Archive for the ‘Pháp luật’ Category
582. Thư của TS-LS Trần Đình Triển gửi ông Tô Huy Rứa
Đăng bởi anhbasam on 16/07/2010
Đăng trong Pháp luật | 109 phản hồi »
427. LUẬT BẢO VỆ HẢI ĐẢO CỦA TRUNG QUỐC
Đăng bởi anhbasam on 08/01/2010
LUẬT BẢO VỆ HẢI ĐẢO
NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
(Toàn văn)
Hội nghị lần thứ 12 Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ 11 ngày 26 – 12 – 2009 đã thông qua.
Mục lục:
Chương 1: Quy tắc chung
Chương 2: Quy hoạch bảo vệ hải đảo
Chương 3: Bảo vệ hải đảo
Tiết thứ nhất: Những quy định chung
Tiết thứ hai: Bảo vệ hệ thống sinh thái hải đảo có cư dân sinh sống
Tiết thứ ba: Bảo vệ hải đảo không có cư dân sinh sống
Tiết thứ tư: Bảo vệ hải đảo được sử dụng với mục đích đặc biệt
Chương 4: Kiểm tra giám sát
Chương 5: Trách nhiệm pháp luật
Chương 6: Điều khoản bổ sung
CHƯƠNG 1
QUY TẮC CHUNG
Điều 1: Nhằm bảo vệ hệ thống sinh thái các đảo và vùng biển xung quanh các đảo, tranh thủ khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các đảo, duy trì, bảo vệ quyền lợi biển của đất nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển bền vững, vì vậy ban hành luật này.
Điều 2: Thực hiện các hoạt động bảo vệ, khai thác sử dụng và quản lý liên quan đến các đảo của nước CHND Trung Hoa phải phù hợp với luật này.
Các hải đảo mà Luật này gọi là chỉ vùng đất được hình thành một cách tự nhiên với xung quanh là nước biển và cao hơn mức nước khi thủy triều lên, bao gồm các đảo có cư dân và các đảo không có cư dân sinh sống.
Bảo vệ các đảo mà Luật này gọi là chỉ bảo vệ hệ thống sinh thái các đảo và vùng biển xung quanh các đảo; bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên các đảo không có cư dân sinh sống và bảo vệ các đảo được sử dụng cho mục đích đặc biệt.
Điều 3: Nhà nước thực hiện nguyên tắc quy hoạch khoa học, ưu tiên bảo vệ, khai thác hợp lý, sử dụng tiếp tục vĩnh viễn đối với các đảo.
Quốc Vụ viện và chính quyền nhân dân các cấp địa phương ven biển cần đưa việc bảo vệ và khai thác, sử dụng hợp lý các đảo vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc dân, áp dụng những biện pháp có hiệu quả, đẩy mạnh việc bảo vệ và quản lý các đảo, ngăn chặn các hòn đảo và hệ thống sinh thái khu vực xung quanh bị phá hoại.
Điều 4: Các đảo không có cư dân sinh sống thuộc quyền sở hữu Nhà nước. Quốc Vụ viện (Chính phủ) thay mặt Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với các đảo không có cư dân sinh sống.
Điều 5: Các ngành chủ quản về biển và các Bộ ngành có liên quan khác của Quốc Vụ viện căn cứ vào phân công trách nhiệm mà pháp luật và Quốc Vụ viện quy định, để phụ trách công tác bảo vệ môi trường sinh thái tại các đảo có cư dân sinh sống và vùng nước xung quanh các đảo này trong phạm vi toàn Trung Quốc. Các ngành chủ quản về biển và những ngành có liên quan khác của chính quyền nhân dân địa phương cấp huyện trở lên ở vùng duyên hải căn cứ vào chức trách của mình, có trách nhiệm bảo vệ môi trường sinh thái tại các đảo có cư dân sinh sống và vùng biển xung quanh trong khu vực hành chính của mình.
Các Bộ ngành chủ quản về biển của Quốc Vụ viện chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ và khai thác, sử dụng các đảo không có cư dân sinh sống trên phạm vi toàn Trung Quốc. Các ngành chủ quản về biển của chính quyền nhân dân địa phương cấp huyện trở lên ở vùng duyên hải phụ trách những công việc có liên quan, bảo vệ và quản lý khai thác, sử dụng các đảo không có cư dân sinh sống trong khu vực hành chính của mình.
Điều 6: Tên gọi của các đảo do cơ quan quản lý địa danh Quốc gia và ngành chủ quản về biển thuộc Quốc Vụ viện căn cứ vào các quy định có liên quan của Quốc Vụ viện để xác định và ban hành.
Khi các đảo cần bố trí các biểu tượng tên gọi (cột mốc) trên đảo thì chính quyền nhân dân địa phương ven biển từ cấp huyện trở lên cần căn cứ vào các quy định của Nhà nước bố trí các biểu tượng tên gọi (cột mốc) cho các đảo.
Nghiêm cấm làm tổn hại hay tự ý di chuyển các mốc ghi tên các đảo.
Điều 7: Quốc Vụ viện và chính quyền nhân dân các cấp địa phương ven biển cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ hải đảo, tăng cường ý thức bảo vệ hải đảo của công dân, tuyên dương những đơn vị, cá nhân có thành tích nổi bật trong việc bảo vệ hải đảo và các công tác nghiên cứu khoa học có liên quan.
Bất cứ đơn vị và cá nhân nào cũng đều có nghĩa vụ tuân thủ luật bảo vệ hải đảo và có quyền thông báo cho các ban ngành chủ quản về biển hoặc những ban ngành liên quan khác về những hành vi vi phạm luật bảo vệ hải đảo, phá hoại môi trường sinh thái hải đảo.
CHƯƠNG 2
QUY HOẠCH BẢO VỆ HẢI ĐẢO
Điều 8: Nhà nước thực hiện chế độ quy hoạch bảo vệ hải đảo. Quy hoạch bảo vệ hải đảo là căn cứ cho các hoạt động thực hiện bảo vệ, sử dụng hải đảo.
Việc định ra quy hoạch bảo vệ hải đảo cần tuân thủ những nguyên tắc có lợi cho bảo vệ, cải thiện hệ thống môi trường sinh thái của đảo và vùng biển xung quanh, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế xã hội hải đảo.
Những quy hoạch bảo vệ hải đảo trước khi được đưa ra thẩm tra phê chuẩn, cần trưng cầu ý kiến của các chuyên gia và công chúng, sau khi được phê chuẩn cần nhanh chóng công bố ra ngoài xã hội. Nhưng, trừ những bí mật liên quan đến Nhà nước.
Điều 9: Ngành chủ quản về biển của Quốc Vụ viện sẽ cùng với các ngành liên quan của chính quyền nhân dân cùng cấp, cơ quan quân sự, căn cứ vào các quy hoạch phát triển kinh tế và xã hội quốc dân, phân chia chức năng biển trong cả nước để ban hành quy hoạch bảo vệ hải đảo, báo cáo để Quốc Vụ viện thẩm tra phê chuẩn.
Quy hoạch bảo vệ các đảo trong cả nước cần căn cứ vào các thuộc tính tự nhiên như vị trí, nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và tình trạng bảo vệ, sử dụng của các đảo để xác định rõ nguyên tắc phân loại bảo vệ đảo và các đảo không có cư dân sinh sống có thể sử dụng cũng như các đảo cần được chú trọng sửa sang, khôi phục v.v…
Việc quy hoạch, bảo vệ các đảo trong cả nước cần tranh thủ liên kết với quy hoạch hệ thống của thành thị, nông thôn và quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai của cả nước.
Điều 10: Các ngành chủ quản về biển thuộc chính quyền nhân dân cấp tỉnh, khu tự trị ven biển sẽ cùng với các ngành có liên quan, cơ quan quân sự cùng cấp, căn cứ vào quy hoạch bảo vệ các đảo trong cả nước, quy hoạch hệ thống thành thị và nông thôn, quy hoạch tổng thể đất đai của tỉnh, khu tự trị để tổ chức, ban hành quy hoạch bảo vệ các đảo trong khu vực của tỉnh, báo cáo để chính quyền nhân dân tỉnh, khu tự trị thẩm tra phê chuẩn và đưa lên Quốc Vụ viện lưu giữ.
Quy hoạch tổng thể các thành phố mà chính quyền nhân dân các thành phố trực thuộc TƯ ven biển tổ chức phát hành, cần bao gồm quy hoạch chuyên mục bảo vệ các đảo bên trong khu vực hành chính này.
Quy hoạch bảo vệ các đảo thuộc khu vực tỉnh và quy hoạch chuyên mục bảo vệ các đảo thuộc các thành phố trực thuộc TƯ cần quy định những biện pháp cụ thể phân loại bảo vệ hải đảo
Điều 11: Chính quyền nhân dân cấp tỉnh, khu tự trị căn cứ vào tình hình thực tế, có thể yêu cầu chính quyền nhân dân các thành phố, huyện, thị trấn ven biển trực thuộc tỉnh trong khu vực hành chính của mình tổ chức ban hành các quy hoạch chuyên mục bảo vệ hải đảo và đưa vào trong quy hoạch tổng thể của thành phố, thị trấn; Có thể yêu cầu chính quyền nhân dân cấp huyện ven biển tổ chức ban hành những quy hoạch bảo vệ hải đảo khu vực huyện.
Các quy hoạch chuyên mục bảo vệ đảo của các thành phố, thị trấn và quy hoạch bảo vệ đảo của các huyện ven biển cần phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc và quy hoạch bảo vệ hải đảo khu vực cấp tỉnh.
Việc định ra những quy hoạch chuyên mục bảo vệ hải đảo các thành phố, thị trấn ven biển cần trưng cầu ý kiến của các ban ngành quản lý biển thuộc chính quyền nhân dân cấp quản lý trực tiếp.
Quy hoạch bảo vệ hải đảo cấp huyện phải báo cáo để chính quyền nhân dân cấp tỉnh, khu tự trị thẩm tra phê chuẩn và báo cáo cho ngành chủ quản về biển của Quốc vụ viện lưu giữ.
Điều 12: Chính quyền nhân dân cấp huyện ven biển có thể ban hành quy hoạch bảo vệ và sử dụng các đảo không có cư dân sinh sống do quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc xác định.
Điều 13: Sửa đổi quy hoạch bảo vệ hải đảo cần căn cứ vào quy trình thẩm tra phê chuẩn của điều thứ 9, 10, 11 của Luật này để báo cáo phê chuẩn.
Điều 14: Nhà nước xây dựng, hoàn thiện chế độ điều tra, thống kê hải đảo. Các ban ngành chủ quản hải dương của Quốc Vụ viện sẽ cùng với các ngành có liên quan dự thảo ra kế hoạch điều tra thống kê tổng hợp hải đảo, sau khi được pháp luật phê chuẩn sẽ tổ chức thực hiện và ban hành công báo điều tra, thống kê hải đảo.
Điều 15: Nhà nước xây dựng hệ thống quản lý thông tin hải đảo, triển khai điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên thiên nhiên của đảo, thực hiện giám sát đối với tình trạng bảo vệ và sử dụng các đảo.
CHƯƠNG 3
BẢO VỆ CÁC ĐẢO
TIẾT 1: CÁC QUY ĐỊNH THÔNG THƯỜNG
Điều 16: Quốc Vụ viện và chính quyền nhân dân các cấp địa phương ven biển cần áp dụng các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên, cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử, nhân văn tại các đảo.
Nghiêm cấm thay đổi tuyến ven biển của các đảo trong khu bảo vệ thiên nhiên. Nghiêm cấm đào, khai thác, phá hoại san hô và các bãi san hô. Nghiêm cấm chặt phá rừng đước tại vùng biển quanh các đảo.
Điều 17: Nhà nước bảo vệ thảm thực vật của các đảo, thúc đẩy bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngọt ở các đảo, ủng hộ xây dựng cơ sở các công trình dự trữ nước ngọt, làm ngọt hóa nước biển và lấy nguồn nước ngọt từ ngoài đảo đối với các đảo có cư dân.
Điều 18: Nhà nước ủng hộ sử dụng các đảo để triển khai các họat động nghiên cứu khoa học. Khi thực hiện các họat động nghiên cứu khoa học ở đảo không được phá hoại hệ thống môi trường sinh thái của các đảo và vùng biển xung quanh.
Điều 19: Nhà nước triển khai đăng ký các mẫu sinh học của đảo, căn cứ vào luật để bảo vệ và quản lý mẫu vật sinh vật hải đảo.
Điều 20: Nhà nước ủng hộ xây dựng các cơ sở thực nghiệm có thể lợi dụng để khai thác tài nguyên tái sinh, xây dựng sinh thái tại các đảo.
Điều 21: Nhà nước bố trí nguồn vốn dành riêng cho bảo vệ hải đảo, sử dụng cho các họat động bảo vệ, sửa đổi môi trường sinh thái và nghiên cứu khoa học các đảo.
Điều 22: Nhà nước bảo vệ các thiết bị quân sự được bố trí trên đảo, nghiêm cấm các hành vi phá hoại, làm nguy hại đến các thiết bị quân sự.
Nhà nước bảo vệ, căn cứ vào luật pháp để bố trí các thiết bị công ích như trợ giúp, hướng dẫn hàng hải, đo đạc, quan sát khí tượng, giám sát hải dương và giám sát địa chấn v.v…, nghiêm cấm những hành vi phá hoại hoặc tự ý di dời, ngăn cản những thiết bị này sử dụng bình thường.
TIẾT 2: BẢO VỆ HỆ THỐNG SINH THÁI TẠI CÁC ĐẢO CÓ CƯ DÂN SINH SỐNG
Điều 23: Việc khai thác, xây dựng tại các đảo có cư dân sinh sống cần tuân thủ các quy định của pháp luật, pháp quy liên quan đến quy hoạch của thành thị, nông thôn, bảo vệ môi trường, quản lý đất đai, quản lý sử dụng vùng biển, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và rừng v.v… để bảo vệ hệ thống sinh thái hải đảo và các vùng biển xung quanh.
Điều 24: Việc khai thác, xây dựng tại các đảo có cư dân sinh sống cần được tiến hành điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai, nguồn tài nguyên nước và tình trạng năng lượng của các đảo, căn cứ vào luật pháp để đánh giá ảnh hưởng môi trường. Việc khai thác, xây dựng hải đảo không được vượt quá dung lượng môi trường của đảo. Những công trình xây dựng mới, sửa chữa, mở rộng cần phải phù hợp với những yêu cầu về các chỉ tiêu khống chế lượng thoát nước thải, đất sử dụng và lượng nước sử dụng.
Việc khai thác, xây dựng tại các đảo có cư dân sinh sống cần ưu tiên áp dụng kỹ thuật có thể tái sinh nguồn năng lượng như năng lượng gió, năng lượng biển, năng lượng mặt trời v.v…và tích lũy nước mưa, làm ngọt hóa nước biển, tái sinh nước thải v.v…
Các đảo có cư dân sinh sống và vùng biển xung quanh cần hoạch định các khu ngăn cấm khai thác, hạn chế khai thác và áp dụng biện pháp bảo vệ khu vực, bảo tồn sinh vật trên đảo, ngăn chặn sự suy thoái của thảm thực vật trên đảo và sự giảm sút tính đa dạng của sinh vật.
Điều 25: Việc tiến hành xây dựng các công trình tại những đảo có cư dân sinh sống cần kiên trì nguyên tắc quy hoạch trước, xây dựng sau, ưu tiên xây dựng các thiết bị bảo vệ môi trường sinh thái hoặc cùng tiến hành xây dựng đồng bộ các công trình.
Khi tiến hành xây dựng các công trình mà gây ra sự phá vỡ môi trường sinh thái cần phải chịu trách nhiệm sửa chữa; không có khả năng sửa chữa thì chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên có trách nhiệm ra lệnh đình chỉ xây dựng và có thể chỉ định những ban ngành liên quan tổ chức sửa chữa, chi phí sửa chữa do đơn vị, cá nhân phá vỡ môi trường sinh thái chi trả.
Điều 26: Nghiêm khắc hạn chế xây dựng các công trình kiến trúc hoặc các thiết bị tại các bãi cát của các đảo có cư dân; Nếu cần xây dựng, phải chấp hành các quy định của pháp luật, pháp quy như quy hoạch thành thị, nông thôn có liên quan, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường v.v… Nếu như chưa được pháp luật phê chuẩn mà xây dựng các công trình kiến trúc hoặc thiết bị tại các bãi biển của các đảo có người cư trú gây ra sự tổn hại nghiêm trọng tới hệ thống sinh thái của đảo và vùng biển xung quanh sẽ bị dỡ bỏ theo quy định của pháp luật.
Nghiêm khắc hạn chế đào cát biển tại bãi cát của những đảo có cư dân; Nếu muốn đào, cần phải chấp hành đúng những quy định của pháp luật, pháp quy có liên quan đến quản lý sử dụng vùng biển, tài nguyên khoáng sản.
Điều 27: Ngăn cấm hạn chế những hành vi làm thay đổi bờ biển các đảo có cư dân sinh sống như bồi đất lấn biển, rào vây biển v.v…,nghiêm khắc hạn chế việc xây dựng các công trình bồi đất lấn biển nối các đảo lại với nhau. Nếu cần bồi đất lấn biển, rào vây biển làm thay đổi bờ biển các đảo hoặc đổ đất nối liền các đảo, thì người xin thực hiện công trình cần nộp các văn bản xin phép như báo cáo luận chứng công trình, báo cáo đánh giá ảnh hưởng môi trường đã được phê chuẩn, căn cứ báo cáo quy định của Luật Quản lý sử dụng vùng biển của nước CHND Trung Hoa đã được phê chuẩn.
Trước khi thực hiện luật này, các công trình xây dựng bồi đất liên kết các đảo có cư dân phá vỡ nghiêm trọng hệ thống sinh thái các đảo và vùng biển xung quanh sẽ do các ngành chủ quản về biển của chính quyền nhân dân thuộc tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc TƯ cùng với các ngành có liên quan của chính quyền cùng cấp đưa ra phương án sửa chữa sinh thái môi trường, sau khi báo cáo chính quyền nhân dân cùng cấp tổ chức thực hiện.
TIẾT 3: BẢO VỆ CÁC ĐẢO KHÔNG CÓ CƯ DÂN SINH SỐNG
Điều 28: Các đảo không có cư dân sinh sống nếu chưa được phê chuẩn mà sử dụng cần phải duy trì nguyên trạng; nghiêm cấm các hoạt động đào đá, lấy cát biển, chặt cây và sản xuất, xây dựng, du lịch v.v..
Điều 29: Nghiêm khắc hạn chế khai thác các mẫu vật sinh vật và phi sinh vật tại các đảo không cư dân; Vì lý do dạy học, nghiên cứu khoa học cần khai thác thì cần phải báo cáo và được sự phê chuẩn của ngành chủ quản hải dương thuộc chính quyền nhân dân địa phương cấp huyện trở lên.
Điều 30: Thực hiện các hoạt động khai thác sử dụng các đảo không có cư dân mà quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc xác định cần tuân thủ quy hoạch bảo vệ và sử dụng các đảo không có, áp dụng biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái nghiêm ngặt, tránh làm tổn hại đến hệ thống sinh thái của hải đảo và khu vực ven biển.
Các đảo không có cư dân có thể được khai thác, sử dụng mà những điều khoản ở trên đã quy định, cần xin phép ban ngành chủ quản về biển của chính quyền nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc TƯ, đồng thời nộp những giấy tờ như báo cáo luận chứng các công trình, các phương án khai thác sử dụng cụ thể, được các bộ ngành chủ quản về biển, các ngành hữu quan và các chuyên gia thẩm tra, đưa ra ý kiến thẩm tra, chính quyền nhân dân của tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc phê duyệt.
Việc khai thác sử dụng các đảo không có cư dân có liên quan đến lợi dụng các đảo vào mục đích đặc biệt, hoặc cần bồi đất lấn biển, nối đảo với nhau và làm thay đổi nghiêm trọng về địa hình, địa mạo tự nhiên của biển đảo, thì phải do quốc vụ viện phê chuẩn.
Các phương pháp cụ thể để thẩm tra, phê chuẩn khai thác, sử dụng đảo không có cư dân đã được thẩm tra phê chuẩn, do Quốc Vụ viện quy định.
Điều 31: Các đảo không có cư dân được phê chuẩn khai thác sử dụng, cần nộp tiền theo luật pháp. Trừ những công trình công ích như quốc phòng, công vụ, dạy học, phòng chống và giảm thiên tai, xây dựng cơ sở hạ tầng chung mang tính chất phi kinh doanh, đo đạc vẽ bản đồ, quan trắc khí tượng.
Phương án quản lý sử dụng tiền thu từ sử dụng các đảo không có cư dân, do Bộ Tài chính cùng với Bộ ngành chủ quản về biển thuộc Quốc Vụ Viện quy định.
Điều 32: Việc xây dựng các công trình kiến trúc hoặc các thiết bị được phê chuẩn tại các đảo không có cư dân có thể sử dụng cần căn cứ vào quy hoạch bảo vệ và sử dụng tại những đảo không có cư dân để hạn chế tổng khối lượng xây dựng, độ cao và cự ly tuyến bờ biển của công trình kiến trúc, thiết bị, tạo nên sự hài hòa giữa công trình với thảm thực vật và cảnh quan xung quanh.
Điều 33: Nước thải được tạo ra trong quá trình sử dụng đảo không có cư dân, cần được xử lý và thoát nước theo quy định.
Những phế thải rắn tạo ra trong quá trình sử dụng tại các đảo không có cư dân cần được xử lý, căn cứ theo quy định tiến hành bố trí xử lý thành các chất không gây hại, cấm đổ các phế thải xuống hải đảo và xung quanh khu vực biển đảo không có cư dân.
Điều 34: Các đảo không có cư dân được sử dụng mang tính tạm thời, không được xây dựng các công trình kiến trúc mang tính vĩnh cửu.
Điều 35: Dựa theo luật pháp để xác định có thể sử dụng các đảo không có cư dân và khu vực biển lân cận triển khai các hoạt động du dịch, nhưng không được xây dựng những công trình định cư cho cư dân, không được tổ chức các hoạt động chăn nuôi mang tính sản xuất; Nếu đã tồn tại những hoạt động chăn nuôi mang tính sản xuất, cần xác định các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường tương ứng trong quy hoạch bảo vệ và tận dụng các đảo không có cư dân sinh sống nếu có thể tận dụng được.
TIẾT 4: BẢO VỆ CÁC HẢI ĐẢO DÙNG CHO MỤC ĐÍCH ĐẶC BIỆT
Điều 36: Nhà nước tiến hành bảo vệ đặc biệt đối với những hải đảo vốn có thể sử dụng với mục đích đặc biệt hoặc có giá trị cần được bảo vệ đặc biệt như: đảo ở những vùng biển điểm cơ sở lãnh hải, đảo dùng cho mục đích quốc phòng, đảo trong khu bảo vệ thiên nhiên biển.
Điều 37: Những hải đảo ở tại khu vực điểm cơ sở lãnh hải do chính quyền nhân dân tỉnh, thành phố khu tự trị, thành phố trực thuộc TƯ quy định phạm vi bảo vệ, báo cho những bộ ngành chủ quản hải dương Quốc Vụ Viện lưu trữ. Vùng điểm cơ sở lãnh hải và những vùng lân cận thuộc phạm vi bảo vệ cần được bố trí những biểu tượng rõ ràng.
Cấm được xây dựng công trình và các hoạt động khác có thể làm thay đổi đến địa hình, địa mạo của khu vực này trong phạm vi bảo vệ những vùng điểm cơ sở lãnh hải. Nếu cần tiến hành xây dựng những công trình tại những vùng lãnh hải có điểm cơ sở, cần được thông qua bằng các luận chứng khoa học, sau khi báo cáo, các bộ ngành chủ quản về biển của Quốc Vụ viện đồng ý, sẽ căn cứ vào luật pháp để tiến hành thủ tục thẩm tra phê duyệt.
Cấm làm tổn hại hay tự ý thay đổi những biểu tượng của những điểm cơ sở lãnh hải.
Những ban ngành chủ quản biển của chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên cần tuân theo những quy định của nhà nước, cần thực thi giám sát hệ thống sinh thái đối với các đảo tại điểm cơ sở lãnh hải và khu vực xung quanh các đảo này.
Bất kỳ đơn vị hay cá nhân nào đều có nghĩa vụ bảo vệ điểm cơ sở lãnh hải hải đảo. Phát hiện điểm cơ sở lãnh hải và điạ hình, địa mạo trong phạm vi bảo vệ của điểm cơ sở lãnh hải bị phá hoại cần kịp thời báo cáo cho những ban ngành chủ quản về biển và chính quyền nhân dân nơi đó biết.
Điều 38: Nghiêm cấm phá hoại những địa hình, địa mạo tự nhiên của những hải đảo không có người dân sinh sống dùng cho mục đích quốc phòng và những địa hình, địa mạo của những khu vực hải đảo có người dân sinh sống dùng cho mục đích quốc phòng và những vùng lân cận.
Cấm sử dụng những hải đảo không có cư dân sinh sống được dùng cho mục đích quốc phòng vào những mục đích khác. Khi kết thúc sử dụng cho mục đích quốc phòng, sau khi được các cơ quan quân sự phê chuẩn, cần chuyển giao đảo và những tài liệu bảo vệ môi trường sinh thái liên quan với các đảo này cho chính quyền nhân dân tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc TƯ.
Điều 39: Quốc Vụ Viện, những bộ ngành hữu quan của Quốc Vụ viện và chính quyền nhân dân tỉnh, khu tự trị, và thành phố trực thuộc TƯ, căn cứ vào yêu cầu về tài nguyên, cảnh quan thiên nhiên và nhu cầu bảo vệ lịch sử, di sản nhân văn các đảo, căn cứ vào luật pháp để thiết lập những khu bảo vệ biển tự nhiên và những khu vực bảo vệ biển đặc biệt đối với những hải đảo và những vùng biển lân cận có giá trị bảo vệ đặc biệt.
CHƯƠNG 4
ĐÔN ĐỐC GIÁM SÁT
Điều 40: Những bộ ngành hữu quan thuộc chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên cần dựa theo pháp luật để đôn đốc và giám sát đối với việc bảo vệ, khai thác, xây dựng những hải đảo có cư dân sinh sống.
Điều 41: Các bộ ngành chủ quản biển cần dựa theo luật pháp để đôn đốc giám sát tình hình bảo vệ và tận dụng hợp lý những hải đảo không có cư dân sinh sống.
Các bộ ngành chủ quản biển và cơ cấu giám sát biển dựa vào luật pháp để tiến hành đôn đốc giám sát tình hình bảo vệ hệ thống sinh thái của những vùng biển lân cận các đảo.
Điều 42: Các bộ ngành chủ quản hải dương cần dựa vào luật pháp để có trách nhiệm đôn đốc, giám sát, có quyền yêu cầu đơn vị, cá nhân bị kiểm tra giải thích những vấn đề liên quan đến tận dụng hải đảo, cung cấp những tư liệu và văn kiện có liên quan về tận dụng hải đảo, có quyền kiểm tra tại chỗ các đơn vị và cá nhân sử dụng hải đảo. Khi nhân viên kiểm tra thực hiện chức trách kiểm tra cần đưa ra những giấy tờ hợp pháp có hiệu lực. Các đơn vị và cá nhân cần phối hợp công tác kiểm tra, tình hình được phản ánh đúng, cung cấp những tài liệu và tư liệu liên quan, không được cự tuyệt hay gây trở ngại cho công tác kiểm tra.
Điều 43: Nhân viên kiểm tra nhất định phải trung thành với nhiệm vụ, chí công vô tư, liêm khiết, văn minh, đồng thời chịu sự giám sát của pháp luật. Khi căn cứ vào pháp luật, phát hiện ra những hành vi vi phạm những quy định ghi trong Luật này, phát hiện nhân viên công tác tại các cơ quan nhà nước có hành vi trái pháp luật cần được xử lý, cần đề xuất kiến nghị xử lý tới những cơ quan có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc các cơ quan giám sát các đối tượng này.
CHƯƠNG 5
TRÁCH NHIỆM PHÁP LUẬT
Điều 44: Những bộ ngành chủ quản về biển và những bộ ngành khác có chức trách quản lý, đôn đốc, giám sát có trách nhiệm bảo vệ hải đảo, sau khi phát hiện những hành vi trái pháp luật hoặc nhận được báo cáo về hành vi vi phạm pháp luật mà không căn cứ theo luật pháp để xử lý, hoặc có những hành vi khác không căn cứ vào những quy định của Luật này để thực hiện trách nhiệm thì chính quyền nhân dân hay những bộ ngành chủ quản chính quyền nhân dân cấp trên có trách nhiệm ra lệnh xử lý sửa đổi, đối với nhân viên chủ quản và những nhân viên phụ trách trực tiếp khác sẽ xử lý theo pháp luật.
Điều 45: Vi phạm những quy định Luật này, làm thay đổi tuyến bờ biển hải đảo trong khu vực bảo vệ tự nhiên, lấn biển, rào lấn làm thay đổi tuyến bờ biển của đảo hoặc tiến hành đổ đất nối các đảo lại với nhau, thì căn cứ vào các quy định của “Luật quản lý sử dụng vùng biển của nước CHND Trung Hoa” để xử phạt.
Điều 46: Vi phạm quy định của Luật này, đào bới, phá hoại san hô, rặng san hô, hay chặt phá những rừng đước thuộc khu vực biển quanh đảo, thì căn cứ vào quy định của “Luật bảo vệ môi trường biển của nước CHND Trung Hoa” để xử lý.
Điều 47: Vi phạm những quy định trong Luật này, khai thác đá, đào bới cát, chặt phá cây rừng hay thu thập những tiêu bản sinh vật, phi sinh vật tại những đảo không có cư dân, thì các ban ngành chủ quản về biển thuộc chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên có trách nhiệm ra lệnh ngăn cấm những hành vi vi phạm pháp luật, tịch thu đồ vi phạm, có thể xử phạt dưới 20.000 NDT.
Vi phạm những quy định của Luật này, mà tiến hành những hoạt động sản xuất, xây dựng hoặc tổ chức triển khai những hoạt động du lịch tại các đảo không có người, thì các ban ngành chủ quản về biển thuộc chính quyền nhân dân cấp huyện trở nên có trách nhiệm ra lệnh dừng những hành vi vi phạm, tịch thu đồ vi phạm, xử phạt với mức từ 20.000 đến 200.000 NDT.
Điều 48: Vi phạm những quy định của luật này, tiến hành các họat động làm thay đổi nghiêm trọng địa hình, diện mạo tự nhiên của các hòn đảo không có cư dân thì ngành chủ quản biển thuộc chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên có trách nhiệm ra lệnh đình chỉ những hành vi vi phạm, xử phạt từ 50.000 NDT đến 500.000 NDT.
Điều 49: Vi phạm xả nước thải tại các hòn đảo và vùng biển xung quanh, thì căn cứ vào các quy định của luật bảo vệ môi trường có liên quan để xử phạt.
Điều 50: Vi phạm những quy định của luật này, tiến hành xây dựng các công trình trong phạm vi bảo vệ các vùng trọng điểm thuộc lãnh hải hoặc các hoạt động khác làm thay đổi địa hình, địa mạo khu vực, xây dựng công trình kiến trúc hoặc lắp đặt các thiết bị mang tính vĩnh cửu tại những đảo không có cư dân được sử dụng tạm thời hoặc xây dựng những điểm định cư cho cư dân tại những đảo không có cư dân để có thể tranh thủ triển khai các hoạt động du lịch căn cứ vào luật pháp xác định, thì các ngành chủ quản biển thuộc chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên có trách nhiệm ra lệnh dừng những hành vi vi phạm này, xử phạt từ 20.000 đến 200.000 NDT.
Điều 51: Làm hỏng hay tự mình di chuyển các mốc trọng điểm thuộc lãnh hải thì căn cứ vào luật quản lý trị an để xử phạt.
Điều 52: Phá hỏng, làm nguy hại tới các công trình, thiết bị quân sự được bố trí tại đảo, hoặc làm hỏng, tự ý di chuyển những tài sản công như máy móc trợ giúp hàng hải, hướng dẫn hàng hải, đo đạc, quan trắc khí tượng, giám sát biển và giám sát địa chấn được lắp đặt trên đảo thì căn cứ vào những quy định luật pháp, pháp lệnh hành chính liên quan để xử phạt.
Điều 53: Nếu không có quyền phê chuẩn khai thác các đảo không có cư dân sinh sống mà lại phê chuẩn, vượt quyền hạn để phê chuẩn khai thác sử dụng các đảo không cư dân hoặc làm trái quy hoạch bảo vệ các đảo để phê chuẩn khai thác sử dụng các đảo không có cư dân, thì văn kiện được phê chuẩn sẽ không có giá trị; căn cứ vào pháp luật để xử phạt những cán bộ chủ quản và những người chịu trách nhiệm trực tiếp.
Điều 54: Làm trái những quy định của luật này, từ chối sự giám sát, kiểm tra của các ngành chủ quản biển, có những hành vi dối trá khi bị giám sát, kiểm tra hoặc không cung cấp các văn kiện và tài liệu liên quan thì cơ quan chủ quản biển của chính phủ (chính quyền) nhân dân cấp huyện trở lên có trách nhiệm ra lệnh sửa đổi, có thể xử phạt dưới 20.000 NDT.
Điều 55: Làm trái những quy định của luật này, cấu thành phạm tội, thì căn cứ vào pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự. Phá hoại hệ thống môi trường sinh thái các đảo và vùng biển xung quanh thì căn cứ vào luật để chịu trách nhiệm dân sự.
CHƯƠNG 6
ĐIỀU KHOẢN BỔ SUNG
Điều 56: Các hoạt động bảo vệ và quản lý liên quan vùng đất thủy triều thấp thì căn cứ vào các quy định có liên quan của luật này để chấp hành.
Điều 57: Hàm nghĩa từ ngữ chuyên dùng trong luật này:
(1) Hệ thống môi trường sinh thái hải đảo và khu vực biển xung quanh là chỉ quần thể sinh vật và thực thể phức hợp hữu cơ trong môi trường phi sinh vật như đảo, đường ven biển, bãi biển, thảm thực vật, nước ngọt và vùng biển xung quanh.
(2) Các đảo không có cư dân là chỉ các đảo không có đăng ký chỗ ở quản lý hộ tịch của cư dân.
(3) Vùng đất thủy triều thấp: là chỉ vùng đất hình thành một cách tự nhiên khi mà thuỷ triều thấp thì nước biển bao quanh, nhưng khi thuỷ triều lên thì bị ngập trong nước.
(4) Lấp biển nối các đảo với nhau là chỉ hành vi dùng các phương thức như thông qua lấp biển để liên kết các đảo với đất liền hoặc liên kết đảo với đảo.
(5) Sử dụng mang tính tạm thời các đảo không có cư dân sinh sống là chỉ những hành vi do nhu cầu như công vụ, giảng dạy, điều tra khoa học, cứu nạn, tránh rủi ro.v.v.. mà lên đảo, lưu lại trên các đảo này trong thời gian ngắn.
Điều 58: Luật này được thực hiện từ ngày 1 tháng 3 năm 2010./.
(Nguồn: http://www.npc.gov.cn/huiyi/cwh/1112/2009-12/26/content_1533219.htm)
Ghi chú: Bản dịch không chính thức để tham khảo – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.
Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Pháp luật, Trung Quốc | Tagged: Luật Biển đảo | 2 phản hồi »
362. Đơn Kiến nghị UBTVQH của TS Nguyễn Quang A
Đăng bởi anhbasam on 16/11/2009
Kính gửi các phương tiện thông tin đại chúng,
Căn cứ vào Luật Khiếu nại và Tố cáo, tròn một tháng trước, ngày 16-10-2009 tôi đã có gửi một kiến nghị đến Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội (37- Hùng Vương- Hà Nội). Xin gửi các quý vị bức thư đó trong tệp đính kèm. Tôi cũng gửi kèm theo biên nhận về việc gửi bức thư đó (file pdf). Cho đến ngày hôm nay, 16-11-2009, tôi không hề nhận được bất cứ hồi âm nào:
- không nhận được biên nhận chứng tỏ rằng UBTV Quốc Hội đã nhận được bức thư đó;
- không nhận được chính bức thư đó (nếu giả như không có người nhận thì Bưu điện phải gửi lại cho người gửi);
- không nhận được bất cứ hồi âm nào từ UBTV Quốc hội.
Tôi chưa rõ vì sao, do lỗi của “cô văn thư” hay “ông/bà Bưu điện” hoặc UBTVQH không muốn trả lời. Tôi sẽ làm rõ với Bưu điện sau.
Tôi hy vọng không phải là vì lý do sau cùng. Chính vì thế tôi nhờ các phương tiện thông tin đại chúng công bố bức thư ngày 16-10-2009 của tôi và đề nghị quý bạn đọc chuyển đến cho từng thành viên của UBTV Quốc Hội (do đã công bố nên các tài liệu đính kèm nêu trong thư ngày 16-10-2009 không được gửi kèm theo email này).
Xin chân thành cảm ơn.
Nguyễn Quang A
——————————-
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do –Hạnh phúc
Hà nội ngày 16-10-2009
Đơn kiến nghị Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành
Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
và trình Quốc hội bãi bỏ quyết định đó
Kính gửi: Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Căn cứ vào:
- khoản 2, Điều 1,[1] các Điều 2, Điều 9, Điều 16, Điều 57, Điều 85 và 86 của Luật Khiếu nại Tố cáo (1998, sửa đổi 2004);
- các khoản 2, 4 Điều 67 của Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật (sửa đổi 2008, có hiệu lực 1-1-2009);[2]
- Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO);[3]
Tôi, công dân Nguyễn Quang A, chứng minh thư nhân dân số 11542826, hộ khẩu tại 19, Đoàn Nhữ Hài, Hoàn Kiếm, Hà Nội, khẩn thiết kiến nghị Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội:
1) Xem xét ra quyết định đình chỉ việc thi hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg theo thẩm quyền của Quý Ủy Ban được quy định tại (điểm 5)[4] Điều 7 của Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 và trình Quốc hội bãi bỏ Quyết định 97/2009/QĐ-TTg theo (điểm 9)[5] Điều 2 của Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10;
2) Trả lời tôi bằng văn bản về việc thụ lí và giải quyết đơn này theo quy định của Điều 34 và Điều 36 của Luật khiếu nại tố cáo[6];
3) Giám sát để ngăn chặn khả năng các cơ quan quyền lực có thể trù dập, đe dọa, trả thù tôi và buộc họ phải thi hành nghiêm Điều 16 của Luật khiếu nại tố cáo[7].
Lý do: Ngày 24-7-2009 Thủ tướng chính phủ đã kí ban hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg. Việc xây dựng, thẩm định dự thảo Quyết định 97/2009/QĐ-TTg đã vi phạm nghiêm trọng trình tự và thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội và tại Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật sửa đổi 2008 (cụ thể là đã không tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; và đã không đưa dự thảo lên trang thông tin điện tử ít nhất 60 ngày để lấy ý kiến)[8]; (đó là chưa đề cập đến các sai phạm nghiêm trọng về nội dung của Quyết định 97/2009/QĐ-TTg mà một phần đã được phân tích trong kiến nghị ngày 6-8-2009 của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS gửi Thủ tướng Chính phủ [xem văn bản đính kèm]).
Xin gửi Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội lời chào trân trọng.
Nguyễn Quang A
[1] Khoản 2 Điều 1 của Luật Khiếu nại tố cáo viết: “công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại… quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.
[2] Các khoản 2 và 4 của Điều 67. “Xây dựng, ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ” của Luật này viết:
…..
2. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm đăng tải toàn văn dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.
Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự thảo, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo lấy ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan.
…..
4. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến của cơ quan thẩm định, ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
[3] Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội (có hiệu lực thi hành từ 11-1-2007) nêu rõ:
“… Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới.
Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm” …
Theo Phụ lục đính kèm:
“Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Cơ quan chủ trì soạn thảo phải đăng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ trên Trang tin điện tử của Chính phủ và dành thời gian không ít hơn 60 ngày, kể từ ngày đăng dự thảo để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý vào dự thảo”.
[4] Điểm 5 của Điều 7 quy định Ủy Ban Thường vụ Quốc hội có quyền “Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội”;
[5] Điểm 9 của Điều 2 quy định Quốc hội có quyền “Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”
[6] Điều 34 quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn phải thông báo bằng văn bản cho tôi biết việc thụ lí có được tiến hành hay không, nếu không phải nêu lí do; Điều 36 (sửa đổi 2005) quy định thời hạn giải quyết không được quá 30 ngày (trong mọi trường hợp không được quá 45 ngày) kể từ ngày thụ lí.
[7] Điều 16 quy định: “Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại, tố cáo;…”
[8] Tôi cũng đã có một thư ngỏ ngày 27-9-2009 gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp phân tích việc này (đáng tiếc không có tờ báo chính thức nào đăng), và một thư đảm bảo gửi ông Bộ trưởng ngày 1-10-2009 mà ông đã nhận được ngày 2-10-2009; sau 14 ngày (luật quy định không quá 10 ngày) tôi chưa nhận được trả lời của Bộ trưởng. Xin đính kèm thư đó và 1 bài phân tích chi tiết của tôi đã gửi đến 2 tạp chí của Bộ KHCN và Bộ Tư pháp nhưng không được đăng.
———————-
* Biên lai chuyển phát nhanh:
UBTVQH_ChungTu_GuiThu_16_10_2009
* Các báo khác:
| Cc: | Bauxite <BauxiteVN@gmail.com>; Dai Doan Ket <toasoan@baodaidoanket.com.vn>; Dan Tri <dantri@dantri.com.vn>; La Dong Xa Hoi <bldxh@hn.vnn.vn>; Lao Dong <baolaodong@hn.vnn.vn>; Nong Thon Ngay Nay <ntnnhn@hn.vnn.vn>; Nguoi Lao Dong <ng.laodong@hcm.fpt.vn>; Nha Bao Va Cong Luan <baocongluan@hn.vnn.vn>; Nhan Dan <toasoan@nhandan.org.vn>; Phap Luat <baophapluat@hn.vnn.vn>; Phap Luat TPHCM <phapluattphcm@hcm.vnn.vn>; Sai Gon Tiep Thi <sgtt@sgtt.com.vn>; Thanh nien <toasoan@thanhnien.com.vn>; Tien Phong <hotline@baotienphong.com.vn>; Tuoi tre <btv@tuoitre.com.vn>; Vietnamnet <hotnews@vietnamnet.vn> |

Đăng trong Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: IDS, Nguyễn Quang A, Quốc hội, Thủ tướng | 6 phản hồi »
297. Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS
Đăng bởi anhbasam on 14/09/2009
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS
Ngày 24-7-2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (sau đây gọi là Quyết định 97), có hiệu lực từ ngày 15-09-2009.
Viện Nghiên cứu phát triển IDS nhận thấy Quyết định 97 có những sai phạm nghiêm trọng sau đây:
Một là: Điều 2 của Quyết định 97 không phù hợp với thực tế khách quan của cuộc sống.
Khoản 2, điều 2 trong quyết định này ghi: cá nhân thành lập tổ chức khoa học công nghệ “chỉ hoạt động trong lĩnh vưc thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.”
Như vậy khoản 2 của điều 2 bao gồm 2 điểm chính là
(1) các lĩnh vực được phép nghiên cứu quy định trong danh mục kèm theo Quyết định, và
(2) không được công bố công khai ý kiến phản biện với danh nghĩa của một tổ chức khoa học và công nghệ.
Về vấn đề danh mục các lĩnh vực được phép tổ chức nghiên cứu:
Cuộc sống vô cùng phong phú, có nhiều vấn đề chưa biết đến, luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, luôn luôn đặt ra những đòi hỏi mới, cần có các quyết sách mới và các giải pháp thích hợp. Vì vậy không thể bó khuôn mọi vấn đề được phép nghiên cứu trong cuộc sống vào một danh mục dù danh mục ấy có rộng đến đâu. Quy định như vậy sẽ bó tay các nhà khoa học, những người nghiên cứu độc lập, hạn chế sự đóng góp của họ vào việc xây dựng chính sách đổi mới và phát triển đất nước.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo nhằm khám phá các quy luật vận động trong tự nhiên và xã hội; từ đó tạo ra công nghệ mới, hoạch định chính sách phát triển và nâng cao dân trí để thúc đẩy xã hội tiến lên. Trong cuộc sống còn có những lĩnh vực, những vấn đề đã trở nên lỗi thời hoặc đã bị vượt qua. Thực tế này cũng là một đối tượng quan trọng của công việc nghiên cứu, nhất là trong tình hình một quốc gia phải ra sức phấn đấu khắc phục tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Trong một xã hội tiến bộ, công việc nghiên cứu với tính cách như vậy không thể đóng khung trong một danh mục gồm các lĩnh vực được quy định như đã nêu trong Quyết định 97.
Trong khi đó, công văn ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng) cho rằng cách quy định một danh mục các lĩnh vực cho phép cá nhân được thành lập tổ chức nghiên cứu là thông lệ ở nhiều nước trên thế giới, có nước quy định một danh mục cho phép, có nước quy định một danh mục cấm, hoặc cả hai. Chúng tôi đã tìm hiểu kỹ thì chưa thấy nước nào có quy định danh mục các lĩnh vực được phép nghiên cứu khoa học. Vì vậy cách trả lời trong công văn của Bộ Tư pháp là không trung thực, thiếu trách nhiệm. Cho đến nay, trên thế giới, việc phân loại các lĩnh vực khoa học là để thống kê, so sánh, không thể lấy đó làm căn cứ để quy định các lĩnh vực được phép nghiên cứu. Cách làm như Quyết định 97 sẽ bị dư luận chê cười, làm hại uy tín của lãnh đạo và của đất nước.
Ý kiến trong công văn của Bộ Tư pháp cho rằng Quyết định vẫn để mở, sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung dần các lĩnh vực cho phép, là môt cách biện bạch gượng gạo, bởi vì “cho phép” thì không bao giờ đủ. Không ai có thể “cho phép” đời sống sẽ được phát triển đến đâu. Thực chất với Quyết định này, “cho phép” tức là cấm, và vùng cấm rộng gấp ngàn lần vùng được phép.
Về vấn đề phản biện:
Quá trình đi lên của đất nước chưa có con đường vạch sẵn, cuộc sống có vô vàn vấn đề thuộc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cần được phản biện để có thể xử lý đúng đắn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất nhiều ý kiến phản biện về đường lối chính sách bị cất hầu như không có thời hạn trong các “ngăn kéo” của các cơ quan chức năng hoặc của những người có thẩm quyền có liên quan. Có quá nhiều phản biện dưới mọi dạng như kiến nghị, đề nghị, thư, tài liệu nghiên cứu… không bao giờ được hồi âm.
Ví dụ nổi bật nhất là cải cách giáo dục – một vấn đề sống còn của sự phát triển đất nước, một yêu cầu bức xúc của xã hội đang được dư luận và giới nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm, phản biện công khai sôi nổi từ nhiều năm nay nhằm thực hiện những nghị quyết của Đại hội Đảng và các Hội nghị Trung ương Đảng về cải cách giáo dục. Tuy vậy, sự phản biện này chưa được đánh giá và tiếp thu nghiêm túc.
Một ví dụ khác gần đây là vấn đề bô-xít, được coi là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Sự phản biện công khai, quyết liệt vừa qua của rất nhiều nhà khoa học và các hiệp hội thuộc các lĩnh vực khác nhau đã góp phanà thúc đẩy việc ban hành quyết định ngày 24-04-2009 của Bộ Chính trị lưu ý những vấn đề phải quan tâm trong khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Tuy vậy, còn biết bao nhiêu phản biện quan trọng khác trong vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên vẫn còn bị bỏ ngỏ.
Trong tình hình nêu trên, cấm các tổ chức khoa học công nghệ do các cá nhân thành lập phản biện công khai như nêu trong Quyết định 97 thực chất là cấm phản biện xã hội, hệ quả sẽ khôn lường.
Khoản 2 trong điều 2 của Quyết định 97 không viết thành văn nhưng hàm ý để ngỏ khả năng: cá nhân được phép phản biện công khai với tư cách riêng của mình. Như vậy, sẽ không thể giải thích:
(a) Tại sao cá nhân thì được phản biện công khai, còn tổ chức, tức trí tuệ tập thể và liên ngành được tập họp để có thể có chất lượng cao hơn, thì lại không? Quy định chỉ cho phép cá nhân phản biện công khai tạo thuận tiện cho việc vô hiệu hóa hay hình sự hóa việc phản biện của cá nhân? Phải chăng quy định như vậy ngay từ đầu đã mang tính chất không khuyến khích phản biện, mà có hàm ý làm nản lòng thậm chí hăm dọa sự phản biện của cá nhân.
(b) Tại sao trong nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một văn bản pháp quy có tầm quan trọng như vậy lại có thể được thiết kế như một cái bẫy và để ngỏ khả năng cho việc vận dụng cái bẫy đó?
Hai là: Việc cấm phản biện công khai là phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ.
- Cấm như vậy là phản khoa học, bởi lẽ: Bất kể một phản biện nào nếu không chịu sự “sát hạch” công khai, minh bạch trong công luận, sẽ khó xác định phản biện ấy là đúng hay sai, độ tin cậy của nó, sự đóng góp hay tác hại nó có thể gây ra, khó lường được các khả năng sử dụng hoặc lợi dụng việc phản biện này.
- Cấm như vậy là phản tiến bộ, bởi lẽ: Người dân sẽ không biết đến các phản biện đã được đề xuất hay các vấn đề đang cần phải phản biện, càng không thể biết chất lượng và tác dụng của những phản biện ấy, không biết nó sẽ được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, tiếp thu hay xử lý như thế nào. Phản biện và tiếp thu phản biện không công khai sẽ không thể tranh thủ được sự đóng góp xây dựng từ trí tuệ trong và ngoài nước, hạn chế khả năng sáng tạo tìm ra con đường tối ưu cho sự phát triển đất nước và vứt bỏ lợi thế của nước đi sau. Trên hết cả, cấm như vậy là cản trở việc nâng cao trí tuệ và bản lĩnh của người dân, cản trở vai trò làm chủ đất nước của nhân dân. Cấm như vậy chẳng khác nào biểu hiện chính sách ngu dân.
- Cấm như vậy là phản dân chủ, bởi lẽ: Nhân dân – người chủ của đất nước – sẽ thiếu những thông tin để tự mình tìm hiểu, đánh giá mọi vấn đề có liên quan của đất nước mà họ không thể không quan tâm. Cấm như vậy là tước bỏ hay làm giảm sút khả năng của nhân dân giám sát, kiểm tra, đánh giá hay đóng góp xây dựng, hình thành và nói lên các ý kiến của họ, tán thành hay bác bỏ một chủ trương nào đó; trên thực tế là cấm hay ngăn cản quyền của nhân dân tham gia vào công việc của đất nước. Cấm như vậy là ngược với tiêu chí Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Ba là: Quyết định 97 có nhiều điểm trái với đường lối của Đảng và vi phạm pháp luật của Nhà nước.
- Trước hết, đối với Hiến pháp, điều 2 trong Quyết định 97 vi phạm Điều 53 quy định công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; Điều 60 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác; Điều 69 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
- Đối với Luật Khoa học và công nghệ, điều 2 Quyết định 97 không phù hợp với tinh thần của Luật này coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, khuyến khích sự tham gia nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân, Nhà nước đảm bảo và hỗ trợ sự thực hiện những kết quả nghiên cứu, khuyến khích các hội khoa học và công nghệ có trách nhiệm tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ… v.v.
- Đặc biệt quan trọng là Quyết định 97 có nhiều điểm trái với tinh thần và nội dung Nghị quyết số 27 – NQ/T.Ư “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mới được ban hành tháng 10-2008. Nghị quyết này nhấn mạnh thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Việc ban hành Quyết định 97 còn vi phạm khoản 2 và khoản 4 Điều 67 trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là đã bỏ qua trình tự bắt buộc phải công bố dự thảo quyết định trước ít nhất 60 ngày trước khi kí để bảo đảm sự tham gia ý kiến của dân. Trong công văn trả lời Viện IDS, Bộ trưởng Bộ Tư pháp lập luận rằng: quyết định 97 được xây dựng và ban hành đúng luật vì toàn bộ các bước soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định dự thảo quyết định đã được hoàn tất trong năm 2008 khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi năm 2008) phải đến 1-1-2009 mới có hiệu lực. Sự biện bạch này không thể chấp nhận được. Quá trình soạn thảo, thẩm định bắt đầu từ bao giờ, kéo dài bao lâu, là việc nội bộ của các cơ quan hữu trách. Nhân dân, là những người chịu tác động của Quyết định, chỉ có thể biết ngày ban hành chính thức của Quyết định 97 là ngày 24-7-2009, hơn 7 tháng sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực. Như vậy rõ ràng là việc ban hành Quyết định 97 vi phạm luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vì sao một quyết định quan trọng liên quan đến một lĩnh vực lớn được coi là quốc sách hàng đầu, lại được thực hiện môt cách vội vã và tùy tiện như vậy.
Có thể kết luận, Quyết định 97 nếu được thực hiện sẽ làm nặng nề thêm thực trạng thiếu công khai minh bạch rất nguy hại cho việc xây dựng và thực thi pháp luật, làm trầm trọng thêm tình trạng tụt hậu hiện nay của đất nước.
*
* *
Trong gần 2 năm hoạt động, Viện Nghiên cứu phát triển IDS đã làm được một số việc có ích cho đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng đối với một số vấn đề hay chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, được dư luận xã hội, đặc biệt là giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Mọi hoạt động của Viện IDS từ ngày thành lập cho đến nay đều tiến hành đúng pháp luật, công khai, minh bạch.
Tuy nhiên trong thời gian qua, tồn tại dai dẳng một số nhận xét sai lệch của cơ quan an ninh về Viện IDS, thậm chí cho rằng Viện nhận tiền của nước ngoài và có hoạt động chống đối Nhà nước…Ngày 16-01-2009 Viện IDS đã có thư gửi các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước nêu rõ quan điểm của Viện về những nhận định sai trái này, song tiếc rằng cho đến nay bức thư này của Viện chưa nhận được bất kể một hồi âm nào.
Ngay sau khi có Quyết định 97, Hội đồng Viện IDS đã thảo luận, phân tích những chỗ sai cả về thủ tục và nội dung của quyết định này. Với ý thức tôn trọng Chính phủ và Thủ tướng, và để biểu thị thiện chí của mình, Hội đồng Viện chúng tôi nhất trí chưa bày tỏ ý kiến công khai mà trước hết gửi thư ngày 6-8-2009 nêu rõ với Thủ tướng những chỗ sai của Quyết định 97 và kiến nghị cách giải quyết nhằm tránh các hệ quả bất lợi về nhiều mặt.
Sau khi gửi thư, đại diện của Hội đồng Viện được mấy vị lãnh đạo mời gặp, riêng Thủ tướng mời gặp hai lần; nhân dịp đó chúng tôi trình bày rõ thêm và trao đổi ý kiến thẳng thắn về những nhận xét và kiến nghị đã nêu trong thư.
Viện IDS đã kiên tâm chờ đợi. Ngày 11-9-2009, Chủ tịch Hội đồng Viện IDS được Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thừa ủy quyền của Thủ tướng mời đến VPCP và trao cho hai văn bản. Một là công văn số 3182/BTP-PLDSKT ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời Hội đồng Viện Nghiên cứu phát triển IDS về những điều nêu trong thư của Viện gửi Thủ tướng ngày 6-8-2009. Hai là công văn số 1618/TTg-PL ngày 10-9-2009 của Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP thừa ủy quyền của Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và công nghệ ra văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định 97 và thu thập ý kiến để kiến nghị bổ sung danh mục ban hành theo quyết định này.
Hai công văn này cho thấy tất cả các kiến nghị của Viện IDS về Quyết định 97 đều không được chấp nhận.
Toàn viện IDS và từng thành viên đã hết sức đề cao tinh thần trách nhiệm công dân, ý thức kỷ luật và thiện chí, nhưng những cố gắng đó đã không được đáp ứng.
Trước tình hình như vậy, với một quyết định hạn chế đến mức vô lý quyền nghiên cứu của một tổ chức khoa học, Viện nghiên cứu phát triển IDS không thể tiếp tục hoạt động theo sứ mệnh đã xác định trong mục tiêu ghi vào Điều lệ của mình. Chấp nhận hoạt động theo Quyết định 97, viện IDS và các thành viên sẽ không thể làm đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng về trí thức mới ban hành, đồng thời không thể làm tròn trách nhiệm công dân và nghĩa vụ người trí thức của mình
Ngày 14-09-2009, Hội đồng Viện IDS đã họp phiên toàn thể, quyết định tự giải thể để biểu thị thái độ dứt khoát của Viện đối với Quyết định 97. Quan điểm của Viện chúng tôi được trình bày trong tuyên bố này và được công bố kèm theo các tài liệu liên quan[1]. Chúng tôi cũng giữ quyền sử dụng tiếp các công cụ pháp lý để bảo vệ sự trong sáng của luật pháp.
Làm tại Hà Nội ngày 14-09-2009
Các thành viên Hội đồng IDS đã ký
|
Số thứ tự |
Tên thành viên |
| 1 | Hoàng Tụy, Chủ tịch Hội đồng IDS |
| 2 | Nguyễn Quang A, Viện trưởng |
| 3 | Phạm Chi Lan, Phó Viện trưởng |
| 4 | Phan Đình Diệu |
| 5 | Lê Đăng Doanh |
| 6 | Vũ Kim Hạnh |
| 7 | Chu Hảo |
| 8 | Phạm Duy Hiển |
| 9 | Vũ Quốc Huy |
| 10 | Tương Lai |
| 11 | Phan Huy Lê |
| 12 | Nguyên Ngọc |
| 13 | Trần Đức Nguyên |
| 14 | Huỳnh Sơn Phước |
| 15 | Trần Việt Phương |
| 16 | Nguyễn Trung |
[1] Các tài liệu gửi kèm:
- Thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng và các vị lãnh đạo
- Công văn trả lời IDS số 3182/BTP-PLDSKT của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
- Văn thư ngày 16-1-2009 của IDS gửi các vị lãnh đạo và Thứ trưởng Bộ Công An
Mời bấm vào 3 tài liệu dưới đây để tải xuống bản pdf
- IDS_VanThu_16_1_09_AnNinh
IDS_ThuGuiTT_BanCuoiPdf_5_8_09
IDS_Bo tu phap Tra loi IDS ve Quyet dinh 97
* Toàn văn Bản Tuyên bố này và 3 tài liệu đính kèm Ba Sàm được TS Nguyễn Quang A gửi tới trực tiếp hồi 20h ngày 14-9-2009
Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 51 phản hồi »
212.Tòa Hà Nội trả lời Đơn kiện Thủ tướng của LS Hà Vũ
Đăng bởi anhbasam on 23/06/2009
Ha Ha!!! Sự kiện lịch sử … Văn minh quá ta, từ Tòa cho tới Chánh phủ
Theo tin trên trang Web của Chính phủ: (Xin chưa có lời bình về nội dung bản Quyết định. Nhưng cũng nhắc các báo chớ có le te đăng lại cái nầy nha. Độc quyền của trang Ba Sàm đó)
Mời đọc thêm: 198.Bauxite:LS Vũ kiện TT Dũng.
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ___________ Số: 978/QĐ-GQKN-HC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc _____________________________ Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 2009 |
QUYẾT ĐỊNH
Giải quyết khiếu nại của ông Cù Huy Hà Vũ,
trú tại số nhà 24 đường Điện Biên Phủ, phường Điện Biên Phủ,
quận Ba Đình, thành phố Hà nội về việc trả lại đơn khởi kiện
______________
CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Căn cứ vào Điều 31 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006);
- Xét đơn khiếu nại đề ngày 17 tháng 6 năm 2009 của ông Cù Huy Hà Vũ, thường trú tại số nhà 24 đường Điện Biên Phủ, phường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đối với Thông báo số 19/TB-TA ngày 15 tháng 6 năm 2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc trả lại đơn khởi kiện.
NHẬN THẤY
Ngày 11 tháng 6 năm 2009, ông Cù Huy Hà Vũ có đơn kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025;
Ngày 15 tháng 6 năm 2009, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ra Thông báo số 19/TB-TA trả lại đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ vì đơn khởi kiện không có căn cứ pháp lý.
Ngày 17 tháng 6 năm 2009, ông Cù Huy Hà Vũ có đơn khiếu nại gửi Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về Thông báo trả lại đơn khởi kiện nói trên.
XÉT THẤY
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trả lại đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật, bởi lẽ:
1. Căn cứ Điều 11 và điểm a khoản 2 Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006), Tòa án không có căn cứ pháp lý để thụ lý và giải quyết quyết đơn khởi kiện này;
2. Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025, được ban hành hoàn toàn đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Luật tổ chức Chính phủ, Luật bảo vệ môi trường, Luật khoáng sản, Luật quốc phòng, Luật di sản văn hóa, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quy chế làm việc của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
3. Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến bauxit là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước được khẳng định từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm xây dựng ngành công nghiệp bauxit, alumin, nhôm phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần phát triển kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên trước mắt và lâu dài. Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg được ban hành để triển khai thực hiện chủ trương đúng đắn nói trên, đáp ứng yêu cầu về hiệu quả kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường văn hóa xã hội, hợp tác đầu tư với nước ngoài và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tây Nguyên. Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã xem xét, thảo luận, bày tỏ sự đồng thuận cao về sự cần thiết của Quy hoạch này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Giữ nguyên Thông báo số 19/TG-TA ngày 15 tháng 6 năm 2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc trả lại đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ;
2. Không xem xét giải quyết đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ đối với Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.
Quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng./.
| Nơi nhận:
- Người khiếu nại; - Lưu THC, VP |
CHÁNH ÁN (Đã ký)
Nguyễn Sơn |
Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: Thủ tướng, Cù Huy Hà Vũ, kiện hành chính, Tòa án, Nguyễn Tấn Dũng | 5 phản hồi »
209.Ý kiến của Giám Đốc Hiệp Hội Báo chí ĐNA về việc bắt giữ LS Lê Công Định
Đăng bởi hoangtran204 on 21/06/2009
Asia Times Online -
Chính Quyền Việt Nam bắt giữ một người
hay chõ mũi vào chuyện của kẻ khác
20-6- 2009
Người dịch : Trần Hoàng
Băng Cốc, Thái Lan – Trên bề mặt, chẳng có gì mới mẻ về cuộc bắt bớ một luật sư nổi tiếng của chính quyền Việt Nam hôm 13-6 vì các tội trạng luôn luôn thuộc về tuyên truyền chống lại nhà nước. Lê Công Định được giáo dục ở Mỹ – ông ta có một bằng cao học luật của Viện Đại Học Tulane (tiểu bang Louisiana) – và tham gia vào nhóm các luật sư quốc tế và các luật sư bênh vực cho nhân quyền và dân chủ.
Điều dễ hiểu nhất trong việc bắt giữ ông Định là dựa vào sự quan sát bình thường cho thấy rằng chính phủ Viêt nam đã quyết định và thực hiện việc bắt giữ (người) thêm lần nữa. Chính phủ đã và đang bắt giữ một người chịu ảnh hưởng của phương Tây đang đi rao giảng sự thay đổi. Việc bắt giữ ông Định là cọng thêm vào một danh sách của một nhóm 30 người bất đồng chính kiến, bao gồm các nghệ sĩ, các nhà hoạt động cho tôn giáo, các nhà văn mà Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nói rằng những người nầy đã và đang nhận được những bản án tù lâu năm kể từ năm 2006.
Tuy nhiên, điều quan tâm của quốc tế và bên trong nước về việc bắt ông Định thì ở trên một mức độ khác. Việc bắt giữ một nhân vật thường hay phát biểu thẳng thắn thì không phải là chuyện mới lạ gì. Những lời buộc tội chống lại ông Lê Công Định đang gây khó khăn cho chính quyền vì một lý do liên quan đặc biệt tới thế đứng của ông ta trong xã hội Việt Nam, vị thế ấy là: ông Định không phải là một nhà bất đồng chính kiến.
Ông Định chỉ mới 41 tuổi và đã thành công, với việc hành nghề luật sư đang phát triển mạnh và lập gia đình với một hoa hậu, Ông Định có thể được xem như là một thành phần của nhóm cầm quyền. (vậy thì) Điều gì đã và đang làm ông tách xa (khỏi nhóm cầm quyền) thì không liên quan nhiều tới việc bênh vực công khai của ông ta dành cho sự đổi mới và cải cách, mà chính là niềm tin của ông ta vào các nguyên lý đã lựa chọn. Chính các nguyên lý tương tự đó đang làm cho những lời buộc tội chống lại ông ta không còn ý nghĩa nữa.
Ông Định đã và đang bênh vực rất nhiều cho dân chủ, và các quyền của người Việt Nam. Ông đã và đang đứng bên trong các giới hạn thuộc quyền của ông với tư cách là một luật sư ở Việt Nam. Khi ông biện hộ cho các blogger, các nhà văn và các nhà hoạt động nhân quyền, ông Định không viết hay dựa vào các quan điểm bên ngoài Việt Nam hay tổ chức các cuộc vận động bên trong nước.
Ông Định được biết đến vì lối nói chuyện đơn giản và rõ ràng của một luật sư, ông bàn cãi và thảo luận thuần túy từ những gì ở trong hiến pháp của Việt Nam. Sự biện hộ và bênh vực của ông là tuân thủ theo luật pháp. Ông chỉ rõ rằng quyền phát biểu tự do được diễn đạt và được vinh danh một cách hiển nhiên ở trong hiến pháp, cùng với quyền tự do báo chí và tự do thành lập hội đoàn.
Nơi nào mà các nhà bất đồng chính kiến bắt bẻ rằng những bảo đảm hợp pháp dành cho quyền tự do diễn đạt tư tưởng là chỉ có trên danh nghĩa, con người luật sư ở trong ông Định được người ta biết làm việc với hàm ý đó, “ điều đó là hợp lý, tôi đồng ý là vậy, nhưng chúng ta có thể chịu đựng chuyện nầy đến đâu.” Ông Định đã và đang bảo vệ các thân chủ của ông dựa trên cơ bản hợp lý tương tự mà qua đó các nhà báo và các blogger ở Việt Nam nói rằng sự thay đổi có thể, sẽ, và trên thực tế đang diễn ra rồi, bằng chứng là trên mạng internet.
Làn Sóng của sự Cởi Mở
Mặc cho các hạn chế, sàng lọc tin tức và ngăn chận các trang mạng, sự cởi mở đang phát triển trên mạng internet thì có thể nhìn thấy, nghe thấy, và nhận thấy được ở Việt Nam. Thông qua các blog và các phương thức mạng trực tuyến, những người Việt Nam đang nói nhiều về các đề tài như tham nhũng, cải cách kinh tế và tôn giáo. Rõ ràng là vẫn còn có những biên giới, nhưng thật là chính xác đối với những ai đang tự họ vượt qua đường biên giới nầy (ý thức hay không có ý thức), ông Định trở nên được người ta biết đến như là một người đại diện cho tập thể ấy và ông là người đáng tin cậy.
Những gì mà các blogger và các nhà văn muốn tin vào internet, ông Định dường như đang cố gắng để chứng minh trong lãnh vực luật pháp. Ghi nhận sự đàn áp đã được hệ thống hóa của đảng Cộng sản đang nắm quyền hành, sự cam kết của luật sư Định để làm việc từ bên trong hệ thống nầy có tính chất vô giá và không dễ dàng gì để đạt được.
Tổ chức Giám sát Nhân Quyền (HRW) bênh vực cho các quyền của con người đóng ở Mỹ ghi nhận rằng “hầu hết các tù nhân chính trị và tù nhân các tôn giáo ở Việt Nam không có quyền tiếp xúc với các luật sư độc lập suốt thời gian xử án của họ”. Cùng lúc ấy, “Các luật sư nào khác tìm cách để bảo vệ cho các bị can (hoạt động cho nhân quyền của người Việt Nam và các nhà hoạt động cho tôn giáo) thì lại đối diện với sự hăm dọa và quấy nhiễu (của chính quyền).”
Tổ chức Giám sát Nhân Quyền (HRW) thuật lại trường hợp của “luật sư Bùi Kim Thành, bà ta bị chính quyền cưỡng chế và giam giữ trong một bệnh viện tâm thần vào năm 2008 và năm 2006 bởi vì hành động bảo vệ của bà dành cho các nông dân tìm kiếm sự bồi thường vì (nhà nước) tịch thu đất đai của họ” .
Ở mức độ nầy, ông Định không phải là người đầu tiên mà cũng không phải là người duy nhất đối diện với sự quấy nhiễu của chính quyền. Năm 2007, các thân chủ của ông Định là hai nhà luật sư quen biết (LS Đài và LS. Công Nhân), và ông Định đã biện hộ thành công để có được các bản án tù ngắn hơn sau khi hai luật sư nầy đã bị phạt tù trước đó vì tội “Tuyên truyền chống lại nhà nước”.
Ông Định trước đó đã thành công làm nhẹ các bản án tù cho các đồng nghiệp của ông, và đó là một loại chiến thắng có tính chất đạo đức đã hổ trợ cho ông Định. Nhưng đây là phiên tòa đang chờ đợi của chính ông – sự bắt giữ một người khác nổi tiếng nhất ở Việt Nam vì hay chõ mũi vào chuyện của người – phiên tòa nầy đang nhấn mạnh tới sự thắng hay thua sau cùng (của ông).
Chính quyền Việt Nam cho rằng ông Định “đã lợi dụng công việc của ông ta với tư cách là một luật sư bảo vệ cho một số bọn phản động…để tuyên truyền chống lại chế độ và xuyên tạc luật pháp và hiến pháp của Việt Nam”.
Tổ chức Bảo vệ quyền Tự Do Truyền Thông ở Đông Nam Á (SAMLDN), một tổ chức của các nhà bảo vệ cho ngành truyền thông được độc lập của khu vực này, cho rằng Việt Nam đang hình sự hóa một cách hiệu quả sự bó buộc có tính chất nghề nghiệp của luật sư để biện hộ cho các thân chủ của ông Định. Bằng cách tuyên phạt những lời biện hộ của ông Định dành cho quyền tự do phát biểu ý kiến, bao gồm những ai đã lên tiếng biện hộ bên trong tòa án và bên trong quá trình thưa kiện, (khi làm thế) chính quyền đang quấy nhiễu nguyên cả khối luật gia và làm cho cả nước Việt Nam không còn có được sự bảo vệ nữa.
Không phải chỉ có người Việt Nam sẽ lo lắng. Việt Nam đang nhận lãnh trách nhiệm chủ tịch Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (7 nước) vào năm 2010, đúng vào lúc hiệp hội nầy đang lên lịch làm việc để đưa lên bàn họp lần cuối cùng về một dự án dành cho việc thành lập một tổ chức về nhân quyền đang thành hình. Vì chưa có một nước nào có thể quyết định chuyện tổ chức nhân quyền đó sẽ là một hội đồng, một ủy hội, một tòa án, hay một bàn làm việc trong một văn phòng nho nhỏ, phương hướng và sự tiến bộ của tổ chức nhân quyền nầy phụ thuộc cao độ vào ước muốn chính trị.
Lối đối xử của chính quyền Việt Nam dành cho ông Định tiên đoán được ý kiến không ưa thích hay sự bất hạnh về khả năng phát triển và tính chất thực dụng của tổ chức nhân quyền ấy. Một số người cho rằng các động lực của việc bắt giữ ông Định có thể không nhất thiết đưa ra tín hiệu về một sự thắt chặt có tính chất trừng phạt trên toàn cả nước VN, mặc dù việc bắt giữ vào tuần nầy ba nhà hoạt động dân chủ bị cáo buộc về việc bí mật hành động để hợp tác với ông Định đang dương cao ngọn cờ đỏ báo động (về chuyện thắt chặt ấy).
Người ta ngờ rằng các tội chống lại ông Định có nguyên nhân chính trị. Đối với mọi người ông Định đã và đang giúp đỡ — cho quyền của những người nông dân, một sự thách thức đối với việc khai thác mỏ, các khẳng định của Việt Nam về các hòn đảo đang tranh chấp với Trung Quốc, và nhiều vấn đề khác nữa – người ta cho rằng ông Định có nhiều kẻ thù ở nhiều lãnh vực.
Mọi việc đều không đổi, tất cả đều do trách nhiệm một phần nào đó của hệ thống luật pháp không được mang ra thi hành chức năng và lợi dụng làm phương hại tới cả nước Việt Nam – và khu vực nầy—đã làm nhơ nhuốc và tàn hại quyền tự do ngôn luận và làm nhơ bẩn các báo cáo về nhân quyền.
Bất luận trường hợp nào, người Việt Nam sẽ mất đi một người đàn ông, một người đã từng khăng khăng, cố gắng để thúc đẩy cho một sự thay đổi bên trong chế độ. Giờ đây chính ông đang cần có một luật sư, những triển vọng dành cho mọi người mà ông Định đã đứng lên và tranh đấu ở Việt Nam đã trở thành không còn chắc chắn nữa.
Roby Alampay là giám đốc của Hiệp Hội Báo Chí Đông Nam Á
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
————
Vietnam arrests a pragmatist
By Roby Alampay
BANGKOK – On the surface, there is nothing new about Vietnam’s arrest on June 13 of a prominent lawyer for the usual charges of spreading anti-state propaganda. Le Cong Dinh is American-educated – he obtained has a master’s degree in law from Tulane University – and well-networked with international lawyers and human rights and pro-democracy advocates.
The easiest insight into his arrest is the plain observation that Vietnam has gone and done it again. They’ve arrested a Western-influenced change-monger, adding to some 30 deemed dissidents, including artists, religious activists, writers, that Amnesty International says have received long prison sentences since 2006.
The national and international concern over Dinh’s arrest, however, is quite on another level. The attack on a man so vocal is nothing new. The charges against Le Cong Dinh are troubling for a reason peculiar to his standing in Vietnamese society, which is this: he is not a dissident.
Still only 41 and already successful, with a thriving law practice and married to a beauty queen, Dinh may well be considered part of the ruling establishment. What has set him apart is not so much his open advocacy for reform, but his faith in his chosen platform. It is the same platform that makes the charges against him preposterous.
For as much as Dinh has advocated for democracy, and the rights of Vietnamese, he has stayed well within his prescribed boundaries as a lawyer in Vietnam. When he defends bloggers, writers and human-rights activists he does not write from outside Vietnam or organize campaigns from within the country.
He is known for speaking plainly as a lawyer, arguing purely from what is within the Vietnam constitution. His advocacy, if anything, is for the rule of law. He points out that free expression is stated and ostensibly valued in the constitution, along with press freedom and freedom of assembly.
Where dissidents carp that the legal guarantees for free expression are nominal at best, the lawyer in Dinh is known to have worked with the implicit message, “Fair enough, but let’s see how far we can take this.” He has defended clients on the same premise by which journalists and bloggers in Vietnam say that change can, will, and in fact already does, manifest on the Internet.
Tide of openness
Despite restrictions, filtering and the blocking of websites, the growing openness of the Internet is palpable in Vietnam. Through blogs and other online platforms, Vietnamese are more vocal about topics such as corruption, economic reform and religion. Clearly there are still boundaries, but it is precisely for those who find themselves having crossed the line (wittingly or otherwise) that Dinh became known as a collected and confident representative.
What bloggers and writers want to believe about the Internet, Dinh has seemingly tried to prove within the legal sector. Given the ruling Communist Party’s institutionalized suppression, Dinh’s commitment to work from within the system is invaluable and is not easy to come by.
United States-based rights advocacy group Human Rights Watch (HRW) notes that “most political and religious prisoners in Vietnam do not have access to independent legal counsel during their trials”. Meanwhile, “Other lawyers seeking to defend Vietnamese human-rights defenders and religious freedom activists have faced threats and harassment.”
HRW cites the case of “Bui Kim Thanh, who was involuntarily committed to a mental institution in 2008 and 2006 because of her defense of farmers seeking redress for confiscation of their land”.
On this level, Dinh is neither the first nor the only person facing harassment. In 2007, his clients were two fellow lawyers for whom he successfully pleaded shorter sentences after they had also been effectively penalized for “propagandizing against the state”.
That he had managed to at least shorten the prison terms for his colleagues was the kind of moral victory that sustained Dinh. But it is his own pending trial – the arrest of the most famous pragmatist in Vietnam – that underscores what is finally at stake. The government says Dinh “took advantage of his work as a defense lawyer for a number of reactionaries … to propagandize against the regime and distort Vietnam’s constitution and laws”.
The Southeast Asia Media Legal Defense Network, a network of independent media defenders from around the region, says Vietnam is effectively criminalizing the lawyer’s professional obligation to defend his clients. By penalizing his arguments for free expression, including those uttered within the boundaries of the court and in the course of litigation, they are harassing the whole legal sector and leaving the nation defenseless.
It is not just the Vietnamese who should be worried. Vietnam takes over the chairmanship of the Association of Southeast Asian Nations in 2010, just as the body is scheduled to finally table terms of reference for the formation of a still nebulous human-rights body. Because nobody can yet say whether that “body” will ultimately be a council, a committee, a court, or a desk in some cubicle, its direction and momentum are highly dependent on political will.
The Vietnamese government’s treatment of Dinh augurs ill for the viability of the human-rights body. Some say the motives for Dinh’s arrest may not necessarily signal a wider state-sanctioned clampdown, though the arrest this week of three pro-democracy activists accused of colluding with Dinh raises red flags.
There is speculation that the charges against Dinh are politically motivated. For all he has espoused – farmers’ rights, a challenge to mining operations, Vietnam’s claims over disputed islands with China, among others – he is known to have enemies in many arenas. All the same, it all still redounds to a compromised legal system further exploited at the expense of Vietnam’s – and the region’s – already tarnished free speech and human-rights records.
Whatever the case, Vietnamese will lose one man who was stubborn enough to push for change within the system. Now that it is he who needs a lawyer, the prospects for all he has stood and fought for in Vietnam have become all the more dubious.
Roby Alampay is executive director of the Southeast Asian Press Alliance.
Đăng trong Blog/Báo, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: Hiệp hội báo chí ĐNA, Lê Công Định | 4 phản hồi »
198.Bauxite:LS Vũ kiện TT Dũng
Đăng bởi hoangtran204 on 11/06/2009
Mách nhỏ bà con: Để đọc dễ hơn. Làm cùng 1 lúc:
Ngón cái đè vào Ctrl và ngón trỏ gõ vào dấu – sẽ làm cho chữ nhỏ
Ngón cái đè vào Ctrl và ngón trỏ gõ vào dấu + sẽ làm cho chữ lớn
Luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về vụ bauxite Tây Nguyên
Thanh Phương (thực hiện)
Bài đăng ngày 11/06/2009 Cập nhật lần cuối ngày 11/06/2009 14:46 TU
Luật sư Cù Huy Hà Vũ (Hà Nội) hôm nay vừa nộp đơn khởi kiện ông Nguyễn Tấn Dũng vì theo ông, thủ tướng Việt Nam đã ra một quyết định ”trái pháp luật” khi vẫn cho thực hiện các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, bất chấp những lời phản đối của dư luận. Sau khi nộp đơn kiện, luật sư Cù Huy Hà Vũ đã dành cho RFI bài phỏng vấn sau đây.
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/114/article_3813.asp
Thưa luật sư, xin luật sư cho biết là vì sao ông đã quyết định kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra tòa chứ không phải là kiện một vị lãnh đạo nào khác trong cái quyết định vẫn tiến hành khai thác các dự án bauxite ở Tây Nguyên?
Thời gian vừa qua tôi cũng nghĩ rằng cái dự án bauxite này như công luận Việt Nam đã phản ánh gây hại nhiều hơn là có lợi. Lúc đầu tôi nghĩ rằng với sự phản đối của công luận, của các vị lãnh đạo cách mạng lão thành như là Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì chắc Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu sẽ phải nghĩ lại, phải cân nhắc thật là cẩn trọng, hay nói cách khác, là dừng cái việc triển khai khai thác bauxite hiện nay đang được tiến hành ở Tây Nguyên.
Những chứng cứ ở Quốc hội vừa qua cho thấy Bộ Chính trị vẫn tiếp tục tiến hành. Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam vẫn chủ trương tiến hành. Thậm chí Quốc hội là nơi để có thể bàn thảo về dự án này thì ông chủ nhiệm VP Quốc hội là ông Trần Đình Đàn cũng tuyên bố trước cả Quốc hội là sẽ thông qua. Vì vậy tôi cũng cực chẳng đã phải dùng đến biện pháp tư pháp, tức là khởi kiện ra tòa án, người đã có quyết định hành chính sai lầm dẫn tới triển khai việc khai thác bauxite Tây Nguyên. Đó chính là Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, là người đã ban hành quyết định số 167/2007/QĐTTG ngày 01/11/2007 phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác chế biến sử dụng sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007 – 2015 có xét đến năm 2025.
Thế thì tại sao tôi lại khởi kiên Thủ tướng bởi vì cái quyết định mà tôi vừa nói đó, là cơ sở để người ta triển khai thác bauxite như hiện nay ở vùng Tây Nguyên. Đấy là cơ sở pháp lý và ở pháp luật Việt Nam, cho phép mọi công dân có quyền khởi kiện hành chính để mà kiện người nào đó đã ra những văn bản hành chính trái pháp luật, phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, trong đó có cá nhân tôi!
Thưa luật sư, vậy thì theo cái luật pháp hiện hành của VN, thì quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn cho khai thác bauxite có trái với những văn bản pháp luật nào?
Thứ nhất, quyết định phê duyệt đó của Thủ tướng là trái với Luật bảo vệ môi trường. Cụ thể ở điều 14, mục 1 (đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 Quy định đối tượng để lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược bao gồm:
+ Chiến lược quy hoạch nêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp quốc gia
+ Chiến lược quy hoạch kế hoạch phát triển ngành lĩnh vực trên quy mô cả nước
+ Chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh thành phố trực thuộc TƯ, hay là vùng.
Và điều 15, mục 1 (đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 vẫn của Luật bảo vệ môi trường quy định: cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án (quy định tại điều 14 của quy định tôi vừa nói) có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là một nội dung của dự án, và phải được lập đồng thời với quá trình lập dự án.
Khoản 6 điều 17, mục 1 (đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 vẫn của Luật bảo vệ môi trường quy định rõ hơn: Kết quả thẩm định, báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để xây dựng dự án.
Rồi điểm A khoản 7 điều 17, mục 1(đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 vẫn của Luật bảo vệ môi trường quy định tiếp: Bộ Tài nguyên môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Và điều này đồng nghĩa với việc, Thủ tướng Chính phủ không thể phê duyệt quy hoạch này nếu quy hoạch không có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được thẩm định bởi hội đồng thẩm định do Bộ Tài nguyên môi trường tổ chức.
Thế nhưng quy hoạch này lại chưa có một báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Đây là tôi dẫn nguyên văn sự thừa nhận công khai của Chính phủ tại báo cáo gửi Quốc hội vừa qua để giải trình việc triển khai dự án bauxite. Do đó tôi kết luận: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác chế biến sử dụng quặng bauxite rõ ràng là TRÁI Luật bảo vệ môi trường.
Thứ hai là quyết định của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là trái Luật quốc phòng, trái cả Luật di sản văn hóa.
Tôi nói cụ thể là khoản 2, điều 11 Luật quốc phòng quy định là quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng tỉnh thành phố trực thuộc TƯ và khu vực trọng điểm về quốc phòng phải được Bộ quốc phòng và các cơ quan thẩm quyền của Chính phủ phối hợp thẩm định. Vì vậy, Luật quốc phòng là một căn cứ để Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định.
Thế rồi khoản 1 điều 4, Luật di sản văn hóa quy định: lối sống, nếp sống thuộc di sản văn hóa phi vật thể, được nhà nước bảo vệ và phát huy. Cho nên việc khai thác chế biến sử dụng quặng bauxite được triển khai trên diện rộng ở Tây Nguyên, chắc chắn dẫn đến việc di rời đáng kể đồng bào dân tộc khỏi nơi sinh sống truyền thống của họ, tức là ở vùng rừng núi. Và điều này dẫn tới lối sống, nếp sống của đồng bào rất có thể bị thay đổi. Quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác chế biến sử dụng quặng bauxite nhất thiết phải có sự thẩm định của ngành văn hóa nhằm đảm bảo di sản văn hóa phi vật thể.
Vì vậy để bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể – ở trong trường hợp này là lối sống, nếp sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên – Luật di sản văn hóa phải là một căn cứ để Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định phê duyệt dự án.
Thế nhưng điều vô cùng kỳ cục và thực sự tôi thấy sốc: khi lập quyết định này, xem lại quyết định thì Thủ tướng có ghi là “căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001” và chỉ có thế thôi! Không có căn cứ vào luật nào khác. Và điều này có nghĩa là quyết định của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng được ban hành hoàn toàn không có căn cứ Luật quốc phòng, Luật di sản văn hóa mà tôi vừa mới nhắc tới. Văn bản luật cuối cùng mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm trái đó là Luật ban hành văn hành văn bản quy phạm pháp luật.
Thực vậy, điều 15 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (quy định thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản pháp luật) của Thủ tướng Chính phủ, điều này quy định: Căn cứ vào hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị.
Như vậy ta thấy rõ là để ban hành quyết định, Thủ tướng Chính phủ nhất thiết phải căn cứ vào Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường là hai luật hiển nhiên điều chỉnh trực tiếp việc thăm dò khai thác chế biến sử dụng khoáng sản mà trong trường hợp này là bauxite; cũng như quyết định phải căn cứ vào Luật quốc phòng rồi Luật di sản văn hóa là những luật điều chỉnh gián tiếp quy hoạch như tôi vừa trình bày ở trên.
Do đó, việc Thủ tướng ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch thăm dò khai thác chế biến sử dụng khoáng sản ở Tây Nguyên mà không căn cứ vào các luật này cũng như không căn cứ vào các nghị định, hướng dẫn thi hành các luật này, rõ ràng là TRÁI luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Thưa luật sư, đó là những văn bản luật mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không căn cứ vào đó để mà ra quyết định liên quan đên việc khai thác bauxite Tây Nguyên. Nhưng mà bây giờ việc khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra tòa với trình tự căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để có thể bản thân ông đứng ra kiện Thủ tướng Chính phủ như vậy?
Như chúng ta đều biết, nguyên tắc của pháp luật là chủ thể của mọi hành vi (ban hành văn bản hành chính, lời nói, hành động của những người có thẩm quyền) trái với pháp luật nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì đều là đối tượng khởi kiện cả. Ngoài nguyên tắc chung đó, tôi còn lần ra những quy định rất cụ thể về luật liên quan dẫn tới việc công dẫn có thể khởi kiện những quyết định, văn bản hành chính đi ngược lại những luật mà tôi vừa kể trên.
Thứ nhất, ngoài nguyên tắc trên tôi căn cứ vào khoản 2 điều 4 Luật bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Vậy việc tôi khởi kiện để tòa án hủy bỏ quyết định sai trái của Thủ tướng đó là trách nhiệm thực thi quyền bảo vệ môi trường của mỗi công dân.
Căn cứ thứ hai là khoản 1 điều 128 Luật bảo vệ môi trường, đó là: Tổ chức cá nhân có quyền khiếu nại tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại tòa án về hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khoản 3 điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, cá tổ chức thành viên, cơ quan tổ chức khác và công dân có quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí văn bản quy phạm pháp luật sai trái.
Vậy tôi coi việc tôi khởi kiện ra tòa, khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra toà để hủy bỏ quyết định Thủ tướng đã phê duyệt là thực thi quyền công dân của tôi, quyền giám sát và xử lí văn bản quy phạm pháp luật sai trái trên thực tế. Đây là cơ sở pháp luật để tôi quyết định khởi kiện Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ra Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội do việc Thủ tướng đã ban hành trái pháp luật quyết định 167/2007QĐTTG phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác chế biến sử dụng bauxite giai đoạn 2007 – 2015 có xét đến năm 2025.
Hay nói cách khác, tôi khởi kiện để mong chấm dứt hành vi gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và tổn hại này không phải chỉ là hiện tại trước mắt mà sẽ có thể là tổn hại chưa chắc có thể chuộc lại được và cũng là một cách tôi thể hiện lòng biết ơn của tôi đối với cả các thế hệ từ ngàn năm nay phấn đấu xây dựng đất nước Việt Nam và bảo vệ đất nước Việt Nam chống lại mội sự xâm lấn của nước ngoài và bảo vệ tài nguyên, bờ cõi cho người Việt.
Chúng tôi xin cảm ơn Luật sư đã nói về việc khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra tòa về vấn đề khai thác bauxite tại Tây Nguyên.
Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Pháp luật | Tagged: Thủ tướng | 1 Comment »
194.Nát!
Đăng bởi anhbasam on 08/06/2009
Nát!
Xin quý vị gắng đọc một bài báo có vẻ như “chẳng ra đầu ra đũa”, nói tới đủ thứ chuyện, với toàn những dấu hỏi, chấm than, ba chấm, ngoặc đơn, ngoặc kép,… của những trích dẫn, thắc mắc, bực dọc, ngạc nhiên, và nhiều điều không thể kể ra hết. Nhưng đó là cảm giác bao trùm của tôi sau khi theo dõi những buổi thảo luận, chất vấn – trong kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XII.
Nhưng liệu có phải do cảm tính, khi lần đầu tiên phải nhìn thấy các vị đại biểu cao nhất cho nhân dân cả nước phải họp ở một nơi thật khiêm tốn, “mới” (nhưng lại cũ), mà không phải như nhiều người nghĩ là Trung tâm Hội nghị Quốc gia rộng lớn đẹp đẽ rất phù hợp, mới xây xong năm ngoái mà giờ như đang hiu vắng đợi chờ ? Tự kiếm lời giải đáp cho điều này mà không thể có nổi. Hay sẽ tin vào những xì xầm trong báo giới, rằng đó là “khổ nhục kế”, để chứng tỏ thêm việc xây mới tòa nhà Quốc hội là hợp lý? Nhưng đây mới chỉ là cảm giác như khúc dạo ban đầu cho bản nhạc tuỳ hứng không muốn đặt tên.
… Bộ trưởng Giao thông Vận tải (GTVT) khi trả lời chất vấn về trách nhiệm trước tình trạng giao thông đô thị tệ hại hiện nay, ông đã đổ ngay trách nhiệm chính cho địa phương. Quả tình, như tại Thành phố Hồ Chí Minh, vụ cầu Văn Thánh 2 be bét [1] , vụ trắng trợn “nuốt” nhưng không trôi 130 héc-ta đất tái định cư của dân ở Thủ Thiêm [2] mà giờ càng cố gỡ, cố giấu càng rối, càng lộ tẩy … (đến độ kỳ quặc là Bí thư thành uỷ lại ra chỉ thị xây 12.500 căn nhà tái định cư [3] – để “sửa sai” cho … chính mình khi còn làm Chủ tịch thành phố) là rõ nhất cho những trách nhiệm rất lớn mà không thấy ai phải chịu ở địa phương này [4] . Thế nhưng nếu là người không sợ trách nhiệm, ông Bộ trưởng có thể nhận ngay về mình, ngành mình và nói rõ trách nhiệm là gì, tới đâu, năng lực, hay thậm chí lại do… “cơ chế” trước những vấn nạn giao thông. Quan trọng hơn nữa là những nguyên nhân gốc rễ của nó. Nếu không né tránh, thì cũng không khó để nói rằng “cơ chế” ở đây là cái gì. Ví dụ: đó chính là cây cầu Đồng Nai [5] sắp sập, sao địa phương báo lên từ lâu mà các ông không lo [6] , có cái cơ chế gì ở đây? Hay thực chất là vô trách nhiệm, là kém năng lực… ? Hay thực chất nữa là có những người cứ thích cảnh “nước đến chân mới nhảy” để rồi lại xin xây gấp, bỏ qua những thủ tục mà luật pháp đã quy định? Phải nói ra! Ví dụ nữa: vụ sập (hai nhịp dẫn) cầu Cần Thơ. Cho tới lúc này, đã quá cái thời hạn một tháng điều tra, Ban Chỉ đạo đặc biệt đã xin lùi thời hạn thêm [7] , tới một tháng nữa rồi, liệu có phải do khó khăn, cần cẩn trọng… hay chính là để “né” kỳ họp Quốc hội với phiên chất vấn ông Bộ trưởng GTVT sẽ có cả những đòi hỏi ông phải từ chức vì vụ này? Rất có thể! Và … không thể kể hết những trách nhiệm rất lớn và năng lực yếu kém của ngành GTVT quanh tình trạng hiện nay. Ví như cục Đường bộ mới có những “sáng kiến” [8] thật ngô nghê (sắp trình Bộ, rồi trình tới Thủ Tướng) hòng cứu nguy cho tình trạng ách tắc giao thông ở Hà Nội và Thành phố Hố Chi Minh, trong đó có thu phí xe lưu thông trong giờ cao điểm trên một số tuyến phố có mật độ giao thông lớn và bắt buộc học sinh cấp 3, sinh viên đi xe buýt, đột ngột tăng lệ phí đăng ký xe mới lên 30-50% [9] . Tại sao ông Bộ trưởng không nhận ra là cần phải loại ngay những con người kém cỏi, liên tục có lối “quấy rầy” công luận theo kiểu này ra khỏi bộ máy vì nó khiến thiên hạ phải tốn giấy mỏi mồm từ mấy năm nay? Hay do ông cũng chỉ là một “tay ngang”, chẳng có chuyên môn nhưng “trên” điều động thì phải làm nên khó xoay xở gì, đành “mặc cho nước chảy bèo trôi”?
Khi được đại biểu Dương Trung Quốc hỏi thẳng [10] về việc không sử dụng những người ngoài Đảng, kể cả những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài có phải là lãng phí nguồn lực quốc gia, thì ông Bộ trưởng Nội vụ đã trả lời “hồn nhiên” như một nhân viên văn thư của Bộ, rằng “Bộ Nội vụ không trình văn bản nào có nội dung quy định tiêu chuẩn là đảng viên mới được bổ nhiệm chức vụ“. Ai chẳng hiểu rằng có bao giờ Bộ lại… dại đến như thế ! Nhưng lại rất dễ thấy rằng ông đã không thể nói ra được việc ông có làm, quyết làm được gì để phá bỏ cái thực tế đáng buồn như cái lệ bất thành văn trên khắp cả nước trong hàng chục năm nay về sử dụng cán bộ – đúng như những gì ông Quốc vừa nói. Chỉ qua điểm này cũng đã thấy rõ cái nét “mờ ảo” trong công tác tổ chức bao năm nay mà người ta vẫn cứ tiếp tục bám giữ trong một trận đồ rối rắm. Không thể không đặt dấu hỏi rằng phải chăng từ lâu đã có những kẻ lợi dụng “đục nước béo cò”, giả vờ giương cao khẩu hiệu “cảnh giác cách mạng” bằng “chủ nghĩa lý lịch”, cố tình níu giữ những quan niệm cũ kỹ trong công tác cán bộ có từ thời chiến tranh? Ở đây đơn giản là không có văn bản chỉ đạo, nhưng thực tế cứ thế diễn ra, và không có biện pháp gì phá bỏ nó, chưa bao giờ có hình thức kỷ luật nào cho những kẻ chủ tâm níu giữ bước tiến xã hội qua công tác cán bộ bằng những thủ thuật tinh vi. Vậy nên mới mất người tài, mới có những bộ máy yếu kém và đầy dẫy tham nhũng nhưng không đâu tự thừa nhận như hiện nay; trong khi ông Bộ trưởng chỉ nêu được những lời hứa và khẳng định chung chung như khẩu hiệu, là “những người có đạo đức, phẩm chất, những người có năng lực, những người có trình độ, nhiệt tình đóng góp xây dựng Tổ quốc phải được sử dụng và ở vị trí tương xứng“. Khi được hỏi về nạn “chạy chức chạy quyền”, ông Bộ trưởng lại như “thách đố” đại biểu là “nhờ đại biểu chỉ ra trường hợp cụ thể ai bỏ tiền ra chạy chức, chạy quyền để chúng tôi cùng với địa phương cùng xử lý” [11] . Phải chăng ông coi các vị đại biểu của dân này là những điều tra viên của cơ quan tố tụng, hay ông không biết rằng họ chẳng hề có kinh phí, bộ máy, quyền hạn như nghị sĩ, dân biểu các nước khác để có chút ít khả năng phát hiện … giúp ông, cũng như những Bộ trưởng khác, để các vị khó có thể trả lời chất vấn theo lối đó được mãi? Và sao ông không thể đưa ra được giải pháp cụ thể để chống lại hiện tượng chạy chức chạy quyền, trong khi thực tế thì đầy dẫy những quan chức từ cả cấp xã, huyện, cho tới Trung ương lâu nay không còn thèm sống theo lối “giả nghèo giả khổ” như ngày xưa nữa – là nhịn ăn nhịn mặc để che giấu mình lắm tiền nhiều của, nhưng năng lực lại yếu kém, để rồi tới khi phạm pháp phải vào tù mới rõ cái công tác cán bộ nó ra sao? Đó chính là minh chứng dễ thấy nhất cho tệ nạn này! Và điều phi lý nhất ở đây là người dân không thấy ai phải chịu trách nhiệm trước tình trạng này, trong khi khâu con người-tổ chức cán bộ chính là khâu quan trọng nhất, quyết định hiệu quả của một bộ máy nhà nước. Lẽ ra một khi nó yếu kém, tham nhũng là phải xem lại năng lực, phẩm chất người đứng đầu về tổ chức cán bộ, phải chịu trách nhiệm, từ kỷ luật cho tới bãi chức. Tiếc rằng điều này chưa bao giờ có ở Việt Nam thời nay, mới nên nông nỗi.
Đề án 112, cho tới lúc này thì Chính phủ nhận trách nhiệm là đã sai lầm… [12] . Rõ là một bước mạnh dạn, tránh lối nể nang rất nguy hại giữa “tiền nhiệm” với “kế nhiệm”. Thế nhưng nhận trách nhiệm thế nào, cụ thể là ai chịu, tới mức nào, có hình thức kỷ luật gì không… từ người đã “hạ cánh” cho tới những người đang tại vị hoặc đã “lên”? Sao người dân, những cán bộ cấp thấp lỡ làm hư hỏng, mất mát chút tài sản nhà nước thì có thể đi tù hoặc hết đường công danh mà vụ này tới hàng ngàn tỉ lại không ai chịu chút kỷ luật gì, chí ít là kỷ luật Đảng nếu như vị đó đã về hưu ? Đến ông Bộ trưởng Tài chính lên trả lời về trách nhiệm giải ngân bừa bãi của Bộ trong đề án này, cũng đổ tại… không thể kiểm soát nếu hai bên nhà đầu tư và các nhà thầu thông đồng với nhau [13] . Trả lời chất vấn đơn giản như vậy thật không còn gì đáng thất vọng hơn. Đảng, Nhà nước cứ hô hào “chống tham nhũng, lãng phí”, vậy mà cái sự tham nhũng, lãng phí sờ sờ ra đó, với hàng loạt quan chức tới cấp Vụ, cấp Bộ xộ khám, nhưng những vị đứng đầu các cơ quan của Chính phủ liên quan tới chi tiêu bừa bãi lại có thể phủi tay thật dễ dàng mà không hề bị ít nhất là một hình thức kỷ luật nào.
Cảm giác quý vị sẽ ra sao khi các “nghị sĩ” cùng (Phó Thủ Tướng kiêm) Bộ trưởng Giáo dục trao qua đổi lại chuyện cặp học sinh có nặng quá không, một hay hai, ba cân, chỉ sách vở không thôi hay còn gì mà nó nặng…? Ông Bộ trưởng còn sâu sát tới mức biết là còn có chai nước, riêng truyện tranh có em mang theo những cuốn tới nửa ký, thậm chí có em bố mẹ sắm cho cặp “xịn” nên nặng tới cân rưỡi (Trong dịp họp Quốc hội này, Bộ còn có hẳn một đoàn thanh tra mang theo cân để cân cặp học sinh. Sao họ không xuống các bản làng để cân thử và ông Bộ trưởng không dẫn chứng về những chiếc cặp – nếu như có – nặng trĩu những sắn, khoai, rau rừng trong đó nhỉ?). Xin nhắc lại rằng đó chính là một phần nội dung chất vấn và trả lời chất vấn của ông Bộ trưởng Giáo dục trước Quốc hội [14] chứ chớ nhầm là một cuộc họp Hội đồng Nhân dân xã.
Trong khi đó thì hàng loạt vấn đề hệ trọng rất cần thay đổi thì vẫn không được động tới hoặc có giải pháp căn bản, chỉ nhiều lời hô hào kiểu khẩu hiệu, như “thầy cô không giữ mình thì nên xin ra khỏi ngành [15] “, hay “chúng tôi kêu gọi, những ai không định nghiên cứu để có cái mới trong khoa học thì xin đừng làm tiến sĩ, đừng lãng phí thời gian” v.v.. Những vấn đề hệ trọng đó là: + căn nguyên nào sinh ra tình trạng gian dối, “bệnh thành tích”, “ngồi nhầm lớp” trong dạy/học (đâu phải chỉ và bắt nguồn từ ngành giáo dục mà nó có thể tự mình “tuyên chiến”, “nói không” được); + cải tổ bộ máy, hệ thống pháp lý để thực sự khuyến khích đầu tư trong/ngoài nước cho giáo dục; + trao quyền tự chủ cho giáo dục đại học; + minh bạch hóa chi tiêu và thay đổi phương thức phân bổ ngân sách giáo dục; + kể cả những điều phi lý nhưng đã kìm hãm thầy trò trong dạy và học mấy chục năm nay là nội dung, quy trình biên soạn và độc quyền xuất bản sách giáo khoa, những quy định cực kỳ máy móc, phi lý như buộc thầy cô phải “soạn giáo án” [16] cho mỗi tiết học, tăng học phí, vội tổ chức thi trắc nghiệm đại trà v.v.. cũng cần được xem xét nghiêm túc.
Liệu ta có thể cảm thông rằng Quốc hội khóa XII cùng Chính phủ mới còn “bỡ ngỡ” trong kỳ họp thứ hai của nhiệm kỳ, hay sẽ quá lo khi mà khóa XII này lại bị “ngắn” đi mất 1 năm so với những khóa trước, hay chúng ta sẽ thấy chán ngán buông xuôi với những kỳ chất vấn/trả lời ngày càng chung chung, mang tính “trình diễn” và đối phó này?
Về làm luật, mới chỉ nghe qua vài chi tiết của Dự thảo Luật Phòng, Chống bạo lực gia đình mà đã thấy nhiều điều khoản rất lạ. Ví như ông/bà chủ tịch xã mà lại phải có nhiệm vụ như tòa án, mõ tòa để thi hành cái “án” cách ly người bị bạo hành với thủ phạm [17] . Chẳng biết bàn thêm tới đâu nếu chịu khó tưởng tượng một chút những rắc rối có thể xảy ra, như ai sẽ là người giám sát và giám sát bằng cách nào việc này. Rồi việc đưa chuyện “cưỡng ép quan hệ tình dục vợ chồng” vào nhóm các hành vi bạo lực gia đình cũng đầy dẫy những phi lý. Phi lý trước hết và lớn nhất là sự quá yếu kém, không rõ vai trò và mất niềm tin nơi dân chúng ở hệ thống Tòa án liên quan tới đạo luật này, vậy ai sẽ xác định hành vi và phân xử những vụ việc, hay là lại … “ông chủ tịch xã”, rồi rất có thể sẽ cần có cả “ông bí thư” đứng sau chỉ đạo nữa, để khẳng định là họ có “bị cưỡng ép” không, đã được gọi là “quan hệ tình dục” chưa? Vậy mà vẫn chưa hết những điều luật chỉ mang tính chất tựa như những liều thuốc giảm đau cho con bệnh đang lên cơn co giật, đó là xây “Nhà Lánh nạn” cho những nạn nhân bạo hành gia đình. Dường như các vị đại biểu Quốc hội chưa có đủ thì giờ để tưởng tượng ra những hệ quả đi theo sẽ là gì, ví như sẽ cần có đội ngũ “vệ sĩ” cho hệ thống “nhà” này (nếu không thì chính “Nhà Lánh nạn” đó sẽ lại trở thành “Nhà lâm nạn”, nơi thuận lợi hơn đâu hết cho nạn bạo hành), rồi còn phải có người trông coi bảo quản nữa, cho khỏi biến hàng ngàn căn “Nhà Lánh nạn” thành những cái “điếm canh đê” để trâu bò vào nghỉ thuở nào. Khi có đại biểu nêu lên nhiều những biểu hiện đa dạng của “bạo lực tình dục” còn có cả buộc phá thai, đẻ con trai v.v.. rất khó phát hiện, có bằng chứng, thì càng rõ thêm thực trạng yếu kém của hệ thống tư pháp cùng những bộ luật “làm cho có” sẽ ảnh hưởng tới mức nào tính khả thi của một đạo luật. Trước hết nó sẽ lôi cuốn bộ máy hành pháp các cấp vào một “trận đồ” bất tận của họp hành, cãi vã vô bổ, ra các quyết định hành chính về những việc không phải của mình. Hiện tượng này, tức cơ quan quản lý nhà nước làm thay việc của tòa án, đang tràn ngập tất cả mọi giao dịch, tranh chấp dân sự, kinh tế. Nhìn sâu xa nữa của lối làm luật này chính là một lối “tiếp tay” cho hệ thống hành pháp vốn đã yếu kém, đầy tham nhũng được thêm quyền nắm “cán cân công lý” thay cho bộ máy tư pháp; từ đây, chính nó lại quay lại “trói tay” cơ quan lập pháp bằng những dự thảo luật “làm cho có” và lối thông qua luật rất hình thức của Quốc hội. Và cuối cùng, chính Quốc hội lại đang vướng vào cái gọi là “chủ nghĩa thành tích” mà một mình ngành giáo dục đang hô hào “tuyên chiến”. Chẳng thể còn viết nổi nếu như bàn tiếp nữa đến những gì xoay quanh Dự luật hoạt động Chữ thập Đỏ [18] , Dự luật quản lý Tài sản Nhà nước [19] , bởi những non kém, ấu trĩ, bất hợp lý cứ đầy dẫy trong đó mà vẫn không có một dự tính nào thay đổi, ví như quy trình làm luật – cần có “đặt hàng” các luật gia, công ty luật, văn phòng luật sư, chuyên gia trong, ngoài nước, các tổ chức hội (đặc biệt trong giới trí thức khoa học), các hiệp hội ngành nghề, và bớt “ôm đồm” cho các cơ quan Chính phủ; có nơi làm việc, kinh phí, bộ máy tham mưu, giúp việc, quyền được cung cấp thông tin cho từng vị đại biểu Quốc hội v.v.. và v.v…
Viết tới đây, tôi mới quyết định được cái tên cho bài báo này. Nhưng xin quý vị chớ vội nghĩ nó ám chỉ cái gì, ngoài điều đơn giản rằng trong cái mớ hỗn độn những lo lắng, những nghịch lý, nó không thể tập trung vào được một vấn đề nào, hay sắp xếp mọi sự cho có thứ tự lớp lang, dẫu đó cũng là một sự phản ảnh cái thực trạng khó tả của tình hình. Tuy nhiên, cái tên cũng có thể đã phơi bày những cảm giác rời rã khi nghĩ về một kỳ họp Quốc hội với trăm thứ lo, nhưng lại là mối lo của dân về Chính phủ và Quốc hội của mình sau một năm sục sôi “hội nhập”, giờ đang nguội đi nhanh với bộn bề nan giải trước mức độ tăng trưởng gắng cho được cao nhưng coi nhẹ những mặt trái của nó, ít am hiểu rồi thiếu những giải pháp đồng bộ, nên lãnh ngay hậu quả kém bền vững và tiềm ẩn rất nhiều rủi ro [20] . Còn nhìn về lâu dài và ở tầm cao hơn, thì đó không phải chỉ là những bài toán kinh tế, mà là ở những toan tính chiến lược cho việc xây dựng thể chế Nhà nước, từ khâu tổ chức con người (cho cả Quốc hội và Chính phủ), cho tới hệ thống kiểm soát quyền lực, làm luật và thực thi pháp luật.
Nguyễn Hữu Vinh
© 2007 talawas
[1]Xin đọc bài báo cách đây những 14 tháng, VietnamNet, ngày 15/10/2005, Những “ông Giời” nào xây cầu Văn Thánh 2 ?. Còn giờ đây, người ta đã quyết chi ra 140 tỉ tiền mồ hôi nước mắt của dân để sửa mà không ai trong giới chức phải chịu trách nhiệm cả. Thành phố ngập lụt, ùn tắc giao thông kinh hoàng … là từ những bê bối này, tức là từ sự vô trách nhiệm của chính quyền. Xin mở ngoặc: nếu bạn lên Google để tìm, sẽ có tới hơn 53 nghìn mục nói về nó. Thật không có gì để nói thêm. Liệu có cây cầu nào trên thế giới được cái “vinh dự” này ? (Tất nhiên vẫn có, đó là cầu Cần Thơ, tìm được tới 1 triệu hai trăm nghìn mục)
[2]Đại Đoàn kết, 9/11/2007, Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, tpHCM:Ai phá nát quy hoạch ?
[3]Đại Đoàn kết, ngày 20/11/2007, Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, tpHCN, Kỳ 1: Bán đất tái định cư của Dân.
[4](Mới đây, tiếp xúc với cử tri ngày 23/11/2007, chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã hứa sẽ trực tiếp phản ánh và đề nghị thủ tướng cho lập đoàn thanh tra đủ mạnh để thanh tra toàn diện dự án này (Đại Đoàn kết, ngày 26/11/2007,tr.2)
[5]VietnamNet, ngày 7/8/2007
[6]VNExpress, ngày 31/7/2006, Cầu Đồng Nai có thể sập bất cứ lúc nào
[7]VN Media, ngày 16/11/2007
[8]Lao động, ngày 26/11/2007, Giải pháp thiếu tính khả thi (xin bạn đọc bài này để thấy không chỉ nghành Giao thông, mà đã lây sang cả Giáo dục cũng rơi vào tình trạng lú lẫn tới mức nào trước tình trạng giao thông đô thị hiện nay).
[9]Pháp luật TPHCM, ngày 26/11/2007, Tăng phí xe đột ngột, dân sẽ sốc. (Dân không sốc đâu, mà sẽ tăng trò lách luật, và hối lộ. Cục này từng có nhiều “sáng kiến” nữa không thể kể hết)
[10]Lao động, ngày 20/11/2007
[11]VietnamNet, ngày 19/11/2007, Tuyển công chức giỏi:không phải việc riêng của Bộ Nội vụ
[12]VNExpress, ngày 20/11/2007, “Chính phủ buông lỏng quản lý, Ban điều hành 112 lạm quyền”
[13]Tiền phong Chủ nhật, ngày 18/11/2007, Đề án 112, Hai bên cố tình gian lận thì không biết được !
[14]Thanh niên, ngày 17/11/2007
[15]VNExpress, ngày 17/11/2007
[16]Pháp luật TPHCM, ngày 20/11/2007, “Tôn sư trọng đạo thời nay”, tại sao tôi không thể yêu nghề?
[17]VietnamNet, ngày 29/9/2006
[18]VietnamNet 10/11/2007, “Đừng hành chính hóa hoạt động chữ thập đỏ”. Dự luật này được soạn thảo bởi “chính chủ”, nên đầy dẫy những ý tứ muốn đem lại quyền “sinh sát” riêng cho mình, biến mình thành một cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động nhân đạo.
[19]Luật này chắc chắn sẽ lại góp phần nuôi dưỡng thêm tình trạng lãng phí, trục lợi trên hàng chục triệu mét vuông đất công mà các báo Tuổi Trẻ (ngày 21/11/2007), Thời báo Kinh tế Sài Gòn (số 46, ngày 22/11/2007) đang tiếp tục báo động.
[20]Tuổi Trẻ, ngày 21/11/2007, Tăng trưởng cao cuộc sống phải dễ chịu hơn, Vũ Thành Tự Anh, Lê Nguyên Minh.
Đăng trong Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: Lập pháp, Luật, Quốc hội | Leave a Comment »
168. VN định cấm khiêu vũ trong quán karaoke
Đăng bởi hoangtran204 on 19/05/2009
Bangkok Post
Việt Nam dự kiến cấm khiêu vũ trong quán karaoke
People arrive at a karaoke bar in Hanoi
Ngày 19-5-2009
Vào chiều tối và cả đêm nữa, tiếng hát đã bắt đầu nổi lên say sưa ở quán Karaoke Style, một câu lạc bộ sang trọng, nơi những con người có nhiều tham vọng tại thủ phủ thương mại của Việt Nam tới để xả hơi.
Tiếng nhạc bùng lên từ phía sau cửa kính của những căn phòng nhỏ nơi có những nhóm khách tới để hát và, khi điệu nhạc bắt đầu gây hiệu ứng, họ liền nhảy.
Và điều đó, theo chính quyền cộng sản nhận xét, chính là nan đề.
Họ muốn cấm nhảy trong các quán karaoke, theo những gì mà các bản tường trình cho biết, là một cố gắng nhằm hạn chế việc sử dụng chất ma túy.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công bố lệnh cấm được đề xuất trên trang web của mình vào tháng trước và đã mời đề nghị có những bình luận của công chúng về biện pháp này, một nỗ lực gần đây nhất nhằm thi hành những chính sách khẩn cấp trước tình trạng mất trật tự tại các tụ điểm ca hát có nhiều người lui tới.
Thế nhưng tại quán Style và những câu lạc bộ sáng rực ánh đèn neon khác trên đường Sư Vạn Hạnh, trung tâm của hoạt động giải trí karaoke trong cái thành phố mà trước đây được gọi là Sài Gòn, đề nghị này chỉ được bàn luận qua loa như là chuyện không thể nào thực hiện được.
“Tôi nghĩ là nó không khả thi vì những con người này tới quán karaoke với mong muốn được giải tỏa những căng thẳng của mình,” theo nhận xét của Đặng Duy Thanh, một người quản lý quán Style với mái tóc xịt keo dính bết lại.
“Nếu như chúng tôi bắt họ phải chịu cảnh hát mà không có cảm giác thoải mái, thì điều đó là phi lý”.
Ông Lê Anh Tuyến, vụ trưởng vụ pháp chế của bộ văn hóa, theo tin tức cho hay, thì nhìn nhận những điều này theo cách khác.
Ông Tuyến, người mà từ năm năm trước đã cảnh báo là karoake có liên hệ với những nạn đĩ điếm, đã được trang web VietnamNet trích dẫn lời vào tháng trước khi ông nói rằng thứ ma túy ecstasy sẽ được sử dụng trong các phòng hát karaoke nếu như việc nhảy nhót không bị cấm.
“Chất ecstasy thường đi cùng với rượu và âm nhạc,” ông nói. “Theo quan điểm của tôi, thì karaoke là một hoạt động văn hóa là thứ thường ngấm ngầm đi cùng với những điều sai trái trong xã hội.”
Ông Tuyến đã không trả lời trước những đề nghị có một cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Pháp AFP.
Ecstasy đã trở nên phổ biến trên khắp thế giới tại các cuộc tiệc tùng nhảy nhót “điên loạn”.
Ông Tuyến cho trang VietnamNet biết là chính phủ đã có những số liệu thống kê về việc sử dụng ecstasy tại các quán karaoke, thế nhưng bài báo đó đã không đưa ra số liệu nào.
“Tôi tin chắc những con số trên thực tế về các trường hợp này còn cao hơn cả những số liệu mà chúng tôi có. Những tệ nạn sẽ không được ngăn ngừa nếu như không cấm nhảy nhót [trong quán karaoke],” ông tuyên bố, theo như trích dẫn. “Ở nước ta, karaoke thường đi liền với ecstasy và nạn đĩ điếm.”
Những nhân viên của quán karaoke trên đường Sư Vạn Hạnh nói là ecstasy có thể được tìm thấy trong vài quán – nhưng không có trong quán của họ.
“Không phải quán karaoke nào cũng cho phép sử dụng ecstasy,” theo lời anh Thanh, người có câu lạc bộ nhắm vào các khách hàng từ bậc trung cho tới cao cấp hơn và tính giá phòng cao khoảng gấp đôi so với các quán gần đó như quán Karaoke K-T.
“Đây là loại mà chúng tôi gọi là “karaoke gia đình,” theo lời anh Phạm Ngọc Khánh, 40 tuổi, một nhân viên của quán K-T.
Anh cho biết hoạt động kinh doanh đã diễn ra trong vài năm nay, có một lượng khách quen bao gồm công chức, sinh viên và công nhân.
“Nó không phải là loại karaoke với những gì mà chúng tôi gọi là “tệ nạn xã hội.”
Các câu lạc bộ ở những khu vực khác của thành phố có thể thiên về những trò đồi bại hơn, anh nhận xét.
“Không có lý khi cấm chúng tôi nhảy trong các câu lạc bộ karaoke,” theo một khách hàng của quán K-T, người đã tới đây với một chiếc túi đựng máy tính xách tay đeo trên vai. “Có thể họ nên cấm các quán khiêu vũ là nơi có những nạn đĩ điếm. Nếu họ chỉ đưa ra một lệnh cấm chung chung về việc nhảy nhót trong các quán karaoke, thì phi lý.”
Người khách này đã từ chối cho biết tên họ của anh.
Khanh, nhân viên quán K-T, nói là karaoke là một loại hình giải trí phổ biến và một lệnh cấm nhảy sẽ là một “chuyện khá là lạ” đối với những vị khách muốn được thư giãn.
Karaoke đã được đưa vào Việt Nam vào những năm đầu 1990. Các quán karaoke giờ đây được bắt gặp khắp trong một đất nước có quan niệm xã hội còn bảo thủ, thậm chí có ở cả những bản làng miền núi xa xôi.
“Không thể” cấm nhảy được, đó là nhận xét của anh Đặng Đức Hân, vận chiếc áo sơ mi, khi đang đứng khoanh tay bên ngoài câu lạc bộ Karaoke 64 mà anh quản lý.
Nếu như người ta cảm thấy thích thú thì họ sẽ nhảy, anh Hân nói trong khi các khách hàng đang kéo tới trên những chiếc xe máy, và một đứa bé cưỡi một chiếc xe đạp xướt nhẹ vào cẳng chân của anh.
Năm 2006 Việt Nam đã cấm sử dụng rượu trong các quán karaoke – thế nhưng trên thực tế việc uống bia rượu ở đây vẫn tiếp tục – trong khi một năm trước đó họ đã phải dừng việc cấp phép mở các quán rượu, phòng hát karaoke và các vũ trường.
Bản dự thảo quy định trước đó thậm chí còn đề nghị đóng cửa các quán karaoke, sau khi ông Tuyến nói là nhiều quán được dùng như là những nhà thổ.
Trong cuộc phỏng vấn của mình với trang VietnamNet, ông Tuyến thừa nhận là các nhân viên thanh tra không thể kiểm tra các câu lạc bộ karaoke thường xuyên được và cho là “bản thân người dân phải tuân thủ pháp luật.”
Anh Khanh, ở quán Karaoke K-T, nhận xét là các quan chức nhà nước đã mất đi những mối liên hệ với thực tế cuộc sống.
“Một lúc nào đó, họ đã và đang ngồi ở một vị trí cao,” anh nói. “Họ không có đầu óc thực tế.”
Ngô Thị Bảo Ngọc, 28 tuổi, một nhân viên của quán Style mang bộ tất đen dài, cho là trong khi số lượng các quán karaoke đang tăng nhanh, các nhà chức trách sẽ rất khó khăn để kiểm soát chúng.
“Họ sẽ gặp lúng túng và họ không biết phải đối phó như thế nào,” cô nói.
Những chủ doanh nghiệp nghiêm túc sẽ không muốn có thứ ecstasy trong cơ sở của mình vì nó sẽ hủy hoại danh tiếng của họ trong khi không mang lại lợi ích gì, và việc cấm nhảy nhót đó sẽ không có tác dụng, cô Ngọc nhận định.
“Nhảy nhót là có thể hiểu và thông cảm được. Nên không có lý do gì mà lại cấm nó,” cô kết luận.
Hiệu đính: Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
Đăng trong Gia đình/Xã hội, Pháp luật | 1 Comment »
162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH
Đăng bởi anhbahoa on 15/05/2009
TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH:
GIA TÀI CỦA 60 NĂM LUẬT HỌC VIỆT NAM
PGS TS. Phạm Duy Nghĩa *
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Duy Nghĩa tốt nghiệp Đại học Leipzig (Đức) và bảo vệ luận án TS luật năm 1991 tại đây.Hơn 10 năm học tập và giảng dạy tại các nước Mỹ, Nhật (vnthuquan.net)
Tóm tắt/Từ khoá: Di sản dân luật Pháp, điều kiện du nhập pháp luật thành công, thất bại của cuộc du nhập dân luật Pháp, du nhập pháp chế xã hội chủ nghĩa, những cuộc chuyển đổi hướng tới luật pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường, pháp luật và tự do phát triển, tự quản địa phương
Từ năm Ất Dậu 1945 đến năm Ất Dậu 2005, 60 năm đã trôi qua. Tan rồi hợp, một giới luật học mới nhen nhúm tái hình thành từ gần ba thập kỷ nay. Chúng ta đã học được gì của tiền nhân và sẽ để lại gì cho hậu thế; gia tài của 60 năm cải cách có đủ chắp cánh cho những thế hệ tương lai xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật. Đó là những câu hỏi lớn, chắc sẽ còn day dứt người đương thời và con cháu mai sau. Bài viết dưới đây góp vài thiển ý nhằm nhìn nhận lại những cột mốc thịnh suy đáng nhớ của 60 năm ngành luật Việt Nam và những rắc rối trong đổi thay của ngành khoa học này thời nay.
1. Hoài niệm về một thoáng dân luật thực dân
Trong cuộc ganh tài kinh doanh thời nay, người ta thường bảo “khác biệt hay là chết”. Ấy vậy mà giữ lại sự khác biệt ngày càng trở nên rất khó khăn. Khi người Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên hành tinh này, pháp luật của họ ngày càng bành trướng, kể cả về Phương Đông. Tư duy pháp lý kiểu Mỹ ẩn chứa dưới những đồng tiền tài trợ, dưới những điều khoản vay, những hiệp định tự do thương mại song và đa phương, chúng đổ bộ vào những xứ sở đang rất ngỡ ngàng với nền kinh tế thị trường. Người Việt Nam buộc phải vay mượn luật lệ thời mở cửa, như ông cha chúng ta từng phải chấp nhận du nhập nền dân luật thực dân. 80 năm trôi qua như một cơn mưa bụi, nền dân luật thực dân tan rã, mà dường như chẳng để lại một di sản đáng kể nào trong nền quan chế và tâm thức người dân nước ta.
Nay muốn vay mượn thành công pháp luật Phương Tây, xin đừng cố quên đi những thất bại của tiền nhân trong cuộc du nhập nền dân luật kiểu Pháp. Luật pháp chỉ sống khi được dung dưỡng trên mảnh đất văn hóa dân tộc; chính cái văn hóa đó làm cho pháp luật của người Việt Nam khác biệt với pháp luật của thế giới bên ngoài. Nếu giới quan lại có liêm sỉ, giới doanh nhân có dũng khí và giới trí thức có khí tiết đã là nền tảng giúp Minh Trị canh tân nước Nhật, thì một nền văn hóa đóng kín thù địch với tự do cá nhân và chủ nghĩa trọng thương, một xã hội nông dân dễ thỏa mãn, một nền quan chế bảo thủ và một giới trí thức giáo điều đã ngăn cản nước Đại Nam hiểu được những gì đang diễn ra ở Châu Âu trong thời kỳ khai sáng. Nho giáo suy tàn, sau bóng dáng của Minh Mạng, nước Việt Nam rơi vào vòng xoáy của những cuộc khủng hoảng niềm tin vào giới cầm đầu xã hội. Một thể trạng văn hóa như vậy chưa thể sẵn sàng cho việc du nhập những tư tưởng tự do-nền móng của nền dân luật theo kiểu Pháp chưa hề tồn tại trong xã hội Việt Nam thời cận đại.
Thêm nữa, miệng truyền giáo nước lã mà bụng uống đầy rượu vang, thực dân đã mang vào Việt Nam những bộ luật dân sự và thương sự, những hệ thống tòa án chủ yếu để bảo vệ thương nhân và lợi ích của nước Pháp, chứ không hề khuếch trương nền kĩ nghệ của xứ thuộc địa. Một nhóm doanh nhân bản xứ, vừa ngoi ngóp vươn lên trong sự ganh đua chật vật với thương nhân người Hoa và nền cai trị keo kiệt của người Pháp, đã không có nhiều cơ hội để làm quen với hội người, hội vốn và công ty nặc danh, với tự do khế ước và nền tài phán đặc thù cho doanh nhân.
Những người soạn dân luật và thương luật thời nay hầu như không hề tham chiếu Luật dân sự và thương sự giản yếu Nam Kỳ 1883, Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931, Bộ luật dân sự Trung Kỳ 1926-1929, Luật thương mại 1942 của Bảo Đại và Luật thương mại 1972 của Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tuyệt đối không tiếp nối và kế thừa những di sản dân luật thời thuộc Pháp. Điều này có nhiều nguyên do, một phần bởi người ta cho rằng nền dân luật thực dân được nhập vào như những vật trang trí xa lạ mà không có ảnh hưởng đáng kể đối với xã hội nông dân Việt Nam. Trên thực tế, 50 năm sau khi cưỡng chiếm Đại Nam, thực dân mới lập trường dạy luật, và cho đến năm Ất Dậu 1945 cũng mới chỉ có khoảng 260 người Nam có bằng cử nhân luật.
2. Cuộc thử nghiệm nhà nước toàn trị
Người thời nay không có thói quen tham chiếu dân luật và thương luật thời thực dân còn bởi một nguyên nhân sâu xa hơn, điều đã ngày càng lộ rõ dần trong những năm 50 của thế kỉ trước. Vội đoạn tuyệt với chủ nghĩa trọng thương và nền tư bản dân tộc đang nhen nhúm hình thành, người ta chuyển hướng rõ rệt sang một mô hình kinh tế chỉ huy. Một nhà nước toàn trị đã xuất hiện, thâu tóm và tổng quản toàn bộ tài nguyên quốc gia, định kế hoạch và giá mua bán từ hạt thóc tới bánh xà phòng. Kinh tế tư hữu mất dần ảnh hưởng ở miền Bắc vào những năm 1960 và trên toàn quốc vào năm 1980. Đất đai biến thành sở hữu toàn dân; qua hợp tác xã hoặc công ty hợp doanh mà tư bản tư nhân cũng chuyển thành quốc hữu.
Khái niệm một ngành luật kinh tế theo mô hình Xô Viết, khác biệt với dân luật và thương luật thực dân, đã ra đời trong điều kiện đó. Người ta làm luật để dùng công cụ đó quản lí mọi công chuyện kinh doanh của toàn xã hội, trong đó vốn và mọi nguồn tài nguyên đã được tập trung trong tay nhà nước. Sở hữu tư nhân dần trở nên xa lạ trong ngôn ngữ tiếng Việt, các hình thức công ty với những tờ cổ phiếu được trang trí cầu kỳ như những tác phẩm nghệ thuật lùi dần vào dĩ vãng và tự do khế ước cũng trở thành câu chuyện ngày xưa. Thay vào đó, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, các đơn vị xí nghiệp quốc doanh hoạt động dưới chỉ tiêu pháp lệnh có nghĩa vụ kí kết và thực hiện hợp đồng dưới sự giám sát của các thiết chế trọng tài kinh tế nhà nước đã xuất hiện. Hàng trăm học trò của Laptev hồi hương, mang theo những mơ ước về pháp chế xã hội chủ nghĩa và một nền kinh tế được điều tiết bởi kế hoạch và sự thi đua lành mạnh.
Gần 3 thập kỷ du nhập, thi hành và liên tục tăng cường hoàn thiện, mô hình nhà nước toàn trị đã không giúp cho người dân Việt Nam xóa được đói, giảm được nghèo. Khoán sản phẩm trong nông nghiệp, vượt rào trong xí nghiệp quốc doanh và mở cửa với thế giới bên ngoài đã góp phần tạm thời đẩy lùi nhà nước toàn trị đó, tạo cho dân doanh những cơ hội kiến quốc mới. Từ toàn trị, 12.000 doanh nghiệp quốc hữu đã được tái cơ cấu thành 4.500 doanh nghiệp và chúng hiện chỉ chiếm 42% tổng sản phẩm quốc nội. Thêm vào đó, 5.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 200.000 doanh nghiệp dân doanh với hàng triệu hộ kinh doanh đơn lẻ đã từng bước được làm quen với tự do kinh doanh mà thi thố tài năng trong cuộc ganh đua kinh tế.
Cuộc thử nghiệm nhà nước toàn trị đã thất bại, song những di chứng của nó không dễ dàng mà tiêu biến được. Trong lối tư duy và hành xử của hàng triệu quan chức, tư duy nhà nước quản lí toàn diện vẫn chưa bị đẩy lùi. Đôi khi người ta vẫn cho rằng làm luật là để tăng cường quản lí nhà nước đối với xã hội (chữ nhà nước thường được viết hoa), chứ chưa thông cảm với cả thế giới rằng người ta thường làm luật để hạn chế quyền lực nhà nước và bảo vệ dân quyền, trong đó quan trọng bậc nhất là bảo vệ quyền tự do sở hữu, tự do định đoạt và tự do khế ước.
Trong một bối cảnh như vậy, cái gọi là một học thuyết về ngành luật kinh tế độc lập không hề còn sức thuyết phục. Người ta vùng vẫy để tìm kiếm những lí thuyết mới về luật kinh doanh, luật thương mại hoặc giải tán tất cả những thứ giáo điều đó mà quay về với truyền thống dân luật. Tuy nhiên, tìm kiếm câu chữ là âm nhạc thính phòng dành riêng của người hàn lâm. Trong thực tiễn, pháp luật kinh tế đã chuyển nhanh theo những xu hướng xác lập những nền tảng cho một nền kinh tế thị trường, trong đó nhấn mạnh tới pháp luật về sở hữu, pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh, pháp luật về tự do khế ước, những thiết chế giải quyết xung đột về lợi ích của người kinh doanh trong cuộc cạnh tranh. Trên cái xác đang phân rã của ngành luật kinh tế độc lập ngày nào, đang mọc lên mầm non đầu tiên của những nhóm luật tư truyền thống về vật quyền, nghĩa vụ, lập hội, thể chế tài phán cũng như những lĩnh vực pháp luật hiện đại như luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.
3. Rắc rối trên con đường hướng tới thời đại dân doanh
Thị trường như một con quỷ trong truyện cổ tích, khi đã thoát ra khỏi cổ chai, nó bỗng trở nên hung dữ và rất khó bảo. “Bình ổn” và “quản lí thị trường” có lẽ chỉ là ảo tưởng, bởi thị trường là một thứ quyền lực chẳng thua kém gì quyền lực nhà nước. Quả thật nền kinh tế thị trường đã làm thức giấc nước Việt Nam tĩnh lặng, nhiều lí thuyết bấy lâu nay tưởng như đúng đều có thể bị thách thức bởi thời đại mới. Thị trường đang kéo, và thật quý hóa, nếu nhà nước cũng góp phần đẩy xã hội Việt Nam tiến lên. “Thị trường kéo, nhà nước đẩy, xã hội dân sự canh chừng” có lẽ nên trở thành triết lí phát triển thời nay. Tuy nhiên, trong ngổn ngang các vấn đề cần có lời giải đáp, hai rắc rối dưới đây có lẽ cần được bàn tới nếu muốn biến triết lí này trở thành hiện thực.
Thứ nhất, để nhà nước trở thành một cánh tay nâng đỡ vỗ về dân doanh, rắc rối đầu tiên là phải thay đổi cách nghĩ về “quản lí nhà nước” đối với doanh nghiệp. Dường như mơ ước quản lí 4.500 doanh nghiệp quốc hữu đã rất khó đối với nhà nước ta, nay cứ 10 phút trong giờ hành chính lại xuất hiện một doanh nghiệp dân doanh mới ở những đô thị lớn, nhà nước liệu có thể còn toàn trị trong một viễn cảnh hàng triệu doanh nghiệp dân doanh ganh đua tìm sự thịnh vượng? Câu trả lời phải là tăng cường niềm tin vào thị trường, vào sự điều tiết của chính thị trường; nhà nước không thể làm thay công việc của hàng triệu người tiêu dùng thông thái, phản ứng của họ mới là kỉ luật lạnh lùng nhất ép doanh nhân tuân thủ quy luật của cuộc đời.
Thứ hai, rắc rối cũng đã xuất hiện trong cuộc cạnh tranh giữa các địa phương trong chính sách kinh tế. Nay cũng dưới gầm trời này, Bình Dương trở thành những nơi thôi thúc đầu tư trên những vùng sình lầy hoang hoá còn Nam Định đắm mình với những ký ức Thành Nam mà đội sổ trong danh sách xếp hạng các khu vực thân thiện với kinh doanh. Năm 2006, cùng với 33 tỉnh thành bị nhắc nhở, Nghệ An lại “tăng thu ngân sách mà bỏ qua Luật Ngân sách”. Người ta dùng ngân sách của tỉnh thưởng lại 10-15% số thuế thực nộp cho các doanh nghiệp; người ta cũng cho phép doanh nghiệp đã nhập khẩu hoặc kiểm hoá tại các tỉnh khác về nộp thuế tại kho bạc tỉnh Nghệ An. Hãy khoan bàn tới chuyện đúng sai của hai chuyện đó, chỉ riêng từ việc ngửa tay xin trung ương từng đồng ngân sách nay tự tin với hàng nghìn tỷ đồng tổng thu, những quan chức đầu tỉnh Ngệ An đã có khả năng lo cho phúc lợi của dân. Làm công bộc như thế, dù bị thuyên chuyển hay bãi chức, có thể cũng để lại một tiếng thơm trong lòng dân.
Không phải “công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, mà cần thay đổi tận gốc rễ những cách nghĩ cũ mới có thể sản sinh ra năng lượng cách tân quốc gia. Chừng nào còn toàn trị, nhà nước vẫn giành lấy quyền lo toan, định đoạt cho 64 tỉnh thành với hàng vạn làng xã và 86 triệu đồng bào. Khi ấy sáng tạo của địa phương và cá nhân bị kìm hãm, xã hội không có cạnh tranh, người người không dám chịu rủi ro mà ganh đua tìm thịnh vượng.
Ba triệu quan chức của nền quan chế Việt Nam không thể chỉ là những cỗ máy tuân thủ sự điều hành, chỉ dẫn từ bên trên; họ phải trở thành những thủ lĩnh sáng tạo trong việc khuếch trương tinh thần kinh doanh của quốc dân. Muốn làm được điều đó, một cuộc phân chia và canh chừng quyền lực giữa trung ương và địa phương, giữa thủ trưởng và nhân viên thừa hành tất yếu phải diễn ra. Đó là triết lí phân quyền của cải cách hành chính. Bên cạnh đó, cần làm cho người dân có khả năng tiệm cận mọi nguồn tài nguyên và sở hữu tư nhân của họ được đảm bảo một cách hiệu quả – đó là triết lí phi tập trung hoá sở hữu toàn dân của cải cách kinh tế thời nay.
Không chỉ là 64 anh em cùng cha mẹ trung ương, các tỉnh thành đã và đang cạnh tranh quyết liệt giành lấy từng đồng vốn đầu tư, giành lấy từng đồng thu ngân sách. Việc Nghệ An thưởng thuế cho doanh nghiệp có vi phạm pháp luật quốc gia và tổn hại cho các tỉnh láng giềng hay không, không thể chỉ tuỳ thuộc vào sự phán xét một chiều của Bộ tài chính. Một xã hội có sự ganh đua giữa các tỉnh và địa phương đã đến lúc cần tới những thiết chế điều hoà lợi ích và tranh chấp giữa các tỉnh với nhau và giữa các tỉnh với nhà nước trung ương.
Lời giải cho những thiết chế này là triết lí tự quản địa phương. Không nên được bổ nhiệm từ trung ương, chính quyền địa phương trước hết phải do dân chúng địa phương bầu ra, họ phải chịu trách nhiệm trước cử tri của họ. Ngoài những chính sách thuộc thẩm quyền toàn quốc gia (bảo hiến, quốc phòng, đối ngoại), Hiến pháp nên trao cho chính quyền địa phương quyền tự định đoạt rộng rãi trong các lĩnh vực khuếch trương kinh doanh, trị an, an sinh, giáo dục, bảo vệ môi sinh. Khi soạn thảo các đạo luật thuế quốc gia, địa phương phải được đàm phán để chia phần cùng với trung ương. Ngoài những phần chia chung đó, các tỉnh có thể tự định liệu thuế và lệ phí riêng.
Nơi điều phối và trọng tài giữa các địa phương là toà bảo hiến, thượng viện và hội đồng các quan đầu tỉnh với quy chế phân phối phiếu bầu khác với hạ viện – một thiết chế chỉ dựa trên các hạt bầu cử với những số lượng cử tri nhất định. Quốc hội nước ta, dù là đơn nhất, cũng đã đến lúc phải cách tân vì sự hài hoà hoá lợi ích đa dạng của cử tri, lợi ích các tỉnh, vùng và miền trong toàn quốc. Đoàn đại biểu quốc hội các tỉnh, suy cho cùng chỉ là 64 câu lạc bộ níu kéo nghị viên với lợi ích các tỉnh nơi họ đã trúng cử. Trong hệ thống quyền lực của chúng ta chưa xuất hiện những thiết chế công khai nhằm đàm phán, điều phối và canh chừng sự phân chia quyền lực giữa các tỉnh thành với nhau cũng như chia quyền giữa họ với chính quyền trung ương.
Khi mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi làng xã và tỉnh thành giàu mạnh thì quốc gia giàu mạnh. Vậy hãy nên dũng cảm rũ bỏ tư duy nhà nước toàn trị, mà quay trở lại một nhà nước tin vào thị trường, tin vào sự phân quyền mạnh mẽ cho các địa phương, biết hối thúc và chế ngự ganh đua giữa các tỉnh. Khi ấy các tỉnh thành sẽ cùng đẩy và chính quyền trung ương vừa phải cầm cương, vừa phải uốn mình theo sức cuốn của 64 con ngựa phi nước đại. Cỗ xe có thể rung lên do sức ép cải cách, song chắc chắn nó sẽ di chuyển nhanh hơn về phía trước.
——–
* Ghi chú của Ba Sàm: PGS-TS Phạm Duy Nghĩa từng có nhiều bài báo về các vấn đề chính trị, xã hội, luật học v.v.. đăng trên các báo, tạp chí: Tia Sáng, Tuổi Trẻ … Mời đọc một số bài của ông trên vnthuquan.net, và blog: http://phamduynghia.blogspot.com/
Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;Và các bài tham luận trong Hội thảo (tuồng như chỉ) được đăng trên Ba Sàm:
92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ 93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP 149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75 150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75) 156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN
Đăng trong Hội thảo VN học-3, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 2 phản hồi »






















