãnh đạo quan trọng và những thay đổi chính sách thường chỉ xảy ra khi có đại hội, năm năm một lần. Các đảng bộ ban ngành địa phương tổ chức hội nghị riêng trong năm nay.

Cần lưu ý:

- Trong khi các gói kích cầu kinh tế giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đã có các câu hỏi đặt ra về việc làm cách nào thâm hụt ngân sách được cấp tiền bù đắp, làm cách nào áp lực lạm phát được kiềm chế, và làm sao tránh được nguồn vốn đầu tư tư nhân ào ạt rút đi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt tay vào một kế hoạch giảm bớt thủ tục quan liêu và đặc biệt các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ xem kết quả ra sao.

- Việc đàn áp bất đồng chính kiến đã dẫn tới một vấn đề gai góc, trong đó các nhà ngoại giao phương Tây và các phân tích gia xem các vụ kết án có động cơ chính trị. Điều này đã làm sôi động hơn trong việc kêu gọi Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao. Cũng vậy, vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ đang đẩy mạnh việc thông qua nghị quyết về nhân quyền. Những sự việc này làm sứt mẻ quan hệ thương mại.

- Các nhà đầu tư thường liệt kê cơ sở hạ tầng lạc hậu là một trong những rào cản lớn của Việt Nam. Khả năng của chính phủ phối hợp nhanh, phát triển hiệu quả trong lĩnh vực này sau khi cam kết trợ giúp phát triển chính thức là một vấn đề trọng điểm.

THAM NHŨNG

Tham nhũng là đặc tính cố hữu ở Việt Nam ở mọi cấp mọi ngành của chính phủ, và nó là rào cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Các nhà chức trách đã công bố kế hoạch tấn công chống tham nhũng, và khuyến khích các phương tiện truyền thông theo dõi và kiểm tra, nhưng những nỗ lực này đã tan thành mây khói, sau khi các nhà báo bị bắt giữ do viết bài về các vụ bê bối lớn. Tiến triển về vấn đề [chống] tham nhũng vẫn là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc hấp dẫn đầu tư dài hạn.

Cần lưu ý:

- Thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng nhận thức về tham nhũng. Một sự cải tiến hay suy giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn. Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2009 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi kể từ năm trước, được xếp hạng 120 trên 180 quốc gia.

BẤT ỔN XÃ HỘI

Các cuộc đình công ở Việt Nam gia tăng, biểu tình phản đối và tranh chấp đất đai trong những năm gần đây liên tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoài. Rối loạn nổ ra ở các vùng nông thôn do việc nhà nước chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng của các cán bộ địa phương.

Báo chí nhà nước trong tháng giêng nêu ra một quan chức Bộ Kế hoạch nói rằng kinh tế năm nay khó khăn có thể dẫn tới nhiều cuộc đình công hơn. Mặc dù hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng bất ổn lớn có khả năng xảy ra, hoặc có thể có bất kỳ rủi ro sắp xảy ra cho chế độ đang có thách thức ngầm từ bên dưới.

Cần lưu ý:

- Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một phong trào phản kháng rộng lớn mang tính toàn quốc sắp sửa xảy ra do các tranh chấp địa phương. Cho tới nay, điều này dường như là chưa có.

- Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa – (Biển Đông). Vấn đề này được tích tụ cao độ tại Việt Nam, nơi mà sự ngờ vực Trung Quốc luôn luôn cao. Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hay nhận thấy sự yếu đuối của Việt Nam về vấn đề này, đều có thể khơi dậy sự ủng hộ cho các cuộc biểu tình rộng lớn.

Vai trò của giáo hội Công giáo. Những người Công giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình định kỳ quanh việc đất đai của nhà thờ bị chính phủ chiếm đoạt sau 1954. Giáo hội Công giáo, trong khi chính thức không tham gia vào chính trị, có khoảng 6-7 triệu giáo dân tại Việt Nam và được tổ chức khá tốt.

Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | 3 phản hồi »

488. Với một VN tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

Đăng bởi anhbasam on 02/03/2010

History News Network

Với một Việt Nam tự do kinh doanh,

ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

William Thompson

Ngày 1-3-2010

Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).


Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.

Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”

Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.

Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.

Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.

Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.

Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”

Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.

Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.

Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.

Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.

Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.

Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.

Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.

Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.

Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.

Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.

Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.

Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.

Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.

Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.

Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.

Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.

Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:

Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.

Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”

Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú của người hiệu đính:

(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.

(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.

(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.

Đăng trong Chiến tranh VN, Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , , , , | 4 phản hồi »

470. Việt Nam là quân cờ domino đầu tiên của châu Á

Đăng bởi anhbasam on 13/02/2010

Asia Times

Việt Nam là quân cờ domino đầu tiên của châu Á

Shawn W Crispin

Ngày 10-2-2010

BANGKOK – Trong khi thị trường thế giới lo ngại về các khoản nợ bảo đảm bởi chính phủ châu Âu, liệu Việt Nam có thể là quân cờ domino kinh tế đầu tiên ở châu Á bị kích thích quá mức hay không? Với [chính sách] tiền tệ không vững chắc, việc cho vay dễ dàng và nhanh chóng của ngân hàng, cùng với thái độ thiếu tin tưởng trong nước đối với sự quản lý kinh tế của chính phủ, Việt Nam nổi lên như là ứng viên hàng đầu trong khu vực về việc bất ngờ định giá lại thị trường đối với tác động tài chính của các nguồn chi tiêu của chính phủ, thường do phân bổ không hợp lý cũng như chi tiêu quá nhiều trong thời gian gần đây.

Đằng sau các khoản kích thích kinh tế rất lớn của chính phủ, năm ngoái Việt Nam đã [tăng trưởng] tốt hơn một số nước trong khu vực với mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP là 5,5%. Để chống lại tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, chính phủ đã cam kết những gói kích thích kinh tế ở mức độ khác thường, lên tới 8% GDP. Mặc dù chưa tới một nửa số tiền đó đã thực sự được chi tiêu, song mức chi tiêu trong ngân sách và số cho vay của ngân hàng nhà nước ngoài ngân sách đã giúp nền kinh tế tránh được cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Với dấu hiệu [kinh tế] toàn cầu đang hồi phục, chính phủ do đảng CS lãnh đạo đã phát đi tín hiệu về ý định muốn kềm chế các khoản kích thích và đưa nền kinh tế trở lại mức tăng trưởng bằng định hướng xuất khẩu. Thế nhưng, tình trạng thiếu phối hợp về chính sách khắp các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước đã làm xói mòn hơn nữa niềm tin trong nước đối với chính phủ về khả năng kiểm soát lạm phát trong tương lai, và ở một mức độ đáng kể, nó đã phá hủy các nỗ lực quan trọng trong việc kiềm chế sức ép lên đồng nội tệ và thị trường bất động sản quá nóng.

Tình trạng phân cách giữa mệnh lệnh của trung ương với phản ứng không tuân phục từ bên dưới đã thể hiện rõ vào năm ngoái, khi nhiều ngành công nghiệp xuất khẩu đã bị từ chối đổi ra tiền mặt số tiền đô mà họ thu về từ hoạt đông xuất khẩu để lấy tiền đồng theo tỉ giá hối đoái chính thức. Tính đến tháng mười, chênh lệch giữa tỉ giá chợ đen và tỉ giá chính thức lên tới 9%, và sự chênh lệch đó đã buộc chính phủ phải quyết định hạ giá tiền đồng 5% vào tháng mười một bằng cách nới rộng biên độ trao đổi ở mức chấp nhận được. Thậm chí với việc giảm giá tiền đồng như vậy, các nhà phân tích tài chính chuyên theo dõi tình hình đã nhận xét là vẫn còn có một khoảng cách 5% giữa tỉ giá chính thức và tỉ giá chợ đen.

Một yếu tố gây nên tình trạng méo mó này là các khoản hỗ trợ lãi suất của chính phủ, biện pháp được thực hiện vào năm ngoái như là một phần của gói kích thích nhằm khuyến khích thêm các khoản vay trong nước. Chính sách này đã giảm bớt một cách hiệu quả lãi suất cho vay từ 10% xuống còn 6,5% và sinh ra các khoản cho vay mới, rất lớn, trị giá khoảng 24 tỉ đô la, tức là gần 23% GDP. Theo Standard & Poor’s, một tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm, mức tăng trưởng tín dụng cho vay của Việt Nam đã tăng 37% so với năm trước.

Các nhà phân tích tài chính cho rằng, do gần như không có nhu cầu sử dụng vốn luân chuyển giữa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và những công ty xuất khẩu tư nhân mà đã nhận được những khoản tín dụng mới với giá trị rất lớn, nên phần lớn lượng tiền đó đã được xoay vòng ở thị trường chứng khoán trong nước. Khả năng thanh toán bằng tiền mặt tự do không được kiểm soát, đã góp phần làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một trong những nơi hoạt động sôi nổi nhất thế giới trong suốt nửa đầu năm 2009; và rồi sau đó nó đột ngột suy giảm vào nửa sau của năm.

Có điều không rõ ràng đối với các nhà phân tích tài chính và các nhà phân tích của chính phủ là, có bao nhiêu trong tổng số 24 tỉ đô la vừa được cho vay trong năm ngoái đã bị thua lỗ trong việc đầu tư ở thị trường chứng khoán. Kim Eng Tan, một nhà phân tích tài chính công và thuộc Standard & Poor’s, đã bày tỏ những mối quan ngại ban đầu của mình về tốc độ gia tăng 37% các khoản tiền cho vay năm ngoái. Ông nói rằng các bảng cân đối thu chi của các ngân hàng lớn ở Việt Nam nằm ở mức “hợp lý” vào cuối năm 2008, song điều mà “chúng ta cần là thấy nó thay đổi như thế nào sau làn sóng cho vay mới”.

Từ quan điểm của chính phủ, đợt cho vay tiền dễ dãi đó là nhằm để ngăn ngừa trước một đợt thất nghiệp tăng cao vào ngay thời điểm những ngành công nghiệp xuất khẩu có sử dụng lượng lớn nhân công đang phải đối mặt với tình trạng gần như sụp đổ trong trao đổi mậu dịch toàn cầu. Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản rõ ràng là muốn tránh lặp lại tình trạng bất ổn xã hội mà họ đã từng chứng kiến hồi năm 2008, khi lạm phát lên tới đỉnh điểm, vượt khỏi mức 25% và thất nghiệp lan rộng cả nước, ở các xí nghiệp trong nước lẫn nước ngoài làm chủ.

Lạm phát phi mã cũng đã góp phần vào tình trạng thiếu hụt rất lớn lượng tiền mặt thanh toán, vì hàng hóa nhập khẩu của các công ty để đầu cơ, nằm trong kho ngày càng nhiều, dẫn đến tình trạng giá cả và nhu cầu tăng cao.

(đoạn này có nghĩa là: lạm phát phi mã làm cho các công ty mua hàng với giá thấp để sẵn trong kho sau này bán giá thật cao do lạm phát – gọi là đầu cơ tích trữ, hay arbitrage – việc này gây ra: 1- giá tăng cao; 2-thiếu tiền mặt thanh toán, vì tiền chôn trong số hàng nằm trong kho-người hiệu đính). Việc mất kiểm soát kinh tế được biết đến là đã làm suy yếu vị thế của vị Thủ tướng có khuynh hướng tự do Nguyễn Tấn Dũng, người mà một số nhà phân tích dự đoán rằng ông cố gắng tránh tình trạng lạm phát nghiêm trọng do suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn tới sự sụp đổ giá cả hàng hóa. Một số nhà phân tích tin rằng những người bảo thủ trong đảng có thể trở lại nắm quyền trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 dự kiến khai mạc vào tháng 1-2011.

Ông Carlyle Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Australia, đã nêu rõ trong các bản báo cáo rằng giới bảo thủ trong đảng đã yêu cầu ông Dũng từ chức tại một cuộc họp ban chấp hành trung ương năm 2008 khi người ta thấy cung cách quản lý kinh tế yếu kém của ông. Sự chia rẽ trong chính sách giữa giới bảo thủ và phái tự do trong đảng liên quan tới tốc độ phát triển và phạm vi hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng của nó đối với sự ổn định trong nước và khả năng quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế, theo nhận xét của ông Thayer.

“Giới bảo thủ theo đuổi việc duy trì nguyên tắc một đảng [cầm quyền], giữ trật tự và ổn định, với sự kiểm soát của nhà nước đối với các thành phần kinh tế mà họ coi như là ‘những con bò sữa’ của mình”, ông Thayer đã viết như vậy trong một bức thư điện tử gửi cho Asia Times Online. “Chẳng hạn như, rõ ràng là tiến trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước đã bị chựng lại. Những người [như ông Dũng] thúc đẩy việc gia tăng hội nhập toàn cầu muốn nhìn thấy những tác động của thị trường đóng vai trò lớn hơn”.

Trong khi chương trình tự do hóa kinh tế và tài chính rộng lớn của ông Dũng vẫn đang đi đúng hướng, thì có những dấu hiệu cho thấy rằng các thành phần bảo thủ đang khẳng định uy thế nhiều hơn trong quản lý kinh tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) đã quy định rằng, các ngân hàng nhỏ, từng góp phần vào cuộc khủng hoảng thông qua việc cho vay tràn lan vào năm 2008, phải tăng gấp ba lần số vốn cơ bản của mình vào cuối năm nay hoặc phải đối mặt với việc đóng cửa. Chính phủ cũng đã ra lệnh đóng cửa các sàn giao dịch vàng trên khắp cả nước – một hạn chế sẽ tạo nên ảnh hưởng đầy đủ vào tháng ba này trong một nỗ lực nhằm chặn đứng tình trạng đô xô đi mua vàng, làm giảm giá trị đồng nội tệ.

Áp lực và biến dạng

Những thử nghiệm mang tính kỹ trị mới đang nổi lên với những dấu hiệu lạm phát, tình trạng thâm thủng mậu dịch và sức ép liên tục theo chiều đi xuống làm giảm giá trị đồng nội tệ so với đồng đô la vốn đã yếu trên toàn cầu. Thậm chí với việc giảm giá trị đồng nội tệ xuống 5% vào tháng mười một năm ngoái và quyết định tăng đột ngột mức lãi suất cơ bản từ 10% lên 12%, các doanh nghiệp nhà nước và các công ty tư nhân tiếp tục tích trữ đô la thay vì tiền đồng, cho thấy tình trạng thiếu tin tưởng ở trong nước đối với sự ổn định của Ngân hàng NNVN hoặc thái độ sẵn sàng kiểm soát tình trạng lạm phát của cơ quan này.

“Ngân hàng trung ương cần gửi đi một tín hiệu kiên quyết tới thị trường rằng họ sẵn sàng bảo vệ biên độ dao động của đồng tiên, có lẽ bằng việc nâng cao lãi suất hơn nữa”, theo ý kiến của ông Sriyan Pieterz, trưởng bộ phận nghiên cứu của JP Morgan tại Bangkok. “Nếu không làm được điều đó, thì rủi ro mà họ sẽ chịu là để mất đi các nguồn đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI trong tương lai, do tiền tệ không ổn định”.

Một tỉ đô trái phiếu phát hành đã được các nhà đầu tư nước ngoài mua hết hồi tháng một, nhưng các nhà phân tích cho rằng vẫn chưa đủ để làm giảm bớt sức ép vây quanh đồng tiền nội tệ. Đồng tiền cần phải nhận được một biện pháp ứng cứu ngắn hạn từ những dòng tiền gửi tiết kiệm liên quan tới kỳ nghỉ Tết trong tháng này, song nhiều nhà phân tích tin là NHNNVN cần nâng lãi suất ít nhất thêm 3% nữa để đánh thuế mạnh vào những người muốn đổi từ tiền đồng sang đô la.

Trong lúc NHNNVN chỉ là một nguồn chính thức duy nhất để chuyển đổi ngoại hối trong nước, thì chính phủ duy trì biện pháp kiểm soát vốn chặt chẽ để bảo vệ đồng tiền nội tệ. Theo quy định của luật pháp, các công ty và doanh nghiệp chỉ được phép giữ đủ số ngoại tệ để trả nợ và giải quyết các hoạt động mua bán kinh doanh hiện tại của mình. Tuy nhiên trong quý ba năm ngoái, 27% trong số toàn bộ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của hệ thống tài chính trong nước đã chạy từ tiền đồng sang đô la, theo JP Morgan.

Bất chấp những kiểm soát tiền tệ, các DNNN theo ước tính vẫn cầm giữ lượng ngoại tệ chủ yếu được cho là bằng đô la vào khoảng 10 tỉ. Đáng chú ý, mới đây họ đã coi thường một thông tư do chính phủ ban hành đặc biệt nhắm vào 10 DNNN lớn phải gửi tiền đô la của mình vào ngân hành, bao gồm Tập đoàn Dầu khí VN, Tập đoàn Than và Khoáng sản VN và Tổng công ty Hóa chất Quốc gia VN.

Theo bản thông tư này, các DNNN đã chuyển hơn 3 tỉ đô la trong số ngoại hối mà họ nắm giữ cho NHNNVN vào cuối năm ngoái; kể từ đầu tháng hai, họ chỉ đưa ra 300 triệu đô la, theo như các nhà phân tích theo dõi tình hình cho biết. Thái độ thách thức, theo như các nhà phân tích nói, đã góp phần cho hành động miễn cưỡng của NHNN phải bơm thêm tiền mặt lưu thông vào thị trường nhằm bảo vệ đồng bạc nội tệ. Theo các thống kê chính thức thì NHNN hiện nắm giữ lượng dự trữ ngoại tệ  trị giá vào khoảng 16 tỉ đô la.

Trong khi Việt Nam rõ ràng là rập khuôn theo lề lối chi tiêu tài khóa khác thường của Trung Quốc trong chính sách ứng phó đối với cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, Hà Nội so với Bắc Kinh tỏ ra thiếu khả năng kiểm soát từ thượng tầng xuống, điều đã cho phép Bắc Kinh có nhiều thẩm quyền kiểm soát hãm đà hơn đối với những chương trình kích thích kinh tế của họ. Khi cuộc chiến giành giật đồng ngoại hối hiện tại cho thấy rõ, thì các DNNN lớn của Việt Nam vẫn thường được điều hành như những lãnh địa riêng của các thành viên Đảng Cộng sản đầy quyền lực với đầy đủ sức mạnh ảnh hưởng, coi thường những chỉ thị của trung ương.

Một số nhà phân tích tin chắc rằng các DNNN của VN lâu nay luôn làm ăn thua lỗ, rốt cuộc đang giành được những điều kiện thuận lợi từ chính sách của nhà nước. Đối với các doanh nghiệp khác, rõ ràng là luôn thiếu sự minh bạch và trách nhiệm giải trình từ các DNNN lớn và dấy lên những lo ngại mới về số lượng bao nhiêu tỉ đô la từ các khoản vay của ngân hàng mà họ đã nhận được vào năm ngoái đã được đưa vào sử dụng. Việc thúc đẩy cho vay của chính phủ hồi năm ngoái giống như cái phễu hút nguồn tiền vào các hoạt động đầu cơ trên thị trường chứng khoán, giờ đây có vẻ như [số tiền đó] đang đẩy giá nhà đất tăng cao, đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí minh.

Điều rõ ràng hơn là Việt Nam vẫn thiếu sự kết hợp chính sách có hiệu quả trong khắp các cơ quan và doanh nghiệp vào thời điểm mà các giới chức kinh tế cần cho thị trường thấy một cam kết được làm mới nhằm duy trì sự ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô. Việc thiếu kiểm soát cũng gợi lên những dấu hỏi về các giải pháp chắp vá của ngân hàng trung ương trước làn sóng lạm phát năm 2008 và năng lực kỹ trị của cơ quan này trong việc ngăn chặn những sức ép lạm phát mới đang nổi lên, trong đó có thị trường bất động sản.

Ông Pietersz của JP Morgan cho biết, các giới chức liên quan đều “rất lanh lẹ và tận tụy”, song vẫn “đang học hỏi qua việc thực hành” trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Các nhà phân tích khác thì nói rằng không rõ là chính phủ bị chia rẽ về chính trị từ bên trong liệu có giảm bớt những giải pháp kích thích của năm ngoái do sự chính trị hóa thời gian sắp diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc vào năm tới.

Rút cục thì chính phủ không thể đóng cửa toàn bộ nền kinh tế … song những khả năng lạm phát mà người ta trông đợi sẽ phải được níu chặt lại bằng cách nào đó”, ông Tan thuộc Standard & Poor’s nhận xét. “Nếu như lạm phát diễn ra ở mức cao trong một thời gian dài, thì sẽ nguy hiểm trầm trọng”.

Một nhà phân tích với một ngân hàng đầu tư Âu châu đánh giá rằng “cái ngày kết toán” của Việt Nam là “không thể tránh khỏi do sự bất lực của chính phủ trong việc nâng mức dự trữ quốc gia” và rằng đất nước này sẽ phải đối mặt với “những cú phá giá đồng bạc gây chấn động” cho tới khi ngân hàng trung ương được độc lập hơn trước những nhân vật bảo thủ trong đảng.

Bất chấp những sức ép gần đây lên đồng nội tệ, ông Tan cho là Việt Nam không bộc lộ những dấu hiệu của một “cuộc khủng hoảng tiền tệ cổ điển” do “mức vay bên ngoài phần lớn vẫn nằm trong sự kiểm soát” và “FDI duy trì tốt”. Không giống như các quốc gia mắc nợ do các đòn giáng xuống từ cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997-1998, ông lưu ý, gánh nặng nợ nần của Việt Nam thì vừa phải do phần lớn nó nằm trong nguy cơ thấp, với những khoản vay ưu đãi dài hạn.

Nhưng khi việc giám sát chặt chẽ thị trường đối với khu vực tài chính công gia tăng mạnh ở châu Âu, mức độ rủi ro từng quốc gia riêng rẽ ở châu Á sẽ ngày càng được lượng định bởi quan niệm của nhà đầu tư về cách thức chính quyền quản lý và chi tiêu ra sao qua các giải pháp chi tiêu tài khóa mạnh mẽ được thực hiện mới đây. Các địa phương ở Việt Nam đã cho thấy rõ sự hồ nghi của họ trước sự quản lý của chính phủ và lịch sử cho thấy các ý kiến từ nước ngoài thường đi chậm song rốt cục lại đi theo những người bản xứ hướng tới những thị trường ngày càng có độ rủi ro cao.

Khi những nỗi lo sợ về căn bệnh truyền nhiễm trong chi tiêu tài chính nhà nước dấy lên ở Âu châu, Việt Nam có vẻ như là ứng viên hàng đầu cho một cơn khủng hoảng lòng tin tương tự tại châu Á.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , | 2 phản hồi »