BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Quan hệ Mỹ-Trung’ Category

594. Hillary Clinton thay đổi chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 30/07/2010

Forbes

Hillary Clinton thay đổi chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc


Ngoại trưởng quay 180 độ đối với Bắc Kinh

Gordon G. Chang

28-07-2010

Hôm thứ Sáu, Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton tuyên bố rằng giải pháp hòa bình trong việc cạnh tranh đòi chủ quyền trên Biển Đông là sự “quan tâm quốc gia” của Hoa Kỳ. “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình hợp tác ngoại giao của tất cả các nước tranh chấp trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế”, bà nói tại Hà Nội trong một cuộc họp an ninh khu vực tại Diễn đàn khu vực Asean. “Chúng tôi phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Bắc Kinh đã phản ứng ngay. Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì mô tả ý kiến của bà Clinton là “một cuộc tấn công vào Trung Quốc”, và trong một ý nghĩa nào đó, ông ấy đúng. Trung Quốc đã tuyên bố một cách chính thức rằng tất cả vùng biển là của riêng của họ. Làm như thế, Bắc Kinh nói rằng họ có chủ quyền đối với thềm lục địa của Việt Nam, Brunei, Malaysia, Indonesia, Đài Loan và Việt Nam. Hầu hết các tuyên bố của Trung Quốc là vô căn cứ, và một số [tuyên bố] là lố bịch. Đó có lẽ là lý do tại sao Trung Quốc đã phải sử dụng đến bạo lực để giật lấy các hòn đảo và đảo nhỏ từ những nước đòi chủ quyền khác. Trung Quốc chiếm giữ phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam vào năm 1974 và Đá Vành Khăn từ Philippines vào năm 1995.

Bắc Kinh đã chọn cách tiếp cận mềm mỏng hơn bằng cách ký vào một quy tắc ứng xử đa quốc gia năm 2002. Các nỗ lực gần đây của Trung Quốc được xem như thành công trong việc giành quyền kiểm soát bằng cách ngăn cản các nước đòi chủ quyền khác tập họp thành một nhóm với nhau. Một cách thâm độc, Trung Quốc duy trì chính sách chỉ tham gia đàm phán song phương để có thể sử dụng sức mạnh của họ nhằm đạt được lợi thế tối đa.

Tuy nhiên, dù sao Trung Quốc đã gặp phải sự phản kháng từ các quốc gia trong khu vực – đặc biệt là Việt Nam – cho nên họ đã thay đổi chiến thuật trong thời gian gần đây. Khi ông Jeffrey Bader, viên chức hàng đầu châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia [Hoa Kỳ], và ông James Steinberg, Phó Ngoại trưởng, đã đến Bắc Kinh hồi tháng 3, các viên chức Trung Quốc lần đầu tiên nói [với hai viên chức Hoa Kỳ] rằng Biển Đông là một trong những “lợi ích cốt lõi” của đất nước họ và rằng họ sẽ không cho phép sự can thiệp của người Mỹ ở đó.

Bắc Kinh cố gắng tô vẽ các lời nói của bà Clinton là chính Hoa Kỳ xen vào khu vực này, nhưng điều đó không thể đi xa hơn nữa từ sự thật. Cho đến nay, Washington hầu như mù tịt về những nỗ lực của Trung Quốc để biến Biển Đông thành “cái hồ của Trung Quốc”. Hoa Kỳ đã bỏ qua sự chiếm đoạt lãnh thổ của Bắc Kinh và thậm chí đã làm rất ít để bảo vệ ExxonMobil khi năm 2008, Trung Quốc đã hăm doạ công ty này tham gia một hợp đồng thăm dò dầu khí ở Biển Đông với công ty năng lượng của chính phủ Việt Nam, PetroVietnam. Ở khu vực lân cận, hầu như Hoa Kỳ đã không làm gì để ngăn chặn hải quân Trung Quốc quấy rối tàu chiến Nhật Bản, như họ đã làm gần đây nhất hồi tháng 4, và ngăn chặn tàu ngầm Trung Quốc thường xuyên vi phạm vùng biển Nhật Bản, mà họ đã và đang làm trong thập kỷ này.

Tóm lại, Mỹ có vẻ như đã thừa nhận nhu cầu của Trung Quốc kiểm soát ở Biển Đông. Bắc Kinh đã quá liều lĩnh trong những tháng gần đây, tuy nhiên các quốc gia trong khu vực đang tìm cách chống lại Trung Quốc. Mặc dù tất cả các nước cùng nhau tìm kiếm sự an toàn, vả lại không nước nào muốn làm Bắc Kinh bực mình bằng cách dẫn đầu ở phía trước.

Trong một cuộc họp giữa các thành viên Asean và ông Dương Khiết Trì trước khi bà Clinton đến Hà Nội, chỉ có Philippines sẵn sàng nêu lên vấn đề Biển Đông. Có tin đồn rằng bà Clinton sẽ có lập trường cứng rắn, tuy nhiên, 11 người (tức đại diện cho 11 nước) tham gia đã ra tuyên bố về vấn đề này. Không có gì lạ khi Trung Quốc cảm thấy họ đã bị phục kích tại thủ đô Việt Nam. Liệu đó có là một cái bẫy hay không, bà Clinton, trong giờ phút đẹp nhất của mình với tư cách Ngoại trưởng, đã lãnh đạo ở Đông Nam Á.

Và ở Bắc Á cũng vậy. Học thuyết Clinton – Có quá sớm để gọi như thế chăng? – Cũng sẽ trấn an Nhật Bản và Nam Hàn, hai đồng minh quân sự chính thức của Hoa Kỳ, rằng Washington ở châu Á và sẽ ở lại.

Cho đến nay, cả hai quốc gia đang lưỡng lự khi có vẻ như Tổng thống Obama sẽ đi theo cách tồi tệ nhất về các chính sách “cam kết” của người tiền nhiệm của ông. Đặc biệt nguy hiểm là tại hội nghị thượng đỉnh ở Bắc Kinh hồi tháng 11, dường như ông đã xác nhận – với Trung Quốc cũng như những nước khác – rằng Trung Quốc giờ đây mạnh hơn Hoa Kỳ. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà giới chức Trung Quốc thể hiện sự kiêu ngạo mới chỉ vài tuần sau hội nghị thượng đỉnh, ăn mừng bắt đầu với hội nghị biến đổi khí hậu Copenhagen hồi đầu tháng 12.

Cho đến nay, Mỹ đã miễn cưỡng đối đầu với Trung Quốc như thể họ chờ đợi Bắc Kinh đảm nhận vai trò kiến thiết như một cường quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc diễn giải niềm hy vọng và sự kiên nhẫn của Washington như bằng chứng về sự yếu kém của Mỹ. Nhưng chỉ trong vài câu ngắn gọn hôm thứ Sáu, bà Clinton đã thay đổi nhận thức đó, cả trong lẫn ngoài Trung Quốc.

Tuyên bố về Biển Đông của bà được gọi là “một bước ngoặt” và một “điểm mấu chốt”. Đó là, và nó có thể kết thúc vào thời điểm bà chuyển hướng không chỉ chính sách Trung Quốc của Mỹ mà còn chính sách của Trung Quốc đối với các quốc gia trong khu vực.

Sự tiến lên phía trước mà không bị trở ngại của Bắc Kinh để thống trị toàn cầu vừa gặp phải sự kháng cự. Cuối cùng thì họ cũng đã kháng cự (*).

G. Gordon Chang là tác giả quyển sách The Coming Collapse of China. Ông phụ trách mục bình luận hàng tuần cho tạp chí Forbes.

———

(*) And it’s about time: nghĩa là, they finally did. They should do this before but they didn’t; and they do it now. Tức là: cuối cùng thì họ đã làm. Đáng lẽ họ nên thực hiện điều đó trước đây nhưng họ đã không làm và bây giờ thì họ thực hiện.

Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.forbes.com/2010/07/28/china-beijing-asia-hillary-clinton-opinions-columnists-gordon-g-chang.html?boxes=Homepagechannels

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | 6 phản hồi »

593. Hoa Kỳ dũng cảm đương đầu với sự bắt nạt của Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 29/07/2010

THE WALL STREEET JOURNAL

Hoa Kỳ dũng cảm đương đầu

với sự bắt nạt của Trung Quốc

Ngoại trưởng Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Gates thông báo cho Bắc Kinh rằng chúng tôi sẽ chống lại bất kỳ chủ nghĩa bành trướng nào trong khu vực.

Daniel Blumenthal

27-07-2010

Vào tuần trước, Bà Hillary Clinton đã khuấy động một phản ứng om sòm khi nói rằng một giải pháp hòa bình cho việc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa] là “lợi ích quốc gia” của Mỹ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên án lời bình luận đó là sự can thiệp tùy tiện của Mỹ và cố gắng để “quốc tế hóa” một vấn đề nghiêm trọng trong khu vực. Bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh, sự khéo léo của bà Clinton đánh dấu một bước tiến triển tích cực của chính phủ Obama về phương pháp tiếp cận châu Á.

Vấn đề đang tranh cãi là Bắc Kinh đòi phần lớn lãnh thổ trên Biển Đông. Trung Quốc hành động như người ta đoán trước về một cường quốc đang lên: khi phát triển mạnh hơn, họ mong muốn thay đổi các quy tắc quốc tế đã được viết ra lúc họ còn yếu.

Tuy nhiên, các chuyên gia chính sách đối ngoại đã dành nhiều thời gian để bảo đảm với người châu Á và người Mỹ rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ là một ngoại lệ, ít hỗn loạn hơn sự trỗi dậy của Hoa Kỳ, Đức hay Nhật Bản. Quan điểm đó cổ vũ cho chính sách “bảo đảm chiến lược” ác liệt của Tổng thống Obama trong năm đầu nhiệm kỳ của ông, trong đó Washington bảo đảm với Bắc Kinh rằng Mỹ sẽ không tranh giành tình trạng trỗi dậy trở thành cường quốc của Trung Quốc. Trung Quốc ngửi mùi yếu kém [của Mỹ] và đứng dậy đánh cược, tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và xác định nó là lãnh hải của Trung Quốc.

Bây giờ là ý kiến của bà Clinton và hành động của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates để khôi phục lại các mối quan hệ quân sự với Indonesia trong chuyến đi châu Á hồi tuần trước, cho thấy rõ rằng đội ngũ Obama hiểu sự trỗi dậy của Trung Quốc không phải là ngoại lệ trong lịch sử. Thương hiệu mới của họ về chủ nghĩa hiện thực nguyên tắc đặc trưng do các biện pháp nhằm cân bằng quyền lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc và đẩy mạnh tham gia với các đồng minh và đối tác, [tham gia] tất cả nhưng không bỏ mặc các giá trị của Mỹ.

Cụ thể trên Biển Đông, Hoa Kỳ muốn tự do đi lại, tự do đi vào các vùng biển chung, và tôn trọng luật pháp quốc tế. Tuần trước tại Hà Nội, bà Clinton đề nghị để giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua phương tiện đa phương thay vì song phương. Trong khi đó, bà thể hiện trong cuộc họp với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), là Mỹ sẽ nắm lấy các đối tác, những nước cùng chia sẻ mục đích trong việc kiểm tra sức mạnh của Trung Quốc, nhưng cũng sẽ không tránh xa khi bị chỉ trích vi phạm nhân quyền. Ví dụ, bà Clinton đã nói rõ rằng Hoa Kỳ sẽ chỉ trích sự tàn bạo của chế độ Miến Điện, mặc dù một số nước thành viên Asean ngần ngại trong việc chỉ trích.

Có hai lý do tại sao một giải pháp đa phương cho vấn đề Biển Đông làm Bắc Kinh khó chịu. Lý do thứ nhất, việc sách nhiễu định kỳ các tàu hải quân Mỹ và mở rộng việc đòi chủ quyền hàng hải chứng minh rằng Trung Quốc không tôn trọng các tiêu chuẩn ứng xử trên biển đã được chấp nhận rộng rãi. Trung Quốc giữ quan điểm toàn bộ Biển Ðông là lãnh hải của họ, là tin mới đối với Philippines, Malaysia, Việt Nam và Đài Loan, những nước đều đòi chủ quyền lãnh thổ ở đó. Trung Quốc cũng đang cố gắng để ngăn chặn các hoạt động quân sự hợp pháp của Hoa Kỳ trên biển.

Thứ hai, Trung Quốc cố giữ cho tranh chấp với các nước Đông Nam Á song phương. [Bởi vì sẽ] dễ dàng hơn để bắt nạt và phớt lờ những nước đòi chủ quyền khác đối với các đảo san hô vòng, đường hàng hải và các nguồn tài nguyên thiên nhiên với từng nước một. Chỉ riêng hai lý do trên, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan không thể đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả. Các nước nói trên cùng với nhau, cộng thêm sự hậu thuẫn của Mỹ, thì họ có thể.

Đó là lý do tại sao bà Clinton được chào đón, điều đáng lẽ đã xảy ra từ lâu. Nhiệm vụ của Hoa Kỳ là bảo vệ các nguyên tắc ứng xử đã được thiết lập và mong Trung Quốc tuân theo. Hơn nữa, Washington đang chấm dứt chiến lược chia để trị của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Bắc Kinh có khả năng thực hiện đòi chủ quyền lãnh thổ không hợp lý và bành trướng, và họ đã bắt đầu làm điều đó ở bên ngoài và bên trong Biển Hoa Đông. Không có chỗ cho sự mơ hồ khi nói đến lợi ích của Mỹ trong việc tự do đi lại trên vùng biển quốc tế.

Trong khi đó, sự nối kết của bà Clinton về an ninh Đông Nam Á với các giá trị tự do rất là chính đáng. Các nước Đông Nam Á muốn Trung Quốc tuân theo các quy tắc quốc tế và minh bạch hơn về các hoạt động trên biển. Điều đó sẽ chỉ xảy ra nếu Trung Quốc trở thành một xã hội tôn trọng pháp luật và cởi mở hơn. Và Mỹ không thể kêu gọi Trung Quốc cư xử có trách nhiệm trong khi cho phép Miến Điện tàn bạo hoặc để cho Việt Nam lạm dụng [quyền lực] mà không nói tới.

Không có điều nào nói rằng bà Clinton đã thật sự giải quyết vấn đề. Trung Quốc sẽ gây áp lực rất lớn lên các nước Asean để tôn trọng việc đòi chủ quyền của Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ lập luận rằng trong khi Trung Quốc thường trực ở châu Á, sự chú ý của Mỹ chỉ là nhất thời. Đây là một luận cứ thuyết phục, nhưng là điều có thể bị bác bỏ.

Trình tự đầu tiên là đặt quân đội Mỹ đằng sau các nỗ lực ngoại giao. Lầu Năm Góc nên đưa ra một kế hoạch cân bằng tương xứng với việc gia tăng sự hiện diện quân sự của Trung Quốc trong khu vực. Mọi người đều biết quân đội Mỹ suy yếu ở Thái Bình Dương. Đã đến lúc nói thật và tìm kiếm được hỗ trợ từ Quốc hội và công chúng Mỹ về phí tổn và sự cần thiết trong việc bảo đảm sự ổn định ở châu Á.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên tiếp cận khu vực một cách đa phương bằng cách lập một sứ quán quan hệ đối tác khu vực châu Á ở một thủ đô liên minh giống như chúng ta có ở Brussels với Liên minh châu Âu. Washington nên yêu cầu bạn bè của mình để mình làm như vậy và lập các tổ chức ngoại giao mới với cán bộ ngoại giao và sĩ quan quân đội để đối phó với các vấn đề an ninh châu Á rộng lớn. Mỹ không cần phải thành lập tập hợp chính thức các đồng minh quốc phòng giống như liên minh NATO, nhưng đã đến lúc xây dựng mạng lưới các đồng minh hợp tác chặt chẽ ở châu Á.

Bà Clinton cho thấy sự giao thiệp ngoại giao khéo léo và sáng tạo trong chuyến thăm Việt Nam. Washington nên tiếp tục cái đà này bằng các bước thể hiện sự cam kết tôn trọng của mình đối với an ninh khu vực. Phản ứng hiếu chiến của Trung Quốc đối với chính sách “bảo đảm chiến lược” dạy cho chính phủ [Mỹ] rằng Bắc Kinh tôn trọng quyền lực trên hết. Thay vì trấn an một Trung Quốc hiếu chiến, chúng ta nên trấn an những người bạn châu Á của chúng ta bằng cách xây dựng các thể chế cần thiết để thực hiện các chính sách mới của bà Ngoại trưởng.


Ông Blumenthal đã làm việc trong Cơ quan An ninh Quốc tế của Bộ Quốc phòng từ năm 2002-2004, là thành viên thường trực tại American Enterprise Institute, Washington, DC.

Ngọc Thu dịch
Nguồn: http://online.wsj.com/article/SB10001424052748703700904575391862120429050.html

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: , , , , , , , , , | 22 phản hồi »

591. TQ cảnh báo HK nên đứng ngoài chuyện tranh chấp các đảo

Đăng bởi anhbasam on 27/07/2010

Hầu bà con hình ảnh vui (Daily Mail): Ban Tuyên Giáo và Báo

—-

New York Times

Trung Quốc cảnh báo Hoa Kỳ

nên đứng ngoài chuyện tranh chấp các đảo

Andrew Jacobs

26-07-2010

BẮC KINH – Chính phủ Trung Quốc đã phản ứng giận dữ hôm thứ hai về lời tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton, rằng Washington đột kích vào chuyện tranh chấp lãnh thổ âm ỉ từ lâu giữa Trung Quốc và các nước láng giềng nhỏ hơn ở Biển Đông.

Phát biểu hôm thứ Sáu tại diễn đàn các nước Đông Nam Á ở Việt Nam, bà Clinton rõ ràng đã làm Bắc Kinh kinh ngạc bằng cách nói rằng Hoa Kỳ có sự “quan tâm quốc gia” trong việc tìm kiếm hòa giải các tranh chấp, trong đó gồm khoảng 200 hòn đảo, đảo nhỏ và đảo san hô nổi trên mặt nước, mà Trung Quốc, Việt Nam, Brunei, Malaysia, Đài Loan, Indonesia và Philippines đòi chủ quyền.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì đã cảnh báo Hoa Kỳ, chống lại việc công kích vào trận chiến, nói rằng sẽ gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Hậu quả sẽ là gì nếu vấn đề này chuyển sang đa phương hay quốc tế hoá”? Ông hỏi trong bài bình luận đăng trên trang Web của Bộ Ngoại giao. “Nó chỉ làm cho vấn đề tồi tệ hơn và việc giải quyết vấn đề khó khăn hơn”.

Các phương tiện truyền thông nhà nước không được khôn khéo, mô tả bài phát biểu của bà Clinton là “một cuộc tấn công” và một nỗ lực đáng ngờ để đàn áp nguyện vọng của Trung Quốc – và mở rộng sức mạnh.

“Hy vọng của tôi là phát triển các khả năng quân sự của Trung Quốc”, Nhân dân Nhật báo, tờ báo của Đảng Cộng sản đã chạy một bài xã luận hôm thứ Hai.

Tờ Global Times, tờ báo lá cải tiếng Anh, thuộc tờ Nhân dân Nhật báo cho biết: “Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ quyền của mình để bảo vệ lợi ích cốt lõi qua phương tiện quân sự”.

Tuyên bố của bà Clinton vào thời điểm căng thẳng gia tăng giữa Washington và Bắc Kinh về một số khác biệt kinh tế và ngoại giao. Ngày Chủ Nhật, Hoa Kỳ và Nam Hàn đã bắt đầu bốn ngày tập trận hải quân ngoài khơi bán đảo Triều Tiên, liên quan đến 200 máy bay, 20 tàu và một tàu sân bay. Mặc dù các cuộc tập trận có ý nghĩa như một thông điệp tới Bắc Hàn – như Nam Hàn đã quy lỗi cho ngư lôi tấn công vào tàu chiến hồi tháng 3, đã giết chết 46 thủy thủ – Trung Quốc chào đón các cuộc diễn tập bằng một số báo động.

Cho đến khi bà Clinton đưa ra lời bình luận, tranh chấp về các quần đảo trên Biển Đông vẫn là sự quan tâm chủ yếu trong khu vực. Diện tích tranh chấp trải dài 1,2 triệu dặm vuông, là một kênh ngày càng quan trọng đối với 1/3 thương mại hàng hải trên thế giới và hầu hết nguồn cung năng lượng trong khu vực, cũng như các mỏ dầu lửa và khí tự nhiên khổng lồ được cho là dưới đáy đại dương.

Năm 1988, quân đội Trung Quốc và Việt Nam đã đánh nhau trên một quần đảo, quần đảo Hoàng Sa (*), lấy đi mạng sống của hàng chục thủy thủ Việt Nam. Năm nay, Trung Quốc công bố kế hoạch phát triển du lịch trên quần đảo Hoàng Sa. Trong những tháng gần đây, họ đã cảnh báo các công ty dầu nước ngoài, chống lại các thỏa thuận khai thác đáng chú ý với Việt Nam.

Ông Xu Liping, chuyên gia về Đông Nam Á tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc ở Bắc Kinh, nói rằng Hoa Kỳ từ lâu xao lãng do các cuộc xung đột ở Iraq và Afghanistan, đang tìm cách khôi phục ảnh hưởng trong khu vực.

Hoa Kỳ cảm thấy đây là lúc để chơi quân bài chính trị và quân sự do rất khó khăn để họ cạnh tranh với Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế”, ông nói thêm rằng nếu Washington có thể đóng một vai trò lớn hơn ở Biển Đông, “sẽ giúp tiếp tục gây ảnh hưởng các nước Nam Á”.

Các viên chức Mỹ đã phản ứng với mối quan ngại ngày càng tăng về tham vọng của hải quân Trung Quốc, một chiến lược mới mà các Đô đốc Trung Quốc đã mô tả như là “phòng thủ ngoài khơi”.  Ngoài việc từ chối nhân nhượng bất kỳ chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông, Trung Quốc đã công bố kế hoạch triển khai các tàu sân bay, và tăng cường đội tàu ngầm hạt nhân có khả năng bắn tên lửa đạn đạo.

Trong tháng 3, Trung Quốc đã cảnh báo hai viên chức Mỹ đang viếng thăm rằng họ sẽ không tha thứ [cho bất kỳ sự] can thiệp nào vào Biển Đông, khu vực mà nó mô tả như là “lợi ích cốt lõi” của họ, như Tây Tạng và Đài Loan.

[Các nước] láng giềng của Trung Quốc đã phản ứng bằng cách củng cố lực lượng hải quân của riêng họ. Trong những năm gần đây, Việt Nam, Singapore và Malaysia đã mua tàu ngầm. Hôm Chủ Nhật, lần đầu tiên Nhật Bản công bố kế hoạch tăng hạm đội tàu ngầm trong hơn ba thập kỷ.

Tuyên bố của bà Clinton hôm thứ Sáu về cơ bản đã là một cái gật đầu cho Việt Nam, nước đã và đang tìm kiếm sự hỗ trợ cho các cuộc đàm phán đa phương như là một bức tường thành chống lại lập trường Trung Quốc về các vấn đề chủ quyền. Trung Quốc đã nhấn mạnh rằng xung đột nên được giải quyết thông qua những cuộc đàm phán tay đôi. “Sự đồng thuận là các tranh chấp này được giải quyết một cách hòa bình thông qua các cuộc thảo luận thân thiện, vì lợi ích hòa bình và ổn định trên Biển Đông và quan hệ láng giềng tốt”, ông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cho biết trong một tuyên bố của ông.

Ian Storey, thành viên của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, nói rằng Washington gia tăng sự quan tâm trên Biển Đông chắc chắn làm nổi lên căng thẳng giữa hai nước. Các cuộc đối đầu như vậy đã kết thúc cuộc chạm trán ít thân thiện hơn giữa tàu Mỹ và Trung Quốc.

Đây rõ ràng là một bất ngờ khó chịu cho Trung Quốc”, ông Storey nói về tuyên bố của bà Clinton.


Bibo và Zhang Li Jing đóng góp phần nghiên cứu cho bài viết.

————–

(*) Không phải quần đảo Hoàng Sa mà là Trường Sa.

Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.nytimes.com/2010/07/27/world/asia/27china.html?_r=2

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: , | 40 phản hồi »

590. HK phục kích ở sân sau TQ như thế nào, điều gì sẽ xảy ra?

Đăng bởi anhbasam on 26/07/2010

South China Morning Post

Hoa Kỳ phục kích ở sân sau Trung Quốc

như thế nào và điều gì sẽ xảy ra?

Greg Torode


25-07-2010

Washington cầm đầu việc phục kích Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa] ở diễn đàn an ninh hàng đầu trong khu vực hôm thứ Sáu đánh dấu một bước ngoặt thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ và phơi bày những thiếu sót chiến lược sâu sắc ở châu Á.

Ngay cả khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tấn công một cách khéo léo vào vấn đề  Biển Đông tại Hà Nội, Hoa Kỳ và các tàu hải quân Nam Hàn chuẩn bị cho giai đoạn tập trận với quy mô lớn ở biển Nhật Bản, hay Biển [Hoa?] Đông, gần phía Đông Bắc Trung Quốc – tăng thêm căng thẳng cho bức tranh toàn cảnh.

Những gì đã xảy ra ở Hà Nội là đặc biệt quan trọng. Khi bà Clinton tuyên bố rằng giải quyết việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông hiện nay là “lợi ích quốc gia” và là “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, bà không chỉ phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ về khả năng thống trị hàng hải Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy Washington đã nắm vững một cơ hội lịch sử.

Hàng tháng qua, một điệp khúc ngày càng tăng mối quan ngại ở Đông Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã đượ cất lên tại Washington, cũng giống như chính quyền non trẻ của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra những phương cách để trở lại tham gia vào khu vực bị bỏ quên. Hoảng sợ về điều được lặp đi lặp lại rằng, Hoa Kỳ là cường quốc suy yếu, các viên chức Mỹ đã nói chuyện riêng về việc cần xác nhận lại ưu tiên chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á.

Sự khẳng định ồn ào ngày càng gia tăng của Trung Quốc về lịch sử của nó, và bây giờ là về luật pháp, đòi hầu như toàn bộ vùng biển này – ví dụ qua việc giam giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, việc quấy rối các tàu của Hoa Kỳ và các lực lượng hải quân và những đe dọa thực hiện việc kết thúc các thỏa thuận khai thác với Hà Nội đối với các công ty dầu hỏa quốc tế khổng lồ  – đã cung cấp cơ hội đó.

Hành động của Hoa Kỳ không chỉ làm hài lòng những nước đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nước là đối thủ của Trung Quốc như: Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, mà còn làm yên tâm các nước lớn hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng cách gửi thông điệp ảm đạm tới Trung Quốc.

Trong gần 15 năm qua, Washington đã kiên định quan điểm đứng bên lề các căng thẳng trên Biển Đông, trên tuyến đường thuỷ chiến lược và giàu khoáng sản nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Đại diện ngoại giao của họ thỉnh thoảng quan tâm về sự cần thiết cho một cách giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ, nhưng không đứng về bên nào trong việc tranh chấp.

Những lời bình luận của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Chúng đã đưa Hoa Kỳ đứng đầu trong vấn đề chủ quyền của Trung Quốc, thứ mà gần đâyTrung Quốc đã nói là “lợi ích cốt lõi”, quy tắc ngoại giao đặt ngang với Đài Loan và Tây Tạng về sự nhạy cảm.

Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Tiến sĩ Robert Gates đã nói tại một diễn đàn an ninh ở Singapore rằng, Washington phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ tham gia hợp các đồng hợp pháp trong khu vực.

Bà Clinton bình luận chính thức ở Diễn đàn Khu vực Asean, trong các cuộc họp song phương và trong các tuyên bố công khai. Trong khi đó, các viên chức của bà thông báo ngắn gọn với nhóm báo chí đi cùng với phái đoàn Washington để họ không bỏ qua điểm chính.

Trong khi bà bị mắc kẹt vào kịch bản cũ về việc không đứng về bên nào, bà đã nói rõ ràng là Washington muốn thúc đẩy các cuộc thảo luận và các giải pháp trong khu vực – một thách thức trực tiếp tới Bắc Kinh, đã cố gắng, kín đáo nhưng mạnh mẽ, để chặn đứng Asean thảo luận vấn đề này và các viên chức ngoại giao đã nhấn mạnh nó phải được xử lý song phương – nói cách khác, từng nước tranh chấp xếp hàng để giải quyết riêng với Trung Quốc.

Bà Clinton nói: “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Những lời nói của bà là một thắng lợi ngoại giao quan trọng cho Việt Nam, một món quà từ Washington khi hai nước đánh dấu 15 năm kể từ khi chính thức khôi phục các quan hệ ngoại giao sau cuộc chiến Việt Nam và gần 20 năm bị cấm vận kinh tế.

Trong nhiều tháng, Việt Nam đã tìm cách khai thác vai trò Chủ tịch Hiệp hội mười nước Đông Nam Á để giữ cho vấn đề Biển Đông nóng bỏng. Các nước tranh chấp vùng biển giàu có đã tuyệt vọng trong việc nhằm đạt được tiến bộ về một ràng buộc pháp lý của quy tắc ứng xử – một cam kết trong tuyên bố năm 2002 đã ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông kêu gọi tự kềm chế. Tuyên bố ban đầu này được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng nó ngày càng hiện ra như một tờ giấy lộn trong việc chống đối các hành động của Trung Quốc.

Bà Clinton nhiều lần nhắc đến các nguyên tắc của tuyên bố đó, như  điệu nhạc vang lên bên tai [làm vui lòng] các quan chức Việt Nam.

Chỉ một năm trước, Trung Quốc đã được nhiều người xem như là đang chia rẽ Asean, với mỗi thành viên có quan hệ riêng với Bắc Kinh trước khi ASEAN thống nhất. Có rất ít động lực về vấn đề [Biển Đông] trong các cuộc họp chính thức. Và trong bối cảnh, áp lực Trung Quốc là không đổi, theo một số nhà ngoại giao Asean. Ngay cả Campuchia, chế độ đã từng là liên minh chặt chẽ với Hà Nội, đang bác bỏ các nỗ lực của Việt Nam, nhân danh Bắc Kinh.

Sự thận trọng đó vẫn còn nhìn thấy vài giờ trước khi bà Clinton đến. Vào một ngày trước khi Diễn đàn Khu vực ASEAN tổ chức, các ngoại trưởng của khối đã có cuộc họp chính thức hàng năm với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì. Chỉ có Philippines nêu ra vấn đề Biển Đông. Sự dè dặt như thế phản ánh cách truyền thống của Asean. Các cuộc họp và các tuyên bố chính thức nói chung là nhạt nhẽo nhất.

Ngay cả Việt Nam hiếm khi đổ lỗi cho Trung Quốc trước công chúng, khuynh hướng duy trì vẻ bề ngoài của tình anh em. Hôm qua, tràn ngập một chiến thắng hiếm hoi, báo chí nhà nước bao giờ cũng thận trọng đã bị hạn chế đưa ra những lời lẽ tán dương chính thức về các cuộc họp.

Một quan sát viên ngoại giao cho biết: “Đó là điều đáng chú ý. Không ai muốn dẫn đầu. Tất cả mọi người đều chờ đợi để cùng nhau được an toàn”.

Sự xuất hiện của bà Clinton hôm thứ Năm đã đem đến cảm giác an toàn đó, khi lời lẽ truyền đi thái độ cứng rắn mới của bà.

Vào lúc diễn đàn bắt đầu hôm thứ Sáu, 11 thành viên khác đã sẵn sàng với các báo cáo, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước có phần được hoặc mất nhiều nhất – cũng như Indonesia, EU, Úc và Nhật Bản. Tiếp theo là từng nước thay phiên đọc các báo cáo.

Trong khi ông Dương bày tỏ sự bực tức sau đó, những gì xảy ra không có gì bất ngờ đối với Bắc Kinh. Trong hơn một năm, quân sự, diễn tập chính trị và ngoại giao đã cho thấy các mối quan ngại ngày càng tăng trong khu vực.

Các viên chức quân sự Việt Nam đã kín đáo bay ra tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông và đã được mời lên trên chiếc tàu ngầm của Hoa Kỳ ở Hawaii. Và Việt Nam đã cho phép các tàu chiến Hoa Kỳ sửa chữa tại cảng địa phương.

Hà Nội cũng đã thực hiện một thỏa thuận với Moscow, đồng minh chiến tranh lạnh trước đây để mua sáu tàu ngầm hiện đại loại Kilo.

Trong khi đó, Lầu Năm Góc và các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày càng nói thẳng lời điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết để khẳng định quyền hàng hải trong vùng biển quốc tế bất chấp sự quan tâm của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc tuyên bố nhiều [phần] Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ và các quốc gia khác nhấn mạnh rằng nó vẫn thuộc vùng biển quốc tế và vì thế các hoạt động quân sự thường xuyên, gồm cả giám sát, đều được phép.

Những căng thẳng này đã hiện ra khi ở Singapore, ông Gates nói với các cử tọa gồm các sĩ quan cao cấp của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Một viên chức PLA đã nổi giận sau đó khi tuyên bố: “Chúng tôi không xem nó như là một ‘cái hồ của Trung Quốc’, chúng tôi cho phép [các tàu thuyền] vô sự đi qua. Nhưng tôi xin lỗi, sự giám sát của Hoa Kỳ không phải là vô hại. Sự quan tâm của Trung Quốc không phải được đánh giá thấp”.

Việc có hay không chuyện Washington đánh giá thấp các mối quan ngại kia vẫn được nhìn thấy rõ. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ xem những sự kiện ở Hà Nội như là một sự khiêu khích đáng kể. Cũng có một cảm giác ngày càng tăng trong khu vực, rằng biển là quan trọng đối với tham vọng của Trung Quốc cho việc hải quân trên “đại dương” có thể hoạt động xa bờ, vì chỉ có nó cung cấp lối vào vùng nước sâu đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Điều rõ ràng là Hoa Kỳ hiện đang chuẩn bị để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong khu vực – một sự thay đổi chính sách mà sẽ không dễ dàng quay ngược trở lại. Và với Trung Quốc, tuần trăng mật với bất kỳ nước Asean nào thì đã đi qua.

Đối với tất cả những rủi ro, Washington nhận biết cơ hội.


Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.viet-studies.info/kinhte/how_the_us_ambushed_china.htm

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: , , , , , , , | 32 phản hồi »

589. Bài phát biểu của bà Hillary Clinton tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Việt Nam

Đăng bởi anhbasam on 24/07/2010

U.S. DEPARTMENT of STATE

Bài phát biểu của bà Hillary Clinton tại

Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Việt Nam

Hillary Rodham Clinton, Ngoại trưởng

Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Việt hNam

Ngày 23-07-2010


Ngoại trưởng Clinton : Chào tất cả mọi người . Hôm nay tôi hoàn tất chuyến đi thứ năm của tôi đến châu Á kể từ khi trở thành ngoại trưởng. Hôm qua, tôi đến Việt Nam và tôi được vinh dự có mặt ở đây để kỷ niệm 15 năm ngày bình thường hóa quan hệ ngoại giao của chúng ta. Ngày hôm trước, tôi đã ở Seoul, chuyến thăm thứ ba của tôi đến Nam Hàn với tư cách ngoại trưởng. Bộ trưởng Gates và tôi đã gửi thông điệp mạnh mẽ rằng 60 năm sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, liên minh Mỹ – Nam Hàn mạnh mẽ, giúp bảo đảm hòa bình, an ninh và tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Và bây giờ tôi vừa hoàn thành hai ngày thảo luận chuyên sâu với các đồng sự ASEAN của tôi và với các đối tác khác, những người đã đến đây theo đuổi nỗ lực chung: tăng cường an ninh, thịnh vượng, và [tìm kiếm] cơ hội trên khắp châu Á.

Hôm qua, tôi tham dự cuộc họp hàng năm cấp bộ trưởng Hoa Kỳ – ASEAN, nơi chúng ta đã thảo luận sự tham gia sâu rộng của đất nước tôi ở Đông Nam Á và các cơ hội chúng ta nhìn về phía trước trên nhiều mặt trận – từ đầu tư thương mại mở rộng, cho tới hợp tác nhiều hơn đối với hòa bình và an ninh, kết hợp các nỗ lực để đương đầu với những thử thách xuyên quốc gia, như biến đổi khí hậu, nạn buôn người, phổ biến vũ khí hạt nhân, và nhiều vấn đề khác.

Và hôm nay tôi đã tham dự cuộc họp hàng năm diễn đàn khu vực ASEAN lớn hơn để tiếp tục và mở rộng các cuộc thảo luận của chúng ta. Như tôi đã nói khi tôi tham dự diễn đàn này mùa Hè năm ngoái ở Thái Lan, chính phủ Obama cam kết sự tham gia rộng, sâu, và bền bỉ ở châu Á . Và như tôi đã thảo luận trong bài phát biểu tại Hawaii hồi mùa Thu năm ngoái, chúng tôi tập trung vào việc giúp tăng cường cấu trúc thể chế ở Châu Á Thái Bình Dương .

Trong 18 tháng qua chúng tôi đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, thông báo ý định của chúng tôi để mở một toà đại sứ và chỉ định một đại sứ ASEAN tại Jakarta, và đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ – ASEAN đầu tiên. Và chúng tôi đã theo đuổi những nỗ lực tiểu khu vực (sub-regional) mới như quan hệ đối tác mới ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Dựa vào sự tiến triển đó, tôi chuyển đến các đồng sự của tôi sự quan tâm của chúng tôi trong việc tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) vì nó đóng vai trò ngày càng tăng các thách thức trong thời đại chúng ta. Và tôi đã thông báo rằng Tổng thống Obama đã yêu cầu tôi đại diện cho Hoa Kỳ trong một khả năng thích hợp tại EAS năm nay ở Hà Nội để tiếp tục quá trình tham vấn với quan điểm về sự tham gia của người Mỹ hoàn toàn ở cấp tổng thống vào năm 2011. Thông qua các cuộc tham khảo, chúng tôi sẽ làm việc với các thành viên EAS để khuyến khích phát triển thành một nền tảng an ninh và thể chế chính trị cho châu Á trong thế kỷ này. Tổng thống cũng hướng tới việc chủ trì cuộc họp thứ hai của lãnh đạo Hoa Kỳ – ASEAN tại Hoa Kỳ vào mùa Thu tới.

Hôm nay chúng tôi thảo luận một số thách thức cấp bách trong đó có Bắc Hàn và Miến Điện. Tôi khuyến khích các đối tác và đồng minh tiếp tục thi hành đầy đủ và minh bạch Nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 1874, và gây sức ép với Bắc Hàn thi hành nghĩa vụ quốc tế. Tôi cũng kêu gọi Miến Điện đưa ra các điều kiện cần thiết cho cuộc bầu cử đáng tin cậy, gồm cả việc phóng thích tất cả các tù nhân chính trị, đặc biệt là bà Aung San Suu Kyi, tôn trọng các quyền cơ bản của con người, và ngừng các cuộc tấn công chống lại các dân tộc thiểu số của họ. Và như tôi đã nói trong các cuộc họp ngày hôm nay, rất quan trọng để Miến Điện lắng nghe từ các nước láng giềng về sự cần thiết phải tuân theo các cam kết của mình, theo hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân, để thực hiện các nghĩa vụ an toàn của IAEA và tuân theo Nghị quyết 1874 và 1718.

Chúng tôi cũng thảo luận một số chủ đề quan trọng khác như: biến đổi khí hậu, thương mại và hội nhập kinh tế, dân chủ và nhân quyền. Và tôi nắm lấy cơ hội cùng với một số đồng sự ASEAN và các đồng sự Diễn đàn Khu vực ASEAN để bắt đầu lập trường của chính phủ tôi về vấn đề quan tâm đến an ninh và thịnh vượng trong khu vực Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa].

Tôi muốn nói ngắn gọn quan điểm của chúng tôi về vấn đề này. Hoa Kỳ, như mọi quốc gia, có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích không chỉ với các thành viên ASEAN hoặc những người tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN, mà còn với các quốc gia gần biển khác và cộng đồng quốc tế rộng hơn.

Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào. Trong khi Hoa Kỳ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ về các vùng đất, đảo, đá…(land features) trên Biển Đông, chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp nên theo đuổi việc tranh chấp lãnh thổ của mình và các quyền đối với không gian biển theo quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển. Phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, việc đòi chủ quyền chính đáng đối với không gian biển trên Biển Đông nên chỉ bắt nguồn từ việc đòi chủ quyền hợp pháp với các đảo, đất, đá…trên biển (*).

Hoa Kỳ ủng hộ Tuyên bố Ứng xử của các bên trên Biển Đông của ASEAN – Trung Quốc năm 2002. Chúng tôi khuyến khích các bên đạt được sự thoả thuận quy tắc ứng xử hoàn toàn. Hoa Kỳ chuẩn bị tạo điều kiện cho các sáng kiến và các biện pháp xây dựng lòng tin phù hợp với tuyên bố. Bởi vì tất cả các bên tranh chấp và cộng đồng quốc tế rộng hơn đều quan tâm về việc thương mại không bị ngăn cản để tiến hành trong điều kiện hợp pháp. Tôn trọng lợi ích của cộng đồng quốc tế và những nỗ lực có trách nhiệm để giải quyết những khiếu nại chưa được giải quyết và giúp tạo ra các điều kiện để giải quyết các tranh chấp và giảm căng thẳng trong khu vực. Để tôi nói thêm một điểm về Công ước [Liên Hiệp Quốc] về Luật biển. Nó được sự ủng hộ mạnh mẽ từ hai đảng tại Hoa Kỳ và là một trong những ưu tiên ngoại giao của chúng tôi trong năm kế tiếp là bảo đảm việc phê chuẩn ở Thượng viện.

Vì vậy, đây là một chương trình nghị sự rất đầy đủ với các cuộc thảo luận các vấn đề quan trọng thẳng thắn và hiệu quả. Chủ đề trong năm nay của Bộ là: chuyển suy nghĩ sang hành động. Và tôi nghĩ đó là bản tóm tắt hoàn hảo về những gì chúng tôi đang cố gắng để làm thông qua các thể chế này. Chúng ta có cùng suy nghĩ và các mục tiêu đầy tham vọng. Nhưng như mọi khi, thước đo sự thành công chính xác nhất của chúng tôi sẽ là, chúng ta chuyển từ suy nghĩ sang hành động tốt như thế nào bằng sự tiến triển vững chắc về các mục tiêu của chúng ta cho một tương lai tốt hơn. Và do đó, đã đến lúc chúng ta hành động và cho tôi nhận một số câu hỏi của quý vị.

(Phần kế tiếp là các phóng viên đặt câu hỏi cho bà Hillary Clinton)

Ngọc Thu dịch
Nguồn: http://www.state.gov/secretary/rm/2010/07/145095.htm

——–

(*) Phần này có lẽ bà Hillary Clinton ám chỉ Trung Quốc, việc đòi hơn 80% diện tích Biển Đông là không chính đáng (legitimate).

Tặng quà cưới cho cô Chelsea:

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , , , , , , , | 44 phản hồi »

588. Bà Clinton tuyên bố Hoa Kỳ quan tâm đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Đăng bởi anhbasam on 24/07/2010

AP

Bà Clinton tuyên bố

Hoa Kỳ quan tâm đến việc

giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

23-07-2010


HÀ NỘI , Việt Nam (AP ) – Chính phủ Obama hôm thứ Sáu tấn công vào việc tranh chấp lãnh thổ gai góc trên các hòn đảo ở Biển Đông, tuyên bố quyết định của họ là “lợi ích quốc gia” của Hoa Kỳ, trong một hành động có thể chọc tức Trung Quốc.

Tại một diễn đàn an ninh khu vực ở Việt Nam, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Rodham Clinton cho biết, Washington đã lo ngại các tuyên bố mâu thuẫn trên các chuỗi đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gây trở ngại cho thương mại hàng hải, cản trở việc đi lại trên vùng biển quốc tế trong khu vực, phá hoại luật biển của Liên Hiệp Quốc.

Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia” trong việc giải quyết các tranh chấp, bà nói. “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần áp bức. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Bà Clinton nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không hỗ trợ bất cứ nước nào đang tranh chấp các hòn đảo nhưng ý kiến của bà sẽ làm cho Trung Quốc tức giận, nước vẫn cho là có chủ quyền ở Biển Đông, và khẳng định sẽ xử lý tranh chấp trực tiếp với các nước tranh chấp khác không theo luật quốc tế (international arena).

Bà cho biết, Hoa Kỳ sẵn sàng làm việc với tất cả các bên, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Brunei và Philippines, để giúp đàm phán chấm dứt những tranh chấp.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã không có bình luận ngay lập tức về những nhận xét của Clinton nhưng các viên chức Hoa Kỳ có mặt tại cuộc họp cho biết Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì lặp đi lặp lại lập trường lâu dài của Bắc Kinh rằng những tranh chấp không nên “quốc tế hoá”.

Xung đột lãnh thổ ở Biển Đông thỉnh thoảng nổ ra các cuộc đối đầu vũ trang, mặc dù Trung Quốc và các nước tranh chấp khác đã tìm cách giải quyết sự khác biệt một cách hòa bình thông qua quy tắc ứng xử (COC) năm 2002 (*).

Lực lượng Trung Quốc chiếm giữ phía Tây Hoàng Sa từ tay Việt Nam vào năm 1974 và đã đánh chìm ba tàu hải quân Việt Nam trong một trận hải chiến năm 1988. Các bên vẫn chưa phân ranh giới biên giới biển và nhiều người Việt Nam vẫn còn nghi ngờ Trung Quốc.

Cùng với ngư trường phong phú, khu vực này được cho là có trữ lượng dầu lửa và khí tự nhiên rất lớn. Các nhóm đảo cũng nằm trên các tuyến đường biển bận rộn và có nhiều dầu lửa và các nguồn tài nguyên khác thúc đẩy Trung Quốc mở rộng kinh tế nhanh.

———

(*) Năm 2002, Trung Quốc ký với ASEAN “Tuyên bố ứng xử giữa các bên trên Biển Đông”, không phải “Quy tắc ứng xử”.

** Ảnh: VNN

Ngọc Thu dịch

Từ: http://www.foxnews.com/world/2010/07/23/clinton-claims-national-resolving-south-china-sea-disputes/

————-

Yahoo News

Vì sao bà Clinton quan tâm nhiều hơn

đến chuỗi đảo châu Á?

Max Fisher

23-07-2010

WASHINGTON , DC – Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton làm cho Hoa Kỳ tham gia vào một tranh chấp quốc tế phức tạp về một chuỗi các hòn đảo ở Biển Đông. Trung Quốc và các nước châu Á lân cận từ lâu tuyên bố là những nước kiểm soát các đảo có vị trí chiến lược. Phát biểu tại một cuộc họp của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ở Hà Nội, Việt Nam, bà Clinton nói rằng Hoa Kỳ có “lợi ích quốc gia” trong việc giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Đây là những gì đang xảy ra, tại sao nó quan trọng, và những gì có thể  xảy ra kế tiếp, theo các nhà báo và các chuyên gia:

- Chương trình nghị sự hung hăng của Trung Quốc: Ông Mark Landler, báo New York Times giải thích: Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc đã đối chọi với các nước Đông Nam Á trong việc kiểm soát khoảng 200 đảo nhỏ, đá và các mũi cát nhô lên trên vùng biển này. Tham vọng trên biển của Trung Quốc đã mở rộng cùng với sức mạnh quân sự và kinh tế. Từ lâu, họ đã đòi chủ quyền các hòn đảo trên Biển Đông là vì ở đó có rất nhiều dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Và họ đã thông báo cho các viên chức Mỹ rằng họ sẽ không cho phép sự can thiệp của nước ngoài vào vùng biển ngoài khơi bờ biển Đông Nam của họ, mà họ xem như ‘lợi ích cốt lõi’ về chủ quyền”.

- Bà Clinton không ủng hộ bên nào trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ, nhưng Trung Quốc vẫn bực bội: Nhà báo Cara Anna của báo AP viết: “Bà Clinton nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không ủng hộ việc tranh chấp của bất kỳ nước nào đối với quần đảo nhưng lời bình luận của bà sẽ làm Trung Quốc tức giận, nước duy trì chủ quyền trên Biển Đông, và khăng khăng giải quyết tranh chấp trực tiếp với các bên tranh chấp khác, không theo luật  quốc tế (international arena)”.

- Xây dựng sự hợp tác khu vực Thái Bình Dương: Nhà báo Jam Solomon thuộc báo Wall Street Journal giải thích chương trình nghị sự của Hoa Kỳ: “Chính phủ Obama đang làm việc nhằm thiết lập một cơ chế quốc tế để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia châu Á về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Hoa Kỳ, như là một quốc gia ở Thái Bình và cường quốc thương mại, đã ngày càng tăng mối quan ngại về cạnh tranh tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông… Việc tranh chấp đã gây ra các mối lo ngại rằng quân đội Trung Quốc ngày càng mạnh có thể  tìm kiếm sự thống trị các vùng biển châu Á”.

- Trung Quốc mở rộng hải quân về lâu dài: ông Robert Kaplan viết trên Foreign Affairs về mục tiêu của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là, sử dụng lực lượng hải quân và ảnh hưởng của họ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng vượt ra ngoài khu vực Đông Á. “Trung Quốc sẽ phô trương sức mạnh hơn ở nước ngoài, chủ yếu thông qua hải quân của họ. Trung Quốc, sở hữu bờ biển dài khoảng 9.000 dặm với nhiều bến cảng tự nhiên thuận tiện, là một cường quốc cả trên bộ lẫn trên biển. Tầm với của Trung Quốc kéo dài từ Trung Á, với tất cả sự giàu có về khoáng sản và dầu khí, cho tới các đường vận chuyển quan trọng ở Thái Bình Dương”.

- Hâm nóng quan hệ Việt – Mỹ: Theo các bản tin của Jonathan Adams, AOL News,  kết quả của bước đi của bà Clinton: “Quan hệ giữa hai nước đã từng là kẻ thù cay đắng đang nóng lên. Quan hệ giữa hai nước đang hướng về phía trước tốt hơn, xích lại gần hơn do có cùng mối quan tâm về chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng như mong muốn mở rộng thương mại và đầu tư. Nhưng bà Clinton cũng nêu ra mối quan tâm về nhân quyền tại Việt Nam, nhấn mạnh vẫn còn sự khác biệt lớn giữa Washington và độc tài Hà Nội, đất nước do Đảng Cộng sản kiểm soát, trong đó bất đồng quan điểm bị giới hạn rất nhiều”.


Ngọc Thu dịch

Từ: http://news.yahoo.com/s/atlantic/whyclintoncaressomuchaboutanasianislandchain4433

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt | 17 phản hồi »

587. MỸ THÚC ĐẨY CHIẾN LƯỢC “QUAY TRỞ LẠI” ĐÔNG NAM Á

Đăng bởi anhbasam on 23/07/2010

MỸ THÚC ĐẨY CHIẾN LƯỢC “QUAY TRỞ LẠI” ĐÔNG NAM Á


THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Chủ nhật, ngày 18-7-2010

Chủ nhật, ngày 18-7-2010

(Tạp chí “Thế giới đương đại” – Trung Quốc)

Tháng 7/2009, Ngoại trưởng Mỹ Hillary đã tham dự hàng loạt Hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Tại Hội nghị Ngoại trưởng Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 16, bà đã đại diện Chính phủ Mỹ ký “Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á” (TAC), và cam kết trong thời gian tới, Mỹ sẽ cử cơ quan ngoại giao thường trực tới Ban thư ký ASEAN ở Giacácta. Việc làm này đã phá vỡ trạng thái tách rời TAC trong khoảng thời gian dài của Mỹ, và đã thay đổi một cách triệt để thái độ lạnh nhạt của Chính quyền Bush đối với ASEAN, đánh dấu bước tiến thực chất trong việc Mỹ tiến hành “tiếp xúc sâu sắc” đối với Đông Nam Á bằng “thực lực khéo léo”. Từ đó, Mỹ điều chỉnh phương thức can dự vào Đông Nam Á, lên tiếng tuyên bố chiến lược “quay trở lại” Đông Nam Á.

“Khéo léo” quay trở lại Đông Nam Á, Chính quyền Obama đang hành động

Chính quyền Obama “quay trở lại” Đông Nam Á lần này lấy phương thức “tiếp xúc sâu sắc” như triển khai giao lưu và hợp tác bằng các hình thức làm chủ đạo, muốn can dự sâu vào các công việc của Đông Nam Á bằng phương thức “mềm mỏng”, “linh hoạt”, “khéo léo”. Chính phủ mới lên cầm quyền bắt đầu tiến hành cuộc tấn công lớn nhằm vào Đông Nam Á, chính quyền mới sau khi lên nắm quyền một tháng liền đưa ra chính sách mới châu Á bao gồm việc điều chỉnh chính sách đối với ASEAN. Sau khi nhậm chức Bộ trưởng ngoại giao, Hillary chọn nơi đầu tiên đến thăm là Inđônêxia – “nước đầu tàu” của khu vực ASEAN, và hứa sẽ “tiếp xúc sâu sắc” với ASEAN, thổi vang tiếng kèn “quay trở lại” Đông Nam Á. Chuyến thăm này của bà Hillary đã phá vỡ quy luật thường lệ đến thăm châu Âu hoặc các quốc gia Trung Đông của ngoại trưởng Mỹ khi mới nhậm chức trong gần 50 năm qua, là bằng chứng tốt nhất cho thấy chính phủ mới của Mỹ coi trọng châu Á, coi trọng ASEAN. Hillary xem chuyến thăm châu Á này là “chuyến đi lắng nghe”, tăng cường lắng nghe và mở rộng giao lưu đàm phán với các nước. Bà khẳng định vị trí “dẫn đầu” của Inđônêxia trong khối ASEAN, nhấn mạnh tầm quan trọng của Inđônêxia đối với Mỹ trong việc duy trì lợi ích chiến lược ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và thế giới Hồi giáo. Bà còn đánh giá cao giá trị chiến lược của ASEAN. Tại Giacácta, bà tỏ rõ “việc Mỹ tăng cường quan hệ với ASEAN là con đường tốt nhất để giải quyết các vấn đề như khủng hoảng kinh tế toàn cầu, an ninh toàn cầu”, “ASEAN là vô cùng quan trọng đối với toàn cầu trong tương lai, Mỹ cần phải xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với ASEAN và có sự hiện diện hùng mạnh ở ASEAN”. Trong thời gian thăm Inđônêxia, bà Hillary lần đầu tiên với tư cách ngoại trưởng đã tới thăm trụ sở thư ký ASEAN ở thủ đô Giacácta, và còn bày tỏ ý muốn gia nhập TAC. Trong các nước đối tác, đối thoại của ASEAN, Mỹ là nước đầu tiên cử đại sứ đến ASEAN.

Trong thời kỳ Bush (con) cầm quyền, nhất là thời kỳ cuối cầm quyền của ông, Mỹ ngày càng thể hiện thái độ “thờ ơ” đối với ASEAN. Cựu ngoại trưởng Rice trong 3 năm cầm quyền, 2 lần vắng mặt tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Năm 2007 là tròn 30 năm Mỹ thiết lập quan hệ đối tác, đối thoại với ASEAN, hai bên lên kế hoạch sắp xếp hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN đã lâu nhưng cuối cùng cũng bỏ dở. Lần này, Hillary dẫn đầu đoàn đại biểu tham gia hội nghị ARF, tại sân bay thủ đô Băngcốc, bà hào hứng tuyên bố với thế giới rằng “nước Mỹ đã quay trở lại”, “tôi muốn gửi đến một thông điệp hết sức rõ ràng: Mỹ đang quay trở lại Đông Nam Á, chúng tôi đang hết sức nỗ lực cho mối quan hệ đối tác ở Đông Nam Á”, từ đó hình thành nên sự so sánh rõ ràng với người tiền nhiệm! Sau đó, tại hội nghị, bà còn bày tỏ Chính quyền Obama rất coi trọng Đông Nam Á, sẽ triển khai hợp tác toàn diện với ASEAN, “chủ trương mạnh mẽ của tôi là nước Mỹ nên can dự sâu hơn vào các công việc của châu Á”. ASEAN đề ra, muốn tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á cần phải có ba điều kiện cơ bản sau: 1- có quan hệ đối tác, đối thoại toàn diện với ASEAN; 2- đã tham gia “Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á”; 3- có quan hệ chính trị và kinh tế thực chất với tổ chức ASEAN. Mỹ trở thành đối tác, đối thoại toàn diện của ASEAN, duy trì mối quan hệ hợp tác chính trị, kinh tế thực chất với ASEAN. Việc Mỹ chủ động gia nhập TAC lần này đã đáp ứng đầy đủ điều kiện cơ bản cuối cùng đó là vươn tới Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, xóa đi những trở ngại trong việc tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, có lợi cho Mỹ cản trở tiến trình hợp tác khu vực châu Á-Thái Bình Dương, duy trì lợi ích chiến lược của mình ở Đông Nam Á. Trong chuyến thăm này, Hillary còn tổ chức hội nghị với ngoại trưởng các nước Campuchia, Thái Lan, Lào, Việt Nam để cùng nhau  bàn bạc về ý tưởng xây dựng khung hợp tác mới giữa Mỹ với 4 nước hạ lưu sông Mê Công. Mỹ có ý muốn xây dựng khung “hợp tác Mỹ-Mê Công” với 4 quốc gia đó, triển khai hợp tác trong ba lĩnh vực bảo vệ môi trường, y tế, giáo dục, thiết lập mối quan hệ giữa Ủy ban sông Mê Công với ban quản lý sông lớn nhất nước Mỹ – Missisipi. Ngoài ra, Chính phủ Mỹ còn quyết định sẽ xây dựng cơ quan liên lạc với ASEAN tại thủ đô Giacácta (Inđônêxia). Việc Mỹ tham dự một loạt hội nghị của ASEAN lần này, đánh dấu sự thúc đẩy mang tính thực chất của chiến lược “quay trở lại”.

Mỹ muốn gì khi “quay trở lại” bằng “thực lực khéo léo”?

Việc Mỹ thay đổi phương thức quay trở lại Đông Nam Á đã phản ánh phán đoán của Chính quyền Obama đối với các lực lượng chủ yếu trong và ngoài khu vực trong canh bạc của khu vực Đông Nam Á, là sự điều chỉnh chính sách ngoại giao “học thuyết đơn phương” của Chính quyền Bush, cũng là kết quả trực tiếp của việc nỗ lực thúc đẩy ngoại giao bằng “thực lực khéo léo”.

Trước hết, Mỹ ngày càng coi trọng sức mạnh chỉnh thể của ASEAN và vị thế chiến lược của ASEAN ngày càng được nâng lên trong canh bạc giữa các nước lớn. Do nguyên nhân như nội bộ có sự khác biệt lớn, thiếu hạt nhân lãnh đạo, trong suốt khoảng thời gian dài, ASEAN ở vào tình trạng hiệu quả thấp, nhưng gần đây, tiến trình nhất thể hóa ASEAN thực sự được thúc đẩy. Ngày 20/11/2007, Đông Nam Á thông qua “Hiến chương ASEAN”, cố gắng đến năm 2015 xây dựng khối an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội ASEAN. Tháng 12/2008, “Hiến chương ASEAN” chính thức được đưa vào thực thi, Mỹ dần cảm thấy không thể coi nhẹ ảnh hưởng của tiến trình nhất thể hóa ASEAN đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và vai trò quan trọng của ASEAN với sức mạnh tổng thể của mình trên trường quốc tế. Điều quan trọng hơn là trong mấy năm gần đây, các cường quốc chủ yếu của thế giới liên tục tăng cường quan hệ với ASEAN, vị thế chiến lược của ASEAN trong cục diện châu Á-Thái Bình Dương không ngừng nâng lên. Nhật Bản liên tục thúc đẩy kế hoạch viện trợ kinh tế cho các nước ASEAN, Hàn Quốc cũng lợi dụng hội nghị kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ đối thoại với ASEAN để xích gần với ASEAN, Ôxtrâylia, Niu Dilân cũng hoàn thành việc ký Hiệp định khu thương mại tự do với ASEAN. Mấy năm gần đây, Trung Quốc thông qua các chương trình hợp tác lớn như nguồn năng lượng, giao thông không ngừng làm vững chắc mối quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN, ảnh hưởng “thực lực mềm” đối với các nước Đông Nam Á cũng không ngừng nâng lên. Năm 2008, kim ngạch thương mại song phương giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đã đạt mức 231,1 tỷ USD. Ngày 1/1/2009, sau khi khu thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN bước đầu được thành lập, hợp tác kinh tế thương mại song phương sẽ chào đón một đỉnh cao mới. Những điều này đã khiến Mỹ vô cùng lo lắng. Giới học thuật Mỹ nhiều lần tổ chức các cuộc nghiên cứu, thảo luận với các chủ đề như “Làm thế nào để đối phó với ‘sự bành trướng’ của Trung Quốc ở Đông Nam Á cũng như vị trí lãnh đạo của Mỹ ở Đông Nam Á và những thách thức đến từ Trung Quốc”. Chính quyền Obama ra sức đầu tư vào ASEAN, ngoài việc phản ánh sự theo đuổi ưu thế cạnh tranh chiến lược, bảo đảm lợi ích phát triển kinh tế, Mỹ càng phải xuất phát từ những tính toán chiến lược ở tầng nấc sâu nhằm cân bằng sức ảnh hưởng của bản thân. Chính quyền Obama lựa ý chiều theo sự mong đợi gia nhập của ASEAN trong nhiều năm qua là gia nhập TAC, với ý đồ thay đổi trạng thái “mất cân bằng chiến lược” mà sức ảnh hưởng của Mỹ có phần hạ xuống trong canh bạc giữa các nước lớn ở Đông Nam Á, theo đuổi việc nắm lại quyền chủ đạo các công việc ở Đông Nam Á, và làm chậm lại xu thế hợp tác thiết thực, sâu sắc giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.

Thứ hai, Chính quyền Obama bắt tay vào điều chỉnh chính sách can dự bao vây mà lâu nay không có hiệu quả của Chính quyền Bush đối với Mianma, nâng cao khả năng can dự đối với các nước ASEAN. Trong thời gian cầm quyền, Chính quyền Bush luôn thể hiện sức mạnh đối với Mianma, không ngừng gia tăng trừng phạt kinh tế và gây sức ép đối với Chính quyền quân sự Mianma. Chính quyền Obama ý thức được “sự vô hiệu lực” của Chính quyền Bush đối với chính sách của Mianma, thừa nhận không thể thay đổi hiện trạng trong việc phong tỏa kinh tế đối với Mianma, hy vọng đưa ra một số điều chỉnh đối với những chính sách quá cứng nhắc của Mianma. Tháng 8/2003, Chính quyền Bush tuyên  bố thực thi trừng phạt kinh tế đối với Mianma, đến tháng 9/2007 bắt đầu tăng cường các biện pháp trừng phạt, trong đó bao gồm kiểm soát chặt chẽ đối với việc xuất khẩu của Mianma, đóng băng tài sản của các quan chức Chính phủ Mianma tại Mỹ, và cấm các công ty Mỹ hoặc cá nhân tiến hành trao đổi thương mại với những quan chức Mianma bị trừng phạt. Tháng 5/2009, Chính quyền Obama tuyên bố kéo dài 1 năm trừng phạt kinh tế đối với Mianma kể từ ngày 20/5. Có thể thấy, biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ đối với Mianma trong thời gian ngắn rất khó xóa bỏ. Nhưng dưới sự chỉ dẫn của lý luận ngoại giao “thực lực khéo léo”, bên cạnh việc tiếp tục thực thi trừng phạt kinh tế đối với Mianma, Mỹ sẽ còn áp dụng những biện pháp linh hoạt như “tiếp xúc”, soạn ra sách lược thực dụng có hiệu quả hơn, tăng cường khả năng can dự vào các công việc của Mianma. Trong những năm gần đây, các nước liên minh châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ bao gồm Nhật Bản đã nhiều lần khuyên Mỹ gia nhập TAC, nhưng Mỹ lại luôn chỉ đứng ngoài nhìn và ngưỡng mộ, nguyên nhân chủ yếu là các nước gia nhập TAC phải cam kết “tôn trọng chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”. Do muốn bảo đảm chắc chắn quyền phát ngôn về các vấn đề ở Mianma, Campuchia và có thể duy trì sức ép và can thiệp, nên Mỹ chần chừ không muốn gia nhập TAC. Sự thay đổi triệt để thái độ của Chính quyền Obama đối với TAC ở mức độ rất lớn cũng thể hiện ở việc điều chỉnh chính sách của họ đối với Mianma. Đương nhiên, việc Mỹ thay đổi phương thức can thiệp cũng liên quan tới Chính quyền Obama trong việc Triều Tiên phát triển quan hệ hợp tác hạt nhân với Mianma, cũng như việc Mỹ liên kết với ASEAN càng có lợi cho Mỹ “đối phó” với Triều Tiên và Mianma.

Thứ ba, Mỹ coi ASEAN là “nơi thực nghiệm” thúc đẩy ngoại giao “thực lực khéo léo”. Cuối cùng, Mỹ cũng nhượng bộ và tích cực tham gia một loạt hội nghị thượng đỉnh ASEAN, điều này đánh dấu đường lối ngoại giao “thực lực khéo léo” của Chính quyền Obama đối với Đông Nam Á bắt đầu có những bước đi mang tính thực chất. Lâu nay, Mỹ thúc đẩy thương mại với Đông Nam Á, coi nơi đây là cánh sườn quan trọng trong chiến lược châu Á của mình. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ tích cực thu gom các tổ chức liên minh quân sự tại Đông Nam Á. Cùng với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, Mỹ dường như cũng dần xa rời Đông Nam Á, nhưng trên thực tế Mỹ có nền tảng chiến lược vững chắc tại Đông Nam Á, những liên minh truyền thống là sự hậu thuẫn chắc chắn để Mỹ thúc đẩy chiến lược ngoại giao. Mỹ và các nước ASEAN là những đối tác thương mại quan trọng của nhau, năm 2008 kim ngạch thương mại song phương đạt 178 tỷ USD. Mỹ trước sau luôn coi trọng và tăng cường đầu tư vào các nước ASEAN trọng điểm có liên quan đến lợi ích chiến lược to lớn của Mỹ như Philippin, Xinhgapo. Philippin, Thái Lan là những nước liên minh quan trọng của Mỹ ở châu Á, Mỹ luôn duy trì giao lưu quân sự mật thiết với Philippin, Thái Lan. Xinhgapo cho phép tàu thuyền Mỹ neo đậu, đồng thời là nơi tu sửa bão dưỡng tàu thuyền của hải quân Mỹ, Mỹ coi Xinhgapo là một mắt xích vô cùng quan trọng trong sợi dây an ninh của mình. Do đó, việc Mỹ “quay trở lại” Đông Nam Á lần này cho thấy sức ảnh hưởng không phải là “từ không đến có”, mà là chỉ sự thay đổi phương thức “thâm nhập sâu và toàn diện” đối với Đông Nam Á của Mỹ. Sự chuyển biến chính trị rõ rệt nhất của Chính quyền Obama là lợi dụng sức ảnh hưởng và thực lực mềm của Mỹ, xây dựng hình ảnh nước Mỹ trên toàn thế giới. Chính phủ mới có khuynh hướng thay đổi triệt để quan niệm của thế giới cho rằng Mỹ thích sử dụng vũ lực, nhấn mạnh “hòa bình lâu dài”. Gần đây, tại Ủy ban quan hệ đối ngoại Mỹ, bà Hillary lần đầu tiên trình bày chiến lược ngoại giao của Chính quyền Obama lấy “thực lực khéo léo” làm tiêu chí, cho rằng “thực lực khéo léo” thể hiện ở đường lối chính sách: đổi mới kênh giao lưu và tăng cường hợp tác với các nước đối tác, theo đuổi và giữ vững việc tiếp xúc có nguyên tắc với các nước bất đồng quan điểm, vận dụng tổng hợp sức mạnh quân sự với dân sự, cũng như lợi dụng đầy đủ tất cả thực lực của Mỹ trong đó bao gồm thực lực kinh tế. Việc Chính quyền Obama điều chỉnh phương thức can dự vào Đông Nam Á lần này, tích cực tham gia các cơ chế đa phương lấy ASEAN làm trung tâm là có ý muốn cho thế giới thấy được những thành quả tích cực của ngoại giao “thực lực khéo léo” của mình, tạo dựng lại hình tượng nước Mỹ trên trường quốc tế.

Con đường “quay trở lại” bằng “thực lực khéo léo” dài dằng dặc

Mặc dù Chính quyền Obama cố gắng đẩy nhanh tiến độ “quay trở lại” Đông Nam Á bằng nhiều hình thức, nhưng do chịu nhiều nhân tố hạn chế, nên việc Mỹ thúc đẩy chiến lược “quay trở lại” Đông Nam Á bằng “thực lực khéo léo” là không dễ chút nào.

Thứ nhất, chiến lược “quay trở lại Đông Nam Á” chịu sự hạn chế của những hành động thực chất thể hiện “sự hữu nghị” của Mỹ đối với ASEAN. Không thể phủ nhận việc bà Hillary nhấn mạnh sự “quay trở lại” Đông Nam Á là có phần rùm beng về chính trị, đó là sự thay đổi của Chính quyền Obama đối với chính sách “coi nhẹ châu Á” của chính phủ tiền nhiệm, đồng thời ra sức xoay chuyển hình ảnh quốc tế của Mỹ. Hiện nay, Mỹ ký TAC, tạo được một chút vị thế, nhưng xét thấy Đông Nam Á không hoàn toàn tạo thành lợi ích trọng tâm, nên những hành đông tính thực chất của Mỹ không nhiều. Trên thực tế, TAC chỉ là một tuyên bố có nguyên tắc, không có sự ràng buộc về pháp lý mang tính cưỡng chế đối với các nước tham gia ký kết, cũng không có những biện pháp chính sách cụ thể trừng phạt nước vi phạm, cho dù giữa các nước thành viên ASEAN cũng có những hành vi vi phạm TAC. Các nước ASEAN tuân theo nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cũng không ép can dự vào mâu thuẫn và xung đột giữa các nước thành viên. Do đó, TAC có sự ràng buộc nhất định đối với Mỹ, nhưng cũng không phải là tạo thành áp lực quá lớn.

Thứ hai, chiến lược “quay trở lại” gặp phải hạn chế bởi khả năng tiếp nhận của các nước ASEAN. Về căn bản, mục tiêu chiến lược của Mỹ không hoàn toàn giống với ASEAN. Với tư cách là bộ phận tổ thành chiến lược châu Á-Thái Bình Dương, mục đích căn bản của chiến lược “quay trở lại” Đông Nam Á của Mỹ là tăng cường toàn diện sức ảnh hưởng và sự tồn tại ở Đông Nam Á. Các nước ASEAN khéo léo lợi dụng sự mâu thuẫn của các nước lớn trong canh bạc ở khu vực Đông Nam Á, thực hiện chủ nghĩa khu vực mở cửa, thực thi chính sách ngoại giao “bình đẳng giữa các nước lớn”, theo đuổi tối đa hóa lợi ích an ninh và kinh tế. Một mặt, các nước ASEAN rất muốn nhưng không thể có được chiến lược “quay trở lại” của Mỹ, mặt khác các nước trong khu vực lại có ý thức tự chủ rất mạnh. Xét thấy khó có thể thay đổi tình thế nhất bên trọng, nhất bên khinh của Mỹ đối với các nước ASEAN, nên các nước cũng giữ trạng thái tâm lý mâu thuẫn với sự “quay trở lại” của Mỹ. Đông Nam Á có 200 triệu dân, số Hồi giáo chiếm 1/5 dân số Hồi giáo trên toàn thế giới, phần đông dân số Hồi giáo đều có tinh thần “căm thù Mỹ”, “chống Mỹ” mạnh mẽ, Mỹ và ASEAN rất khó quay trở lại mối quan hệ liên minh thời Chiến tranh Lạnh. Sau khi gia nhập TAC, Mỹ sẽ phải đối mặt với những ràng buộc của các nguyên tắc trong hiệp ước như “thừa nhận và tôn trọng chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình”. Xét thấy Mianma là nước thành viên của ASEAN, Triều Tiên cũng đã ký TAC, nên chính sách của Mỹ đối với Mianma và Triều Tiên sẽ gặp phải những ảnh hưởng và kiềm chế nhất định. Nếu như tại diễn đàn ARF, Mỹ ra sức chủ trương coi vấn đề hạt nhân Triều Tiên và vấn đề Mianma là đề tài chính của diễn đàn, ASEAN sẽ rất khó đồng ý một cách bừa bãi.

Thứ ba, giải quyết như thế nào vấn đề Mianma ảnh hưởng trực tiếp đến việc liệu Mỹ có thể thực hiện thành công chiến lược quay trở lại “khéo léo”? Từ trước đến nay, vấn đề Mianma là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quan hệ Mỹ – ASEAN. Trước khi ký TAC không lâu, Hillary vẫn từng kiến nghị với ASEAN rằng nếu như chính quyền quân sự Mianma không thả Tổng thư ký Liên minh quốc gia vì dân chủ (NLD) Aung San Suu Kyi – lãnh đạo phe đối lập, ASEAN phải tính đến trục xuất Mianma ra khỏi tổ chức. Nhiều năm qua, các nước ASEAN luôn giữ thái độ hòa dịu và mềm mỏng trong việc giải quyết các mối quan hệ với Mianma cũng như vấn đề Aung San Suu Kyi, không thể vì Mỹ mà thay đổi thái độ. Từ nay về sau, trong khuôn khổ ASEAN, việc Mỹ đối phó với vấn đề Mianma ra sao đã trở thành một trong những trở ngại lớn nhất và là “hòn đá thử vàng” hiệu quả của việc liệu Mỹ có thể thực hiện thành công triệt để chiến lược “quay trở lại”?

Việc Mỹ thay đổi phương thức can dự vào Đông Nam Á đã đưa ra một đề tài mới cho Trung Quốc về vấn đề ngoại giao khu vực Đông Nam Á, tăng thêm khó khăn cho Trung Quốc trong việc đối phó với vấn đề lớn Đông Nam Á liên quan đến Trung Quốc. Một mặt, Trung Quốc cần phải hết sức tỉnh táo để đối phó với biện pháp “thúc đẩy diễn biến hòa bình” của Mỹ, Nhưng bên cạnh đó, Trung Quốc cũng không nên thay đổi thái độ, biện pháp và giữ thái độ tiêu cực thời Chiến tranh Lạnh đối với Mỹ, cần lấy thái độ mở cửa, lợi dụng vũ đài đã có để thúc đẩy hiểu biết và giao lưu giữa hai nước, đồng thời tiếp tục thông qua nhiều con đường triển khai hợp tác với các nước Đông Nam Á, tích cực tham gia và lợi dụng cơ chế đa phương lấy ASEAN làm trung tâm, theo đuổi sự phát triển chung Trung Quốc-ASEAN, xây dựng môi trường xung quanh khu vực Đông Nam Á ổn định, phát triển và hài hòa./.

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , , | 13 phản hồi »

586. Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Đăng bởi anhbasam on 22/07/2010

Đôi lời Bài viết này không phải chỉ liên quan tới người Việt hải ngoại, mà còn là một bản đánh giá ngắn gọn, chính xác về hệ thống chính trị Việt  Nam hiện thời, trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, … bữa trước đã điểm nhưng trong mục phản hồi/comment, nay BS xin đăng toàn văn vì e nhiều người chưa đọc; cũng là góp thêm chút cho không khí sôi động của những sự kiện quan trọng đang diễn ra mấy bữa nay tại Hà Nội liên quan tới an ninh trên Biển Đông.

Tác giả bài viết, GS Lê Xuân Khoa từng là phó viện trưởng kiêm giáo sư Trường Đại học Văn khoa, Sài Gòn; sau 1975 là giáo sư tại Đại học Johns Hopkins, rồi  Maryland, Hoa Kỳ. Ông là tác giả của nhiều sách, bài viết về Việt  Nam, trong đó có bài “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?trên trang BBC, từng gây nhiều tranh cãi, chủ yếu từ … “hai phía” của cuộc chia rẽ quá dài lâu: cộng sản và không cộng sản. Ông cũng từng về nước nhiều lần, trực tiếp gặp, đóng góp nhiều ý kiến với các nhà lãnh đạo Việt Nam, trong đó có cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Hy vọng bài viết này tới được tay nhiều vị lãnh đạo đảng, nhà nước Việt Nam, được các vị đọc, suy ngẫm một cách bình tĩnh, cầu thị, may ra bớt được chút nào đó mối “hiểm họa Trung Quốc”.


Trước hiểm hoạ Trung Quốc:

Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Lê Xuân Khoa

Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[1], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.

Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc  dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.

Ba tiền đề

Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).

1.  Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thế sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát Thái Bình Dương, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ[2]. Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc… mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[3] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.

Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng Trung Quốc lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa[4]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của Trung Quốc về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương[5]. Ngay tại Trung Quốc, đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc, vừa xuất bản cuốn Trung Quốc mộng, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ Trung Quốc không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “Trung Quốc phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[6] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.

2.  Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam.

Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trụng Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.

3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.  Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[7]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung tâm SEARAC do tôi làm chủ tịch và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[8]

Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài Đảng Cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.

Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.

Kế hoạch cụ thể và toàn diện

Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:

1.  Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước

a. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu vùng xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính Việt Nam của Trung Quốc bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo Việt Nam đối với Trung Quốc. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho Trung Quốc. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với Trung Quốc.

b. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.

c. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.

d. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.

e. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.

2.  Quan hệ với chính quyền Việt Nam

Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với Trung Quốc để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.

Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.

Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank”  này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên cứu Phát triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội đồng Quản trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.” *

Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.

3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế

Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt  trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [9]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [10].

Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường đại học và các chuyên gia về Trung Quốc. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của Trung Quốc tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.

Kết luận

Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[11] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.

Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đối diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[12] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.

© 2010 Lê Xuân Khoa

© 2010 talawas


[1]Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.

[2]Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.

[3] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.

[4] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.

[5]John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.

[6]Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, Tuần Việt Nam, 15/03/2010

[7]Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa”, Đặc san Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý,  Paris, France (2008).

[8]Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như  những cuộc vận động của SEARAC (Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thời, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư viện Quốc hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.

[9]Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay, ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.

[10] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)

[11]Xem Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010, trong Phụ lục: “Việt Nam làm gì sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.

[12]Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời cơ vàng của Đảng ta” trên VietNamNet năm 2009.

—–

* Ba Sàm chú thích: mời xem 297. Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

—–

30 ý kiến phản hồi trên trang talawas:

Trang 1:

  1. Hoàng Trường Sa nói:

    Kính mời quý vị xem thêm bài dưới đây để suy ngẫm về sự đúng sai của tiền đề “ĐCSVN chống TQ bành trướng”: Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung “chỉ đạo” những gì? (Phần 1 & Phần 2)

  2. Thanh Nguyễn nói:

    @Lê Thượng: Lịch sử đã dạy bài học đắt giá. Tôi dư sức biết chuyện đó. Tuy nhiên, kết quả bài toán sau đây có đúng không? Nhờ mọi người giải giùm và cho đáp số để so sánh: Đảng CSVN = Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu X 10(lần)

  3. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Nam Phan viết: “Tôi cũng không có can đảm lấy ‘cuốn sách ngàn trang’ của một ông tướng ra để xưng tụng là ‘tài liệu lịch sử’”. Câu này ông Nam Phan muốn nói tôi sử dụng quyển “Việt Nam Máu lửa quê hương tôi” là hồi ký (chính trị như tên sách gọi) dài hơn ngàn trang của ông Đỗ Mậu (là đại tá lúc đảo chính 1963, và thiếu tướng khi giải ngũ) làm tài liệu lịch sử. Nhưng thế nào là “tài liệu lịch sử”? Tôi hiểu là những sự việc liên quan đến biến cố lịch sử được ghi nhớ, truyền tụng, và sau được ghi chép lại thành sách. Ở Việt Nam do tình trạng thiếu thông tin, hay tin tức bị cố ý che giấu, nên thường rất lâu sau khi biến cố xảy ra, nhiều sự việc mới được ghi xuống và do đó thường bị mất mát hay thêm thắt ít nhiều. Chưa kể chuyện kể không do nhân chứng trực tiếp và “tam sao thất bổn”. Nhưng đó chỉ mới là tài liệu thuộc lịch sử, và còn phải đối chiếu với nhiều nguồn “sử liệu” khác nhau mới có được một sự kiện lịch sử xác thực. Nhưng không có quyển sử nào, dù được nhiều người coi trọng, ví dụ như “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, chứa đựng những sự kiện lịch sử xác thực, hoàn toàn đáng tin. Thí dụ, trong VNSL có một phần ghi chép chuyện kể theo truyền thuyết, theo sử Trung Quốc (mà sử gia ở rất xa nước ta, và nhìn VN với nhãn quan của người Hán thống trị), theo sử quan của các triều vua VN (vừa thiếu sót, vừa thiên lệch như khi sử gia triều Nguyễn chép về Tây Sơn). Vậy khi cần bàn đôi điều về tình hình chính trị và quân sự ở miền Nam trước 1975, tôi dựa vào “tài liệu lịch sử ” nào? Trước hết là hồi ký của các ông Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, là những người quen biết với cá nhân và gia đình ông Diệm từ trước 1954, đã cộng tác và đưa ông Diệm lên cầm quyền, phục vụ (trung thành) dưới chế độ ông Diệm, và làm đảo chính lật đổ ông Diệm năm 1963. Kế đến là quyền “Việt Nam 1945-1975″ tập 1 của giáo sư Lê Xuân Khoa, mới in gần đây, mà cá nhân tôi cho là đáng tin cậy, nhờ dựa vào nhiều nguồn tài liệu Mỹ và Việt ở cả hai miền. Phụ thêm là vài sách tiếng Anh và sách dịch, sách của Nguyễn Kỳ Phong (Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam), Nguyễn Đức Phương (Chiến tranh Việt Nam toàn tập), cả của Lữ Giang…, và các trang mạng tôi đọc được. Nhiều góp ý tôi dẫn từ các nguồn đó. Nhân đây, sách của Lữ Giang có nhiều tài liệu về dòng họ Ngô Đình Diệm, mang tính lịch sử, nhưng chưa phải là những sự kiện hay chứng cớ lịch sử chân thực, và nhiều sự việc, nhận định trong đó theo tôi còn cần đối chiếu, phối kiểm. Mấy cuốn sách tôi kể trên chỉ là của một người đọc sử bình thường, nếu không là thiếu sót nhiều, nhưng có lần ông Nam Phan hay ai đó khi nói về vài dẫn chứng chuyện cũ tôi chỉ chép lại, gọi là của “sử gia” (đặt trong ngoặc kép); tất nhiên kiểu nói đó không có chút tác động nào đối với tôi. Nhưng đáng ra, khi ai thấy điều gì tôi chép lại trong sách mà không đúng, nên dẫn tài liệu lịch sử ở nguốn khác cho là chính xác hơn. Về chuyện “tiến sĩ triết gia”, tôi không hề nghĩ đó là nói về tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm. Tôi chưa nghe nói, ở đây hay trên trang mạng nào, ông Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, chỉ thấy quảng cáo văn phòng luật sư ghi ông có các bằng MS, MPA, JD.

  4. Nam Phan nói:

    Thưa ông Hoà Nguyễn, Tôi coi câu nói “văn là người” là cách đánh giá những người dùng văn tự để nói lên tư tưởng cuả mình, tuy cũ nhưng vẫn là một tiêu chuẩn đáng tin cậy. Tôi dùng chữ “tiến sĩ triết gia” để chỉ ông Nguyễn Hữu Liêm, căn cứ vào ít nhất những bài viết cuả ông ta được đăng trên diễn đàn này (xin ông có dịp thì xem lại cả những bài viết lẫn những ý kiến cuả độc giả để thêm nhận định) chứ không phải căn cứ vào việc ông ta học triết, dậy triết để rồi gán cho ông ấy một danh hiệu có tính cách mỉa mai. Tôi cũng không có can đảm lấy “cuốn sách ngàn trang” của một ông tướng ra để xưng tụng là “tài liệu lịch sử”, cho nên nếu có được coi là không biết phê bình hay không đủ trình độ phê bình bản văn mà chỉ nhắm vào đả kích nhân thân người viết thì tôi cũng vui lòng nhận phần dốt về mình. Có cần phải tiếp tục luận bàn với những bài viết thuộc dạng “tiến sĩ triết gia” đã viết hay không, hay chỉ huýt gió một cái? Tôi xin làm tiếng ồn cuả tiếng huýt gió trong hội trường, không được ai quan tâm, chỉ cần ông Hoà Nguyễn để mắt tới bằng cách nói gần nói xa (nhưng không trực tiếp nêu tên, họ), là cũng cảm thấy vinh dự rồi. Tuy vậy xin được coi đây là lần cuối. Trân trọng,

  5. Nam Phan nói:

    Tôi chỉ muốn đặt câu hỏi với GS Lê Xuân Khoa và những vị đồng tình với GS: “Đại đa số đảng viên CS, cả chuyên chính lẫn ‘giả cầy’, đặc biệt là những người cầm quyền ở VN từ cấp nhỏ đến cấp cao nhất có chung quan điểm với người Việt hải ngoại khi cho rằng Trung Quốc là hiểm hoạ trước mắt của VN không?” Nếu có thì căn cứ vào đâu? Đường lối, chính sách của VN phản ánh mối quan ngại này? Nếu câu trả lời là có và với những chứng cứ, chúng ta sẽ bàn tiếp và nỗ lực tìm kiếm giải pháp. Nếu không – và căn cứ vào những lời tuyên bố, những giao hảo (qua lại) cuả các cấp lãnh đạo cuả họ (TQ và VN), những “học tập kinh nghiệm lẫn nhau”, những “lợi ích chung” cùng chia sẻ – thì chúng ta nên tiếp tục giải pháp duy nhất dù rằng cũ và có vẻ bất khả là giải trừ chúng. Tôi đứng ngoài hàng ngũ của GS, nếu câu trả lời là không.

  6. Lê Thượng nói:

    “ý quèn” của Thanh Nguyễn: “Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước.” Để Tàu chiếm nước thì đến bao giờ mới lấy lại được? Muốn như Tây Tạng hay dân vùng Tân Cương? Nếu lấy lại được cũng phải mất đi 100 năm hay 1000 ngàn năm không chừng. “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu. Một trăm năm nô lệ giặc Tây”. Lịch sử đã dạy cho ta bài học đắt giá ấy.

  7. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Hoàng Trường Sa viết :”ông (LXK) thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ) “. Cho như thế là không đọc hiểu các bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, bài chủ này và cả bài ông HTS mới giới thiệu tại: http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=28bfc08fa0b70eda8757e174ba28bfec Cũng còn là một quan niệm chống Cộng cứng nhắc,lỗi thời, với cách nói sáo cũ thành khẩu hiệu, không đúng với thực tế đã đổi thay. Nhưng cũng lạ hiện nay ít thấy tại Mỹ. Người Việt ở Mỹ có nhiều lý do để oán hận chính quyền CS trong nước: một số đông di tản hối hả trước 30-5-1975 đã bỏ lại tất cả, các đợt thuyền nhân tiếp theo phần đông định cư tại Hoa kỳ, và sau cùng là những người tù cải tạo và gia đình họ đến Mỹ theo diện H.O. Dễ hiểu đa số họ chống Cộng, nhưng dường như người ở Úc như ông HTS, hoặc ở Canada như ông Lê Quốc Trinh còn chống Cộng mạnh hơn nhiều người ở Mỹ, và vì vậy có lần tôi dùng từ (CC) “quyết liệt” khi nói với ông LQT. Có lẽ chuyện chống Cộng cho tới người Cộng sản cuối cùng, hay tới người chống Cộng cuối cùng, sẽ không xảy ra trên đất Mỷ vì nay người Mỹ gốc Việt có óc thực dụng hơn. Tuy nhiên, đúng là quan điểm về VN của GS Lê Xuân Khoa đã được định hướng từ lâu, tôi lấy mốc năm 2000 khi ông trong phái đoàn của TT Clinton qua thăm VN để bắt đầu một quan hệ mới giữa hai nước cho là từ bỏ đối đầu mà dành cho đối thoại, đối tác( bản tin hôm nay, Mỹ hiện đầu tư nhiều nhất ở VN). Một điều buồn cười: lúc đó TBT Lê Khả Phiêu thân TQ vẫn tố Mỹ là “đế quốc”. Kể từ đó, khuynh hướng “chống Cộng” ở Mỹ cũng dần dần thay đối, ít ra trong giới (tạm gọi) trí thức, cùng với sự thay đổi nhanh hơn của chính quyền Mỹ đối với VN. Ít còn thấy những cách nói quyết liệt, chỉ một chiều, chỉ viện dẫn những chuyện xưa cũ, và thay vào đó là những thông tin trung thực, với các sự kiện đang diễn ra trong cuộc sống, và chú trọng đến những điều Mỹ và cộng đồng thế giới quan tâm nhất như về nhân quyền, tự do, dân chủ. Dù sao, giữa người Việt ít ra cũng phải tạm quên bớt hận thù, hay làm ra vẻ như thế, mới có thể tiếp xúc và nói chuyện được với nhau, và người Việt ở Mỹ cũng không thể làm gì trái ngược với chính sách chung của Mỹ, mà phải biết khôn khéo tận dụng các chính sách mới của Mỹ về VN. Trong bài viết năm 2004 dẫn trên, giáo sư Lê Xuân Khoa kêu gọi người VN cả hai bên cùng hành động, cùng thay đổi vì nếu chỉ xảy ra cho một bên thì sẽ không thực hiện được gì, và ông đã dùng cách nói nhẹ nhàng để Hà Nội có thể nghe: “ Khi xúc tiến việc thiết lập và thực hiện lộ trình dân chủ hóa cho Việt Nam, chính quyền sẽ đương nhiên gia tăng được uy tín của mình trong vai trò phối trí mọi sự đóng góp của các thành phần dân tộc “. Ông viết thêm trong bài chủ này: Về phía cộng đồng hải ngoại, vì quyền lợi chung của đất nước và dân tộc, cũng cần có quyết tâm bỏ qua những niềm thù hận trong quá khứ để góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phú cường trong cộng đồng quốc tế… Chỉ trong thời gian gần đây, khi những cuộc tranh đấu và vận động được tập trung vào vấn đề cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam thì mới thấy có sự hỗ trợ, dù còn giới hạn, của chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ, của Liên Hiệp Châu Âu và các tổ chức quốc tế vì tính chất chính đáng của vấn đề . Về con người thật của giáo sư Lê Xuân Khoa, mỗi người có thể biết được khi đọc ít nhiều về ông và khi có cơ hội tiếp xúc ông. Tôi không thể làm gì khác. Nhưng viết như sau là xúc phạm do thiếu hiểu biết và dễ dãi ngôn từ:” bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm“. Trong cuốn “Nếu đi hết biển”, tác giả Trần Văn Thủy hỏi Nguyễn Thị Hoàng Bắc:” Theo tôi hiểu, chị không muốn hoà nhập vào các tổ chức “cộng đồng ?“. NTHB trả lời:” Tôi không tham gia tổ chức cộng đồng nào. Các con tôi lại càng không tham gia“. (sách trang 90). HB không nói rõ lý do tại sao gia đình bà không tham gia sinh hoạt cộng đồng tại địa phương thuộc Virginia, nhưng ở đoạn khác trước đó, HB kể nhiều điều xấu về các tổ chức chính trị “ mọc lên như nấm” của người Việt tại California. Nhưng sinh hoạt của cộng đồng người Việt, và các tổ chức chính trị hoàn toàn không liên hệ gì với nhau, và khi tình nguyện sinh hoạt trong một cộng đồng, không nhất thiết phải tham gia tổ chức chính trị chống nhà nước VN. Điều này là sự thật hiển nhiên. Nhưng HB cố tình nhập nhằng hai thứ để bôi đen hình ảnh CĐ NVHN trước mắt Trần Văn Thủy, từ trong nước ra điều nghiên đời sống người Việt tại Mỹ. Vì vậy, trong chuyện này khi cho NTHB là “đồng chí” dù với ai cũng lại là cách nhập nhằng để bôi nhọ.

  8. Thanh Nguyễn nói:

    Một “ý quèn” của tôi như thế này: Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước. Thân thể Việt Nam có thể bị thương, nhưng những vết thương đó sẽ được rửa sạch, sẽ lành, sẽ liền da để có một Việt Nam tươi mới và hoàn toàn khác.

  9. Hoàng Linh Vương nói:

    Bài viết này của giáo sư Lê Xuân Khoa thể hiện một lý thuyết rất lý tưởng và chỉ là giả định (nói cho có chuyện mà nói thôi) như lời giáo sư trong phần kết: “Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là…”. “Giả định” này cũng vẫn đang còn là “giả định” thật. Thực tế thì cái “rốn của vũ trụ” là ông Nhà nước VN, cũng lại là “cái đầu gối” mà người đời đang nói chuyện. Thêm nữa: hình như người đời cũng chưa mở lòng được với nhau. Thế là ta “bờ i bi sắc bí” là cái chắc! Hay là không khéo rồi cả nước lại bị bịt mắt bắt làm con tin thì bỏ mẹ thật đấy chứ không phải đùa đâu!

  10. Nguyễn Đăng Thường nói:

    Anh hùng đánh Mỹ đánh Tây Tây chạy Mỹ rút vác cầy đánh ai? Đánh Khựa sẽ bị bộp tai Thôi thì đánh đĩ đánh bài cho vui!

  11. Hoàng Trường Sa nói:

    Quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa trong bài chủ này thật ra cũng không lạ đối với tôi, một người đã đọc nhiều bài của ông trước đây, như bài này ông viết đã 6 năm trước (vào ngày 09-02- 2004): Để tiến tới quan hệ bình thường giữa người Việt hải ngoại và Việt Nam (Lê Xuân Khoa) Những suy nghĩ của ông như được bộc lộ trong các bài viết của mình đã đưa nhiều người (trong đó có tôi) đến nhận định rằng ông thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ). Cá nhân tôi hoàn toàn KHÔNG ĐỒNG Ý với quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa, dù tôi chia sẻ nhiều quan điểm của bác Hòa Nguyễn, một người học trò cũ của ông, nhưng dĩ nhiên là có tư tưởng độc lập của mình, dù vẫn không quên tình nghĩa cũ và luôn quý mến thầy cũ. Tôi thấy cũng không mấy ngạc nhiên khi bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm, người mà cộng đồng người Việt hải ngoại thường châm biếm bằng mấy chữ không đẹp như “luật sư còi hụ”. Dù không đồng ý với Giáo sư Khoa, tôi cũng thấy rõ ràng là ông ở vào tầm cao hơn nhiều trong những người thuộc nhóm gọi là Việt kiều “yêu nước”.

  12. Lề Trái nói:

    Lấy lại câu chuyện An Dương Vương chạy ra biển với Mỵ Châu đang rứt lông ngỗng để quân Triệu Đà-Trọng Thủy đuổi theo, chỉ đến khi thần Kim Quy nói giặc chính ở sau lưng, An Dương Vương mới nhận diện được kẻ thù. Việt Nam bây giờ khác, hầu như ai cũng nhìn ra giặc ở đâu, nhưng vì những lý do rất quái đản, họ “không muốn” tin giặc là giặc. Cái giả định mấp mé giả tưởng của bài này cho ta thấy rõ cái quái gở trong cách suy nghĩ mặc dù chả cần thần Kim Quy, người ta đều biết rõ ai “bán” (thời buổi kinh tế thị trường) nỏ thần cho ngoại bang. Nhưng không, thay vì nhận diện rõ hạng bán nước, họ đổ vấy đổ vá cho tất cả những cái khác ngoại trừ chính họ. Chỉ tội cho những kẻ không thức thời vì đã nhìn và chỉ ra nguyên nhân tối hậu dẫn đến hiểm họa sờ sờ trước mắt. Tôi muốn hỏi lại bao giờ dân tộc mới chịu nhận chân bọn giặc thật sự, hay phải chờ tới bước đường cùng? Trả lời được câu hỏi đó tự khắc sẽ biết được những giải pháp cho tình trạng hiện nay. Nếu vẫn còn tránh né câu hỏi thì mọi giải pháp chỉ là con kiến bò cành cụt. Hiểm họa này nó không tới bất chợt, mà là một “diễn biến” qua một thời gian khá dài. Hiện trạng hôm nay chỉ vì cái kim đã lớn bằng con voi nên hầu như ai cũng thấy. Tức là nó có mục đích, động thái, quá trình phát triển, các bên tham dự với những buổi đàm phán thấm đẫm tinh thần “16 chữ vàng”. Và tôi lại phải hỏi, bộ chưa đủ hay sao?

  13. Hoà Nguyễn nói:

    Các kiểu phê bình chỉ nhắm vào cá nhân, không nói gì tới văn bản, xin đề nghị nên tránh trên diễn đàn này (lý do vì tôi tôn trọng diễn đàn, và đây chỉ là một đề nghị suông). Khi gọi một người làm luận án tiến sĩ triết và sau đó dạy triết là “tiến sĩ triết gia” như một cách đánh giá bài viết, thì hết sức vô nghĩa, kỳ cục, và ai nghe vậy mà cười theo, tán đống thì cũng lạ. Kể cả khi đánh giá thấp, quá thấp ngườì khác, mà không chứng tỏ đọc hết bài và hiểu đúng ý người viết. Đó là hai kiểu phê bình không phải là phê bình, hay vì không thể phê bình được, nên chỉ bày tỏ một thái độ phản đối, mà không liên hệ gì tới nội dung bài viết. Chỉ như tiếng huýt sáo nghe ở hội trường, tuy ồn nhưng không được quan tâm. Tôi tiếp tục góp ý với vài phản hồi tôi đọc cẩn thận. Ông Hoàng Trường Sa (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa):” Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng ” , và ông nhận định chỗ này :” mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua “. Ông HTS viết tiếp :” Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946)“. Chắc chắn ngày nay bên phía không cộng sản không ai còn “ngây thơ” sau nhiều bài học lịch sử như ông Hoàng Trường lo ngại. Ngay cuối câu viết trên của GS LXK cũng cho thấy một thái độ dè dặt cần thiết, vì tiên đoàn sẽ có hai tình huống khác nhau: sau hợp tác (nếu có) sẽ có thể hoà giải hay tiếp tục đối kháng. Trong bài viết năm 2001, GS Lê Xuân Khoa cho biết CSVN đã từng đưa ra các luận điệu hay chiêu bài hòa giải hoà hợp trong bốn trường hợp khác nhau, vào năm 1945 như đã biết (lúc đó phe “quốc gia” ở thế yếu nên phải chấp nhận và sau chừng một năm tự hủy bỏ), năm 1968 với chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam (có các ông Trịnh Đình Thảo), năm 1973 với đề nghị chính phủ hoà giải dân tộc, và miền Nam đã không mắc mưu ở hai lần đó, trừ một số nhỏ cá nhân (như ông Trương Như Tảng tự nhận trong hồi ký), và sau năm 1975. Tôi đọc thấy trên mạng bài sau đây nói về điều đó, và vì bài hơi dài nên chỉ trích vài câu nói lên một ý nghĩ của tác giả. In view of these bitter experiences with the communists, the term “national reconciliation” has become taboo to many overseas Vietnamese. Some people are practically “allergic” to the term and automatically label as pro-communist those who want to consider reconciliation as a topic for discussion with any Vietnamese officials. With full understanding of and sympathy to these emotional reactions, I sincerely want to present my personal reflections on this issue. I am doing this as an independent person who has no ambition other than a desire to contribute something meaningful to the interest of the nation and the people of Vietnam. (Normalization of Relations between the Overseas Vietnamese and Vietnam by Le Xuan Khoa , April 30, 2001) Chưa chắc tôi ủng hộ “giải pháp” trên, nhưng tôi có thể so sánh với hoạt động của nhiều đảng phái, phe nhóm đối nghịch trong một nước dân chủ (như Đài Loan, Nam Hàn) trước tình hình chiến tranh hay khủng hoảng lớn. Họ phải hợp tác với nhau để chống lại nguy cơ trước mắt, đồng thời tỉnh táo thủ thế, và tiếp tục tranh đấu sau đó nếu cần. Riêng về iên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch, theo lịch sử ghi lại, không phải Tưởng Giới Thạch chủ động quyết định, mà do ông bị tướng Trương Học Lương bày mưu bắt giữ,và ép buộc ông phải làm theo. Sau khi thắng Nhật, Tưởng Giới Thạch hủy bỏ liên minh này trước, đưa quân từ miền Nam lên đánh nhau với Mao Trạch Đông để giành giật Mãn Châu trong tay hồng quân, nhưng thất bại do Mao được Liên Xô gần bên giúp, và từ đó phe Tưởng suy sụp về quân sự. Về bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, tôi cũng có suy nghĩ nhưng chưa thấy rõ vài điều để viết nhiều hơn: 1/ Có thật tình hình VN hiện nay đúng như giáo sư nhận định không. 2/ Đề nghị của giáo sư về hành động của người Việt hải ngoại có những điểm riêng rất hay (nếu cần tôi sẽ nhắc lại), nhưng toàn bộ có thực tế, thích đáng, khả thi để giải quyết (hữu hiệu) vấn đề theo như ông nhận định không, và có thể đưa lại những điều tiêu cực nào, chấp nhận được không khi nhìn trong lợi ích toàn cục. 3/ Còn có thể tìm một giải pháp nào khác hơn không.

  14. Hồ Phú Bông nói:

    Chuyện nước mất về tay Trung cộng đang gần kề hơn lúc nào hết mà con dân người Việt chỉ đành bàn hưu tán vượn thay vì xắn tay áo bắt tay vào việc! Vì đâu nên nỗi? Theo tôi, điểm chính là chế độ cộng sản sau bao nhiêu năm tác oai tác quái đã phá nát niềm tin giữa người Việt! Sự nghi ngờ nhau đã biến thành bản tính mới! Ngay trong nội bộ đảng cộng sản cũng chẳng ai tin ai, chỉ vì cái đích của họ không phải là đất nước, quê hương mà là quyền lực và vơ vét của cải! Cứ nhìn vào tương lai dân tộc qua lối sống “thực dụng” của thế hệ trẻ hiện nay thì rõ. Đây là lý do chế độ cộng sản tại Việt Nam chưa sụp đổ ngay và phong trào dân chủ chưa thể phát triển mạnh. Cho nên, sự thất bại không phải từ kế hoạch (vì chuyện đại sự chẳng có kế hoạch hay phương pháp nào hoàn hảo cả!) mà chính là lòng tin giữa người Việt Nam với nhau không còn nữa! Cứ (tạm) tổng kết tâm huyết từ tác giả bài viết cũng như các phản hồi đã chỉ ra điều đó! Xây dựng lại lòng tin mới xây dựng lại được sức mạnh cho dân tộc!

  15. Tri Ngộ nói:

    @ Hoàng Trường Sa & Hoà Nguyễn Tôi rất cám ơn hai bạn đã phản hồi với những thí dụ và luận lý rất sắc bén và sâu sắc. Riêng tôi luôn được học hỏi thêm qua các phản hồi vì những cái nhìn khác biệt luôn mở rộng thêm tầm nhìn của chính tôi. Nhưng cái “an ủi” lớn cho tôi ở đây là những dẫn chứng lịch sử của bạn Hoà Nguyễn ở điểm số 1 (LXK) cũng như những lý luận về lòng yêu nước ở điểm số 2 (LXK), hình như cũng đã chấp nhận là cả hai điểm này của GS LXK, cũng chỉ là những phương châm (kim chỉ nam), hay là những nhắc nhở, hoặc là những tiền đề… Những phương châm này, dù cho chí lý đến đâu chăng nữa, theo lý luận của bạn HN, trước sau đối với tôi, vẫn chỉ là những lý tưởng đẹp được ghi trên giấy. Lịch sử VN đã cho thấy không biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lòng yêu nước chân chính và đã bị lừa. Đã có rất nhiều người gánh chịu bao nỗi oan khiên từ cái ngày Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 vì những hành động tàn ác của một tập đoàn lãnh đạo luôn tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo tôi, việc nhà cầm quyền hiện nay nhận thức được lòng yêu nước chống quân Bắc phương (TQ) cần có sự hợp lực của CĐNVHN là một mơ tưởng hão huyền. Lịch sử cũng đã trăm lần cho thấy điều này khi quân đội Bắc Việt, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, đã bầm dập và hành hạ người miền Nam sau năm 1975 như thế nào và chính sách của họ, dầu cho có “thoáng” hơn ngày nay, vẫn còn nặng mùi “ám khí” của một chủ nghĩa phản khoa học với cách cai trị độc đoán và mù quáng, đi ngược lại lòng yêu nước chân chính của người dân. Lòng yêu nước chân chính đó hình như phải kêu gọi tình người, kêu gọi lòng từ ái, kêu gọi sự biết ơn tổ tiên đã gầy dựng nên giang sơn gấm vóc ngày nay, kêu gọi sự khát vọng về một tương lai tốt đẹp cho quê hương, và đồng thời cũng kêu gọi sự sám hối về những khổ đau mà người cộng sản đã gây ra (một vết thương lớn cần chữa lành). Khổ thay lòng yêu nước đó hiện nay đang bị những đám mây mù to lớn của sự hưởng thụ (còn được gọi nôm na với 4 chữ “ổn định kinh tế”) và sự sợ hãi của người dân (hé mồm ra là công an mời lên làm việc), và của lòng tham vô đáy của cấp lãnh đạo (cấp lãnh đạo ngày càng giàu) ngăn che. Những đám mây mù này rất khó lấy đi, trừ phi có một cơn gió lớn. Và cơn gió đó có thể sẽ là cuộc tấn công xâm lăng VN của Trung Quốc.

Trang 2:

  1. phivu56 nói:

    Mời xem: Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại http://phivu1956.blogspot.com/2010/07/ho-chi-minh-man-and-myth-ho-chi-minh.html

  2. Phùng Tường Vân nói:

    “Da mồi tóc bạc ta già nhỉ !” Cái sai lầm xuyên suốt bài viết là một sự không tỉnh táo, nó đặt nền móng thuyết phục và khuyến cáo người khác trên những giả định đến mức ảo tưởng. Tôi đồ rằng có ít nhiều nỗi lẩm cẩm của tuổi tác ảnh hưởng chăng, cũng chính vì có nỗi ái ngại buồn bã ấy mà tôi cũng thấy có cái gì hơi bất nhẫn khi có độc giả liệt kê ông vào những hạng như là “triết gia còi hụ” hoặc vị “đại gia hàng thần” nọ khuyến dụ người khác “làm lành với lịch sử” chẳng hạn. Đôi khi tôi lại nghĩ có lẽ ông vẫn chưa thoát ra khỏi cái “hội chứng” một lần được gặp gỡ với “một người cộng sản tử tế” chăng?

  3. Phan Son nói:

    Dù quá trình thôn tính chưa hoàn tất nhưng xã hội ta đã là một xã hội lệ thuộc. Người nghèo lệ thuộc người giàu, người giàu lệ thuộc quan chức, quan chức thì bị chi phối bởi những kẻ cơ hội. Người ta bị điều khiển bởi đồng tiền và những động lực vật chất, thật đúng như Rousseau nói trong khế ước xã hội: “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ”. Sự lệ thuộc vật chất dẫn đến ý thức lệ thuộc và ích kỷ. “Thôi, lo làm mà kiếm tiền, để ý chi đến những việc đó, gặp phiền phức bây giờ” là câu nói mà nhiều người bật ra khi nghe ai đó bức xúc về những vấn đề của xã hội và chính quyền. Những ý thức và suy nghĩ độc lập ngày càng hiếm hoi làm sức đề kháng của xã hội ngày càng xuống thấp. Khi mà thế lực thôn tính nhận thấy rằng nó có thể dẫn dắt các hành động của số đông bằng những tin đồn liên quan đến quyền lợi của họ, đó là lúc mà nó ra sẽ đòn quyết định. Một vài phép thử đã được thực hiện như cơn sốt vàng năm trước và gần đây là chứng khoán. Đáng lo hơn nữa là sự lệ thuộc suy nghĩ như vậy làm rất nhiều người, từ dân nghèo đến cả tầng lớp trung lưu hy vọng thụ động vào một sự thay đổi từ bên ngoài sẽ mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần và quyền lợi chính trị, mà không ý thức rằng chính mình mới là nhân tố quyết định những kết quả đó. Tác động từ bên ngoài là khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại, nhưng chính sức mạnh của nội lực mới quyết định kết quả của sự tác động đó là tốt hay xấu. Với sức đề kháng của xã hội như Việt Nam hiện nay, kết quả đó sẽ là một thảm họa. Chỉ cần nhìn vào thị trường thuốc chữa bệnh thì sẽ thấy quyền lợi và tính mạng của đại đa số dân ta đang bị hy sinh để phục vụ cho một nhóm lợi ích tư rất nhỏ trầm trọng đến mức nào. Các tập đoàn dược phẩm thao túng hoàn toàn thị trường nhờ sự tiếp tay của những kẻ cơ hội, đẩy giá thuốc lên khủng khiếp và liên tục nhiều năm qua bất chấp những nỗ lực của báo chí và những cố gắng của một số quan chức có trách nhiệm. Không cẩn thận thì thị trường xăng dầu sắp tới cũng sẽ bị lũng đoạn.

  4. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Tri Ngộ trích câu viết của GS Lê Xuân Khoa 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“, và ông kết luận: Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Chỉ xét về ý nghĩa riêng nói lên ở chỗ này, tôi nghĩ câu viết trên của giáo sư Lê Xuân Khoa dựa vào những kinh nghiệm đau thương đã xảy ra trong lịch sử dân tộc. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, một hành động dược coi trái đạo nghĩa đối với tư tưởng trung quân thời đó, nhiều người đã đi cầu cứu với nhà Minh bên ngoài, và tổ chức chống lại họ Hồ bên trong. Kết quả là thảm kịch: quân Minh chỉ cần mượn cớ phù Trần diệt Hồ đã chinh phuc nuớc ta rất dễ dàng, và sau đó nói con cháu nhà Trần chẳng còn ai để biến Đại Việt thành quận huyện của Trung quốc. Nhiều người Đại Việt thời đó đã phản ứng theo lòng uất hận kẻ bất nghĩa, bất trung, hay theo quyền lợi riêng vừa bị cướp mất, để chỉ thấy kẻ thù gần gũi cần tiêu diệt là họ Hồ, mà không thấy được kẻ thù còn ở xa nhưng nguy hiểm cho dân tộc hơn, là Trung quốc. Trong trường hợp khác, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để chống Tôn Sĩ Nghị, sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Thiếp đã hết lòng ủng hộ và bày kế cho ông (chưa kể đến Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở), và cũng chính ở vủng Thanh Nghệ Tĩnh nơi đã cung cấp quân binh trung thành nhất cho Chúa Trịnh (dẫn đến loạn Kiêu binh), Nguyễn Huệ đã mộ được hàng chục ngàn người cho đạo quân Tây Sơn Bắc tiến phá Thanh (cũng có nghĩa diệt luôn vua Lê chúa Trịnh). Cảm tính thường phản ứng cho quyền lợi tức thời, nên có khi thành nông nổi, và lý trì hướng dẫn cho hành động đúng đắn, hiệu quả hơn. Vấn đề là làm thế nào để tạo được sự quân bình giữa hai phản ứng, với nhiều xét suy, cân nhắc cho quyền lợi lớn và lâu dài. 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Ông Tri Ngộ nhận xét:” Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước…“. Có lẽ không nên mất nhiều thời gian để bàn thật sâu về thế nào là lòng yêu nước, nhưng nếu nghĩ đơn giản và chấp nhận một số quan niệm thông thường, sẽ thấy câu viết của GS Lê Xuân Khoa nêu vừa đủ các điều kiện cần thiết cho những người lãnh đạo VN trong tình hình gay go hiện nay. Nếu thật lóng yêu nước, họ thấy được đâu là quyền lợi thiết thực, lâu dài, và đâu là nguy cơ thật sự cho dân tộc, đồng thời họ cũng thấy muốn bảo vệ được đất nườc, chống lại được kẻ thú cực mạnh, bên trong cần phải dựa vào sức mạnh toàn dân đoàn kết, với nghĩa tự nguyện, và bên ngoài cần nhờ vào sự ủng hộ của quốc tế (thiện cảm với VN, chống Trung Quốc). Từ nhận thức đó sẽ thấy họ cần phải thay đổi thế nào, và thấy vai trò của người Việt hải ngoại không nhỏ trong hành động chung cho dân tộc.

  5. Hoàng Trường Sa nói:

    “CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.” (Tri Ngộ) Bạn Tri Ngộ nói rất đúng. Nếu xảy ra cuộc chiến TQ trực tiếp tấn công VN trên Biển Đông hay trên bộ dọc biên giới phía Bắc, thì Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại sẽ lâm vào một hoàn cảnh rất khó xử, và có lẽ sẽ bị chia rẽ rất lớn do phải chọn lựa thái độ là có nên nhập cuộc để hỗ trợ ĐCSVN chống lại TQ hay không (giả sử rằng vào lúc đó ĐCSVN không còn chọn lựa nào khác ngoài việc phải chống lại Tàu xâm lược). Một mặt, là con dân nước Việt, không ai có thể bàng quang tọa thị nhìn ngoại bang xâm lăng Tổ quốc mình, mà không chút xót xa, uất giận, và chắc chắn thế nào người Việt hải ngoại tuyệt đại đa số cũng phải tìm mọi cách để chống lại cuộc xâm lược này. Nhưng mặt khác, người Việt hải ngoại biết quá rõ bộ mặt phản dân hại nước của ĐCSVN. Họ cũng thừa biết là sau khi hy sinh tất cả để ngăn chận không cho Tàu xâm chiếm Tổ quốc thiêng liêng của họ, thì kẻ được hưởng lợi cũng lại là cái đảng thổ tả mắc toi mắc dịch CSVN này, chứ chẳng phải là đồng bào họ trong nước hay chính bản thân họ. Bởi vì, lúc đó cái đảng CSVN khốn nạn này lại sẽ tiếp tục hách dịch đè đầu cỡi cổ nhân dân ta trong nước như từ xưa đến nay. Nhưng nếu trái lại, người Việt hải ngoại cũng như toàn dân ta trong nước thờ ơ không nhập cuộc để cứu nước, thì Tổ quốc ta sẽ không còn nữa. Đó là nỗi đau của chúng ta. Nói cách khác, từ ngày có ĐCSVN, đảng này đã coi đất nước VN là vật sở hữu của đảng họ, coi nhân dân VN là những kẻ tôi đòi, những con vật thí mạng mà đảng có thể sử dụng bằng đủ mọi cách (qua những lời kêu gọi hoa mỹ, đánh động tình cảm yêu nước của người dân như Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ) để bảo vệ cái ngai vàng cùng với những đặc quyền đặc lợi của bè đảng bọn họ. Có điều, với sự chia rẽ trầm trọng giữa người Việt hiện nay, với sự suy yếu cùng cực, sự bất tài, tham nhũng, sự yếu hèn khiếp sợ Tàu của ĐCSVN hiện nay, cùng việc nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN đã không có được thiện cảm cùng sự kính trọng, quý mến và hỗ trợ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, việc chống cự lại cuộc xâm lăng của TQ (nếu có) lần này e rằng sẽ rất khó khăn. Cá nhân tôi đã nhiều ngày đêm suy nghĩ về vấn nạn đau khổ này, nhưng thú thật vẫn chưa tìm ra giải đáp. Dù ai cũng biết rằng, để thoát ra nỗi khổ triền miên bất tận này, cách duy nhất là loại bỏ vĩnh viễn cái đảng CSVN này. Nhưng làm sao để thực hiện thành công chuyện này đây, khi ĐCSVN đang nắm trong tay bộ máy thống trị chuyên chính, với dùi cui, roi điện, súng đạn, tiền bạc dồi dào, đầy đủ và sau lưng còn có sự hỗ trợ của bọn bá quyền Bắc Kinh. Để thay đổi chế độ, chắc chắn toàn dân ta sẽ phải làm lịch sử một lần nữa. Nhưng cái giá phải trả e rằng không nhỏ. Có thể phải trả bằng giá máu, mà đây là điều không ai mong muốn cả. Việc mong chờ ĐCSVN tự động thay đổi là chuyện không bao giờ xảy ra. Xin đừng có ai tơ tưởng vào điều bất khả này. Có lẽ, chỉ khi nào dân ta tỉnh ngộ trước thực tế đau xót này, và đồng lòng đứng dậy, hy sinh đòi lại quyền làm chủ đất nước, thì may ra mới có cơ hội thoát ra khỏi thế bí này. Sẽ có người hy sinh ngả xuống cho thế hệ VN tương lai còn được sống, hay nói theo ngôn ngữ của CSVN thì sẽ có người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Thật là một vòng lẫn quẫn khởi đi từ muà thu lịch sử năm 1945. Một chu trình kín dẫn dắt dân tộc qua ngàn cửa ải đau thương, để trở lại điểm bắt đầu, sau 65 năm tang tóc, núi xương, sông máu. Với một giấc mơ còn dang dỡ. Thật là buồn và giận ông Hồ vô vàn.

  6. Trương Đức nói:

    Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội. (trích “Bill Hayton – Đảng Cộng sản và tương lai Việt Nam”) Nhân đọc được đoạn trích trên đây, tôi xin mạn phép tác giả Bill Hayton cũng như dịch giả Đinh Từ Thức được ghi ra đây để làm rõ thêm cái ý “Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!” trong PH của bác Nam Phan. Dĩ nhiên là tôi rất hiểu “thâm ý” của bác Nam Phan, nhưng tiện đây tôi xin có một ý kiến như thế này: Tại sao giáo sư Lê Xuân Khoa có quyền “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được””, còn tôi thì “đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất., hay nói như tác giả Bill Hayton là tôi phải “hạn chế tự do ngôn luận”? Phải chăng, “Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm” là gián tiếp chấp nhận “sự hạn chế tự do ngôn luận” của ĐCSVN? Và cuối cùng, chẳng lẽ giáo sư LXK, với cái ý “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được”” cũng muốn trở thành “cá mè một lứa” với “Tiến Sĩ triết gia”?

  7. Tri Ngộ nói:

    GS Lê Xuân Khoa viết: 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“. Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Trên thực tế, điều này rất khó xảy ra. Dân tộc nào làm được điều này thì dân tộc đó rất hùng mạnh và chắc chắn có nếp sống đẹp và văn hoá cao. Câu hỏi tôi tự đặt ra là dân tộc chúng ta chưa đạt đến trình độ này. Đời nhà Trần sở dĩ chúng ta hùng mạnh và đánh đuổi được giặc Nguyên cũng nhờ nếp sống từ ái của Vua đối với dân. Vua biết thương dân, biết tha thứ những quan thần đã phản bội Vua. Vua biết hy sinh (đang đi tu và rũ áo tu, quay lại cùng dân quân đánh đuổi giặc Nguyên). Ngày nay những người lãnh đạo nước ta là những người do Đảng chỉ định. Họ là những đảng viên chỉ biết vâng lời Đảng. Họ là những người lãnh đạo bất tài. Họ vâng lệnh Đảng một cách tuyệt đối và mù quáng. Tôi xin trích lại lời của ông Lê Duẩn: “từ đỉnh cao thắng lợi ngày nay, nhìn lại quá trình chiến đấu và trưởng thành đã qua, quân đội ta nhận thức sâu sắc rằng tất cả những chiến công và thành tựu của mình đều bắt nguồn từ đường lối cách mạng độc lập tự chủ của Đảng. Đường lối đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” (NXBQĐND, Hà Nội, 1980). Chúng ta không thể coi thường những cái nhìn rất độc đoán và nguy hiểm này của người CS. Đây là một bức tường lớn ngăn cản sự hợp lực của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại (CĐNVHN). 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước. Sao ta không nói được “thật lòng yêu nước” thì phải trước tiên từ bỏ chủ nghĩa CS, lật đổ chính quyền hiện tại và tổ chức bầu cử cho một nước VN mới có dân chủ với một tương lai sáng lạn hơn. Điều này ai sẽ làm được nếu không có quân đội trong tay. CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.

  8. Nam Phan nói:

    Giáo Sư Lê Xuân Khoa đã học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được” cuả Tiến Sĩ triết gia! Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!

  9. Hoà Nguyễn nói:

    Nhân một câu viết của ông Hoàng Trường Sa, xin có đôi lời. Theo các thông tin trên mạng, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy học ở Hà Nội từ năm 1950, và tôi hiểu có lẽ là ông dạy thêm khi tiếp tục học như phần đông các sinh viên thời đó. Ông tốt nghiệp đại học Văn Khoa và Cao đẳng Sư Phạm năm 1953, được học bổng năm 1960 để theo học đại học Sorbonne (Pháp), và ghi danh luận án tiến sĩ triết học với dề tài Phật giáo Thiền tông tại Việt Nam. Ông qua Ấn Độ nhiều lần để nghiên cứu triết học Ấn, và giảng dạy triết lý Upanishad tại đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau này, ông cũng dạy tại đại học Đà Lạt, Minh Đức và Vạn Hạnh. Trong một thời gian, tôi đọc nhiều bài ông viết về Phật giáo và Thiền tông đăng trên tạp chí Bách Khoa, với giọng văn không khác ngày nay, sáng sủa và khúc chiết. Có thời gian ngắn ông làm tổng thư ký bộ Giáo dục (tương đương thứ trưởng), và chức vụ cuối cùng ở Việt Nam là Phó Viện trưởng Ðại học Sài Gòn. Sau năm 1975 khi qua Mỹ, ông là chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), và là giáo sư thỉnh giảng Ðại học Johns Hopkins tại Washington DC. Khi mới vào Sài Gòn, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy tại trường Pétrus Ký (và Quốc gia Sư phạm gần đó), và tôi theo học giáo sư trong khoảng thời gian này. Tôi vẫn giữ nhiều hình ảnh đẹp về những thầy cũ của mình, và giáo sư là người thầy tận tâm, khả kính. Tôi còn nhớ một hôm khi bài đã giảng xong mà còn mấy phút nữa mới hết giờ, học trò hơi nhốn nháo, “thày Khoa” nói gì đó và chấm dứt với câu “giáo bất nghiêm sư chi noạ”, cả lớp nghe mà ngơ ngác, nhưng do đó cũng im lặng hơn. Mãi nhiều năm sau, tôi cũng “đứng lớp” mới hiểu hết ý nghĩa một câu nói trong nghề giáo, có lẽ đã có từ thời Khổng Tử. Tôi và các bạn học có thể thắc mắc tại sao ông thầy cũ của mình xưa kia thật hiền, nho nhã, có nét mặt rất tươi tuy ít khi cười với đám học trò, chuyên về Triết Đông, suốt đời dạy học và làm việc cho người tỵ nạn, bây giờ lại thường viết về một vấn đề chính trị gai góc vào bật nhất để dễ gặp phản ứng mạnh ở nhiều người, thuộc nhiều khuynh hướng, từ nhiều phía khác nhau đến đối nghịch. Nhưng theo tôi hiểu, việc làm hiện nay của một ông giáo đã nghỉ hưu, như vẫn chuyên cần viết sử, tham luận chính trị, có lẽ bắt nguồn từ tấm lòng và sự can trường khi còn là học sinh Trung học ở Hà Nội: ông từng bị bắt với vài người bạn vì hoạt động chống Pháp (theo thư ông gửi cho BBC) Bài viết “<i Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại ” của giáo sư Lê Xuân Khoa đáng được người Việt hải ngoại đọc và thảo luận ở các diễn đàn thích hợp, dù sẽ có nhiều người đồng ý hay phản đối quan điểm của ông. Đó là một cách nhìn, một phương sách, một giải pháp đề nghị cho một tình thế khẩn thiết lại như đang trong bế tắc. Dù thế nào, tôi cũng cảm thấy giáo sư thao thức nhiều với những suy nghĩ riêng của mính, đồng thời vẫn hy vọng, và có ước vọng lớn cho tương lai Việt Nam. Vấn đề đặt ra rất rộng, nhưng tạm thời, nên giới hạn trong ba tiền đề do ông nêu: <i1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc : Có thật hay không như giáo sư nói “ hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước “, và nguy cơ đó còn xa hay gần kề ? <i2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam : Khi điều kiện “ lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế ” không thể có được trong hiện tại, thì với hiểm hoạ Trung Quốc lớn hơn bao giờ hết, đất nước VN sẽ ra sao, và để mong cứu vãn tình thế, người Việt trong và ngoài nước có thể làm được gì. <i3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại : Bài viết gợi ý nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, nên phán định từng điểm để coi có thật sự lợi ích cho đất nước, có khả thi đối với cộng đồng người Việt hải ngoại không, và cũng xét tới làm như thế có gây cản trở gì không cho công cuộc vận động dân chủ, tự do ở VN . Khi có thể, tôi sẽ góp ý tiếp.

  10. Hoàng Trường Sa nói:

    “4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết!” (Trương Đức) Làm răng mà bảo đảm chuyện nớ được, bác Trương Đức ơi ! Tui thấy rõ là không cần chờ tới khi “hiểm họa TQ” đã qua, mà ngay hôm nay, khi “hiểm họa TQ” đang đè nặng trên Tổ quốc ta, ĐCSVN cũng xem cái hiểm họa này rất nhỏ so sánh với kẻ thù không đội trời chung của họ là khối người Việt tỵ nạn CS trên toàn thế giới mà họ đang rắp tâm triệt hạ cho bằng được. Tôi thấy rõ chuyện nớ như đang thấy lòng bàn tay mình dưới bóng đèn điện 200 watt: Các đường chỉ tay ra răng, các đốt ngón tay ra răng. Họa chăng là những người chưa có kinh nghiệm về ĐCSVN hoặc là có kinh nghiệm đấy, nhưng lại tự lừa dối chính bản thân, do quá “yêu nước” hoặc quá ngây thơ, mà hy vọng đảng “ta” đã (hay sẽ) thay đổi. Kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây do Đại Nghĩa sưu tầm: Đảng cộng sản lấy gian dối làm phương châm

  11. [...] Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại    Lê Xuân Khoa – Talawas [...]

  12. Trương Đức nói:

    “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.”(Lê Xuân Khoa) Tôi xin được xin lỗi trước giáo sư LXK, nếu trong phản hồi này có điều gì không phải! Đọc bài này tôi thấy giáo sư Khoa, khi viết bài này, như thể làm cái công việc “vá víu” lại cái “tấm áo dân chủ” đã rách bươm gần thế kỷ nay cho dân tộc VN. Và một câu hỏi hiện lên trong đầu tôi: Tại sao ông LXK không tìm cách “cởi ra” và “vứt bỏ” cái “tấm áo vá chằng vá chịt” ấy đi, và bày cách “mặc” cho dân tộc mình một “tấm áo dân chủ” hoàn toàn mới đi? Tôi xin được phát biểu vài cảm nghĩ của mình như sau: 1. Giáo sư Khoa nêu ra “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.“, thì tôi thấy, giáo sư không những không nêu ra được điều gì mới mẻ cả, mà còn “quên béng” mất một điều kiện tối quan trọng và là tiền đề cho ba điều kiện kia, là “Ngay bây giờ, càng sớm càng tốt, nên THIẾT LẬP NỀN ĐA NGUYÊN DÂN CHỦ cho VN”. Bởi vì, khi có được một nền dân chủ đa nguyên đa đảng thực sự tại VN, thì: – Điều kiện thứ nhất là “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước” sẽ được đáp ứng, bởi vì lúc đó, “lãnh đạo”(đảng hoặc liên minh các đảng thắng bầu cử tự do và được quyền thành lập chính phủ) đương nhiên phải “tài giỏi” và “thực lòng yêu nước” rồi, nếu không thì nhân dân đã không “bầu”. – Điều kiện thứ hai là “huy động được sự đoàn kết của toàn dân” cũng dễ dàng được thực hiện, bởi vì, đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền sẽ huy động được toàn thể số cử tri(nhân dân) của mình, cộng với số cử tri(cũng là nhân dân) của các đảng khác trước nguy cơ xâm chiếm Tổ quốc VN của ngoại bang. – Và như thế, điều kiện thứ ba là “vận động được sự ủng hộ của quốc tế.” chỉ là một mệnh đề kéo theo, cũng sẽ xảy ra, bởi vì cuộc kháng chiến chính nghĩa chống xâm lược của một đất nước dân chủ, bao giờ cũng được quốc tế ủng hộ. 2. Tất nhiên là giáo sư Khoa sẽ bảo tôi rằng, ông nêu ra “3 điều kiện” trên là với tình trạng hiện nay của VN. Vâng, nhưng tôi cũng xin hỏi giáo sư rằng: khi nào thì xảy ra “hiểm họa TQ”? Hiện nay thì chưa, đúng không? Vậy thì tại sao ngay bây giờ “ông Nhà nước VN” không tiến hành một cuộc “thay áo” (tôi không muốn dùng từ “thay máu”, sợ rằng ông Nguyễn Minh Triết lại bảo tôi là kẻ “thích đổ máu”!) cho dân tộc đi? “Ông Nhà nước VN” muốn đợi đến bao giờ? Và giáo sư Khoa còn muốn “vá áo” đến bao giờ nữa? “Tấm áo dân chủ” hiện giờ mà ĐCSVN đã “khoác” lên cho dân tộc hơn 80 năm qua đã “cũ rích”, đã bị “rách bươm” qua “những tháng năm cuồng nộ” và đã bị “vá chằng vá chịt” chẳng ra thể thống gì cả rồi. Nên “thay áo” đi, kể ra bây giờ, sau cuộc chiến 1954-1975 đã hơn 35 năm, là đã muộn lắm rồi, nhưng muộn còn hơn không! 3. Dân tộc VN đã mất lòng tin vào ĐCSVN, nên “Ông Nhà nước VN” có làm gì cũng là những hành động “vá víu” vớ vẩn. Cái hiện tình(sự thoái hóa về đạo đức và văn hóa của xã hội và con người, đời sống thiếu thốn nghèo đói, kinh tế đi xuống, nguy cơ mất nước, không có lối thoát,…) của đất nước VN ta chứng minh điều đó. Tất cả cũng chỉ là do toàn dân không còn tin vào Nhà nước nữa. Không có niềm tin thì khó có thể “xây dựng” hay “bảo vệ” một cái gì cả! 4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết! 5. Để tạm kết luận, tôi xin được trích lại đây lời PH của bác Lề Trái, coi như là bác LT nói hộ ý kiến của mình (Xin cám ơn bác Lề Trái!): “Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác.”

  13. [...] KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI TRƯỚC HIỂM HỌA TRUNG QUỐC Bởi ngoclinhvugia Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại [...]

  14. Lề Trái nói:

    phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế” Đã có một dữ liệu nào để bảo đảm cái giả định trên là khả thể, hay những gì xảy ra đều chỉ ra giả định trên đang mấp mé giả tưởng? Nếu dữ liệu không đỡ nổi cái giả định, thì những đề nghị trên có còn giá trị nữa hay không? Và cả bài này có đáng giá như những giả định chính trị đầy rẫy ở hải ngoại kiểu “những người hải ngoại phải làm gì”? Đôi khi muốn giải quyết vấn đề, người ta phải truy ngược lên vấn đề bắt nguồn từ đâu, và giải quyết từ gốc thay vì cứ chữa triệu chứng kiểu tương tylenol cho bệnh liệt kháng đơn thuần chỉ vì dễ nhiễm lạnh. Nhân tiện, tôi nói luôn: Một trong những kết quả cuối cùng của Marxism là chủ nghĩa thực dân mới. Vì nó ở mức cao hơn, nên có người đã giả định (theorize) là thực dân tự nguyện ie vũ lực phần lớn mang ý nghĩa tượng trưng. Tiếc dân Đông Âu hình như nhận ra nên cứ cù nhầy cù dưa, còn lòi ra anh Nam Tư cứng đầu cứng cổ. Nhưng sự xuất hiện của xe tăng LX (cũ) ở Tiệp và Hung năm nào là những dấu hiệu đáng kể. VN & TQ có thể sự chuyển tiếp sang thực dân mới sẽ suôn sẻ hơn, tức là trên phương diện lý thuyết, rất có thể VN sẽ thành 1 tỉnh không thể thiếu của TQ, hay ít nhất 2 nền hành chính sẽ sáp nhập. Chừng nào chuyện này xảy ra? Thiển ý của tôi, VN là điểm nổ của Critical Mass TQ. Hiện giờ chưa xảy ra vì TQ vẫn còn nén mình. Tới 1 lúc nào đó khi TQ đã đủ sức “vươn vai đứng dậy sáng lòa”, VN nếu chưa bị thôn tính bằng chính trị sẽ lãnh ngay hậu quả quân sự. TQ muốn tiến ra thế giới sẽ phải bước qua VN. Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác. Nếu dân ta cứ để sự thôn tính xảy ra, tôi sẽ buồn, rất buồn nữa là đàng khác. Nhưng để gỡ gạc, tôi đặt sẵn cục gạch xí chỗ trong những người ủng hộ giả thuyết trên. Ngoài lề 1 tí, tưởng đã ăn chắc vụ VN vào Cambodia và TQ chiếm Tây Tạng, LHQ lao vào cứu 1 bàn thua trông thấy vụ VN/Cambodia. TQ/Tây Tạng thuộc loại thực dân thẳng thừng ie bạo lực “không” tượng trưng, nên bên pro-marx cãi là không tính. TQ/VN là hy vọng cuối cùng!

  15. Hoàng Trường Sa nói:

    “Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa) Tôi đọc bài này của Giáo sư Lê Xuân Khoa đang ngon lành, đến đoạn này thì KHỰNG lại luôn, mồ hôi đổ toát ra dù lúc này bên Úc tiết trời đang giá lạnh. Dù kính trọng Giáo sư (một phần do nể bác Hòa Nguyễn, một học trò cũ của Giáo sư) và ghi nhận thiện chí của Giáo sư Khoa, tôi thấy Giáo sư có vẻ quên bài học lịch sử năm 1945 quá nhanh. Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (nguyên văn) mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua. Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946). Cái tiền đề của Giáo sư Khoa rằng ĐCSVN cũng muốn chống lại sự xâm lấn bành trướng của TQ, theo ngu ý, là một tiền đề còn quá mù mờ chưa thể tin ngay được, cần xem kỹ lại, bởi vì ngay cả việc người dân trong nước chỉ muốn nói lên câu “Hoàng Sa và Trường Sa là của VN” mà cũng bị nhà nước CS ngăn cấm và đàn áp. Tôi xin lỗi phải tạm ngưng đọc tiếp bài này cho đến khi HOÀN HỒN, sau đó sẽ tính lại. Dù sao cũng phải cám ơn tác giả Lê Xuân Khoa đã cất công viết bài này để mọi người cùng suy ngẫm.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , , , , | 11 phản hồi »

576. TRUNG QUỐC- CƯỜNG QUỐC BẤT ỔN

Đăng bởi anhbasam on 06/05/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC- CƯỜNG QUỐC BẤT ỔN

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Sáu, ngày 16-4-2010


Ramesh Thakur, Hiệu trưởng trường quan hệ quốc tế Balsillie, Giáo sư khoa học chính trị Đại học Waterloo (Canađa), vừa có bài viết trên báo “Công dân Ốttaoa” đánh giá về vị thế của Trung Quốc hiện nay như sau:

Quan hệ Mỹ -Trung sẽ trở thành trục then chốt của trật tự thế giới hậu đơn cực. Quan điểm của Phương Tây về Trung Quốc có xu hướng dao động giữa đối đầu và thân thiện dẫu ngày càng thổi phồng lên hoặc làm giảm đi tầm quan trọng của Trung Quốc. Đánh giá ôn hòa cho rằng Trung Quốc đang nắm giữ vị trí quan trọng, đầy trách nhiệm trong việc quản lý trật tự thế giới và khu vực. Trong khi đó, các đánh giá bi quan thì lo ngại sự cứng đầu cứng cổ của Trung Quốc trong một loạt các vẫn đề trên thế giới.

Các cuộc chiến tranh trị giá 3.000 tỷ USD tại Irắc và Ápganixtan đã làm Mỹ vỡ nợ. Và việc Mỹ chấp nhận nhập hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc cũng như dịch vụ của Ấn Độ cũng làm suy giảm khả năng của Mỹ trong việc cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ để thanh toán các chi phí Mỹ đã trang trải.

Nền kinh tế Mỹ vốn là nền kinh tế lớn nhất, cân bằng nhất, hiệu quả nhất và sáng tạo nhất. Nhưng hiện nay, kinh tế Mỹ chất đầy gánh nặng nợ nần, thâm hụt và bất ổn. Thâm hụt của Mỹ, dự kiến chiếm khoảng 11% sản lượng kinh tế trong năm 2011, sẽ vẫn chiếm khoảng 5% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 2020. Hệ thống chính trị dường như hoạt động bất bình thường của Mỹ làm thất bại tất cả các nỗ lực giải quyết các vấn đề về cấu trúc. Nếu vào cuối thập kỷ này, Mỹ vẫn còn là con nợ lớn nhất thế giới (như dự báo kinh tế Mỹ thiếu độ tin cậy trong 10 năm tới), liệu Mỹ sẽ vẫn còn là cường quốc lớn nhất thế giới?

Trung Quốc là thị trường ôtô lớn nhất thế giới tính theo số lượng, nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới và sẽ có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong thương mại thế giới trong một thời gian. Mỹ vẫn là trung tâm tài chính và tiêu thụ của thế giới nhưng trung tâm sản xuất mới của thế giới lại là Trung Quốc. Trung Quốc không còn phụ thuộc vào thị trường, bí quyết quản lý và công nghệ của Mỹ và cũng không phụ thuộc vào sức mạnh của Mỹ làm đối trọng trước mối đe dọa Liên Xô cũ. Là một quốc gia có ảnh hưởng lớn tới việc định giá năng lượng, khoáng sản và các loại hàng hóa khác, Trung Quốc cũng là quốc gia thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính lớn của thế giới (không tính trên đầu người), một thủ phạm chính gây biến đổi khí hậu toàn cầu.

Các nhà phân tích tại Mỹ lập luận rằng sự mất lòng tin về quan điểm của phương Tây đang dẫn đến sự mất uy tín đối với Oasinhtơn về các chính sách thị trường tự do, ủng hộ thương mại và toàn cầu hóa và được thay thế bằng sự nhất trí đối với Bắc Kinh về một quốc gia  có thị trường vốn được kiểm soát chặt chẽ theo chỉ đạo của nhà nước và có quá trình đưa ra quyết định độc đoán có thể gây khó khăn cho việc lựa chọn chiến lược và việc đầu tư dài hạn nhưng không bị bối rối bởi các cuộc thăm dò hàng ngày.

Mỹ càng thể hiện thiện chí bao nhiêu thì Trung Quốc càng cứng rắn bấy nhiêu. Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Barack Obama hồi tháng 11/2009 thể hiện điều đó. Việc ông Obama từ chối gặp lãnh tụ tôn giáo Đạtlai Lạtma trước chuyến thăn Trung Quốc đã củng cố thái độ tượng trưng của Mỹ. Cuộc gặp giữa Tổng thống Obama và Đạt lai Lạt ma sau đó tại Nhà Trắng đã nhận được sự cảnh báo mạnh mẽ từ Bắc Kinh.

Tuy nhiên, khi Mỹ cần Trung Quốc cung cấp tài chính cho các khoản nợ khổng lồ, thì sự suy thoái của kinh tế Mỹ đã làm giảm mạnh việc bán các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc tại thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới và cũng có thể giảm dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc.

Việc Trung Quốc vốn tin rằng trật tự thế giới với một siêu cường và nhiều cường quốc khác sẽ vẫn tiếp tục. Các cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan đẩy nhanh sự suy thoái về quân sự, tài chính và đạo đức đối với Mỹ. Để bảo vệ lợi ích của mình, một số người Trung Quốc đã cân nhắc làm thế nào họ có thể bắt kịp tốc độ phát triển của Mỹ. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính vốn đã cho thấy sự vượt trội của Trung Quốc về khả năng phục hồi, các nhà phân tích Trung Quốc đã có hàng loạt các bình luận về sự suy thoái của Mỹ.

Lần đầu tiên trong 200 năm qua, thế giới phải can dự với một cường quốc Trung Quốc thống nhất đã trở nên mạnh mẽ hơn trong nhiều vấn đề, bao gồm vấn đề biến đổi khí hậu, tự do Internet và tranh chấp biên giới với Ấn Độ. Nhưng như vậy có phải Trung Quốc đã vượt quá các điều kiện so với vị thế mới của Trung Quốc. Đế chế Trung Hoa không có thời kỳ quá độ lịch sử, triết học hay văn học về quan hệ ngoại giao như là một cường quốc trong một hệ thống các cường quốc của thế giới. Điều này sẽ trở thành vấn đề đặc biệt liên quan khi ảnh hưởng của Trung Quốc đối với toàn cầu ngày càng tăng và các lợi ích, sự hiện diện, hoạt động của Trung Quốc phát triển khắp thế giới.

Việc đối xử với Trung Quốc như một kẻ thù có thể biến thực thể này thành một quốc gia đoàn kết. Nhưng liệu Mỹ có đảm bảo cho sự trỗi dậy của một quốc gia độc đảng- đối thủ địa chính trị xứng đáng duy nhất của Mỹ hay không?

Chính sách Trung Quốc của các chính quyền cựu Tổng thống Clinton và cựu Tổng thống Bush đã cho thấy giả định rằng việc hướng tới thương mại tự do và thời đại thông tin sẽ tạo ra và tăng cường sức mạnh các lực lượng tự do và thay đổi chính trị. Nếu như giả định này sai? Các bằng chứng cho đến nay chủ yếu cho thấy theo chiều hướng ngược lại.

Việc Oasinhtơn đã thông qua việc bán vũ khí cho Đài Loan trị giá 6 tỉ USD với tính toán rằng với hơn 1.300 tên lửa của Trung Quốc hướng tới

Đài Loan, việc thúc đẩy chuẩn bị quân sự cho sau này có thể là một tuyến phòng hộ khôn ngoan hơn là phải bảo vệ Đài Loan khỏi bị tấn công. Nó đồng thời làm tăng nguy cơ thất bại và chi phí để thành công đối với Bắc Kinh khi tiến hành cuộc chiến. Bắc Kinh đã trả đũa ngay lập tức, đình chỉ trao đổi quân sự song phương và áp đặt lệnh trừng phạt các công ty bán vũ khi cho Đài Loan.

Tuy nhiên, các tính toán về sự suy giảm tương đối của Mỹ nhiều khả năng thúc đẩy Bắc Kinh hướng tới việc thực hiện biện pháp đòn bẩy đối với chính sách quốc tế của Mỹ hơn là đối đầu trực tiếp. Trung Quốc sẽ muốn xác định lại trật tự đa phương theo các điều kiện của Trung Quốc, gạt sang một bên các vấn đề về nhân quyền, các giá trị chính trị thay vào đó tập trung vào giải quyết các vấn đề thường gặp. Trung Quốc sẽ có thiện chí hơn, có khả năng hơn trước kia trong việc định hình môi trường quốc tế và trật tự thế giới theo hướng chủ động hơn là phản ứng thụ động.

Sự phát triển của Trung Quốc được người ta chào đón như là một đối trọng với sức mạnh quân sự và sự kiêu ngạo chính trị của Mỹ. Trung Quốc cũng có thể là động lực tăng trưởng của thế giới. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc không thận trọng, họ có thể phải đối phó với sự chống đối mạnh mẽ vì nhiều quốc gia, các tổ chức đa quốc gia và các tổ chức phi chính phủ bắt đầu chống lại sự độc đoán gay gắt của Trung Quốc.

Việc Google đe dọa rời khỏi Trung Quốc có thể là một điềm báo trước về tình trạng quốc tế đang thay đổi. Cuộc chiến của Google với Trung Quốc nhiều khả năng được thúc đẩy bởi tính toán thương mại hơn là sự lo ngại về tự do thông tin.

Vì hầu hết các công ty nước ngoài đã phát hiện ra không phải dễ dàng để chuyển từ tiềm năng to lớn của Trung Quốc thành lợi nhuận to lớn. 1/3 cổ phần của Google tại thị trường của Trung Quốc chỉ mang lại 5% doanh thu toàn cầu của Google. Nếu có một sân chơi bình đẳng, Google có khả năng giành thị phần tại thị trường lớn hơn từ Baidu – đối thủ cạnh tranh chính tại Trung Quốc. Việc đánh giá rủi ro về chiến lược phát triển của Bắc Kinh có thể phản ánh phân tích đắt giá này.

Trong khế ước xã hội ngầm tại Trung Quốc, các công dân ngầm bằng lòng với sự kiểm soát chính trị để đổi lại chính phủ tiếp tục đem lại sự thịnh vượng, đen lại cho họ hàng hóa và dịch vụ giống như phương Tây. Do chủ nghĩa cộng sản mất uy tín, chính phủ thiếu một hệ tư tưởng hợp pháp để tăng trưởng kinh tế. Nếu điều này đang bị đe dọa bởi sự rút khỏi Trung Quốc của Google và các công ty đa quốc gia lớn khác, sự thất bại chiến lược đối với Chính quyền Trung Quốc có thể lớn hơn khoản thất thu từ các nguồn lợi kiếm được của các công ty.

Trung Quốc đang đắm mình trong sự thừa nhận ngày càng tăng về vị thế của họ. Trung Quốc hạnh phúc với những lợi ích thu được từ vị thế của họ hiện nay, chấp nhận gánh nặng của việc trở thành một cường quốc.

Suy nghĩ đó giúp giải thích về sự kiểm soát tiền tệ nhằm bảo vệ xuất khẩu của Trung Quốc trong khi các quốc gia khác lại chịu thiệt, cũng như việc Bắc Kinh không có thiện chí cam kết việc cắt giảm có sự kiểm chứng của quốc tế về khí thải gây hiệu ứng nhà kính và tranh thủ các chế độ độc tài bị quốc tế cô lập để tiếp cận nguồn nguyên vật liệu và các nguồn tài nguyên./.

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 3 phản hồi »

566. Thông cáo Thượng Hải

Đăng bởi anhbasam on 29/04/2010

pbs.org

Thông cáo Thượng Hải

27-02-1972


Ngày 27 tháng 2 năm 1972, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ban hành một thông cáo chung, đỉnh cao của chuyến viếng thăm lịch sử kéo dài một tuần tới Cộng hòa Nhân dân [Trung Hoa] của Nixon và Kissinger. Kissinger đã bắt đầu đưa ra bản thảo Thông cáo Thượng Hải với Chu Ân Lai vào tháng 10 năm trước, khi ông ta gặp thủ tướng Trung Quốc tại Bắc Kinh đặt nền tảng cho chuyến thăm sắp tới của Nixon. Kissinger tiếp tục đưa ra các chi tiết trong hội nghị thượng đỉnh tháng 2 năm 1972, thường là vào những lần họp khuya với Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Qiao Guanhua.

Theo thông cáo, cả hai nước cam kết đi đến “bình thường hóa” quan hệ, và để mở rộng “tiếp xúc giữa người với người” cùng các cơ hội làm ăn. Trong một tham chiếu úp mở dành cho Liên Xô, thông cáo tuyên bố rằng trong hai quốc gia, không nước nào “tìm kiếm quyền bá chủ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và mỗi nước chống lại các nỗ lực của bất kỳ nước nào khác hoặc nhóm các nước khác để thiết lập quyền bá chủ”.

Trước các cuộc đàm phán, nhận ra rằng Trung Quốc và Mỹ có nhiều vị trí không thể dung hòa được, Chu Ân Lai đề nghị một bản thông cáo không chính thống. Hai bên nhất trí về cơ bản không đồng ý, mỗi bên nêu rõ quan điểm của mình trong các phần riêng biệt khi cần thiết. Về vấn đề Việt Nam gai góc, ví dụ, Hoa Kỳ xác nhận kế hoạch hòa bình mới nhất của Nixon, trong khi Trung Quốc bày tỏ sự hỗ trợ vững chắc cho các đề nghị của cộng sản.

Tuy nhiên, bất chấp kế hoạch về các tuyên bố đơn phương, Đài Loan vẫn là một trở ngại trong suốt quá trình đàm phán. Trong khi Hoa Kỳ đang tìm cách cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, nhưng vẫn chính thức công nhận chính phủ Quốc dân của Tưởng Giới Thạch về Đài Loan.

Thực ra, Hoa Kỳ đã đi từng bước nhỏ hướng tới một chính sách “hai Trung Quốc” trong nhiều năm. Chỉ bốn tháng trước đó, khi Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu về việc có nên thừa nhận nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hay không, Mỹ đảo ngược [quan điểm] đối lập 20 năm để bố trí chỗ ngồi cho Trung Quốc, nhưng phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm trục xuất Đài Loan. Cuối cùng, Mỹ đã không còn tranh đấu cho đại diện kép. Trung Quốc đã được nhận vào Liên Hiệp Quốc, Đài Loan đã bị loại ra – và Mỹ đã bỏ các quan hệ lừa dối với hai nước mà cả hai cảm thấy mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của cả Trung Quốc.

Người Trung Quốc coi sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Đài Loan là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và ép quân đội Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi hòn đảo. Nixon và Kissinger muốn điều kiện rút quân phải có sự giúp đỡ của Trung Quốc trong việc kết thúc chiến tranh Việt Nam. Và trong khi Trung Quốc xem các thỏa thuận của mình với Đài Loan là một vấn đề nội bộ một cách nghiêm túc, được xử lý mà họ thấy phù hợp, người Mỹ nhấn mạnh rằng Trung Quốc giải quyết vấn đề Đài Loan mà không được sử dụng vũ lực.

Cuối cùng, cả hai bên đã nhượng bộ. Như Henry Kissinger đã viết trong hồi ký của mình, cả Mỹ lẫn Trung Quốc, không bên nào muốn vấn đề Đài Loan là trở ngại trong mối quan hệ mới giữa hai bên: “Chủ đề cơ bản trong chuyến đi của Nixon – và Thông cáo Thượng Hải – là để vấn đề Đài Loan lại cho tương lai, để hai nước lấp cái hố ngăn cách hai mươi năm và theo đuổi chính sách song song nơi mà hai bên có cùng quyền lợi”.

Hoa Kỳ tuyên bố “mối quan tâm của họ trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan là do chính người Trung Quốc”, và khẳng định tất cả số quân Mỹ rút khỏi hòn đảo như là “mục tiêu cuối cùng”. Hoa Kỳ cũng đồng ý “giảm dần các lực lượng và các căn cứ quân sự ở Đài Loan để giảm căng thẳng trong khu vực”, do đó cho phép Trung Quốc giúp giảm bớt chiến tranh Việt Nam.

Về phần mình, Trung Quốc kiên quyết bác bỏ bất kỳ sự tính toán nào về “hai nước Trung Quốc”, tuyên bố dứt khoát rằng “Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc” và “Đài Loan là một tỉnh của Trung Quốc”. Hoa Kỳ đã khéo léo thừa nhận “rằng tất cả người Trung Quốc ở hai bên eo biển Đài Loan duy trì một nước Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc,” nhưng tránh các câu hỏi ai nên lãnh đạo “nước một Trung Quốc” này.

Phản đối vào phút cuối của Ngoại trưởng Rogers được xem như là một sự lảng tránh. Nixon và Kissinger đã cố tình giữ Rogers và nhân viên của ông ngoài các cuộc đàm phán về thông cáo, và khi các viên chức Bộ Ngoại giao cuối cùng đã nhìn thấy văn bản, họ đã phản đối ngay lập tức.

Tất cả các đối tác có ký hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ ở châu Á đã được được gọi tên cụ thể – ngoại trừ Đài Loan. Khi Rogers cố gắng đưa vấn đề để Nixon chú ý, Tổng thống giận dữ. Nixon biết ông không thể bỏ các cam kết của Mỹ dành cho Đài Loan mà không hứng chịu cơn thịnh nộ của những người ủng hộ bảo thủ của ông ở nhà. Ông không có đủ khả năng đón nhận hình ảnh xấu trước công luận nếu Rogers đã phá vỡ tôn ti và “rò rỉ” thông tin cho báo chí. Rogers đã cố gắng đưa thông cáo trở lại bàn đàm phán – làm Nixon và Kissinger bực mình – nhưng cuối cùng, cả hai bên chỉ đơn giản là bỏ tất cả các tài liệu tham khảo đối với các đối tác có ký hiệp ước với Hoa Kỳ, thay vì ép buộc trong vấn đề Đài Loan.

Thực tế, Nixon và Kissinger đã đi xa hơn nữa về Đài Loan trong đàm phán riêng của họ với Chu hơn là trong thông cáo. Theo ghi chú đã được đưa ra và các bản dịch các cuộc nói chuyện đã được tiết lộ trong thời gian gần đây cho thấy, phía Mỹ đã đề nghị Chu bảo đảm rộng rãi rằng họ dự định mở quan hệ ngoại giao đầy đủ với Bắc Kinh càng sớm càng tốt – và đã sẵn sàng hy sinh Đài Loan để làm điều đó. Tuy nhiên, theo sau vụ bê bối Watergate, Nixon đã không thể thực hiện những lời hứa hẹn này, và Hoa Kỳ không thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Trung Quốc cho đến năm 1979.

Tuy nhiên, một khi thông cáo Thượng Hải đã được ban hành, các văn bản đã được đặt trên tường. Như ông James Mann, nhà báo và học giả Trung Quốc đã viết: “…Bước đầu của Nixon nhằm truyền đạt sự chấp nhận của Mỹ, lần đầu tiên, về kết quả của cuộc nội chiến Trung Quốc và thất bại của Tưởng Giới Thạch. Hoa Kỳ ngừng thách thức quyền lực cai trị đất nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc…. Việc chấp nhận người Mỹ (trong thông cáo) và, thật ra để nắm lấy (trong các cuộc hội đàm riêng tư của Nixon) chính sách một Trung Quốc nhằm chi phối sự điều khiển của người Mỹ kể từ thời điểm đó trở đi”.


Người dịch: Ngọc Thu

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , | 1 Comment »