BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Kinh tế Việt Nam’ Category

502. EIU ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Đăng bởi anhbasam on 12/03/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

EIU ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Bảy, ngày 3-3-2010

Cùng với báo cáo đánh giá về thực trạng và dự báo triển vọng chính trị- kinh tế Việt Nam, Bộ phận Đánh giá Nguy cơ Quốc gia (CRS) của Đơn vị Thông tin Kinh tế (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) tháng 2/2010 công bố báo cáo đánh giá về các nguy cơ đối với Việt Nam trên các lĩnh vực nợ công, tiền tệ, ngân hàng, chính trị…. Dưới đây là một số nội dung đáng chú ý của báo cáo:

I .Đánh giá về các nguy cơ đối với Việt Nam

1. Nguy cơ về nợ công

EIU cho rằng hiện có những quan ngại về những tác động thứ cấp tiêu cực tiềm tàng của các nỗ lực kích thích kinh tế đang thực hiện. Chính phủ Việt Nam đã mở rộng chương trình hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay dài hạn và trung hạn trong cả năm 2010 . Hiện nổi lên nhiều lo ngại về việc Chính phủ Việt Nam sẽ cung cấp tài chính cho các chương trình kích thích kinh tế như thế nào trong khi đồng thời phải trang trải thâm hụt ngân sách lớn. Với mức tương đương 8,1% GDP , thâm hụt ngân sách (không kể các khoản cho vay) dự kiến sẽ tiếp tục cao trong năm 2010 sau khi đạt con số 9% GDP năm 2009. Trong hai năm tới, nợ công của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng ở mức tương đối, từ con số ước tính 52,1% GDP trong năm 2009 lên tới 54,3% GDP vào năm 2011.

Đối với Việt Nam, hiện có các nhân tố tích cực bao gồm: (1) Sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà tài trợ. Tới thời điểm này, các nhà tài trợ nước ngoài đã cam kết sẽ ủng hộ 8 tỷ USD viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong năm 2010 cho Việt Nam, tăng đáng kể so với con số 5 tỷ USD cam kết trong năm 2009. (2) Tỷ lệ nguồn dự trữ ngoại tệ so với nợ ngắn hạn nước ngoài ở mức cao đã làm giảm đáng kể sự dễ tổn thương của Việt Nam trong bối cảnh xảy ra khủng hoảng tiền mặt. Tuy nhiên, tỷ lệ này gần đây đã giảm do sự tụt giảm của nguồn dự trữ ngoại tệ. Bên cạnh đó, Việt Nam phải đối mặt với các yếu tố tiêu cực, bao gồm: (1) Chính phủ cam kết thực hiện đúng hạn đối với các cam kết nợ công, cả ngoài nước và trong nước, nhưng cam kết này có thể không vững chắc khi đối mặt với các áp lực về kinh tế xã hôi; (2) Mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm 21,3% xuống còn 18,8 tỷ USD trong giai đoạn cuối năm 2008 tới cuối tháng 8/2009. Việc thiếu những số liệu cập nhật đã làm gia tăng những đồn đoán rằng dự trữ ngoại hối của Việt Nam còn giảm nhiều hơn nữa trong những tháng gần đây. Một mức độ dự trữ ngoại hối sẽ làm tăng nguy xơ rằng chính phủ sẽ không thể thực hiện những cam kết về nợ trong bối cảnh xảy ra khủng hoảng tiền mặt.

Về tổng thể, EIU nhận định vấn đề nợ công của Việt Nam ở mức ỔN ĐỊNH. Xếp hạng nguy cơ nợ công của Vịêt Nam có thể sẽ không được cải thiện hơn trong những năm tới (2010-2011). Chính phủ Việt Nam đã khẳng định sẽ thực hiện các cam kết về nợ. Hiện chỉ tồn tại một nguy cơ nhỏ rằng chính phủ sẽ không thể giải quyết các khoản nợ của mình trong năm 2010- 2011. Nếu điều này xảy ra, nhiều khả năng việc tìm kiếm nguồn tiền bằng phương thức nhượng bộ sẽ được thực hiện. Tính hiệu quả của các thể chế nhà nước trong việc định hình và thực hiện chính sách là nghèo nan, và điều này làm nổi lên nguy cơ rằng các phản ứng chính sách đối với các thách thức hiện nay sẽ là không đầy đủ. Các điểm yếu kém chính trong sổ sách tài khoá sẽ tiếp tục ngăn cản những phân tích độc lập về tình trạng sổ sách báo cáo chi tiêu của chính phủ . Trong 2 năm tới, việc Việt Nam sẽ tiếp tục phát hành trái phiếu quốc tế dưới dạng đồng USD là điều rất có thể, nhưng đây sẽ tiếp tục là một phương thức đắt giá của việc huy động tài chính.

2. Nguy cơ về tiền tệ

Nhu cầu gia tăng về đồng USD, được củng có thêm bằng mức thâm hụt thương mại lớn và những lo ngại về lạm phát ngày càng gia tăng, đã đẩy giá trị đồng VND xuống thấp so với đồng USD trong những tháng gần đây. Nhờ áp lực xuống giá liên tục này, tháng 11/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thu hẹp biên độ giao dich của đồng VND so với đồng USD từ ± 5% xuống còn  ±3%. Đồng thời, các nhà chức trách Việt Nam cũng thực hiện một hành động điều chỉnh giảm hơn 5% giá trị của đồng tiền. Chỉ cho tới khi tài khoản thương mại và lạm phát cho thấy các dấu hiệu cải thiện tích cực thì khi đó áp lực giảm giá của đông VND mới được xoá bỏ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam SBV cũng sẽ phải thực hiện việc phá giá một lần nữa và nới rộng biên độ giao dịch. Tuy nhiên, cho phép đồng VND giá trị thấp so với đồng USD có thể làm tăng giá trị tiền VND của các khoản nợ của các công ty hiện đang tích bằng USD, và điều này sẽ làm gia tăng nguy cơ vỡ nợ của nhiều công ty vốn phụ thuộc chủ yếu vào việc buôn bán bằng USD.

Đánh giá về các nhân tố tích cực đối với vấn đề tiền tệ của Việt Nam, EIU cho rằng nếu Chính phủ Việt Nam nới rộng biên độ giao dich của đồng VND trong năm 2010 thì sẽ mang lại tính linh hoạt nhiều hưon cho các thị trường giao dịch ngoại hối, giảm nguy cơ về việc thực hiện các biện pháp phá giá đồng tiền bắt buộc. Tuy nhiên , hiện Việt Nam đang đối mặt với hai yếu tố tiêu cực, gồm: (1) Nguồn dự trữ ngoại hối tương đối thấp có thể ngăn cản khả năng can thiệp của chính phủ trong bối cảnh đồng VND sụt giảm nhanh, làm gia tăng nguy cơ phá giá mạnh đồng tiền.

Trên cơ sở đánh giá trên, EIU xếp hạng nguy cơ tiền tệ của Việt Nam ở mức tiêu cực. EIU cho rằng có vẻ như có ít cam kết về việc tự do hoá cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong ngắn hạn. Điều này sẽ huỷ hoại niềm tin vào khả năng của chính phủ trong việc kiểm soát chính sách tỷ giá hối đoái một cách sáng suốt, từ đó làm gia tăng nguy cơ về sự bất ổn định nhanh chóng của đồng tiền. Về cơ bản không có một cơ chế thể chế nào đang hoạt động có thể bảo đảm rằng lạm phát sẽ ở mức thấp, và điều này làm gia tăng nguy cơ rằng sự tăng giá cả trong nước sẽ làm xói mòn giá trị của VND. Hiện tượng “đôla  hoá”- việc giữ tiền USD của người dân tăng khi niềm tin vào tiền VND giảm- có thể sẽ là một thách thức, đặc biệt là khi các nhà chức trách thể hiện không đủ khả năng kiểm soát lạm phát và cơ chế tỷ giá hối đoái không được tự do hoá.

3. Nguy cơ trong lĩnh vực ngân hàng

EIU nhận định rằng các sáng kiến của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy hoạt động kinh tế đã giúp mang lại một sự tăng trưởng tín dụng khác thường. Tăng trưởng tín dụng nội địa ước tính đạt 45,6% trong năm 2009, và điều này cho thấy thiếu sự đánh giá về các nguy cơ liên quan. Trong khi một số khoản vay này được định hướng vào các khoản đầu tư không hữu ích thì nhiều khả năng sẽ có một sự gia tăng các khoản cho vay khó đòi (NPL). Hơn nữa, do có sự can thiệp đáng kể của nhà nước vào lĩnh vực ngân hàng nên các khoản cho vay thường dựa trên tiêu chí chính trị hơn là tiêu chí tài chính đơn thuần, điều này cũng làm gia tăng các NPL. Tháng 12/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất cơ bản thêm 1 điểm phần trăm lên 8%. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng nhanh, nhiều khả năng SBV sẽ gia tăng lãi suất trong năm 2010, có thể là 2 điểm phần trăm. Tiến trình cổ phần hoá đang tiếp diễn đối với các ngân hàng thương mại do nhà nước sở hữu sẽ đóng góp vào việc gia tăng tính hiệu quả trong lĩnh vực ngân hàng. Chính phủ Việt Nam sẽ tiến hành cải cách ngành ngân hàng, nhưng những tiến bộ đạt được sẽ chậm chạp.

Trong lĩnh vực ngân hàng, EIU cho rằng Việt Nam có 2 nhân tố tích cực: (1) Tỷ lệ lãi suất chính thức thấp sẽ giảm chi phí bù nợ và vì thế sẽ hạn chế nguy cơ về một sự gia tăng các khoản cho vay khó đòi; (2)Cổ phần của chính phủ trong tất cả các ngân hàng lớn có nghĩa là chính phủ sẽ cung cấp sự hỗ trợ về tài chính nếu bất kỳ ngân hàng nào gặp khó khăn. Điều này giảm nguy cơ nợ hoặc khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn tủ ngành ngân hàng. Tuy nhiên, hiện cũng tồn tại 3 yếu tố tiêu cực, bao gồm (1) Hiện có sự thiếu hụt đáng kể trong việc điều hành và giám sát ngành tài chính, làm gia tăng nguy cơ về khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn từ các vấn đề trong hệ thống ngân hàng; (2) Lạm phát gia tăng sẽ khiến tỷ lệ lãi suất thực trả vào các ngân hàng ở mức tương đối thấp. Với việc bị kiểm soát tỷ lệ lãi suất cho vay, khả năng sinh lời của các ngân hàng sẽ bị kiểm soát đáng kể; (3) SBV chưa thành công trong việc định hướng các ngân hàng kiểm soát tăng trưởng trong lĩnh vực cho vay chế ngự tăng trưởng tín dụng nội địa. Điều này tạo ra một nguy cơ rằng tăng trưởng tín dụng sẽ tiếp tục tăng mạnh, và đồng thời là sự gia tăng của các khoản cho vay khó đòi.

Với đánh giá trên, EIU nhận định  xếp hạng nguy cơ trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam ở mức ỔN ĐỊNH. Theo EIU, các ngân hàng sẽ tiếp tục kêu gọi SBV dỡ bỏ trần lãi suất cho vay bởi nó kiềm chế khả năng sinh lời. Tuy nhiên, bỏ trần sẽ có thể dẫn đến việc tăng đáng kể lãi suất cho vay, và điều này có thể kiềm chế các hoạt động kinh tế, và vì thế nhiều khả năng chính phr sẽ không lăng nghe những lời kêu gọi này của các ngân hàng. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam sẽ cải thiện việc giám sát ngành nhân hàng về dài hạn. SBV đã đưa ra những đòi hỏi vốn tối thiểu với các ngân hàng thương mại nhằm tạo ra một hệ thống ngân hàng tập trung xung quanh một vài ngân hàng mạnh.

4. Đánh giá về nguy cơ chính trị

EIU đánh giá về xếp hạng nguy cơ chính trị của Việt Nam ở mức “B” và cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì quyền lãnh đạo, bảo đảm sự ổn định chính trị của Việt Nam ở mức cao. Giới lãnh đạo đang thực hiện các công cuộc cải cách theo định hướng thị trường, tuy nhiên có nguy cơ tốc độ cải thiện sẽ chậm lại. Mặc dù không phải vấn đề nằm trong dự báo trọng tâm của EIU nhưng đơn vị này cho rằng cuộc khủng hoảng y tế công có thể sẽ tạo một nguy cơ đáng kể đối với nền kinh tế của Việt Nam. Tính hiệu quả chính trị sẽ tiếp tục bị huỷ hoại bởi tham nhũng tràn lan và một trong những thách thức lớn nhất đối với Đảng cầm quyền trong việc nỗ lực duy trì quyền lực là việc đối phó với tệ nạn hối lộ trong chính đội ngũ quan chức đảng việ. Các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà tài trợ đã thường xuyên thể hiện quan ngại về vấn nạn tham nhũng ở Việt Nam. Hơn nữa, triển vọng về tự do chính trị và việc cải thiện vấn đề nhân quyền vẫn còn thấp. Hiện có một nguy cơ nhỏ mới xuất hiện về việc Việt Nam có thể có đụng độ quân sự với một nước khác.

II. Dự báo triển vọng kinh tế- chính trị Việt Nam 2010- 2011

Trong báo cáo tựa đề “ Vietnam – Country Forecast February 2010”, EIU cho rằng Việt Nam đã vượt qua được những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng những áp lực về thâm hụt ngân sách và làm phát vẫn còn đe doạ tới sự ổn định của nền kinh tế. EIU nhận định rằng triển vọng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam vẫn là tích cực. Trong năm 2010- 2011, kinh tế Việt Nam sẽ  tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của năm 2009 và sẽ đạt mức tăng trưởng GDP lần lượt là 6,2% và 7,0%. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam sẽ giảm xuống còn khoảng 7,8% GDP so với mức 9% GDP của năm 2009. Tuy nhiên, lạm phát của Việt Nam trong 2 năm 2010- 2011 sẽ ở mức cao, lần lượt là 10,3% và 9,9%.

1.Triển vọng chính trị Việt Nam 2010- 2011

* Chính trị nội bộ

EIU cho rằng Đảng CSVN sẽ phải đối mặt với một loạt thách thức lớn từ nay cho tới Đại hôi Đảng , dự kiến vào tháng 1/2011. Có thể sẽ có những thay đổi quan trọng về nhân sự trong đội ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng nhưng giáo lý trung tâm sẽ không thay đổi và mục tiêu quan trọng nhất vẫn là duy trì vị trí lãnh đạo của Đảng.

Sự thành công của Đảng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bất kể trong tình hình suy thoái toàn cầu, đã góp phần vừa gia tăng sự thờ ơ về chính trị của người dân và củng cố tuyên bố bấy lâu  về quyền điều hành đất nước của Đảng. Tuy nhiên, tính hợp pháp và việc bảo vệ những ưu việt của nhà nước một đảng của Đảng CSVN vẫn bị thách thức trong bối cảnh kinh tế phát triển không vững chắc, tham nhũng ở các địa phương, xuống cấp về môi trường và những bất bình của quần chúng liên quan đến việc thu hồi đất.

* Các mối quan hệ quốc tê

Việt Nam sẽ đóng vai trò trọng tâm trong sự phát triển của Đông Nam Á trong năm 2010 với việc năm giữ chức vụ Chủ tịch ASEAN và tháng 1/2010. Ưu tiên đã tuyên bố của chính phủ trong năm giữ chức vụ Chủ tịch ASEAN là thúc đẩy hợp tác trong khối ASEAN. Việt Nam cũng mong muốn vun đắp mối quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc. Mặc dù các vấn đề gai góc như chủ quyền tại các hòn đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có thể tạo ra căng thẳng ngoại giao nhưng xét về tổng thể thì các môi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục được tăng cường. Tất nhiên, Việt Nam không mong muốn điều này sẽ làm tổn hại các mối quan hệ của mình với Mỹ. EIU cho rằng. Chính phủ Việt Nam ssẽ tiếp tục gặt hái thành công trong việc duy trhi sự cân bằng, nhờ đó Việt Nam sẽ tránh không liên kết với một nước mà hy sinh các mối quan hệ với nước khác, thể hiên ở việc Việt Nam tỏ vẻ rất nóng lòng thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do (FTA). Hiện đã có những thảo luận liên quan đến khả năng đàm phán một FTA với EU, và Việt Nam gần đây cũng thể hiện mong muốn tham gia khối Đối tác Xuyên Thái Bình Dương- nhóm tới ngay gồm các thành viên Niu Dilân, xinhgapo, Chilê và Brunây.

2.Triển vọng chính sách kinh tế

* Các xu hướng chính sách

Theo đánh giá của EIU, chính phủ Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với thách thức chính sách lớn trong việc kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cũng phải đối mặt với sự thoả hiệp giữa thắt chặt chính sách tiền tệ để hỗ trợ cho tỷ giá hối đoái và giữ lạm phát ở trong tầm kiểm soát;hay là duy trì chính sách ở mức tương đối lỏng để khong làm các doanh nghiệp thiếu vốn và kìm kẹp hoạt động kinh tế. Liên quan tới việc kích thích kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã mở rộng chương trình hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay trung và dài hạn tới hết năm 2010. Tuy nhiên, hiện  xuất hiện những quan ngại về những hiệu ứng phụ tiêu cực tiềm tàng cua các nỗ lực kích thích kinh tế đang thực hiện. Việc hỗ trợ lãi suất, cùng với mức lãi suất cho vay chính chính thức thấp trong năm 2009, đã khiến cho tín dụng nội địa tăng vọt và làm gia tăng áp lực lạm phát. Hiện cũng có những quan ngại về việc liệu chính phủ sẽ cung  cấp tiền cho các chương trình kích cầu như thế nào trong khi vẫn tìm cách lấp đầy thâm hụt ngân sách lớn hiện nay.

Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam có thể sẽ tiếp tục các biện pháp chính sách truyền thống để cố gắng kiềm chế các áp lực lạm phát. Chẳng hạn như việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã tăng lãi suất cơ bản thêm 1 điểm phần trăm lên 8% trong tháng 12/2009. Tuy nhiên , vấn đề có thể quan trọng hơn là SBV đã giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngoại hối xuống 4% từ mức 7% trước đó, bắt đầu có hiệu lực từ 1/2/2010. Việc này sẽ cởi trói cho nguồn vốn trong ngắn hạn và thúc đẩy cho vay. Tuy nhiên, bằng việc nâng lãi suất và sau đó cắt giảm yêu cầu dự trữ, các nhà hoạch định chính sách dường như đang cố gắng thắt chặt và nới lỏng chính sách tiền tệ một cách đồng thời, tạo ra những quan ngại về định hướng chính sách xét về tổng thể.

Ngoài ra, các nhà cầm quyền Việt Nam có vẻ như đang xem xét thực hiện một số biện pháp gây tranh cãi nhiều hơn, chẳng hạn như kiẻm soát giá cả đối với các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân để bình ổn giá cả. Nếu được thực hiện, các biện pháp mạnh mẽ như vậy sẽ huỷ hoại niềm tin vào việc kiểm soát và điều hành kinh tế chủa chính phủ. Điều đó cũng cho thấy ràng những người trong Chính phủ Việt Nam – những người đang ủng hộ một cách tiếp cận tự do hơn đối với việc hoạch định chính sách kinh tế – đã bị lu mờ trước những người có tâm tính kiểm soát luôn muốn tái khẳng định sự can sự của nhà nước vào việc kiểm soát và điều hành kinh tế.

* Chính sách tài khoá

Theo nhận định của EIU, sau khi tăng lên khoảng 9% GDP, thâm hụt ngân sách của Viẹt Nam (không kể các khoản đang cho vay) sẽ tiếp tục ở mức cao trong năm 2010-2011. Nguồn thu của chính phủ sẽ được cải thiện trong  2 năm tới khi tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy và giá dầu thô toàn cầu tăng từ mức thấp trong năm 2009. Tuy vậy, chi tiêu chính phủ sẽ tiếp tục ở mức cao khi mà Chính phủ Việt Nam tiếp tục chi mạnh vào hạ tầng cơ sở và các chương trình cải thiên phúc lợi xã hội. Mặc dù thâm hụt ngân sách sẽ thu hẹp xuống còn khoảng 7,8% GDB trong giai đoạn 2010-2011 nhưng cũng có những quan ngại lớn về cách thức chính phủ sẽ tìm nguồn tài chính cho mức thâm hụt này , đặc biệt là trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đã vay rất nhiều tiền để tài trợ cho các chương trình kình cầu ngoài ngân sách. Cuối tháng 1/2010, Chính phủ Việt Nam đã huy động khoảng 1 tỷ USD thông qua phát hành trái phiếu quốc tế, nhưng việc này không phải là dễ làm. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục nhận các nguồn vốn từ các nhà tài trợ quốc tế.

* Chính sách tiền tệ

EIU cho rằng SBV sẽ tiếp tục thắt chặt hơn chính sách tiền tệ trong năm 2010-2011 khi mà những áp lực lạm phát được định hình. SBV đã nới lỏng đáng kể chính sách tiền tệ trong giai đoạn từ giữa năm 2008 tới đầu năm 2009, cắt giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống 7%. Tuy nhiên, vào thời điểm tháng 12/2009, SBV bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất co bản lên 8%. Trong bối cảnh mức tăng trưởng tín dụng có bước tăng mạnh, nhiều khả năng SBV sẽ tăng lãi suất trong năm 2010, có thể tăng thêm 2%. Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã kêu gọi các nhà cầm quyền Việt Nam thắt chặt chính sách tiền tệ và kìm cương tăng trưởng tín dụng. EIU dự báo rằng Chính phủ Việt Nam có thể sẽ chọn giải pháp nới lỏng chính sách tiền tệ thêm một lần nữa trong năm 2010 nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, những hành động như vậy sẽ có tác động tiêu cực hết sức nghiêm trọng tới sự ổn định của nền kinh tế.

3. Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2010-2011

* Đánh giá về kinh tế toàn cầu

EIU cho rằng kinh tế toàn cầu đã và đang hồi phục sau khủng hoảng nhờ các gói kích thích tài chình và tiền tệ mạnh mữ tại hầu hết các nền kinh tế lớn. Tuy nhiên, kích thích tài chính không thể duy trì một cách vô hạn mà không đặt ra những quan ngại về mức độ ổn định của các khoản nợ chính phủ. Câu hỏi chủ chốt đặt ra là liệu các nguồn cầu có đủ để duy trì “sức khoẻ” của sự hồi phục kinh tế toàn cầu sau năm 2010 hay không. Trên cơ sở đó, EIU dự báo rằng tăng trưởng GDB toàn cầu tính theo sức mua tương đương năm 2010 sẽ ở mức 3,6%. Nếu tính theo tỷ giá hối đoái thị trường thì GDB toàn cầu sẽ tăng trưởng ở mức 2,7% trong năm 2010. Trong năm 2011, một giai đoạn khó khăn sẽ xuất hiện trong nền kinh tế Mỹ và sự hồi phục chậm chạp tại khu vực đồng tiền chung châu Âu và Nhật Bản sec kiềm chế tăng trưởng toàn cầu. Nói một cách rộng hơn, nền kinh tế thế giới sẽ phải gánh chịu những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài nhính khởi điểm từ giữa năm 2007 và sự huỷ hoại tiền bạc sau đó của năm 2008-2009. Những yếu tố này sẽ ngăn cản thế giới trở lại với thời kỳ tăng trưởng nhanh như trong giai đoạn 2004-2007. Dự báo tăng trưởng GDB toàn cầu năm 2011 là 3,5%.

* Về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam

EIU nhận định dù triển vọng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam là tích cực song hai năm tới sẽ là những năm đầy thách thức. Trong năm 2010-2011, EIU cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng vượt qua mức 5,3% của năm 2009 nhưng sẽ không thể trở lại mức tăng trưởng cao như trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Về mặt tích cực, sự hồi phục của kinh tế toàn cầu mang lại thuận lợi cho ngành xuất khẩu của Việt Nam, và nhập khẩu tăng gần đây cho thấy nhu cầu của các nhà đầu tư và người tiêu dùng cũng đang được củng cố và tăng cường. Tuy nhiên, xet về mặt tiêu cực, cách tiếp cận tiên phong mà chính phủ thực hiện nhằm giữ cho nền kinh tế không bi chìm trong năm 2009 (đặc biệt là nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khoá) có thể sẽ tạo ra lạm phát, vì thế sẽ hạn chế sự linh hoạt chính sách trong 2 năm tới. Hơn nữa, lạm phát đang gia tăng và thất nghiệp ở mức tương đối cao có thể sẽ kiềm chế tăng trưởng chi tiêu của người tiêu dùng trong tương lai.

Đối với cách ngành cụ thể, EIU nhân định rằng tăng trưởng trong ngành công nghiệp sẽ tiếp tục được thúc đẩy trong năm 2010-2011. mặc dù sẽ có một sự cải thiện trong sản lượng chế tạo so với năm 2009, nhưng tăng trưởng về cầu đối với các sản phẩm chế tạo xuất khầu của Việt Nam sẽ không sáng sủa trong hai năm tới, đặc biệt là so với giai đoạn tiền khủng hoảng. Tương tự, dù các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lạc quan về triển vọng dài hạn của Việt Nam nhưng tăng trưởng trong lĩnh vực đầu tư vào ngành chế tạo sản xuất sẽ tương đối chậm trong 2 năm tới. Ngành xây dựng của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng nhanh, được thúc đẩy trong năm 2009 nhờ lãi suất thấp và giá cả nguyên vật liệu giảm. Ngoài sự phát triển của đầu tư vào xây dựng văn phòng, đầu tư của nhà nước trong các dự án phát triển hạ tầng cũng sẽ giúp hỗ trợ cho ngành công nghiệp xây dựng trong năm 2010-2011. Ngành dich vụ của Việt Nam, vốn là động lực chính của tăng trưởng trong những năm 2009, sẽ tiếp tục đạt mức tăng trưởng vững chắc trong những năm tới.

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

493. VN liên quan phục hồi toàn cầu

Đăng bởi anhbasam on 06/03/2010

Seeking Alpha

Việt Nam liên quan đến việc phục hồi kinh tế toàn cầu

Charlie Price

March 04, 2010

Tập đoàn Đầu tư Bespoke cho thấy có sự suy giảm trong rủi ro mặc định khoản nợ của chính phủ (1) đã xảy ra trong tháng trước. Điều này nêu bật một thực tế là, đối với một nước nói riêng, đã xảy ra trường hợp ngược lại.

Bảng đầu tiên của Bespoke cho thấy có sự thay đổi so với tháng trước, khi đo bằng giá hoán đổi tín dụng mặc định (2), với Việt Nam, cho thấy trường hợp ngoại lệ.

[Các nước khác giảm rủi ro mặc định kể từ ngày 5-2, trong khi VN thì rủi ro này tăng]

Bảng thứ hai cho thấy giá hợp đồng tín dụng mặc định dựa vào điểm cơ bản:

[Việt Nam cũng đứng gần cuối bảng này, cùng với các nước như Hy Lạp và Iceland. Vậy chuyện gì xảy ra với Việt Nam?]

Nước này đang đối mặt với nhiều vấn đề. Nợ quốc gia dự đoán lên tới 52% tổng sản lượng quốc gia và gần đây họ đã đi đến việc bán trái phiếu bằng đồng đô la. Điều đó cho thấy đơn vị tiền tệ này, đồng, là bán cố định (3) đối với đồng đô la, cần phải được quản lý. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với thâm thủng ngân sách là 9%, mức thâm thủng hiện tại là 10% và liên tục lạm phát. Tỷ lệ lạm phát trên 28% trong năm 2008, nhưng đã giảm còn 7,3% năm ngoái do sự suy thoái.

Suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới Việt Nam nhiều như phần còn lại của thế giới. Sau khi tăng trưởng bình quân 7% trong những năm làm ăn có hiệu quả, xuất khẩu giảm gần tới 10% trong năm 2009. Cam kết đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm 70%.

Xuất khẩu yếu và việc đầu tư nước ngoài giảm có nghĩa là tỉ giá trao đổi cố định (4) bị áp lực. Ngày 26 tháng 11 năm 2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hạ giá đồng tiền khoảng 5%. Sau đó cuối tháng, ngân hàng trung ương hạ giá thêm một lần nữa 3,3%.

Việc hạ giá này có khả năng giúp xuất khẩu, nhưng nhiều áp lực đặt ra cho chính phủ hơn về tài chính và lạm phát.

Một vấn đề nữa cho người Việt Nam là hiệu suất của chính đồng đô la.

Do tỉ giá trao đổi cố định, những biến động đáng kể của đồng đô la có tác động đáng kể đối với hàng hóa xuất khẩu không phải vào thị trường Hoa Kỳ, trong đó chiếm 81% tổng số. Sức mạnh của đồng đô la hiện tại phần nào giải thích cho lần hạ giá thứ hai trong thời gian 3 tháng.

[Nhìn vào thời gian] dài hạn hơn, các cơ hội ở Việt Nam trông đầy hứa hẹn. Dân số đông, nông nghiệp, dầu hỏa và chi phí sản xuất thấp, tất cả thêm vào việc thu hút [đầu tư]. Quỹ đầu tư như Market Vectors Việt Nam ( VNM), hoặc quỹ đầu tư VinaCapital Opportunity (VCVOF.PK), cung cấp việc truy cập vào thị trường chứng khoán dễ dàng. Những cổ phiếu này đem lại lợi nhuận từ việc đầu tư. Nếu [thị trường] toàn cầu hồi phục, các cổ phiếu đó rất tốt cho các cơ hội đầu tư.

Hiện tại, các dữ liệu trông có vẻ tốt cho các quỹ đầu tư này. Chỉ số JPMorgan Global All-Industry Output tăng đến 53,6 trong tháng hai, mức cao nhất kể từ tháng 10 năm 2009. Như báo cáo nói:

Chỉ số tiêu đề hiện tại giữ được trên chỉ số trung lập là 50,0 trong bảy tháng liên tiếp, với chỉ số gần đây nhất giữ vững ở mức tăng trưởng hàng năm của GDP toàn cầu là 3-4%

Đó là tin tốt cho Việt Nam. Có nghĩa là sự phục hồi mạnh mẽ trong thị trường xuất khẩu sẽ cho phép họ trả nợ. Vấn đề quan trọng là liệu sự phục hồi có ở lại hay không. Liệu cái đà phục hồi sẽ giữ vững hay là cần thiết để bắt đầu giải quyết thâm thụt, kéo sự phục hồi xuống?

Bất kỳ dấu hiệu nào về sự hồi phục rồi quay đầu đi xuống lần nữa (5) của kinh tế toàn cầu sẽ rất có hại cho Việt Nam. Một sự suy thoái tiếp tục sẽ làm cho họ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu, đau đớn khi phải thanh toán các khoản lãi suất cao và có nhiều khả năng hạ giá tiền tệ thêm nữa.

Việt Nam liên quan rất lớn đến việc phục hồi toàn cầu (nghĩa là: kinh tế toàn cầu phục hồi thì kinh tế VN mới phục hồi, kinh tế toàn cầu tiếp tục suy thoái thì VN tiếp tục bị ảnh hưởng)


Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú:

(1) Sovereign default risk: rủi ro mặc định khoản nợ vay của chính phủ, nghĩa là rủi ro có thể xảy ra do khủng hoảng kinh tế, mà quốc gia đi vay nợ không thể trả nợ, hoặc không trả nợ đúng hạn.

Thường một quốc gia đi vay nợ, nếu không thể trả nợ thì không thuộc thẩm quyền xét xử tại tòa án phá sản, do đó chính phủ có thể không trả nợ mà không bị hậu quả pháp lý. Ví dụ như trường hợp Bắc Triều Tiên, năm 1987 đã không trả nợ theo quy định. Trường hợp như vậy, bên cho vay và chính phủ Bắc Triều Tiên thỏa thuận lại về lãi suất, thời gian cho vay, và số tiền gốc phải thanh toán. Hay như khủng hoảng kinh tế ở Argentina năm 2002, Argentina đã không thể trả số nợ vay $1 tỉ đô la từ Ngân hàng Thế giới. Những rủi ro đó gọi là sovereign default risk.

Nếu rủi ro này giảm, nghĩa là quốc gia đó có nhiều khả năng trả nợ vay. Hình 1 cho thấy, trường hợp VN, rủi ro này không giảm như các nước khác mà gia tăng 4% trong tháng qua.

(2) Credit default swap: hoán đổi tín dụng mặc định, gọi tắt là CDS, như dạng bảo hiểm trên món nợ mà mình cho vay. Đây là hợp đồng mà người mua (thường là người cho vay nợ) trả tiền theo định kỳ cho người bán (hãng bảo hiểm), đổi lại, hãng bảo hiểm sẽ trả khoản nợ mà người mua cho vay, nếu bên vay nợ không trả được. Ví dụ: trường hợp bạn là nhà đầu tư, bạn cho Bắc Triều Tiên vay $1 triệu đô la, bạn đến hãng bảo hiểm AIG mua bảo hiểm trên số nợ $1 triệu đô la mà bạn cho vay. Trường hợp Bắc Triều Tiên không trả hoặc chỉ trả 1 phần trong số tiền $1 triệu đô la đó, thì phần còn lại AIG sẽ trả cho bạn.

CDS price càng cao thì khả năng trả nợ của quốc gia đó càng thấp, do đó số tiền bảo hiểm phải trả trên món nợ cao. Ví dụ như Argentina CDS price = 1.068, nếu bạn cho chính phủ Argentina mượn nợ, bạn phải trả số tiền thật cao để mua bảo hiểm trên món nợ cho vay của mình. Cũng có khả năng không có công ty bảo hiểm nào dám bán nếu họ nghĩ Argentina không thể trả nợ.

(3) The Dong, is semi fixed to the dollar: đồng tiền VN bán cố định so với đồng đô la, đồng VN không hẳn lệ thuộc hoàn toàn vào đồng đô la mà chỉ ảnh hưởng 1 phần thôi. Nghĩa là khi đồng đô la tăng (appreciate) có khả năng làm cho đồng VN tăng, đồng đô la giảm (depreciate) thì đồng VN cũng có thể giảm.

(4) Currency peg = fixed exchange rate: tỉ giá trao đổi cố định. Chính sách kiểm soát giá trị tiền tệ bằng cách nối kết với một loại tiền tệ khác. Đồng đô la thường được sử dụng như là peg currency cho nhiều loại tiền tệ.
(5) Global double dip: kinh tế toàn cầu lên xuống theo chu kỳ, double dip là xuống 2 lần, tức là kinh tế bị suy thoái rồi phục hồi, rồi lại suy thoái lần nữa.

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , | 1 Comment »

490. Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại VN

Đăng bởi anhbasam on 03/03/2010

FOREXPROS.COM

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại Việt Nam

John Ruwitch

Ngày 1-3-2010


Hà Nội ngày 1-3 (Reuters) Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tương đối tốt, GDP tăng trưởng 5,23% năm vừa qua, nhưng đất nước này vẫn còn bị xem như là một nơi đầu tư mạo hiểm và tương đối mù mịt.

Giao dịch trao đổi tín dụng mặc định loại 5 năm đang được thực hiện ở mức chênh lệch khoảng 254 điểm cho Việt Nam, cho thấy mức rủi ro cao đứng hàng thứ hai trong bảng liệt kê của Thomson Reuters dành cho các nước mới nổi lên ở châu Á, mức chênh lệch trung bình trong bảng liệt kê này là 140.

Dưới đây là tóm tắt các rủi ro chính cần lưu ý ở Việt Nam:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Tỷ giá trao đổi cố định của Việt Nam thường xuyên gây áp lực kinh tế chồng chất. Ngân hàng trung ương đã giảm giá đồng bạc Việt Nam lần thứ ba hồi tháng hai, kể từ đầu năm 2008, để giảm áp lực về tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sau đó đã đổ thêm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nói rằng trừ khi chính phủ khôi phục niềm tin về tiền tệ bằng cách kềm chế lạm pháp và giảm thâm thủng mậu dịch, nếu không thì sẽ phải giảm giá đồng bạc thêm nữa.

Chính phủ đã liên tục thực hiện các biện pháp khác để cố gắng khôi phục việc kiểm soát thị trường tiền tệ. Họ đã buộc các nhà xuất khẩu lớn thuộc sở hữu nhà nước bán đô la, và thuyết phục những ngân hàng do nhà nước điều hành đảm bảo đủ đô la cung cấp theo nhu cầu. Họ đã liên tục hứa hẹn thực hiện hình phạt đối với việc buôn bán tiền tệ ngoài biên độ chính thức. Họ đã ra lệnh đóng cửa sàn vàng vào cuối tháng ba. Nhưng hiệu quả của các biện pháp bị hạn chế.

Các phân tích gia nói rằng giá trị đồng bạc nước này vẫn còn được giữ ở mức cao và những vấn đề thuộc về cấu trúc vẫn chưa được giải quyết. Tuy nhiên, rủi ro về một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán không cao. Khi kinh tế đổi chiều, lượng ngoại tệ có khả năng tăng, sẽ hỗ trợ cho tiền đồng.

Cần lưu ý:

- Những bước mà ngân hàng trung ương sử dụng để kềm chế lạm phát và kiểm soát việc thâm thủng mậu dịch. Hầu hết các phân tích gia dự đoán có sự suy yếu tiền tệ vào năm 2010.

- Khoảng cách về tỉ giá đô la/ đồng giữa thị trường chợ đen và tỉ giá liên ngân hàng – thước đo chính về áp lực tiền tệ.

HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ

Thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, và quan liêu nặng nề tác động lên hiệu quả của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cải cách kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi lợi ích xung quanh và các thành phần bảo thủ trong một chính phủ tập trung quá nhiều về vấn đề an ninh, đặc biệt trong những tháng chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản vào năm tới.

Các nhà phân tích nói rằng, có thể có một mức độ tê liệt chính sách, hoặc ít nhất là thái độ bảo thủ trong năm tới như là nạn bè phái và dùng thủ đoạn để tranh giành chức vụ trước Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc đầu năm 2011 sắp tới. Những vị trí lãnh đạo quan trọng và những thay đổi chính sách thường chỉ xảy ra khi có đại hội, năm năm một lần. Các đảng bộ ban ngành địa phương tổ chức hội nghị riêng trong năm nay.

Cần lưu ý:

- Trong khi các gói kích cầu kinh tế giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đã có các câu hỏi đặt ra về việc làm cách nào thâm hụt ngân sách được cấp tiền bù đắp, làm cách nào áp lực lạm phát được kiềm chế, và làm sao tránh được nguồn vốn đầu tư tư nhân ào ạt rút đi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt tay vào một kế hoạch giảm bớt thủ tục quan liêu và đặc biệt các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ xem kết quả ra sao.

- Việc đàn áp bất đồng chính kiến đã dẫn tới một vấn đề gai góc, trong đó các nhà ngoại giao phương Tây và các phân tích gia xem các vụ kết án có động cơ chính trị. Điều này đã làm sôi động hơn trong việc kêu gọi Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao. Cũng vậy, vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ đang đẩy mạnh việc thông qua nghị quyết về nhân quyền. Những sự việc này làm sứt mẻ quan hệ thương mại.

- Các nhà đầu tư thường liệt kê cơ sở hạ tầng lạc hậu là một trong những rào cản lớn của Việt Nam. Khả năng của chính phủ phối hợp nhanh, phát triển hiệu quả trong lĩnh vực này sau khi cam kết trợ giúp phát triển chính thức là một vấn đề trọng điểm.

THAM NHŨNG

Tham nhũng là đặc tính cố hữu ở Việt Nam ở mọi cấp mọi ngành của chính phủ, và nó là rào cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Các nhà chức trách đã công bố kế hoạch tấn công chống tham nhũng, và khuyến khích các phương tiện truyền thông theo dõi và kiểm tra, nhưng những nỗ lực này đã tan thành mây khói, sau khi các nhà báo bị bắt giữ do viết bài về các vụ bê bối lớn. Tiến triển về vấn đề [chống] tham nhũng vẫn là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc hấp dẫn đầu tư dài hạn.

Cần lưu ý:

- Thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng nhận thức về tham nhũng. Một sự cải tiến hay suy giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn. Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2009 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi kể từ năm trước, được xếp hạng 120 trên 180 quốc gia.

BẤT ỔN XÃ HỘI

Các cuộc đình công ở Việt Nam gia tăng, biểu tình phản đối và tranh chấp đất đai trong những năm gần đây liên tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoài. Rối loạn nổ ra ở các vùng nông thôn do việc nhà nước chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng của các cán bộ địa phương.

Báo chí nhà nước trong tháng giêng nêu ra một quan chức Bộ Kế hoạch nói rằng kinh tế năm nay khó khăn có thể dẫn tới nhiều cuộc đình công hơn. Mặc dù hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng bất ổn lớn có khả năng xảy ra, hoặc có thể có bất kỳ rủi ro sắp xảy ra cho chế độ đang có thách thức ngầm từ bên dưới.

Cần lưu ý:

- Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một phong trào phản kháng rộng lớn mang tính toàn quốc sắp sửa xảy ra do các tranh chấp địa phương. Cho tới nay, điều này dường như là chưa có.

- Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa – (Biển Đông). Vấn đề này được tích tụ cao độ tại Việt Nam, nơi mà sự ngờ vực Trung Quốc luôn luôn cao. Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hay nhận thấy sự yếu đuối của Việt Nam về vấn đề này, đều có thể khơi dậy sự ủng hộ cho các cuộc biểu tình rộng lớn.

Vai trò của giáo hội Công giáo. Những người Công giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình định kỳ quanh việc đất đai của nhà thờ bị chính phủ chiếm đoạt sau 1954. Giáo hội Công giáo, trong khi chính thức không tham gia vào chính trị, có khoảng 6-7 triệu giáo dân tại Việt Nam và được tổ chức khá tốt.

Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | 3 phản hồi »

488. Với một VN tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

Đăng bởi anhbasam on 02/03/2010

History News Network

Với một Việt Nam tự do kinh doanh,

ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

William Thompson

Ngày 1-3-2010

Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).


Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.

Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”

Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.

Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.

Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.

Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.

Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”

Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.

Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.

Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.

Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.

Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.

Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.

Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.

Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.

Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.

Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.

Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.

Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.

Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.

Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.

Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.

Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.

Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:

Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.

Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”

Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú của người hiệu đính:

(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.

(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.

(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.

Đăng trong Chiến tranh VN, Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , , , , | 4 phản hồi »

470. Việt Nam là quân cờ domino đầu tiên của châu Á

Đăng bởi anhbasam on 13/02/2010

Asia Times

Việt Nam là quân cờ domino đầu tiên của châu Á

Shawn W Crispin

Ngày 10-2-2010

BANGKOK – Trong khi thị trường thế giới lo ngại về các khoản nợ bảo đảm bởi chính phủ châu Âu, liệu Việt Nam có thể là quân cờ domino kinh tế đầu tiên ở châu Á bị kích thích quá mức hay không? Với [chính sách] tiền tệ không vững chắc, việc cho vay dễ dàng và nhanh chóng của ngân hàng, cùng với thái độ thiếu tin tưởng trong nước đối với sự quản lý kinh tế của chính phủ, Việt Nam nổi lên như là ứng viên hàng đầu trong khu vực về việc bất ngờ định giá lại thị trường đối với tác động tài chính của các nguồn chi tiêu của chính phủ, thường do phân bổ không hợp lý cũng như chi tiêu quá nhiều trong thời gian gần đây.

Đằng sau các khoản kích thích kinh tế rất lớn của chính phủ, năm ngoái Việt Nam đã [tăng trưởng] tốt hơn một số nước trong khu vực với mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP là 5,5%. Để chống lại tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, chính phủ đã cam kết những gói kích thích kinh tế ở mức độ khác thường, lên tới 8% GDP. Mặc dù chưa tới một nửa số tiền đó đã thực sự được chi tiêu, song mức chi tiêu trong ngân sách và số cho vay của ngân hàng nhà nước ngoài ngân sách đã giúp nền kinh tế tránh được cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Với dấu hiệu [kinh tế] toàn cầu đang hồi phục, chính phủ do đảng CS lãnh đạo đã phát đi tín hiệu về ý định muốn kềm chế các khoản kích thích và đưa nền kinh tế trở lại mức tăng trưởng bằng định hướng xuất khẩu. Thế nhưng, tình trạng thiếu phối hợp về chính sách khắp các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước đã làm xói mòn hơn nữa niềm tin trong nước đối với chính phủ về khả năng kiểm soát lạm phát trong tương lai, và ở một mức độ đáng kể, nó đã phá hủy các nỗ lực quan trọng trong việc kiềm chế sức ép lên đồng nội tệ và thị trường bất động sản quá nóng.

Tình trạng phân cách giữa mệnh lệnh của trung ương với phản ứng không tuân phục từ bên dưới đã thể hiện rõ vào năm ngoái, khi nhiều ngành công nghiệp xuất khẩu đã bị từ chối đổi ra tiền mặt số tiền đô mà họ thu về từ hoạt đông xuất khẩu để lấy tiền đồng theo tỉ giá hối đoái chính thức. Tính đến tháng mười, chênh lệch giữa tỉ giá chợ đen và tỉ giá chính thức lên tới 9%, và sự chênh lệch đó đã buộc chính phủ phải quyết định hạ giá tiền đồng 5% vào tháng mười một bằng cách nới rộng biên độ trao đổi ở mức chấp nhận được. Thậm chí với việc giảm giá tiền đồng như vậy, các nhà phân tích tài chính chuyên theo dõi tình hình đã nhận xét là vẫn còn có một khoảng cách 5% giữa tỉ giá chính thức và tỉ giá chợ đen.

Một yếu tố gây nên tình trạng méo mó này là các khoản hỗ trợ lãi suất của chính phủ, biện pháp được thực hiện vào năm ngoái như là một phần của gói kích thích nhằm khuyến khích thêm các khoản vay trong nước. Chính sách này đã giảm bớt một cách hiệu quả lãi suất cho vay từ 10% xuống còn 6,5% và sinh ra các khoản cho vay mới, rất lớn, trị giá khoảng 24 tỉ đô la, tức là gần 23% GDP. Theo Standard & Poor’s, một tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm, mức tăng trưởng tín dụng cho vay của Việt Nam đã tăng 37% so với năm trước.

Các nhà phân tích tài chính cho rằng, do gần như không có nhu cầu sử dụng vốn luân chuyển giữa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và những công ty xuất khẩu tư nhân mà đã nhận được những khoản tín dụng mới với giá trị rất lớn, nên phần lớn lượng tiền đó đã được xoay vòng ở thị trường chứng khoán trong nước. Khả năng thanh toán bằng tiền mặt tự do không được kiểm soát, đã góp phần làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một trong những nơi hoạt động sôi nổi nhất thế giới trong suốt nửa đầu năm 2009; và rồi sau đó nó đột ngột suy giảm vào nửa sau của năm.

Có điều không rõ ràng đối với các nhà phân tích tài chính và các nhà phân tích của chính phủ là, có bao nhiêu trong tổng số 24 tỉ đô la vừa được cho vay trong năm ngoái đã bị thua lỗ trong việc đầu tư ở thị trường chứng khoán. Kim Eng Tan, một nhà phân tích tài chính công và thuộc Standard & Poor’s, đã bày tỏ những mối quan ngại ban đầu của mình về tốc độ gia tăng 37% các khoản tiền cho vay năm ngoái. Ông nói rằng các bảng cân đối thu chi của các ngân hàng lớn ở Việt Nam nằm ở mức “hợp lý” vào cuối năm 2008, song điều mà “chúng ta cần là thấy nó thay đổi như thế nào sau làn sóng cho vay mới”.

Từ quan điểm của chính phủ, đợt cho vay tiền dễ dãi đó là nhằm để ngăn ngừa trước một đợt thất nghiệp tăng cao vào ngay thời điểm những ngành công nghiệp xuất khẩu có sử dụng lượng lớn nhân công đang phải đối mặt với tình trạng gần như sụp đổ trong trao đổi mậu dịch toàn cầu. Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản rõ ràng là muốn tránh lặp lại tình trạng bất ổn xã hội mà họ đã từng chứng kiến hồi năm 2008, khi lạm phát lên tới đỉnh điểm, vượt khỏi mức 25% và thất nghiệp lan rộng cả nước, ở các xí nghiệp trong nước lẫn nước ngoài làm chủ.

Lạm phát phi mã cũng đã góp phần vào tình trạng thiếu hụt rất lớn lượng tiền mặt thanh toán, vì hàng hóa nhập khẩu của các công ty để đầu cơ, nằm trong kho ngày càng nhiều, dẫn đến tình trạng giá cả và nhu cầu tăng cao.

(đoạn này có nghĩa là: lạm phát phi mã làm cho các công ty mua hàng với giá thấp để sẵn trong kho sau này bán giá thật cao do lạm phát – gọi là đầu cơ tích trữ, hay arbitrage – việc này gây ra: 1- giá tăng cao; 2-thiếu tiền mặt thanh toán, vì tiền chôn trong số hàng nằm trong kho-người hiệu đính). Việc mất kiểm soát kinh tế được biết đến là đã làm suy yếu vị thế của vị Thủ tướng có khuynh hướng tự do Nguyễn Tấn Dũng, người mà một số nhà phân tích dự đoán rằng ông cố gắng tránh tình trạng lạm phát nghiêm trọng do suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn tới sự sụp đổ giá cả hàng hóa. Một số nhà phân tích tin rằng những người bảo thủ trong đảng có thể trở lại nắm quyền trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 dự kiến khai mạc vào tháng 1-2011.

Ông Carlyle Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Australia, đã nêu rõ trong các bản báo cáo rằng giới bảo thủ trong đảng đã yêu cầu ông Dũng từ chức tại một cuộc họp ban chấp hành trung ương năm 2008 khi người ta thấy cung cách quản lý kinh tế yếu kém của ông. Sự chia rẽ trong chính sách giữa giới bảo thủ và phái tự do trong đảng liên quan tới tốc độ phát triển và phạm vi hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng của nó đối với sự ổn định trong nước và khả năng quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế, theo nhận xét của ông Thayer.

“Giới bảo thủ theo đuổi việc duy trì nguyên tắc một đảng [cầm quyền], giữ trật tự và ổn định, với sự kiểm soát của nhà nước đối với các thành phần kinh tế mà họ coi như là ‘những con bò sữa’ của mình”, ông Thayer đã viết như vậy trong một bức thư điện tử gửi cho Asia Times Online. “Chẳng hạn như, rõ ràng là tiến trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước đã bị chựng lại. Những người [như ông Dũng] thúc đẩy việc gia tăng hội nhập toàn cầu muốn nhìn thấy những tác động của thị trường đóng vai trò lớn hơn”.

Trong khi chương trình tự do hóa kinh tế và tài chính rộng lớn của ông Dũng vẫn đang đi đúng hướng, thì có những dấu hiệu cho thấy rằng các thành phần bảo thủ đang khẳng định uy thế nhiều hơn trong quản lý kinh tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) đã quy định rằng, các ngân hàng nhỏ, từng góp phần vào cuộc khủng hoảng thông qua việc cho vay tràn lan vào năm 2008, phải tăng gấp ba lần số vốn cơ bản của mình vào cuối năm nay hoặc phải đối mặt với việc đóng cửa. Chính phủ cũng đã ra lệnh đóng cửa các sàn giao dịch vàng trên khắp cả nước – một hạn chế sẽ tạo nên ảnh hưởng đầy đủ vào tháng ba này trong một nỗ lực nhằm chặn đứng tình trạng đô xô đi mua vàng, làm giảm giá trị đồng nội tệ.

Áp lực và biến dạng

Những thử nghiệm mang tính kỹ trị mới đang nổi lên với những dấu hiệu lạm phát, tình trạng thâm thủng mậu dịch và sức ép liên tục theo chiều đi xuống làm giảm giá trị đồng nội tệ so với đồng đô la vốn đã yếu trên toàn cầu. Thậm chí với việc giảm giá trị đồng nội tệ xuống 5% vào tháng mười một năm ngoái và quyết định tăng đột ngột mức lãi suất cơ bản từ 10% lên 12%, các doanh nghiệp nhà nước và các công ty tư nhân tiếp tục tích trữ đô la thay vì tiền đồng, cho thấy tình trạng thiếu tin tưởng ở trong nước đối với sự ổn định của Ngân hàng NNVN hoặc thái độ sẵn sàng kiểm soát tình trạng lạm phát của cơ quan này.

“Ngân hàng trung ương cần gửi đi một tín hiệu kiên quyết tới thị trường rằng họ sẵn sàng bảo vệ biên độ dao động của đồng tiên, có lẽ bằng việc nâng cao lãi suất hơn nữa”, theo ý kiến của ông Sriyan Pieterz, trưởng bộ phận nghiên cứu của JP Morgan tại Bangkok. “Nếu không làm được điều đó, thì rủi ro mà họ sẽ chịu là để mất đi các nguồn đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI trong tương lai, do tiền tệ không ổn định”.

Một tỉ đô trái phiếu phát hành đã được các nhà đầu tư nước ngoài mua hết hồi tháng một, nhưng các nhà phân tích cho rằng vẫn chưa đủ để làm giảm bớt sức ép vây quanh đồng tiền nội tệ. Đồng tiền cần phải nhận được một biện pháp ứng cứu ngắn hạn từ những dòng tiền gửi tiết kiệm liên quan tới kỳ nghỉ Tết trong tháng này, song nhiều nhà phân tích tin là NHNNVN cần nâng lãi suất ít nhất thêm 3% nữa để đánh thuế mạnh vào những người muốn đổi từ tiền đồng sang đô la.

Trong lúc NHNNVN chỉ là một nguồn chính thức duy nhất để chuyển đổi ngoại hối trong nước, thì chính phủ duy trì biện pháp kiểm soát vốn chặt chẽ để bảo vệ đồng tiền nội tệ. Theo quy định của luật pháp, các công ty và doanh nghiệp chỉ được phép giữ đủ số ngoại tệ để trả nợ và giải quyết các hoạt động mua bán kinh doanh hiện tại của mình. Tuy nhiên trong quý ba năm ngoái, 27% trong số toàn bộ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của hệ thống tài chính trong nước đã chạy từ tiền đồng sang đô la, theo JP Morgan.

Bất chấp những kiểm soát tiền tệ, các DNNN theo ước tính vẫn cầm giữ lượng ngoại tệ chủ yếu được cho là bằng đô la vào khoảng 10 tỉ. Đáng chú ý, mới đây họ đã coi thường một thông tư do chính phủ ban hành đặc biệt nhắm vào 10 DNNN lớn phải gửi tiền đô la của mình vào ngân hành, bao gồm Tập đoàn Dầu khí VN, Tập đoàn Than và Khoáng sản VN và Tổng công ty Hóa chất Quốc gia VN.

Theo bản thông tư này, các DNNN đã chuyển hơn 3 tỉ đô la trong số ngoại hối mà họ nắm giữ cho NHNNVN vào cuối năm ngoái; kể từ đầu tháng hai, họ chỉ đưa ra 300 triệu đô la, theo như các nhà phân tích theo dõi tình hình cho biết. Thái độ thách thức, theo như các nhà phân tích nói, đã góp phần cho hành động miễn cưỡng của NHNN phải bơm thêm tiền mặt lưu thông vào thị trường nhằm bảo vệ đồng bạc nội tệ. Theo các thống kê chính thức thì NHNN hiện nắm giữ lượng dự trữ ngoại tệ  trị giá vào khoảng 16 tỉ đô la.

Trong khi Việt Nam rõ ràng là rập khuôn theo lề lối chi tiêu tài khóa khác thường của Trung Quốc trong chính sách ứng phó đối với cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, Hà Nội so với Bắc Kinh tỏ ra thiếu khả năng kiểm soát từ thượng tầng xuống, điều đã cho phép Bắc Kinh có nhiều thẩm quyền kiểm soát hãm đà hơn đối với những chương trình kích thích kinh tế của họ. Khi cuộc chiến giành giật đồng ngoại hối hiện tại cho thấy rõ, thì các DNNN lớn của Việt Nam vẫn thường được điều hành như những lãnh địa riêng của các thành viên Đảng Cộng sản đầy quyền lực với đầy đủ sức mạnh ảnh hưởng, coi thường những chỉ thị của trung ương.

Một số nhà phân tích tin chắc rằng các DNNN của VN lâu nay luôn làm ăn thua lỗ, rốt cuộc đang giành được những điều kiện thuận lợi từ chính sách của nhà nước. Đối với các doanh nghiệp khác, rõ ràng là luôn thiếu sự minh bạch và trách nhiệm giải trình từ các DNNN lớn và dấy lên những lo ngại mới về số lượng bao nhiêu tỉ đô la từ các khoản vay của ngân hàng mà họ đã nhận được vào năm ngoái đã được đưa vào sử dụng. Việc thúc đẩy cho vay của chính phủ hồi năm ngoái giống như cái phễu hút nguồn tiền vào các hoạt động đầu cơ trên thị trường chứng khoán, giờ đây có vẻ như [số tiền đó] đang đẩy giá nhà đất tăng cao, đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí minh.

Điều rõ ràng hơn là Việt Nam vẫn thiếu sự kết hợp chính sách có hiệu quả trong khắp các cơ quan và doanh nghiệp vào thời điểm mà các giới chức kinh tế cần cho thị trường thấy một cam kết được làm mới nhằm duy trì sự ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô. Việc thiếu kiểm soát cũng gợi lên những dấu hỏi về các giải pháp chắp vá của ngân hàng trung ương trước làn sóng lạm phát năm 2008 và năng lực kỹ trị của cơ quan này trong việc ngăn chặn những sức ép lạm phát mới đang nổi lên, trong đó có thị trường bất động sản.

Ông Pietersz của JP Morgan cho biết, các giới chức liên quan đều “rất lanh lẹ và tận tụy”, song vẫn “đang học hỏi qua việc thực hành” trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Các nhà phân tích khác thì nói rằng không rõ là chính phủ bị chia rẽ về chính trị từ bên trong liệu có giảm bớt những giải pháp kích thích của năm ngoái do sự chính trị hóa thời gian sắp diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc vào năm tới.

Rút cục thì chính phủ không thể đóng cửa toàn bộ nền kinh tế … song những khả năng lạm phát mà người ta trông đợi sẽ phải được níu chặt lại bằng cách nào đó”, ông Tan thuộc Standard & Poor’s nhận xét. “Nếu như lạm phát diễn ra ở mức cao trong một thời gian dài, thì sẽ nguy hiểm trầm trọng”.

Một nhà phân tích với một ngân hàng đầu tư Âu châu đánh giá rằng “cái ngày kết toán” của Việt Nam là “không thể tránh khỏi do sự bất lực của chính phủ trong việc nâng mức dự trữ quốc gia” và rằng đất nước này sẽ phải đối mặt với “những cú phá giá đồng bạc gây chấn động” cho tới khi ngân hàng trung ương được độc lập hơn trước những nhân vật bảo thủ trong đảng.

Bất chấp những sức ép gần đây lên đồng nội tệ, ông Tan cho là Việt Nam không bộc lộ những dấu hiệu của một “cuộc khủng hoảng tiền tệ cổ điển” do “mức vay bên ngoài phần lớn vẫn nằm trong sự kiểm soát” và “FDI duy trì tốt”. Không giống như các quốc gia mắc nợ do các đòn giáng xuống từ cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997-1998, ông lưu ý, gánh nặng nợ nần của Việt Nam thì vừa phải do phần lớn nó nằm trong nguy cơ thấp, với những khoản vay ưu đãi dài hạn.

Nhưng khi việc giám sát chặt chẽ thị trường đối với khu vực tài chính công gia tăng mạnh ở châu Âu, mức độ rủi ro từng quốc gia riêng rẽ ở châu Á sẽ ngày càng được lượng định bởi quan niệm của nhà đầu tư về cách thức chính quyền quản lý và chi tiêu ra sao qua các giải pháp chi tiêu tài khóa mạnh mẽ được thực hiện mới đây. Các địa phương ở Việt Nam đã cho thấy rõ sự hồ nghi của họ trước sự quản lý của chính phủ và lịch sử cho thấy các ý kiến từ nước ngoài thường đi chậm song rốt cục lại đi theo những người bản xứ hướng tới những thị trường ngày càng có độ rủi ro cao.

Khi những nỗi lo sợ về căn bệnh truyền nhiễm trong chi tiêu tài chính nhà nước dấy lên ở Âu châu, Việt Nam có vẻ như là ứng viên hàng đầu cho một cơn khủng hoảng lòng tin tương tự tại châu Á.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , | 2 phản hồi »

453. Bóng ma lạm phát

Đăng bởi anhbasam on 28/01/2010

Bóng ma lạm phát

The Bogey of Inflation

Project Syndicate

21-01-2010


Nguy cơ lạm phát của nền kinh tế thế giới có thật đến mức nào? Quan điểm về vấn đề nầy gây chia rẽ giữa các nhà kinh tế bảo thủ và các tổ chức như IMF và OECD. IMF và OECD dự kiến tỉ lệ lạm phát rất thấp trong những năm sắp tới. Nhưng nguyên Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên Bang Mỹ, ông Alan Greenspan thì cảnh báo nguy cơ lạm phát. Một số chuyên gia trên thị trường trái phiếu dường như cũng tiên đoán lạm phát sẽ tăng cao hơn.

Quan điểm nào đúng thì sẽ có mối liên hệ chặt chẽ tới chính sách. Nếu lạm phát tiếp theo sau suy thoái như vấn đề chính hiện nay, chính quyền nên ngưng các chính sách kích thích (rút tiền khỏi nền kinh tế) càng sớm càng tốt. Nếu suy thoái vẫn còn là vấn đề, các chính sách kích thích nên tiếp tục hay thậm chí đẩy mạnh thêm.

Mọi người tiên đoán lạm phát sẽ ở mức nào đó. Suốt thời kỳ lạm phát ở mức thấp, vào đầu những năm 1990, tỉ lệ lạm phát hàng năm ở các nước phát triển trung bình là 2,4%. Mục tiêu lạm phát của ngân hàng trung ương hiện nay thường đưa ra ở mức 2%.

Các nhà tiền tệ học ca ngợi thời kỳ lạm phát thấp là thành tựu vĩ đại của họ. Họ tự hào về tài năng “quản trị kỳ vọng” của ngân hàng trung ương.

Nhưng chính sách tiền tệ chẳng liên quan gì đến chuyện nầy. Lạm phát thấp là kết quả của sự kết hợp giữa cung rẻ và cầu thấp. Có một áp lực khổng lồ đẩy giá sản xuất xuống từ các nền kinh tế châu Á do chi phí nhân công thấp, trong khi thất nghiệp ở các nước phát triển trung bình là 5-6% – cao khoảng gấp đôi những thập kỷ đầu sau chiến tranh. Lạm phát tăng lên trước khi suy thoái bộc phát, chủ yếu là do giá hàng hóa thông thường tăng mạnh.


Người ta dựa vào bối cảnh này để đánh giá tình hình thực tế về mối đe dọa lạm phát hiện nay. Điều lưu ý đầu tiên là do kinh tế suy thoái, mức sử dụng công suất thấp hơn cách đây 15 tháng: sản lượng toàn cầu đã giảm khoảng 5% kể từ năm 2008, và sản lượng các nước phát triển khoảng 4,1%.

Mọi người kỳ vọng lạm phát sẽ giảm cùng với sự giảm sút sản lượng, và nó đã xảy ra đúng như vậy. Lạm phát ở các nước OECD đã giảm từ mức trung bình hàng năm 3,7% năm 2008 xuống còn khoảng 0.5% trong năm 2009. Bây giờ đã bắt đầu tăng trở lại nhưng ở mức độ thấp, chủ yếu là do sự quay đầu của giá cả hàng hóa thông thường. Hơn nữa, IMF và OECD dự tính lạm phát toàn cầu sẽ duy trì dưới mức trung bình trước 2008 trong nhiều năm. Nói cách khác, thời kỳ lạm phát thấp sẽ trở thành thời kỳ lạm phát thấp hơn.

Thế còn việc nới lỏng số lượng lớn (in thêm tiền) vừa xảy ra thì sao? Từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng, Ngân hàng Anh Quốc đã bơm 325 triệu đôla vào nền kinh tế Anh, Quỹ Dự trữ Liên bang đã tăng cơ số tiền tệ của Mỹ lên tới gần 1 nghìn tỉ đô la, và Ngân hàng Nhân dân Trung quốc đã bắt đầu cho vay với con số kỷ lục 1,4 nghìn tỉ đôla. Những con số nầy tương đương với 4% GDP toàn cầu. Điều đó có nghĩa là chắc chắn lạm phát quanh quẩn trong góc nào đó trừ khi tiền được thu hồi nhanh, đúng không?

Đối với những ai đã học vài bài về Lý thuyết Số lượng Tiền tệ, điều này dường như là một kết luận hợp lý. Lý thuyết số lượng cho rằng mức giá chung sẽ tăng tỉ lệ với việc tăng thêm lượng cung tiền. Vì thế nếu lượng tiền tăng 5% toàn cầu trong năm ngoái, giá cả thế giới sẽ tăng 5% sau một thời gian ngắn.

Nhưng, như John Maynard Keynes không ngừng chỉ ra, Lý thuyết Số lượng Tiền tệ chỉ đúng khi có công ăn việc làm toàn thời gian. Nếu công suất không được sử dụng hết vào nền kinh tế, một phần lượng tiền gia tăng sẽ được tiêu vào sản lượng gia tăng thay vì chỉ mua sản lượng hiện có. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một nửa câu chuyện. Với “số lượng tiền”, các chuyên gia thường cho là M3, một thước đo rộng rãi bao gồm cả tiền gửi vào ngân hàng. Việc các ngân hàng có nhiều tiền từ những đồng tiền của ngân hàng trung ương không có gì bảo đảm rằng các khoản tiền gửi vào ngân hàng có được là do chi tiêu hay vay mượn cũng sẽ tăng theo cùng tỉ lệ.


Trong những năm 1990, ngân hàng trung ương Nhật bản đã bơm một lượng tiền khổng lồ vào các ngân hàng trong nỗ lực đẩy mạnh lương cung tiền. Có lúc, tiền từ ngân hàng trung ương tăng 35% trong một năm, nhưng M3 tăng chỉ 7%. Dữ liệu từ châu Âu và Mỹ cho thấy M3 đã giảm xuống gần như cả năm 2009, cho dù lãi suất vô cùng thấp và nới lỏng số lượng.

Điều đáng nói không phải là in tiền, mà là tiêu tiền. Chỉ khi đồng tiền được tiêu xài thì nó mới có giá trị khác hẳn một tờ giấy lộn. Một ngân hàng trung ương có thể in tiền, nhưng không bảo đảm đồng tiền được in ra sẽ được tiêu xài. Những đồng tiền này có thể nằm chất đống trong ngân hàng để dự trữ hoặc ở các tài khoản tiết kiệm, hay nó có thể tạo ra bong bóng tài sản. Nhưng trong những trường hợp như thế, lượng tiền có thể tăng rất ít hoặc không tăng. Tiền mới thường được thay thế tiền cũ vốn đã được thanh toán do kinh tế sụp đổ.

Đó chính là lý do tại sao số liệu chính thức đưa ra tỉ lệ lạm phát rất thấp trong vài năm tới, bất chấp chính sách kích thích tiền tệ và tài khóa. Nhưng điều nầy nên là một dấu hiệu cảnh báo: cho rằng với tỉ lệ thất nghiệp cao hơn hiện nay rất nhiều, lạm phát trong tương lai sẽ vẫn ở mức thấp có nghĩa là sẽ có rất ít cơ hội phục hồi kinh tế trong năm năm tới. Rốt cuộc thì khi các nền kinh tế thoát khỏi suy thoái, chúng luôn tăng trưởng cao hơn mức dự đoán. Điều nầy có nghĩa là giá cả sẽ tăng cao hơn mức tăng thông thường. Thực tế là không có bằng chứng nào cho thấy giá cả cao hơn thông thường đồng nghĩa với việc không có bằng chứng kinh tế thực sự hồi phục.

Các nền kinh tế vẫn đang gắng gượng để sống. Nếu chấm dứt chương trình kích thích kinh tế vào lúc nầy thì sẽ giết chết nó. Nói về mối nguy hiểm của lạm phát sẽ làm người ta hoảng sợ. Thay vào đó, chúng ta nên nghĩ cách khôi phục nền kinh tế.

Để bảo đảm, các nền kinh tế khác nhau thì có khả năng hồi phục khác nhau, và tại một số khu vực tăng trưởng nhanh hơn – chẳng hạn như Trung quốc và Ấn độ – sẽ giúp các nền kinh tế hồi phục chậm hơn như châu Âu và Mỹ. Nhưng trừ khi các bằng chứng phục hồi chắc chắn xuất hiện trong quí tới, các quan chức Châu Âu và Mỹ nên chuẩn bị gia tăng các chương trình chi tiêu của mình. Nếu không thì nền kinh tế của họ có nguy cơ mắc kẹt trong suy thoái.

.
Robert Skidelsky là giáo sư Kinh tế Chính trị ở Đại học Warwick. Bộ tiểu sử nhà kinh tế John Maynard Keynes, ba tập (1983, 1992, 2000) nhận nhiều giải thưởng, gồm cả giải Lionel Gelber Prize for International Relations và Council on Foreign Relations Prize for International Relations. Cuốn sách mới nhất của ông: Keynes: The Return of the Master (9/2009).


Người dịch: LKT

Hiệu đính: NM

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

442. Việt Nam có thể trả thêm 1% cao hơn Indonesia khi phát hành nợ

Đăng bởi anhbasam on 21/01/2010

Bloomberg

Việt Nam có thể trả thêm 1%

cao hơn Indonesia khi phát hành nợ

19-01-2010

Lilian Karunungan and David Yong


Bloomberg, ngày 20-1 – Việt Nam có thể phải trả ít nhất thêm một phần trăm so với Philippines và Indonesia để bán trái phiếu quốc tế, do đồng nội tệ suy yếu và việc bán trái phiếu ở các nước phát triển gia tăng đã làm cho các nhà đầu tư muốn được trả lãi suất cao hơn.

Chính phủ nhắm tới việc phát hành $1 tỷ đô la trái phiếu kỳ hạn 10 năm, nếu lãi suất phải trả không vượt quá 7% / năm, các ngân hàng trung ương cho biết trong một tuyên bố hôm qua. Hôm 07-01, Philippines đã phát hành nợ, đến kỳ đáo hạn vào năm 2020 với lãi suất là 5,67% và Indonesia cũng đã phát hành trái phiếu tương tự với lãi suất 6% trong tuần qua. Cả hai nước này đều được Standard & Poor’s xếp hạng nợ thấp hơn Việt Nam (xem thêm bảng ghi chú cuối bài của người dịch).

Việt Nam đang có kế hoạch phát hành nợ lần thứ hai bằng đồng đô la khi việc mua bán đồng nội tệ xuống thấp gần mức kỷ lục, lạm phát gia tăng và thâm thủng mậu dịch cao. Công ty AllianceBernstein LP và West Asset Management Co. nói rằng Việt Nam cần phải trả ít nhất 7% bởi vì các nước đang phát triển bán hơn $13 tỷ đô la trái phiếu ở nước ngoài trong năm nay, sôi động nhất bắt đầu với thị trường của các quốc gia đang phát triển, cho loại nợ vay mượn nước ngoài đến kỳ thanh toán là 10 năm. Indonesia trở lại phát hành trái phiếu trị giá $2 tỷ đô la và hủy bỏ kế hoạch bán trái phiếu có kỳ hạn 30 năm.

“Các quan chức Việt Nam hiện tại đang gặp khó khăn do áp lực gia tăng đối với lạm phát và cân bằng bên ngoài,” Ông Dennis Shen, một nhà phân tích cho công ty Alliance Bernstein ở New York đã nói. Một điều có thể thấy là $496 tỷ đô la nợ trên toàn cầu và bảo hiểm cho món nợ này là công ty Axa SA, chi nhánh của hãng bảo hiểm Pháp. “Với những rủi ro vốn có, chúng tôi chỉ xem xét khả năng tham gia vào việc mua trái phiếu này nếu được trả trong khoảng từ 7%-7,25%.”

Chính sách tăng trưởng

Chính phủ Việt Nam đang phải đấu tranh để cân bằng chính sách thúc đẩy tăng trưởng với những nỗ lực bảo đảm nền kinh tế giữ vững ổn định, Moody’s Investors Service cho biết hôm 15 tháng 1. Quốc gia này được Moody đánh giá cao nhất ở mức Ba3, dưới mức đầu tư ba mức, kèm theo nhận định tiêu cực. Việc xếp hạng này ngang bằng với Philippines và thấp hơn Indonesia một bậc. S&P xếp hạng Việt Nam là BB, một mức cao hơn BB- (BB trừ) cho Indonesia và Philippines (xem thêm bảng ghi chú của người dịch).

Việt Nam đã bán $750 triệu trái phiếu có kỳ hạn 10 năm với lãi suất là 7,125% trong lần bán trái phiếu đầu tiên toàn cầu hồi tháng 11/2005, trong khi đó lãi suất là 2,56% cho loại trái phiếu kho bạc có cùng thời hạn thanh toán. Trái phiếu đến kỳ thanh toán vào tháng 01/2016 (kỳ hạn 6 năm) có lãi suất là 6,156% phát hành hôm qua với sự chênh lệch khoảng 3,3 điểm phần trăm (1) (tức là 2,856% cho loại trái phiếu kho bạc có cùng kỳ hạn thanh toán. 6,156% – 3,3% = 2,856%: ghi chú của người dịch), theo dữ liệu do Bloomberg thu thập. Với lãi suất 7% cho món nợ mới 10 năm, Việt Nam được trả cùng một mức lãi suất như các loại trái phiếu kia.

Các công ty Barclays Capital Plc, Citigroup Inc. và Deutsche Bank AG được giao nhiệm vụ quản lý chuyện mua bán này và họ đã tổ chức các buổi ăn trưa tiếp thị tại Hongkong và London. Thông tin đã được đưa lên trang web của Ngân hàng Trung ương nhưng sau đó đã được sửa lại, gỡ bỏ các tham chiếu liên quan đến lãi suất. Bộ Tài chính dự định tổ chức các buổi họp mặt với các nhà quản lý quỹ ở Boston vào ngày 20-01 và tại New York một ngày sau đó.

‘Giá trị khan hiếm’

Sergey Dergachev, người đã giúp giám sát $250 tỷ đô la bao gồm 6 tỷ đô trên thị trường các nước đang phát triển, thuộc Hiệp hội Đầu tư có trụ sở tại Frankfurt, cho biết ông sẽ cho thêm trái phiếu Việt Nam vào danh mục bởi vì quốc gia này không vay mượn nợ nước ngoài thường xuyên, hạn chế cung cấp cho các nhà đầu tư những trái phiếu có lợi nhuận cao.

Các nhà đầu tư đã bỏ thêm gần $3 tỷ đồng để làm vốn cho vào quỹ để mua trái phiếu ở các nước phát triển trong tuần từ 13 tháng 1, theo sau nguồn vốn đạt kỷ lục năm ngoái, người theo dõi quỹ đầu tư thuộc công ty EPFR Global có trụ sở tại Cambridge, bang Massachusetts cho biết hôm 15-1.

“Đó là giá trị gắn liền với sự khan hiếm về việc giao dịch trái phiếu của Việt Nam sắp tới,” Dergachev nói. “Việc phát hành trái phiếu mới này phải có lợi nhuận chắc chắn ở khoảng từ 6,85% đến 7%.”

Việc vay mượn nợ bằng đồng đô la của Việt Nam là nguồn cung cấp hạn chế và rất khó để mua trái phiếu bằng đồng nội tệ, Dergachev nói. Bởi vì rất khó có thể bán một cách nhanh chóng trái phiếu nên cần phải trả thêm “lợi nhuận cho khả năng thanh khoản,” ông nói.

“Trường hợp Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đã mệt mỏi bởi vì trong quá khứ họ đã bỏ tiền ra mua nợ bằng đồng nội tệ mà không thể lấy ra”, ông Mark Dow, người giúp quản lý $3 tỷ đô la cho công ty Pharo Management LLC ở New York nói. “Đó có thể là một yếu tố” mà Pharo Management sẽ xem xét việc mua các khoản nợ nếu giá hấp dẫn, ông nói.

‘Hãy cẩn thận hơn’

Gia tăng việc bán nợ từ các quốc gia đang phát triển, và việc thu hẹp lợi nhuận có thể làm cho Việt Nam khó khăn hơn trong việc thu hút các nhà đầu tư, theo ông Rajeev de Mello, người đứng đầu trong lĩnh vực đầu tư ở châu Á có trụ sở tại Singapore, người giúp quản lý $506 tỷ đô la trên toàn cầu tại công ty Western Asset. Ông nói rằng Việt Nam nên trả lãi suất trong khoảng từ 7,25%-7,5%.

Albania đang dự định bán trái phiếu quốc tế đầu tiên, sau khi Philippines, Mexico, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia và Slovenia đã phát hành nợ trong năm nay. Các nhà đầu tư muốn được trả lợi nhuận 2,97 điểm phần trăm (1) để mua nợ của quốc gia đang phát triển hôm 19-01, theo EMBI Global Composite Index, giảm 4,14 điểm phần trăm (1) cách đây sáu tháng.


“Các nhà đầu tư bây giờ có nhiều sự lựa chọn hơn để mua các loại trái phiếu phát hành,” De Mello nói. “Họ quan tâm về việc chênh lệch quá thấp so với trái phiếu kho bạc và họ đang tính toán cẩn thận hơn.”

Tiền tệ suy yếu

Việc vay nợ bằng đồng đô la của Việt Nam mang về 25% trong năm qua, đánh bại Philippines khi chỉ mang lại 21%, theo các số liệu do JPMorgan Chase & Co thu thập. Với  Indonesia là 56% trong các món nợ và 29% cho các chỉ số của EMBI Global, công ty theo dõi nợ của 37 nước đang phát triển.

Hậu quả về việc không trả nợ tín dụng của Việt Nam đã phải trả giá cho 236 điểm cơ sở (2), cao hơn Philippines 40% và nhiều hơn Indonesia 24%. Đó là các hợp đồng được sử dụng để bảo vệ việc không có khả năng trả nợ hoặc dự đoán sẽ xù nợ, dùng để trả cho người mua mệnh giá trái phiếu (3) nếu bên vay nợ không tuân theo các thỏa thuận vay nợ.

Ngân hàng trung ương phá giá đồng nội tệ 5,4% hồi năm ngoái khi cán cân thương mại đưa ra con số thâm hụt là $12,25 tỉ đô la trong năm 2009 sau khi quý I năm này cho ra con số thặng dư.  Đồng bạc VN đang được giao dịch ở tỉ giá 18.474 đồng ăn 1 đô la, thấp gần mức kỷ lục 18.500 đồng hồi tháng 11 năm ngoái. Giá tiêu dùng tăng đến 6,52% so với tháng 12 một năm trước đây, và tăng 4,35% so với tháng 11 [năm 2009].

Nếu việc bán trái phiếu không thành công, Việt Nam sẽ phải dựa vào các nguồn tài trợ quốc tế để tài trợ cho các dự án năng lượng và cơ sở hạ tầng, John T. Sullivan, người sáng lập công ty tư vấn Kerry Emerging Global Opportunities LLC, có trụ sở tại Washington cho biết như vậy. Điều đó có thể làm cản trở việc gia tăng xuất khẩu, đầu tư và kinh tế, ông nói.

“Việt Nam có thể là một nền kinh tế năng động, nếu cơ sở hạ tầng được đưa vào đúng chỗ,” ông nói.


Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010


Ghi chú:

Đánh giá xếp hạng của ba nước trong khu vực do 2 công ty Moody’s và S&P (Mời tham khảo thêm thông tin):

(1)   Percentage point: điểm phần trăm, tức là phần trăm chênh khi so sánh giữa trái phiếu có cùng kỳ hạn của chính phủ Hoa Kỳ với trái phiếu của công ty/ quốc gia đang rao bán.

(2)   Basis point: điểm cơ sở. Một điểm cơ sở bằng 0,01%, 100 basis points = 1%. Điểm cơ sở được dùng để đo lường những thay đổi hoặc sự khác nhau giữa lợi tức của các loại trái phiếu.

(3)   Face value hay còn gọi là par value: tức mệnh giá trái phiếu mà bên phát hành nợ phải trả cho bên mua khi đến kỳ đáo hạn. Thường thì trái phiếu do công ty phát hành có mệnh giá $1.000, chính quyền tiểu bang hoặc thành phố phát hành có mệnh giá $5.000, và trái phiếu do chính phủ liên bang phát hành có mệnh giá $10.000 đô la.

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: | 8 phản hồi »

433. VN:Một câu chuyện về chặng đường phát triển

Đăng bởi anhbasam on 13/01/2010

THE INDEPENDENT

Việt Nam:Một câu chuyện

về chặng đường phát triển

Chiến tranh đã để lại trong mình những vết sẹo, song giờ đây Việt Nam đang bùng nổ phát triển. Rory Ross bắt gặp nghệ thuật ẩm thực hấp dẫn, những di tích quân sự và những khách sạn sang trọng trong một đất nước mà du ngoạn có nghĩa là đi từ nơi này tới nơi khác trên một chiếc xe máy loại scooter và hy vọng những điều tốt đẹp nhất

Thứ bảy, ngày 9-8-2008


Thành phố Hồ Chí Minh ở miền nam Việt Nam là một thủ phủ của vùng đất đang phát triển. Trung tâm thương mại của nền kinh tế như con hổ mới nhất của châu Á tràn ngập những xe máy và xe scooter; có 3,15 triệu chiếc chính thức được đăng ký, với khoảng một nghìn chiếc scooter [1] đăng ký mới mỗi ngày. Những chiếc xe tuôn ào ạt qua các phố, 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, tựa như đàn cá đan chéo vào nhau. Từ những gì tôi có thể nói ra, là tỉ lệ trung bình ngồi trên những cỗ máy này là khoảng 2,2 người trên một chiếc. Lên tới ba người là bình thường; tới bốn, không phải là khác thường. Trong một vài dịp, tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy có năm người trên xe bao gồm cả những đứa bé mới biết đi.

Trong một đất nước hình búp măng dài 1.500 km như Việt Nam, một ý nghĩa quốc gia là điều gì đó thuộc về cuộc đấu tranh đã đi qua. Tuy nhiên, chiếc xe máy đã lướt đến cứu giúp quốc gia này. Đây là một dân tộc đang sống trên yên xe. Họ ăn, ngủ, theo đuổi những cuộc chuyện trò với láng giềng (khi đang ở tốc độ 70km một giờ, với khoảng cách giữa những người nói chuyện chỉ có vài inch trong khi đang lao vèo vèo trên phố), đọc báo, chở máy giặt, đưa chó đi dạo, vận chuyển lợn, gà, vịt, và làm việc qua máy tính xách tay, tất tật đều diễn ra trên những chiếc xe gắn máy. Nếu bạn nhìn thấy một đống đồ đạc đang lắc lư chao đảo trên phố, ấy là một ai đó đang chuyển nhà trên chiếc xe máy của mình. Băng ngang qua đường ở Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có niềm tin. Hãy bước ra một chút và để cho cái dòng xoáy diệu kỳ nó bao bọc lấy bạn, và phải chắc chắn là không được hoảng hốt khi đang ở giữa đường mà bất ngờ thay đổi hướng đi. Điều ấy có thể làm nguy hiểm đến tính mạng.

Cho tới khi những chiếc nón bảo hiểm đã trở thành vật bắt buộc phải đội khi lưu thông trên đường vào đầu năm nay, xe máy đã giành được số thương vong ghê gớm, hình như cho một ngàn người đi xe máy mỗi tháng. Giờ đây, những chiếc nón bảo hiểm là món thời trang đầy thiện ý. Thậm chí khi không ngồi lên yên xe, giới trẻ Việt Nam vẫn chưng diện chúng ở chỗ này chỗ kia trong thành phố, vẽ vời trang trí phù hiệu cho chúng với những kiểu cách màu mè. Cả những chiếc khẩu trang che mặt nữa. Bạn sẽ bắt gặp những chiếc khẩu trang trắng dùng trong phòng phẫu thuật được người ta đeo ngoài đường, cũng như những chiếc khăn quàng sặc sỡ được quấn quanh mặt, kiểu Kẻ-Lữ-Hành-Cô-Độc [2]. Phụ nữ bổ sung cho nhan sắc của mình với những chiếc găng tay lụa dài tới tận khuỷu để tránh cho đôi cánh tay họ bị sạm nắng. Tác dụng của những chiếc găng tay, khẩu trang, và mũ bảo hiểm là để biến những người phụ nữ Việt Nam trở thành các ninja Catherine Deneuves [3] bị bắt trong một cuộc đụng độ từ vở diễn ở nhà hát cho tới vị thủ tướng trên phim.

Khách sạn Caravelle là nơi để tống khứ cảm giác mệt mỏi sau chuyến bay dài. Được mở cửa từ năm 1959, với cửa kính chống đạn, là nơi từng được các tờ báo và hãng truyền hình như The New York Times, The Washington Post, NBC và CBS mở văn phòng trong thời gian diễn ra Cuộc chiến tranh Việt Nam. Các ký giả và những chiến lược gia sa-lông đã theo dõi và đưa tin tức về các cuộc trao đổi cuối cùng về cuộc chiến này tại quầy giải khát trên tầng thượng. Từ khách sạn này nhìn qua nhà hát nhạc kịch là Khách sạn Continental, nơi Graham Green viết cuốn The Quiet American [4], và hai ngọn tháp đôi của nhà thờ Đức Bà [Notre-Dame], di sản của chủ nghĩa thực dân Pháp mà ảnh hưởng sâu sắc của nó vẫn còn hiển hiện trong cái thành phố nhộn nhạo này. Mọi con phố nhỏ đều cho thấy rõ điểm nhấn của nước Pháp trước chiến tranh trong những cánh cửa chớp, ban công và những nét trang trí nghệ thuật.

Ở những nơi khác, một phiên bản ít lãng mạn, lại trừu tượng hơn của Thành phố Hồ Chí Minh đang được tiếp nối, khi những ngôi nhà chọc trời đúc bê tông liền khối kiểu mới vươn lên cao trông như một tấm biểu đồ của mức tăng trưởng tư bản đang lên vun vút.

Những nơi nào cần tham quan? Dinh Thống Nhất, nơi tổng thống Nam Việt Nam từng sống, là một tòa nhà được khánh thành vào năm 1966 [5] gợi lại một cách kỳ lạ về Tòa lâu đài Lễ hội Hoàng gia [The Royal Festival Hall]. Cuộc chiếm đóng của lực lượng cộng sản vào ngày 30-4-1975 đã đánh dấu sự kết thúc của Cuộc chiến tranh Việt Nam. Những chiếc xe tăng húc đổ cổng Dinh vào buổi sáng hôm đó giờ vẫn còn trên sân như lôi cuốn du khách. Tòa lâu đài cho thấy rõ, nếu như không có cái gì khác, cái khiếu thẩm mỹ kinh khủng của các đời tổng thống Nam Việt Nam: những khung cảnh bê tông không có gì đặc sắc được bù đắp bằng các vật dụng trong nhà trông đến ghê sợ. Có Trời mới biết được tòa lâu đài này đã từng phải trải qua người chủ nhân tin theo thuật phong thủy đến thế nào [6].

Bạn sẽ thấy khắp nơi trong Thành phố Hồ Chí Minh những dấu tích của chiến tranh – một khẩu súng, một chiếc xe tăng, một xe quân sự, một chiếc phi cơ – để làm kỷ niệm hấp dẫn du khách hay sở thích của dân thành thị. Bảo tàng Dấu tích Chiến tranh là một triển lãm gợi lại nỗi đau khổ rùng rợn của cuộc chiến, được diễn tả trong các bức ảnh, trong các khu trưng bày quân cụ và những thứ vũ khí hạng nặng. Nó làm cho Nhà bảo tàng Chiến tranh Đế quốc kinh khủng ở Lodon tựa như khu vui chơi giải trí Disneyland.

Đại diện cho một dân tộc từng tiễn đưa người Pháp và người Mỹ trong khoảng cách 21 năm, người Việt Nam là một nhóm người thân thiện một cách khác thường, với việc chào đón du khách từ tất cả mọi quốc gia, bao gồm người Mỹ và người Pháp. Nếu đấy là nước Anh, bạn sẽ không bao giờ nghe phần kết thúc của câu chuyện đó: người Việt Nam, trái lại, có một sự chấp nhận điềm tĩnh đến lạ kỳ về quá khứ và dường như tập trung duy nhất tới tương lai. Đây là một phẩm cách mà phương Tây yêu mến một cách kín đáo.

Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đáng bõ công thăm thú một hai ngày, song sẽ dễ chịu khi ra khỏi thành phố. Đi hai trăm dặm về phía đông bắc, bạn sẽ thấy Vịnh Ninh Vân [7], viên ngọc quý của bờ biển Việt Nam dài 3.260km. Những cồn cát vàng óng như mật ong, nước biển ấm áp được rải khắp với các dải san hô ngầm, một cụm đảo xoè thành hình rẻ quạt giữ cho những đợt sóng thần không xô được vào bờ, một bức thành lũy những núi non bảo vệ khỏi các cơn bão tố, và thời tiết chan hòa ánh nắng mà ở Việt Nam khó có nơi đâu bằng … đó là những gì làm cho Ninh Vân trở thành một trong những bãi biển đẹp nhất trên thế giới. Nha Trang, thành phố chính ở đây, trải rộng ra đàng sau lối đi dạo ở bãi biển, nơi đây mỗi sáng hàng ngàn người Việt Nam trình diễn thể dục thái cực quyền ở giữa vườn hoa được cắt tỉa theo nhiều hình dạng.

Gọi một chiếc xích lô, tôi đâm đầu vào giữa đám xe máy trong giờ cao điểm tắc nghẽn giao thông để tìm tới trái tim đang đập của thành phố, chợ Nha Trang. Nơi đây phải được xếp hạng trong số những kỳ quan bếp núc của thế giới. Có nhiều loại trái cây, rau quả, thảo mộc, đồ gia vị cay và đậu đa dạng hơn mà bạn có thể gắp một đũa vào, cùng với vài món thịt cá, việc này tạo cho xã hội một lối đối xử có đạo đức với những thú vật nuôi trong nhà cho vui và chúng chỉ bị chết vì bệnh nhồi máu cơ tim tập thể.

Tôi đã mất cả buổi sáng để luồn lách chiếc xe đạp trên giỏ chất đầy những chùm bưởi nhét dưới những bịch xoài để tránh né những người bán dạo, những anh phu khuân vác luồn lách lắc lư những gánh hàng chất đầy gạo, và nhảy vào những vũng nước giữa quầy hàng cá và hải sản sao cho nước bắn vào lũ cua cá để giữ cho chúng được sống lâu hơn. Những lối đi hẹp chật ních những người giao nhận hàng, những sản phẩm tươi sống, tiếng xe máy và tiếng còi xe ầm ĩ, và những khách hàng lượn lờ hoặc tranh nhau kể chuyện tầm phào. Bạn có thể nghe thấy những tiếng mà cả mua bán từ cách đó hàng dặm.

Cách nấu nướng của Việt Nam có quan hệ bà con gần gũi với cách nấu của Trung Quốc, nhờ vào thời kỳ chiếm Việt Nam trong hàng ngàn năm cho tới thế kỷ thứ 10. Song người Việt chăm chút sử dụng nhiều rau cỏ tươi hơn người Trung Hoa, và họ thích canh và cá hấp. Tuy nhiên, một khi bạn kết hợp căn bản giữa cơm/súp-cháo/cá, thì đầu bếp người Việt sẽ không chịu làm theo. Rất ít loài thú ở Việt Nam thoát khỏi lưỡi dao thái thịt, chiếc chảo rán và bếp lò. Đúng là mỗi một con vật ở quốc gia này có một món ăn đặc biệt gắn liền với tên của mình, và đôi lúc gắn tên con vật cho nhà hàng nữa. Sự thính nhạy ngẫu hứng sành ăn này là một di sản của chiến tranh. Phải đối mặt với những cánh đồng bị phá hủy và không còn gì để lo việc cấy cày, những đầu bếp người Việt Nam đã được giảm bớt để thử nghiệm với loài dơi, mèo, chuột, chó, cá ngựa và thứ rết nổi tiếng của Việt Nam dài khoảng 18 inch chuyên ăn thịt chuột[con rắn?].

“Tại vùng Châu thổ sông Mekong [nam Việt Nam], bạn sẽ được ăn nhiều thứ rắn, tắc kè và rùa,” Trung, người hướng dẫn du lịch của tôi cho biết. “Rắn hổ mang bành là một thứ nổi tiếng. Huyết được pha với rượu gạo. Tim bạn sẽ bị hạ gục tức thì, trong lúc vẫn đập – thình-thình! – và thịt được nướng chả và nấu cháo.”

Rắn như một loại gà của vùng đông-nam châu Á. Nếu bạn đã từng đi du lịch tới vùng đất này của thế giới, bạn có thể đã ăn thịt rắn vài lần mà không hề biết. Từ tháng mười hai năm ngoái, các nhân viên hàng không ở Hà Nội đã phát hiện ít nhất là hai chuyến hàng ký gửi toàn rắn xuất nhập lậu. Một chuyến được gắn nhãn “hải sản”. Trong đó chứa một tấn loài rắn chuyên ăn thịt chuột đang còn sống.

Người đạp xích lô chở tôi đậu xe bên ngoài một nơi trông như cửa hàng bán xe máy. Một hàng rào những chiếc xe máy scooter sáng choang dựng bên ngoài. Lúc kiểm tra xem xét gần hơn, tòa nhà này đã chuyển thành một quán cà phê. Đây là Bắc Hải, cơ hội để thưởng thức món phở hàng đầu ở Nha Trang. Phở, một loại súp mì sợi, là món ăn truyền thống của Việt Nam; có lẽ được bắt nguồn từ món ‘pot-au-feu’ [gồm rau-thịt-súp] của Pháp – cái âm tiết cuối cùng (chữ feu) mà nó chia sẻ.

Bên trong quán Bắc Hải cơ bản giống như một cái sọt đựng bia chai. Bạn ngồi lên cái ghế đẩu nhựa đỏ và ăn uống ngay trên những cái bàn kê trên những cái bàn có khung bằng kim loại, với những thứ trông giống như những miếng giấy nhỏ dùng làm khăn ăn. Món mì sợi được nấu thành một bát súp với những khoanh thịt bò hoặc cây đậu non chưa thành giá … xin lỗi, thịt gà. Với chanh và húng quế Việt Nam được thái nhỏ, một tô phở làm nên một trong những phương cách thỏa đáng nhất của việc chi ra một đô la.

Cứ năm cửa hàng ở Nha Trang là dường như có một cửa hàng bán cà phê. Trên thực tế, cả nước này tiêu thụ mạnh về cà phê, như bạn có thể trông đợi từ nhà xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới này (sau Brazil). Cà phê là một dạng nghi lễ của người Việt Nam. Nước nóng nhỏ giọt qua một cái lưới lọc bằng thiếc được đặt trên miệng một chiếc cốc thủy tinh. Một khi nước rỉ qua, nước đá và sữa sẽ được thêm vào và cái món kết hợp các vật liệu lại với nhau này được khuấy trộn và dùng. Mùi vị của món này tựa kem cà phê và là thứ giải độc tuyệt vời cho cái khí hậu oi ả suốt năm ở Việt Nam.

Nha Trang trước hết là một thành phố của chợ búa và khu nghỉ dưỡng ven biển. Đó cũng là sinh quán và mái ấm của một biểu tượng văn hóa địa phương: Thành Long [8], nhiếp ảnh gia, người có những bức hình đen trắng chụp khung cảnh văn hóa mang bản sắc của người Việt Nam, khuynh hướng đối nghịch với những bức hình phong cảnh buồn tẻ. Phòng tranh của ông trên Phố Hoàng Văn Thụ là một địa điểm đáng để thăm viếng. Thành lang thang khắp thành phố và vùng bến cảng, chớp những hình ảnh lạ thường về cảnh vật Việt Nam nguyên mẫu như những chiếc xe đạp, túi xách, xe xích lô, những người đàn bà dưới vành nón, những bà già và từng khoảnh khắc trong cuộc sống thường nhật, những hình ảnh xứng đáng đem đến cho Thành hơn 57 cuộc triển lãm quốc tế – và không có một cảnh chiến tranh đơn lẻ nào trong số đó.

Trú lại ở đâu tại Nha Trang? Nếu bạn muốn thực sự coi trọng đồng tiền, sẽ có hàng trăm khách sạn chuyên phục vụ cho những người Việt Nam đi nghỉ mát. Mức lương trung bình hàng năm của người Việt Nam là 600 đô la (307 bảng Anh). Giá như tới được vùng dân bản địa Nha Trang, bạn có thể sống như một ông hoàng chỉ với một vài trăm bảng. Thế nhưng nếu bạn muốn thỏa mãn bản thân, Evanson Hideaway của Ana Mandara là khách sạn duy nhất được xây dựng sát ngay bãi biển (tất cả các khách sạn khác đều nằm phía sau con đường đi dạo). Có một số biệt thự, những căn lều và đường đi bộ nằm cân đối trong một khu vườn rực rỡ với những loài cây cối vùng nhiệt đới. Bạn phải canh chừng mình tới nơi nào, đề phòng trường hợp bạn đặt chân tới một trong những bể nước với những con cá vàng rất háu đói.

“Giá phòng trung bình 188 đô la một đêm,” theo Lionel Valla, giám đốc khách sạn. “Bạn có thể được massage trong một giờ với giá 45 đô la. Việt Nam là nơi giá cả dễ chịu nhất ở đông-nam châu Á. Và tại đây chúng tôi có một bãi biển dài 600m.”

Mặc dù khách sạn Ana Mandara bị vậy bọc giữa con đường đi dạo và bãi biển, nhưng lại có vẻ giống như một ốc đảo êm đềm. Nếu bạn thực sự muốn thoát khỏi đám đông, chiếc xích lô sẽ làm bạn nhẹ người và chiếc scooter đưa bạn đi, rồi hướng tới Six Senses Hideaway của Vịnh Ninh Vân chỉ có thể tới được bằng thuyền, vượt sáu dặm ngang qua vịnh. Đây rồi, bạn bước lên một vương quốc có ít thứ để làm với Việt Nam và nhiều thứ để làm với trí tưởng tượng cho những chủ nhân ở đây, Sonu và Eva Shivdasani [9]. Đây là một nơi bạn tới thăm nếu như bạn muốn nhìn Việt Nam theo cách nhìn xuống của người ở trên cao tít phải dùng đến một cái kính viễn vọng.

Shivdasani đã hóa thân cho nét đẹp thiên nhiên. Mọi thứ được thiết kế sao cho khi nhìn càng không có vẻ được sắp đặt càng tốt, và càng gần với một mẩu củi rề trôi dạt càng hay: ta gọi đó là nét thanh lịch ít bị câu thúc. Một cái ghế hay cái bồn tắm không chỉ là một cái ghế hay cái bồn tắm: nó được bao bọc toàn bộ trong một chất các-bon trung tính chịu lực, với nét tự nhiên trên bề mặt. Đó là một trải nghiệm hạng năm sao cho Robinson Crusoe [10] với những tiện nghi hiện đại cách xa với khả năng nhận biết, với những thứ thức ăn, rượu và dịch vụ tuyệt vời. Tôi đã ở đó hết ba ngày, bị mê hoặc bởi vẻ tráng lệ ngời ngời của Vịnh Ninh Vân; nước biển, không khí, ánh sáng, những sắc màu pha trộn và chỉ thiếu những chiếc xe gắn máy.

Có vẻ như kỳ quặc khi nói rằng Việt Nam dường như khó có thể bị cướp phá bởi đám ngoại quốc khi, trong thế kỷ trước, đất nước này đã bị dẫm nát bởi người Pháp, Nhật, (rồi lại) người Pháp và người Mỹ. Đất nước này cũng có cả triệu tấn bom được thả xuống, cũng như số lượng khủng khiếp Chất độc Da cam. Thế nhưng một chuyến thăm viếng trong những thời điểm yên bình hơn này là một dịp để tự hỏi rằng cái đất nước làm mê say lòng người ấy đã làm cách nào để rũ sạch được những nỗi kinh hoàng của quá khứ, vạch nên con đường đi dưới những khổ đau ấy, và đang đi tới để làm nên một sự khác biệt của lịch sử – trên những chiếc xe máy scooter.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


[1] Xe tay ga

[2] Lone Ranger: là một chương trình phát thanh, truyền hình dài kỳ ra đời từ lâu ở Mỹ được sáng tạo bởi George W. Trandle và nhà văn Fran Striker phát triển sau này. Nhân vật chính trong đó là một Kỵ sĩ người bang Texas sống ở miền Viễn Tây, luôn đeo mặt nạ. (theo answer.com).

[3] Catherine Deneuve: sinh 1943, ngôi sao-thần tượng của điện ảnh Pháp những năm 1960-1070, nổi tiếng trong phim Belle du Jour[Người đẹp Trong ngày]. Đặc biệt bà thủ vai chính trong phim Indochina [Đông Dương] (được đề cử trao giải Oscar 1992), và vai ma cà rồng trong phim The Hunger [Kẻ chết đói] (1982). (Theo answer.com).

[4] Xem chú thích (3), bài “Nét hiện đại và Cổ kính Hòa quyện Trong một Hà Nội Bất tận

[5] Dinh Độc Lập: được khởi công xây cất ngày 1/7/1962 theo lệnh của TT Ngô Đình Diệm và hoàn tất 31/10/1966 và do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu. Dinh Độc Lập được xây dựng ngay đúng vị trí cũ của dinh Norodom Palace xây dựng 1868, hoàn tất 1873. Dinh Norodom bị 2 phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom vào 27/2/1962 và bị hư hại nặng nề đến nổi chỉ còn cách đập bỏ đi xây lại. (http://en.wikipedia.org/wiki/Reunification_Palace )

[6] Ý nói các vị tổng thống thời đó tin vào thuật phong thủy nên thiết kế, bài trí kỳ dị, không có chút thẩm mĩ

[7] Vịnh Ninh Vân: ở Nha trang, Khánh Hòa

[8] Xem: ” Bộ ảnh VN đoạt giải Cuộc thi ảnh quốc tế Hong Kong” và ” Nhà nhiếp ảnh Long Thành: “Đen – trắng là tình yêu“.

[9] Sonu Shivdasani và vợ Eva, là nhà thiết kế thời trang, linh hồn của hệ thống Six Senses Resort&Spa (theo wikicolleciton.com)

[10] Nhân vật và cũng là tên của cuốn tiểu thuyết phiêu lưu của Daniel Defoe năm 1719. Robinson trong một chuyến đi biển bị lạc lên một hoang đảo và phải sống ở đây trong hàng chục năm.

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Kinh tế Việt Nam | 2 phản hồi »

412. Cải cách đảo ngược?

Đăng bởi anhbasam on 29/12/2009

Economist

Cải cách đảo ngược?

Ngày 27-12-2009

Economist Intelligence Unit ViewsWire

Tranh luận về việc cải cách các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nắm quyền điều hành đang tăng lên, thế nhưng [đó chỉ là tranh luận suông] không có hành động đi kèm

Cải cách doanh nghiệp do nhà nước quản lý, vốn đã chậm chạp ở Việt Nam đang bị chậm lại. Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu đã tạo điều kiện cho “việc cổ phần hóa”, hoặc tư nhân hóa một phần, các doanh nghiệp nhà nước gặp nhiều thách thức hơn, và một số nhà hoạch định chính sách dường như đang có những ý nghĩ khác về tiến trình này. Chính phủ đang tích cực xem xét những cải cách, song có vẻ như họ hành động một cách thận trọng, và vẫn còn có sự cản trở đáng kể, thử thách đối với thực trạng các doanh nghiệp do nhà nước chi phối.

Cuộc tranh luận quanh chiến lược phát triển kinh tế dài hạn ở Việt Nam đang lớn dần lên. Các nhà hoạch định chính sách đang chuẩn bị một Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội cho giai đoạn 2011-2020. Một yếu tố trong việc thảo luận sẽ là tính khả thi (hay không) về chiến lược công nghiệp hiện thời của đất nước, đặc biệt là lòng tin đối với các doanh nghiệp lớn của nhà nước (DNNN) ở Việt Nam. Trải qua hơn một thập kỷ, các DNNN lớn luôn ở vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển công nghiệp của đất nước. Điều này đã phản ánh một sự tin tưởng trong giới lãnh đạo nhà nước rằng khu vực [kinh tế] tư nhân thiếu kinh nghiệm, chưa đủ khả năng phát triển trong vai trò này, khi mà nó thiếu một số lượng đáng kể các công ty mạnh và có tầm cỡ.

Quan điểm này càng làm tăng thêm việc xem xét kỹ lưỡng khi một số lớn các công ty tư nhân hoạt động mạnh mẽ đã xuất hiện trong nhiều lĩnh vực. Một số nhà hoạch định chính sách có cảm giác rằng doanh nghiệp nhà nước có rất ít sáng kiến cũng như thiếu tài kinh doanh, khả năng này được thể hiện rõ ở nhiều công ty tư nhân. Ngoài những yếu kém này, cơ cấu quản trị doanh nghiệp yếu kém hoặc bất bình thường của nhiều doanh nghiệp nhà nước (do cơ cấu tổ chức phức tạp) cũng lộ rõ ra ngoài, như là các mối quan hệ gần gũi và thân thiết giữa các doanh nghiệp nhà nước với các Bộ của chính phủ quản lý chúng.

Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp nhà nước lớn là các công ty quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế và là nguồn thu nhập của chính phủ, tiến hành việc thay đổi trong lĩnh vực này sẽ là một thử thách ngay cả khi ý chí chính trị buộc phải làm như thế, cũng rất khó có thể làm đối với một số nhà hoạch định chính sách.

Một số nhà quan sát đã hy vọng rằng việc thành lập Tổng công ty Đầu tư vốn nhà nước (SCIC) vào năm 2005 sẽ mở ra một kỷ nguyên mới cho việc cải cách doanh nghiệp nhà nước. Cơ quan này có nhiệm vụ đại diện và quản lý các doanh nghiệp nhà nước quan trọng và tái cơ cấu các doanh nghiệp đó. Thế nhưng, cho dù được sự ủy nhiệm rộng rãi, SCIC cũng chỉ thực sự được giao trách nhiệm quản lý vốn nhà nước ở các công ty cổ phần tương đối nhỏ, hơn là quản lý các doanh nghiệp nhà nước lớn. Các doanh nghiệp nhà nước lớn hơn và “các nhóm kinh tế” (các tập đoàn công ty thuộc sở hữu nhà nước có quyền lực) vẫn thường được báo cáo trực tiếp đến Văn phòng Chính phủ (một cơ quan ngang Bộ, phục vụ thủ tướng). Điều này không báo trước điềm may cho việc cải cách khu vực kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, nếu quyền hành không được uỷ thác, ảnh hưởng chính trị và tham nhũng vẫn tràn lan như hiện tại.

Điềm gở cho cải cách đó là chính phủ có kế hoạch tạo ra hai nhóm kinh tế mới trong lĩnh vực xây dựng. Hai tập đoàn mới này, Tập đoàn Xây dựng Công nghiệp và Tập đoàn Phát triển Nhà và Đô thị, cả hai nằm dưới sự quản lý của Bộ Xây dựng. Hai tập đoàn này sẽ phục vụ như là các công ty cốt lõi cho tất cả các công ty xây dựng thuộc sở hữu nhà nước mà vẫn chịu sự quản lý của Bộ; SCIC không đóng một vai trò gì trong vấn đề quản lý. Một trong những lập luận đưa ra đối với việc lập nên hai cơ quan siêu quyền lực mới để củng cố những ngành này là sẽ nội địa hoá lĩnh vực xây dựng và các công ty bất động sản để có thể cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài tràn vào mà dự kiến sẽ diễn ra như là kết quả của sự tự do hoá trên thị trường sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007.

Tài chính là một lĩnh vực quan trọng trong việc cải cách, thế nhưng ở đây cũng đã có những bước thụt lùi. Việc cổ phần hóa đã bị trì hoãn một thời gian dài, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) thuộc sở hữu nhà nước đã chính thức hoãn lại cho đến nửa đầu năm 2010. BIDV ban đầu được dự kiến sẽ cổ phần hoá trong năm 2007, thế nhưng như trường hợp của Ngân hàng Nhà ở Cửu Long thuộc sở hữu nhà nước, quá trình [cổ phần hoá] này đã bị trì hoãn nhiều lần. Kế hoạch hiện tại là giá trị của ngân hàng vào thời điểm cuối năm 2009, và sau đó cố gắng bán 20% cổ phần của ngân hàng cho một hoặc nhiều nhà đầu tư chiến lược và bán thêm 10% nữa cho các cá nhân bỏ tiền ra đầu tư. Trong số các ngân hàng thương mại lớn trong nước, Vietcombank và VietinBank đã được liệt kê cổ phiếu trên sàn chứng khoán chính trong nước, Công ty Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Nhà ở Cửu Long đứng sau cùng, vẫn chưa cổ phần hoá bất kỳ cổ phiếu nào. Chính phủ cũng sở hữu và điều hành hai ngân hàng gọi là chính sách, Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, nhưng đây không phải là tổ chức thương mại và ít có khả năng được cổ phần hoá.


Người dịch: N.T.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

403. Việt Nam suy đi tính lại việc kiểm soát giá cả đối với các hãng nước ngoài

Đăng bởi anhbasam on 22/12/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Việt Nam suy đi tính lại việc kiểm soát

giá cả đối với các hãng nước ngoài

JAMES HOOKWAY

Ngày 22-12-2009

Các quan chức Bộ Tài chính Việt Nam đang phác thảo những đề xuất nhằm áp đặt những biện pháp kiểm soát giá cả đối với các công ty tư nhân và các công ty do nước ngoài sở hữu đang hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, một động thái mà các tổ chức thương mại lo ngại có thể làm nản chí trong hoạt động đầu tư tại một trong những [nước có] nền kinh tế triển vọng nhất ở châu Á.

Một dự thảo thông tư được chuẩn bị bởi cơ quan kiểm soát giá cả thuộc Bộ Tài chính và tờ Wall Street Journal được xem qua đã đề nghị thiết lập các biện pháp kiểm soát giá trên phạm vi rộng đối với hàng hóa – bao gồm cả các sản phẩm dầu lửa, sữa và phân bón – nhằm tránh điều mà văn bản này gọi là “những thay đổi bất thường”.

Không chắc là liệu Việt Nam sẽ đưa những quy định được đề nghị này vào luật hay không. Các quan chức Việt Nam đã không trả lời ngay khi được yêu cầu đưa ra lời bình luận, ngoại trừ việc xác nhận sự tồn tại của bản dự thảo thông tư.

Năm ngoái Việt Nam đã phải trải qua một cuộc vật lộn khốc liệt với nạn lạm phát – khi chỉ số giá tiêu dùng ở một thời điểm lên tới 28% – và một loạt các đợt phá giá tiền tệ kế tiếp theo sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã gây ra những nỗi sợ hãi lạm phát có thể một lần nữa đảo lộn nền kinh tế vốn được nhà nước hỗ trợ mạnh mẽ.

Các kinh tế gia cho rằng lạm phát – ở mức 6,91% trong 11 tháng đầu của năm so với cùng kỳ năm 2008 – sẽ lần nữa chạm mức hai con số trong quý hai năm 2010. Các tổ chức như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã thúc giục Việt Nam hãy thoát ra khỏi chương trình kích thích kinh tế và kìm chế việc cho vay của ngân hàng nhằm giảm nguy cơ cho nền kinh tế một lần nữa phát triển quá nóng và khuyến khích sự trở lại của nạn lạm phát tăng vọt.

Trước đây, Việt Nam đã có những biện pháp quản lý giá cả đầy ấn tượng đối với các doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng Myron Brilliant, phó chủ tịch kỳ cựu về quan hệ quốc tế của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Washington, ngày 15 tháng 12 đã viết thư cho các quan chức Việt Nam, nói rằng kế hoạch này “sẽ tạo nên những khó khăn cho các công ty thành viên của chúng tôi hoạt động trong việc dự đoán [giá cả kinh doanh] tại Việt Nam”.

“Cách làm này như là một biện pháp làm nản chí các hoạt động đầu tư trực tiếp trong thời gian tới tại Việt Nam”, ông Brilliant viết trong bức thư mà The Wall Street Journal đã được đọc.

Những người biết rõ tình hình cho biết rằng có một số các phái đoàn ngoại giao bao gồm Hoa Kỳ, Tân Tây Lan và Liên hiệp châu Âu đã cố gắng thuyết phục Việt Nam rằng việc áp đặt những biện pháp kiểm soát giá cả có thể làm hủy hoại tính hấp dẫn của nền kinh tế nước này.

Các viên chức thuộc những sứ quán này tại Hà Nội đã không trả lời ngay trước những đề nghị đưa ra lời bình luận.

Bản dự thảo thông tư bao gồm các loại hàng hóa có thể được giữ bình ổn giá trong tình huống có những biến động bất ngờ. Các loại hàng hoá bao gồm có các sản phẩm dầu mỏ tinh chế, xi măng, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc thú y, sữa, lúa gạo và đường, cũng như các loại hàng hóa mà mới đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chọn để bổ sung vào danh mục.

Các công ty nước ngoài cũng lo ngại rằng nếu như thông tư này trở thành luật, thì họ sẽ bị yêu cầu báo cáo chi tiết việc xây dựng biểu giá hàng hóa của mình. Đó là một biện pháp có thể đòi hỏi các doanh gia ngoại quốc phải giao các thông tin mang tính độc quyền của mình cho chính phủ Việt Nam.

Trong bức thư của mình, ông Brilliant đã cho là biện pháp này, nếu như được thi hành, cũng “sẽ áp đặt đáng kể những món chi tiêu bắt buộc cho việc báo cáo và quản lý đối với các công ty trong khắp các khâu sản xuất và phân phối”.


Hiệu đính: N.T.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


(Chú thích của BS: Sau khi bài được dịch, tờ WSJ đã sửa đổi, bổ sung thêm cho bài báo nhiều nội dung khác trước.)

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »