BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Lịch sử’ Category

563. Thay đổi trong cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt-Trung

Đăng bởi anhbasam on 26/04/2010

Đôi lời: Vụ Ban Việt ngữ BBC và “TS” Đỗ Ngọc Bích vẫn chưa tới hồi kết. Nhiều dấu hỏi xung quanh bản chất vụ việc và hệ quả của nó. Mới đây, trên trang diễn đàn X-cafe còn lưu hành một số hình ảnh được cho là bản chụp những bức điện thư trao đổi của bà “TS” và những người liên quan, trong đó có GS Đại học Hawaii Liam C. Kelley, người từng tới Việt Nam nghiên cứu, gặp gỡ nhiều học giả của VN.

Một điều thú vị là GS Kelley có một cuốn sách rất công phu và có lẽ cũng có chút sức thuyết phục về mối quan hệ lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc về văn hóa, mà dường như bài viết của “TS” Bích đã “tóm lược” một cách hàm hồ vài quan điểm trong cuốn sách này.

Năm 2005, trang talawas đã đăng bản dịch lời giới thiệu của cuốn sách và một bài viết của Hà Yên phản bác quan điểm của GS Kelley. Hà Yên chính là bút danh của Nhà nghiên cứu-Phê bình “Dao búa” Nguyễn Hòa.

Để thêm chút thông tin về những quan điểm trái nghịch quanh chủ đề hết sức quan trọng này và góp phần cho việc giải thích vụ việc đình đám nói trên, mời bà con đọc hai bài viết: Thay đổi trong cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt-Trung Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ” về quan hệ văn hóa Việt – Trung, lạm bàn với Liam C. Kelley.


talawas.org – 1.9.2005

Liam C. Kelley

Thay đổi trong cách nhìn về

quan hệ văn hóa Việt-Trung

Lê Quỳnh dịch


Lời giới thiệu: Beyond The Bronze Pillars (Đi qua những cột đồng) là tên tập sách nghiên cứu do Nxb Đại học Hawaii ấn hành năm 2005. Tác giả tập sách là Liam C. Kelley, giảng viên Trường Đại học Hawaii. Không tán thành quan điểm rằng về mặt lịch sử, người Việt luôn tìm cách duy trì một bản sắc văn hóa riêng tách khỏi Trung Quốc, tác giả xem xét các bài thơ đi sứ trong các thế kỷ 16-19 và đưa ra giả thiết (nhiều khả năng gây tranh cãi) rằng trí thức Việt Nam đã cảm thấy có tồn tại hai thế giới văn hóa, riêng nhưng không bình đẳng, và ở đó, người Việt chấp nhận giữ một vai trò phụ.

Về tựa sách, tác giả giải thích trong một cuộc phỏng vấn: “Người Việt Nam và người Trung Quốc đều biết đến truyền thuyết về việc Mã Viện dựng một cây cột đồng sau đó đọc thần chú để lập ra một biên giới. Sau đó cả người Việt Nam và Trung Quốc đã nói rất nhiều về chiếc cột đồng này nhưng không biết nó nằm ở đâu cả. Do đó tôi xem nó như biểu tượng của một biên giới, và người đi sứ phải vượt qua.” [1]

Bản dịch dưới đây trích từ Lời giới thiệu của tập sách Beyond The Bronze Pillars (Honolulu: University of Hawiian Press, 2005), trang 9 – 23.

Người dịch

Lý thuyết “tiểu Trung Hoa”

Nếu chúng ta có thể quay ngược thời gian và đặt câu hỏi về tầm quan trọng biểu tượng của cột đồng Mã Viện cho một số người Tây phương đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc lịch sử khu vực này, họ sẽ mạnh mẽ nói rằng các cột đồng đánh dấu đường biên phía nam của một thế giới Hán hóa và rằng vùng đất mà sau này trở thành Việt Nam, về căn bản, được đúc khuôn theo mô hình thế giới văn hóa này. Chẳng hạn, đây là cách nhà nghiên cứu Trung Quốc người Pháp, Henri Maspero, phân loại Việt Nam trong một bài ông viết năm 1918 về cuộc hành quân của Mã Viện chống lại Hai Bà Trưng. [2]

Một cái nhìn về lịch sử và văn hóa Việt Nam như thế là cái mà tôi gọi là thuyết “tiểu Trung Hoa”. Thuyết này cho rằng trong một thiên niên kỷ khi Việt Nam là một phần của nhiều đế chế Trung Hoa (thời gian mặc định quy ước là từ 111 trước CN – 939 sau CN), vùng đất này trở thành bản sao thu nhỏ của Trung Quốc, và rằng chính nhờ quan hệ với vương quốc lớn hơn kia, và nhờ áp dụng nhiều tập tục và tổ chức chính trị, mà Việt Nam sau đó đủ khả năng duy trì sự tự chủ trong 1000 năm kế tiếp trước khi Pháp đô hộ vào thế kỷ 19. Được viết bởi các học giả làm việc cho chính quyền thực dân, lý thuyết tiểu Trung Hoa dĩ nhiên cũng ngụ ý rằng Việt Nam, về lâu dài, sẽ được truyền cho sức mạnh tương tự nhờ sự giám hộ của người Pháp. Như thế không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng lý thuyết này đã bị phê phán trong thời kì hậu thuộc địa, cả ở Việt Nam và phương Tây.

Nhóm học giả chủ chốt ở phương Tây chống lại lý thuyết tiểu Trung Hoa đa phần là người của các nước nói tiếng Anh. Họ bắt đầu nghiên cứu và viết về Việt Nam từ thập niên 1950 và 1960. Được đào tạo trong khuôn khổ các chương trình Đông Nam Á học sau Thế chiến Hai, các học giả này tiếp cận việc nghiên cứu quá khứ của Việt Nam theo một cách nhìn khác. Quan trọng nhất, nhiều người muốn cung cấp cho các quốc gia trong khu vực cái lịch sử “tự chủ” của quốc gia ấy, những cách kể về quá khứ mà các ông chủ thực dân đã tước bỏ khỏi thần dân của họ. [3] Điều này khiến cho một số học giả đặc biệt chịu ảnh hưởng từ những sáng tạo mang quan điểm dân tộc chủ nghĩa về một quá khứ của Việt Nam đang xuất hiện từ chính Việt Nam lúc ấy, cả ở miền Bắc lẫn miền Nam. Những “truyền thống được sáng tạo” này được tạo ra để chống lại những nguyên lý của lý thuyết tiểu Trung Hoa và những truyền thống đó thể hiện rõ nhất trong ý tưởng một câu chuyện kể to lớn về “truyền thống chống ngoại bang / Trung Quốc xâm lược”, một quan niệm cho rằng người Việt đã duy trì bản sắc và sự tự chủ chính trị riêng trong nhiều thế kỷ bằng việc chống lại các đợt xâm lược liên tiếp (chủ yếu là của Trung Quốc). [4]

Sự hội tụ của những động thái này đã tạo ra một cái nhìn cụ thể về quá khứ Việt Nam, một cái nhìn mà nghiên cứu của tôi phản bác lại. Để hiểu rõ hơn điều mà tác phẩm này (của tôi) muốn thể hiện, chúng ta trước hết cần có ý niệm rõ ràng hơn về cách thức trình bày quá khứ Việt Nam trong mấy thập niên qua. Tôi sẽ ngắn gọn duyệt lại những luận điểm chính về quá khứ của Việt Nam tìm thấy trong các nghiên cứu tiếng Anh, và đồng thời trình bày một phác thảo về lịch sử Việt Nam để độc giả bình thường có thể nhanh chóng nắm bắt một nền tảng lịch sử để từ đó hiểu rõ hơn các chất liệu đi sau đó. [5]

Không phải “Trung Hoa”

Phần phía bắc của Việt Nam ngày nay đã chịu sự kiểm soát của Trung Quốc từ thế kỷ thứ hai trước CN đến thế kỷ 10 sau CN. Keith W. Taylor là học giả viết tiếng Anh duy nhất nghiên cứu chi tiết giai đoạn này. Tác phẩm của ông, The Birth of Vietnam, trực tiếp thách thức cách nhìn của Maspero rằng sự tự chủ của Việt Nam là sản phẩm của ảnh hưởng của Trung Quốc, tức là, đến thế kỷ 10 người Việt đã hấp thụ các quan niệm cai trị của Trung Quốc đủ để cho phép họ đánh bại các nỗ lực từ Trung Quốc muốn giành lại quyền kiểm soát trực tiếp trong khu vực. Đối lập lại, Taylor ghi nhận rằng sự tồn tại của một thực thể chính trị có tổ chức từ trước khi người Hán đến cho thấy người Việt từ lâu đã có khả năng tự cai trị. Tuy nhiên, yếu tố thật sự giúp đem lại sự độc lập này (từ của Taylor) không phải là khả năng bản địa kia, mà là nhờ một “sự thông minh và tinh thần” bắt rễ “từ một xác tín của người Việt rằng họ không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc.” [6]

Lời phát biểu này bộc lộ một quan điểm chủ chốt mà nhiều học giả nghiên cứu Việt Nam cho đến ngày hôm nay đều chia sẻ ở một mức độ nhất định, tức là, về̀ lịch sử người Việt “không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc.” Cái vấn đề với lý thuyết này, đặc biệt thể hiện trong một tác phẩm bao quát thiên niên kỷ đầu tiên, là nó phóng chiếu những thuật ngữ quan trọng “người Trung Quốc” và “người Việt Nam” vào quá khứ. Thế mà khi ta nhìn vào các nguồn tài liệu gốc chép lại câu chuyện về một sự kiện như cuộc chinh phục của Mã Viện, không có từ nào mà ta có thể dịch ra thành “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam.” Các tài liệu nguyên thủy chỉ chứa đựng tên các cá nhân (Trưng Trắc, Tô Định, Mã Viện…), chức danh chính thức của họ (thái thú, phục ba tướng quân), và tên một triều đại (Hán). Nếu chúng ta không thể định vị bất kì sự diễn đạt bản sắc nào trong tư liệu gốc (dù là “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam”), thì làm sao chúng ta có thể lý luận rằng người Việt Nam nuôi dưỡng một xác tín có gốc rễ sâu sắc rằng họ “không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc?”

Chúng ta cần hỏi nhiều câu hỏi như vậy bởi vì toàn bộ ý niệm (rằng một “sự thông minh và tinh thần” đã đưa người Việt Nam đến độc lập) là dựa trên tiền đề rằng con người trong khu vực đã luôn nuôi dưỡng một bản sắc “Việt Nam” thống nhất, tách biệt khỏi một bản sắc “Trung Quốc” thống nhất. Thực tế, bản thân Taylor đã từ bỏ quan điểm ban đầu của ông và nay nghĩ rằng trong những thế kỷ sau giai đoạn kiểm soát của Trung Quốc đã có nhiều cách làm người Việt. [7] Nếu điều này là chính xác, thì người ta chỉ có thể tự hỏi những bản sắc nào đã tồn tại trong 1000 năm chịu sự cai trị trực tiếp của Trung Quốc. Liệu đã có một hình thức bản sắc “Việt Nam” nổi trội hơn cả trong giai đoạn này đáp ứng như một sức mạnh thúc đẩy trong xã hội? Hay cái nơi mà chúng ta giờ đây gọi là Việt Nam đúng hơn đã từng là một vùng của sự giao tiếp văn hóa, một khu vực biên nơi mà việc anh là ai không quan trọng bằng việc anh làm gì?

Trong thế kỷ 10 có một số những cá nhân như vậy, những người tạo nên tên tuổi nhờ vào hành động của họ. Hết người này đến người khác đạt ưu thế tại khu vực trước khi bị một người khác tài giỏi hơn thay thế. Những dòng họ cai trị mà họ tạo lập – nhà Ngô (939-965), nhà Đinh (968-980, và nhà Tiền Lê (980-1009) – tuy nhiên lại có vẻ giống như những nhóm lãnh chúa hơn là những triều đại có tổ chức thật sự. Chỉ đến thế kỷ 11 và 12, trong thời đại nhà Lý (1010-1225), mới có một tổ chức triều chính đầy đủ hơn được thiết lập tại khu vực này.

Thành công lớn hơn mà nhà Lý có được trong việc dựng lên một cơ cấu cai trị nghi thức hóa hơn đã được các học giả làm việc theo truyền thống từ thời thực dân Pháp, hoặc chịu ảnh hưởng của nó, cho rằng chính là lý do cho sự tồn tại lâu dài của nhà Lý. Các học giả này cho rằng nhà Lý duy trì sự ổn định chính trị trong hơn 200 năm vì họ đã thiết lập được một tổ chức hành chính trung ương hóa có hiệu quả dựa trực tiếp trên “mô hình Trung Hoa.” [8] Đây là điểm mà các học giả phương Tây thời kì hậu thuộc địa tìm cách phản bác. Ví dụ, John K. Whitmore sử dụng các nguồn tài liệu Trung Quốc đương thời để vẽ một bức tranh về chính quyền và xã hội đời Lý khác hẳn điều mà ông xem là “mô hình Trung Hoa”, tức là, “một nhà nước Khổng giáo, hành chính hóa, có sự kiểm soát chặt chẽ từ trung ương và một dân tộc được tổ chức thành các thị tộc gia trưởng, theo chế độ phụ hệ.” [9] Còn Taylor lại dùng các nguồn tư liệu Việt Nam để khảo sát cách thức các nhà cai trị triều Lý vận dụng sự hỗ trợ của các vị thần địa phương làm phương tiện củng cố quyền uy và ông cho rằng “uy quyền và tính chính danh của nhà Lý phụ thuộc vào các mô hình tư tưởng chia sẻ cùng các dân tộc Đông Nam Á khác, và rằng cách các mô hình tư tưởng này được thể hiện trong thế kỷ 11 phản ánh những khía cạnh riêng biệt của kinh nghiệm lịch sử Việt Nam.” [10] Mối liên hệ này với Đông Nam Á đặc biệt rõ ràng, Taylor nói trong một nghiên cứu khác, ở tầm quan trọng của Phật giáo đối với các vua nhà Lý, một điểm mà Taylor cảm thấy đã thể hiện rằng lãnh địa nhà Lý “gần với thế giới tư tưởng của các vương quốc Đông Nam Á khác hơn là với thế giới Trung Quốc.” [11]

Sức mạnh của những nghiên cứu ban đầu này một lần nữa là để phê phán thuyết tiểu Trung Hoa. Các nhà nghiên cứu tách Việt Nam khỏi Trung Quốc và liên kết Việt Nam với một quan niệm mới xuất hiện về Đông Nam Á. Tuy nhiên, khi làm như vậy, những luận điểm này vận dụng một sự phân loại khá cứng nhắc về “Trung Quốc” (cũng giống những tác giả thời thuộc địa đã tạo ra lý thuyết tiểu Trung Hoa). Mặc dù xã hội Việt Nam thời Lý chắc chắn chưa trở thành một “nhà nước Khổng giáo, hành chính hóa, có sự kiểm soát chặt chẽ từ trung ương và một dân tộc được tổ chức thành các thị tộc gia trưởng, theo chế độ phụ hệ”, trong một ngàn năm khi Việt Nam là một tiền đồn của các đế chế Trung Quốc, phần lớn các vùng của “Trung Quốc” cũng không thể được phân loại theo cách này. [12] Ngoài ra, việc vận động các vị thần bản địa bởi các viên quan mà ta thấy ở Việt Nam thời Lý lại cũng là một hành vi thông dụng trong suốt lịch sử Trung Quốc. [13] Cuối cùng, thay vì thể hiện bất kì sự liên hệ nào với “thế giới tư tưởng của các vương quốc Đông Nam Á”, sự ưa chuộng của nhà Lý đối với Phật giáo, như Nguyễn Tự Cường chỉ ra, lại liên hệ chặt chẽ với những tập tục đang nở rộ lúc bấy giờ tại Trung Quốc. [14] Chúng ta vẫn chưa có được một sự hiểu biết rõ ràng về những gì diễn ra dưới thời Lý, nhưng câu trả lời chắc chắn không nằm ở việc chọn lựa giữa hai mô hình giải thích cứng nhắc, mà nằm ở sự khảo sát những sự phát triển hữu cơ diễn ra trong thời điểm và nơi chốn cụ thể này.

Nhà Trần (1225-1400) nối tiếp nhà Lý. Sử gia duy nhất có sự nghiên cứu liên tục về nhà Trần là cố giáo sư O.W.Wolters, một trong những người cha sáng lập ngành Đông Nam Á học tại phương Tây. Đối với Wolters, không có điều gì trong quá khứ Việt Nam lại giống như vẻ ngoài của nó. Mặc dù ông đối diện những dấu hiệu đầy dẫy về ảnh hưởng Hán hóa trong các tài liệu viết của Việt Nam được ông khảo sát, điều ông nhìn thấy là một thực tại thuần Việt Nam đằng sau các dấu hiệu ấy. Ông cho rằng mặc dù người Việt và người Trung Quốc được giáo dục dựa trên cùng những văn bản giống nhau và sử dụng cùng những ám chỉ kinh điển trong trước tác của họ, vì thế mà tạo ra sự giống nhau ghê gớm trong sản phẩm văn chương của họ, nhưng người Việt không thật sự tin vào sách vở kinh điển Trung Hoa. Theo Wolters, người Việt trích dẫn kinh sách Nho giáo chỉ để làm “tăng sức nặng cho những tuyên ngôn cụ thể của người Việt về bản thân họ.” [15] Khi làm như thế, họ “bỏ qua cái khung lịch sử và đạo đức mà đem lại tính chặt chẽ” cho sách vở kinh điển và họ “phân mảnh và tách riêng các đoạn văn” và “rút mất cái ý nghĩa văn cảnh ban đầu của những đoạn văn ấy.” [16]

Nhà Trần chấm dứt khi phụ chính Hồ Quý Ly cướp ngôi vào cuối thế kỷ 14. Không có nhiều nghiên cứu về triều Hồ ngắn ngủi (1400-1407) và sự chiếm đóng sau đó của nhà Minh (1407-1427). Whitmore cung cấp cho chúng ta một lịch sử căn bản về nhà Hồ và thời kì chiếm đóng ban đầu của nhà Minh, trong lúc Alexander Woodside có sự đánh giá về sự chiếm đóng của nhà Minh. [17] Whitmore chống lại cách đánh giá truyền thống của Việt Nam xem Hồ Quý Ly là “nghịch thần”, và ông cho rằng họ Hồ đã làm được nhiều điều để củng cố và tập trung hóa “nhà nước Việt Nam.” Còn Woodside lý luận rằng sự chiếm đóng Việt Nam của nhà Minh là một sự thất bại sai lầm. Nhà Minh không đủ chuẩn bị để cai trị một vùng đất xa xôi, và những nỗ lực cai trị nửa vời của triều đình lại còn bị cản trở bởi tham nhũng và sự tham lam của các viên quan kém tài được cử đến cai trị vùng này. Cuối cùng, theo Woodside, sự thất bại của nỗ lực cai trị trực tiếp Việt Nam đã càng làm người Trung Quốc tin vào sự khôn ngoan của hệ thống cống nạp, một chủ đề mà chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn lát nữa đây.

Nhà Minh bị buộc phải từ bỏ tham vọng đế quốc ở Việt Nam sau khi chịu thất trận trước Lê Lợi, người sáng lập nhà Lê (1428-1788). Trong ghi chép lịch sử về nhà Lê, các dấu hiệu ảnh hưởng văn hóa Khổng giáo có nhiều hơn so với các giai đoạn trước. Điều này khiến Whitmore kết luận rằng hẳn đã có một sự biến đổi từ “sách vở cổ điển sang niềm tin Nho giáo” trong thời Lê. Đặc biệt, Whitmore đi theo khẳng định của Wolters rằng những dấu hiệu ảnh hưởng Hán hóa trong thời Trần không thể hiện niềm tin vào các giá trị văn hóa của người Hán, và đặc biệt của Nho giáo. Tuy nhiên, trong thời Lê, chuyện thay đổi, khi giới sĩ phu Việt Nam quay sang phương Bắc và lấy lại không chỉ những tư tưởng hành chính, mà cả toàn bộ cách nhìn về thế giới theo kiểu Tống Nho. [18]

Nếu Whitmore phác thảo sự biến đổi này theo những từ trung tính, Taylor lại tranh luận một cách chủ quan hơn rằng diễn trình hành chính hóa gia tăng dưới thời Lê là “chỉ dấu về sự yếu đuối hơn là sức mạnh: một chỉ dấu rằng những nền tảng văn hóa phổ thông của hệ thống vương quyền Việt Nam, như đã phát triển dưới thời Lý và Trần, nay đã sụp đổ và rằng quyền uy sau đó được giải thích trong một nội bộ văn hóa của tầng lớp cai trị mà thiếu vắng một nền tảng vững vàng trong xã hội bản địa.” Điều mà Taylor nhắc tới ở đây là việc nhà Lê, cả theo nghĩa về cơ cấu cũng như hệ tư tưởng, đã trở nên giống với các triều đại “Trung Quốc” một cách hoàn toàn hơn so với các triều đại trước. Một lần nữa, ngược với khẳng định của lý thuyết tiểu Trung Hoa — rằng chính các yếu tố Trung Quốc trong xã hội và chính quyền đã giúp Việt Nam mạnh mẽ – thì Taylor cho rằng những yếu tố này đã khiến nhà Lê tự cô lập khỏi nhân dân, một hiện tượng sau đó sản sinh ra các thế kỷ “nội chiến kéo dài” và “chia rẽ nội bộ.” [19]

Trong giai đoạn triều Lê, có hai sự “chia rẽ nội bộ” lớn. Chia rẽ đầu tiên bắt đầu khi một viên tướng thế lực, Mạc Đăng Dung, cướp ngôi năm 1527 và cai trị phần lớn vùng đất mà nay là miền bắc Việt Nam cho đến khi những người ủng hộ nhà Lê cướp lại kinh đô và “khôi phục” triều đại của họ vào năm 1592. Không lâu sau đó, một sự chia rẽ khác, lâu dài hơn, đã hình thành khi một gia tộc thế lực, họ Nguyễn, dần dần kiểm soát khu vực miền nam của nhà Lê, trong khi một thế lực tương tự, họ Trịnh, cai trị vùng phía bắc. Mặc dù hai phe đều bày tỏ trung thành với nhà Lê, nhưng thực tế họ duy trì sự kiểm soát gần như tuyệt đối trên lãnh địa của mình. Tình trạng này tồn tại cho đến nửa cuối của thế kỷ 18.

Tình trạng chia rẽ nội bộ thứ hai này gần đây nhận được sự chú ý đáng kể từ giới nghiên cứu. Ví dụ, Taylor cho rằng quyết định của Nguyễn Hoàng ở lại miền nam là một bước đi có ý thức tách khỏi thế giới Hán hóa mà hướng về Đông Nam Á. Theo Taylor, phần phía nam của lãnh địa nhà Lê, đối với một người như Nguyễn Hoàng, thể hiện “những chân trời rộng mở” và “một thế giới phi Việt với các khả năng làm người Việt theo những cách không truyền thống.” Những cách không truyền thống này “được phân biệt bởi sự tự do tương đối tách khỏi quá khứ Việt Nam và tách khỏi dạng uy quyền được biện minh bằng những lời kêu gọi hướng về quá khứ đó.” Trong “thế giới Đông Nam Á rộng lớn hơn” này, con người có thể tự lực cánh sinh và tham gia đầy đủ vào “một thế giới của những lựa chọn.” [20]

Cách phân loại tích cực của Taylor về phần đất phía nam như một khu vực không bị đè nặng bởi những tiêu chuẩn truyền thống vẫn còn tiếp tục thống trị ở miền bắc, ở một mức độ nào đó đã được nhanh chóng nhắc lại trong tác phẩm của Li Tana và Nola Cooke. [21] Cooke cũng tìm cách mở rộng điều mà bà cho là sự ưa chuộng yếu tố phi Nho giáo của người dân miền nam vào nhà Nguyễn (1802-1945), một giai đoạn mà trước đây được cho là giai đoạn chịu tác động Nho giáo nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam. Cụ thể, bằng cách “định lượng hóa, phân tích và so sánh” số lượng các thí sinh đi thi dưới thời Nguyễn, [22] cùng thông tin tiểu sử về họ, [23] Cooke muốn “khách quan” chứng tỏ rằng giai đoạn nhà Nguyễn không phải là thời cực thịnh của ảnh hưởng Tống Nho, như các học giả (đặc biệt là Woodside) từng tin tưởng. Tuy nhiên, chung cục lại, những cách tiếp cận “khách quan” để xác định mức độ Nho giáo hóa ở Việt Nam thời Nguyễn vẫn cần được cân bằng với những bằng chứng văn bản “chủ quan” tồn tại đầy dẫy. Woodside đã bắt đầu nghiên cứu các bằng chứng này từ nhiều năm trước, nhưng phần lớn tư liệu vẫn chưa được khảo sát hết.

Một chủ đề quan trọng khác trong lịch sử Việt Nam còn đang chờ sự chú ý nghiên cứu là giai đoạn Tây Sơn (1788-1802). Ba anh em của phong trào đã có cuộc nổi dậy ở vùng mà nay là miền trung Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ 18. Họ thành lập triều đại của riêng họ sau khi lật đổ nhà Lê và đánh bại đội quân Trung Hoa được gửi sang để hỗ trợ nhà Lê. Mặc dù triều đại Tây Sơn ngắn ngủi, nhưng nó sau đó có tầm quan trọng biểu tượng đối với các sử gia và trí thức Marxist Việt Nam, những người nhấn mạnh đến nguồn gốc khởi nghĩa nông dân của nó. Tuy vậy giai đoạn hấp dẫn này vẫn chưa có được sự chú ý nghiêm túc từ giới học giả phương Tây. [24]

Sẽ là sự phóng đại quá trớn nếu nói rằng có một chủ đề chính trong nghiên cứu bằng tiếng Anh về lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, đã có một xu hướng mạnh mẽ ủng hộ một sự phân chia quan trọng giữa văn hóa Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài ra, khi thảo luận sự tương tác của hai nền văn hóa, nhiều học giả có xu hướng dành ưu tiên cho phía Việt Nam. Xu hướng này biểu lộ rõ nhất trong tác phẩm của những học giả tìm cách xác định những sợi dây liên hệ giữa Việt Nam và khu vực Đông Nam Á (Wolters, hay các bài viết ban đầu của Taylor), nhưng nó cũng hiện ra trong tác phẩm của các sử gia nhấn mạnh quan hệ lịch sử của Việt Nam với vùng Đông Á. Ví dụ, Woodside mô tả trong cuốn sách, Vietnam and the Chinese Model, về một thế giới ở Việt Nam thế kỷ 19, một nơi có sự chia cắt rõ rệt giữa hai truyền thống văn hóa. Tuy nhiên, hai truyền thống văn hóa này không bằng nhau trong cách viết của Woodside. Văn hóa Trung Quốc được trình bày như một mô hình xa lạ mà từ đó giới tinh hoa của Việt Nam đã rút ra, chọn lựa những đặc điểm, đôi khi sai lầm, trong khi văn hóa Việt Nam là một truyền thống sống động, hữu cơ, đã tồn tại và nở rộ bất chấp nỗ lực của giới tinh hoa muốn thay đổi nó bằng “mô hình Trung Hoa.”

Xu hướng dành ưu tiên cho phía Việt Nam khi thảo luận sự tương tác văn hóa Trung – Việt cũng thể hiện trong các bình luận về vấn đề cụ thể hơn của quan hệ ngoại giao Trung – Việt. Một số nghiên cứu về chủ đề này nói rằng có một mối liên hệ giữa việc duy trì quan hệ hữu hảo và sự chấp nhận văn hóa Hán, hay sự thể hiện là mình chấp nhận văn hóa Hán, ở phía người Việt. Cụ thể hơn, một số học giả cho rằng các triều đại cai trị đế chế Trung Hoa, dù là nhà Hán, Mông Cổ hay Mãn Thanh, tất thảy đều xem Việt Nam theo một cách tương tự như cách các siêu cường phương Tây nhìn châu Á trong thế kỷ 19; tức là, trong suốt nhiều thế kỷ họ “luôn tìm cách chớp cơ hội đầu tiên, chớp lấy cái cớ mỏng manh nhất, để tiến về nam một lần nữa nhân danh sứ mạng khai hóa.” Vì thế một ưu tiên lớn của giới tinh hoa Việt Nam là thể hiện rằng họ đã “văn minh” rồi. Họ làm điều này thông qua cơ cấu của chế độ triều cống. Bằng cách gửi các sứ giả và phẩm vật triều cống sang triều đình Trung Hoa, người Việt có thể trình bày một vẻ ngoài thần phục thế giới văn hóa Trung Quốc và nhờ thế mà xua tan cảm giác rằng người Trung Quốc cần trực tiếp can dự vào công việc của Việt Nam. Như cách nói của Taylor, “khả năng thể hiện nhuần nhuyễn ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc của các sứ giả Việt Nam tại triều đình Trung Quốc là một cách quan trọng để chứng tỏ rằng Việt Nam là một đất nước ‘văn minh’ và không cần sự chăm sóc ‘khai hóa’ của Trung Quốc.” [25]

Hệ thống triều cống

Chính ở vấn đề về hệ thống triều cống mà chúng ta thấy có sự liên hệ giữa tác phẩm của các sử gia viết về quá khứ Việt Nam và tác phẩm về lịch sử Trung Quốc. Cái “hệ thống triều cống” mà các sử gia phương Tây đề cập là một ma trận ngoại giao, dựa trên ý niệm về sự ưu việt, mà các triều đại Trung Quốc đã duy trì. Nói một cách tóm tắt, thì ít nhất kể từ nhà Thương (thế kỷ 18 – 11 trước CN), những dân tộc đầu tiên mà ta phân loại là “người Trung Quốc” đã cảm thấy rằng xã hội của họ, với hệ thống chữ viết và các lễ nghi phức tạp, ưu việt hơn hẳn các dân du cư lang thang nơi hoang mạc, đồng cỏ ở phía bắc và tây bắc và các dân tộc sống ở các vùng rừng rậm rạp ở miền nam. Trước điều mà họ xem là sự bất xứng này, người Trung Quốc cảm thấy thật lô-gích khi quan hệ với các dân tộc xung quanh cần diễn ra theo tôn ti trật tự. Dân tộc nào muốn có quan hệ với Trung Quốc, thì quan hệ đó phải bao gồm sự thừa nhận tính ưu việt của nhà cai trị Trung Quốc, Thiên Tử, với việc phủ phục trước sân triều, và cống nạp phẩm vật. [26]

Mặc dù không phải là bài viết sớm nhất của phương Tây về hệ thống triều cống, nhưng một bài viết năm 1941 của John King Fairbank và S.Y.Teng đã vô cùng có ảnh hưởng khi nó định hình các quan niệm sau này về hệ thống triều cống. Tuy Fairbank và S.Y.Teng kết luận rằng “hệ thống triều cống là một cái khung mà trong đó mọi loại quyền lợi, cả mang tính cá nhân lẫn đế quốc, cả kinh tế lẫn xã hội, được thể hiện,” nhưng một ý tưởng trong bài đã được quảng đại độc giả chú ý, tức là, “triều cống là cái lốt, cái cách nói thay cho thương mại.” [27]

Kể từ khi người phương Tây tiếp xúc với hệ thống ngoại giao độc đáo này, họ đã cố gắng để hiểu cái lý lẽ đằng sau nó. Từ cái nhìn hiện đại của phương Tây về sự bình đẳng quốc gia, một hệ thống ngoại giao dựa trên bất bình đẳng là điều không thể chấp nhận theo nghĩa bề mặt của nó. Vì thế, các học giả tìm cách nhìn thấu qua cái “ngôn từ khoa trương” của hệ thống triều cống với hy vọng phát hiện ra một “thực tại” có thể hiểu được. Chắc chắn phải có một lý do lô-gích giải thích vì sao các vương quốc bên ngoài lại chấp nhận vị thế thua kém trong quan hệ này, một điều mà các nước phương Tây đã không chấp nhận ở thế kỷ 19 trong giao tiếp với Trung Quốc. Ở đây, giải thích kinh tế của Fairbank và Teng xuất hiện như một phát hiện. Thật có lý là mặc dù giá trị đạo đức của sự triều cống có thể làm lợi cho người Trung Quốc, nhưng giá trị vật chất của các hàng hóa được nhận về sẽ biện hộ cho việc các nước chấp nhận vị thế thua kém của mình.

Nhiều thập niên sau khi Fairbank và Teng công bố bài viết tiên phong của họ, nhiều nghiên cứu đã thách thức và tinh lọc nhiều khía cạnh trong luận điểm của hai tác giả. Tuy nhiên, như James Hevia gần đây chỉ ra, “gần như tất cả những ai đi sau Fairbank [và Teng] đều trung thành lặp lại sự khẳng định là hệ thống triều cống về bản chất có tính nhị nguyên.” [28][29] Điều dễ hiểu là người Việt Nam lấy lựa chọn đầu tiên. Theo đa số các học giả, quyết định làm như vậy dựa trên sự đánh giá thực tiễn về các quyền lợi chiến lược, chứ không phải vì niềm tin vào hệ thống triều cống hay tin vào cái thế giới quan vốn là nền tảng của hệ thống triều cống. Vì vậy mà Taylor nói rằng “trong nhiều thế kỷ, [Việt Nam] là một vương quốc độc lập giả vờ làm chư hầu của đế chế Trung Hoa.” [30] Các sử gia về quan hệ Trung – Việt cũng đồng ý về tính hai mặt của hệ thống triều cống. Tuy nhiên, họ không nói đến lô-gích kinh tế của mối quan hệ này, mà họ đặt ra một lựa chọn cho người Việt Nam giữa việc đồng ý những điều khoản bất công của hệ thống triều cống hoặc chịu nguy cơ tấn công.

Theo quan điểm này, việc gửi hàng trăm sứ thần đến thủ đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ chỉ là việc “giả vờ.” Đó là màn làm bộ làm tịch, trong đó người Việt hiểu rõ vai nào thì làm hài lòng người Trung Quốc, một dân tộc có vẻ chìm đắm trong cảm thức cao ngạo mà không nhận ra người Việt Nam chỉ giả vờ thần phục mà thôi.

Người ta có thể hỏi, làm thế nào các học giả biết rằng người Việt không tin vào tính chính đáng của hệ thống triều cống? Có bao nhiêu bằng chứng văn bản chứng tỏ những suy nghĩ này? Ở đây, tôi cho rằng có vô cùng ít bằng chứng. Ở phần lớn các trường hợp, các nhà nghiên cứu chỉ áp đặt sự diễn giải mà họ muốn lên quá khứ, bởi vì có rất ít chi tiết trong ghi chép lịch sử chứng tỏ một cách thuyết phục rằng người Việt không tin vào hệ thống triều cống. Chỉ khi người ta tách văn bản ra khỏi văn cảnh, và bổ sung những ý nghĩa mới cho chúng, thì người ta mới có thể thấy người Việt, trong chiều dài lịch sử, đã thách thức một nhãn quan về thế giới có trung tâm là Trung Quốc.

Dòng văn chương chống ngoại xâm?

Một nhận định như trên có thể làm một số độc giả thấy là vô cùng phóng đại. Dù gì, bất kì ai có chút tiếp xúc với những sách vở tiếng Anh về lịch sử Việt Nam đều gặp nhiều những nhắc nhở về văn chương chứng tỏ truyền thống kháng chiến chống ngoại xâm / Trung Quốc. Tuy nhiên, những tác phẩm đó ít khi được giải thích trong cái ngữ cảnh của thời điểm chúng được viết ra. Kết quả là, một tài liệu như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, viết ngay khi nhà Lê thành lập sau việc đánh bại quân Minh và những người Việt hợp tác với Minh, đã được xem là bản tuyên ngôn về bản sắc quốc gia. [31] Tuy nhiên, một sự xem xét kỹ lưỡng hơn về khung cảnh khi văn bản này được thảo lại cho thấy nó không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, mà Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng. Tương tự như lời đại cáo (Great Announcement) trong Kinh thư, mà từ đó văn bản này lấy cảm hứng và âm vọng, đây là lời cảnh cáo từ những người chiến thắng trước những người đồng bào thất trận – “chúng tôi giờ đây là chỉ huy, các anh khôn hồn thì nên tuân lời.”

Việc một cách hiểu văn bản như thế không quen thuộc với chúng ta là vì chỉ mới đến gần đây các học giả phương Tây mới bắt đầu xem xét những sự thù địch nồi da xáo thịt giữa người Việt trong lịch sử. Các nhà nghiên cứu có xu hướng tránh đi chủ đề này – câu hỏi về sự thống nhất của người Việt – bởi vì nó đi vào một khu vực dễ bị công kích kịch liệt trong phần lớn của nửa cuối thế kỷ 20. Thay vì xem những trường hợp trong quá khứ – khi một số người Việt chiến đấu chống lại quân Trung Quốc trong khi những người khác hợp tác – như những chương lịch sử phức tạp và xáo trộn, nhiều học giả lại chọn cách tưởng tượng, trong cảm tình dành cho các quan điểm dân tộc của người Việt hiện đại, một quá khứ mà trong đó một dân tộc Việt thống nhất liên tục đứng lên bảo vệ quê hương chống lại láng giềng phương bắc luôn gây hấn. Tuy nhiên, để làm như vậy, các nhà nghiên cứu buộc phải lướt qua những tư liệu gây bối rối trong lịch sử. Trong khi một cách hiểu dân tộc chủ nghĩa nhân tạo đối với Bình Ngô đại cáo đã được phổ biến rộng rãi trong các văn phẩm tiếng Anh về quá khứ Việt Nam, thì những tư tưởng của một nhân vật phù Lê thế kỷ 18 như Nguyễn Huy Túc lại không được thế. Là quan của triều Lê, triều đại đã yêu cầu nhà Thanh giúp đỡ quân sự chống lại Tây Sơn, Nguyễn Huy Túc viết bài thơ bày tỏ niềm vui khi thấy quân Thanh đến. Có nhan đề “Vui mừng vì quân Thanh đã qua biên giới và đến giúp chúng ta,” bài thơ ca ngợi sự cứu viện.

Khi những chiến binh dũng cảm đã tuốt gươm

Sông núi vương quốc ta sẽ vui hưởng thêm 10 ngàn năm nữa

Nguyễn Huy Túc nói trong thơ rằng ông luôn nghi ngờ có thể có những lúc, một vương quốc không thể tồn tại một mình. Mặc dù người ta nói trong thời tao loạn, các viên quan chính trực chỉ cần quẳng mũ, đóng cửa, và lo bảo vệ vùng đất của mình, nhưng nay Túc hiểu rằng những biện pháp ấy là không đủ. Vì thế ông vui mừng khi thấy quân Thanh đã đến giúp triều Lê, và ông đối lập sức mạnh của họ với thế yếu của Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc, lãnh đạo cuộc nổi dậy Tây Sơn. Ngoài ra, khi Túc viết bài thơ, ông sẵn sàng quy cho tương lai tồn tại 10 ngàn năm của vương quốc là nhờ khả năng quân Thanh đánh bại Tây Sơn trong mấy ngày tới.

Tuy nhiên, thực tế là quân Thanh chịu thất bại và điều này góp phần vào sự sụp đổ của vương triều. Dẫu vậy, sự “sụp đổ” của dòng thơ Nguyễn Huy Túc chỉ xảy ra sau đó. Những dòng thơ phù Lê như vậy vẫn còn phổ biến cho đến nửa cuối thế kỷ 19, nhưng khi có sự đô hộ của Pháp và sự xuất hiện của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, sự quan trọng của lòng trung quân bị làm suy yếu bởi các câu hỏi về tính thuần khiết dân tộc. Với sự biến đổi này, tiếng nói của Nguyễn Huy Túc chìm vào im lặng, bởi nó không thể hỗ trợ cho những chia rẽ mà nay đã hiện ra rõ rệt bởi những ý niệm mới xuất hiện về chủng tộc và những sự phân biệt dân tộc.

Ngày nay việc Nguyễn Huy Túc không biết phân biệt sự chia cắt quan trọng giữa người Việt Nam và người Trung Quốc có thể được giải thích nhanh gọn như là một tín điều sai trái của một thành viên thuộc giới tinh hoa bị Hán hóa, bởi vì rõ ràng “nhân dân” hiểu biết rõ hơn. Chắc chắn, có nhiều câu chuyện về một bản chất mang tính phổ thông hơn, mà quả thật thể hiện một hình thức kháng cự chống lại các cá nhân người Trung Quốc. Ví dụ, có câu chuyện về Nguyễn Thế Nghi. Nghi là người làng Mộ Trạch, quê hương của nhiều sĩ phu nổi tiếng; ông này có một chút liều lĩnh, không quan tâm lắm đến các khuôn phép. Tuy nhiên, ông giỏi chữ nghĩa, đặc biệt là thơ Nôm.

Nguyễn Thế Nghi là bạn của Mạc Đăng Dung. Sau khi Dung cướp ngôi năm 1527, ông cho Nguyễn Thế Nghi nhiều chức vụ chính thức, nhưng Nghi không quan tâm. Nghi chỉ muốn được trao tước hiệu Đại hưng. Mạc Đăng Dung đồng ý, phong ông làm Đại hưng hầu. Nguyễn Thế Nghi sau đó làm đôi câu thơ Nôm và khắc nó lên một chiếc cổng có cùng tên tại kinh thành, cổng Đại Hưng. Hai dòng thơ có thể dịch nghĩa như sau:

Có bậc anh hùng nào lại không thích oai vệ

Nhưng khi đến Đại Hưng, đều phải cúi đầu

Đoạn thơ như thế vừa là sự vinh danh cái cổng và, vì Nguyễn Thế Nghi nay có tước hiệu giống như cổng, nên dòng thơ cũng ngụ ý là bất kì ai, dù anh dũng đến đâu, cuối cùng cũng phải cúi đầu trước ông.

Đến cuối thế kỷ 16, một công sứ Trung Quốc chuẩn bị đi qua cánh cổng này trên đường đến kinh đô. Mặc dù ông không hiểu dòng chữ Nôm, nhưng có vẻ đã được thông báo về ý nghĩa của nó. Viên công sứ ra lệnh dừng lại, và một chiếc thang được mang tới để ông trèo qua cổng. Viên quan Việt Nam hộ tống miễn cưỡng thi hành lệnh, nhưng rồi nghĩ ra một kế. Ông ra lệnh mang một con voi già đến, và khi voi đi gần đến cổng, thì có người đâm vào đằng sau nó. Voi rống lên và chạy nhào về hướng cổng. Viên công sứ Trung Quốc, sợ hãi, chạy thẳng qua cổng vào kinh thành. Khi đã xong, y mới nhận ra mình bị lừa và cảm thấy rất xấu hổ.

Một câu chuyện như vậy gợi lên cảm giác đối kháng giữa người Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài ra, người Việt còn thắng thế trong cuộc đọ sức này khi họ tận dụng những đối tượng thuộc thủy thổ của mình – tiếng Nôm và một con voi. Như thế, câu chuyện có vẻ tóm tắt thực chất của cách người Việt nhìn mỗi quan hệ với láng giềng phương bắc. Tuy nhiên, ở đây một lần nữa chúng ta cần xem xét ngữ cảnh ghi chép và bảo quản những câu chuyện như vậy. Câu chuyện này thuộc thể loại “giai thoại”. Giai thoại là những câu chuyện giới tinh hoa ghi lại để giải trí. Chúng có thể vui nhộn. Chúng có thể bí ẩn. Nhưng dù nội dung có thế nào, mục đích là để giải trí. Mặc dù một số giai thoại chứa đựng thông điệp tinh thần ủng hộ niềm tin Nho giáo của giới tinh hoa, nhưng thông thường chúng cũng chứa đựng chuyện về các nhà sư Phật giáo, Đạo sĩ, nhà phong thủy, và như thế chứa đựng một tập hợp các ý niệm và tín điều. Ngoài ra, chúng ta cũng cần thận trọng không nên diễn giải việc giải trí như là thực tại.

Chắc chắn có những lúc tồn tại mức độ đối kháng giữa một số dân tộc sống ở các lãnh địa mà nay ta gọi là Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn tất nhiệm vụ vô cùng quan trọng là xem xét các ví dụ này trong ngữ cảnh văn hóa và lịch sử của chúng. Chỉ bằng cách làm như vậy, chứ không phải phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ, thì chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn về mối bất hòa Trung – Việt. Không may, cuốn sách này không thể đóng góp trực tiếp vào nhiệm vụ quan trọng này. Tuy nhiên, các tài liệu khảo sát ở đây thật sự cung cấp thông tin nền tảng quan trọng để có sự khảo sát sâu sắc hơn về những ví dụ của sự đối kháng Trung – Việt. Các tài liệu ở đây (bài thơ đi sứ) nói trực tiếp về quan hệ Trung – Việt, và chúng không nói gì về xung đột hay đối nghịch. Chúng không bộc lộ bất kì cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc, mà lại mô tả một sự khẳng định toàn diện về một trật tự thế giới mà quan hệ triều cống dựa vào và về vị trí phụ của Việt Nam trong thế giới ấy. Chỉ khi những văn bản này được nghiên cứu trong sự kết hợp với việc khảo sát mang tính văn hóa và lịch sử về “dòng văn chương kháng chiến”, thì chúng ta mới đến gần hơn sự hiểu biết về thực chất của quan hệ lịch sử Việt – Trung.

© 2005 talawas

——————-

[1]Phỏng vấn của báo Thể thao và Văn hóa.

[2]Henri Maspero, “L’Expédition de Ma Yuan”, Bulletin de l’École Francaise d’Extreme-Orient 18 (1918): 11-28

[3]John Smail, “On the Possibility of an Autonomous History of Modern Southeast Asia,” Journal of Southeast Asian History 2.2 (July 1961): 72-102. Về lịch sử nghiên cứu (chủ yếu tiếng Anh) Đông Nam Á, xem J.D.Legge, “The Writing of Southeast Asian History,” trong The Cambridge History of Southeast Asia, vol. I., Earl Times to c.1800, do Nicholas Tarling chủ biên (Cambridge: Cambridge University Press, 1992), 1-50.

[4]Xem thêm về chủ đề này trong quyển Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past của Patricia M. Pelley (Durham: Duke University Press, 2002). Về quan niệm “truyền thống được sáng tạo”, xem Eric Hobsbawm và Terence Ranger, biên tập, The Invention of Tradition (Cambridge: Cambridge University Press, 1983)

[5]Nói một cách chính xác, một số học giả có tác phẩm tôi phê bình đã thay đổi quan điểm về một số vấn đề. Tuy nhiên, những tác phẩm ban đầu của họ vẫn có ảnh hưởng và vì thế vẫn cần có sự chú ý mang tính phê phán. Điều này đặc biệt áp dụng cho trường hợp của Keith Taylor. Để xem một số bài viết gần đây của ông mà đã đi ra khỏi dòng nghiên cứu bị tôi phê bình, xem thêm bài “Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region,” Journal of Asian Studies 57.4 (1998): 949-978, và “Voices Within and Without: Tales from Stone and Paper about Đỗ Anh Vũ,” trong quyển Essays into Vietanmese Past, K.W.Taylor và J.K.Whitmore chủ biên (Ithaca: Cornell Southeast Asia Publicaions, 1995), 59-80.

[6]Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983): xvii-xviii.

[7]Keith W. Taylor, “Surface Orientations in Vietnam,” 949-978.

[8]Một tác phẩm tiêu biểu thuộc dòng này là Le Việt Nam: Histoire et Civilisation của Lê Thành Khôi, (Paris: Les Éditions des Minuit, 1955)

[9]John K.Whitmore, “Elephants Can Actually Swim: Contemporary Chinese Views of Late Ly Dai Viet,” trong Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, do David G.Marr và A.C.Milner biên tập (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1986), 117.

[10]Keith W. Taylor, “Authority and Legitimacy in 11th Vietnam,” trong Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, do David G.Marr và A.C.Milner biên tập (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1986), 141.

[11]Keith Taylor, “An Evaluation of the Chinese Period in Vietnamese History,” The Journal of Asiatic Studies 23:1 (1980): 160.

[12]Về câu hỏi các chính quyền Trung Quốc đã được hành chính hóa, hay trung ương hóa như thế nào trong những thế kỷ đầu tiên, xem Albert Dien chủ biên, State and Society in Early Medieval China (Stanford: Stanford University Press, 1990).

[13]Jean Lévi, “Les Fonctionnaires et le Devin: Luttes de Pouvoires entre Devinites et Administrateurs dans les Contes des Six Dynasties et des Tang,” Cahiers d’Extreme-Asie 2 (1986): 81-110.

[14]Cuong Tu Nguyen, Zen in Medieval Vietnam: A Study and Translation of the Thien Uyen Tap Anh (Honolulu: University of Hawaii Press, 1997).

[15]O.W.Wolters, “Assertions of Cultural Well-being in 14th Century Vietnam: Part II,” Journal of Southeast Asian Studies 11.1 (1980): 87.

[16]O.W.Wolters, “Assertions of Cultural Well-being in 14th Century Vietnam: Part I,” Journal of Southeast Asian Studies 10.2 (1979): 437.

[17]John K.Whitmore, Vietnam, Ho Quy Ly and the Ming (1371-1421) (New Haven: Yale Southeast Asia Studies, 1985), và Alexander Woodside, “Early Ming Expansionism (1406-1427): China’s Abortive Conquest of Vietnam,” Papers on China 17 (1964), 1-37.

[18]John K.Whitmore, “From Classical Scholarship to Confucian Belief in Vietnam,” The Vietnam Forum 9 (1987): 49-65, và John K.Whitmore, “Literati Culture and Integration in Dai Viet, c.1430-c.1840) trong Beyond Histories: Re-imagining Eurasia to c.1830, Victor Lieberman chủ biên (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1999), 221-243.

[19]Keith Taylor, “The Early Kingdoms,” The Cambridge History of Southeast Asia, vol. I., From Early Times to c.1800, Nicholas Tarling biên tập (Cambridge: Cambridge University Press, 1992), 151.

[20]Keith Taylor, “Nguyen Hoang and the Beginning of Vietnam’s Southward Expansion,” trong Southeast Asia in the Early Modern Era: Trade, Power, and Belief, do Anthony Reid biên tập (Ithaca: Cornell University Press, 1993), 64.

[21]Xem Li Tana, Nguyen Cochinchina: Southern Vietanm in the 17th and 18th Centuries (Ithaca: Cornell University Press, 1998). Cũng xem thêm tiểu luận của bà, “An Alternative Vietnam? The Nguyen Kingdom in the 17th and 18th Centuries,” The Journal of Southeast Asian Studies 29.1 (1998): 111-121. Và Nola Cooke, “The Myth of the Restoration: Dang Trong Influences in the Spiritual Life of the Early Nguyen Dynasty (1802-47),” trong The Last Stand of Asian Autonomies, Anthony Reid biên tập (Melbourne: Macmillan Press, 1997), 269-295.

[22]Nola Cooke, “Nineteenth-Century Vietnamese Confucianization in Historical Perspective: Evidence from the Palace Examinations (1463-1883),” Journal of Southeast Asian Studies 25.2 (1994): 270-312.

[23]Nola Cooke, “The Composition of the Nineteenth-Century Political Elite of Pre-Colonial Nguyen Vietnam (1802-1882),” Modern Asian Studies 29.4 (1995): 741-764.

[24]Một ngoại lệ hứa hẹn là luận án gần đây của George Dutton, “The Tay Son Uprising: Society and Rebellion in Late Eighteenth-Century Vietanm, 1771-1802” (Luận án tiến sĩ, Đại học Washington, 2001)

[25] Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam, 298.

[26]Một tóm tắt về hệ thống triều cống có mặt trong quyển China among Equals: The Middle Kingdom and its Neighbors, 10th – 14th Centuries, Morris Rossabi biên tập, (Berkeley: University of California Press, 1983), 1-4.

[27]John K. Fairbank và S.Y.Teng, “On the Ch’ing Tributary System,” Harvard Journal of Asiatic Studies 6 (1941). Nhiều năm sau, Fairbank một lần nữa trình bày ý tưởng của ông về hệ thống triều cống trong tập sách The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge: Harvard University Press, 1968).

[28] James L. Hevia, Cherishing Men from Afar: Qing Guest Ritual and the Macartney Embassy of 1793 (Durham: Duke University Press, 1995), 14.

[29]Để đọc một phát biểu rõ ràng ủng hộ thuyết này, liên quan một giai đoạn cụ thể̉ lịch sử, xem bài “Tribute in Sino-Vietnamese Relations, 1788-1790,” của Trương Bửu Lâm, trong quyển The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge: Harvard University Press, 1968), 165-179.

[30]Keith W. Taylor, “China and Vietnam: Looking for a New Version of an Old Relationship,” trong The Vietnam War: American and Vietnamese Perspectives, Jayne Werner và Lưu Đoàn Huynh (New York: M.E. Sharpe, 1993), 271.

[31]Ví dụ, xem, Stephen O’Harrow, “Nguyen Trai’s Binh Ngo Dai Cao of 1428: The Development of a National Identity,” Journal of Southeast Asian Studies 10.1 (1979). Mặc dù bài viết này tương đồng với một số quan điểm trong nghiên cứu của tôi nói về cảm giác chia sẻ chung của giới sĩ phu Việt Nam đối với truyền thống văn hóa Đông Á, nhưng bài viết hình dung về một giới tinh hoa Việt Nam thống nhất biểu lộ sự ngang hàng của họ với Trung Quốc – đây là những tư tưởng mà nghiên cứu này của tôi nghi ngờ.

Nguồn: Liam C. Kelley, Beyond The Bronze Pillars, Honolulu: University of Hawiian Press, 2005, trang 9 – 23.

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

562. Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ” về quan hệ văn hóa Việt – Trung, lạm bàn với Liam C. Kelley

Đăng bởi anhbasam on 26/04/2010

Talawas.org – 9.9.2005

Hà Yên

Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ”

về quan hệ văn hóa Việt – Trung,

lạm bàn với Liam C. Kelley

1.

Với các khảo chứng lịch sử – văn hóa in đậm dấu ấn tinh thần dân tộc và ý thức tự chủ, lô-gích từ sự khác biệt cộng đồng tới sự khác biệt văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa dường như lâu nay đã trở thành một kết luận không còn xa lạ với những ai quan tâm tới vấn đề này; đồng thời cũng từng bước “xếp vào quá khứ” các quan niệm từng thịnh hành một thời rằng văn hóa Việt Nam chỉ là một bộ phận, một phái sinh của văn hóa Trung Hoa. Tất nhiên khi chứng minh, người ta không chỉ bắt đầu từ cảm quan hiện thực, đa số các trường hợp đều sử dụng những cứ liệu lịch sử bao chứa các yếu tố cơ bản có tư cách là tư liệu tiền đề. Và cũng tất nhiên, trước khi đưa ra các kết luận về lịch sử – văn hóa Việt Nam, cần thiết phải đặt nó trở về với bối cảnh phức tạp của các biến thiên lịch sử ở một quốc gia không có truyền thống làm sử chính xác và cập nhật, thêm vào đó là tình trạng thất lạc, mất mát do giặc giã thiên tai… Lại nữa, sự tồn tại và chen lấn của truyền thuyết, của huyền thoại, của các thành phần folklore khác không chỉ mang ý nghĩa bổ sung các nội dung lịch sử – văn hóa “bác học” mà đôi khi còn làm tăng thêm tính “mờ, nhòe” của một số sự kiện, cho dù có hoặc không được ghi chép. Nên tôi vẫn quan niệm, khi nghiên cứu lịch sử – văn hóa Việt Nam, có lẽ câu hỏi: “nó vốn là cái gì” thường khi lại quan trọng hơn câu hỏi: “nó vốn như thế nào?”; nói cách khác, trong từng trường hợp cụ thể, việc mô tả không quan trọng bằng việc tìm hiểu tại sao nó lại như thế… (?). Bởi vậy với một số vấn đề lịch sử – văn hóa Việt Nam, theo tôi góc nhìn duy lý và thực chứng chưa hẳn sẽ đem lại một kết quả thuyết phục và như ý.

Viết bài này, tôi không có may mắn và cũng không có khả năng (!) tiếp cận Beyond The Bronze Pillars (Đi qua những cột đồng) của Liam C. Kelley, tôi đành thỏa mãn với việc tìm hiểu một số quan niệm của ông trong “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung” qua bản dịch của Lê Quỳnh (talawas, 1.9.2005). Dẫu vẫn biết về nguyên tắc, muốn tìm hiểu một công trình khoa học cần đọc kỹ nguyên tác, song công việc này đối với tôi hiện tại là bất khả, nên việc đưa ra các nhận xét sai lạc là rất khó tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu coi bản dịch có nhan đề „Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung“ như một văn bản tóm lược các nội dung chủ yếu trong công trình của Liam C. Kelley thì tôi nhận thấy ở đó toát lên ý tưởng coi Việt Nam chỉ là một “tiểu Trung Hoa”, coi các luận điểm như bản sắc dân tộc, dòng văn chương chống ngoại xâm… chỉ là sự “phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ” và Liam C. Kelley đã không thuyết phục được tôi. Những luận chứng dưới đây có thể không có gì mới, có thể chỉ là biểu hiện của một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ”, có thể không bao giờ vọng tới Liam C. Kelley… nhưng tôi vẫn trình bày, và về thực chất, bài viết này chuyển tải các suy nghĩ nhiều hơn là đưa ra những ý kiến tranh luận mà ai đó có thể xem là “liều lĩnh”!

2.

Từ sự không tin cậy với ý kiến của nhiều tác giả nghiên cứu lịch sử – văn hóa Việt Nam ở trong nước và ngoài nước khi họ có các kết luận đại loại như: Việt Nam không phải là một “tiểu Trung Hoa”; Việt Nam có bản sắc riêng; việc gửi hàng trăm sứ thần đến thủ đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ chỉ là việc “giả vờ”; sự tồn tại của một dòng văn chương chống ngoại xâm… Liam C. Kelley muốn “thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung” xuất phát từ một tiền đề có thể coi là điển hình cho tinh thần thực chứng, ông viết: “Khi ta nhìn vào các nguồn tài liệu gốc chép lại câu chuyện về một sự kiện như cuộc chinh phục của Mã Viện, không có từ nào mà ta có thể dịch ra thành “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam.” Các tài liệu nguyên thủy chỉ chứa đựng tên các cá nhân (Trưng Trắc, Tô Định, Mã Viện…), chức danh chính thức của họ (thái thú, phục ba tướng quân), và tên một triều đại (Hán). Nếu chúng ta không thể định vị bất kì sự diễn đạt bản sắc nào trong tư liệu gốc (dù là “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam”), thì làm sao chúng ta có thể lý luận rằng người Việt Nam nuôi dưỡng một xác tín có gốc rễ sâu sắc rằng họ “không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc?”

Nghĩa là Liam C. Kelley yêu cầu phải có một (nhiều) tài liệu xác thực, cho phép chứng minh từ xa xưa trong các ghi chép lịch sử thành văn, hai khái niệm “người Việt Nam” và “người Trung Quốc” đã được xác lập và phân định rạch ròi. Nghĩa là về thao tác, Liam C. Kelley không nghiên cứu lịch sử để rút ra kết luận về lịch sử, ông xác lập một giả thuyết làm việc rồi khảo chứng lịch sử đặng tìm hiểu giả thuyết có khả năng đứng vững hay không, nếu không đứng vững tức là các kết luận ông thiếu tin cậy ở trên không có cơ sở tồn tại. Tôi nghĩ đây là một hướng nghiên cứu mang màu sắc chủ quan (?), xét về thao tác, ông đã tiến hành ngược chiều với yêu cầu ông đặt ra ở cuối bài: “Các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn tất nhiệm vụ vô cùng quan trọng là xem xét các ví dụ này trong ngữ cảnh văn hóa và lịch sử của chúng. Chỉ bằng cách làm như vậy, chứ không phải phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ, thì chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn về mối bất hòa Trung-Việt”. Để trả lời, để chứng minh các luận điểm ông còn chưa tin cậy, trong đoạn trích “Lời giới thiệu” của Đi qua những cột đồng, Liam C. Kelley viết: “Các tài liệu ở đây (bài thơ đi sứ) nói trực tiếp về quan hệ Trung – Việt, và chúng không nói gì về xung đột hay đối nghịch. Chúng không bộc lộ bất kì cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc, mà lại mô tả một sự khẳng định toàn diện về một trật tự thế giới mà quan hệ triều cống dựa vào và về vị trí phụ của Việt Nam trong thế giới ấy”.

Do chưa đọc Đi qua những cột đồng, nên tôi không biết Liam C. Kelley đã khảo sát những “bài thơ đi sứ” nào, của tác giả nào, nhưng tôi rất khó tin Liam C.Kelley đã nhận định chính xác, vì qua „Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung“ tôi hiểu ông nghiên cứu dựa trên nguyên tắc: văn bản, văn bản và văn bản; nếu văn bản không xác định thì tính hiện thực của sự kiện sẽ bị nghi ngờ (!?).

Tôi cũng từng đọc nhiều “bài thơ đi sứ”, tôi cũng nhận ra ở chúng thiếu vắng tinh thần “xung đột hay đối nghịch”. Song tôi coi đó là tình trạng hết sức bình thường, không bao hàm ý nghĩa, không phản ánh quan niệm về “vị trí phụ” của Việt Nam trong một trật tự do phong kiến Trung Hoa xác lập. Xưa kia cha ông chúng ta “đi sứ” không tương tự như các vị đại sứ của thế giới hiện đại, cũng không có một “dư luận quốc tế” nào ngõ hầu cứu giúp lúc nguy nan. Vị trí một nước nhỏ không cho phép thơ ca của các sứ giả được bày tỏ chí khí hay tinh thần tự tôn một cách công khai, thơ văn của họ trở thành những cảm tác tiêu dao, thành nơi thi thố tài năng với các quan lại, danh sĩ Trung Hoa… Mặt khác, do các tương quan luôn bất lợi nhiều mặt đối với Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ sau ngày giành lại độc lập ở thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, trong các giai đoạn hai nước đang giữ hòa hiếu thì theo tôi, chỉ có vị sứ giả nào “bất thường về tâm lý” mới bày tỏ thái độ đối đầu. Còn lúc hai nước nảy sinh bất đồng, đạo quân binh “thiên triều” đã thập thò nơi biên ải, đường về nước thì xa, sứ giả trở thành con tin, tính mạng “ngàn cân treo sợi tóc”, thậm chí một câu nói hớ hênh cũng đủ đưa sứ giả lên đoạn đầu đài…, thì thái độ nhún nhường, thần phục thật sự là lựa chọn khôn ngoan, tỉnh táo, đưa lại hy vọng cứu đất nước khỏi họa binh đao, và bảo toàn tính mạng của chính mình. Không rõ Liam C.Kelley đã tìm hiểu kỹ lưỡng về cái gọi là “đi sứ” ở phương Đông hay chưa, và việc ông không tìm thấy trong các bài thơ đi sứ thái độ “xung đột hay đối nghịch” và “cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc” có được đặt trong các mối liên hệ và bối cảnh phức tạp của lịch sử quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa từ hàng nghìn năm trước hay không? Đối với các đối tượng nghiên cứu có tính cách là sản phẩm của lịch sử – văn hóa, thao tác tách văn bản một cách tuyệt đối ra khỏi văn cảnh có thể đưa Liam C. Kelley tới một kết luận đối lập với kết luận của người khác, song tách văn bản một cách tuyệt đối ra khỏi văn cảnh cũng chính là một thao tác “siêu hình”, khu biệt sự vật hiện – tượng khỏi bối cảnh lịch sử và không gian sinh tồn của nó. Vậy, liệu kết luận rút ra có bảo đảm tính chính xác?

3.

Nếu dừng lại ở những luận điểm Liam C. Kelley trình bày trong “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung”, tôi tin ông không chú ý khảo sát các sử liệu Việt Nam – nơi theo tôi ý thức tự chủ của các triều đại phong kiến Việt Nam thường được trình bày khá nhất quán, ông tìm kiếm trong sử sách Trung Hoa, hiển nhiên ông sẽ không thể thâu lượm được bất kỳ một sử liệu nào đủ sức chứng minh tính xác thực trong giả thuyết khoa học của mình. Tôi chỉ băn khoăn: lẽ nào Liam C. Kelley không tiến thêm một bước nữa để lý giải lý do tại sao trong những ghi chép lịch sử do các sử gia phong kiến Trung Hoa thực hiện lại không đặt vấn đề phân biệt “người Trung Quốc” với “người Việt Nam”?

Tới hôm nay, chúng ta đều biết một “chân lý phổ biến” từng thống trị trong ý thức cai trị của các triều đại phong kiến Trung Hoa rằng: “phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ, suất thổ chi tân, mạc phi vương thần”. Và “mệnh Trời” với thiên tử (con trời) là đại diện, từ ngàn xưa đã tạo dựng nên một thái độ “cao ngạo” không dễ tìm thấy ở một dân tộc nào khác từ phương Đông sang phương Tây cùng thời. Đại Đường, Đại Tống, Đại Minh, Đại Thanh…, cùng các ý niệm “phên dậu”, “tứ di”, “phiên thuộc” dùng chỉ các quốc gia tồn tại quanh Trung Hoa tự thân đã nói lên điều các vua chúa Trung Hoa luôn muốn khẳng định (theo tôi, phải chăng đây là một lý do đưa tới việc các triều đại phong kiến Trung Hoa không coi trọng việc đặt tên nước và tên nước được lấy theo tên của triều đại trị vì?).

Vì thế quan hệ với các quốc gia “phên dậu”, “tứ di”, “phiên thuộc” trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Hoa cũng không có gì sáng sủa, nó được xác lập theo một biên độ rất rộng rãi, từ “ki mi” (lỏng lẻo) tới thiết lập một vương triều “thân Hoa”. Với Việt Nam, không chỉ từ thời Sĩ Nhiếp, ngay cả khi đoàn quân Tôn Sĩ Nghị thất trận, Càn Long cũng không thoát khỏi cái nhìn truyền thống, nên sách phong Nguyễn Quang Bình làm An Nam Quốc vương mới có đoạn cho thấy một thái độ “cao ngạo” đến mức nào: “Trẫm Vương hóa nơi xa xôi, phạt tội rồi tha cho qui phục. Ngươi được phong tước, giữ phận thờ nước lớn do đạo kính trời. Xét lòng thành kẻ hoang dã, tha chuyện cũ, ơn mưa móc tưới nhuần thuộc quốc. Vui mừng vận hội mới, rạng rỡ thay sủng ái ban ân, gắng sức lo bề huấn học[1] . Liam C. Kelley cũng nhận biết điều này khi ông tóm tắt: “Nói một cách tóm tắt, thì ít nhất kể từ nhà Thương (thế kỷ 18 – 11 trước CN), những dân tộc đầu tiên mà ta phân loại là “người Trung Quốc” đã cảm thấy rằng xã hội của họ, với hệ thống chữ viết và các lễ nghi phức tạp, ưu việt hơn hẳn các dân du cư lang thang nơi hoang mạc, đồng cỏ ở phía bắc và tây bắc và các dân tộc sống ở các vùng rừng rậm rạp ở miền nam. Trước điều mà họ xem là sự bất xứng này, người Trung Quốc cảm thấy thật lô-gích khi quan hệ với các dân tộc xung quanh cần diễn ra theo tôn ti trật tự. Dân tộc nào muốn có quan hệ với Trung Quốc, thì quan hệ đó phải bao gồm sự thừa nhận tính ưu việt của nhà cai trị Trung Quốc, Thiên tử, với việc phủ phục trước sân triều, và cống nạp phẩm vật”. [2]

Đáng tiếc là ông không đi xa hơn để tìm hiểu căn nguyên sâu xa vấn đề do ông đặt ra, trong bối cảnh đó, ông vẫn hy vọng tìm kiếm trong sử sách Trung Hoa một cái nhìn bình đẳng với các quốc gia “phiên thuộc” thì thiết nghĩ, đây thật sự là một hy vọng bất khả. Bản thân các triều đại phong kiến Trung Hoa không đặt ra vấn đề về sự bình đẳng giữa các quốc gia thì không lý gì họ phải đặt ra vấn đề phân biệt sự khác nhau giữa “người Việt Nam” với “người Trung Hoa”. Do đó yêu cầu thực chứng các ý niệm trên đây của Liam C. Kelley theo tôi là không thỏa đáng. Đòi hỏi của ông thật sự thoát ly khỏi một đặc trưng quan trọng của lịch sử – văn hóa Trung Hoa trong quá khứ.

4.

Về “hệ thống triều cống” thì, như đã nói ở trên, Liam C.Kelley nhận xét: “Kể từ khi người phương Tây tiếp xúc với hệ thống ngoại giao độc đáo này, họ đã cố gắng để hiểu cái lý lẽ đằng sau nó. Từ cái nhìn hiện đại của phương Tây về sự bình đẳng quốc gia, một hệ thống ngoại giao dựa trên bất bình đẳng là điều không thể chấp nhận theo nghĩa bề mặt của nó. Vì thế, các học giả tìm cách nhìn thấu qua cái “ngôn từ khoa trương” của hệ thống triều cống với hy vọng phát hiện ra một “thực tại” có thể hiểu được. Chắc chắn phải có một lý do lô-gích giải thích vì sao các vương quốc bên ngoài lại chấp nhận vị thế thua kém trong quan hệ này, một điều mà các nước phương Tây đã không chấp nhận ở thế kỷ 19 trong giao tiếp với Trung Quốc.” và ông không tin việc gửi hàng trăm sứ thần đến thủ đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ chỉ là việc “giả vờ”. Dường như theo ông, vấn đề triều cống là biểu thị cho tình trạng “thần phục tự giác”, chứ không phải là một “sách lược tự vệ” (xin nhấn mạnh – NH) của các triều đại phong kiến Việt Nam trước các triều đại phong kiến Trung Hoa. Và một lần nữa, tinh thần thực chứng lại được bộc lộ qua các câu hỏi và ý kiến do Liam C. Kelley trình bày: “Người ta có thể hỏi, làm thế nào các học giả biết rằng người Việt không tin vào tính chính đáng của hệ thống triều cống? Có bao nhiêu bằng chứng văn bản chứng tỏ những suy nghĩ này? Ở đây, tôi cho rằng có vô cùng ít bằng chứng. Ở phần lớn các trường hợp, các nhà nghiên cứu chỉ áp đặt sự diễn giải mà họ muốn lên quá khứ, bởi vì có rất ít chi tiết trong ghi chép lịch sử chứng tỏ một cách thuyết phục rằng người Việt không tin vào hệ thống triều cống. Chỉ khi người ta tách văn bản ra khỏi văn cảnh, và bổ sung những ý nghĩa mới cho chúng, thì người ta mới có thể thấy người Việt, trong chiều dài lịch sử, đã thách thức một nhãn quan về thế giới có trung tâm là Trung Quốc”.

Với các câu hỏi trên tôi nghĩ, Liam C. Kelley nghiên cứu lịch sử – văn hóa Việt Nam nhưng không chú ý tìm hiểu, không quan tâm tới những nội dung có tính “ngầm ẩn”, “phi văn bản” của lịch sử, nhất là lịch sử quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa xưa kia. Điều tôi nghĩ trên đây là có cơ sở, bởi thật “bất thường” khi các cuộc chiến tranh tương ứng giữa các triều đại: Tống – Lý, Nguyên – Trần, Minh – Lê, Thanh – Tây Sơn lại được ông kết luận khá giản đơn: “Chắc chắn có những lúc tồn tại mức độ đối kháng giữa một số dân tộc sống ở các lãnh địa mà nay ta gọi là Việt Nam và Trung Quốc”.

“Mức độ đối kháng” chứ không phải chiến tranh xâm lược, có lẽ Liam C. Kelley là người lần đầu tiên và là người cuối cùng rút ra một kết luận như vậy. Liệu có đáng ngờ? Đi tìm lô-gích bên trong của hệ thống triều cống, Liam C. Kelley lấy các bài “thơ đi sứ” làm đối tượng khảo sát, không tìm thấy trong đó “cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc”, ông không tin vào ý thức tự chủ và lòng tự tôn dân tộc của người Việt, và tôi cho rằng ông cũng không đi xa hơn những người đi trước.

Với vị trí của một quốc gia đông dân và rộng lớn, có tiềm lực quân sự, kinh tế, văn hóa vào bậc nhất châu Á trong suốt hàng nghìn năm trước thế kỷ XX, “cái bóng” đồ sộ của nước Trung Hoa phong kiến đã “phủ” xuống nhiều quốc gia, không chỉ ở xung quanh nó mà còn ảnh hưởng tới cả Nhật Bản. Trên thực tế, một cuộc chiến tranh dù nhỏ, do phong kiến Trung Hoa tiến hành cũng đủ làm tan hoang, kiệt quệ các quốc gia lân bang. Ngay cả những khi người Mông Cổ, người Mãn Châu vào Hoa Hạ, họ chỉ “chiến thắng” trong chốc lát rồi nhanh chóng bị đồng hóa đến mức gần như “không còn là mình” nữa. Sinh sống cạnh một quốc gia vĩ đại với những tiềm năng vĩ đại, nếu khôn ngoan, người ta không lựa chọn giải pháp đối đầu. Một sự “thần phục” trên danh nghĩa, “chấp nhận giữ một vai trò phụ” vẫn có lợi hơn đối đầu. Nhưng thiết nghĩ “chấp nhận giữ một vai trò phụ” không chuyển tải ý nghĩa về sự phụ thuộc, trong nhiều thời đoạn lịch sử, khi vận mệnh hay danh dự quốc gia bị xâm phạm, người Việt cũng không ngần ngại tuyên bố dứt khoát về sự tồn tại độc lập của mình (nếu Liam C. Kelley đã đọc Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng, ông sẽ thấy một trí thức Việt Nam đã mang trong mình một ý thức rõ ràng và cụ thể về tổ quốc của mình ra sao). Phải chăng đã có một “quy ước ngầm” giữa các triều đại phong kiến Trung Hoa với các triều đại phong kiến ở các quốc gia “phên dậu” về chính sách triều cống (liệu có thể coi sự lặp đi lặp lại từ đời này sang đời khác đã biến việc triều cống thành một “vô thức lịch sử”?). Phải chăng chính sách triều cống đã mang lại ích lợi cho cả hai phía:

- Phía các triều đại phong kiến Trung Hoa, việc được triều cống đưa tới hai lợi ích: một là khẳng định uy thế nước lớn, hai là lợi ích về kinh tế (có thể là không nhiều)?

- Phía các triều đại phong kiến ở các quốc gia “phiên thuộc”, đây là sách lược ngoại giao khá nhất quán của các nước nhỏ trong quan hệ với Trung Hoa thời quá khứ. Việc triều cống có thể ảnh hưởng ít nhiều đến kinh tế, ảnh hưởng tới quốc thể, song lại giúp vào sự ổn định, tránh “dính” vào các cuộc binh đao?

Với chính sách triều cống, Việt Nam không phải là ngoại lệ. Và tôi tin chưa bao giờ nó được các triều đại phong kiến Việt Nam thực hiện như một nghĩa vụ tự giác. Đọc các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục… người ta dễ nhận ra việc triều cống của các triều đình phong kiến Việt Nam có tương quan nhất định với tình trạng thịnh trị hay suy vi của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Khi một triều đại phong kiến Trung Hoa suy yếu, hoặc Trung Hoa đứng trước họa ngoại xâm… thì sự triều cống của Việt Nam cũng sinh ra chểnh mảng. Thậm chí vào thời hưng thịnh nhất của nhà Lê, lúc Việt Nam có một nhà nước đủ mạnh và khéo léo, thì việc triều cống không phải là đòi hỏi bức bách từ phía phong kiến Trung Hoa, cũng không là lý do để dậm dọa, dù cũng có lúc nhà Minh tỏ ra tức giận về thái độ “lảng tránh nghĩa vụ” này. Thiển nghĩ, ở đây không có một lô-gích nào cả, chỉ là những ứng xử sinh tồn bắt buộc giữa các cộng đồng lớn – nhỏ, mạnh – yếu mà thôi (xin nhấn mạnh – HY). Do vậy có thể đặt câu hỏi: Phải chăng ở đây, Liam C. Kelly đã trở về với cái nhìn coi “Trung Hoa làm trung tâm”, nếu không, tại sao ông quả quyết: “chắc chắn phải có một lý do lô-gích giải thích vì sao các vương quốc bên ngoài lại chấp nhận vị thế thua kém trong quan hệ này, một điều mà các nước phương Tây đã không chấp nhận ở thế kỷ 19 trong giao tiếp với Trung Quốc”? (Gần đây, đọc công trình nghiên cứu về nhà Mạc của TS Đinh Khắc Thuân có nhan đề Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia [3] , tôi cho rằng công trình nghiên cứu một triều đại ngắn ngủi mà trong bài viết Liam C. Kelley dành cho một câu: “Trong giai đoạn triều Lê, có hai sự “chia rẽ nội bộ” lớn. Chia rẽ đầu tiên bắt đầu khi một viên tướng thế lực, Mạc Đăng Dung, cướp ngôi năm 1527 và cai trị phần lớn vùng đất mà nay là miền bắc Việt Nam cho đến khi những người ủng hộ nhà Lê cướp lại kinh đô và “khôi phục” triều đại của họ vào năm 1592”, lại đưa tới một số cứ liệu lý thú có liên quan đến việc triều cống.)

5.

Dưới một tiêu đề nhỏ mang tính cách một câu hỏi: “Dòng văn chương chống ngoại xâm?”, Liam C. Kelly bày tỏ sự nghi ngờ của mình về dòng văn chương này, ông viết: “Thay vì xem những trường hợp trong quá khứ – khi một số người Việt chiến đấu chống lại quân Trung Quốc trong khi những người khác hợp tác – như những chương lịch sử phức tạp và xáo trộn, nhiều học giả lại chọn cách tưởng tượng, trong cảm tình dành cho các quan điểm dân tộc của người Việt hiện đại, một quá khứ mà trong đó một dân tộc Việt thống nhất liên tục đứng lên bảo vệ quê hương chống lại láng giềng phương bắc luôn gây hấn. Tuy nhiên, để làm như vậy, các nhà nghiên cứu buộc phải lướt qua những tư liệu gây bối rối trong lịch sử”. Và ông dẫn ra những câu thơ của Nguyễn Huy Túc – vốn là quan của triều Lê, bày tỏ niềm vui khi thấy quân Thanh vào Việt Nam, ông nhắc tới hai câu thơ Nôm của Nguyễn Thế Nghi, lại nữa là một giai thoại dưới hình thức “tiếu lâm” có liên quan tới “sứ Tàu”. Đặc biệt hơn là việc Liam C. Kelley đánh giá Bình Ngô đại cáo từ một góc nhìn dễ gây bất ngờ, thậm chí kinh ngạc với những ai đã tiếp xúc và hiểu ý nghĩa của văn bản này. Ông viết: “Một sự xem xét kỹ lưỡng hơn về khung cảnh khi văn bản này được thảo lại cho thấy nó không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, mà Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”.

Tôi không rõ Liam C. Kelley đọc Bình Ngô đại cáo ra sao, căn cứ vào những câu chữ nào để rút ra kết luận kể trên, nhưng quả thật nếu bằng vào nhận xét của ông về Bình Ngô đại cáo, tôi khẳng định ông không hiểu triệt để về văn bản này, ít nhất là về mặt thể loại. Nếu Liam C. Kelley nắm được thể loại “cáo” là gì, ông sẽ biết về bố cục, phần mở đầu bài “cáo” bao giờ cũng dành (nhằm) nêu lên một tư tưởng chính trị, một quan niệm đạo đức… làm cơ sở biện luận. Theo đó, tư tưởng chính trị của Bình Ngô đại cáo thể hiện ở những câu mở đầu:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một nước văn hiến.

Cõi bờ sông núi đã riêng,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

Song hào kiệt không bao giờ thiếu…” [4]

Có lẽ, không cần phân tích về phần mở đầu này, tự nó đã nói lên tất cả. Tôi trích lại vì muốn khẳng định Liam C. Kelley đã đưa ra một nhận xét “méo mó” về Bình Ngô đại cáo khi coi nó: “không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, mà Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”. Sự “cảnh báo nghiêm khắc” cũng là một thành phần của văn bản, song đó không phải là mục đích, nội dung chủ yếu của Bình Ngô đại cáo. Vả lại, nếu không có một ý thức tự chủ, một “niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc” thì hà cớ gì sau khi giành lại độc lập, vua tôi nhà Lê lại phải quan tâm “cảnh báo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”? Với các sự vật – hiện tượng thuộc về văn hóa tinh thần, khi nghiên cứu, người ta không thể bỏ qua hai vấn đề quan trọng là “tính biểu tượng” và “mã văn hóa”. Hai vấn đề ấy, một khi bị tách ra khỏi văn cảnh thì chỉ còn là những nội dung đã bị tước bỏ sinh khí, bị cắt đứt các mối liên hệ cơ bản quyết định sự ra đời và tồn tại của sự vật – hiện tượng.

Tôi không rõ Liam C. Kelley đã đọc bao nhiêu tác phẩm đủ để ông tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của “dòng chương chống ngoại xâm” trong lịch sử Việt Nam trung đại. Chỉ riêng việc ông đọc và đưa ra nhận xét về Bình Ngô đại cáo cũng giúp tôi hiểu ông đọc không nhiều, không đọc trong tương quan với lịch sử liên tục phải đương đầu với các cuộc xâm lược của phong kiến Trung Hoa. Còn về các câu thơ của những tác giả như Nguyễn Huy Túc ư? Tôi không phủ nhận sự hiện hữu của chúng, song tôi không coi đó là “văn chương chính thống” của cha ông. Vả lại, trước các thử thách cam go trong quá khứ, việc xuất hiện một hai xu hướng “phi chính thống” cũng là chuyện lạc lõng bình thường (điều này có lẽ cần được giải thích từ tư tưởng “trung quân”, từ mặc cảm tự ti và tâm lý nhược tiểu, thậm chí từ thái độ vị kỷ và cơ hội… vốn rất dễ nảy sinh trong cảnh loạn ly?), chỉ cần biết đó không phải là một trong các xu hướng chủ đạo. Những bài thơ như thế không được lưu giữ trong ký ức cộng đồng. Nói cách khác, chúng không đủ sức đẩy tới cái mà Liam C. Kelley gọi là “những tư liệu gây bối rối trong lịch sử”… Khảo sát văn chương thời trung đại ở Việt Nam, người ta không quan tâm đến những câu thơ như của Nguyễn Huy Túc, khảo sát văn hóa, người ta càng bỏ qua, vì đó là nỗi sỉ nhục, là vết nhơ, là sự xúc phạm danh dự cộng đồng.

Cuối cùng, xin bàn về bình luận của Liam C. Kelley sau khi ông kể lại một giai thoại gắn với tên tuổi của Nguyễn Thế Nghi, và trong trường hợp này tôi nghĩ, ông chưa tường minh lắm về những giai thoại mà ở Việt Nam, vẫn được xem như là văn hóa – văn chương dân gian, ông bình luận: “Câu chuyện có vẻ tóm tắt thực chất của cách người Việt nhìn mỗi quan hệ với láng giềng phương bắc. Tuy nhiên, ở đây một lần nữa chúng ta cần xem xét ngữ cảnh ghi chép và bảo quản những câu chuyện như vậy. Câu chuyện này thuộc thể loại “giai thoại”. Giai thoại là những câu chuyện giới tinh hoa ghi lại để giải trí. Chúng có thể vui nhộn. Chúng có thể bí ẩn. Nhưng dù nội dung có thế nào, mục đích là để giải trí… chúng ta cũng cần thận trọng không nên diễn giải việc giải trí như là thực tại”.

Bảo rằng “giai thoại là những câu chuyện giới tinh hoa ghi lại để giải trí. Chúng có thể vui nhộn. Chúng có thể bí ẩn. Nhưng dù nội dung có thế nào, mục đích là để giải trí” thì xem ra Liam C. Kelley chưa nắm bắt được nguồn gốc của giai thoại và rộng hơn là nguồn gốc của văn chương dân gian, chưa nắm bắt được một mục đích quan trọng của giaí thoại là bày tỏ thái độ của dân chúng trước các vấn đề xã hội, và giải trí không phải là mục đích cuối cùng, duy nhất. Các giai thoại có liên quan tới “sứ Tàu” được lưu truyền ở Việt Nam trước hết là sản phẩm văn chương dân gian, chúng có nguồn gốc “lưỡng hợp”, vừa có thể là sản phẩm ra đời từ dân gian, vừa có thể do một (nhiều) người thuộc tầng lớp tinh hoa sáng tạo rồi “dân gian hóa”. Sự thận trọng là cần thiết, song không thể căn cứ vào sự ghi chép các giai thoại của giới tinh hoa để nói rằng giai thoại (kiểu như trong truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn…) chỉ nhằm mục đích giải trí. Sự “ngạo mạn nước lớn” của các triều đại phong kiến Trung Hoa xưa kia đôi khi còn đi theo các vị “sứ Tàu” tới các nước thuộc “tứ di”, sử sách Việt Nam còn ghi lại không ít sự phẫn nộ của quan lại và dân chúng trước thái độ ngông ngạo một số vị “sứ Tàu”. Trong khi triều đình cố gắng nhún nhường để giữ hòa khí, thì giai thoại về “sứ Tàu” chẳng lẽ không phải là sự bày tỏ thái độ căm phẫn bằng cách thức “hài hước hóa” đối tượng bị căm ghét hay sao?

Còn khá nhiều ý kiến của Liam C. Kelley trong “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung” buộc tôi phải suy nghĩ, như với câu hỏi: “cái nơi mà chúng ta giờ đây gọi là Việt Nam đúng hơn đã từng là một vùng của sự giao tiếp văn hóa, một khu vực biên nơi mà việc anh là ai không quan trọng bằng việc anh làm gì?” chẳng hạn. Để kết thúc, xin dẫn lại một ý kiến – như là một sự tri ân, đó là lời GS Trần Quốc Vượng mà tôi đã ghi trong một lần nghe ông giảng bài: “người Việt Nam đã phải học người Trung Hoa hàng nghìn năm để chiến thắng người Trung Hoa, người Việt Nam đã phải học người Pháp hàng trăm năm để chiến thắng người Pháp”, và tôi đồng tình với ý kiến của người thầy đáng kính.
NH – 05.9.2005

© 2005 talawas

—————–

[1]Xem: Hồ Bạch Thảo, “Bằng chứng về việc vua Càn Long thay đổi chính sách, qua hai đạo sắc phong vua Lê Chiêu Thống và Quang Trung”, talawas 23.6.2005

[2]Liam C.Kelley, “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung”, talawas 1.9.2005, chú thích số 26: “Một tóm tắt về hệ thống triều cống có mặt trong quyển China among Equals: The Middle Kingdom and its Neighbors, 10th – 14th Centuries, Morris Rossabi biên tập, (Berkeley: University of California Press, 1983), 1-4”.

[3]Đinh Khắc Thuân, Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2001.

[4]Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 282.

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | Leave a Comment »

556. BẢN CHẤT CỦA LỊCH SỬ

Đăng bởi anhbasam on 22/04/2010

BẢN CHẤT CỦA LỊCH SỬ


Hoàng Lại Giang *

Bản chất của lịch sử là trung thực. Nguyên tắc của lịch sử là tiếp nối và kế thừa. Những điều đơn giản ấy ai cũng biết, nhưng trong thực tế không dễ tìm đúng bản chất của lịch sử và triều đại mới thường có xu hướng phủ nhận triều đại cũ. Không ít người muốn cắt lát lịch sử và tôn vinh chính triều đại mình. Điều này dễ làm cho lịch sử biến dạng và như vậy tính trung thực sẽ bị bóp méo và quan trọng hơn là gây ra hiểm hoạ cho một xã hội muốn phát triển.


Không phải ngẫu nhiên mà trong lịch sử phương Đông người ta hay nhắc đến Tư Mã Thiên và Tam Thái sử nước Tề. Đấy là những nhà sử học không biết sợ quyền lực mà chỉ biết trọng sự thực, không biết sợ cái chết mà chỉ biết sợ mất nhân cách một nhà sử học. Vào thời ấy mà Tư Mã Thiên đã lặn lội khắp nơi trên đất Hán để tìm từng thẻ tre, tích góp lại dựng lên bộ sử để lại cho muôn đời. Thời ấy ngay cả Hán Vũ Đế rất muốn xem Tư Mã Thiên viết gì về mình và triều đại mình, nhưng không cách gì ngoài cách nhờ Đông Phương Sóc. Nhưng Đông Phương Sóc dù rất thân với Tư Mã Thiên, cũng… bất lực. Nói thế để thấy tính độc lập của nhà sử học lúc bấy giờ là thiêng liêng. Tính độc lập của nhà sử học không cho phép nhà cầm quyền can thiệp ở bất cứ mức độ nào, nhằm đảm bảo tính trung thực của lịch sử.

Nhắc người để ngẫm về mình. Cho đến nay vẫn còn không ít tranh luận về thời cận đại và ngay cả hiện đại, một phần chúng ta thiếu những nhà sử học đầy khí tiết như Tư Mã Thiên, như ba anh em nhà thái sử nước Tề. Đặc biệt ở thời hiện đại còn do cơ chế. Cơ chế Đảng lãnh đạo toàn diện theo cách hiểu máy móc không phải không gây khó khăn cho nhiều nhà sử học chúng ta trong việc tiếp cận các sự thật lịch sử. Thậm chí tính độc lập của nhà sử học gần như bị triệt tiêu. Chính từ quan điểm này chúng ta đã vô tình “cắt lát” lịch sử, gần như “quên lãng” triều đại có công lớn nhất trong lịch sử mở nước và dựng nước của Chúa Nguyễn và triều Nguyễn.

Từ năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào Nam bắt đầu một thời kỳ mở cõi cam go và cũng đầy dũng khí của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn. Đứng ở góc độ vĩ mô, chúng ta lớp hậu sinh nên cúi đầu cảm ơn chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã tạo dựng cho chúng ta và các thế hệ nối tiếp một nước Việt Nam hình chữ S kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, giương ngực ra biển đông với trên 3000 cây số bờ biển và bãi biển lý tưởng, lưng dựa vào dải Trường Sơn hùng vĩ, tạo thành một thế giữ đất và nước vững chắc cho mọi thế hệ.


Đấy là sự thật lịch sử và nếu ai chối bỏ nó thì cũng đồng nghĩa với việc bắn vào lịch sử. Dẫu “bắn vào lịch sử bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn trả lại anh bằng đại bác” – Thi hào người Daghectan đã nói như thế. Từ ngày mon men vào lịch sử không hiểu sao câu nói tưởng vu vơ dọa dẫm này luôn ám ảnh tôi khiến tôi nhiều đêm mất ngủ. Một triều đại chỉ trong vòng chưa đầy 2 thế kỷ đã cho chúng ta một đất nước hoàn chỉnh gấp đôi đất nước mà Vua Hùng và các triều đại nối tiếp xây dựng. Vậy mà một thời do duy ý chí, do tả khuynh… chúng ta đã chối bỏ, thậm chí lên án gay gắt!


Bây giờ thì trước tôi là nhà tư tưởng Pháp: Misen Morsten. Ông nhìn thẳng vào tôi và nói: “Dấu hiệu đầu tiên của sự phá vỡ đạo đức xã hội – đó là đánh mất sự thật, bởi vì sự thật mà hiện nay đang được áp dụng trong chúng ta – đó không phải là những gì có trong thực tế mà là những gì chúng ta muốn thuyết phục những người khác”.


Tất nhiên tôi hiểu thời kỳ Chúa Nguyễn và triều Nguyễn là một thời kỳ lịch sử đầy biến động, vô cùng phức tạp. Thế lực nhà Mạc vẫn còn. Những người nhân danh phò Lê không phải không gây áp lực lên xã hội lúc bấy giờ. Và Trịnh Nguyễn phân tranh suốt trên 200 năm đã làm cho sức dân cùng kiệt. Tất cả điều đó tạo tiền đề cho nhiều cuộc nổi dậy của các thế lực khác nhau trong nhân dân, trong đó có cả bọn trộm cướp và những cuộc nổi dậy của nông dân!


Trong những cuộc nổi dậy này, đáng chú ý là cuộc nổi dậy của anh em nhà Tây Sơn. Thực tế, lúc đầu đây không phải là cuộc khởi nghĩa nông dân. Bắt đầu là việc biện Nhạc đánh bạc thua thiệt, thâm quỹ công, rủ hai em chạy lên miền ngược cướp của, sau thì cướp đồn chúa Nguyễn ! Dần dần nhờ chính sách an dân, anh em nhà Tây Sơn thu hút ngày càng nhiều dân chúng. Trong anh em nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự. Ông đọc được trận chiến khi nó chưa diễn ra, và cầm chắc thắng lợi khi nó bắt đầu. Cùng với thiên tài quân sự, Nguyễn Huệ còn là một nhà lãnh đạo biết chiêu hiền đãi sĩ thật lòng, chịu nghe nhiều ý kiến trái ngược nhau mà không quy chụp một ai khác chính kiến. Nhờ vậy hiền tài về với Nguyễn Huệ ngày một đông. Một người khó tính như La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, cuối cùng cũng chịu trở về với Nguyễn Huệ sau trận đại thắng quân Thanh.


Đây cũng là thời kỳ Nguyễn Ánh không còn đất dung thân, phải chạy tá túc bên Xiêm ra các đảo Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Lôn…Trong nỗi đau tận cùng của một người để mất đất đai của tiên vương, Nguyễn Ánh đã nhờ Xiêm rồi nhờ Pháp…Việc nhờ này ở mặt nào đó không phù hợp với truyền thống của dân tộc. Lịch sử đã cho thấy bao nhiêu lần đất nước ta rơi vào tay quân Tàu vì sự nhờ vả này. Chỉ có điều, lịch sử cho thấy chưa một lần Nguyễn Ánh nhờ quân nhà Thanh. Và điều quan trọng là nhân dân Nam Bộ trước sau vẫn tìm cách giúp đỡ, che chở Nguyễn Ánh – Chắc là họ nghĩ về cái ơn mở cõi của các chúa Nguyễn. Nhân dân miền Nam hoàn toàn không đối lập chúa Nguyễn – mà người đại diện là Nguyễn Ánh – và Nguyễn Huệ. Trong lòng họ, Nguyễn Huệ là người anh hùng đã từng đánh tan 5 vạn quân Xiêm, nhưng Nguyễn Ánh là hậu duệ của chúa Nguyễn – những bậc tiền nhân có công xây dựng nên vùng đất miền Nam.

Nhiều lần tôi tự hỏi , tại sao Nguyễn Ánh không cầu viện Tàu? Vua quan các triều đại người Việt thường rất gắn bó với Thiên triều về tư tưởng và luôn coi Thiên triều là sức mạnh cứu hộ khi đất nước bị xâm hại .Việc cầu cứu Thiên triều coi như là hiển nhiên, là tất yếu . Ngay cả Tôn Thất Thuyết khi dẫn Hàm Nghi ra Tân Sở, ra hịch Cần vương …cuối cùng cũng bỏ Hàm Nghi ở Hà Tĩnh, dẫn Trần Xuân Soạn qua Tàu cầu viện, mặc dù ông, hơn ai hết biết tháng năm năm Giáp thân Thiên triều đã ký:’’ Nước Tàu để cho nước Pháp xếp đặt mọi việc ở đất Việt Nam ‘’

Tôi nghĩ , Nguyễn Ánh không thể không suy nghĩ để chọn lựa người giúp mình lấy lại đất đai của tiên đế . Ông không nhờ Tàu vì lịch sử chắc đã cho ông nhiều bài học thấm thía về việc nhờ vả này.


Ông chọn Xiêm, trước hết, đó là nơi đã giúp ông rất nhiều giữa thời hoạn nạn không chốn dung thân. Hai nước có sức mạnh cân bằng . Tôi không rõ những điều khoản gì giữa hai bên trong sự giúp đỡ này. Nhưng giao ước mà ông Bá Đa Lộc ký với đại diện Loui XVI là de Montmoin thì cụ thể Giao ước có 5 điều khoản :
Khoản 1: Pháp giúp Nguyễn Vương 4 tàu chiến cùng trên 1000 quân trong đó có lục quân, pháo binh, hắc binh và một số súng đạn.


Khoản 2: Nguyễn Vương phải nhường cho Pháp cửa Hội An và đảo Côn Lôn.


Một giao ước sòng phẳng.

Nhưng giao ước đã không thành vì có sự dèm pha của bá tước de Conway nên Pháp hoàng đã không thi hành và Bá Đa Lộc phải mộ non 20 người sang giúp Nguyễn Ánh: đúc súng, tập luyện quân sĩ … (như một loại chuyên gia).

Suy cho cùng không có sự giúp đỡ nào vô tư, trong sáng cả – Thời cổ cận đại cũng như thời hiện đại. Một chính trị gia nguời Anh Lord Palmeroton từng nói “Chúng ta không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng như bạn bè muôn đời. Chỉ có quyền lợi là vĩnh viển và muôn đời mà thôi”. Nguyễn Ánh chắc không nhầm. Mọi sự lệ thuộc đều phải trả giá…

Nhớ lại : Thời ấy cuộc chiến đang giữa hồi gay cấn – không thể dừng lại vì thiếu sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc [1949-1950] . Cùng với sự giúp đỡ ấy , chính Chủ tịch Hồ Chí Minh phải làm cuộc cách mạng dân chủ:cải cách ruộng đất , chấn chỉnh tổ chức bằng cách thay hàng loạt trí thức đã từng dấn thân , từng hy sinh vì cách mạng bằng những người thuộc giai cấp công nông…Đấy là điều mà ngay từ những ngày đầu thành lập nước , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cố tránh. Với Hồ Chí Minh độc lập dân tộc là mục đích là ưu tiên số một và việc thành lập cho được một chính phủ gồm những hiền tài , không phân biệt thành phần ,giai cấp lúc bấy giờ là bảo đảm sự tin cậy của nhân dân . Thu phục được nhân tâm là thu phục được sức mạnh truyền thống của dân tộc . Nhờ nó mà nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên , nhờ nó mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi đánh tan quân Minh…Hồ Chí minh nhận thức sâu sắc điều đó và điều đó đã giúp Hồ Chí Minh thành công trong cách mạng tháng tám …Nhưng …trong hoàn cảnh lịch sử ấy cái phi lý đã trở thành cái có lý, chủ nghĩa cộng sản từ phương tiện trên con đường cứu nước lại trở thành mục đích …

Ở góc độ nào đấy ta có thể coi đây là sự chuyển hướng mang tính tình thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoàn toàn không thuộc bản chất tư tưởng của Người. Nhưng đây lại là sự chuyển hướng về đường lối chứ không phải sách lược vì vậy hậu họa của một thứ văn hóa lai căng phi nhân tính đã vượt khỏi tầm kiểm soát của Chủ tịch Hồ Chí Minh .Đất nước từ đây rơi vào tình trạng hỗn loạn về đạo đức khủng hoảng về lý tưởng anh em bất hòa ngày càng gay gắt , sức mạnh đoàn kết không còn nguyên vẹn như ngày đầu thành lập nước nữa !

Đây là một vấn đề nhạy cảm hiện nay . Nhưng đấy mới chính là những vấn đề mà nhà sử học chân chính không có quyền né tránh mà phải dũng cảm vào cuộc để những thế hệ sau đỡ tốn thời gian mò mẫm trong lớp bụi thời gian . Những nhà chính trị bao giờ cũng cần sự ổn định để xây dựng và phát triển xã hội. Nhưng nếu ai đó muốn dung quyền lực để can thiệp vào lịch sử thì họ sẽ bị chính lịch sử lên án ! Trong lịch sử đã từng có tướng quốc nước Tề chém liên tiếp ba nhà sử học nhưng không bẻ cong được ngòi bút của nhà sử học…

Nhìn nhận khách quan không phải là bới móc ,lên án , thóa mạ …mà để cảm thông , để thể tất với cha ông một thời …Dẫu có sai phạm , thì sai phạm ấy cũng cần được đặt trong hoàn cảnh cụ thể để thấu tỏ được tấm lòng ,suy nghĩ của người xưa …

Nước Nhật sau thế chiến thứ 2, đại bại! Vậy mà trước sau nhân dân vẫn tin yêu và tôn thờ Nhật Hoàng. Thái Lan, Campuchia… rồi Bỉ, Anh, Thụy Điển, Na Uy,… nhân dân vẫn tôn thờ nhà vua, tôn thờ nữ hoàng. Tôi có hỏi tiến sĩ Mory người Nhật tại sao như vậy? Vị tiến sĩ ấy trả lời : đất nước chúng tôi là của tiên vương Nhật hoàng. Người Nhật uống nước biết nhớ nguồn. Không ai dám quên công ơn lập quốc của tiền nhân. Kẻ quên ơn lên án cha ông, kẻ ấy không xứng danh người Nhật. Nhiều chính khách, thủ tướng Nhật hàng năm hay đến ngôi đền Yashukuni để thắp hương chính vì tinh thần ấy.

Tôi nghĩ người Việt mình nên suy nghĩ về tinh thần tôn trọng tiền nhân ấy của người Nhật. Trước tiên là dạy cho con cháu: có cha rồi mới có con. Một đất nước biết tôn trọng tổ tiên là một đất nước biết giá trị của văn hóa. “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” ( Hồ Chí Minh nói về văn hóa năm 1942).

Thời phong kiến, đất nước là của vua, thần dân là bề tôi của vua. Vua Chế Mân khi được vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa liền tặng cho ta hai Châu Ô, Lý. “Đó chính là phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói ở trên. Nếu đòi hỏi nhà vua thời phong kiến nhận thức về đất nước, về dân tộc như thời hiện đại là điều phi lịch sử.

Chính sự đòi hỏi phi lịch sử ấy một thời đã dẫn chúng ta rơi vào chủ nghĩa duy ý chí, tả khuynh… Nếu mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật, nói hết sự thật như cố tổng bí thư Trường Chinh đã nói ở Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 thì trong cuộc hội thảo “ Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” cuối năm 2008 là phù hợp với cuộc Cách mạng đổi mới tư duy của Đảng.

Sự thật lịch sử là chúa Nguyễn bằng công việc mở cõi đã nhân đôi đất nước chúng ta.

Sự thật lịch sử là Nguyễn Ánh là người đã thống nhất non song gấm vóc của đất nước ta và đặt tên nước là Việt Nam, lập nên vương triều nhà Nguyễn. Đây là một triều đại dẫu còn nhiều bất cập, nhưng xét về đại thể triều đại ấy đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử. Trước tiên, đó là việc xác định rõ ràng cương vực lãnh thổ nước Việt Nam trên bộ cũng như trên biển. Đến thời Minh Mệnh, lần đầu tiên một bản đồ chi tiết, cụ thể từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau và các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam từ Côn Lôn, Phú Quốc đến quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa…đã được xác lập. Có thể đây là cơ sở quan trọng nhất về mặt pháp lý không ai có thể chối cãi được, đánh tráo được… chủ quyền cương giới trên bộ và trên biển của chúng ta.

Tội mà một số người đời sau qui cho Nguyễn Ánh : “ cõng rắn cắn gà nhà”, “ rước voi giày mã tổ”, có độ lùi thời gian, chúng ta càng rõ đấy là bức xúc mang tính tình thế. Bản chất Nguyễn Ánh là cảnh giác…gần hai mươi “chuyên gia” giúp ông được ông phong tước, hầu, giúp xây dựng gia đình, lương bổng hậu hĩnh, nhưng không có một thực quyền nào ngoài chuyên môn của họ. Và đến khi thống nhất được giang sơn, ông cũng tìm cách đưa họ về nước họ… để giữ nguyên vẹn một quốc gia như ngày nay chúng ta thừa hưởng.

Cũng có người cho chuyến đi sang Pháp của hoàng tử Cảnh tạo cớ cho Tây Dương sau này xâm chiếm nước ta, đặt ách đô hộ gần một trăm năm. Tôi nghĩ, nếu nhìn toàn cục chủ nghĩa tư bản khi phát triển cần thị trường như thế nào… thì ta sẽ thấy cái bi kịch tất yếu của những nước phong kiến, thuần nông như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, và Việt Nam …. Trong trường hợp này, cái phi lý lại trở thành cái có lý (Giáo sư Cao Xuân Huy đã phân tích vấn đề nay rất rõ ràng trong “Tư tưởng Phương Đông”).

Điều quan trọng là hôm nay chúng ta có trách nhiệm giữ cho được cương vực lãnh thổ trên bộ và trên biển như những gì mà vua Gia Long, đặc biệt là vua Minh Mệnh đã để lại trên tấm bản đồ hoàn hảo nhất cho đến nay.

Cùng với một đất nước hoàn chỉnh trên, vương triều Nguyễn cũng để lại cho hậu thế những công trình đáng được hậu thế tôn vinh hơn là phỉ bán, hạch tội. Đó là chế độ học hành, thi cử để chọn hiền tài, đến việc đào kênh, rạch, xây dựng đền thờ, lăng tẩm … những công trình mà hôm nay được Unessco công nhận là di tích vật thể và phi vật thể Cung đình Huế. Tất nhiên tấm huân chương mà còn có hai mặt huống hồ những công trình đồ sộ như vậy vào thời đại công nghiệp coi như bằng không. Nhưng… người Ai Cập vẫn tự hào về Kim Tự Tháp, người Chân Lạp vẫn tự hào về Ăngco, người Tàu tự hào về Vạn Lý Trường Thành, về lăng mộ Tần Thủy Hoàng…. Có bao nhiêu triệu người ngã xuống cho niềm tự hào này ? Tôi chưa nghe dân tộc nào phỉ báng, lên án cha ông họ như một số người trong chúng ta …hôm nay ! Tôi lại nghĩ về người Nhật và cái câu của tiến sĩ Mory: uống nước nhớ nguồn là tư tưởng nhân nghĩa, là đạo lý của người Nhật.

Tất nhiên lịch sử không thể phủ nhận đóng góp lớn lao của Nguyễn Huệ và hoàng đế Quang Trung đã tạo tiền đề cho công cuộc thống nhất của Nguyễn Ánh(có thể khẳng định rằng nếu không có Nguyễn Huệ – hoàng đế Quang Trung tạo tiền đề thì Nguyễn Ánh không dễ thống nhất được giang sơn như trong thực tế).

Tính kế thừa của lịch sử chính là chỗ nhận thức lịch sử theo quan điểm biện chứng: trung thực và khách quan. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì không còn là lịch sử nữa.

Khi mà chiến tranh đã qua trên ba mươi năm và công cuộc đổi mới đã qua hai mươi năm, một cách nhìn nhận và đánh giá lịch sử thời cận đại như nó vốn có: đó chính là bản chất của lịch sử mà các nhà sử học luôn tự nhắc nhở mình phải cảnh giác với tính chủ quan, duy ý chí của con người ở mọi thời đại.

* Bài viết được đăng trong tạp chí Xưa & Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 353, tháng 4-2010. Bản đăng ở đây là đầy đủ (những chữ tô đỏ sẫm được Xưa&Nay biên tập cắt bỏ).

Đăng trong Lịch sử | 14 phản hồi »

548. KHỞI NGHĨA LÁNG THÉ NĂM 1872-NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN NGHI

Đăng bởi anhbasam on 17/04/2010

KHỞI NGHĨA LÁNG THÉ (VŨNG LIÊM-VĨNH LONG)

NĂM 1872 – NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN NGHI


Đinh Kim Phúc

I. VỀ ĐỊA DANH “VŨNG LIÊM”:

Khi giải thích về địa danh Vũng Liêm (thuộc tỉnh Vĩnh Long) tác giả Hồ Tĩnh Tâm đã viết: “Vũng Liêm gốc là Vũng Linh, hẳn ngài đại tá thực dân hiểu hơn ai hết về điều đó. Sau cái chết của ngài quan năm dưới tay Đốc binh Cẩn, Chánh quyền Pháp ở địa phương đã xua quân xuống khu vực Cầu Đá để trả thù. Hàng trăm người dân vô tội đã bị khủng bố trắng bằng súng đạn. Phụ nữ bị hãm hiếp. Trẻ sơ sinh bị bỏ vào cối mà giã. Xác người bị vùi xuống vũng nước lớn. Oan hồn của muôn dân đêm đêm nổi lên than khóc, nên người đời mới gọi là Vũng Linh; về sau đọc trại đi thành Vũng Liêm như bây giờ”.(1)

Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp gắn liền với địa danh Vũng Linh mà Hồ Tĩnh Tâm đề cập đến đó là cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Quận Vũng Liêm (Vĩnh Long) mà các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương gọi là “Cuộc khởi nghĩa Cầu Vông” và Lê Cẩn, Nguyễn Giao được xem là linh hồn của cuộc khởi nghĩa này.

Trong khi truy tìm những tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu những vấn đề còn tồn nghi trong cuộc khởi nghĩa Láng Thé năm 1872, chúng tôi thấy trong rất nhiều tài liệu hiện hành, địa danh “Vũng Liêm” có quan hệ mật thiết với cuộc khởi nghĩa này.

Trên trang mạng của tỉnh Vĩnh Long(2), trong phần lịch sử hình thành vùng đất này đã viết: “Vùng đất Vũng Liêm ngày nay, cách đây hơn 270 năm là vùng đất mới, nằm trong tổng thể của thời kỳ khai hoang mở đất lập Dinh Long Hồ của chúa Nguyễn (1732). Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử có nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi: Vĩnh Trị (1732), Vũng Linh (1872), Vũng Liêm (1930)”…

Bên cạnh đó một tài liệu khác cũng lặp lại tương tự(3): “Vùng đất Vũng Liêm ngày nay, cách đây hơn 270 năm là vùng đất mới, nằm trong tổng thể của thời kỳ khai hoang mở đất lập Dinh Long Hồ của chúa Nguyễn (1732). Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử có nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi: Vĩnh Trị (1732), Vũng Linh (1872), Vũng Liêm (1930). Trước giải phóng, Vũng Liêm có thời kỳ thuộc tỉnh Trà Vinh (1958 – 1971), từ năm 1972 – 1975 thuộc tỉnh Vĩnh Long. Sau giải phóng năm 1976 sáp nhập 02 tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Cửu Long. Đến tháng 5/1992 chia tách tỉnh Cửu Long thành 02 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long đến nay”.

Về khía cạnh văn chương, trong bài “Tìm hiểu non sông -đất nước -dân tộc Việt Nam ..qua thi ca”(4), chúng ta hãy nghe:

“Quận Vũng Liêm hình dung lịch sử
Hai anh hùng Lê Cẩn Nguyễn Giao
Giết tham biện quan trào Pháp thuộc
Lấp vũng sâu xưng tụng Vũng Linh
Người đọc trại Vũng Liêm thành ngữ
Tiếng Vũng Linh hùng khí vẫn hiên ngang”…

Trong lĩnh vực báo chí, bài “Theo lời di nguyện” của Báo Thương mại điện tử(5) thì cho rằng “Còn hồ “Vũng Linh” thì được coi là xuất xứ của tên gọi Vũng Liêm”.

Trong công trình nghiên cứu “Truyền thuyết dân gian về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ (1858 – 1918)”(6), tác giả Võ Phúc Châu đã khẳng định: “Sang 1872, ‘nhóm nghĩa quân vùng Cầu Vông (Vĩnh Long) nổi lên kháng Pháp. Lãnh tụ kháng chiến là đốc binh Lê Cẩn và Nguyễn Giao’… ‘Thời gian trôi đi, đời sau tìm cách nói trại đi tên đất, như để xóa nhòa dần những ký ức bi thương. Rạch Hai Nàng, theo đó, đã thành rạch Nàng Hai , Vũng Linh oan khốc đã thành Vũng Liêm lặng lẽ, hiền hòa,…”.

Đọc Quốc sử quán Triều Nguyễn, Quốc triều chánh biên toát yếu(7) đoạn từ năm Nhâm Thân thứ XXV(1872) đến năm Ất Hợi thứ XXVIII(1875) chúng tôi  không thấy có một chi tiết nào liên quan đến Vĩnh Long và cho đến hôm nay chúng tôi cũng không thấy có một tài liệu nào của Triều đình Nhà Nguyễn cũng như của chính quyền thực dân Pháp gọi đơn vị hành chính tại khu vực Vũng Liêm ngày nay là Vũng Linh.

Nhìn chung trong tất cả các tài liệu tiếp cận được, chúng tôi thấy rằng các tác giả của những tài liệu kể trên có khả năng chỉ tham khảo từ một nguồn tài liệu duy nhất đó là tác phẩm “Vĩnh Long xưa và nay” của Huỳnh Minh(8).

Nhắc đến nhà biên khảo Huỳnh Minh(9), đầu tiên chúng tôi phải khâm phục cho sự đóng góp của ông trong việc giới thiệu về đất nước và con người của mỗi địa phương mà ông đã đi qua nhất là những giá trị nhân văn mà ông gửi gắm qua từng trang viết (trong điều kiện nhân dân miền Nam đang sống trong vùng tạm chiếm), nhưng chúng tôi cũng phát hiện trong các công trình biên khảo của ông có nhiều sai sót cơ bản(10) cần phải đính chính.

Trở lại địa danh “Vũng Liêm” mà chúng tôi muốn làm sáng tỏ. Như chúng ta đã biết trong vấn đề địa danh “quan trọng nhất là giải thích nguồn gốc, ý nghĩa ban đầu và những biến đổi của địa danh, vì đây là nhiệm vụ chủ yếu của ngành địa danh học. Việc xác minh nguồn gốc và ý nghĩa nguyên thủy của mỗi địa danh không kém phức tạp. Địa danh là những tấm bia lịch sử-văn hóa bằng ngôn ngữ mà đa số đối tượng ban đầu của nó (con người, cây cỏ, cầm thú, địa hình, biến cố…) không còn nữa mà sách vỡ trước đây ít khi ghi lại. Mặt khác, địa danh luôn bị tác động bởi quy luật biến đổi ngữ âm nên nó không còn mang dạng ngữ âm ban đầu. Hơn nữa, nó lại bị hệ thống âm vị của phương ngữ chi phối nên bị sai lệch. Đó là chưa kể đến các nguyên nhân ghi chép không chính xác, in ấn sai lạc…”(11). Không ít người đã phạm phải sai lầm khi căn cứ vào hình thức ngữ âm và chính tả hiện tại để suy đoán ý nghĩa ban đầu của địa danh. Cách giải thích Vũng Liêm là do từ Vũng Linh (vũng nước linh thiêng) đọc trại mà ra là những thí dụ sinh động của sự vi phạm nguyên tắc trên.

Chính vì vậy mà chúng tôi rất cẩn trọng trong việc truy gốc địa danh này.

Đọc lại bộ sử của Triều Nguyễn, “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ(12), chúng tôi phát hiện bộ sách có ghi chép rằng:

“ VĨNH LONG

Minh Mạng năm thứ 9, chuẩn y lời tâu cho đầm Hải Đông ở trấn ấy, tiền thuế cả năm 790 quan.

Năm thứ 10, chuẩn y lời tâu cho các phủ Lạc Hóa, Vĩnh Bình thuộc trấn ấy, về tiền thuế cả năm cấp dôi ra cọng 21 sở, tiền là 3.063 quan, tự nay về sau cho miễn trừ tất cả.

Năm thứ 11, chuẩn y lời tâu cho chi nhánh song Hải Đông ở trấn ấy từ cửa biển Ba Lầy đến những chỗ có nghề đánh cá như: Mỹ Mịch, Ba Thắc, Nội Giang, Ngoại Hải, Trúc Quỳ, Khẩn Để, Phao Võng, đều quy vào 1 sở tiền thuế là 790 quan; về Trà Vinh, Mân Thiết, Tà Ngoa, Tà Công, Tà Mông đều quy vào 1 sở tiền thuế 561 quan; lạch Gỗ Dầm Cần Thơ thong sang đến Giáp Nặc, từ Phiếm đến Mễ gồm 2 bên các sở tiền thuế 35 quan; lạch Mục Phát Trà Vinh tiền thuế 390 quan, sở Lang Thiết gồm các bào xác xảo 360 quan; về lạch cá từ Cổ Trinh thong sang Cái Hồng, gò An, Vịnh Liêm, Lãng The [chúng tôi nhấn mạnh], và Cổ Chọn, cái Bãi, cái Tiêu, Thị Luận, cái Thảm, cái Lãng và cái Chác, quy về 1 sở tiền là 209 quan; lạch cái Cá ở Mỹ Long Bàng Côn 20 quan; lạch Ba Tri thuộc Mỹ Long 35 quan…”

Hai địa danh “Vịnh Liêm” và “Lãng The” đã xuất hiện trong sử sách Triều Nguyễn muộn nhất là vào năm 1829 (Năm Minh Mạng thứ 10).

Một tư liệu không kém phần quan trong về địa danh “Vũng Liêm” là trong An Nam Đại quốc họa đồ [ABULA GEOGRAPHICA EMPERII ANAMITICI (1838)](13), ở khu vực được ghi chú là Vịnh Thanh Trấn, địa danh Vũng Lim đã xuất hiện rất rõ.(Xem hình 1, 2,)

(Hình 1)

(Hình 2)

Nhưng quan trọng hơn hết là trong tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức(14), lần đầu tiên chúng tôi thấy địa danh “Vũng Lim” xuất hiệt một cách trọn vẹn:

“[60a] Sông An Phú (tên thôn, tục danh là Vũng Lim), rộng 18 tầm, sâu 8 tầm, ở bờ tây song lớn Long Hồ, về tây bắc 2 dặm thì có chợ nhỏ; 36 dặm đến ngã ba Khu Ân, hợp dòng với song Kiên Thắng, dân Kinh dân Di ở lẫn lộn, chuyên nghề làm ruộng, phát cỏ gieo mạ, đắp đập bắt cá, dung sức ít mà được lợi nhiều, theo bóng mặt trời mà làm mà nghỉ, không hay lêu lổng”(15). (Xem hình 3)

(Hình 3)

II. NHÂN VẬT LÃNH ĐẠO CUỘC KHỞI NGHĨA NĂM 1872 TẠI VŨNG LIÊM

Về hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao, trên trang mạng của tỉnh Vĩnh Long (16) chúng tôi thấy đã được ghi nhận bởi các chi tiết sau đây:

a. “Ông Lê Cẩn – chưa rõ quê quán – nguyên là một võ quan của triều đình Huế, làm đến chức Đề đốc. Khi nói về ông, sử sách thường ghi là Đốc binh Lê Cẩn”, “Cho đến lúc này chưa ai tìm được một cứ liệu lịch sử nào nói về năm sinh, quê quán, cuộc đời của người anh hùng nghĩa quân Nguyễn Giao. Thế nhưng, đã hơn trăm năm nay tên họ của ông gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Đốc binh Lê Cẩn, gắn liền với trận chiến Cầu Vông ở Vũng Liêm vào năm 1872”.

b. “Hiệp ước Patenôtre ký năm 1862 giữa triều đình Huế và thực dân Pháp thực chất là một hàng ước nhục nhã, đã gây công phẫn cao độ trong giới sĩ phu yêu nước và nhân dân 3 tỉnh miền Đông (bị dâng cho Pháp) và Nam bộ nói chung”.

c. “Theo tài liệu cũ thì mặc dù Tôn Thọ Tường đã lưu ý can ngăn nhưng Bồi Xê (tên tục của Salicetty) vẫn chủ quan, nghênh ngang đến Cầu Vông để nhận sự ‘đầu hàng’ của Lê Cẩn”…

d. “Để dập tắt phong trào này, thực dân Pháp phải huy động một lực lượng đông đảo từ nhiều nơi kéo về, kể cả lực lượng của Đốc phủ Cái Bè Trần Bá Lộc, Đội Tấn (theo Monographie de la provine Vĩnh Long et Trà Vinh). Chúng rất am tường đường đi nước bước và đặc biệt rất tàn ác dã man. Chúng mở cuộc tấn công vào nghĩa quân ở đồng Láng Thé”.

Tất cả những chi tiết trên đều phù hợp với nội dung về cuộc khởi nghĩa này trong tác phẩm “Vĩnh Long xưa và nay” của Huỳnh Minh.

Đến đây, chúng tôi xin mạn phép trao đổi cùng với các tác giả biên soạn phần lịch sử trên trang mạng của tỉnh Vĩnh Long:

- Ở chi tiết (a), đoạn viết “Khi nói về ông, sử sách thường ghi là Đốc binh Lê Cẩn”. Vậy sử sách thường ghi là quyển sử nào? Sách gì? Hiện nay đang được lưu trử tại đâu?

- Còn đoạn nói về Hiệp ước Patenôtre ở chi tiết (b) thì hoàn toàn sai, bởi vì Hòa ước Patenôtre, còn gọi là Hòa ước Giáp Thân, là hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp vào ngày 6 tháng 6 năm 1884. Gồm có 19 điều khoản. Đại diện các phía: nhà Nguyễn: Nguyễn Văn Tường, Phạm Thuận Duật; phía Pháp: Patenôtre (đại sứ của Pháp). Đây là một trong các hòa ước công nhận sự đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn trước sự xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam [Thực ra, nhà Nguyễn đã phải công nhận sự bảo hộ của Pháp từ trước đó với Hiệp ước Harmand (Hòa ước Quý Mùi) năm 1883. Tuy nhiên, những điều khoản trong hiệp ước Harmand quá nặng nề nên đã gây ra sự phản ứng mạnh mẽ từ các vua quan trong triều và nhân dân cả nước. Vì thế, Hiệp ước Patenôtre ra đời có tác dụng xoa dịu sự phản đối của dư luận và vua quan nhà Nguyễn. Theo hòa ước này, Thực dân Pháp sẽ trả lại phần đất từ Ninh Bình (thuộc Bắc Kỳ) trở vào đến Hà Tĩnh ở phía Bắc, và tỉnh Bình Thuận ở phía Nam cho nhà Nguyễn. Ngoài ra về căn bản Hòa ước Patenôtre không có gì khác biệt so với Hiệp ước Harmand đã ký trước đó].

- Ở chi tiết (c), đoạn viết “Theo tài liệu cũ thì mặc dù Tôn Thọ Tường đã lưu ý can ngăn nhưng Bồi Xê…”. Thế thì theo tài liệu cũ là tài liệu nào?

- Trong chi tiết (d), chúng tôi không thấy tác phẩm nào có tên “Monographie de la provine[viết sai chính tả] Vĩnh Long et Trà Vinh” mà chỉ có tác phẩm “Monographie de la province de Vinh Long”(17). (Xem hình 4)

(Hình 4)

Chính vì những nghi vấn trên, chúng tôi tìm đọc các tài liệu khác như cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1873), Sơn Nam đã viết: “Chúng ước lượng lực lượng nghĩa quân chừng 400 hoặc 500 và than phiền là không thắng trận hoàn toàn. Nghĩa quân chạy thoát quá nhiều vì cánh quân tiếp viện của tỉnh Châu Đốc không chịu tới kịp thời. Một chi tiết đáng chú ý là phó quản Hiếm và bọn mã tà của y bắt thêm được 13 nghĩa quân: tất cả những người này đều là dân từ Bến Tre, từ Trà Vinh đến hưởng ứng chánh nghĩa của ông Trần Văn Thành.

Bọn pháp còn tịch thâu một số giấy tờ, xác phận rằng ông có liên lạc với nhiều tỉnh ở Nam Kỳ để khởi nghĩa, ông đã từng ở Rạch Giá (vụ Nguyễn Trung Trực) và ở Vũng Liêm (có lẽ vụ giết chết tên chủ tỉnh Salicetti)[Chúng tôi nhấn mạnh].(18)

Đọc lại các sách lịch sử đã xuất bản cách nay hơn 50 năm như Nam Bộ chiến sử(19), trong phần phụ lục, mục Việt Nam cách mạng sử đồ, Thời kỳ thứ nhất (1859-1884),trang III, tác giả đã trình bày:

Phong trào cách mạng Đảng phái thủ lãnh Khẩu hiệu chủ trương Chú thích
1872-Khởi nghĩa Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ, Bến Tre Dân chúng Tham biện Saliceti bị giết tại Vũng Liêm

Trong Việt Nam tranh đấu sử, thời gian 1871-1872, tác giả đã viết: “Khắp miền Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, quân Cần vương nổi dậy tứ tung.(20)

Cũng như lịch sử địa phương Vĩnh Long đã ghi nhận: “(Ngay thời Pháp thống trị chúng đã cho xây một trụ đá hàm ý ghi nhớ “công lao” của Salicetty và bè lũ !). Ngày nay, cũng tại đây nhân dân Vũng Liêm đã xây một bia tưởng niệm để luôn luôn tưởng nhớ tấm gương anh dũng bất khuất của các nghĩa sĩ Cầu Vông. Ở ấp Đầu Giồng xã Bình Phú, huyện Càng Long vào ngày mồng 3 tết âm lịch hàng năm có ngày giỗ hội. Đó cũng là biểu hiện sự tưởng nhớ các nghĩa sĩ vì nước bỏ mình. Tương truyền khoảng 200 người bị giặc đưa về đây hành hạ, giết chết và vùi xác nơi đây”.(21)

Đến đây, kết luận thứ nhất mà chúng tôi đưa ra là cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long là một sự thật lịch sử, nhưng thật sự có phải Lê Cẩn, Nguyễn Giao là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tại Vũng Liêm năm 1872 hay không?

Chúng tôi thấy rằng trong số 33 “Con người và Danh nhân tỉnh Vĩnh Long” tên nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao được nhiều lần nhắc đến như là lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa, nhưng trên trang mạng của tỉnh Tiền Giang, trong mục Địa chí Tiền Giang / Chương ba: Quân dân Định Tường chống thực dân Pháp xâm lược (1859 – 1894), ở phần trình bày về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân lần thứ ba (1872-1878), chúng tôi thấy: “Một năm sau ngày “Tứ Kiệt” hy sinh, năm 1872 ở Tiền Giang lại bùng lên một cuộc khởi nghĩa mới do Nguyễn Hữu Huân và Âu Dương Lân lãnh đạo. Từ căn cứ Bình Cách (Chợ Gạo), cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan ra ở khắp vùng Mỹ Tho, Tân An và Chợ Lớn. Bấy giờ Nguyễn Hữu Huân bị đày ở Cayenne vừa được tha về giam lỏng với tư cách là người dạy học ở nhà Tô Đốc Phủ (Chợ Lớn). Thỉnh thoảng ông được về thăm gia đình rồi bí mật quan hệ với Âu Dương Lân, tổ chức cuộc khởi nghĩa.

Nhiều thủ lĩnh nghĩa quân ở các địa phương khác đã tích cực tham gia như Nguyễn Văn Chất ở Vĩnh Long [chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành, Lâm Lễ ở Cần Thơ, Long Xuyên. Đặc biệt, lần khởi nghĩa này Nguyễn Hữu Huân đã thu hút sự tham gia của hàng trăm hương chức, hội tề của mấy chục làng trong huyện Kiến Hưng và huyện Kiến Hòa của phủ Kiến An, nơi trước đây ông làm Giáo thọ. Nghĩa quân hoạt động mạnh mẽ trong suốt hai năm, đến giữa năm 1874 do thiếu thốn vũ khí, lương thực, nên lực lượng suy yếu dần”.(22)

Ở một tài liệu khác, tác giả Tâm Nghĩa khi viết về Âu Dương Lân:

“Âu Dương Lân quê ở Tiền Giang, là con của cụ cử nhân Âu Dương Xuân(từng đỗ cử nhân hạng 9 khoa năm 1842). Theo truyền thống của gia đình Ông miệt mài cố gắng học tập, khoa thi năm 1858 ông đỗ cử nhân hạng 5, sau đó ông được cử ra làm quan và làm đến chức tri huyện(Tri huyện Kiến Xương), .

Khi giặc Pháp xâm chiếm Nam bộ, với tinh thần yêu nước của kẻ sĩ, với lòng căm thù giặc sâu sắc, ông đã sớm đứng trong hàng ngũ của những người kháng chiến. Với chức trách của một quan tri huyện giàu lòng yêu nước thương dân, ông đã tổ chức và phối hợp với những lãnh tụ nổi tiếng kháng Pháp lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Chất [chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành, Phạm Văn Đổng nổi dậy khởi nghĩa đánh Pháp ở Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên

Năm 1872, dân chúng các vùng lân cận tham gia khởi nghĩa ngày càng đông, các cuộc kháng chiến, phá đồn bốt giặc khắp vùng Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long… Nhưng phong trào khởi nghĩa của Âu Dương Lân thực sự lớn mạnh và gây tiếng vang lớn sau khi kết hợp được với Nguyễn Hưu Huân vừa được Pháp thả về”…(23)

Thạc sĩ Huỳnh Đức Thiện trong giáo trình viết về Phong trào kháng Pháp của nhân dân Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, có đoạn trình bày: “Năm 1872, Nguyễn Hữu Huân bỏ trốn trở về vùng Mỹ Tho, Tân An, cùng Âu Dương Lân và nhiều người khác, lại khởi binh. Từ đây, phong trào chống Pháp do Nguyễn Hữu Huân đứng đầu lan khắp vùng Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn. Nhiều thủ lĩnh địa phương như Nguyễn Văn Chất (ở Vĩnh Long)[chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành, Phạm Văn Đồng, Lâm Lễ… (ở Cần Thơ, Long Xuyên) đều quy tụ về với nghĩa quân. Một hệ thống kháng chiến được xây dựng tận nhiều thôn xã, nhất là trên địa bàn Mỹ Tho, Tân An.


Nhưng từ giữa năm1874, lực lượng nghĩa quân suy yếu do thiếu khí giới, thuốc đạn. Cuối năm đó, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn, được các tên bán nước Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương hỗ trợ, từ nhiều hướng tấn công căn cứ Bình Cách. Nghĩa quân tan vỡ, Nguyễn Hữu Huân thoát được về Chợ Gạo.


Những tháng đầu năm 1875, Nguyễn Hữu Huân có trở lại vùng Tân An, quyên góp tiền bạc, hy vọng nhóm lại lực lượng. Nhưng lúc này thực dân Pháp và tay sai đã bao vây lùng bắt hầu hết các tướng lĩnh cuộc khởi nghĩa. Cuối cùng Nguyễn Hữu Huân cũng không thoát khỏi tay giặc. Sau khi đưa ông lên Sài Gòn, địch giải ông trở về Mỹ Tho, xử tử ở chợ Bến Tranh ngày 19.5.1875”.(24)

Trên Báo Bình Dương, khi viết về “Nguyễn Hữu Huân: Tấm gương sáng về tinh thần yêu nước” đã có một chi tiết đáng chú ý: “Năm 1872, được tin Nguyễn Văn Chắt [Chất?-chúng tôi nhấn mạnh], Lê Công Thành và Âu Dương Lân nổi dậy khởi nghĩa đánh Pháp ở Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Nguyễn Hữu Huân lập tức bỏ về Tân An, Mỹ Tho để cùng tham gia khởi nghĩa…”.(25)

Vậy ông Nguyễn Văn Chất là ai? Là thủ lĩnh nghĩa quân của cuộc khởi nghĩa nào ở Vĩnh Long mà nhiều tài liệu lại nhắc đến?

Đọc lại Monographie de la provinece de Vinh Long(26), về sự kiện năm 1872 chúng tôi thấy được khá nhiều chi tiết như sau: “Một vài năm sau, vào năm 1872, được sự xúi giục của một số quan lại ở Huế, vốn chỉ thuần phục chính quyền Pháp ngoài mặt, nhiều băng nhóm vũ trang đã rãi khắp Trà Vinh, đặc biệt là những vùng xung quanh chợ lớn Vũng Liêm, chúng đụng đâu cướp đó trên đường. Thanh tra Salicetti-đại úy thuộc lực lượng thủy quân lục chiến-đã khinh suất kinh lý thanh tra vùng này với chỉ một vài lính cận vệ nên đã bị một nhóm phiến quân tập kích và hạ sát. Đốc phủ Cai-bè [Cái Bè] là ông Tran-Ba-Loc [Trần Bá Lộc], nổi danh bởi sự sáng trí, và sự tận trung dũng cảm của ông đối với sự nghiệp của chúng ta, có nhiệm vụ trừng phạt những kẻ sát nhân. Bằng một cuộc hành quân chớp nhoáng ông đã tập kích chúng ở cánh đồng Long-Thê [Láng Thé] và buộc chúng tháo chạy sau một trận giao tranh đẫm máu ròng rã một ngày trời. Cuộc bố ráp thật khủng khiếp. Thi thể của viên sĩ quan bất hạnh được tìm thấy trong bụi cây bị phanh thây đáng sợ: đầu lìa khỏi cổ; chiếc mũ kêpi với lon đại úy bằng kim tuyến bị bêu trên một chiếc cọc cắm giữa đồng. Các phần thi thể đáng thương còn lại được Đốc Lộc thành kính cho gom nhặt lại và đưa về Vĩnh Long mai táng”.

Đây là một sử liệu đáng tin cậy vì nó được viết bởi chính người Pháp vào đầu thế kỷ XX (muộn nhất là năm 1911), nhưng chúng tôi cũng không thấy xuất hiện trong tác phẩm này tên nhân vật nào là Lê Cẩn, Nguyễn Giao.

May mắn thay, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phát hiện trong “Phụ trương của Báo Cứu Quốc”, số Xuân năm 1947 và nhất là trong tác phẩm nổi tiếng của Giáo sư Trần Văn Giàu,“Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám” (26) đã viết: “Năm 1875 (27), nhân dân tỉnh Vĩnh long, quận Vũng liêm, vùng Láng thé, nổi dậy dưới quyền chỉ huy của cụ Nguyễn Văn Chất 60 tuổi, giết chết một số quan quân Pháp”.

Nếu như trong Nam bộ chiến sử không nêu được tính chất của cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vĩnh Long và trong Việt Nam tranh đấu sử tác giả đã nhằm lẫn khi cho rằng các cuộc khởi nghĩa ở miền Tây Nam bộ trong thời gian này mang tính chất Cần Vương, thì tác giả Trần Văn Giàu đã trình bày tính chất của cuộc khởi nghĩa này một cách có cơ sở khoa học: “ Cuộc khởi nghĩa này có quan hệ với một cuộc vận động tôn giáo gọi là “Đạo Lành”. Ngay khi mới xuất hiện, Đạo Lành đã được Pháp nhận định rằng nó không phải là một tôn giáo đơn thuần mà là một tổ chức dân tộc dưới hình thức tôn giáo cho nên chúng gọi đó là thứ “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo”. Đạo Lành phát triển rất nhanh. Pháp theo dõi rất kỹ và nghị định 22-8-1874 của chính quyền thực dân buộc Đạo Lành phải giải tán. Đạo Lành bị khủng bố bèn chuyển thành “Đạo Phật đường”, “Đạo Minh sư” và tiếp tục truyền bá cái mà Pháp gọi là “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo”.(28)

Sự lý giải của Trần Văn Giàu phù hợp với nhận định của Sơn Nam khi trình bày về cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (29) : “Tháng sau, ngày 22-4[?]-1873, một nghị định được ban hành do đô đốc Dupré nghiêm cấm không cho dân chúng được theo đạo Lành vì đạo này xúi giục dân đi lạc khỏi đường ngay nẻo chánh. Nghị định nói trên cũng cho biết còn nhiều người đi truyền giảng đạo này ở toàn Nam Kỳ, hàng giáo phẩm của đạo cũng như tín đồ sẽ bị phạt theo luật đàng cựu, xem như là gian đạo sĩ, phiến loạn”.

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nhắc lại ý kiến của Giáo sư Phan Huy Lê trong bài “Sự thật về hình tượng Lê Văn Tám”(31):

“Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Dĩ nhiên, với trách nhiệm công dân, có những sự thật trong một bối cảnh cụ thể nào đó liên quan đến bí mật quốc gia hay ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của dân tộc, nhà sử học chưa được công bố.

Về nguyên lý, mọi kết quả nghiên cứu sử học càng khách quan và trung thực, càng có tác dụng tích cực xây dựng nhận thức lịch sử  đúng đắn và không có gì mâu thuẫn với các biểu tượng lịch sử, các tượng đài yêu nước có giá trị được nhân dân tôn vinh…

Đó không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật, nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hi sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng. Trả lại nguồn gốc thật của biểu tượng này là để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám…

Tôi nghĩ rằng tất cả các đường phố, trường học, công viên… mang tên Lê Văn Tám vẫn để nguyên, vẫn được tôn trọng như một biểu tượng với nội dung giải thích đúng sự thật và ngăn chặn mọi ý đồ dựng lên lý lịch Lê Văn Tám như một nhân vật có thật rồi có người lại nhận là hậu duệ của nhân vật này”.

KẾT LUẬN:

  1. 1. Địa danh “Vũng Lim” đã xuất hiện trong thư tịch có liên quan đến lịch sử Việt Nam thế kỷ thứ XIX muộn nhất là vào năm 1838, có nghĩa là nó đã có trước địa danh “Vũng Linh” 34 năm. Còn nếu căn cứ vào tác phẩm Gia Định thành thông chí, thì địa danh “Vũng Lim” đã xuất hiện trước địa danh “Vũng Linh” 52 năm. Chính vì vậy địa danh “Vũng Liêm” không phải do địa danh “Vũng Linh” đọc trại mà ra.
  2. Cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long là một sự thật lịch sử và cuộc khởi nghĩa này là một phong trào yêu nước mang hình thức tôn giáo.
  3. Về hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao gắn liền với cuộc khởi nghĩa năm 1872 được trình bày bởi các tài liệu lịch sử địa phương ở Vĩnh Long từ sau năm 1975 là xuất phát từ tài liệu duy nhất “Vĩnh Long xưa và nay” của Huỳnh Minh từ năm 1967. Cho đến nay chúng tôi thấy rằng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1967 không có một tài liệu lịch sử nào khi nhắc đến cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vĩnh Long mà có tên hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao.
  4. Căn cứ vào các nguồn sử liệu và nhất là tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Giàu, chúng tôi thấy rằng tên nhân vật Nguyễn Văn Chất trong cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vĩnh Long xuất hiện trước tên hai nhân vật Lê Cẩn, Nguyễn Giao ít nhất là 20 năm và được nhiều tài liệu lịch sử nhắc đến. Điều này bước đầu có thể đặt ra giả thiết: Cụ Nguyễn Văn Chất, 60 tuổi chính là thủ lĩnh chỉ huy cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long. Thủ lĩnh Nguyễn Văn Chất không hy sinh trong trận đánh Cầu Vông, mà vẫn tiếp tục kháng Pháp dưới ngọn cờ của Thủ khoa Huân sau năm 1872.

KIẾN NGHỊ:

Để góp phần làm sáng tỏ tính chất và người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm 1872 tại Vũng Liêm, Vĩnh Long, chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng của tỉnh Vĩnh Long sớm tổ chức các cuộc hội thảo khoa học về chủ đề này để giải mã những tồn nghi mà chúng tôi đặt ra.


CHÚ THÍCH:

(1) Nguồn: http://hotinhtam.vnweblogs.com/post/1022/71909

(2) Nguồn: http://vinhlong.gov.vn/tabid/223/Default.aspx

(3) Nguồn: http://www.admin.vn/xem-danh-ba-tuyen-pho/ubnd_huyen_vung_liem_tinh_vinh_long-2464/

(4) Nguồn: http://bao-loc.us/diendan/showthread.php?t=417

(5) Nguồn: http://www.baothuongmai.com.vn/Details/phong-su/theo-loi-di-nguyen/32/0/15576.star

(6) Nguồn:http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?

TPID=8408&LOAIID=24&TGID=629

(7) Quốc sử quán Triều Nguyễn, Quốc triều chánh biên toát yếu, Chủ biên: Cao Xuân Dục, Thế kỷ 20(1908).

(8) Xem: Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa và nay, Cánh Bằng xuất bản, 1967.

(9) (Huỳnh Minh – tên thật là Huỳnh Khắc Vịnh – từ chỗ là chủ hiệu sách ở đường Phan Đình Phùng (Sài Gòn), đã say mê sưu tập các nguồn tư liệu xưa và nay về lịch sử, văn hóa, xã hội ở Nam Bộ. Kể từ cuốn Địa linh nhân kiệt – Kiến Hòa xưa và nay viết về Bến Tre, quê hương ông, từ năm 1963 đến năm 1973, Huỳnh Minh đã cho ra đời 10 tập sách thuộc dạng này. Đó là những quyển Bạc Liêu xưa và nay, Cần Thơ xưa và nay, Định Tường xưa và nay, Sa Đéc xưa và nay, Gia Định xưa và nay, Tây Ninh xưa và nay, Vũng Tàu xưa và nay, Vĩnh Long xưa và nay… các quyển sách thuộc dạng “sưu khảo” này – chữ dùng của tác giả – ngoài phần văn chương (chiếm tỷ lệ không cao) còn có những tư liệu bổ ích về lịch sử, văn hóa, xã hội và kinh tế).

Nguồn: http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=753&Itemid=184

(10) Trong Cần Thơ xưa và nay, theo chúng tôi Huỳnh Minh đã sai khi nêu giả thuyết về địa danh Bình Thủy và Cần Thơ:

- Về địa danh Cần thơ xin xem thêm:

+ Lê Trung Hoa, Nguồn gốc, ý nghĩa và quá trình phát triển của địa danh “Cần Thơ”, trong “Tìm hiểu địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học”, HN,  Khoa học xã hội, tr 17-21.

+ Bài “Từ tố CẦN trong địa danh Nam bộ”

Nguồn:http://www.vietcal.org/community/index5.php?board=105;action=display;threadid=531

- Về địa danh Bình Thủy, Huỳnh Minh cho rằng đó là tên gọi do Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt đặt vào năm 1852. Nhưng trong tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, chúng tôi thấy địa danh này đã là tên một con sông và là tên của 1 trong tổng số 37 thôn xóm của Huyện Vĩnh Định, Trấn Vĩnh Thanh của đất Gia Định trước năm 1820.

Xem thêm bài “Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam bộ” của tác giả Trần Tùng Chinh.

Nguồn: http://www1.agu.edu.vn/dspace/bitstream/123456789/693/1/luanvan.pdf

(11) Xem: Lê Trung Hoa, Từ điển địa danh TP Sài Gòn – Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, 2003.

(12) Viện Khoa học xã hội Việt Nam-Viện Sử học, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, Tập IV(Quyển 36-Quyển 52), NXB Thuận Hóa, Huế, 1993, trang 576-577

(13) – Bản đồ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lẽ do Giám mục Father J.L. Taberd (Pháp) xuất bản năm 1838 ghi rõ: Nằm trong cuốn tự điển Dictionarium Latino – Annammiticum – bản đồ dài 80,5cm, bề ngang 44cm Tài liệu của Tiến sĩ Nguyễn Nhã và NNC Nguyễn Đình Đầu). Đây là một tài liệu vô cùng quan trọng đối với lịch sử Việt Nam hiện đại.

- Xem thêm trong Tạp chí Xưa và Nay số 339 tháng 9/2009, mục “Địa chí”, trang 6-10, bài “Thử nhận xét về An Nam đại quốc họa đồ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu.

(14) “Gia Định thành thông chí là do Trịnh Hoài Đức, người ở dinh Phiên Trấn (Tỉnh Phiên An) biên soạn. Sách ấy chắc là đã được hoàn thành trong đời Gia Long, cho nên ngay năm Minh Mệnh thứ I (1820) sau khi Minh Mệnh có chiếu cầu thư tịch cũ thì Trịnh Hoài Đức đem hiến ngay sách này”.

Nguồn: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện Sử học, Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, NXB Giáo dục, 1998,trang 9.

(15)  Gia Định thành thông chí, Sđd, trang54.

(16)  Nguồn: http://www.vinhlong.gov.vn/Default.aspx?PageContentID=165&tabid=338

(17) Monographie de la provinece de Vinh Long, Saigon Imprimerie Commerciale M.Rey, C.Ardin, Successeur, 1911.

(18) Nguồn: http://www.freelists.org/post/smcc/Cuoc-khoi-Nghia-Bay-Thua

(19) Nguyễn Bảo Hóa, Nam Bộ chiến sử, Lửa Sống xuất bản, MCMXLIX (Viết xong tháng 5/1947). [Lưu trử Thư viện KHXH, Vb 11416]

(20) Phạm Văn Sơn, Việt Nam tranh đấu sử (Lược khảo), NXB Vũ Hùng, Hà Nội, 1951, trang 88. [Lưu trử Thư viện KHXH, Vv 3951]

(21) http://www.vinhlong.gov.vn/Default.aspx?PageContentID=166&tabid=338

(22) Nguồn: http://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?cap=4&idcha=2589&id=2611

(23) Nguồn: http://www.vinhanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=429:au-duong-lan&catid=81:lanh-tu-lanh-dao&Itemid=198

(24) Nguồn: http://huynhducthien.blogspot.com/2007/07/phong-trao-khang-phap-cua-nhan-dan-viet_30.html

(25) Nguồn: http://www.baobinhduong.org.vn/detail.aspx?Item=8809

(26) Monographie de la provinece de Vinh Long, Sđd, trang 28, 29.

(27) Trần Văn Giàu, “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Tập 1, Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, trang 522.

(28) Sách in năm 1875 thay vì là năm 1872, đây là lỗi in ấn.

(29) Xem “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Tập 1”, Sđd, từ trang 522-544.

(30) Sơn Nam, Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, nguồn đã dẫn.

(31) Xem Tạp chí Xưa&Nay số ra tháng 10 năm 2009

Đăng trong Lịch sử | 3 phản hồi »

543. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh

Đăng bởi anhbasam on 13/04/2010

Wilson Center

Đề án lịch sử quốc tế về chiến tranh lạnh

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình,

Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh

Ngày 13-04-1966

Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam, trong khi chỉ ra [những điểm] có vẻ ngờ vực từ phía Việt Nam; Việt Nam dựa vào sự hỗ trợ của Trung Quốc.


Đặng Tiểu Bình: các ông đã nói về sự thật cũng như đề cập đến sự công bằng. Vậy các ông vẫn còn sợ cái gì? Tại sao các ông lại sợ không làm vừa lòng Liên Xô, vậy còn Trung Quốc thì sao? Tôi muốn nói thẳng với các ông những điều hiện tại tôi cảm nhận: các đồng chí Việt Nam có những suy nghĩ khác về phương pháp giúp đỡ của chúng tôi, nhưng mà các ông chưa nói với chúng tôi.

Tôi nhớ đồng chí Mao phê bình chúng tôi, các viên chức Trung Quốc tham dự buổi nói chuyện giữa đồng chí Mao Trạch Đông và đồng chí Lê Duẩn tại Beidaihe (2) –  về việc “quá nhiệt tình” đối với đòi hỏi của Việt Nam. Bây giờ chúng tôi thấy đồng chí Mao nhìn xa trông rộng.

Lê Duẩn: Bây giờ, khi các ông nói lại điều đó lần nữa, chúng tôi đã rõ. Tại thời điểm đó tôi không hiểu những gì đồng chí Mao nói bởi vì thông dịch quá dở.

Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi hiểu rằng đồng chí Mao phê bình chúng tôi, đó là đồng chí Chu Ân Lai, tôi và những người khác. Dĩ nhiên, không có nghĩa là đồng chí Mao không làm hết sức mình để giúp đỡ Việt Nam. Với các ông đã quá rõ là chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các đồng chí bởi vì nằm trong khả năng của chúng tôi.

Bây giờ, có vẻ như đồng chí Mao Trạch Đông nhìn xa trông rộng trong vấn đề này. Trong những năm gần đây, chúng tôi đã có kinh nghiệm trong các mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Sự thật là sự quá nhiệt tình của chúng tôi đã gây nghi ngờ cho các đồng chí Việt Nam? Hiện tại chúng tôi có 130.000 quân lính đang ở nước các đồng chí. Việc xây dựng [căn cứ] quân sự ở Đông Bắc cũng như xây dựng tuyến đường sắt là các dự án mà chúng tôi đề xuất, và hơn nữa, chúng tôi đã gửi hàng chục ngàn quân lính tới biên giới.

Chúng tôi cũng đã thảo luận khả năng chiến đấu chung bất cứ khi nào cuộc chiến bùng nổ. Các ông có nghi ngờ chúng tôi vì chúng tôi quá nhiệt tình hay không? Người Trung Quốc có muốn kiểm soát Việt Nam? Chúng tôi muốn nói thẳng cho các ông biết rằng chúng tôi không hề có ý định đó. Ở đây, chúng tôi không cần bất kỳ cuộc đàm phán ngoại giao nào. Nếu chúng tôi mắc phải sai lầm đã làm cho các ông nghi ngờ, có nghĩa là đồng chí Mao thật sự nhìn xa trông rộng.

Hơn nữa, hiện nay nhiều người làm cho Trung Quốc bị mang tiếng: Khrushchev (*) là người theo chủ nghĩa xét lại, và Trung Quốc thì theo chủ nghĩa giáo điều và mạo hiểm.

Vì vậy, chúng tôi hy vọng trong vấn đề này, nếu các ông có bất kỳ vấn đề gì, làm ơn nói thẳng cho chúng tôi biết. Thái độ của chúng tôi cho đến nay và từ bây giờ sẽ là: các ông đang ở tiền tuyến còn chúng tôi đang ở hậu phương. Chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các ông trong khả năng của chúng tôi. Nhưng chúng ta không nên có quá nhiều nhiệt tình.

Việc xây dựng ở các đảo phía đông bắc đã hoàn thành. Hai bên đã thảo luận việc xây dựng dọc bờ biển sẽ do những người lính trong quân đội của chúng tôi thực hiện. Gần đây, đồng chí Văn Tiến Dũng (3) đề nghị sau khi hoàn thành việc xây dựng ở phía đông bắc, những người lính trong quân đội của chúng tôi sẽ giúp các ông xây dựng các địa điểm pháo binh ở vùng đồng bằng trung tâm. Chúng tôi vẫn chưa trả lời. Bây giờ tôi đặt một câu hỏi để các ông cân nhắc: các ông có cần những người lính trong quân đội của chúng tôi làm điều đó hay không?

Chu Ân Lai: [Đề nghị về] việc xây dựng 45 địa điểm pháo binh gần các vị trí tên lửa của Liên Xô.


Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi không biết liệu có tốt cho mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước hay không khi chúng tôi đã gửi 100.000 quân đến Việt Nam. Cá nhân, tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho những người lính trong quân đội của chúng tôi trở về nhà ngay sau khi họ hoàn thành công việc. Trong vấn đề này, chúng tôi không có bất kỳ ý định xấu nào, nhưng kết quả không phải là những điều mà cả hai (nước) chúng ta muốn.

Cách đây không lâu, có một chuyện đã xảy ra mà chúng tôi nghĩ không phải là ngẫu nhiên: Trên đường đến Hòn Gai để lấy than đá, một con tàu Trung Quốc đã không được phép cập cảng. Nó đã ở lại ngoài khơi 4 ngày. Yêu cầu để gọi từ bờ bị từ chối. Con tàu này đang thi hành nhiệm vụ theo một thỏa thuận thương mại, không phải là một tàu chiến.

Lê Duẩn: Chúng tôi không biết điều này.

Đặng Tiểu Bình: Bộ ngoại giao của chúng tôi đã gửi một bản ghi nhớ cho các ông, nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa trả lời. Những chuyện như thế này chưa từng xảy ra trong 10 năm qua.

Chu Ân Lai: Ngay cả tàu Trung Quốc yêu cầu được vào cảng Việt Nam trốn máy bay Mỹ, để được cung cấp nước ngọt và gọi điện thoại cũng bị từ chối. Một trong những cán bộ của chúng tôi, người phụ trách việc mua bán với nước ngoài, sau đó đã thảo luận với các nhà chức trách ở cảng nhiều lần, và sau đó con tàu mới có thể vào cảng của các ông. Các đồng chí phụ trách cảng Cẩm Phả thậm chí nói: Đây là chủ quyền của chúng tôi, các ông chỉ có thể vào khi được phép. Trong khi đó, chúng tôi nói rằng tất cả các tàu và máy bay của Việt Nam có thể vào các cảng và sân bay của Trung Quốc bất cứ lúc nào nếu bị máy bay Mỹ truy đuổi.

Đặng Tiểu Bình: Bây giờ, tôi muốn nói về một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước. Trong số 100.000 quân lính của quân đội Trung Quốc, những người hiện nay đang ở nước các ông, có thể có người nào đó làm sai. Và về phía các ông, cũng có thể có những người muốn sử dụng những sự cố này để gây chia rẽ giữa hai đảng và hai nước.

Chúng ta nên thẳng thắn nói về vấn đề này bây giờ bởi vì điều này không chỉ là mảng tối mà còn gây một số thiệt hại trong các mối quan hệ của chúng ta. Nó không chỉ là những vấn đề liên quan đến sự đánh giá của chúng tôi về sự trợ giúp của Liên Xô. Các ông có nghi ngờ Trung Quốc giúp Việt Nam là vì mục đích riêng của chúng tôi? Chúng tôi hy vọng rằng các ông có thể nói trực tiếp cho chúng tôi biết nếu các ông muốn chúng tôi giúp đỡ. Vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng. Chúng tôi sẽ rút quân ngay lập tức. Chúng tôi có rất nhiều thứ cần làm tại Trung Quốc. Và những người lính trong quân đội đóng quân dọc theo biên giới sẽ được lệnh quay trở lại lục địa (4).

Lê Duẩn: Tôi xin trình bày một số ý. Khó khăn là sự phán đoán của chúng ta khác nhau. Theo kinh nghiệm trong Đảng của chúng tôi cho thấy, cần có thời gian để làm cho các ý kiến khác nhau đi đến sự đồng thuận.

Chúng tôi không nói chuyện công khai về các ý kiến khác nhau giữa chúng tôi. Chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam một phần là chân thành, cho nên chúng tôi không hỏi liệu Liên Xô sẽ bán đứt Việt Nam cũng như chúng tôi không nói Liên Xô vu cáo Trung Quốc trong vấn đề vận chuyển viện trợ của Liên Xô. Bởi vì chúng tôi biết rằng nếu chúng tôi nói điều này, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn. Đó là do hoàn cảnh của chúng tôi.

Vấn đề chính là làm thế nào để đánh giá Liên Xô. Các ông đang nói rằng Liên Xô đang bán đứng Việt Nam, nhưng chúng tôi không nói như vậy. Tất cả các vấn đề khác bắt nguồn từ sự phán đoán này. Liên quan đến sự trợ giúp của Trung Quốc cho Việt Nam, chúng tôi hiểu rất rõ và chúng tôi không có bất kỳ mối quan ngại về điều đó. Bây giờ đang có hơn 100.000 quân lính của quân đội Trung Quốc tại Việt Nam, nhưng chúng tôi nghĩ rằng bất cứ khi nào có chuyện nghiêm trọng xảy ra, có thể cần hơn 500.000. Đây là sự hỗ trợ từ một đất nước anh em.

Chúng tôi nghĩ rằng là một đất nước xã hội chủ nghĩa anh em, các ông có thể làm điều đó, các ông có thể giúp chúng tôi như thế này. Tôi đã có một cuộc tranh cãi với Khrushchev về một vấn đề tương tự. Khrushchev nói rằng người Việt Nam ủng hộ Trung Quốc sở hữu bom nguyên tử để Trung Quốc có thể tấn công Liên Xô. Tôi nói rằng điều đó không đúng sự thật, Trung Quốc sẽ không bao giờ tấn công Liên Xô.

Hôm nay, tôi nói rằng sự đánh giá của một đất nước xã hội chủ nghĩa đối với một đất nước xã hội chủ nghĩa khác phải dựa trên chủ nghĩa quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp của chúng tôi, [nếu] cuộc cách mạng Trung Quốc không thành công, thì cách mạng Việt Nam khó có thể thành công. Chúng tôi cần sự hỗ trợ từ tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Trung Quốc là trực tiếp và rộng rãi nhất.

Như các ông đã nói, mỗi quốc gia nên tự bảo vệ mình nhưng họ cũng nên dựa vào sự trợ giúp quốc tế. Vì vậy, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng sự nhiệt tình của các ông có thể gây nguy hại trong bất kỳ tình huống nào. Ngược lại, các ông càng nhiệt tình sẽ càng có lợi cho chúng tôi. Sự giúp đỡ nhiệt tình của các ông có thể giúp chúng tôi cứu sống 2-3 triệu người. Đây là một vấn đề quan trọng. Chúng tôi đánh giá cao sự nhiệt tình của các ông. Một đất nước nhỏ như Việt Nam rất cần sự trợ giúp quốc tế. Sự trợ giúp này tiết kiệm cho chúng tôi rất nhiều máu.

Các mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tồn tại không chỉ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ mà còn trong tương lai dài lâu ở phía trước. Ngay cả khi Trung Quốc không giúp chúng tôi nhiều, chúng tôi vẫn muốn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, vì điều này đảm bảo cho sự sống còn của đất nước chúng tôi.

Đối với Liên Xô, chúng tôi vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với họ. Nhưng chúng tôi cũng chỉ trích Liên Xô nếu họ tiếp nhận những lời chỉ trích của chúng tôi.

Trong quan hệ giữa hai đảng chúng ta, chúng ta cảm thấy tốt hơn khi có nhiều sự đồng thuận và chúng ta lo ngại nhiều hơn khi có ít sự đồng thuận. Chúng tôi quan tâm không chỉ về sự trợ giúp của các ông mà còn quan tâm đến một vấn đề quan trọng hơn, đó là quan hệ giữa hai nước. Ủy ban Thường trực Trung ương Đảng của chúng tôi luôn luôn nghĩ đến việc làm thế nào để tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai đảng và hai nước.

Về sự cố của tàu Trung Quốc gặp khó khăn khi vào cảng Việt Nam, tôi không biết vấn đề này. Chúng tôi không quan tâm đến vấn đề 130.000 quân lính của các ông ở nước chúng tôi, thì tại sao chúng tôi lại quan tâm đến một con tàu? Nếu đó là sai lầm của người phụ trách cảng, người này cũng có thể là một đại diện tiêu cực cố gắng kích động. Hoặc sai lầm của người này có thể được những kẻ khiêu khích khác sử dụng. Đó là một sai lầm cá nhân. Điều chúng tôi nghĩ về Trung Quốc không bao giờ thay đổi.

Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi cần phải có một nghĩa vụ đạo đức đối với các ông và đối với phong trào Cộng sản quốc tế. Chúng tôi tiếp tục đấu tranh chống Mỹ cho đến chiến thắng cuối cùng. Chúng tôi vẫn duy trì tinh thần quốc tế vô sản. Vì lợi ích của phong trào cộng sản quốc tế và tinh thần quốc tế, chẳng hề quan trọng nếu quá trình phát triển xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam kéo dài trong 30 hoặc 40 năm.

Tôi muốn thêm một số ý kiến cá nhân của tôi. Hiện nay, có một phong trào cải cách tương đối mạnh mẽ trên thế giới, không chỉ ở Tây Âu mà còn ở Đông Âu và Liên Xô. Nhiều quốc gia áp dụng một trong hai con đường: chủ nghĩa cải cách hay chủ nghĩa phát xít, là những quốc gia bị giai cấp tư sản cai trị. Vì vậy, tôi nghĩ rằng nên có một số quốc gia cách mạng như Trung Quốc để đối phó với các quốc gia cải cách, chỉ trích họ, và đồng thời hợp tác với họ, để dẫn họ vào con đường cách mạng.

Họ là những nhà cải cách, do đó một mặt, họ là phản cách mạng, đó là lý do tại sao chúng ta nên phê bình họ. Nhưng mặt khác, họ chống đế quốc, đó là lý do tại sao chúng ta có thể hợp tác với họ. Trong lịch sử cách mạng Trung Quốc, các ông đã làm điều tương tự. Đồng chí Mao Trạch Đông thành lập Mặt trận Thống nhất chống Nhật với Tưởng Giới Thạch.

Vì vậy, ý kiến cá nhân của tôi là Trung Quốc, trong khi giữ nguyên các biểu ngữ cách mạng, cần hợp tác với các quốc gia cải cách để giúp họ thực hiện cuộc cách mạng. Đây là phán đoán cũng như chính sách của chúng tôi. Điều này không nhất thiết là đúng, nhưng đó là cam kết của chúng tôi chân thành với cách mạng. Dĩ nhiên, vấn đề này rất phức tạp. Như các ông đã nói rằng, ngay cả trong một đảng cũng có ba thành phần: hữu khuynh, trung dung và tả khuynh, do đó, tình hình nằm trong một phong trào cộng sản lớn.

Sự khác biệt trong việc phán đoán mang lại những khó khăn, cần có thời gian để giải quyết. Cần thiết để có thêm nhiều mối liên hệ để đạt được thỏa thuận trong nhận thức.

Mối quan tâm của chúng tôi không phải là Trung Quốc đang cố gắng để kiểm soát Việt Nam. Nếu Trung Quốc không phải là một đất nước xã hội chủ nghĩa thì chúng tôi thực sự quan ngại. [Chúng tôi tin rằng] các đồng chí Trung Quốc đến để giúp chúng tôi ra khỏi quốc tế vô sản.

Đặng Tiểu Bình: Về câu hỏi về “sự nhiệt tình,” làm ơn hiểu thêm yêu cầu của Mao Chủ tịch muốn nói đến thực tế mối quan hệ giữa hai nước và các bên không đơn giản. Mối quan hệ giữa các đồng chí cũng không đơn giản.


Ghi chú:

1. Khang Sinh (Kang Sheng) lúc đó là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản và là thành viên của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong giai đoạn đầu Cách mạng Văn hóa, ông ta sớm trở thành thành viên của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc và là cố vấn cho “Nhóm Cách mạng Văn hóa,” cơ quan hàng đầu trong cuộc Cách mạng Văn hóa.

2. Beidaihe [Bắc Đới Hà?] là một nơi tham quan ven biển phía đông bắc của Bắc Kinh, nơi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc thường xuyên nghỉ mát và có các cuộc họp quan trọng trong mùa hè.


3. Văn Tiến Dũng (1917 -) (**) là người giữ vị trí lãnh đạo thứ hai trong quân đội Bắc Việt, sau tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1953-1978, chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh tổng tấn công năm 1974-1975. Ông là ủy viên Bộ chính trị từ năm 1972-86, Thứ trưởng cho đến khi trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1978-1980. Nghỉ hưu năm 1986.

4. Trong một cuộc trò chuyện riêng cùng ngày, Chu Ân Lai nói: “Sau khi Kosygin (***) đến thăm Việt Nam và hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam, chúng tôi có những bất đồng mới với Liên Xô về yêu cầu của họ sử dụng hai sân bay của chúng tôi và đề nghị của họ để vận chuyển vũ khí tới Việt Nam. Các ông ca ngợi Liên Xô đã giúp viện trợ rất nhiều cho các ông thì được. Nhưng mà các ông đề cập nó cùng với viện trợ của Trung Quốc là một sự xúc phạm đến chúng tôi”. Đặng Tiểu Bình nói thêm, “Vì vậy, từ bây giờ, các ông không nên đề cập đến sự viện trợ của Trung Quốc chung với sự viện trợ của Liên Xô”.


Người dịch: Ngọc Thu

———–

Ghi chú thêm của người dịch:

(*) Khrushchev: tức Nikita Khrushchev, hay Nikita Sergeyevich Khrushchyov, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, kế vị Stalin sau khi ông này mất năm 1953. Khrushchev cũng giữ chức thủ tướng cùng với chức TBT từ năm 1958-1964. Đến năm 1964 Khrushchev bị chính những người đồng chí của mình hạ bệ, và từ đó cho đến những năm còn lại của cuộc đời, Khrushchev luôn bị sự giám sát chặt chẽ của cơ quan tình báo KGB.

(**) Bài nói chuyện này có từ năm 1966, lúc đó Văn Tiến Dũng còn sống, do đó người ghi chú bản chính không để năm mất của Văn Tiến Dũng là 2002.

(***) Kosygin: tức Aleksei Nikolayevich Kosygin là Thủ tướng Liên Xô từ năm 1964-1980, dưới thời Tổng bí thư Leonid Brezhnev.

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 10 phản hồi »

488. Với một VN tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

Đăng bởi anhbasam on 02/03/2010

History News Network

Với một Việt Nam tự do kinh doanh,

ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

William Thompson

Ngày 1-3-2010

Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).


Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.

Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”

Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.

Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.

Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.

Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.

Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”

Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.

Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.

Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.

Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.

Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.

Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.

Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.

Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.

Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.

Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.

Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.

Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.

Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.

Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.

Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.

Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.

Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:

Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.

Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”

Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú của người hiệu đính:

(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.

(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.

(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.

Đăng trong Chiến tranh VN, Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , , , , | 4 phản hồi »

465. Những trận đánh thọc sâu có “Viagra”của Hitler

Đăng bởi anhbasam on 07/02/2010

Daily Mail

Những trận đánh thọc sâu có “Viagra”của Hitler:

Nhà lãnh đạo ốm yếu đã hy vọng vào

phương thuốc pha chế của tay bác sĩ lang băm

có thể kích thích mình mỗi tối cùng với Eva Braun

Allan Hall

Ngày 6-2-2010


Adolf Hitler đã dùng một dược phẩm ở dạng thô sơ của Viagra cho các cuộc đọ sức với Eva Braun, theo như tuyên bố của các tác giả một cuốn sách viết về tình trạng sức khỏe yếu kém của nhà độc tài này.

Loại chiết xuất kích thích tố sinh dục nam này là một trong 82 thứ dược phẩm khác nhau mà Hitler đã sử dụng trong suốt 12 năm đế chế của mình.

Nhà lãnh đạo này đã trở nên quá ốm yếu và quá lo lắng cho sức khỏe của mình đến mức có lúc ông ta đã dùng tới 28 loại thuốc và biện pháp trị liệu mỗi ngày.

Các tác giả của cuốn “Was Hitler Ill?” đã xem xét các hồ sơ bệnh án dài dòng lôi thôi và các tài liệu quân sự được phân loại trước đây để cố gắng trả lời cho câu hỏi liệu sức khỏe yếu kém của Hitler trong chừng mực nào đó có phải là nguyên nhân của những hành động quái dị của ông ta hay không.

Họ cũng đã cố đánh giá rằng liệu Theodor Morrell, viên bác sĩ riêng của ông ta khi đó có phải đang cố giết ông ta một cách từ từ hay không.

Một trong những nguồn tài liệu chủ yếu của họ là những giấy tờ của Bác sĩ Morrell, người mà Hitler đã trở nên tin cậy trong cơn liều lĩnh tuyệt vọng ngày càng gia tăng của mình, thậm chí ông ta còn được nhiều nhân vật ưu tú của Quốc xã xem như là một lang băm và từng sử dụng những cách điều trị khác thường và tổng hợp đủ kiểu.

Các hồ sơ của ông ta cho thấy năm 1944, ông bắt đầu tiêm cho Hitler những kích thích tố sinh dục nam và cho uống một loại hỗn hợp rượu mạnh được pha chế từ tinh dịch và tuyến tiền liệt của những con bê đực.

Nhà lãnh đạo Đảng Quốc xã, khi đó 55 tuổi, đã tin là phương pháp này có thể cho ông ta sinh lực cần thiết cho các cuộc đọ sức của mình với cô Bruan 32 tuổi.

Những liều thuốc pha chế là một trong những loại thuốc tiêm được sử dụng do ông ta sợ các thứ thuốc viên.

Những phát hiện khác cho thấy Hitler đã có một nỗi lo sợ không bình thường về căn bệnh ung thư, bị áp huyết cao, chứng vọp bẻ, đau đầu và vài lần có những u polyp trong thanh quản – có thể là kết quả của quá nhiều lần la hét các tướng lĩnh của mình.

Sử gia Henrik Eberle và Hans-Joachim Neumann, một giáo sư danh dự về y khoa của bệnh viện thuộc trường đại học Charité, Berlin, nói rằng nghiên cứu của họ cũng cho thấy Hitler đã phải chịu đau đớn kinh khủng vì chứng đầy hơi và phải uống một lượng ‘lớn’ các loại thuốc chống đầy hơi có chứa những lượng nhỏ chất mã tiền liên quan tới hệ thần kinh, một thành phần trong chất độc diệt chuột.

Nhưng các tác giả đã không tin là Bác sĩ Morell là một kẻ đầu độc. Họ đã phân tích thành phần của loại thuốc chống đầy hơi và loại bỏ khả năng ‘thợ tiêm của Đế chế’ đã cố gắng sát hại Hitler.

Bác sĩ Morell đã được đặt cho cái tên chế nhạo này từ Hermann Goering, viên chỉ huy Không quân Đức, người mà trong một thời gian dài từng được coi là kẻ kế vị Hitler.

Có lẽ có thể hiểu được, là Bác sĩ Morrell đã đồng ý cách chữa trị mà Nhà lãnh đạo Quốc xã đòi hỏi. Ông đã cấp cho Hitler một lượng nho nhỏ thuốc Pervitin, một dạng dược phẩm.

Ông ta cho Hitler đường glucose, tiêm vào tĩnh mạch methamphetamine, thuốc an thần và thuốc phiện.

Các học giả tin là nghiên cứu của họ đã lật tẩy một vài câu chuyện hoang đường. Họ đã không tìm thấy bằng chứng nào xác nhận cho bài hát phổ biến thời chiến tranh của Anh rằng Hitler chỉ có một hòn tinh hoàn, hay một truyền thuyết ít được biến hơn rằng dương vật của ông ta đã bị biến dạng sau khi bị một con cừu ngoạm phải từ hồi còn trẻ.

Các tác giả kết luận rằng Hitler, cuối cùng, đã phải chịu đựng đau đớn do căn bệnh Parkinson song cho biết thêm: ‘Hitler chưa bao giờ mắc bệnh hoang tưởng. Ông ta luôn ý thức được những hành động của mình. Ông ta hoàn toàn phải chịu trách nhiệm’.

Các tác giả cũng đã không tìm thấy bằng chứng rằng Hitler từng mắc giang mai, căn bệnh mà ông ta từng chửi bới trong 14 trang cuốn tự truyện của mình có tên Mein Kampf như là một ‘căn bệnh Do Thái’.

Ông ta mắc chứng chàm bội nhiễm và từng bị mất ngủ. Vụ đặt bom mưu sát năm 1944 đã làm cho ông ta bị thủng màng nhĩ.

Thái độ tự cao tự đại của ông ta là nguồn gốc của nhiều trò đùa cợt trong các tướng lĩnh quý tộc nước Phổ khi họ thường xức nước hoa lên khăn tay rồi buộc lên mũi mình trong thời gian diễn ra các hội nghị trong những công sự chật chội.

Hitler đã dùng súng tự sát và Evan Braun uống thuốc độc cyanide tự vẫn vào tháng Tư năm 1945 trong công sự ngầm của ông ta tại Berlin chỉ một ngày sau khi họ làm lễ cưới.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010


Hình: 1- Hitler và Braun; 2- Bác sĩ Morrell

Đăng trong Lịch sử | Tagged: | 3 phản hồi »

461. SỐ PHẬN LONG ĐONG CỦA BÀ ĐẦM XOÈ Ở HÀ NỘI

Đăng bởi anhbasam on 04/02/2010

Xưa & Nay

SỐ PHẬN LONG ĐONG CỦA BÀ ĐẦM XOÈ Ở HÀ NỘI

Đào Hùng

Số Xuân – tháng 1/2010


Đầu năm 1887, lần đầu tiên người Pháp  tổ chức một cuộc triển lãm ở Hà Nội, nhằm quảng bá cho hình ảnh của Đại Pháp, sau khi đã chinh phục được toàn cõi Đông Dương. Cuộc triển lãm được tổ chức trên  khu đất xưa nay vẫn được dùng làm trường thi hương của Hà Nội. Đó là một khu đất trống rộng khoảng 75.000m2, khi không có kỳ thi thì vẫn để cỏ dại mọc chứ không có công trình xây dựng gì. Vị trí của nó nằm ở chỗ nay là Thư viện Quốc gia và Trung tâm lưu trữ Quốc gia 1, con đường sau này được mở đi qua khu đất đó cũng được gọi là đường Trường Thi. Nhưng với những hiện vật triển lãm có giá trị thì quan Kinh lược Hà Nội cho mượn tạm nha môn của mình để trưng bày.

Nhân dịp này người Pháp đã đưa pho tượng Thần Tự do soi sáng thế giới sang trưng bày. Đây là một pho tượng do nhà điêu khắc danh tiếng của Pháp là Frédéric Auguste Bartholdi (1834-1904) sáng tác, hình tượng một người phụ nữ đứng thẳng mặc áo choàng dài tay giơ cao bó đuốc, tất cả được đúc bằng đồng. Tượng hoàn thành năm 1884, được chính phủ Pháp tặng cho chính phủ Hoa Kỳ, và ngày 28 – 10 – 1886 lễ khánh thành tượng được tổ chức ở lối vào cảng New York, trước sự chứng kiến của Tổng thống Hoa Kỳ, trở thành một biểu tượng tự do của nước Mỹ. Trước khi tượng được bàn giao cho người Mỹ, thì một mô hình thu nhỏ đã được dựng trên một hòn đảo nhỏ giữa sông Seine ở Paris để mọi người chiêm ngưỡng.

Còn pho tượng gửi sang Hà Nội chỉ là mô hình thu nhỏ một phần mười sáu tác phẩm khổng lồ của Bartholdi, được đặt giữa một khoảnh trồng toàn hoa hồng và cỏ thơm trong triển lãm. Nếu chiều cao của tượng chính là 33,6m tính từ bàn chân lên đến đầu, thì tượng thu nhỏ cũng chỉ cao hơn 2,10m (không kể cánh tay vươn cao hơn).

Triển lãm kết thúc, người ta phải đưa tượng đi chỗ khác, vì khu đất trường thi vẫn phải dành cho việc thi cử bốn năm diễn ra một lần. Nhân diịp khánh thành nhà Bắc kỳ tương tế (Fraternite Tonkinoise) tại phố Mã Mây (mà hồi đó người Pháp gọi là phố Cờ Đen), người ta đã mượn tượng thần Tự do về đây để đặt trên một cái bệ ở ngay sau bàn chủ toạ, nổi bật lên trên nền tấm thảm mang màu cờ tam tài nước Pháp. Cuối cùng người ta quyết định trao pho tượng đó cho Hà Nội, và được đưa về đặt tại quảng trường Bốn toà nhà. Gọi là quảng trường Bốn toà nhà vì đây là một vườn hoa mới làm, nằm giữa bốn toà nhà vốn là những trại lính xây bằng gạch, được sử dụng làm toà Thị chính, Kho bạc, nhà Bưu điện và phủ Thống sứ (sau nhiều lần đổi tên, nay được gọi là công viên Lý Thái Tổ, số phận của công viên này cũng long đong cùng với những pho tượng được dựng ở đó). Nên nhớ là buổi đầu chiếm đóng của người Pháp ở Hà Nội vào năm 1884, tất cả chùa chiền quanh Hồ Gươm đều được phân cho quân đội làm nơi đóng quân và đóng các cơ quan của quân đội.

Nhưng đến năm 1890, sau khi Tổng trú sứ* Paul Bert qua đời trong nhiệm kỳ ở Hà Nội, người ta chủ trương dựng một pho tượng đồng để kỷ niệm vị Tổng trú sứ đã có nhiều công tích đối với thuộc địa Đông Dương. Hội đồng thành phố Hà Nội quyết định sẽ đặt tượng tại vườn hoa trung tâm thành phố nằm giữa bốn toà nhà nhìn ra hồ Hoàn Kiếm, đồng thời đặt cho nó tên gọi mới là vườn hoa Paul Bert. Tưởng được yên vị tại đó, tác phẩm của Bartholdi lại phải dời đi nơi khác, dành chỗ cho pho tượng mới.

Ngày 11-7-1890, đã diễn ra lễ hội lớn khánh thành tượng Paul Bert dưới sự chủ toạ của toàn quyền Piquet. Pho tượng được dựng ngay tại nơi đặt phiên bản thu nhỏ của thần Tự do. Người ta hạ bức tượng đồng của Bartholdi xuống khỏi bệ, và trong khi chờ đợi chiếc bệ bằng đá hoa cương núi Vosges dành cho tượng Paul Bert, cả hai pho tượng được đặt tạm bên nhau trên hai nền đất đắp cao. Lễ khánh thành đã diễn ra với sự có mặt của con gái người quá cố và chồng bà ta, ông Klobukowski, công sứ Pháp ở Yokohama, nguyên chánh văn phòng của toàn quyền Paul Bert, sau này sẽ trở lại làm Toàn quyền Đông Dương năm 1908. Từ đấy vườn hoa được người Việt gọi là Vườn hoa Nhà kèn, vì ở đấy có dựng lên một nhà bát giác để hàng tuần đội kèn đồng của nhạc binh Pháp ra biểu diễn.

Vấn đề bây giờ là phải tìm một chỗ mới để đặt tượng thần Tự do, việc này được đưa ra bàn nhiều lần ở Hội đồng thị chính. Một ông uỷ viên Hội đồng đề xuất nên đặt pho tượng đồng tại quảng trường Cocotier, tức quảng trường Cây Dừa, sau được đổi thành quảng trường Negrier (nay là quảng trường Đông Kinh nghĩa thục). Nhưng một ông uỷ viên khác, ông Daurelle gợi ý nên đưa thần Tự do lên nóc chiếc tháp giữa Hồ Gươm, gọi là Quy Sơn Tháp hay Tháp Rùa. Người ta đổ khuôn tượng một người đàn ông đặt thử lên nóc tháp xem nó ra sao.

Chủ trương này đã được báo chí thời đó lên tiếng chế giễu ầm ĩ. Báo L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc kỳ), lúc bấy giờ mang tinh thần chống tôn giáo, viết: “Thần Tự do đứng trên nóc chùa, đó là ánh sáng chiến thắng sự ngu dân. Và cớ sao ta không đặt ông tượng Phật lớn tướng của chùa Quán Thánh lên nó Nhà Thờ Lớn nhir?” Cũng trên tờ báo đó người ta đặt câu hỏi: “Vậy thì tượng đặt trên Tháp Rùa sẽ quay lưng về đâu? Vào Nhà Chung hay vào Nhà Ngân hàng, vào toà Thị chính? Và liệu quyết định ấy có gây nên sự động lòng tự ái cho vô số người không?” Cuối cùng, khi tượng đã yên vị trên nóc Tháp Rùa, mặt quay về hướng vườn hoa Paul Bert, báo L’Indepenance Tonki-noise (Nền độc lập của Bắc Kỳ) gọi đó là một chuyện nhố nhăng và viết rằng: “Người đi bảo hộ ôm hôn nhau ngay cả trong dựng tượng” và dí dỏm nói thêm “tượng đặt lên tháp rồi, vậy ta sẽ đặt cái gì lên tượng đây?”. Và ông Albert Cezard đã trả lời câu hỏi đó: “Đậu lên tượng chính là những con quạ và chim bói cá mỗi ngày một hiếm với sự tổng vệ sinh hồ ngày một tốt.”

Cuối cùng, trước phản ứng của công luận (tất nhiên là của người Pháp), người ta phải di dời tượng thần Tự do về quảng trường Neyret, tức Vườn hoa Cửa Nam. Và cũng từ đấy người Việt Nam có thêm một tên gọi mới, gọi Vườn hoa Cửa Nam thành Vườn hoa Bà Đầm xoè, vì không ai biết ý nghĩa của pho tượng đó (sau này được gọi là Vườn hoa Bách Việt). Trên báo L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) số ra tháng 6-1893 có bài viết nói rằng tượng thần Tự do dưới con mắt người Âu có vẻ như mặc áo ngủ, còn dưới con mắt người An Nam thì như mặc áo tang, vì bị phân chim phủ đầy một lớp dày. Rồi bài báo kiến nghị cần phải làm vệ sinh cho tượng trước ngày Quốc khánh của Pháp 14-7 năm đó.

Nhưng số phận của nó cũng không được dài lâu, vì đến năm 1945 nó đã bị hạ bệ cùng với những biểu tượng khác của đất nước Pháp thực dân, và ngay đến vườn hoa Cửa Nam đến nay cũng không biết có ai còn nhớ không?

Còn pho tượng Paul Bert cũng không hơn gì. Khi diễn ra lễ khánh thành, báo chí không nói gì, vì không muốn chê bai một công trình mang ý nghĩa cao cả của Đại Pháp trước mặt đông đảo khách dự là người bản xứ bị đô hộ. Làm vậy chẳng khác gì vạch áo cho người xem lưng. Các nhà báo chỉ mô tả pho tượng đồng của Lenoir và dáng đứng có tính tượng trưng gán cho Paul Bert. Nhưng vài năm sau, báo Revue Indochi-noise (Tạp chí Đông Dương) đã không ngần ngại mà nói thẳng ra rằng: “Đây là một pho tượng xấu kinh hồn! Khó có thể mường tượng được cái gì nhạt nhẽo hơn công trình phản thẩm mỹ này, nó nghèo nàn về cảm hứng sáng tác và bôi bác về thi công”. Cuốn sách Ba mươi năm ở Bắc Kỳ còn viết: “Một ông Bon Be cao lớn bằng đồng mặc áo đuôi tôm cổ điển giơ tay phải lên trên đầu một người An Nam đang co mình lại bé tí, bé tí … Anh ta sợ chăng, hay thấy tự hào được là người Pháp? Hãy để cho mọi người bình luận”.

Hoá ra những cái gì dựng lên ở vườn hoa này ở thời nào cũng nhận được những phản ứng gay gắt của báo chí. Điều đó cho thấy công chúng Tây cũng như ta sau này, đều muốn có một cái gì thật đẹp ở trung tâm thành phố! Rồi số phận của tượng Paul Bert cũng không khác gì Bà Đần xoè. Sau đảo chính của Nhật tháng 3-1945, tượng Paul Bert cũng bị hạ bệ và đưa vào kho của Sở Giao thông công trình thành phố.


(Theo tài liệu của Claude Bourin, Bắc Kỳ xưa, 1935, 1941)

* Sau khi chinh phục xong Bắc kỳ và Trung kỳ, Pháp đặt hai miền đất này thành hai xứ bảo hộ, trong khi Nam kỳ đã trở thành thuộc địa từ lâu. Đứng đầu hai xứ Bắc và trung kỳ, Pháp đặt một quan cai trị gọi là Resident General, chúng tôi dịch là Tổng trú sứ. Như vậy Tổng trú sứ chỉ là đại diện chính phủ Pháp ở Bắc kỳ và Trung Kỳ.

Năm 1886, Paul Bert được cử sang làm Tổng trú sứ, và đến năm 1897 ông chủ trương thành lập Liên bang Đông Dương, gồm có thuộc địa Nam kỳ, ba xứ bảo hộ là Bắc kỳ, Trung kỳ và Cao Miên. Năm 1899 mới nhập thêm Lào và năm 1900 thì có thêm vùng đất Quảng Châu Loan ở Trung Quốc. Từ đây mới có chức Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur General).

** Hình 1: Frédéric A. Bartholdi (1834-1904). Hình 2: Tượng Thần Tự do tại Vườn hoa Cửa Nam.

Đăng trong Lịch sử | Tagged: , | 4 phản hồi »

454. Berlin phục hồi những công trình kỷ niệm từng bị chối bỏ

Đăng bởi anhbasam on 28/01/2010

SPIEGEL

‘Chào Lenin’

Berlin hướng tới phục hồi những

công trình kỷ niệm từng bị chối bỏ

David Crossland

Ngày 26-1-2010

Trong một dấu hiệu cho thấy thời gian đang làm lành lại những vết thương của Berlin như thế nào, thành phố này đã lên kế hoạch đào lên lại bức tượng khổng lồ của Lenin mà họ đã chôn vùi kỹ lưỡng vào năm 1991 và đặt nó trong một khu bảo tàng mới giành cho những pho tượng bị thất sủng. Những công trình sẽ được mở rộng qua các thời cộng sản và Đức Quốc xã và quay ngược trở lại tới các nhân vật từ thời nước Phổ.

Chỉ hai năm sau sự sụp đổ của Bức tường [Berlin], vào năm 1991, Berlin đã giật đổ pho tượng Lenin lớn nhất thành phố này, một bức tượng to khủng khiếp, cao 19 mét. Hành động loại bỏ đó đã tượng trưng cho cuộc trốn chạy tuyệt vọng của Berlin nhằm tự giải thoát khỏi tất cả những ký ức về quá khứ cộng sản của mình, và đã được đề cao trong bộ phim mang lại thành công có tựa đề “Goodbye Lenin”.

Trong một dấu hiệu mà Berlin có được kể từ khi họ có một cái nhìn vô tư hơn về lịch sử của mình, cái đầu nặng 3,5 tấn, bị chôn vùi trong một hố cát ở ngoại vi thành phố, sẽ được khai quật và đặt vào một khu triển lãm cố định cùng với rất nhiều pho tượng đồ sộ khác từ thời Chiến tranh Lạnh.

Những pho tượng của các nhân vật thuộc chủng tộc Aryan được lý tưởng hóa từ thời Đức Quốc xã cũng sẽ được đem ra trưng bày, cùng với các đài tưởng niệm các vị tướng từ hồi thế kỷ 18, thoát ra sự quyền uy và quân phiệt của nước Phổ.

“Một quãng thời gian nào đó đã đi qua trước khi người dân có thể có một cách tiếp cận cởi mở hơn đối với lịch sử”, Andrea Theissen, người đứng đầu dự án nhận định, khi trao đổi với trang SPIEGEL ONLINE. “Triển lãm là một phương cách kỳ diệu để miêu tả sinh động về việc các tượng đài lịch sử đã được đối xử như thế nào. Nó là đặc trưng cho lịch sử hỗn loạn của Berlin mà chẳng còn gì ở lại nơi mà nó đã từng được dựng lên”.

Bị ô uế bởi lịch sử

Các thành phố khác đã đi đầu trong việc phục hồi những tượng đài không cần đến nữa từng bị lịch sử làm hư hỏng, mặc dù chỉ nằm trong những công viên ngoài trời tựa như những bãi tha ma của chủ nghĩa cộng sản. Thành phố Budapest có công viên Statue Park để lưu giữ những bức tượng có phong cách khoa trương của Lenin và Karl Marx cũng như những nhà lãnh đạo cộng sản Hungari. Thủ đô Moscow có công viên Fallen Monument Park, nơi đó có tất cả các nhân vật nổi tiếng hàng đầu.

Berlin dường như đã quyết định rằng sau hàng thập kỷ mỏi mòn ở dưới đất hoặc bị bụi bám dưới các hầm mộ đã bị quên lãng, những tượng đài bị chối bỏ này chịu đựng như thế là quá đủ.

100 bức tượng sẽ được đưa ra trưng bày tại Spandau Citadel, một pháo đài được xây dựng từ thời Phục hưng tại quận Spandau của Berlin, vào năm 2013. Cuộc triển lãm sẽ được gọi với cái tên là “Hé mở. Berlin và những tượng đài của mình”. Hai gian phòng lớn cùng với những trần nhà cao chín mét đang được chuẩn bị cho các vật trưng bài  từng được tôn vinh trong lịch sử.

“Không phải là một nơi thờ phụng”

“Nơi này sẽ không phải là một chốn thờ phụng”, theo lời ông Theissen. “Nó là nơi để giải thích và thách thức tệ sùng bái đối với các đài tưởng niệm”.

Một số bức tượng sẽ đến từ những căn hầm trong bảo tàng German Historical Museum và cơ quan bảo vệ các tượng đài trong khu vực. Các bức tượng khác ví như một bức tượng đá hoa cương của Vua Phổ Friedrich Wilhem III và Nữ hoàng Luise đã có sẵn tại Citadel và đang được chuẩn bị cho việc trùng tu. Một số đã bị hư hỏng trong Thế chiến thứ Hai và những vết sẹo của chúng sẽ được bảo quản như là bằng chứng thêm nữa cho lịch sử hỗn loạn của nước Đức.

Cuộc triển lãm cũng sẽ trưng bày một nhóm 16 bức tượng lớn của các vị công tước, nhà vua và các hoàng đế từng được dựng ở công viên Tiergarten của Berlin năm 1901 dưới thời Hoàng đế Wilhelm II. Chúng đã bị quân Đồng minh dời đi sau Thế chiến thứ Hai.

Một trong những bức tượng thời Đức Quốc xã sẽ được đem trưng bày là tượng “Decathlete”(Vận động viên mười môn phối hợp) của nhà điêu khắc Arno Breker. Gerhard Hanke, thành viên hội đồng quận Spandau phụ trách các hoạt động văn hóa, đã nói: “Cuộc triển lãm sẽ thu hút sự quan tâm quốc tế”.


Hiệu đính: NM

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , | 1 Comment »

447. Việc khủng bố phụ nữ hồi Thế chiến thứ II đã bị lãng quên

Đăng bởi anhbasam on 23/01/2010

SPIEGEL

Những cô gái Đức ‘đê tiện’

Việc khủng bố phụ nữ hồi Thế chiến thứ II đã bị lãng quên

Jan Friedmann

21-01-2010

Concentration camp surviver Maria K. in Ravensbrück: K. and other  survivors say the humiliation from other residents of their towns  continued for years.

Maria K., nạn nhân của trại tập trung cải tạo Ravensbrück và những người sống sót khác nói rằng họ vẫn còn bị các cư dân trong làng tiếp tục làm nhục trong nhiều năm.


Cơ quan mật vụ Hitler đã bắt giữ hàng ngàn phụ nữ để họ nhận rằng họ có tình ý với người nước ngoài bị cưỡng bức lao động ở Đức, cho dù nhiều trường hợp nhận tội là sai lầm và do bị ép cung. Đàn ông thường bị xử tử còn phụ nữ thì bị đưa vào trại tập trung về tội làm ô uế chủng tộc. Một số người vẫn tiếp tục chịu đựng những hậu quả lâu dài ngay cả sau khi chiến tranh đã kết thúc.

Ngày 19-09-1941, Maria K. đã ký vào hồ sơ thẩm vấn của cô. Trong bản cung khai với cảnh sát, cô bé 14 tuổi đã thú nhận rằng cô đã “ở chung giường với một người có quốc tịch Ba Lan tên là Florian Sp. và cũng đã có quan hệ tình dục với anh ta.”

Câu chuyện bị cáo buộc kia đã diễn ra vào buổi tối thứ bảy trong tháng bảy. Cô đã chăn bò suốt ngày và buổi tối đó cô và cô bạn 18 tuổi, Hedwig, đã mời hai người đàn ông người Ba Lan nhập cuộc.

Theo như bản cung khai của cô đã ký thì họ đã hôn nhau và sau đó bốn người đã vào phòng ngủ, Hedwig ngủ với Josef G. và cô ngủ với Florian. Một lần trong phòng ngủ, người đàn ông Ba Lan đã cởi quần của cô. Họ làm tình ba lần buổi tối đó và hai lần trong mấy ngày sau, một lần sau khi ăn trưa, phía sau một bụi cây ở cánh đồng gần đó. Đây là hồ sơ đã được đưa vào trong bản thú tội có ký tên của cô.

Maria K., người mà hôm nay đã 82 tuổi, đưa tay che mặt mình khi nói về “lời thú tội” đã vĩnh viễn thay đổi cuộc đời cô và dẫn đến cái chết của hai thanh niên trẻ. Cô cảm thấy xấu hổ, ngay cả khi thám tử của cơ quan mật vụ Đức Quốc xã đã bịa ra bản cung khai và đánh cô, bắt cô ký vào đó. Đây là câu chuyện của cô hôm nay, và nhiều tài liệu khác cho thấy tính xác thực của nó.

Gisela Schwarze, một nhà sử học từ thành phố Münster phía tây nước Đức đã bỏ ra nhiều năm để điều tra những trường hợp như trường hợp của cô Maria K., đào bới các hồ sơ về các phiên tòa đặc biệt ở các thành phố như Dortmund, Bielefeld và Kiel. Bà đã phát hiện ra câu chuyện của Maria K. trong một kho lưu trữ địa phương. Câu chuyện đã mở ra ở Asbeck, một ngôi làng vào thời chiến với dân số 850 người, ở khu vực phía tây Münsterland.

‘Ô uế chủng tộc’

Theo như kết quả nghiên cứu, Schwarze phát hiện ra một nhóm nạn nhân của chế độ Đức Quốc xã đã bị bỏ rơi cho đến ngày nay. Bao gồm những người phụ nữ và các em gái, những người đã bị các quan chức chính phủ cáo buộc có quan hệ tình dục với lao động cưỡng bức người nước ngoài. Một số quan hệ tình cảm lãng mạn là có thật, trong khi số khác chỉ là bịa đặt, nhưng sự trừng phạt thì hầu như lúc nào cũng cùng cực. Phụ nữ đã được gửi đến các trại tập trung, đông hàng ngàn người, trong khi những người đàn ông thường bị xử tử.

Những người Đức tham gia vào các mối quan hệ tình dục với nam hay nữ công nhân dân sự có quốc tịch Ba Lan, đã thực hiện các hành vi trái với đạo đức hoặc dính dáng vào các câu chuyện tình sẽ được bắt giữ ngay lập tức,” Heinrich Himmler, người đứng đầu SS, đã ra lệnh năm 1940.

Tội phạm mà các luật sư thời Đức Quốc xã dựng lên được gọi là tội “ô uế chủng tộc”, lúc đầu chỉ áp dụng cho các mối quan hệ giữa người Do Thái và không Do Thái, nhưng sau đó sự phân biệt chủng tộc đã mở rộng gồm cả người Slavs.

Tù nhân chiến tranh và các thường dân bị trục xuất đã bị buộc phải làm việc trong các nhà máy, trên các cánh đồng, nơi mà họ có điều kiện tiếp xúc với người dân địa phương, trong đó có nhiều phụ nữ. Những người đàn ông đang bận chiến đấu ở mặt trận. Nhưng những tên chỉ điểm chuẩn bị tố cáo những người làm sai thì có mặt khắp nơi – hàng xóm, đồng nghiệp và cả giáo viên – đóng góp cho bầu không khí kinh hoàng về hận thù chủng tộc và mù quáng.

Maria K., người con thứ ba từ dưới đếm lên trong một gia đình có 11 anh chị em và cô là một đứa bé mồ côi từ nhỏ. Một người anh trai lo nuôi nấng mấy em, nhưng cuối cùng anh đã bị bắt vào trong quân đội Đức, và người vợ 27 tuổi của anh đã ở lại để chăm sóc con cái một mình. Để giúp người phụ nữ này, người chủ nhà đã gửi Florian Sp., một lao động trẻ người Ba Lan bị cưỡng bức, người mà những đứa trẻ đã tin tưởng một cách nhanh chóng.

‘Những biện pháp chăm sóc cần thiểt’

Mối quan hệ thoải mái giữa người lao động Ba Lan và gia đình đã bị xem xét dưới ánh mắt nghi ngờ của người trong làng. Maria đã bị bắt và trong quá trình xét hỏi, viên sĩ quan mật vụ Đức đã đánh vào mặt cô và bảo cô phải thừa nhận rằng cô đã làm tình với người Ba Lan. Cô gái ngây thơ và yếu ớt đã ký giấy nhận tội, điều mà chỉ đánh dấu sự bắt đầu của những thử thách tồi tệ nhất của cô. Trong tháng 10 năm 1941, mật vụ Đức Quốc xã ở Münster gửi một yêu cầu để có “những biện pháp chăm sóc cần thiết” chống lại Maria, người bây giờ đã bị xếp vào loại “cô gái Đức đê tiện”.

Cô bị đưa vào nhiều trại cải tạo khác nhau và cuối cùng là tới một nơi mà SS đã thiết lập nhà dành cho những nữ phạm nhân trẻ tuổi, “Trại Bảo vệ Thanh niên Uckermark,” một trại nhỏ trong các trại tập trung Ravensbrück.

Cô đã nhận số tù nhân, số 290, và kể từ đó cô không còn có tên. Cô phải chịu đựng sự đánh đập, những trận đòn roi, bị bỏ đói và bị sỉ nhục. Cô đã được trả tự do vào mùa thu năm 1944 và được đưa tới một trường để học làm y tá cho trẻ em ở gần Berlin. Cuối năm 1945, cô tranh thủ trở về Asbeck bằng cách đi du lịch qua vùng Đức chiếm đóng. Hai lao động cưỡng bức người Ba Lan đã bị treo cổ tại Asbeck vào ngày 28 tháng 8 năm 1942. Nguyên nhân của cái chết đã được ghi trên giấy chứng nhận của họ là “không rõ nguyên nhân”.

Những người đã thực hiện hầu hết các vụ xử tử này vẫn không bị trừng phạt sau chiến tranh, và năm 1963 văn phòng của công tố ở Münster đã khép lại các vụ điều tra của tất cả mọi trường hợp. Nhưng Maria K vẫn tiếp tục bị làm nhục. Trong thời gian nhà thờ làm lễ, dân làng đã mắng nhiếc cô là một “con điếm Ba Lan” và là “người yêu Ba Lan”. Nhiều phụ nữ sống sót sau sự khủng bố của Đức Quốc xã đã bị đối xử tương tự như vậy.

Cách đây vài tuần, Maria K. và nhà sử học Schwarze đã cùng đi du lịch đến trại Uckermark, nơi đó có một đài tưởng niệm, một phiến đá được gắn giữa những cột thép. Maria K. đã rải một nắm đất tại nơi đó, nắm đất mà bà đã lấy từ trong rừng, nơi hai thanh niên trẻ người Ba Lan đã bị giết.

Bản tiếng Anh do Christopher Sultan dịch từ tiếng Đức


Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Lịch sử, Quan hệ Quốc tế | 4 phản hồi »