BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài’ Category

586. Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Đăng bởi anhbasam on 22/07/2010

Đôi lời Bài viết này không phải chỉ liên quan tới người Việt hải ngoại, mà còn là một bản đánh giá ngắn gọn, chính xác về hệ thống chính trị Việt  Nam hiện thời, trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, … bữa trước đã điểm nhưng trong mục phản hồi/comment, nay BS xin đăng toàn văn vì e nhiều người chưa đọc; cũng là góp thêm chút cho không khí sôi động của những sự kiện quan trọng đang diễn ra mấy bữa nay tại Hà Nội liên quan tới an ninh trên Biển Đông.

Tác giả bài viết, GS Lê Xuân Khoa từng là phó viện trưởng kiêm giáo sư Trường Đại học Văn khoa, Sài Gòn; sau 1975 là giáo sư tại Đại học Johns Hopkins, rồi  Maryland, Hoa Kỳ. Ông là tác giả của nhiều sách, bài viết về Việt  Nam, trong đó có bài “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?trên trang BBC, từng gây nhiều tranh cãi, chủ yếu từ … “hai phía” của cuộc chia rẽ quá dài lâu: cộng sản và không cộng sản. Ông cũng từng về nước nhiều lần, trực tiếp gặp, đóng góp nhiều ý kiến với các nhà lãnh đạo Việt Nam, trong đó có cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Hy vọng bài viết này tới được tay nhiều vị lãnh đạo đảng, nhà nước Việt Nam, được các vị đọc, suy ngẫm một cách bình tĩnh, cầu thị, may ra bớt được chút nào đó mối “hiểm họa Trung Quốc”.


Trước hiểm hoạ Trung Quốc:

Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Lê Xuân Khoa

Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[1], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.

Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc  dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.

Ba tiền đề

Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).

1.  Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thế sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát Thái Bình Dương, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ[2]. Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc… mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[3] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.

Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng Trung Quốc lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa[4]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của Trung Quốc về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương[5]. Ngay tại Trung Quốc, đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc, vừa xuất bản cuốn Trung Quốc mộng, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ Trung Quốc không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “Trung Quốc phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[6] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.

2.  Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam.

Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trụng Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.

3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.  Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[7]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung tâm SEARAC do tôi làm chủ tịch và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[8]

Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài Đảng Cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.

Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.

Kế hoạch cụ thể và toàn diện

Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:

1.  Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước

a. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu vùng xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính Việt Nam của Trung Quốc bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo Việt Nam đối với Trung Quốc. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho Trung Quốc. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với Trung Quốc.

b. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.

c. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.

d. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.

e. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.

2.  Quan hệ với chính quyền Việt Nam

Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với Trung Quốc để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.

Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.

Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank”  này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên cứu Phát triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội đồng Quản trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.” *

Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.

3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế

Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt  trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [9]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [10].

Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường đại học và các chuyên gia về Trung Quốc. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của Trung Quốc tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.

Kết luận

Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[11] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.

Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đối diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[12] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.

© 2010 Lê Xuân Khoa

© 2010 talawas


[1]Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.

[2]Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.

[3] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.

[4] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.

[5]John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.

[6]Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, Tuần Việt Nam, 15/03/2010

[7]Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa”, Đặc san Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý,  Paris, France (2008).

[8]Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như  những cuộc vận động của SEARAC (Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thời, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư viện Quốc hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.

[9]Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay, ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.

[10] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)

[11]Xem Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010, trong Phụ lục: “Việt Nam làm gì sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.

[12]Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời cơ vàng của Đảng ta” trên VietNamNet năm 2009.

—–

* Ba Sàm chú thích: mời xem 297. Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

—–

30 ý kiến phản hồi trên trang talawas:

Trang 1:

  1. Hoàng Trường Sa nói:

    Kính mời quý vị xem thêm bài dưới đây để suy ngẫm về sự đúng sai của tiền đề “ĐCSVN chống TQ bành trướng”: Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung “chỉ đạo” những gì? (Phần 1 & Phần 2)

  2. Thanh Nguyễn nói:

    @Lê Thượng: Lịch sử đã dạy bài học đắt giá. Tôi dư sức biết chuyện đó. Tuy nhiên, kết quả bài toán sau đây có đúng không? Nhờ mọi người giải giùm và cho đáp số để so sánh: Đảng CSVN = Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu X 10(lần)

  3. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Nam Phan viết: “Tôi cũng không có can đảm lấy ‘cuốn sách ngàn trang’ của một ông tướng ra để xưng tụng là ‘tài liệu lịch sử’”. Câu này ông Nam Phan muốn nói tôi sử dụng quyển “Việt Nam Máu lửa quê hương tôi” là hồi ký (chính trị như tên sách gọi) dài hơn ngàn trang của ông Đỗ Mậu (là đại tá lúc đảo chính 1963, và thiếu tướng khi giải ngũ) làm tài liệu lịch sử. Nhưng thế nào là “tài liệu lịch sử”? Tôi hiểu là những sự việc liên quan đến biến cố lịch sử được ghi nhớ, truyền tụng, và sau được ghi chép lại thành sách. Ở Việt Nam do tình trạng thiếu thông tin, hay tin tức bị cố ý che giấu, nên thường rất lâu sau khi biến cố xảy ra, nhiều sự việc mới được ghi xuống và do đó thường bị mất mát hay thêm thắt ít nhiều. Chưa kể chuyện kể không do nhân chứng trực tiếp và “tam sao thất bổn”. Nhưng đó chỉ mới là tài liệu thuộc lịch sử, và còn phải đối chiếu với nhiều nguồn “sử liệu” khác nhau mới có được một sự kiện lịch sử xác thực. Nhưng không có quyển sử nào, dù được nhiều người coi trọng, ví dụ như “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, chứa đựng những sự kiện lịch sử xác thực, hoàn toàn đáng tin. Thí dụ, trong VNSL có một phần ghi chép chuyện kể theo truyền thuyết, theo sử Trung Quốc (mà sử gia ở rất xa nước ta, và nhìn VN với nhãn quan của người Hán thống trị), theo sử quan của các triều vua VN (vừa thiếu sót, vừa thiên lệch như khi sử gia triều Nguyễn chép về Tây Sơn). Vậy khi cần bàn đôi điều về tình hình chính trị và quân sự ở miền Nam trước 1975, tôi dựa vào “tài liệu lịch sử ” nào? Trước hết là hồi ký của các ông Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, là những người quen biết với cá nhân và gia đình ông Diệm từ trước 1954, đã cộng tác và đưa ông Diệm lên cầm quyền, phục vụ (trung thành) dưới chế độ ông Diệm, và làm đảo chính lật đổ ông Diệm năm 1963. Kế đến là quyền “Việt Nam 1945-1975″ tập 1 của giáo sư Lê Xuân Khoa, mới in gần đây, mà cá nhân tôi cho là đáng tin cậy, nhờ dựa vào nhiều nguồn tài liệu Mỹ và Việt ở cả hai miền. Phụ thêm là vài sách tiếng Anh và sách dịch, sách của Nguyễn Kỳ Phong (Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam), Nguyễn Đức Phương (Chiến tranh Việt Nam toàn tập), cả của Lữ Giang…, và các trang mạng tôi đọc được. Nhiều góp ý tôi dẫn từ các nguồn đó. Nhân đây, sách của Lữ Giang có nhiều tài liệu về dòng họ Ngô Đình Diệm, mang tính lịch sử, nhưng chưa phải là những sự kiện hay chứng cớ lịch sử chân thực, và nhiều sự việc, nhận định trong đó theo tôi còn cần đối chiếu, phối kiểm. Mấy cuốn sách tôi kể trên chỉ là của một người đọc sử bình thường, nếu không là thiếu sót nhiều, nhưng có lần ông Nam Phan hay ai đó khi nói về vài dẫn chứng chuyện cũ tôi chỉ chép lại, gọi là của “sử gia” (đặt trong ngoặc kép); tất nhiên kiểu nói đó không có chút tác động nào đối với tôi. Nhưng đáng ra, khi ai thấy điều gì tôi chép lại trong sách mà không đúng, nên dẫn tài liệu lịch sử ở nguốn khác cho là chính xác hơn. Về chuyện “tiến sĩ triết gia”, tôi không hề nghĩ đó là nói về tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm. Tôi chưa nghe nói, ở đây hay trên trang mạng nào, ông Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, chỉ thấy quảng cáo văn phòng luật sư ghi ông có các bằng MS, MPA, JD.

  4. Nam Phan nói:

    Thưa ông Hoà Nguyễn, Tôi coi câu nói “văn là người” là cách đánh giá những người dùng văn tự để nói lên tư tưởng cuả mình, tuy cũ nhưng vẫn là một tiêu chuẩn đáng tin cậy. Tôi dùng chữ “tiến sĩ triết gia” để chỉ ông Nguyễn Hữu Liêm, căn cứ vào ít nhất những bài viết cuả ông ta được đăng trên diễn đàn này (xin ông có dịp thì xem lại cả những bài viết lẫn những ý kiến cuả độc giả để thêm nhận định) chứ không phải căn cứ vào việc ông ta học triết, dậy triết để rồi gán cho ông ấy một danh hiệu có tính cách mỉa mai. Tôi cũng không có can đảm lấy “cuốn sách ngàn trang” của một ông tướng ra để xưng tụng là “tài liệu lịch sử”, cho nên nếu có được coi là không biết phê bình hay không đủ trình độ phê bình bản văn mà chỉ nhắm vào đả kích nhân thân người viết thì tôi cũng vui lòng nhận phần dốt về mình. Có cần phải tiếp tục luận bàn với những bài viết thuộc dạng “tiến sĩ triết gia” đã viết hay không, hay chỉ huýt gió một cái? Tôi xin làm tiếng ồn cuả tiếng huýt gió trong hội trường, không được ai quan tâm, chỉ cần ông Hoà Nguyễn để mắt tới bằng cách nói gần nói xa (nhưng không trực tiếp nêu tên, họ), là cũng cảm thấy vinh dự rồi. Tuy vậy xin được coi đây là lần cuối. Trân trọng,

  5. Nam Phan nói:

    Tôi chỉ muốn đặt câu hỏi với GS Lê Xuân Khoa và những vị đồng tình với GS: “Đại đa số đảng viên CS, cả chuyên chính lẫn ‘giả cầy’, đặc biệt là những người cầm quyền ở VN từ cấp nhỏ đến cấp cao nhất có chung quan điểm với người Việt hải ngoại khi cho rằng Trung Quốc là hiểm hoạ trước mắt của VN không?” Nếu có thì căn cứ vào đâu? Đường lối, chính sách của VN phản ánh mối quan ngại này? Nếu câu trả lời là có và với những chứng cứ, chúng ta sẽ bàn tiếp và nỗ lực tìm kiếm giải pháp. Nếu không – và căn cứ vào những lời tuyên bố, những giao hảo (qua lại) cuả các cấp lãnh đạo cuả họ (TQ và VN), những “học tập kinh nghiệm lẫn nhau”, những “lợi ích chung” cùng chia sẻ – thì chúng ta nên tiếp tục giải pháp duy nhất dù rằng cũ và có vẻ bất khả là giải trừ chúng. Tôi đứng ngoài hàng ngũ của GS, nếu câu trả lời là không.

  6. Lê Thượng nói:

    “ý quèn” của Thanh Nguyễn: “Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước.” Để Tàu chiếm nước thì đến bao giờ mới lấy lại được? Muốn như Tây Tạng hay dân vùng Tân Cương? Nếu lấy lại được cũng phải mất đi 100 năm hay 1000 ngàn năm không chừng. “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu. Một trăm năm nô lệ giặc Tây”. Lịch sử đã dạy cho ta bài học đắt giá ấy.

  7. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Hoàng Trường Sa viết :”ông (LXK) thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ) “. Cho như thế là không đọc hiểu các bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, bài chủ này và cả bài ông HTS mới giới thiệu tại: http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=28bfc08fa0b70eda8757e174ba28bfec Cũng còn là một quan niệm chống Cộng cứng nhắc,lỗi thời, với cách nói sáo cũ thành khẩu hiệu, không đúng với thực tế đã đổi thay. Nhưng cũng lạ hiện nay ít thấy tại Mỹ. Người Việt ở Mỹ có nhiều lý do để oán hận chính quyền CS trong nước: một số đông di tản hối hả trước 30-5-1975 đã bỏ lại tất cả, các đợt thuyền nhân tiếp theo phần đông định cư tại Hoa kỳ, và sau cùng là những người tù cải tạo và gia đình họ đến Mỹ theo diện H.O. Dễ hiểu đa số họ chống Cộng, nhưng dường như người ở Úc như ông HTS, hoặc ở Canada như ông Lê Quốc Trinh còn chống Cộng mạnh hơn nhiều người ở Mỹ, và vì vậy có lần tôi dùng từ (CC) “quyết liệt” khi nói với ông LQT. Có lẽ chuyện chống Cộng cho tới người Cộng sản cuối cùng, hay tới người chống Cộng cuối cùng, sẽ không xảy ra trên đất Mỷ vì nay người Mỹ gốc Việt có óc thực dụng hơn. Tuy nhiên, đúng là quan điểm về VN của GS Lê Xuân Khoa đã được định hướng từ lâu, tôi lấy mốc năm 2000 khi ông trong phái đoàn của TT Clinton qua thăm VN để bắt đầu một quan hệ mới giữa hai nước cho là từ bỏ đối đầu mà dành cho đối thoại, đối tác( bản tin hôm nay, Mỹ hiện đầu tư nhiều nhất ở VN). Một điều buồn cười: lúc đó TBT Lê Khả Phiêu thân TQ vẫn tố Mỹ là “đế quốc”. Kể từ đó, khuynh hướng “chống Cộng” ở Mỹ cũng dần dần thay đối, ít ra trong giới (tạm gọi) trí thức, cùng với sự thay đổi nhanh hơn của chính quyền Mỹ đối với VN. Ít còn thấy những cách nói quyết liệt, chỉ một chiều, chỉ viện dẫn những chuyện xưa cũ, và thay vào đó là những thông tin trung thực, với các sự kiện đang diễn ra trong cuộc sống, và chú trọng đến những điều Mỹ và cộng đồng thế giới quan tâm nhất như về nhân quyền, tự do, dân chủ. Dù sao, giữa người Việt ít ra cũng phải tạm quên bớt hận thù, hay làm ra vẻ như thế, mới có thể tiếp xúc và nói chuyện được với nhau, và người Việt ở Mỹ cũng không thể làm gì trái ngược với chính sách chung của Mỹ, mà phải biết khôn khéo tận dụng các chính sách mới của Mỹ về VN. Trong bài viết năm 2004 dẫn trên, giáo sư Lê Xuân Khoa kêu gọi người VN cả hai bên cùng hành động, cùng thay đổi vì nếu chỉ xảy ra cho một bên thì sẽ không thực hiện được gì, và ông đã dùng cách nói nhẹ nhàng để Hà Nội có thể nghe: “ Khi xúc tiến việc thiết lập và thực hiện lộ trình dân chủ hóa cho Việt Nam, chính quyền sẽ đương nhiên gia tăng được uy tín của mình trong vai trò phối trí mọi sự đóng góp của các thành phần dân tộc “. Ông viết thêm trong bài chủ này: Về phía cộng đồng hải ngoại, vì quyền lợi chung của đất nước và dân tộc, cũng cần có quyết tâm bỏ qua những niềm thù hận trong quá khứ để góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phú cường trong cộng đồng quốc tế… Chỉ trong thời gian gần đây, khi những cuộc tranh đấu và vận động được tập trung vào vấn đề cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam thì mới thấy có sự hỗ trợ, dù còn giới hạn, của chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ, của Liên Hiệp Châu Âu và các tổ chức quốc tế vì tính chất chính đáng của vấn đề . Về con người thật của giáo sư Lê Xuân Khoa, mỗi người có thể biết được khi đọc ít nhiều về ông và khi có cơ hội tiếp xúc ông. Tôi không thể làm gì khác. Nhưng viết như sau là xúc phạm do thiếu hiểu biết và dễ dãi ngôn từ:” bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm“. Trong cuốn “Nếu đi hết biển”, tác giả Trần Văn Thủy hỏi Nguyễn Thị Hoàng Bắc:” Theo tôi hiểu, chị không muốn hoà nhập vào các tổ chức “cộng đồng ?“. NTHB trả lời:” Tôi không tham gia tổ chức cộng đồng nào. Các con tôi lại càng không tham gia“. (sách trang 90). HB không nói rõ lý do tại sao gia đình bà không tham gia sinh hoạt cộng đồng tại địa phương thuộc Virginia, nhưng ở đoạn khác trước đó, HB kể nhiều điều xấu về các tổ chức chính trị “ mọc lên như nấm” của người Việt tại California. Nhưng sinh hoạt của cộng đồng người Việt, và các tổ chức chính trị hoàn toàn không liên hệ gì với nhau, và khi tình nguyện sinh hoạt trong một cộng đồng, không nhất thiết phải tham gia tổ chức chính trị chống nhà nước VN. Điều này là sự thật hiển nhiên. Nhưng HB cố tình nhập nhằng hai thứ để bôi đen hình ảnh CĐ NVHN trước mắt Trần Văn Thủy, từ trong nước ra điều nghiên đời sống người Việt tại Mỹ. Vì vậy, trong chuyện này khi cho NTHB là “đồng chí” dù với ai cũng lại là cách nhập nhằng để bôi nhọ.

  8. Thanh Nguyễn nói:

    Một “ý quèn” của tôi như thế này: Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước. Thân thể Việt Nam có thể bị thương, nhưng những vết thương đó sẽ được rửa sạch, sẽ lành, sẽ liền da để có một Việt Nam tươi mới và hoàn toàn khác.

  9. Hoàng Linh Vương nói:

    Bài viết này của giáo sư Lê Xuân Khoa thể hiện một lý thuyết rất lý tưởng và chỉ là giả định (nói cho có chuyện mà nói thôi) như lời giáo sư trong phần kết: “Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là…”. “Giả định” này cũng vẫn đang còn là “giả định” thật. Thực tế thì cái “rốn của vũ trụ” là ông Nhà nước VN, cũng lại là “cái đầu gối” mà người đời đang nói chuyện. Thêm nữa: hình như người đời cũng chưa mở lòng được với nhau. Thế là ta “bờ i bi sắc bí” là cái chắc! Hay là không khéo rồi cả nước lại bị bịt mắt bắt làm con tin thì bỏ mẹ thật đấy chứ không phải đùa đâu!

  10. Nguyễn Đăng Thường nói:

    Anh hùng đánh Mỹ đánh Tây Tây chạy Mỹ rút vác cầy đánh ai? Đánh Khựa sẽ bị bộp tai Thôi thì đánh đĩ đánh bài cho vui!

  11. Hoàng Trường Sa nói:

    Quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa trong bài chủ này thật ra cũng không lạ đối với tôi, một người đã đọc nhiều bài của ông trước đây, như bài này ông viết đã 6 năm trước (vào ngày 09-02- 2004): Để tiến tới quan hệ bình thường giữa người Việt hải ngoại và Việt Nam (Lê Xuân Khoa) Những suy nghĩ của ông như được bộc lộ trong các bài viết của mình đã đưa nhiều người (trong đó có tôi) đến nhận định rằng ông thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ). Cá nhân tôi hoàn toàn KHÔNG ĐỒNG Ý với quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa, dù tôi chia sẻ nhiều quan điểm của bác Hòa Nguyễn, một người học trò cũ của ông, nhưng dĩ nhiên là có tư tưởng độc lập của mình, dù vẫn không quên tình nghĩa cũ và luôn quý mến thầy cũ. Tôi thấy cũng không mấy ngạc nhiên khi bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm, người mà cộng đồng người Việt hải ngoại thường châm biếm bằng mấy chữ không đẹp như “luật sư còi hụ”. Dù không đồng ý với Giáo sư Khoa, tôi cũng thấy rõ ràng là ông ở vào tầm cao hơn nhiều trong những người thuộc nhóm gọi là Việt kiều “yêu nước”.

  12. Lề Trái nói:

    Lấy lại câu chuyện An Dương Vương chạy ra biển với Mỵ Châu đang rứt lông ngỗng để quân Triệu Đà-Trọng Thủy đuổi theo, chỉ đến khi thần Kim Quy nói giặc chính ở sau lưng, An Dương Vương mới nhận diện được kẻ thù. Việt Nam bây giờ khác, hầu như ai cũng nhìn ra giặc ở đâu, nhưng vì những lý do rất quái đản, họ “không muốn” tin giặc là giặc. Cái giả định mấp mé giả tưởng của bài này cho ta thấy rõ cái quái gở trong cách suy nghĩ mặc dù chả cần thần Kim Quy, người ta đều biết rõ ai “bán” (thời buổi kinh tế thị trường) nỏ thần cho ngoại bang. Nhưng không, thay vì nhận diện rõ hạng bán nước, họ đổ vấy đổ vá cho tất cả những cái khác ngoại trừ chính họ. Chỉ tội cho những kẻ không thức thời vì đã nhìn và chỉ ra nguyên nhân tối hậu dẫn đến hiểm họa sờ sờ trước mắt. Tôi muốn hỏi lại bao giờ dân tộc mới chịu nhận chân bọn giặc thật sự, hay phải chờ tới bước đường cùng? Trả lời được câu hỏi đó tự khắc sẽ biết được những giải pháp cho tình trạng hiện nay. Nếu vẫn còn tránh né câu hỏi thì mọi giải pháp chỉ là con kiến bò cành cụt. Hiểm họa này nó không tới bất chợt, mà là một “diễn biến” qua một thời gian khá dài. Hiện trạng hôm nay chỉ vì cái kim đã lớn bằng con voi nên hầu như ai cũng thấy. Tức là nó có mục đích, động thái, quá trình phát triển, các bên tham dự với những buổi đàm phán thấm đẫm tinh thần “16 chữ vàng”. Và tôi lại phải hỏi, bộ chưa đủ hay sao?

  13. Hoà Nguyễn nói:

    Các kiểu phê bình chỉ nhắm vào cá nhân, không nói gì tới văn bản, xin đề nghị nên tránh trên diễn đàn này (lý do vì tôi tôn trọng diễn đàn, và đây chỉ là một đề nghị suông). Khi gọi một người làm luận án tiến sĩ triết và sau đó dạy triết là “tiến sĩ triết gia” như một cách đánh giá bài viết, thì hết sức vô nghĩa, kỳ cục, và ai nghe vậy mà cười theo, tán đống thì cũng lạ. Kể cả khi đánh giá thấp, quá thấp ngườì khác, mà không chứng tỏ đọc hết bài và hiểu đúng ý người viết. Đó là hai kiểu phê bình không phải là phê bình, hay vì không thể phê bình được, nên chỉ bày tỏ một thái độ phản đối, mà không liên hệ gì tới nội dung bài viết. Chỉ như tiếng huýt sáo nghe ở hội trường, tuy ồn nhưng không được quan tâm. Tôi tiếp tục góp ý với vài phản hồi tôi đọc cẩn thận. Ông Hoàng Trường Sa (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa):” Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng ” , và ông nhận định chỗ này :” mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua “. Ông HTS viết tiếp :” Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946)“. Chắc chắn ngày nay bên phía không cộng sản không ai còn “ngây thơ” sau nhiều bài học lịch sử như ông Hoàng Trường lo ngại. Ngay cuối câu viết trên của GS LXK cũng cho thấy một thái độ dè dặt cần thiết, vì tiên đoàn sẽ có hai tình huống khác nhau: sau hợp tác (nếu có) sẽ có thể hoà giải hay tiếp tục đối kháng. Trong bài viết năm 2001, GS Lê Xuân Khoa cho biết CSVN đã từng đưa ra các luận điệu hay chiêu bài hòa giải hoà hợp trong bốn trường hợp khác nhau, vào năm 1945 như đã biết (lúc đó phe “quốc gia” ở thế yếu nên phải chấp nhận và sau chừng một năm tự hủy bỏ), năm 1968 với chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam (có các ông Trịnh Đình Thảo), năm 1973 với đề nghị chính phủ hoà giải dân tộc, và miền Nam đã không mắc mưu ở hai lần đó, trừ một số nhỏ cá nhân (như ông Trương Như Tảng tự nhận trong hồi ký), và sau năm 1975. Tôi đọc thấy trên mạng bài sau đây nói về điều đó, và vì bài hơi dài nên chỉ trích vài câu nói lên một ý nghĩ của tác giả. In view of these bitter experiences with the communists, the term “national reconciliation” has become taboo to many overseas Vietnamese. Some people are practically “allergic” to the term and automatically label as pro-communist those who want to consider reconciliation as a topic for discussion with any Vietnamese officials. With full understanding of and sympathy to these emotional reactions, I sincerely want to present my personal reflections on this issue. I am doing this as an independent person who has no ambition other than a desire to contribute something meaningful to the interest of the nation and the people of Vietnam. (Normalization of Relations between the Overseas Vietnamese and Vietnam by Le Xuan Khoa , April 30, 2001) Chưa chắc tôi ủng hộ “giải pháp” trên, nhưng tôi có thể so sánh với hoạt động của nhiều đảng phái, phe nhóm đối nghịch trong một nước dân chủ (như Đài Loan, Nam Hàn) trước tình hình chiến tranh hay khủng hoảng lớn. Họ phải hợp tác với nhau để chống lại nguy cơ trước mắt, đồng thời tỉnh táo thủ thế, và tiếp tục tranh đấu sau đó nếu cần. Riêng về iên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch, theo lịch sử ghi lại, không phải Tưởng Giới Thạch chủ động quyết định, mà do ông bị tướng Trương Học Lương bày mưu bắt giữ,và ép buộc ông phải làm theo. Sau khi thắng Nhật, Tưởng Giới Thạch hủy bỏ liên minh này trước, đưa quân từ miền Nam lên đánh nhau với Mao Trạch Đông để giành giật Mãn Châu trong tay hồng quân, nhưng thất bại do Mao được Liên Xô gần bên giúp, và từ đó phe Tưởng suy sụp về quân sự. Về bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, tôi cũng có suy nghĩ nhưng chưa thấy rõ vài điều để viết nhiều hơn: 1/ Có thật tình hình VN hiện nay đúng như giáo sư nhận định không. 2/ Đề nghị của giáo sư về hành động của người Việt hải ngoại có những điểm riêng rất hay (nếu cần tôi sẽ nhắc lại), nhưng toàn bộ có thực tế, thích đáng, khả thi để giải quyết (hữu hiệu) vấn đề theo như ông nhận định không, và có thể đưa lại những điều tiêu cực nào, chấp nhận được không khi nhìn trong lợi ích toàn cục. 3/ Còn có thể tìm một giải pháp nào khác hơn không.

  14. Hồ Phú Bông nói:

    Chuyện nước mất về tay Trung cộng đang gần kề hơn lúc nào hết mà con dân người Việt chỉ đành bàn hưu tán vượn thay vì xắn tay áo bắt tay vào việc! Vì đâu nên nỗi? Theo tôi, điểm chính là chế độ cộng sản sau bao nhiêu năm tác oai tác quái đã phá nát niềm tin giữa người Việt! Sự nghi ngờ nhau đã biến thành bản tính mới! Ngay trong nội bộ đảng cộng sản cũng chẳng ai tin ai, chỉ vì cái đích của họ không phải là đất nước, quê hương mà là quyền lực và vơ vét của cải! Cứ nhìn vào tương lai dân tộc qua lối sống “thực dụng” của thế hệ trẻ hiện nay thì rõ. Đây là lý do chế độ cộng sản tại Việt Nam chưa sụp đổ ngay và phong trào dân chủ chưa thể phát triển mạnh. Cho nên, sự thất bại không phải từ kế hoạch (vì chuyện đại sự chẳng có kế hoạch hay phương pháp nào hoàn hảo cả!) mà chính là lòng tin giữa người Việt Nam với nhau không còn nữa! Cứ (tạm) tổng kết tâm huyết từ tác giả bài viết cũng như các phản hồi đã chỉ ra điều đó! Xây dựng lại lòng tin mới xây dựng lại được sức mạnh cho dân tộc!

  15. Tri Ngộ nói:

    @ Hoàng Trường Sa & Hoà Nguyễn Tôi rất cám ơn hai bạn đã phản hồi với những thí dụ và luận lý rất sắc bén và sâu sắc. Riêng tôi luôn được học hỏi thêm qua các phản hồi vì những cái nhìn khác biệt luôn mở rộng thêm tầm nhìn của chính tôi. Nhưng cái “an ủi” lớn cho tôi ở đây là những dẫn chứng lịch sử của bạn Hoà Nguyễn ở điểm số 1 (LXK) cũng như những lý luận về lòng yêu nước ở điểm số 2 (LXK), hình như cũng đã chấp nhận là cả hai điểm này của GS LXK, cũng chỉ là những phương châm (kim chỉ nam), hay là những nhắc nhở, hoặc là những tiền đề… Những phương châm này, dù cho chí lý đến đâu chăng nữa, theo lý luận của bạn HN, trước sau đối với tôi, vẫn chỉ là những lý tưởng đẹp được ghi trên giấy. Lịch sử VN đã cho thấy không biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lòng yêu nước chân chính và đã bị lừa. Đã có rất nhiều người gánh chịu bao nỗi oan khiên từ cái ngày Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 vì những hành động tàn ác của một tập đoàn lãnh đạo luôn tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo tôi, việc nhà cầm quyền hiện nay nhận thức được lòng yêu nước chống quân Bắc phương (TQ) cần có sự hợp lực của CĐNVHN là một mơ tưởng hão huyền. Lịch sử cũng đã trăm lần cho thấy điều này khi quân đội Bắc Việt, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, đã bầm dập và hành hạ người miền Nam sau năm 1975 như thế nào và chính sách của họ, dầu cho có “thoáng” hơn ngày nay, vẫn còn nặng mùi “ám khí” của một chủ nghĩa phản khoa học với cách cai trị độc đoán và mù quáng, đi ngược lại lòng yêu nước chân chính của người dân. Lòng yêu nước chân chính đó hình như phải kêu gọi tình người, kêu gọi lòng từ ái, kêu gọi sự biết ơn tổ tiên đã gầy dựng nên giang sơn gấm vóc ngày nay, kêu gọi sự khát vọng về một tương lai tốt đẹp cho quê hương, và đồng thời cũng kêu gọi sự sám hối về những khổ đau mà người cộng sản đã gây ra (một vết thương lớn cần chữa lành). Khổ thay lòng yêu nước đó hiện nay đang bị những đám mây mù to lớn của sự hưởng thụ (còn được gọi nôm na với 4 chữ “ổn định kinh tế”) và sự sợ hãi của người dân (hé mồm ra là công an mời lên làm việc), và của lòng tham vô đáy của cấp lãnh đạo (cấp lãnh đạo ngày càng giàu) ngăn che. Những đám mây mù này rất khó lấy đi, trừ phi có một cơn gió lớn. Và cơn gió đó có thể sẽ là cuộc tấn công xâm lăng VN của Trung Quốc.

Trang 2:

  1. phivu56 nói:

    Mời xem: Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại http://phivu1956.blogspot.com/2010/07/ho-chi-minh-man-and-myth-ho-chi-minh.html

  2. Phùng Tường Vân nói:

    “Da mồi tóc bạc ta già nhỉ !” Cái sai lầm xuyên suốt bài viết là một sự không tỉnh táo, nó đặt nền móng thuyết phục và khuyến cáo người khác trên những giả định đến mức ảo tưởng. Tôi đồ rằng có ít nhiều nỗi lẩm cẩm của tuổi tác ảnh hưởng chăng, cũng chính vì có nỗi ái ngại buồn bã ấy mà tôi cũng thấy có cái gì hơi bất nhẫn khi có độc giả liệt kê ông vào những hạng như là “triết gia còi hụ” hoặc vị “đại gia hàng thần” nọ khuyến dụ người khác “làm lành với lịch sử” chẳng hạn. Đôi khi tôi lại nghĩ có lẽ ông vẫn chưa thoát ra khỏi cái “hội chứng” một lần được gặp gỡ với “một người cộng sản tử tế” chăng?

  3. Phan Son nói:

    Dù quá trình thôn tính chưa hoàn tất nhưng xã hội ta đã là một xã hội lệ thuộc. Người nghèo lệ thuộc người giàu, người giàu lệ thuộc quan chức, quan chức thì bị chi phối bởi những kẻ cơ hội. Người ta bị điều khiển bởi đồng tiền và những động lực vật chất, thật đúng như Rousseau nói trong khế ước xã hội: “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ”. Sự lệ thuộc vật chất dẫn đến ý thức lệ thuộc và ích kỷ. “Thôi, lo làm mà kiếm tiền, để ý chi đến những việc đó, gặp phiền phức bây giờ” là câu nói mà nhiều người bật ra khi nghe ai đó bức xúc về những vấn đề của xã hội và chính quyền. Những ý thức và suy nghĩ độc lập ngày càng hiếm hoi làm sức đề kháng của xã hội ngày càng xuống thấp. Khi mà thế lực thôn tính nhận thấy rằng nó có thể dẫn dắt các hành động của số đông bằng những tin đồn liên quan đến quyền lợi của họ, đó là lúc mà nó ra sẽ đòn quyết định. Một vài phép thử đã được thực hiện như cơn sốt vàng năm trước và gần đây là chứng khoán. Đáng lo hơn nữa là sự lệ thuộc suy nghĩ như vậy làm rất nhiều người, từ dân nghèo đến cả tầng lớp trung lưu hy vọng thụ động vào một sự thay đổi từ bên ngoài sẽ mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần và quyền lợi chính trị, mà không ý thức rằng chính mình mới là nhân tố quyết định những kết quả đó. Tác động từ bên ngoài là khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại, nhưng chính sức mạnh của nội lực mới quyết định kết quả của sự tác động đó là tốt hay xấu. Với sức đề kháng của xã hội như Việt Nam hiện nay, kết quả đó sẽ là một thảm họa. Chỉ cần nhìn vào thị trường thuốc chữa bệnh thì sẽ thấy quyền lợi và tính mạng của đại đa số dân ta đang bị hy sinh để phục vụ cho một nhóm lợi ích tư rất nhỏ trầm trọng đến mức nào. Các tập đoàn dược phẩm thao túng hoàn toàn thị trường nhờ sự tiếp tay của những kẻ cơ hội, đẩy giá thuốc lên khủng khiếp và liên tục nhiều năm qua bất chấp những nỗ lực của báo chí và những cố gắng của một số quan chức có trách nhiệm. Không cẩn thận thì thị trường xăng dầu sắp tới cũng sẽ bị lũng đoạn.

  4. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Tri Ngộ trích câu viết của GS Lê Xuân Khoa 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“, và ông kết luận: Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Chỉ xét về ý nghĩa riêng nói lên ở chỗ này, tôi nghĩ câu viết trên của giáo sư Lê Xuân Khoa dựa vào những kinh nghiệm đau thương đã xảy ra trong lịch sử dân tộc. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, một hành động dược coi trái đạo nghĩa đối với tư tưởng trung quân thời đó, nhiều người đã đi cầu cứu với nhà Minh bên ngoài, và tổ chức chống lại họ Hồ bên trong. Kết quả là thảm kịch: quân Minh chỉ cần mượn cớ phù Trần diệt Hồ đã chinh phuc nuớc ta rất dễ dàng, và sau đó nói con cháu nhà Trần chẳng còn ai để biến Đại Việt thành quận huyện của Trung quốc. Nhiều người Đại Việt thời đó đã phản ứng theo lòng uất hận kẻ bất nghĩa, bất trung, hay theo quyền lợi riêng vừa bị cướp mất, để chỉ thấy kẻ thù gần gũi cần tiêu diệt là họ Hồ, mà không thấy được kẻ thù còn ở xa nhưng nguy hiểm cho dân tộc hơn, là Trung quốc. Trong trường hợp khác, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để chống Tôn Sĩ Nghị, sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Thiếp đã hết lòng ủng hộ và bày kế cho ông (chưa kể đến Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở), và cũng chính ở vủng Thanh Nghệ Tĩnh nơi đã cung cấp quân binh trung thành nhất cho Chúa Trịnh (dẫn đến loạn Kiêu binh), Nguyễn Huệ đã mộ được hàng chục ngàn người cho đạo quân Tây Sơn Bắc tiến phá Thanh (cũng có nghĩa diệt luôn vua Lê chúa Trịnh). Cảm tính thường phản ứng cho quyền lợi tức thời, nên có khi thành nông nổi, và lý trì hướng dẫn cho hành động đúng đắn, hiệu quả hơn. Vấn đề là làm thế nào để tạo được sự quân bình giữa hai phản ứng, với nhiều xét suy, cân nhắc cho quyền lợi lớn và lâu dài. 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Ông Tri Ngộ nhận xét:” Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước…“. Có lẽ không nên mất nhiều thời gian để bàn thật sâu về thế nào là lòng yêu nước, nhưng nếu nghĩ đơn giản và chấp nhận một số quan niệm thông thường, sẽ thấy câu viết của GS Lê Xuân Khoa nêu vừa đủ các điều kiện cần thiết cho những người lãnh đạo VN trong tình hình gay go hiện nay. Nếu thật lóng yêu nước, họ thấy được đâu là quyền lợi thiết thực, lâu dài, và đâu là nguy cơ thật sự cho dân tộc, đồng thời họ cũng thấy muốn bảo vệ được đất nườc, chống lại được kẻ thú cực mạnh, bên trong cần phải dựa vào sức mạnh toàn dân đoàn kết, với nghĩa tự nguyện, và bên ngoài cần nhờ vào sự ủng hộ của quốc tế (thiện cảm với VN, chống Trung Quốc). Từ nhận thức đó sẽ thấy họ cần phải thay đổi thế nào, và thấy vai trò của người Việt hải ngoại không nhỏ trong hành động chung cho dân tộc.

  5. Hoàng Trường Sa nói:

    “CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.” (Tri Ngộ) Bạn Tri Ngộ nói rất đúng. Nếu xảy ra cuộc chiến TQ trực tiếp tấn công VN trên Biển Đông hay trên bộ dọc biên giới phía Bắc, thì Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại sẽ lâm vào một hoàn cảnh rất khó xử, và có lẽ sẽ bị chia rẽ rất lớn do phải chọn lựa thái độ là có nên nhập cuộc để hỗ trợ ĐCSVN chống lại TQ hay không (giả sử rằng vào lúc đó ĐCSVN không còn chọn lựa nào khác ngoài việc phải chống lại Tàu xâm lược). Một mặt, là con dân nước Việt, không ai có thể bàng quang tọa thị nhìn ngoại bang xâm lăng Tổ quốc mình, mà không chút xót xa, uất giận, và chắc chắn thế nào người Việt hải ngoại tuyệt đại đa số cũng phải tìm mọi cách để chống lại cuộc xâm lược này. Nhưng mặt khác, người Việt hải ngoại biết quá rõ bộ mặt phản dân hại nước của ĐCSVN. Họ cũng thừa biết là sau khi hy sinh tất cả để ngăn chận không cho Tàu xâm chiếm Tổ quốc thiêng liêng của họ, thì kẻ được hưởng lợi cũng lại là cái đảng thổ tả mắc toi mắc dịch CSVN này, chứ chẳng phải là đồng bào họ trong nước hay chính bản thân họ. Bởi vì, lúc đó cái đảng CSVN khốn nạn này lại sẽ tiếp tục hách dịch đè đầu cỡi cổ nhân dân ta trong nước như từ xưa đến nay. Nhưng nếu trái lại, người Việt hải ngoại cũng như toàn dân ta trong nước thờ ơ không nhập cuộc để cứu nước, thì Tổ quốc ta sẽ không còn nữa. Đó là nỗi đau của chúng ta. Nói cách khác, từ ngày có ĐCSVN, đảng này đã coi đất nước VN là vật sở hữu của đảng họ, coi nhân dân VN là những kẻ tôi đòi, những con vật thí mạng mà đảng có thể sử dụng bằng đủ mọi cách (qua những lời kêu gọi hoa mỹ, đánh động tình cảm yêu nước của người dân như Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ) để bảo vệ cái ngai vàng cùng với những đặc quyền đặc lợi của bè đảng bọn họ. Có điều, với sự chia rẽ trầm trọng giữa người Việt hiện nay, với sự suy yếu cùng cực, sự bất tài, tham nhũng, sự yếu hèn khiếp sợ Tàu của ĐCSVN hiện nay, cùng việc nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN đã không có được thiện cảm cùng sự kính trọng, quý mến và hỗ trợ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, việc chống cự lại cuộc xâm lăng của TQ (nếu có) lần này e rằng sẽ rất khó khăn. Cá nhân tôi đã nhiều ngày đêm suy nghĩ về vấn nạn đau khổ này, nhưng thú thật vẫn chưa tìm ra giải đáp. Dù ai cũng biết rằng, để thoát ra nỗi khổ triền miên bất tận này, cách duy nhất là loại bỏ vĩnh viễn cái đảng CSVN này. Nhưng làm sao để thực hiện thành công chuyện này đây, khi ĐCSVN đang nắm trong tay bộ máy thống trị chuyên chính, với dùi cui, roi điện, súng đạn, tiền bạc dồi dào, đầy đủ và sau lưng còn có sự hỗ trợ của bọn bá quyền Bắc Kinh. Để thay đổi chế độ, chắc chắn toàn dân ta sẽ phải làm lịch sử một lần nữa. Nhưng cái giá phải trả e rằng không nhỏ. Có thể phải trả bằng giá máu, mà đây là điều không ai mong muốn cả. Việc mong chờ ĐCSVN tự động thay đổi là chuyện không bao giờ xảy ra. Xin đừng có ai tơ tưởng vào điều bất khả này. Có lẽ, chỉ khi nào dân ta tỉnh ngộ trước thực tế đau xót này, và đồng lòng đứng dậy, hy sinh đòi lại quyền làm chủ đất nước, thì may ra mới có cơ hội thoát ra khỏi thế bí này. Sẽ có người hy sinh ngả xuống cho thế hệ VN tương lai còn được sống, hay nói theo ngôn ngữ của CSVN thì sẽ có người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Thật là một vòng lẫn quẫn khởi đi từ muà thu lịch sử năm 1945. Một chu trình kín dẫn dắt dân tộc qua ngàn cửa ải đau thương, để trở lại điểm bắt đầu, sau 65 năm tang tóc, núi xương, sông máu. Với một giấc mơ còn dang dỡ. Thật là buồn và giận ông Hồ vô vàn.

  6. Trương Đức nói:

    Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội. (trích “Bill Hayton – Đảng Cộng sản và tương lai Việt Nam”) Nhân đọc được đoạn trích trên đây, tôi xin mạn phép tác giả Bill Hayton cũng như dịch giả Đinh Từ Thức được ghi ra đây để làm rõ thêm cái ý “Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!” trong PH của bác Nam Phan. Dĩ nhiên là tôi rất hiểu “thâm ý” của bác Nam Phan, nhưng tiện đây tôi xin có một ý kiến như thế này: Tại sao giáo sư Lê Xuân Khoa có quyền “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được””, còn tôi thì “đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất., hay nói như tác giả Bill Hayton là tôi phải “hạn chế tự do ngôn luận”? Phải chăng, “Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm” là gián tiếp chấp nhận “sự hạn chế tự do ngôn luận” của ĐCSVN? Và cuối cùng, chẳng lẽ giáo sư LXK, với cái ý “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được”” cũng muốn trở thành “cá mè một lứa” với “Tiến Sĩ triết gia”?

  7. Tri Ngộ nói:

    GS Lê Xuân Khoa viết: 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“. Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Trên thực tế, điều này rất khó xảy ra. Dân tộc nào làm được điều này thì dân tộc đó rất hùng mạnh và chắc chắn có nếp sống đẹp và văn hoá cao. Câu hỏi tôi tự đặt ra là dân tộc chúng ta chưa đạt đến trình độ này. Đời nhà Trần sở dĩ chúng ta hùng mạnh và đánh đuổi được giặc Nguyên cũng nhờ nếp sống từ ái của Vua đối với dân. Vua biết thương dân, biết tha thứ những quan thần đã phản bội Vua. Vua biết hy sinh (đang đi tu và rũ áo tu, quay lại cùng dân quân đánh đuổi giặc Nguyên). Ngày nay những người lãnh đạo nước ta là những người do Đảng chỉ định. Họ là những đảng viên chỉ biết vâng lời Đảng. Họ là những người lãnh đạo bất tài. Họ vâng lệnh Đảng một cách tuyệt đối và mù quáng. Tôi xin trích lại lời của ông Lê Duẩn: “từ đỉnh cao thắng lợi ngày nay, nhìn lại quá trình chiến đấu và trưởng thành đã qua, quân đội ta nhận thức sâu sắc rằng tất cả những chiến công và thành tựu của mình đều bắt nguồn từ đường lối cách mạng độc lập tự chủ của Đảng. Đường lối đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” (NXBQĐND, Hà Nội, 1980). Chúng ta không thể coi thường những cái nhìn rất độc đoán và nguy hiểm này của người CS. Đây là một bức tường lớn ngăn cản sự hợp lực của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại (CĐNVHN). 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước. Sao ta không nói được “thật lòng yêu nước” thì phải trước tiên từ bỏ chủ nghĩa CS, lật đổ chính quyền hiện tại và tổ chức bầu cử cho một nước VN mới có dân chủ với một tương lai sáng lạn hơn. Điều này ai sẽ làm được nếu không có quân đội trong tay. CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.

  8. Nam Phan nói:

    Giáo Sư Lê Xuân Khoa đã học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được” cuả Tiến Sĩ triết gia! Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!

  9. Hoà Nguyễn nói:

    Nhân một câu viết của ông Hoàng Trường Sa, xin có đôi lời. Theo các thông tin trên mạng, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy học ở Hà Nội từ năm 1950, và tôi hiểu có lẽ là ông dạy thêm khi tiếp tục học như phần đông các sinh viên thời đó. Ông tốt nghiệp đại học Văn Khoa và Cao đẳng Sư Phạm năm 1953, được học bổng năm 1960 để theo học đại học Sorbonne (Pháp), và ghi danh luận án tiến sĩ triết học với dề tài Phật giáo Thiền tông tại Việt Nam. Ông qua Ấn Độ nhiều lần để nghiên cứu triết học Ấn, và giảng dạy triết lý Upanishad tại đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau này, ông cũng dạy tại đại học Đà Lạt, Minh Đức và Vạn Hạnh. Trong một thời gian, tôi đọc nhiều bài ông viết về Phật giáo và Thiền tông đăng trên tạp chí Bách Khoa, với giọng văn không khác ngày nay, sáng sủa và khúc chiết. Có thời gian ngắn ông làm tổng thư ký bộ Giáo dục (tương đương thứ trưởng), và chức vụ cuối cùng ở Việt Nam là Phó Viện trưởng Ðại học Sài Gòn. Sau năm 1975 khi qua Mỹ, ông là chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), và là giáo sư thỉnh giảng Ðại học Johns Hopkins tại Washington DC. Khi mới vào Sài Gòn, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy tại trường Pétrus Ký (và Quốc gia Sư phạm gần đó), và tôi theo học giáo sư trong khoảng thời gian này. Tôi vẫn giữ nhiều hình ảnh đẹp về những thầy cũ của mình, và giáo sư là người thầy tận tâm, khả kính. Tôi còn nhớ một hôm khi bài đã giảng xong mà còn mấy phút nữa mới hết giờ, học trò hơi nhốn nháo, “thày Khoa” nói gì đó và chấm dứt với câu “giáo bất nghiêm sư chi noạ”, cả lớp nghe mà ngơ ngác, nhưng do đó cũng im lặng hơn. Mãi nhiều năm sau, tôi cũng “đứng lớp” mới hiểu hết ý nghĩa một câu nói trong nghề giáo, có lẽ đã có từ thời Khổng Tử. Tôi và các bạn học có thể thắc mắc tại sao ông thầy cũ của mình xưa kia thật hiền, nho nhã, có nét mặt rất tươi tuy ít khi cười với đám học trò, chuyên về Triết Đông, suốt đời dạy học và làm việc cho người tỵ nạn, bây giờ lại thường viết về một vấn đề chính trị gai góc vào bật nhất để dễ gặp phản ứng mạnh ở nhiều người, thuộc nhiều khuynh hướng, từ nhiều phía khác nhau đến đối nghịch. Nhưng theo tôi hiểu, việc làm hiện nay của một ông giáo đã nghỉ hưu, như vẫn chuyên cần viết sử, tham luận chính trị, có lẽ bắt nguồn từ tấm lòng và sự can trường khi còn là học sinh Trung học ở Hà Nội: ông từng bị bắt với vài người bạn vì hoạt động chống Pháp (theo thư ông gửi cho BBC) Bài viết “<i Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại ” của giáo sư Lê Xuân Khoa đáng được người Việt hải ngoại đọc và thảo luận ở các diễn đàn thích hợp, dù sẽ có nhiều người đồng ý hay phản đối quan điểm của ông. Đó là một cách nhìn, một phương sách, một giải pháp đề nghị cho một tình thế khẩn thiết lại như đang trong bế tắc. Dù thế nào, tôi cũng cảm thấy giáo sư thao thức nhiều với những suy nghĩ riêng của mính, đồng thời vẫn hy vọng, và có ước vọng lớn cho tương lai Việt Nam. Vấn đề đặt ra rất rộng, nhưng tạm thời, nên giới hạn trong ba tiền đề do ông nêu: <i1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc : Có thật hay không như giáo sư nói “ hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước “, và nguy cơ đó còn xa hay gần kề ? <i2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam : Khi điều kiện “ lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế ” không thể có được trong hiện tại, thì với hiểm hoạ Trung Quốc lớn hơn bao giờ hết, đất nước VN sẽ ra sao, và để mong cứu vãn tình thế, người Việt trong và ngoài nước có thể làm được gì. <i3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại : Bài viết gợi ý nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, nên phán định từng điểm để coi có thật sự lợi ích cho đất nước, có khả thi đối với cộng đồng người Việt hải ngoại không, và cũng xét tới làm như thế có gây cản trở gì không cho công cuộc vận động dân chủ, tự do ở VN . Khi có thể, tôi sẽ góp ý tiếp.

  10. Hoàng Trường Sa nói:

    “4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết!” (Trương Đức) Làm răng mà bảo đảm chuyện nớ được, bác Trương Đức ơi ! Tui thấy rõ là không cần chờ tới khi “hiểm họa TQ” đã qua, mà ngay hôm nay, khi “hiểm họa TQ” đang đè nặng trên Tổ quốc ta, ĐCSVN cũng xem cái hiểm họa này rất nhỏ so sánh với kẻ thù không đội trời chung của họ là khối người Việt tỵ nạn CS trên toàn thế giới mà họ đang rắp tâm triệt hạ cho bằng được. Tôi thấy rõ chuyện nớ như đang thấy lòng bàn tay mình dưới bóng đèn điện 200 watt: Các đường chỉ tay ra răng, các đốt ngón tay ra răng. Họa chăng là những người chưa có kinh nghiệm về ĐCSVN hoặc là có kinh nghiệm đấy, nhưng lại tự lừa dối chính bản thân, do quá “yêu nước” hoặc quá ngây thơ, mà hy vọng đảng “ta” đã (hay sẽ) thay đổi. Kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây do Đại Nghĩa sưu tầm: Đảng cộng sản lấy gian dối làm phương châm

  11. [...] Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại    Lê Xuân Khoa – Talawas [...]

  12. Trương Đức nói:

    “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.”(Lê Xuân Khoa) Tôi xin được xin lỗi trước giáo sư LXK, nếu trong phản hồi này có điều gì không phải! Đọc bài này tôi thấy giáo sư Khoa, khi viết bài này, như thể làm cái công việc “vá víu” lại cái “tấm áo dân chủ” đã rách bươm gần thế kỷ nay cho dân tộc VN. Và một câu hỏi hiện lên trong đầu tôi: Tại sao ông LXK không tìm cách “cởi ra” và “vứt bỏ” cái “tấm áo vá chằng vá chịt” ấy đi, và bày cách “mặc” cho dân tộc mình một “tấm áo dân chủ” hoàn toàn mới đi? Tôi xin được phát biểu vài cảm nghĩ của mình như sau: 1. Giáo sư Khoa nêu ra “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.“, thì tôi thấy, giáo sư không những không nêu ra được điều gì mới mẻ cả, mà còn “quên béng” mất một điều kiện tối quan trọng và là tiền đề cho ba điều kiện kia, là “Ngay bây giờ, càng sớm càng tốt, nên THIẾT LẬP NỀN ĐA NGUYÊN DÂN CHỦ cho VN”. Bởi vì, khi có được một nền dân chủ đa nguyên đa đảng thực sự tại VN, thì: – Điều kiện thứ nhất là “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước” sẽ được đáp ứng, bởi vì lúc đó, “lãnh đạo”(đảng hoặc liên minh các đảng thắng bầu cử tự do và được quyền thành lập chính phủ) đương nhiên phải “tài giỏi” và “thực lòng yêu nước” rồi, nếu không thì nhân dân đã không “bầu”. – Điều kiện thứ hai là “huy động được sự đoàn kết của toàn dân” cũng dễ dàng được thực hiện, bởi vì, đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền sẽ huy động được toàn thể số cử tri(nhân dân) của mình, cộng với số cử tri(cũng là nhân dân) của các đảng khác trước nguy cơ xâm chiếm Tổ quốc VN của ngoại bang. – Và như thế, điều kiện thứ ba là “vận động được sự ủng hộ của quốc tế.” chỉ là một mệnh đề kéo theo, cũng sẽ xảy ra, bởi vì cuộc kháng chiến chính nghĩa chống xâm lược của một đất nước dân chủ, bao giờ cũng được quốc tế ủng hộ. 2. Tất nhiên là giáo sư Khoa sẽ bảo tôi rằng, ông nêu ra “3 điều kiện” trên là với tình trạng hiện nay của VN. Vâng, nhưng tôi cũng xin hỏi giáo sư rằng: khi nào thì xảy ra “hiểm họa TQ”? Hiện nay thì chưa, đúng không? Vậy thì tại sao ngay bây giờ “ông Nhà nước VN” không tiến hành một cuộc “thay áo” (tôi không muốn dùng từ “thay máu”, sợ rằng ông Nguyễn Minh Triết lại bảo tôi là kẻ “thích đổ máu”!) cho dân tộc đi? “Ông Nhà nước VN” muốn đợi đến bao giờ? Và giáo sư Khoa còn muốn “vá áo” đến bao giờ nữa? “Tấm áo dân chủ” hiện giờ mà ĐCSVN đã “khoác” lên cho dân tộc hơn 80 năm qua đã “cũ rích”, đã bị “rách bươm” qua “những tháng năm cuồng nộ” và đã bị “vá chằng vá chịt” chẳng ra thể thống gì cả rồi. Nên “thay áo” đi, kể ra bây giờ, sau cuộc chiến 1954-1975 đã hơn 35 năm, là đã muộn lắm rồi, nhưng muộn còn hơn không! 3. Dân tộc VN đã mất lòng tin vào ĐCSVN, nên “Ông Nhà nước VN” có làm gì cũng là những hành động “vá víu” vớ vẩn. Cái hiện tình(sự thoái hóa về đạo đức và văn hóa của xã hội và con người, đời sống thiếu thốn nghèo đói, kinh tế đi xuống, nguy cơ mất nước, không có lối thoát,…) của đất nước VN ta chứng minh điều đó. Tất cả cũng chỉ là do toàn dân không còn tin vào Nhà nước nữa. Không có niềm tin thì khó có thể “xây dựng” hay “bảo vệ” một cái gì cả! 4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết! 5. Để tạm kết luận, tôi xin được trích lại đây lời PH của bác Lề Trái, coi như là bác LT nói hộ ý kiến của mình (Xin cám ơn bác Lề Trái!): “Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác.”

  13. [...] KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI TRƯỚC HIỂM HỌA TRUNG QUỐC Bởi ngoclinhvugia Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại [...]

  14. Lề Trái nói:

    phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế” Đã có một dữ liệu nào để bảo đảm cái giả định trên là khả thể, hay những gì xảy ra đều chỉ ra giả định trên đang mấp mé giả tưởng? Nếu dữ liệu không đỡ nổi cái giả định, thì những đề nghị trên có còn giá trị nữa hay không? Và cả bài này có đáng giá như những giả định chính trị đầy rẫy ở hải ngoại kiểu “những người hải ngoại phải làm gì”? Đôi khi muốn giải quyết vấn đề, người ta phải truy ngược lên vấn đề bắt nguồn từ đâu, và giải quyết từ gốc thay vì cứ chữa triệu chứng kiểu tương tylenol cho bệnh liệt kháng đơn thuần chỉ vì dễ nhiễm lạnh. Nhân tiện, tôi nói luôn: Một trong những kết quả cuối cùng của Marxism là chủ nghĩa thực dân mới. Vì nó ở mức cao hơn, nên có người đã giả định (theorize) là thực dân tự nguyện ie vũ lực phần lớn mang ý nghĩa tượng trưng. Tiếc dân Đông Âu hình như nhận ra nên cứ cù nhầy cù dưa, còn lòi ra anh Nam Tư cứng đầu cứng cổ. Nhưng sự xuất hiện của xe tăng LX (cũ) ở Tiệp và Hung năm nào là những dấu hiệu đáng kể. VN & TQ có thể sự chuyển tiếp sang thực dân mới sẽ suôn sẻ hơn, tức là trên phương diện lý thuyết, rất có thể VN sẽ thành 1 tỉnh không thể thiếu của TQ, hay ít nhất 2 nền hành chính sẽ sáp nhập. Chừng nào chuyện này xảy ra? Thiển ý của tôi, VN là điểm nổ của Critical Mass TQ. Hiện giờ chưa xảy ra vì TQ vẫn còn nén mình. Tới 1 lúc nào đó khi TQ đã đủ sức “vươn vai đứng dậy sáng lòa”, VN nếu chưa bị thôn tính bằng chính trị sẽ lãnh ngay hậu quả quân sự. TQ muốn tiến ra thế giới sẽ phải bước qua VN. Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác. Nếu dân ta cứ để sự thôn tính xảy ra, tôi sẽ buồn, rất buồn nữa là đàng khác. Nhưng để gỡ gạc, tôi đặt sẵn cục gạch xí chỗ trong những người ủng hộ giả thuyết trên. Ngoài lề 1 tí, tưởng đã ăn chắc vụ VN vào Cambodia và TQ chiếm Tây Tạng, LHQ lao vào cứu 1 bàn thua trông thấy vụ VN/Cambodia. TQ/Tây Tạng thuộc loại thực dân thẳng thừng ie bạo lực “không” tượng trưng, nên bên pro-marx cãi là không tính. TQ/VN là hy vọng cuối cùng!

  15. Hoàng Trường Sa nói:

    “Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa) Tôi đọc bài này của Giáo sư Lê Xuân Khoa đang ngon lành, đến đoạn này thì KHỰNG lại luôn, mồ hôi đổ toát ra dù lúc này bên Úc tiết trời đang giá lạnh. Dù kính trọng Giáo sư (một phần do nể bác Hòa Nguyễn, một học trò cũ của Giáo sư) và ghi nhận thiện chí của Giáo sư Khoa, tôi thấy Giáo sư có vẻ quên bài học lịch sử năm 1945 quá nhanh. Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (nguyên văn) mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua. Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946). Cái tiền đề của Giáo sư Khoa rằng ĐCSVN cũng muốn chống lại sự xâm lấn bành trướng của TQ, theo ngu ý, là một tiền đề còn quá mù mờ chưa thể tin ngay được, cần xem kỹ lại, bởi vì ngay cả việc người dân trong nước chỉ muốn nói lên câu “Hoàng Sa và Trường Sa là của VN” mà cũng bị nhà nước CS ngăn cấm và đàn áp. Tôi xin lỗi phải tạm ngưng đọc tiếp bài này cho đến khi HOÀN HỒN, sau đó sẽ tính lại. Dù sao cũng phải cám ơn tác giả Lê Xuân Khoa đã cất công viết bài này để mọi người cùng suy ngẫm.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , , , , | 11 phản hồi »

575. Thư Bộ NGVN gửi ông “Joseph” Cao

Đăng bởi anhbasam on 06/05/2010

Bộ Ngoại giao Việt Nam

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Ngày 31 tháng 3 năm 2010,

Ngài Ánh “Joseph” Cao,

Hạ nghị sĩ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Phòng 2113, Tòa nhà Hạ viện Rayburn

Thủ đô Oa-sing-tơn, 20515

Thưa Ngài Hạ nghị sĩ,

Như đã có dịp trao đổi với Ngài tại Hà Nội nhân chuyến thăm Việt Nam của Ngài cùng các Hạ nghị sĩ Eni Faleomavaega và Mike Honda tháng 1/2010, Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài dự kiến tiến hành chuyến đi tới Mỹ và Canada với mục đích gặp gỡ và tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam, trong đó có cả những cá nhân, tổ chức còn thiếu thông tin đúng đắn về Việt Nam và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam.

Trong cuộc tiếp xúc tại Hà Nội ngày 05/0/2010, Ngài đã bày tỏ tình cảm yêu mến quê hương Việt Nam, cội nguồn của Ngài và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh. Cũng dịp này, Ngài còn cho rằng dù còn có những ý kiến khác nhau trên một số vấn đề nhưng chúng ta vẫn có thể đối thoại và tìm cách hợp tác vì sự phát triển của Việt Nam.

Chúng tôi tin tưởng rằng với thiện chí của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, với vị trí và uy tín của Ngài trong Chính quyền Mỹ cũng như trong cộng đồng người Việt Nam sở tại…với những gì Ngài đã tận mắt chứng kiến và thực sự cảm nhận qua chuyến về Việt Nam vừa rồi, tôi huy vọng Ngài, sẽ cùng hợp tác với chúng tôi để chúng ta có những cuộc trao đổi cởi mở, thẳng thắn nhằm đem lại lợi ích thiết thực góp phần xây dựng cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung thành cộng đồng người Việt ở hải ngoại thực sự đoàn kết về Quê hương đất nước ruột thịt của mình.

Đại sứ quán Việt Nam tại Washington D.C. sẽ chuyển bức thư này tới Văn phòng của Ngài và sẽ trực tiếp liên hệ về chi tiết của chuyến đi.

Nhân dịp này tôi xin gửi tới Ngài cùng gia đình lời chào trân trọng.

Nguyễn Thanh Sơn

Thứ trưởng Ngoại giao,

Chủ nhiệm

Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Bản gốc: http://josephcao.house.gov/UploadedFiles/Nguyen_Thanh_Son_request.pdf

Ghi chú: bản đánh máy giữ đúng như bản chính, kể cả lỗi chính tả như “tôi huy vọng”, cách viết hoa trong thư, vị trí bỏ dấu, và cách dùng từ, chẳng hạn như ở trên thì “Oa-sing-tơn”, ở cuối văn bản thì “Washington”…tất cả đều theo bản chính.

Và tin trên VOA: Dân biểu Cao Quang Ánh ‘khước từ’ đề nghị đối thoại của VN.

Bản gốc tiếng Anh bức thư của ông Ánh: http://josephcao.house.gov/UploadedFiles/Letter_to_Deputy_Minister_Nguyen_Thanh_Son.pdf

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: | 20 phản hồi »

480. Có được giấc mơ Mỹ là mất đi người mẹ Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 22/02/2010

bnd.com

Câu chuyện về 2 nền văn hoá:

Có được giấc mơ Mỹ là mất đi người mẹ Việt Nam

TERI MADDOX

21-02-2010


Rob Nguyễn đã không nhìn thấy người mẹ Việt của mình trong 34 năm, nhưng anh đã nhận ra bà ngay lập tức khi anh ra khỏi máy bay ở TP Hồ Chí Minh.

Phan Thu Lan, 55 tuổi, thì mỏng manh và yếu đuối. Bà là nạn nhân của nghèo đói cùng cực và những đau buồn riêng tư. Bà không nói được tiếng Anh.

“Thật là cảm động”, Rob 36 tuổi, sống ở Belleville, nói được chút tiếng Việt. “Thật khó giải thích. Bà đã nhìn chằm chằm vào tôi với cái nhìn tôn kính pha lẫn sợ hãi và cảm giác giải toả. Bà xoa cánh tay tôi. Chúng tôi đã không nói nhiều trên đường về nhà bà, nhưng bà vẫn liên tục nhìn tôi bằng ánh mắt đẫm lệ. Tôi cảm thấy thật dễ chịu”.

Rob lên 2 khi anh chạy thoát sang Hoa Kỳ với bà ngoại (hay bà nội) trong thời gian Sài Gòn sụp đổ. Mẹ anh dự định là sẽ đi theo một tuần sau đó, nhưng lỡ hẹn với người cha, một người lính Nam Việt Nam và đã đã bị kẹt lại.

Bà Lan có hai cô con gái, 32 tuổi và 15 tuổi, từ cuộc hôn nhân (hay cuộc tình?) khác. Bà sống trong một căn nhà xập xệ bằng bê tông với mái nhà bằng kim loại, nấu ăn và dọn dẹp các căn phòng để đổi lấy miếng ăn và chỗ ở.

Rob bị sốc khi nhìn thấy giường của bà, một mảnh ván ép với một tấm chăn làm nệm. Trong nhà không có vòi tắm hoa sen nên bà đun nóng nước để tắm.

“Khi bạn lớn lên ở Hoa Kỳ, bạn đi đến một nước thuộc thế giới thứ ba, và bạn thấy điều kiện sống … Nó làm cho bạn thực sự quý trọng những gì bạn có,” Rob nói. “Và nó thực sự làm tôi cảm thấy có lỗi. Tôi nghĩ, bà đã sống như thế trong bao nhiêu năm nay”.

Chuyến đi của Rob về Việt Nam đã diễn ra hơn một năm trước đây. Anh muốn đưa mẹ anh tới Hoa Kỳ, ít nhất là tạm thời, nhưng các quan chức chính phủ đã từ chối hai yêu cầu của anh.

“Tôi hiểu tình hình”, anh nói. “Họ lo sợ bà sẽ ở lại mà không trở về Việt Nam. Nhưng thật là bực mình. Tôi muốn bà sang đây thăm tôi và gặp những đứa cháu nội. Không phải tôi đang cố đưa bà đi một cách nhanh nhất”.

Giá trị gia đình

Tệ quan liêu liên quan đến cơ quan Di Trú là một chuỗi thử thách gần đây nhất mà Rob và Star, vợ ông, phải đối mặt.

Họ nhận nuôi năm đứa trẻ từ hai người chị (hoặc em) gái của Star trong bốn năm qua để đưa chúng ra khỏi nơi nuôi dưỡng [của chính phủ]. Hai người cũng có hai con chung với nhau.

“Tôi biết mình phải vật lộn với cuộc sống ra sao khi không có mẹ”, cô Star, 32 tuổi, người mà mẹ đã ra đi khi còn là một đứa trẻ mới biết đi. “Tôi không muốn những đứa cháu của tôi phải trải qua cuộc sống như thế”.

Star giữ lại những đứa trẻ, tuổi từ 4-13, trông tươm tất với quần áo từ các cửa hàng tiết kiệm. Cô mua sắm ở cửa hàng Sam để được giá rẻ cho số lượng lớn thực phẩm, vật dụng dùng cho phòng tắm và đồ dùng trong gia đình.

Rob làm việc thêm giờ mỗi khi có thể, anh sửa chữa và bảo trì dây điện cho AmerenUE tại St Louis, leo lên các cây cột điện và sửa chữa những máy biến thế điện.

“Thật ngạc nhiên khi anh ấy lên được vị trí mà anh ta đang có, cân nhắc việc anh ấy đến từ vị trí nào”, Giám sát viên, ông Sam Hardin, người mô tả Rob là một người “rất cần cù, rất chân thành và cũng rất được ưa thích.”

Đứa con trai nhỏ tuổi nhất của Rob và Star, Isaiah Nguyễn, 4 tuổi, đang học trường Jefferson School ở Belleville. Savanna, 5 tuổi, Shyanne, 6 tuổi, Constance, 7 tuổi, và Jeramiah, 11 tuổi, đang học trường Abraham Lincoln School. Jasmine và Robby, 13 tuổi, học trường tiểu học West Junior High School.

Mỗi đêm, các thành viên trong gia đình ngồi trong một vòng tròn và chia sẻ với nhau những câu chuyện trong ngày của họ trước khi ăn, chơi game hay xem phim với nhau.

Gia đình Nguyễn thỉnh thoảng ăn ở nhà hàng Việt Nam tại Lake Christine và mua đồ ăn vặt ở chợ Oriental, St Louis. Rob đã dạy cho các con đếm tới 10 bằng tiếng Việt.

“Tôi có nhiều người quen ngưỡng mộ gia đình này”, bà Jenny Schroeder, ở Belleville, người đã học một lớp Kinh Thánh với Star ở nhà thờ Christ United Methodist Church.

“Họ sống khép kín. Họ làm việc với nhau để giữ ổn định trong gia đình. Mỗi người có trách nhiệm riêng của mình. Có sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi khâm phục họ và những giá trị cốt lõi của họ. Rất hay để học hỏi”.

Người tị nạn Việt Nam

Rob không thể nhớ sự kiện tiến chiếm Sài Gòn của Bắc Việt, đánh dấu sự kết thúc Chiến tranh Việt Nam vào năm 1975. Anh chỉ có những ký ức mơ hồ về việc đến California như một người tị nạn.

“Tôi nhớ một người lính Hoa Kỳ mặc áo choàng cho tôi và họ cầm ngón tay tôi lăn vào mực để lấy dấu vân tay”, Rob nói. “Đó là Camp Pendleton mà sau này tôi đã tìm ra.”

Rob được nuôi bởi bà nội (hay bà ngoại ?) trong một căn nhà đầy ắp họ hàng người Việt ở Lawndale, California. Họ thay phiên nhau làm việc để cùng lo cho nhau học xong ở trường thương mại.

Rob và Star gặp nhau khi họ là hàng xóm láng giềng. Cô đã chuyển đến California khi còn là một thanh thiếu niên, để xích lại gần với người mẹ ghẻ của cô.

Hai người (Rob and Star) tin rằng hoàn cảnh lớn lên không có mẹ đã làm cho họ dính kết nhau một cách nhanh chóng. Rob 21 tuổi và Star 16 tuổi khi họ lái xe đến Las Vegas kết hôn.

“Tôi đi học vào ban đêm và làm việc ở Denny”, Star nói. “Anh ấy làm ba công việc, là một nhân viên nhà máy sản xuất kim loại, nhân viên dọn dẹp ở cửa hàng Kids “R” Us và cuối tuần đi làm vườn”.

Star không có bằng lái xe, và Rob thì không có xe. Anh ta đạp xe 5 dặm, đẩy xe đạp cho Star để cô có thể về nhà từ nhà hàng.

Kể từ đó, Rob đã làm việc tại một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô, cửa hàng tiện và hầm mỏ khai khoáng. Anh thậm chí làm cả công việc đóng hộp trong vài năm để kiếm thêm tiền.

Hai người dọn đến Belleville vào năm 2003, khi Rob tìm được công việc ở hãng AmerenUE. Anh đã trở thành công dân Mỹ năm ngoái.

Rob và Star hy vọng các quan chức chính phủ cuối cùng sẽ cho phép mẹ và đứa em gái 15 tuổi du lịch đến Hoa Kỳ từ Việt Nam.

“Thật tình thì tôi nghĩ rằng, đối với tôi đó là việc có ích nếu mẹ và em gái của anh ấy đến đây,” Star nói. “Họ cùng chung một gia đình. Những đứa trẻ thật sự không có cô, chú gì cả. Tôi đã làm mọi thứ một mình”.


Người dịch: Ngọc Thu

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | Tagged: , | 1 Comment »

472. Sự trở về của thuyền nhân

Đăng bởi anhbasam on 14/02/2010

Economist.com

Sự trở về của thuyền nhân

Ngày 24-4-2008

Từ bản báo in The Economist

Những người tị nạn xưa, nay đem về kỹ năng và tiền bạc


HỌ đã ném bản thân mình ra biển khơi trong những con thuyền rách nát để hàng trăm nghìn người trong số họ, quá liều lĩnh trốn chạy sự cùng cực và áp bức mà phải mạo hiểm với chết đuối, cướp bóc hay bị bắn. Có một thời mà cái từ “người Việt Nam” hầu như luôn đi liền với chữ “thuyền nhân”. Chúng bắt đầu xuất hiện ngay sau sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Vào năm 1994, sự mở rộng tự do ở Việt Nam được thực hiện trong lĩnh vực kinh tế, cơn thác lũ những người tị nạn trở nên ít ỏi và Liên hiệp quốc đã tìm được một giải pháp để tái định cư hoặc hồi hương cho họ.

Hàng triệu người khác đã rời Việt Nam bằng những cách thức ít mạo hiểm hơn trong và sau các cuộc chiến giành độc lập ở giữa thế kỷ 20. Song những năm gần đây nhiều người trong số 2,7 triệu Viet kieu (Việt kiều-overseas Vietnamese) đã bắt đầu dần dần trở về, và được nhà nước khuyến khích. Quyền đề xướng việc kêu gọi họ trở về được xuất phát từ cấp rất cao. Vào tháng Một, Nông Đức Mạnh, tổng bí thư của Đảng Cộng sản, đã nói rằng thành tựu kinh tế gần đây của Việt Nam một phần là nhờ có những nỗ lực của những người yêu nước sống xa quê hương nay trở về.

Trong số họ có Philip Owings, người đã chạy trốn trên một con thuyền khi mới 8 tuổi, rồi tới một trại tị nạn một mình mà không biết gia đình ở đâu. Được những người Mỹ nhận làm con nuôi và trưởng thành trên vùng biển miền Tây West Coast, nhưng nay anh trở về trong vai trò là một phụ tá giám đốc của một trong những khách sạn hàng đầu ở Hà Nội. Anh Owings lần đầu tiên trở về cách đây bảy năm khi là một sinh viên trong chương trình trao đổi giáo dục và thừa nhận đó là một cú sốc văn hóa đối với mình. Giờ đây, với một nghề nghiệp đầy hứa hẹn, anh đã cưới một người vợ Việt Nam và cảm thấy cuộc sống đã ổn định. Người trong nước bán hàng cho anh vẫn ra giá như với người nước ngoài khi nghe cái giọng nói của anh, nhưng anh nói là anh vẫn dễ dàng chấp nhận vì họ là đồng bào của mình.

David Thái, một một chủ quán cà phê (xem thêm bài báo), sinh trưởng tại Sài Gòn trong một gia đình đã phải tản cư từ miền bắc sau cuộc chiến đánh đuổi người Pháp, rồi họ ra đi trên một con thuyền vào năm 1975 và tới Philippines rồi Vanuatu, Mỹ. Anh diễn tả nỗi ham muốn trở thành một người Mỹ tăng dần song rồi lại khao khát tìm kiếm đặc tính Việt Nam của mình. Trở về trong vai trò là một sinh viên, như anh Owings, anh đã được gặp những thái độ lịch thiệp, chứ không phải sự thù nghịch như anh từng lo sợ.

Tracy Le, một người Úc gốc Việt ở Melbourne với chất giọng đúng như những người hàng xóm của mình, cô đã về thăm đất nước mà cha mẹ mình đã rời bỏ từ những năm 1970, nhưng cô đã chấp nhận một công việc tại Indochina Capital, một công ty ở Thành phố Hồ Chí Minh đang khơi dòng cho các nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền vào các công ty của Việt Nam. Cô cho rằng mình là điển hình cho lớp trẻ xa xứ: chỉ lên kế hoạch cho một chuyến viếng thăm ngắn ngày chứ không lưu lại. Hầu hết trong số họ đều cho rằng chẳng cần thiết để bỏ đi hộ chiếu nước ngoài của mình vào lúc này. Chính phủ đang có kể hoạch trao cho họ quy chế hai quốc tịch.

Việt Nam không có một cộng đồng kiều dân rất giàu có ở nước ngoài như của Trung Quốc. Năm ngoái chính phủ Việt Nam đã ghi nhận mức đầu tư thương mại của Việt kiều chỉ có 89 triệu đô la, mặc dù có thể họ đã tiêu pha hơn rất nhiều cho cá nhân, từ mua xe cộ cho tới nhà cửa. Một đóng góp quan trọng hơn nhiều là những khoản tiền gửi về nước do những người di dân gửi cho gia đình họ – số liệu chính thức năm ngoái là 5,5 tỉ đô la, song có thể nhiều hơn.

Một số lượng lớn các chuyên gia được đào tạo tử tế trở về từ những nước giàu có đúng là thứ mà Việt Nam cần để trợ giúp cho tình trạng thiếu thốn những kỹ năng bậc cao. Ông chủ của cô Le ở Indochina Capitol, Nguyễn Kim Tùng, một người Mỹ gốc Việt, cho rằng có một làn sóng lớn hơn đang đến khi những di dân lớn tuổi hơn trở về chi tiêu cho những năm tháng cuối đời trên quê hương mình. Họ sẽ không cần lo việc làm, nhưng lại đem những đồng tiền hưu trí của mình theo về và xây những căn nhà dưỡng già ở các vùng ngoại ô thành phố.

Liệu những làn sóng người lưu vong trở về do từng quen sống cuộc sống trong các xã hội dân chủ cũng sẽ giúp cho việc chuyển đổi nền chính trị Việt Nam ? Cho tới lúc này thì hầu hết trong số họ đang phải kìm nén thái độ của mình. Có một người đã nhận xét rằng mặc dù họ chính thức được chào đón, nhưng ông tin là họ luôn bị theo dõi sát sao bởi các giới chức xem họ có thuộc các nhóm lưu vong ủng hộ dân chủ hay không (mà một số trong đó quả thực đang phái về những Việt kiều). Tuy nhiên trong tương lai xa họ chắc sẽ trở nên một lực lượng góp phần tự do hóa nền chính trị.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

(Hình minh họa của BoatPeople)

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | Tagged: , , | 6 phản hồi »

469. Nhóm nhạc Quận Cam giữ cho văn hóa Việt Nam vẫn sống động

Đăng bởi anhbasam on 11/02/2010

Los Angeles Times

Nhóm nhạc Quận Cam giữ cho

văn hóa Việt Nam vẫn sống động

Nhóm Lạc Hồng của Little Saigon, khởi đầu bởi nghệ nhân đàn tranh gốc Việt Mai Nguyễn, đã phát triển lên đến 100 học sinh học nhạc và múa truyền thống.

My-Thuan Tran

Ngày 1-12-2008


Trước cuộc Chiến tranh Việt Nam, Mai Nguyễn là một giáo sư âm nhạc được suy tôn tại Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn. Học sinh từ những phương xa tới nhằm tìm kiếm kiến thức lão luyện ở bà về đàn tranh, một nhạc cụ giống như đàn thụ cầm [harp] thích hợp cho đôi tay trình diễn một thứ âm hưởng thanh tao và hấp dẫn như ma ám.

Khi Sài Gòn rơi vào tay quân đội cộng sản năm 1975, bà Mai là một trong hàng ngàn người tị nạn trốn khỏi đất nước bằng thuyền. Bà đã bỏ lại cây đàn tranh yêu dấu của mình và cam chịu trước ý nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ trở lại dạy học nữa.

Thế nhưng không lâu sau khi tới Quận Cam, nơi có hàng ngàn người Việt tìm quê hương mới tới định cư, những người cùng tị nạn đã bắt đầu tìm tới bà. Xin hỏi, bà có thể dạy cho con chúng tôi được không? Họ hỏi.

Bà Mai đã có được một người bạn có thể gửi chiếc đàn tranh từ Việt Nam sang cho bà.

Và bà bắt đầu dạy các em học sinh trong nhà để xe của mình.

Bà Mai, cùng với một cựu giáo sư âm nhạc khác, ông Châu Nguyễn (không phải bà con thân thuộc với bà), đã bắt đầu lập một nhóm vào năm 1989 để dạy học sinh sử dụng các nhạc cụ Việt Nam truyền thống. Lớp học bắt đầu với 10 học sinh lên lớp bằng những bài học thông thường.

Ngày nay, nhóm Lạc Hồng đã phát triển lên tới 100 học sinh tham gia vào dàn nhạc, hát đồng ca cho trẻ em và người lớn, thậm chí cả các điệu múa truyền thống. Họ tập luyện trong một căn phòng tại tầng hai của một khu buôn bán.

Vào thứ Bảy, căn phòng đầy ắp những âm thanh của đàn luýt hình mặt trăng (đàn nguyệt), đàn bầu một dây, đàn cò trông giống như cây vĩ cầm, và đàn thập lục huyền cầm 16 dây (đàn tranh), được gảy bằng những cái móng đồi mồi đeo vào các ngón tay.

“Hồi đầu, tôi nghĩ rằng không ai muốn học loại âm nhạc này, thế nhưng không bao lâu sau khi tôi đến đây, họ đã tới và hỏi thăm,” bà Mai Nguyễn kể. “Càng dạy tôi càng thấy rằng tất cả người Việt Nam đều yêu thích âm nhạc của dân tộc mình.”

Mục đích của bà là gìn giữ âm nhạc Việt Nam truyền thống tại Hoa Kỳ. Lạc Hồng là nhóm nhạc lớn nhất tại đất nước mà việc trình diễn nghệ thuật Việt Nam truyền thống được quảng bá.

Những đứa trẻ mới lên 4 đã bắt đầu hát những bản dân ca cùng hai thầy cô giáo. Sau cùng, các học sinh chọn ra một thứ nhạc cụ để học. Nhiều người vẫn tiếp tục luyện các bài học cho tới khi họ rời đây để vào đại học.

“Các học sinh không chỉ học nhạc,” bà Mai cho biết. “Họ đang học cả văn hóa.”

Các học sinh trình diễn tại các sự kiện trong cộng đồng người Việt và cả tại các lễ hội quốc tế ở Nam California. “Chúng tôi cố gắng đem nghệ thuật này, văn hóa này vào trong dòng âm nhạc chủ đạo,” bà nói.

Bà Mai nói rằng bà thấy sửng sốt khi âm nhạc Việt Nam lại tiếp tục được trình diễn tại một xứ sở mới, nơi mà bà và hàng ngàn người tị nạn khác đã tới để xây dựng lại cuộc sống của mình. Một số học sinh bắt đầu học trước hết là do họ muốn làm vui lòng cha mẹ, bà kể.

Thế nhưng nhiều người đã trở nên say mê âm nhạc, bà cho biết, thỉnh thoảng thậm chí họ còn học thêm một nhạc cụ thứ hai nữa. Có những học sinh lớn tuổi của bà đã bắt đầu dạy cho những học sinh mới tới học.

“Văn hóa của chúng ta,” bà nhận xét, “vẫn còn đó.”


Trần là Phóng viên của Times.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Hình: Cô giáo nhạc Mai Nguyễn hướng dẫn cho học sinh An Vũ, 16 tuổi, bên trái, và Hương Bùi Vũ, 17 tuổi, trong một lớp học đàn tranh 16 dây.

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Văn hóa | Tagged: , | Leave a Comment »

377. Xã Giao hay nói thật

Đăng bởi anhbasam on 26/11/2009

Xã Giao hay nói thật


Trên báo điện tử Dân Trí ngày 24/11/2009 có đăng bài phỏng vấn GS Trần Thanh Vân,  nhà khoa học khả kính, một trong những trí thức Việt kiều tài năng,  khi ông về dự Hội Nghị Việt kiều Thế giới lần thứ 1 được tổ chức tại Hà Nội . Đọc bài báo mấy lần, tôi xin lỗi khi phải nói ra cảm giác thật sự thất vọng, nghĩ rằng nhà báo nọ ghi chép vội, không đúng lời phát biểu của GS TTVân khi ông đề cập đến những sáng kiến táo bạo của Bộ GD-ĐT, rằng ”tôi thấy Chính phủ Việt Nam hiện đang xây dựng 4 trường ĐH đẳng cấp quốc tế và đào tạo 20.000 tiến sĩ, đây là một điều rất mừng. Với việc đào tạo 20.000 tiến sĩ, nhiều người lo ngại chất lượng không tốt nhưng theo tôi, trong số này có 500 tiến sĩ giỏi thì tốt lắm rồi, ít còn hơn không”. Đọc đi đọc lại, sợ mình nhầm, nhưng không, giấy trắng mực đen rành rành đến thế kia…. ! Là một nhà khoa học và cũng là một nhà giáo nhưng GS TTVân đã lấy con số 20,000 TS được đào tạo trong đó có 500 TS giỏi…để  “rất mừng” thì không hiểu đây là lời nói mang tính chất “ngoại giao”(protocolaire) hay thực sự GS nghĩ như thế .Thế nào là TS giỏi và thế nào là TS “không” giỏi ? Đào tạo nhà khoa học với học vị Tiến Sĩ thì có nên chạy theo số lượng như vậy chăng ? Mong là câu phát biểu đó nằm ở vế thứ nhất, còn nếu như thuộc vế thứ hai thì mạn phép xin được trao đổi tiếp.

GS Trần Thanh Vân người gốc Quảng Bình. Năm 1953, khi mới 17 tuổi, ông qua Pháp học. Năm 1956, ông tốt nghiệp Đại học Paris với 2 bằng cử nhân vật lý và toán học. Năm 1958, ông bảo vệ thành công luận án thạc sĩ và đến 1966 trở thành tiến sĩ về lĩnh vực vật lý hạt cơ bản.

Ông đã giảng dạy tại Đại học Paris, là nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu KH Quốc gia Pháp, được Chính phủ Pháp tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, Viện Hàn lâm khoa học Nga bầu làm Viện sĩ danh dự.

GS Vân đã có trên 300 công trình khảo luận và 115 đầu sách về vật lý mang tên ông.


Cũng trong không khí tưng bừng, hồ hởi của một hội nghị “hoành tráng”, GS còn phát biểu ”Tôi khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc. Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình. Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục ở nước ngoài không được như thế”. Có chủ quan lắm không thưa GS TTVân ? Nếu “hấp dẫn” thật sự thì tại sao số nhà khoa học về giảng dạy và nghiên cứu từ nước ngoài về làm việc trong nước quá hiếm hoi ? Cái khổ phải “rửa chén bát…” ở nước  ngoài và cái khổ không có điều kiện để tiếp tục nghiên cứu khoa học” ,”đồng lương chết đói”(không quá 3 triệu đồng/tháng) của trí thức (có học hàm học vị) trong nước, kể cả anh em Việt kiều đã hồi hương thì cái nào đáng nói, và có nên so sánh về  “nổi khổ” khập khiểng thế kia không ? Đành rằng ở đoạn dưới GS không quên thông cảm cho hoàn cảnh của trí thức trong nước: ”Tôi biết số lượng GS ở Việt Nam rất ít mà lương GS ở Việt Nam lại rất thấp nên để trang trải cuộc sống họ phải đi dạy thêm không còn thời gian dành cho nghiên cứu khoa học” bên các những nhận xét chí lí như “Trước hết Chính phủ bỏ một số đông trường đại học không đủ điều kiện là trường đại học chuyển thành trường dạy nghề”.

Hi vọng trong lần về nước nầy Giáo sư tiếp tục tìm hiểu sâu hơn, kĩ hơn và chính xác hơn về thực trạng của nền giáo dục nước nhà(**), trong đó phong trào lập Đại học để kinh doanh khắp nơi nở rộ trong mấy năm gần đây như GS đã phê phán ở phần trên cũng như tránh ca ngợi “cảm tính” để….và tôi tin rằng nhiều người rất buồn khi đọc phải những lời ca ngợi “ngoại giao” chiếu lệ của Giáo sư.


Hồng Lê Thọ (VK Nhật)

11/2009

(*) Những đoạn chữ nghiêng, in đậm là trích dẫn theo “

(**)xin tham khảo các bài viết của GS Hoàng Tụy và một số nhà giáo khác ở trong nước.

Bình thêm của Ba Sàm: Có lẽ tác giả bài nầy bận bịu nên không được may mắn đọc bài báo dưới đây, để dễ hiểu hơn những phát ngôn “xã giao” của GS Trần Thanh Vân: GS Trần Thanh Vân xây trung tâm gặp gỡ khoa học Quốc tế tại Quy Nhơn (DTrí).

Hình trên: Vợ chồng GS Trần Thanh Vân nhận bằng khen của Chính phủ năm 2008 (DT)

Đăng trong Giáo dục, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | Tagged: , | 21 phản hồi »

368. Hình ảnh về Hạm trưởng Lê Bá Hùng

Đăng bởi anhbasam on 20/11/2009

U.S. Navy Officer Revisits His Past in Vietnam

The New York Times

Vietnamese officials prepare for the arrival of Commander H. B. Le, the first Vietnamese-American to command a United States Navy destroyer.

Commander Le was making an emotional return to Vietnam for the first time since he fled as a young boy on a fishing boat at the end of the war in 1975. The harbor at Da Nang.

“Stepping ashore was awesome,” Cmdr. Le said after landing from his destroyer, the Lassen, anchored in Da Nang Harbor.

“To be able to return to Vietnam after 35 years and to be able to do it as commander of a United States naval warship was an incredible honor and a privilege.” Commander Le said

He was returning to a very different Vietnam from the one he fled at the age of 5 with his parents and three of his siblings. Most people in this young nation, like Commander Le himself, have no memory of the war

Commander Le walks across the deck of the ship.

Commander Le is greeted by locals in his home city of Hue, where four of his siblings remained trapped when most of his family fled in 1975

Commander Le learned only a little of the Vietnamese language and very little about his father’s past or his family’s history

A relative in Hue greets Commander Le

Family members point out photographs of Commander Le’s mother and father before they fled Vietnam

Commander Le prayed at the family’s ancestral shrines, visited their graves and learned what he said were his family’s royal connections in the old imperial capital

Photo: Justin Mott for The New York Times

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , | 6 phản hồi »

348. Lê Nam đoạt giải thưởng văn học lớn nhất ở Úc

Đăng bởi anhbasam on 03/11/2009

CBC NEWS

Lê Nam đoạt giải thưởng văn học lớn nhất ở Úc

Ngày 2-11-2009


Lê Nam đã đoạt giải thưởng lớn nhất của Úc về tiểu thuyết cho bộ sưu tập các truyện ngắn của anh: “Con Thuyền”.

Giải thưởng viết văn tiểu thuyết của Thủ tướng Chính phủ kèm theo số tiền thưởng $100,000 đô la Úc (khoảng $ 97.570 đô la Canada), do Thủ tướng Úc Kevin Rudd lập ra năm 2008.

Giải thưởng dành cho thể loại không phải tiểu thuyết cũng được trao hôm chủ nhật [vừa qua], được chia ra cho người viết tiểu sử Evelyn Juer với tác phẩm: “House of Exile: The Life and Times of Heinrich Mann and Nelly Kroeger-Mann” và tác phẩm“Drawing the Global Colour Line”, do Marilyn Lake và Henry Reynolds viết.

nam-leCác câu chuyện của Lê nói về cuộc sống của anh là một người Việt tị nạn lớn lên tại Úc nhưng cũng kể lại những kinh nghiệm của một du khách ở Tehran, một gã gangster người Colombia và một hoạ sĩ có tuổi ở New York.

Lê đã từ Việt Nam đến Úc năm 1979, hiện tại anh là biên tập viên truyện tiểu thuyết cho tạp chí “Harvard Review”. Câu chuyện của anh đã được tập hợp lại, xuất bản rộng rãi và giới phê bình hoan nghênh. “Con Thuyền” cũng đã đoạt Giải Dylan Thomas.

Những người chấm giải đã chọn cuốn sách của Lê vì tính chất táo bạo và việc thực hiện xuất sắc cũng như những hứng thú mà mỗi câu chuyện mang lại.

Lê đã không có mặt tại buổi lễ trao giải thưởng nhưng anh đã gửi tới một bài phát biểu, do nhà xuất bản của anh – Ben Ball – đọc trong hôm đó.

“Có thể nói đây là một niềm an ủi, nhưng có lẽ cần phải được nói, và nói một lần nữa và một lần nữa: những điều trong quyển sách đó là những điều chân thật nhất để kể ra cho chúng ta thấy được chính bản thân chúng ta, rằng những điều đó thật kỳ lạ, không thể giải thích được, là công việc không thể thay thế được, kể cả phim quái vật kỳ dị trên TV và internet cũng không thể diễn tả được”, Lê nói.


Anh nói rằng anh bị bất ngờ khi được chọn là người thắng giải.

Drawing the Global Colour Line” viết về chính sách kỳ thị chủng tộc của người da trắng thay đổi trong khoảng thời gian cuối thế kỷ 19 cho tới đầu thế kỷ 20 ở Úc.

“Chúng tôi đã bắt đầu với ý tưởng chủ yếu về Úc, nhưng những ý tưởng đó đã dẫn đến sự thay đổi ở nhiều nước khác”, Reynolds nói về việc chấp nhận giải thưởng của mình.

House of Exile là câu chuyện của tác giả và nhà hoạt động Heinrich Mann với các đối tác của mình, Nelly Kroeger, người đã chạy trốn Đức Quốc xã năm 1933, tìm nơi ẩn náu trước tiên tại Pháp và sau đó tại Los Angeles.

Juer cho biết phải mất hơn 10 năm cần cù nghiên cứu để viết tác phẩm trên.

Các giải thưởng đã được trao hôm chủ nhật tại Sydney.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Văn hóa | 3 phản hồi »

338. Người Việt đầu tiên làm Bộ trưởng Y tế Liên bang Đức

Đăng bởi anhbasam on 24/10/2009

Người gốc Việt đầu tiên làm

Bộ trưởng Y tế Liên Bang Đức

Một ngôi sao đang lên trên chính trường nước Đức

Nguyễn Như Vinh (CHLB Đức)

Một tin vui cho đất nước ta, cũng như cho cộng đồng người Việt ở Đức và Châu Âu,  anh Philipp Rösler ( đọc là Phi líp Ro e s lờ) được chọn làm tân Bộ trưởng Y tế Liên Bang Đức cho tân nội các mới, qua quá trình đàm phán giữa 2 đảng CDU (Dân Chủ Thiên Giáo) và đảng FDP (Dân chủ Tự do), mà họ đã chiếm đa số qua cuộc bầu cử liên bang tại Đức ngày 27.09.2009 vừa qua.

Anh là Bộ trưởng trẻ nhất trong tân nội các dưới sự lãnh đạo của bà thủ tướng Angelika Merkel, mới có 36 tuổi, sinh ngày 24.02.1973 tại Khánh Hoà, Việt Nam và được 1 gia đình người Đức nhận làm con nuôi khi mới còn chín tháng tuổi ở 1 cô nhi viện công giáo.

Anh sinh sống và trưởng thành tại vùng Bắc Đức, tại các thành phố Hamburg, Hannover, tốt nghiệp Tiến sĩ Y khoa năm 2002. Anh đã lập gia đình, hiện đang có 2 con gái sinh đôi mới được 4 tháng.

Roesler-klein

Con đường thăng hoa công danh của anh có những bước nhẩy vọt, 1 hiện tượng gây nhiều quan tâm, chú ý ở chính trường và dư luận ở Đức, cụ thể ở các mốc điểm như sau:

  • 1992: gia nhập đảng FDP
  • 2000 – 2004: Tổng thư ký FDP tiểu bang Niedersachsen
  • 05.05.2005 : được bầu vào uỷ viên ban chấp hành liên bang đảng FDP với số phiếu cao nhất, 95%
  • 18.03.2006: được bầu làm chủ tịch đảng FDP cho tiểu bang Niedersachsen với số phiếu 96,4 %
  • 18.02.2008: được chọn làm Bộ trưởng tiểu bang Niedersachsen phụ trách Kinh tế, Lao động và Giao thông, cũng như ghế phó Thống đốc tiểu bang.

Ý định ban đầu của anh chỉ muốn hoạt động chính trị ở tiểu bang Niedersachsen và dừng chân lúc 45 tuổi. Được hỏi vì sao, anh trả lời: cha anh luôn nói, làm chính trị và diễn viên có điểm giống nhau, tức là biết dừng chân đúng lúc khi khán giả còn đang vỗ tay.

Đối với anh người cha nuôi là 1 tấm gương sáng, mẫu mực, đầy tình thương và trách nhiệm, hành động thay vì chỉ nói. Vào những thập niên 70 khi cả triệu người Đức xuống đường, chống chiến tranh Việt Nam và cùng nhau hô „ Hồ…Hồ…Hồ Chí Minh“, cha mẹ anh đã quyết định „ Chúng ta không chỉ nói mà phải hành động. Chúng ta phải nhận 1 trẻ nuôi Việt Nam“.

Và từ tâm thức chuyển hoá thành cụ thể: Cái hành động đó nay đã đơm hoa kết trái, làm nức lòng và hãnh diện cho bao người Việt chúng ta. Hy vọng rằng nhân tố này sẽ tác động tích cực cho mối quan hệ hợp tác giữa 2 nước Đức và Việt Nam, phát triển thêm sâu rộng.

Trong 4 năm tới tên anh Philipp Rösler sẽ được nhiều người biết đến. Nắm trọng trách Bộ trưởng Y tế Liên Bang Đức, là 1 ngành rất khó khăn đang được mọi người quan tâm anh Philipp Rösler còn nhiều chông gai và thử thách trước mắt. Những mong anh có nhiều nghị lực và bản lãnh, vượt qua các khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhân dân Đức giao phó, mà cũng gián tiếp rạng danh giòng giống con Rồng cháu lạc trên xứ người.


* Philipp Rösler (wikipedia): In October 2009, it was unveiled that Rösler would succeed Ulla Schmidt as Federal Minister of Health in Angela Merkel‘s Cabinet.

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Quốc tế | Tagged: | 17 phản hồi »

335. Lao động giúp việc nhà người Việt bị đối xử như nô lệ

Đăng bởi anhbasam on 21/10/2009

The China Post

Các nhà hoạt động Nhân quyền:

Lao động giúp việc nhà người Việt

bị đối xử như nô lệ

Vietnam caretakers treated like slave laborers: activists

Ba nữ lao động giúp việc người Việt xuất hiện với khẩu trang che kín mặt trong một cuộc họp báo được tổ chức Legal Affairs Foundation thực hiện sáng hôm qua. Thông qua người phiên dịch do một vị mục sư cung cấp, họ đã mô tả tình trạng bị ngược đãi trong lao động tại một trung tâm chăm sóc người già ở Tỉnh Đài Bắc, là nguyên nhân thúc đẩy các nhà hoạt động nhân quyền lên án rằng công việc của những lao động giúp việc này không khác gì lao động nô lệ (hình: Akie Ang, The China Post)

Thứ Ba, ngày 20-10-2009


Đài Bắc, Đài Loan – Năm lao động giúp việc nhà người nước ngoài hôm qua tiết lộ điều kiện làm việc bị lạm dụng và bị chủ nhân đối xử tệ ở tỉnh Đài Bắc dẫn tới việc các tổ chứ Nhân quyền nói ra rằng điều này có thể vi phạm luật buôn người, các cơ quan truyền thông địa phương đã đưa tin hôm qua.

Nữ lao động Việt Nam trong độ tuổi 20 cùng với đại diện của Quỹ Hỗ trợ pháp lý (LAF) kể về những ngày làm việc 16 tiếng đồng hồ/ngày mà không được trả lương phụ trội và cũng không được quyền rời khỏi khu Chăm sóc Người Cao tuổi (Home Go Elderly Care) nằm ở Banciao, hãng tin United Evening News cho hay.

Không những [người lao động] không được cung cấp khu sinh hoạt riêng mà họ còn bị nhốt chung với các cư dân tại các trung tâm chăm sóc, nơi mà chỉ có nhân viên người Đài Loan mới được trao chìa khóa, báo chí khi nêu lên vấn đề này còn lưu ý tới chuyện cháy nổ nguy hiểm có thể xảy ra.

Những lao động nước ngoài ở đây đã tiết  lộ là mỗi người trong họ bị buộc phải chăm nom 40 người mỗi tối, và đôi khi do thiếu nhân viên, họ còn được yêu cầu trói người được chăm sóc lại,


Họ nói thêm là nhiều khi bị quở trách vì không trói chặt các đối tượng chăm sóc.

Hộ chiếu cũng bị tịch thu, điện thoại di động cũng bị giới hạn, và tiền lương thì bị giữ lại, các nữ nhân viên phụ trách công việc vệ sinh và bảo trì trung tâm đã tiết lộ.

LAF và các Hiệp hội Lao động đã khám phá “Go Home” vi phạm Luật Chống buôn người và đã chỉ ra ranh giới giữa lao động như nô lệ và điều kiện làm việc không đạt tiêu chuẩn cho phụ nữ.


Các tổ chức Nhân đạo cũng chỉ trích Cục Lao động và Cảnh sát Ngoại vụ Đài Bắc đã đứng về phía chủ nhân và xem các trường hợp như thế chỉ là những tranh chấp lương bổng bình thường.


Các nhà hoạt động Nhân quyền đã chỉ ra rằng các chủ lao động đã không đạt điều kiện về an toàn lao động cho người giúp việc, và điều này có thể gây nguy hiểm cho những người được chăm sóc.

Vì lúc nào cũng sợ giới chủ cho nên những người phụ nữ Việt Nam đã tìm sự trợ giúp qua việc nhắn tin cho một mục sư có họ là Ruan.

Theo như báo cáo,  “Go Home” trông coi 5 cơ sở được cấp phép, các cơ sở này cung cấp dịch vụ chăm sóc và giúp đỡ người già cho 158 cư dân với 31 người chăm sóc, bao gồm cả những người lao động đến từ nước ngoài.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | Tagged: , | 11 phản hồi »