BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Quan hệ Quốc tế’ Category

587. MỸ THÚC ĐẨY CHIẾN LƯỢC “QUAY TRỞ LẠI” ĐÔNG NAM Á

Đăng bởi anhbasam on 23/07/2010

MỸ THÚC ĐẨY CHIẾN LƯỢC “QUAY TRỞ LẠI” ĐÔNG NAM Á


THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Chủ nhật, ngày 18-7-2010

Chủ nhật, ngày 18-7-2010

(Tạp chí “Thế giới đương đại” – Trung Quốc)

Tháng 7/2009, Ngoại trưởng Mỹ Hillary đã tham dự hàng loạt Hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Tại Hội nghị Ngoại trưởng Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 16, bà đã đại diện Chính phủ Mỹ ký “Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á” (TAC), và cam kết trong thời gian tới, Mỹ sẽ cử cơ quan ngoại giao thường trực tới Ban thư ký ASEAN ở Giacácta. Việc làm này đã phá vỡ trạng thái tách rời TAC trong khoảng thời gian dài của Mỹ, và đã thay đổi một cách triệt để thái độ lạnh nhạt của Chính quyền Bush đối với ASEAN, đánh dấu bước tiến thực chất trong việc Mỹ tiến hành “tiếp xúc sâu sắc” đối với Đông Nam Á bằng “thực lực khéo léo”. Từ đó, Mỹ điều chỉnh phương thức can dự vào Đông Nam Á, lên tiếng tuyên bố chiến lược “quay trở lại” Đông Nam Á.

“Khéo léo” quay trở lại Đông Nam Á, Chính quyền Obama đang hành động

Chính quyền Obama “quay trở lại” Đông Nam Á lần này lấy phương thức “tiếp xúc sâu sắc” như triển khai giao lưu và hợp tác bằng các hình thức làm chủ đạo, muốn can dự sâu vào các công việc của Đông Nam Á bằng phương thức “mềm mỏng”, “linh hoạt”, “khéo léo”. Chính phủ mới lên cầm quyền bắt đầu tiến hành cuộc tấn công lớn nhằm vào Đông Nam Á, chính quyền mới sau khi lên nắm quyền một tháng liền đưa ra chính sách mới châu Á bao gồm việc điều chỉnh chính sách đối với ASEAN. Sau khi nhậm chức Bộ trưởng ngoại giao, Hillary chọn nơi đầu tiên đến thăm là Inđônêxia – “nước đầu tàu” của khu vực ASEAN, và hứa sẽ “tiếp xúc sâu sắc” với ASEAN, thổi vang tiếng kèn “quay trở lại” Đông Nam Á. Chuyến thăm này của bà Hillary đã phá vỡ quy luật thường lệ đến thăm châu Âu hoặc các quốc gia Trung Đông của ngoại trưởng Mỹ khi mới nhậm chức trong gần 50 năm qua, là bằng chứng tốt nhất cho thấy chính phủ mới của Mỹ coi trọng châu Á, coi trọng ASEAN. Hillary xem chuyến thăm châu Á này là “chuyến đi lắng nghe”, tăng cường lắng nghe và mở rộng giao lưu đàm phán với các nước. Bà khẳng định vị trí “dẫn đầu” của Inđônêxia trong khối ASEAN, nhấn mạnh tầm quan trọng của Inđônêxia đối với Mỹ trong việc duy trì lợi ích chiến lược ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và thế giới Hồi giáo. Bà còn đánh giá cao giá trị chiến lược của ASEAN. Tại Giacácta, bà tỏ rõ “việc Mỹ tăng cường quan hệ với ASEAN là con đường tốt nhất để giải quyết các vấn đề như khủng hoảng kinh tế toàn cầu, an ninh toàn cầu”, “ASEAN là vô cùng quan trọng đối với toàn cầu trong tương lai, Mỹ cần phải xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với ASEAN và có sự hiện diện hùng mạnh ở ASEAN”. Trong thời gian thăm Inđônêxia, bà Hillary lần đầu tiên với tư cách ngoại trưởng đã tới thăm trụ sở thư ký ASEAN ở thủ đô Giacácta, và còn bày tỏ ý muốn gia nhập TAC. Trong các nước đối tác, đối thoại của ASEAN, Mỹ là nước đầu tiên cử đại sứ đến ASEAN.

Trong thời kỳ Bush (con) cầm quyền, nhất là thời kỳ cuối cầm quyền của ông, Mỹ ngày càng thể hiện thái độ “thờ ơ” đối với ASEAN. Cựu ngoại trưởng Rice trong 3 năm cầm quyền, 2 lần vắng mặt tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Năm 2007 là tròn 30 năm Mỹ thiết lập quan hệ đối tác, đối thoại với ASEAN, hai bên lên kế hoạch sắp xếp hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN đã lâu nhưng cuối cùng cũng bỏ dở. Lần này, Hillary dẫn đầu đoàn đại biểu tham gia hội nghị ARF, tại sân bay thủ đô Băngcốc, bà hào hứng tuyên bố với thế giới rằng “nước Mỹ đã quay trở lại”, “tôi muốn gửi đến một thông điệp hết sức rõ ràng: Mỹ đang quay trở lại Đông Nam Á, chúng tôi đang hết sức nỗ lực cho mối quan hệ đối tác ở Đông Nam Á”, từ đó hình thành nên sự so sánh rõ ràng với người tiền nhiệm! Sau đó, tại hội nghị, bà còn bày tỏ Chính quyền Obama rất coi trọng Đông Nam Á, sẽ triển khai hợp tác toàn diện với ASEAN, “chủ trương mạnh mẽ của tôi là nước Mỹ nên can dự sâu hơn vào các công việc của châu Á”. ASEAN đề ra, muốn tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á cần phải có ba điều kiện cơ bản sau: 1- có quan hệ đối tác, đối thoại toàn diện với ASEAN; 2- đã tham gia “Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á”; 3- có quan hệ chính trị và kinh tế thực chất với tổ chức ASEAN. Mỹ trở thành đối tác, đối thoại toàn diện của ASEAN, duy trì mối quan hệ hợp tác chính trị, kinh tế thực chất với ASEAN. Việc Mỹ chủ động gia nhập TAC lần này đã đáp ứng đầy đủ điều kiện cơ bản cuối cùng đó là vươn tới Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, xóa đi những trở ngại trong việc tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, có lợi cho Mỹ cản trở tiến trình hợp tác khu vực châu Á-Thái Bình Dương, duy trì lợi ích chiến lược của mình ở Đông Nam Á. Trong chuyến thăm này, Hillary còn tổ chức hội nghị với ngoại trưởng các nước Campuchia, Thái Lan, Lào, Việt Nam để cùng nhau  bàn bạc về ý tưởng xây dựng khung hợp tác mới giữa Mỹ với 4 nước hạ lưu sông Mê Công. Mỹ có ý muốn xây dựng khung “hợp tác Mỹ-Mê Công” với 4 quốc gia đó, triển khai hợp tác trong ba lĩnh vực bảo vệ môi trường, y tế, giáo dục, thiết lập mối quan hệ giữa Ủy ban sông Mê Công với ban quản lý sông lớn nhất nước Mỹ – Missisipi. Ngoài ra, Chính phủ Mỹ còn quyết định sẽ xây dựng cơ quan liên lạc với ASEAN tại thủ đô Giacácta (Inđônêxia). Việc Mỹ tham dự một loạt hội nghị của ASEAN lần này, đánh dấu sự thúc đẩy mang tính thực chất của chiến lược “quay trở lại”.

Mỹ muốn gì khi “quay trở lại” bằng “thực lực khéo léo”?

Việc Mỹ thay đổi phương thức quay trở lại Đông Nam Á đã phản ánh phán đoán của Chính quyền Obama đối với các lực lượng chủ yếu trong và ngoài khu vực trong canh bạc của khu vực Đông Nam Á, là sự điều chỉnh chính sách ngoại giao “học thuyết đơn phương” của Chính quyền Bush, cũng là kết quả trực tiếp của việc nỗ lực thúc đẩy ngoại giao bằng “thực lực khéo léo”.

Trước hết, Mỹ ngày càng coi trọng sức mạnh chỉnh thể của ASEAN và vị thế chiến lược của ASEAN ngày càng được nâng lên trong canh bạc giữa các nước lớn. Do nguyên nhân như nội bộ có sự khác biệt lớn, thiếu hạt nhân lãnh đạo, trong suốt khoảng thời gian dài, ASEAN ở vào tình trạng hiệu quả thấp, nhưng gần đây, tiến trình nhất thể hóa ASEAN thực sự được thúc đẩy. Ngày 20/11/2007, Đông Nam Á thông qua “Hiến chương ASEAN”, cố gắng đến năm 2015 xây dựng khối an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội ASEAN. Tháng 12/2008, “Hiến chương ASEAN” chính thức được đưa vào thực thi, Mỹ dần cảm thấy không thể coi nhẹ ảnh hưởng của tiến trình nhất thể hóa ASEAN đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và vai trò quan trọng của ASEAN với sức mạnh tổng thể của mình trên trường quốc tế. Điều quan trọng hơn là trong mấy năm gần đây, các cường quốc chủ yếu của thế giới liên tục tăng cường quan hệ với ASEAN, vị thế chiến lược của ASEAN trong cục diện châu Á-Thái Bình Dương không ngừng nâng lên. Nhật Bản liên tục thúc đẩy kế hoạch viện trợ kinh tế cho các nước ASEAN, Hàn Quốc cũng lợi dụng hội nghị kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ đối thoại với ASEAN để xích gần với ASEAN, Ôxtrâylia, Niu Dilân cũng hoàn thành việc ký Hiệp định khu thương mại tự do với ASEAN. Mấy năm gần đây, Trung Quốc thông qua các chương trình hợp tác lớn như nguồn năng lượng, giao thông không ngừng làm vững chắc mối quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN, ảnh hưởng “thực lực mềm” đối với các nước Đông Nam Á cũng không ngừng nâng lên. Năm 2008, kim ngạch thương mại song phương giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đã đạt mức 231,1 tỷ USD. Ngày 1/1/2009, sau khi khu thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN bước đầu được thành lập, hợp tác kinh tế thương mại song phương sẽ chào đón một đỉnh cao mới. Những điều này đã khiến Mỹ vô cùng lo lắng. Giới học thuật Mỹ nhiều lần tổ chức các cuộc nghiên cứu, thảo luận với các chủ đề như “Làm thế nào để đối phó với ‘sự bành trướng’ của Trung Quốc ở Đông Nam Á cũng như vị trí lãnh đạo của Mỹ ở Đông Nam Á và những thách thức đến từ Trung Quốc”. Chính quyền Obama ra sức đầu tư vào ASEAN, ngoài việc phản ánh sự theo đuổi ưu thế cạnh tranh chiến lược, bảo đảm lợi ích phát triển kinh tế, Mỹ càng phải xuất phát từ những tính toán chiến lược ở tầng nấc sâu nhằm cân bằng sức ảnh hưởng của bản thân. Chính quyền Obama lựa ý chiều theo sự mong đợi gia nhập của ASEAN trong nhiều năm qua là gia nhập TAC, với ý đồ thay đổi trạng thái “mất cân bằng chiến lược” mà sức ảnh hưởng của Mỹ có phần hạ xuống trong canh bạc giữa các nước lớn ở Đông Nam Á, theo đuổi việc nắm lại quyền chủ đạo các công việc ở Đông Nam Á, và làm chậm lại xu thế hợp tác thiết thực, sâu sắc giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.

Thứ hai, Chính quyền Obama bắt tay vào điều chỉnh chính sách can dự bao vây mà lâu nay không có hiệu quả của Chính quyền Bush đối với Mianma, nâng cao khả năng can dự đối với các nước ASEAN. Trong thời gian cầm quyền, Chính quyền Bush luôn thể hiện sức mạnh đối với Mianma, không ngừng gia tăng trừng phạt kinh tế và gây sức ép đối với Chính quyền quân sự Mianma. Chính quyền Obama ý thức được “sự vô hiệu lực” của Chính quyền Bush đối với chính sách của Mianma, thừa nhận không thể thay đổi hiện trạng trong việc phong tỏa kinh tế đối với Mianma, hy vọng đưa ra một số điều chỉnh đối với những chính sách quá cứng nhắc của Mianma. Tháng 8/2003, Chính quyền Bush tuyên  bố thực thi trừng phạt kinh tế đối với Mianma, đến tháng 9/2007 bắt đầu tăng cường các biện pháp trừng phạt, trong đó bao gồm kiểm soát chặt chẽ đối với việc xuất khẩu của Mianma, đóng băng tài sản của các quan chức Chính phủ Mianma tại Mỹ, và cấm các công ty Mỹ hoặc cá nhân tiến hành trao đổi thương mại với những quan chức Mianma bị trừng phạt. Tháng 5/2009, Chính quyền Obama tuyên bố kéo dài 1 năm trừng phạt kinh tế đối với Mianma kể từ ngày 20/5. Có thể thấy, biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ đối với Mianma trong thời gian ngắn rất khó xóa bỏ. Nhưng dưới sự chỉ dẫn của lý luận ngoại giao “thực lực khéo léo”, bên cạnh việc tiếp tục thực thi trừng phạt kinh tế đối với Mianma, Mỹ sẽ còn áp dụng những biện pháp linh hoạt như “tiếp xúc”, soạn ra sách lược thực dụng có hiệu quả hơn, tăng cường khả năng can dự vào các công việc của Mianma. Trong những năm gần đây, các nước liên minh châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ bao gồm Nhật Bản đã nhiều lần khuyên Mỹ gia nhập TAC, nhưng Mỹ lại luôn chỉ đứng ngoài nhìn và ngưỡng mộ, nguyên nhân chủ yếu là các nước gia nhập TAC phải cam kết “tôn trọng chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”. Do muốn bảo đảm chắc chắn quyền phát ngôn về các vấn đề ở Mianma, Campuchia và có thể duy trì sức ép và can thiệp, nên Mỹ chần chừ không muốn gia nhập TAC. Sự thay đổi triệt để thái độ của Chính quyền Obama đối với TAC ở mức độ rất lớn cũng thể hiện ở việc điều chỉnh chính sách của họ đối với Mianma. Đương nhiên, việc Mỹ thay đổi phương thức can thiệp cũng liên quan tới Chính quyền Obama trong việc Triều Tiên phát triển quan hệ hợp tác hạt nhân với Mianma, cũng như việc Mỹ liên kết với ASEAN càng có lợi cho Mỹ “đối phó” với Triều Tiên và Mianma.

Thứ ba, Mỹ coi ASEAN là “nơi thực nghiệm” thúc đẩy ngoại giao “thực lực khéo léo”. Cuối cùng, Mỹ cũng nhượng bộ và tích cực tham gia một loạt hội nghị thượng đỉnh ASEAN, điều này đánh dấu đường lối ngoại giao “thực lực khéo léo” của Chính quyền Obama đối với Đông Nam Á bắt đầu có những bước đi mang tính thực chất. Lâu nay, Mỹ thúc đẩy thương mại với Đông Nam Á, coi nơi đây là cánh sườn quan trọng trong chiến lược châu Á của mình. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ tích cực thu gom các tổ chức liên minh quân sự tại Đông Nam Á. Cùng với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, Mỹ dường như cũng dần xa rời Đông Nam Á, nhưng trên thực tế Mỹ có nền tảng chiến lược vững chắc tại Đông Nam Á, những liên minh truyền thống là sự hậu thuẫn chắc chắn để Mỹ thúc đẩy chiến lược ngoại giao. Mỹ và các nước ASEAN là những đối tác thương mại quan trọng của nhau, năm 2008 kim ngạch thương mại song phương đạt 178 tỷ USD. Mỹ trước sau luôn coi trọng và tăng cường đầu tư vào các nước ASEAN trọng điểm có liên quan đến lợi ích chiến lược to lớn của Mỹ như Philippin, Xinhgapo. Philippin, Thái Lan là những nước liên minh quan trọng của Mỹ ở châu Á, Mỹ luôn duy trì giao lưu quân sự mật thiết với Philippin, Thái Lan. Xinhgapo cho phép tàu thuyền Mỹ neo đậu, đồng thời là nơi tu sửa bão dưỡng tàu thuyền của hải quân Mỹ, Mỹ coi Xinhgapo là một mắt xích vô cùng quan trọng trong sợi dây an ninh của mình. Do đó, việc Mỹ “quay trở lại” Đông Nam Á lần này cho thấy sức ảnh hưởng không phải là “từ không đến có”, mà là chỉ sự thay đổi phương thức “thâm nhập sâu và toàn diện” đối với Đông Nam Á của Mỹ. Sự chuyển biến chính trị rõ rệt nhất của Chính quyền Obama là lợi dụng sức ảnh hưởng và thực lực mềm của Mỹ, xây dựng hình ảnh nước Mỹ trên toàn thế giới. Chính phủ mới có khuynh hướng thay đổi triệt để quan niệm của thế giới cho rằng Mỹ thích sử dụng vũ lực, nhấn mạnh “hòa bình lâu dài”. Gần đây, tại Ủy ban quan hệ đối ngoại Mỹ, bà Hillary lần đầu tiên trình bày chiến lược ngoại giao của Chính quyền Obama lấy “thực lực khéo léo” làm tiêu chí, cho rằng “thực lực khéo léo” thể hiện ở đường lối chính sách: đổi mới kênh giao lưu và tăng cường hợp tác với các nước đối tác, theo đuổi và giữ vững việc tiếp xúc có nguyên tắc với các nước bất đồng quan điểm, vận dụng tổng hợp sức mạnh quân sự với dân sự, cũng như lợi dụng đầy đủ tất cả thực lực của Mỹ trong đó bao gồm thực lực kinh tế. Việc Chính quyền Obama điều chỉnh phương thức can dự vào Đông Nam Á lần này, tích cực tham gia các cơ chế đa phương lấy ASEAN làm trung tâm là có ý muốn cho thế giới thấy được những thành quả tích cực của ngoại giao “thực lực khéo léo” của mình, tạo dựng lại hình tượng nước Mỹ trên trường quốc tế.

Con đường “quay trở lại” bằng “thực lực khéo léo” dài dằng dặc

Mặc dù Chính quyền Obama cố gắng đẩy nhanh tiến độ “quay trở lại” Đông Nam Á bằng nhiều hình thức, nhưng do chịu nhiều nhân tố hạn chế, nên việc Mỹ thúc đẩy chiến lược “quay trở lại” Đông Nam Á bằng “thực lực khéo léo” là không dễ chút nào.

Thứ nhất, chiến lược “quay trở lại Đông Nam Á” chịu sự hạn chế của những hành động thực chất thể hiện “sự hữu nghị” của Mỹ đối với ASEAN. Không thể phủ nhận việc bà Hillary nhấn mạnh sự “quay trở lại” Đông Nam Á là có phần rùm beng về chính trị, đó là sự thay đổi của Chính quyền Obama đối với chính sách “coi nhẹ châu Á” của chính phủ tiền nhiệm, đồng thời ra sức xoay chuyển hình ảnh quốc tế của Mỹ. Hiện nay, Mỹ ký TAC, tạo được một chút vị thế, nhưng xét thấy Đông Nam Á không hoàn toàn tạo thành lợi ích trọng tâm, nên những hành đông tính thực chất của Mỹ không nhiều. Trên thực tế, TAC chỉ là một tuyên bố có nguyên tắc, không có sự ràng buộc về pháp lý mang tính cưỡng chế đối với các nước tham gia ký kết, cũng không có những biện pháp chính sách cụ thể trừng phạt nước vi phạm, cho dù giữa các nước thành viên ASEAN cũng có những hành vi vi phạm TAC. Các nước ASEAN tuân theo nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cũng không ép can dự vào mâu thuẫn và xung đột giữa các nước thành viên. Do đó, TAC có sự ràng buộc nhất định đối với Mỹ, nhưng cũng không phải là tạo thành áp lực quá lớn.

Thứ hai, chiến lược “quay trở lại” gặp phải hạn chế bởi khả năng tiếp nhận của các nước ASEAN. Về căn bản, mục tiêu chiến lược của Mỹ không hoàn toàn giống với ASEAN. Với tư cách là bộ phận tổ thành chiến lược châu Á-Thái Bình Dương, mục đích căn bản của chiến lược “quay trở lại” Đông Nam Á của Mỹ là tăng cường toàn diện sức ảnh hưởng và sự tồn tại ở Đông Nam Á. Các nước ASEAN khéo léo lợi dụng sự mâu thuẫn của các nước lớn trong canh bạc ở khu vực Đông Nam Á, thực hiện chủ nghĩa khu vực mở cửa, thực thi chính sách ngoại giao “bình đẳng giữa các nước lớn”, theo đuổi tối đa hóa lợi ích an ninh và kinh tế. Một mặt, các nước ASEAN rất muốn nhưng không thể có được chiến lược “quay trở lại” của Mỹ, mặt khác các nước trong khu vực lại có ý thức tự chủ rất mạnh. Xét thấy khó có thể thay đổi tình thế nhất bên trọng, nhất bên khinh của Mỹ đối với các nước ASEAN, nên các nước cũng giữ trạng thái tâm lý mâu thuẫn với sự “quay trở lại” của Mỹ. Đông Nam Á có 200 triệu dân, số Hồi giáo chiếm 1/5 dân số Hồi giáo trên toàn thế giới, phần đông dân số Hồi giáo đều có tinh thần “căm thù Mỹ”, “chống Mỹ” mạnh mẽ, Mỹ và ASEAN rất khó quay trở lại mối quan hệ liên minh thời Chiến tranh Lạnh. Sau khi gia nhập TAC, Mỹ sẽ phải đối mặt với những ràng buộc của các nguyên tắc trong hiệp ước như “thừa nhận và tôn trọng chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình”. Xét thấy Mianma là nước thành viên của ASEAN, Triều Tiên cũng đã ký TAC, nên chính sách của Mỹ đối với Mianma và Triều Tiên sẽ gặp phải những ảnh hưởng và kiềm chế nhất định. Nếu như tại diễn đàn ARF, Mỹ ra sức chủ trương coi vấn đề hạt nhân Triều Tiên và vấn đề Mianma là đề tài chính của diễn đàn, ASEAN sẽ rất khó đồng ý một cách bừa bãi.

Thứ ba, giải quyết như thế nào vấn đề Mianma ảnh hưởng trực tiếp đến việc liệu Mỹ có thể thực hiện thành công chiến lược quay trở lại “khéo léo”? Từ trước đến nay, vấn đề Mianma là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quan hệ Mỹ – ASEAN. Trước khi ký TAC không lâu, Hillary vẫn từng kiến nghị với ASEAN rằng nếu như chính quyền quân sự Mianma không thả Tổng thư ký Liên minh quốc gia vì dân chủ (NLD) Aung San Suu Kyi – lãnh đạo phe đối lập, ASEAN phải tính đến trục xuất Mianma ra khỏi tổ chức. Nhiều năm qua, các nước ASEAN luôn giữ thái độ hòa dịu và mềm mỏng trong việc giải quyết các mối quan hệ với Mianma cũng như vấn đề Aung San Suu Kyi, không thể vì Mỹ mà thay đổi thái độ. Từ nay về sau, trong khuôn khổ ASEAN, việc Mỹ đối phó với vấn đề Mianma ra sao đã trở thành một trong những trở ngại lớn nhất và là “hòn đá thử vàng” hiệu quả của việc liệu Mỹ có thể thực hiện thành công triệt để chiến lược “quay trở lại”?

Việc Mỹ thay đổi phương thức can dự vào Đông Nam Á đã đưa ra một đề tài mới cho Trung Quốc về vấn đề ngoại giao khu vực Đông Nam Á, tăng thêm khó khăn cho Trung Quốc trong việc đối phó với vấn đề lớn Đông Nam Á liên quan đến Trung Quốc. Một mặt, Trung Quốc cần phải hết sức tỉnh táo để đối phó với biện pháp “thúc đẩy diễn biến hòa bình” của Mỹ, Nhưng bên cạnh đó, Trung Quốc cũng không nên thay đổi thái độ, biện pháp và giữ thái độ tiêu cực thời Chiến tranh Lạnh đối với Mỹ, cần lấy thái độ mở cửa, lợi dụng vũ đài đã có để thúc đẩy hiểu biết và giao lưu giữa hai nước, đồng thời tiếp tục thông qua nhiều con đường triển khai hợp tác với các nước Đông Nam Á, tích cực tham gia và lợi dụng cơ chế đa phương lấy ASEAN làm trung tâm, theo đuổi sự phát triển chung Trung Quốc-ASEAN, xây dựng môi trường xung quanh khu vực Đông Nam Á ổn định, phát triển và hài hòa./.

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , , | 13 phản hồi »

578. Kịch bản của Huntington

Đăng bởi anhbasam on 08/05/2010

AF MEDIEN

Kịch bản của Huntington *

(Cho một Thế chiến thứ 3, có liên quan đến Việt Nam)

Một cuộc chiến tranh toàn cầu với sự tham gia của các quốc gia nòng cốt chính yếu trong các nền văn hoá lớn trên thế giới là điều không dễ xảy ra, nhưng là điều có thể. Như đã dẫn giải, một cuộc chiến tranh thế giới mới có thể bắt đầu bằng sự leo thang xung đột sắc tộc giữa các nhóm trong các nền văn hoá. Dễ xảy ra nhất là có sự tham gia của một bên theo đạo Islam và bên kia là không thuộc Islam. Có nghĩa là các quốc gia nòng cốt theo đạo Islam sẽ ra tay cứu giúp những người anh em đồng đạo của mình.

Họ có thể bỏ qua và không can dự quá sâu nếu như những lợi ích thứ yếu ràng buộc.  Sự dịch chuyển cán cân quyền lực giữa các nền văn hoá và các nước nòng cốt của nó chính là nguy cơ lớn nhất của chiến tranh giữa các nền văn hoá.

Nếu sự lớn mạnh của Trung Quốc tiếp tục cộng với sự tự tin là “vai kép chính trong lịch sử loài người”, nó sẽ là gánh nặng thực sự cho trật tự quốc tế vào đầu thế kỷ 21. Trung Quốc lớn mạnh hơn với ảnh hưởng sâu rộng hơn ở Đông Á và Đông Nam Á sẽ đối kháng với quyền lợi của Hoa Kỳ.

Kịch bản nào cho một cuộc chiến xung đột quyền lợi giữa Mỹ và Trung Quốc?

Giả thiết chúng ta đang ở năm 2010. Hai nước Triều Tiên đã thống nhất, quân đội Mỹ đã rút khỏi bán đảo Triều Tiên. Sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Nhật Bản cũng giảm đáng kể. Đài loan và Hoa lục cũng đạt được một thoả thuận, trong đó đảm bảo cho  Đài Loan được phần lớn sự tự chủ của mình trên thực tế, nhưng Đài Loan phải công nhận chính thức quyền chủ quyền của Bắc Kinh. Ngoài ra, với sự giúp đỡ của Trung Quốc, Đài Loan được trở thành thành viên chính thức tại Liên hợp quốc, giống trường hợp của Ucraina và Belorussia hồi năm 1946.

Việc khai thác dầu tại Biển Đông được tiến hành gấp rút, đa phần dưới sự bảo trợ của Trung Quốc, nhưng trên một số vùng có sự kiểm soát của Việt Nam được các công ty của Mỹ triển khai.

Trung quốc với sự hăng hái tự tin về thực lực của mình đã ra tuyên bố quyền kiểm soát toàn bộ biển Nam Hải (Biển Đông), điều mà họ xưa nay vẫn yêu sách. Việt Nam bất bình dẫn đến hải chiến giữa tàu Trung Quốc và tàu Việt Nam.

Trung quốc quyết tâm trả thù cho thất bại tại cuộc chiến biên giới 1979, đã cho quân tiến vào Việt Nam. Việt Nam yêu cầu sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trung Quốc cảnh báo Mỹ không nên can thiệp, Nhật Bản và các quốc gia châu Á khác tỏ ra lưỡng lự. Hoa kỳ tuyên bố phản đối việc chiếm đóng Việt Nam của Trung Quốc, kêu gọi trừng phạt kinh tế đối với Trung Quốc và gửi một trong số hạm đội tàu sân bay còn lại ít ỏi của mình vào vùng biển Nam hải (Biển Đông).

Trung quốc chỉ trích hành động đó là vi phạm hải phận của Trung Quốc và không kích hạm đội Mỹ. Những cố gắng của Tổng thư ký Liên hơp quốc và Thủ tướng Nhật bản cho một cuộc ngừng bắn đều không đạt kết quả. Chiến tranh lan sang các vùng khác ở Đông Á.

Nhật bản ra lệnh cấm Mỹ sử dụng căn cứ quân sự trên đất Nhật. Mỹ phớt lờ lệnh cấm. Nhật Bản tuyên bố giữ thái độ trung lập và phong toả các căn cứ quân sự. Không quân và tàu ngầm Trung quốc từ Đài Loan và Hoa lục gây cho tàu chiến và cơ sở quân sự của Mỹ ở Đông Á nhiều thiệt hại. Tiếp đó Trung quốc kéo quân vào Hà nội và chiếm đóng phần lớn Việt nam.

Mặc dù cả Trung Quốc lẫn Hoa kỳ đều đang nắm giữ nhiều tên lửa xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân nhưng cả hai đều ngầm giữ không sử dụng trong thời gian đầu của cuộc chiến.

Lo sợ trước một cuộc tấn công hạt nhân hiển hiện ở cả hai phía, nhưng căng thẳng hơn cả là phía bên Hoa Kỳ. Điều đó tạo ra mối quan ngại trong những người dân Mỹ, tại sao họ phải chịu đựng nguy cơ này. Nếu Trung Quốc muốn chiếm Nam Hải, Việt Nam hay toàn bộ Đông Nam Á thì liên quan gì đến họ? Đặc biệt là sự phản đối của các bang tây nam, nơi có nhiều người nói tiếng Tây Ban Nha. Với khẩu hiệu “Cuộc chiến này không phải của chúng ta” dân chúng và chính quyền các bang này muốn tránh bị lôi vào cuộc chiến giống như đã xảy ra tại tiểu bang New England năm 1812[1]…

… Trong khi đó chiến tranh đã bắt đầu gây ảnh hưởng đến các nước lớn của các nền văn hoá khác. Lợi dụng cơ hội Trung Quốc đang bận rộn với Đông Nam Á, Ấn Độ tấn công vào Pakistan trên diện rộng mục đích để dọn sạch kho vũ khí nguyên tử cũng như vũ khí thông thường của nước này. Thoạt đầu Ấn Độ không gặp trở ngai nào, cho đến khi có liên minh quân sự giữa Pakistan, Iran và Trung Quốc. Iran trợ giúp Pakistan với lượng quân sự khí tài hiện đại…

… Tất cả các cuộc chiến đều liên quan đến dầu mỏ. Mặc dù đầu tư rất nhiều vào năng lượng hạt nhân, Nhật bản còn vẫn phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ nhập khẩu, điều đó làm cho Nhật thấy cần thiết phải hợp tác với Trung Quốc trong việc nhập dầu mỏ từ vùng Vịnh Ba tư, Indonesia và Biển Đông.

Cuộc chiến tiếp tục với qui mô lớn hơn. Các quốc gia khối Ả-rập ngày càng bị rơi vào vòng kiểm toả của lực lượng cuồng tín. Nguồn dầu mỏ từ vùng Vịnh cho phương Tây bị cắt, Phương Tây ngày càng bị phụ thuộc nhiên liệu từ Nga, Caucasus và miền Trung Á. Phương Tây muốn lôi kéo Nga về phía mình và buộc phải ủng hộ Nga mở rộng ảnh hưởng xuống các nước Islam ở miền nam.

Đồng thời Mỹ cố gắng lôi kéo sự trợ giúp toàn bộ của đồng minh Âu châu. Trên thực tế Tây Âu chỉ có cử chỉ ủng hộ về ngoại giao và kinh tế, ngoài ra thì trì hoãn về quân sự.

Trung quốc và Iran lo sợ khối Tây Âu cuối cùng sẽ đứng về phía Mỹ, giống như Mỹ đã từng cứu giúp Anh, Pháp thời Thế chiến thứ II. Để ngăn chặn điều này, họ bí mật chuyển dàn tên lửa tầm trung chứa đầu đạn hạt nhân đến Bosnia và Algeria và cảnh báo Tây Âu về việc tham gia cuộc chiến…

Một cuộc chiến toàn cầu gồm một bên là Hoa kỳ, châu Âu, Nga và Ấn độ và bên kia là Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước Hồi giáo. Kết cục sẽ ra sao?

Cả hai bên đều có trong tay rất nhiều vũ khí hạt nhân, ngay cả khi giả thuyết là sẽ không được sử dụng một tí tẹo nào thì một điều rõ ràng, các quốc gia chủ chốt sẽ bị tàn phá nặng nề.

Giả sử là cả hai bên biết kiềm chế, các bên tham chiến đã mệt mỏi đi đến một thoả thuận đình chiến, thì nó cũng không giải quyết được vấn đề chủ chốt, đó là đòi hỏi bá quyền của Trung quốc ở Đông Á. Nếu không phương Tây phải cố gắng khuất phục Trung quốc bằng chiến tranh qui ước. Liên minh quân sự với Nhật giúp cho Trung Quốc có được một hải tuyến phòng thủ ngăn chặn Mỹ tấn công vào miền duyên hải nơi có khu công nghiệp và đông dân. Lựa chọn khác là tấn công Trung Quốc từ phía tây.

Cuộc chiến của Nga với Trung Quốc là lý do để NATO kết nạp Nga vào khối quân sự và trợ giúp Nga chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc vào Serbia, cũng như đảm bảo sự kiểm soát của Nga đối với các nước Islam giàu nhiên liệu vùng Trung Á. Giúp đỡ quân nổi dậy Tây Tạng, Uighuri và Mông cổ chống lại sự thống trị của Trung Quốc. Hỗ trợ chuyển quân đội của Nga từ phía tây nhằm hướng đông sang Siberi, từ đó đánh trận quan trọng vượt Vạn Lý Trường Thành vào Bắc Kinh vào sâu tận Trung Nguyên.

Bất cứ kết cục nào của cuộc chiến toàn cầu giữa các nền văn hoá này có được, tàn phá lẫn nhau bằng vũ khí nguyên tử, đình chiến vì mệt mỏi hay ngay cả khi quân đội Nga và phương Tây diễu binh trên quảng trường Thiên An Môn đi nữa thì hậu quả lâu dài chắc chắn sẽ rộng khắp. Tổn thất kinh tế, nhân mạng và sức mạnh quân sự nặng nề của các bên là không tránh khỏi.

Hậu quả là trung tâm quyền lực của thế giới theo thời gian chuyển dịch từ đông sang tây, và lại từ tây sang đông, nay lại từ bắc xuống nam. Kẻ hưởng lợi chính từ cuộc chiến này là những ai đứng ngoài. Trong khi phương Tây, Nga, Trung Quốc và Nhật bản bị tàn phá các mức độ khác nhau thì Ấn Độ, mặc dù có tham dự nhưng tránh được sự tàn phá, nay có thể rảnh tay để tái thiết lại thế giới theo trật tự của Ấn độ giáo.

Dân chúng Mỹ đổ lỗi cho sự tụt hậu là do giới bảo thủ Tin lành da trắng, dẫn tới việc dân Mỹ gốc Tây Ban Nha lên nắm quyền với lời hứa được nhận sự trợ giúp của các nước Mỹ-Latin. Một chiến dịch tương tự Kế hoạch Marshall[²] từ các nước  Nam Mỹ.  Các quốc gia mới nổi này đã không tham gia vào cuộc chiến.

Hoa Kỳ nhìn nhận sự can thiệp như thế là cần thiết, để bảo vệ luật pháp quốc tế, để chống lại một cuộc xâm lược, để bảo vệ tự do hàng hải, để đảm bảo quyền tiếp cận dầu mỏ của Mỹ ở Biển Đông và chống lại sự thống trị của một thế lực duy nhất tại Đông Á.

Đối với Trung Quốc lại là việc không thể chấp nhận được. Đó là âm mưu mà các nước phương Tây luôn ngạo mạn gây sức ép và muốn làm mất mặt Trung Quốc. Khiêu khích và chống lại vai trò chính đáng của Trung Quốc trên sân chơi chính trị ngay trong vùng ảnh hưởng đã được thừa nhận.

Chiến tranh giữa các nền văn hoá là điều cần tránh trong thời đại tới, đặc biệt các nước chính yếu không nên can dự vào các xung đột giữa các nền văn hoá. Đó là một sự thật khó chấp nhận, nhất là đối với những quốc gia như Hoa Kỳ. Nguyên tắc của sự đa dạng hoá, trong đó các nước chính yếu phải kiềm chế tránh can dự vào các xung đột tại các nền văn hoá khác là điều kiện tiên quyết cho một nền hoà bình trong một thế giới đa dạng và đa cực.

Điều kiện thứ hai cần có là nguyên tắc cùng hoà giải, trong đó có việc thỏa thuận giữa các nước nòng cốt để giảm thiểu hay kết thúc các cuộc xung đột sắc tộc giữa các nước hay các nhóm thiểu số trong các nền văn hoá.

Chấp nhận những nguyên tắc này cùng với một thế giới bình đẳng về nguồn gốc văn hoá là điều không dễ chấp nhận. Điều đó đúng với cả các nước phương Tây lẫn các nước thuộc nền văn hoá khác, những thế lực đang muốn cùng phương Tây chia sẻ hay thậm chí độc quyền vai trò thống trị.


© Samuel P. Huntington / Kampf der Kulturen

Le Viet Linh lược dịch

Nguồn: http://www.afmedien.de/news/publizistik/kampfderkulturen.php

* Samuel P. Huntington là tác giả cuốn sách nổi tiếng The Clash of Civilizations đã được dịch ra tiếng Việt, tựa đề Sự va chạm của các nền văn minh, NXB Lao động, 2003.

[1] Bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận lẫn nhau của 2 cường quốc hải quân Anh-Pháp làm cho ngoại thương của Mỹ bị thiệt hại buộc Mỹ tuyên chiến với Anh quốc năm 1812.  Người Mỹ bị lôi vào chiến tranh với lý do không rõ ràng.

[2] Kế hoạch Marshall là kế hoạch viện trợ nhằm vực dậy nền kinh tế các nước Tây Âu sau thế chiến thứ 2 mang tên Ngoại trưởng Hoa kỳ thời 1947-1949 Georg C. Marshall.

Bình luận bổ sung của người dịch, ngày 10/5/2010:

Khi chiến tranh lạnh kết thúc, dân chúng phương Tây thở phào. Họ đã được hưởng một thời gian dài phát triển trong hoà bình nhưng luôn trong mối thấp thỏm lo sợ chiến tranh hạt nhân. Sau khi Liên bang Sô viết sụp đổ Hoa kỳ trở thành cường quốc hùng mạnh nhất hành tinh. Cuốn sách The End of History and the Last Man của học giả Francis Fukuyama còn cho rằng, nền dân chủ tự do theo hình mẫu Tây phương sẽ là chế độ xã hội còn lại duy nhất và là đỉnh cao của văn minh nhân loại. Cuốn sách được xuất bản năm 1992.

Luận điểm của Fukuyama đã gặp rất nhiều phản hồi của nhiều học giả, trong đó đáng chú ý là của Samuel Phillips Huntington. Ông Huntington lúc đó là GS Chính trị học tại ĐH Havard và là cố vấn cho Bộ Ngoại giao Mỹ.  Bắt đầu từ những bài tiểu luận trên tạp chí Foreign Affairs, sau đó được Huntington tập hợp trong cuốn Clash of Civilizations and the Remaking of World Order xuất bản lần đầu năm 1996. Ông muốn cảnh báo với các nhà hoạch định chính sách của Mỹ rằng, khi sự đối đầu giữa 2 ý thức hệ XHCN và TBCN không còn nữa và Hoa kỳ không phải là không còn việc để làm. Tôi mới được biết qua anhbasam là sách đã được xuất bản ở Việt nam năm 2003, Sự va chạm của các nền văn minh, NSB Lao động.

Điểm cốt lõi  là GS Hungtinton đã chia thế giới ra làm 7 nền văn hoá (văn minh) chủ yếu, gồm có Văn hoá Tây phương, Văn hoá Châu Mỹ Latin, Văn hoá Ấn độ, Văn hoá Islam, Văn hoá Châu Phi, Văn hoá Trung quốc và Văn hoá Nhật bản. Trong đó Văn hoá Châu Phi và Văn hoá Mỹ Latin được ông cho rằng không đủ mạnh để tồn tại độc lập. Nhưng ông lại tách Văn hoá Nhật bản riêng, có lẽ tuy chịu nhiều ảnh hưởng của Trung quốc nhưng tính độc lập sáng tạo cao và đặc biệt là sức mạnh kinh tế.

Ngày nay, sau gần 15 năm, nhiều dự đoán của GS Huntington không đúng với thực tế, nhưng những gì chúng ta chứng kiến hiện nay không hẳn làm chúng ta yên lòng. Thế giới đứng trước nhiều thay đổi, mang lại nhiều thách thức, điều đó khác hẳn với hình ảnh của một thế giới đại đồng trước kia và thế giới phẳng của thập niên đầu thế kỷ 21.

Việt nam chúng ta lại đang đứng ở một vị trí then chốt. Chắc cũng không có gì phải tự hào về điều này vì theo tôi nó cũng không khác mấy cái từ phiên giậu là mấy. Nó giống như ta sống tại điểm giao tiếp giữa các mảng kiến tạo, nơi rất dễ xảy ra động đất. GS Huntington gọi các cuộc xung đột giữa các nhóm sắc tộc hay tôn giáo một cách chính thức là fault line war – xung đột được tạo ra bởi đường đứt gẫy.

Thế chiến thứ hai vừa kết thúc đúng 65 năm, nhiều bài học còn đó. Cuộc chiến được gọi là thứ hai nhưng thực ra là nó tiếp nối Thế chiến thứ nhất sau hơn 20 năm tạm ngưng nghỉ. Các nước có máu mặt lại đứng ra để giải quyết ấn oán giang hồ. Ba lan vào lúc đó là một nước nhỏ tụt hậu, được coi là một trong các nước thuộc cordon sanitaire – một vành đai chống dịch. Một cách gọi khá miệt thị hòng chống lại ảnh hưởng của Liên sô, hay nếu dịch ra thuần một chút cũng có thể gọi là một nước phiên giậu. Chiến tranh nổ ra, Ba lan đã trở thành miếng mồi ngon để cho 2 nước thù địch nhau thời đó là nước Đức của Hitler và Liên bang Sô viết của Stalin cùng xâu xé. Sau khi quân đội Đức quốc xã chiếm đóng phần tây Ba lan thì phần đông của Ba lan cũng được So viết Tối cao sát nhập vào Liên sô.

Ba lan ngày nay họ học được nhiều điều từ lịch sử, ở chung một ngôi nhà Châu Âu với cựu thù, hoà giải với quá khứ và họ tìm cho mình những liên minh mạnh.  Nhưng may mắn là đường biên giới ở châu Âu nay đã ổn định và có lẽ sẽ không có biến động gì đáng kể. Cán cân quyền lực được cân bằng bởi những Hội, Khối và Hiệp định có giá trị.

Rõ ràng là luận thuyết của Huntington chỉ là để tham khao. Một giả thuyết chứ không phải là lời tiên tri. Quan trong là đúc rút được gì từ đó. Chúc các bạn sức khoẻ.

Đăng trong Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , , | 17 phản hồi »

571. CÁC CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐANG MẤT DẦN NHƯ THẾ NÀO

Đăng bởi anhbasam on 02/05/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CÁC CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

ĐANG MẤT DẦN NHƯ THẾ NÀO

(Newsweek, 22/3/2010)

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 22-4-2-10

Sự suy giảm toàn cầu về quyền tự do chính trị một phần là lỗi của tầng lớp trung lưu.

Quyền tự do chính trị đã nở rộ ở thế giới đang phát triển vào những năm 1990 và những năm đầu thế kỷ 21. Trong khi những kẻ độc đoán vẫn cai trị phần lớn châu Phi, Đông Âu và châu Á vào năm 1990, đến năm 2005 các chế độ dân chủ đã nổi lên trên khắp các lục địa này. Liên Xô đã biến hình thành nước Nga, một xã hội không bị bó buộc mà có vẻ có đôi chút giống xã hội ảm đạm trước nó. Cùng với sự sụp đổ của Saddam Hussein, việc lật đổ Taliban, một sự kết thúc rõ ràng những can thiệp quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ, và nhiệm kỳ tổng thống theo đường lối cải cách của Mohammad Khatami ở Iran, ngay cả Trung Đông, một thời gian dài là người đến muộn trong cuộc cải cách dân chủ, xem ra đang tham gia xu hướng này. Vào năm 2005, Tổ chức Freedom House lưu ý rằng chỉ 9 nước trải qua các cuộc thoái trào của chế độ dân chủ; trong bản báo cáo của mình vào năm 2009, nó ghi nhận sự suy giảm tại 40 nước ở châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông, và Liên Xô trước đây. Qủa thực, tổ chức này đã phát hiện rằng số lượng chế độ dân chủ được bầu ra đã giảm xuống còn 116, con số thấp nhất kể từ năm 1995.

Các thủ phạm chính gây ra sự suy giảm của chế độ dân chủ có thể gây ngạc nhiên. Nhiều người đàn ông và phụ nữ thuộc chính tầng lớp trung lưu đã từng giúp đẩy những kể độc tài ra khỏi chiếc ghế quyền lực thì hiện đang nhận thấy khó khăn như thế nào để có thể thiết lập dân chủ, và đang mong muốn những ngày của chế độ chuyên quyền. Tại sao điều này xảy ra? Trong nhiều trường hợp là bởi vì các nhà lãnh đạo ban đầu của các chế độ dân chủ còn non trẻ nổi lên vào những năm 1990 đã không nhận ra rằng xã hội tự do đòi hỏi phải có các thể chế mạnh mẽ, sự phản đối có tính xây dựng đối với đảng cầm quyền, và sự sẵn sàng thỏa hiệp. Thay vào đó, họ nhìn nhận chế độ dân chủ chỉ như các cuộc bầu cử bán chuyên nghiệp; sau khi giành chiến thắng, họ sử dụng mọi công cụ quyền lực để thống trị đất nước của họ và phân phát lợi ích cho các đồng minh hoặc những người cùng bộ tộc với họ. Cách diễn giải về chế độ dân chủ theo nghĩa hẹp này không chỉ bóp méo ý nghĩa thực sự của từ này mà còn làm cho dân chúng ở nhiều nước xa lánh, họ trở nên phẫn nộ khi những người dân chủ này có vẻ như không tận tụy với lợi ích của cộng đồng hơn các chế độ độc đoán trước đây.

Quá thường xuyên, các nước phương Tây, mà sau sự kiện 11/9 chuyển hướng tập trung sự chú ý của họ từ sự dân chủ hóa vào những năm 1990 sang cuộc chiến chống khủng bố, hầu như không lên tiếng khi chế độ dân chủ tiêu tan. Phương Tây đơn giản là không có thời gian ủng hộ những người theo chế độ dân chủ ở nước ngoài nữa. Trong thời điểm khác, như trong các trường hợp ở Malaixia và Pakixtan, sự cai trị độc đoán đột nhiên đem lại lợi ích cho phương Tây, vì Mỹ có thể dựa vào những kẻ chuyên quyền để giúp bắt giữ những kẻ bị tình nghi là khủng bố. Trong khi đó, việc Chính quyền Bush gắn kết chiến tranh ở Irắc với sự thúc đẩy chế độ dân chủ đã làm hỏng sự dân chủ hóa trong tâm trí của nhiều người, đặc biệt là ở Trung Đông.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng gây phương hại đến sức lôi cuốn của chế độ dân chủ. Đối với nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu ở thế giới đang phát triển, sự truyền bá chế độ dân chủ gắn với sự truyền bá chủ nghĩa tư bản, vì nhiều trong số những nước này mở cửa nền kinh tế cùng thời điểm với lúc họ chấp nhận sự tự do chính trị. Khi cuộc khủng hoảng làm giảm thu nhập của người dân, nhiều người đã đổ lỗi một phần cho chế độ dân chủ vì sự suy giảm kinh tế. Tổng thống Leonel Fernánder của Dominica đã tuyên bố tại hội nghị thượng đỉnh các lãnh đạo Mỹ Latinh vào năm 2008: “Những sự mong đợi về những triển vọng của chế độ dân chủ ở khu vực (Mỹ Latinh) đã nhường chỗ cho sự vỡ mộng vì chế độ dân chủ đã không thúc đẩy được sự  thịnh vượng về kinh tế”.

Kết quả là trên gần như mọi lục địa, chế độ dân chủ đang đi xuống. Ở Irắc, các nhà lãnh đạo hậu Saddam đầu tiên đã dựa vào các công cụ đe dọa cứng rắn nhất để đánh bại các đối thủ của họ và leo lên đỉnh của hệ thống chính trị, làm cho dân chúng vỡ mộng. Trong cuộc bầu cử của Irắc mới đây, số người bỏ phiếu đã giảm so với cuộc bầu cử năm 2005, bất chấp việc quảng cáo rầm rộ khuyến khích người dân đi bỏ phiếu. Ở Philíppin, Tổng thống Gloria Macpagal Arroyo trên thực tế đã sử dụng một sắc lệnh khẩn cấp vào năm 2006 để tuyên bố tình trạng thiết quân luật, và triều đại của bà trùng khớp với việc số các vụ bắt cóc và ám sát nhà hoạt động cánh tả do các lực lượng an ninh ngày càng gia tăng. Ở Campuchia, Thủ tướng Hun Sen và đảng của ông, mặc dù cũng được bầu ra, đã sử dụng các vụ kiện bôi nhọ ở các phiên tòa diễn ra chóng vánh, và bị buộc tội vì các vụ tra tấn  và thủ tiêu các nhà hoạt động để giành được quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống chính trị. Ở Nga, bắt đầu vào năm 2000, Vladimir Putin đã lợi dụng sự tức giận đang lan rộng trước sự sụp đổ của nền kinh tế Nga vào những năm 1990 để thúc đẩy thông qua những sự thay đổi đã làm tiêu tan bất cứ cơ hội nào dành cho chế độ dân chủ thực sự, thay thế các thống đốc khu vực được bầu ra bằng những người được Cremli bổ nhiệm, tiếp quản gần như mọi đảng chính trị độc lập, và vô hiệu hóa hầu hết phương tiện truyền thông đại chúng. Hugo Chávez của Vênêxuêla trong hơn một thập kỷ đã sử dụng sự dồi dào về dầu lửa để duy trì sự mến mộ của đông đảo người nghèo, chiến thắng hai cuộc bầu cử liên tiếp thậm chí trong khi biến hầu như toàn bộ bộ máy chính trị thành một dàn hợp xướng nịnh hót bằng việc đóng cửa các phương tiện truyền thông, thu xếp cho những người thân cận với ông vào các công ty nhà nước quan trọng, và sử dụng một cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia để xóa bỏ giới hạn nhiện kỳ của ông. Ở nhiều nước châu Phi, cái gọi là các nhà cải cách, như Tổng thống Kênya hiện nay Mwai Kibaki, lên nắm quyền đã tuyên thệ thúc đẩy sự tự do chính trị thực sự nhưng đã sớm sử dụng vị trí của họ đơn giản chỉ để loại bỏ các đối thủ và ủng hộ các đồng minh sắc tộc của họ.

Một trong những ví dụ nổi bật nhất về hiện tượng này là Thái Lan, mà vào những năm 1990 được mọi người nhìn nhận là một trong những chế độ dân chủ trẻ có triển vọng nhất trên thế giới. Kể từ khi đó Thái Lan đã phải trải qua một trong những sự sa sút lớn nhất. Vào những năm 1990, Thái Lan đã thông qua một trong những hiến pháp tiên tiến nhất trên thế giới đang phát triển, xây dựng một nền văn hóa sôi nổi đầy khí lực của các tổ chức phi chính phủ (NGO) có thể so sánh được với bất cứ nền văn hóa NGO nào ở phương Tây, và đỡ đầu cho giới truyền thông không bị kiểm soát mà đã đào bới hết vụ bê bối này đến vụ bê bối khác. Vào năm 2001, lướt trên làn sóng bất bình của công chúng sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã gây thiệt hại cho nền kinh tế của Thái Lan, Thaksin Shinawatra, một trùm tư bản trong lĩnh vực truyền thông, đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc gia nhờ vào lời hứa chỉnh đốn lại nền kinh tế và đem lại các chương trình trợ cấp xã hội cho người nghèo, những người chiếm đại đa số dân trên cả nước nhưng trong lịch sử đã bị các nhà chính trị trong giới tinh hoa của Thái Lan đối xử với thái độ khinh thị. Khi còn nắm quyền Thaksin đã thực hiện được một số lời hứa hẹn trước công chúng: chính quyền của ông đã phát động kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người và cung cấp các khoản tiền cho vay cho mọi ngôi làng để khởi động sự tăng trưởng kinh tế. Vị thủ tướng này đã tổ chức tỉ mỉ việc lắng nghe người nghèo, đi từ ngôi làng này sang ngôi làng khác để nghe ngay cả những lời phàn nàn nhỏ nhất.

Nhưng Thaksin không phải là người làm lợi cho chế độ dân chủ của Thái Lan như ông dường như cho thấy vào buổi ban đầu. Thay vào đó, ngay dù ông mở rộng hệ thống bảo vệ xã hội thì ông đã bắt đầu phá hoại ngầm nhiều thể chế dân chủ non trẻ của Thái Lan. Ông đã phá hủy bên trong ngành dân chính và bộ máy tư pháp, thay thế các nhà tư tưởng độc lập bằng những người thân cận, và buộc các phương tiện thông tin đại chúng phải im lặng bằng việc để các đồng minh mua các tập đoàn truyền thông và sau đó không phát thông tin chỉ trích. Tuyên bố “cuộc chiến chống ma túy”, Thaksin đã bị các tổ chức nhân quyền trong nước và quốc tế buộc tội đã bỏ qua các vụ giết người không xét xử và các vụ mất tích do lực lượng an ninh gây ra. Các nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng như luật sư Somchai Neeelapaichit đơn giản là đã mất tích. Nhìn chung, hơn 2.500 người đã chết một cách bí hiểm trong cuộc chiến chống ma túy. Michael Montesano, một chuyên gia về các vấn đề chính trị của Thái Lan tại viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Xinhgapo nói rằng Thaksin rất giống một nhà lãnh đạo chính trị-quân sự Mỹ Latinh, như Juan Jerón, hơn là một nhà chính trị dân chủ.

Một trong những tác động không chắc có thực của những sự nắm quyền như vậy là ở nhiều nước nơi chế độ dân chủ gần đây đã bị đẩy lùi, tầng lớp trung lưu đã từng thúc đẩy quyền tự do chính trị hiện nay cũng đang viện đến các chiến thuật ngoài luật pháp và không dân chủ- được cho là để cứu rỗi chế độ dân chủ. Chẳng hạn, tầng lớp trung lưu sống ở thành thị của Thái Lan, vốn đã bị sự lạm dụng quyền hành của Thaksin làm thất vọng một cách cay đắng và lo lắng ông này trao quyền cho người nghèo, đã nổi loạn. Thay vì thách thức Thaksin thông qua tiến trình dân chủ, chẳng hạn như bằng việc ủng hộ các đảng đối lập hay bắt đầu những tờ báo của riêng họ, họ đã lật đổ chế độ dân chủ bằng hành động chấm dứt các thể chế của chính phủ và kêu gọi một cuộc đảo chính quân sự thậm chí trong khi tuyên bố ủng hộ chế độ dân chủ. Để đẩy trước hết là Thaksin, sau đó là các đồng minh của ông này ra khỏi vị trí cầm quyền, các đám đông những người phản kháng đã cố gắng làm tê liệt Băng Cốc vào năm 2006, 2007 và 2008, mở một cuộc bao vây quốc hội, và vào năm 2008 tiếp quản sân bay chính, một hành động đã gây thiệt hại lớn cho ngành du lịch của nước này. Nhiều người đã kêu gọi sự can thiệp quân sự hoặc một kiểu chế độ chuyên quyền ôn hòa nào khác để khôi phục pháp trị và chống lại nạn tham nhũng, mà họ tuyên bố đã trở nên trầm trọng dưới thời Thaksin. Một nhà ngoại giao Thái Lan cũng đồng tình với những người phản kháng nói: “Chúng tôi phải cứu chế độ dân chủ, cho dù điều đó có nghĩa là bỏ qua các cuộc bầu cử”. Giới tinh hoa của Thái Lan đã đạt được những gì mà họ mong chờ: Thaksin phải sống lưu vong, các đối thủ của ông lên nắm quyền, còn chế độ dân chủ của Thái Lan đã bị phá hủy hoàn toàn.

Một hình thái tương tự đã diễn ra ở nơi khác. Những người biểu tình thuộc tầng lớp trung lưu ở vùng phía Đông giàu có hơn của Bôlivia đã phát động một chiến dịch chống chính phủ chống lại Tổrng thống Evo Morales, một cựu lãnh đạo công đoàn theo đường lối dân túy đã nỗ lực phân phối lại của cải, quốc hữu hóa các doanh nghiệp, và sử dụng cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia để tăng đáng kể quyền lực của mình. Ở Philíppin, nơi thế hệ người Philíppin trước đây đã tập hợp lại hạ bệ nhà độc tai Ferdinard Marcos, các cư dân Manila thuộc tầng lớp trung lưu đã hợp lực lại lật đổ Joseph Estrada, được nhân dân bầu ra và được người nghèo yêu mến nhưng bị buộc tội đã nhận một khoản hối lộ lớn. Sau khi Etrada rời nhiệm sở, nhiều trong số những người phản kháng thuộc tầng lớp trung lưu này đã tập trung lực lượng vào những nỗ lực lật đổ Macapagal Arroyo, cho dù bà vẫn tồn tại và vẫn nắm quyền.

Thất vọng với những người chuyên quyên được bầu ra này và tức giận với nạn hối lộ của các chế độ dân chủ còn non trẻ, nhiều nhà hoạt động thuộc tầng lớp trung lưu ở các nước đang phát triển hiện nay thậm chí đang mong chờ những ngày cai trị độc đoán cũ. Ở châu Phi, các cuộc đảo chính gầy đây ở Môritani và Nigiê được tầng lớp trung lưu chào đón, trong khi dữ liệu từ các cuộc điều tra, thăm do dư luận thường xuyên của Tổ chức Baromete châu Á xem xét thái độ của châu Á đối với chế độ dân chủ, cho thấy nhiều người trả lời đã trở nên thất vọng với hệ thống dân chủ của họ. Yu-tzung Chang,Yunhan Zhu và Chongmin Pak trong một bài báo có tiêu đề “Nỗi luyến  tiếc quá khứ độc đoán ở châu Á” đã lập luận: “Sự ủng hộ chế độ độc đoán ở châu Á đang phát triển thay vì thu nhỏ lại”. Đó cũng là trường hợp ở Nga, nơi Putin, cho dù ông xóa bỏ hầu hết các thể chế dân chủ, có số phiếu bầu cao đáng ngạc nhiên từ tầng lớp trung lưu và các tầng lớp xã hội khác. Trong một cuộc thăm dò dư luận của Angus Reid mới đây, khoảng 80% người Nga nói rằng họ tán thành việc làm của Putin, một tỉ lệ mà các nhà lãnh đạo phương Tây chỉ có thể mơ tưởng. Ngay cả ở Trung Quốc, nơi chính những người nghèo ở các vùng nông thôn hiện nay đi đầu trong các cuộc phản kháng, tầng lớp trung lưu ở thành thị có vẻ hài lòng với chế độ đang cầm quyền. Trong một nghiên cứu của Tổ chức Pew tập trung vào các khu vực thành thị, đại đa số người Trung Quốc nói rằng họ hài lòng với các điều kiện của đất nước.

Việc tầng lớp trung lưu buộc chế độ dân chủ phải lùi bước, bằng cách đảo chính và các biện pháp chống dân chủ khác, đã tước đi quyền bầu cử của người nghèo, gây ra nhiều cuộc phản kháng hơn. Ở Thái Lan, các đám đông phản kháng, hầu hết là những người nghèo, đã tiến hành các cuộc biểu tình bạo lực nhằm vào tầng lớp trung lưu cố gắng đẩy Thaksin ra khỏi chiếc ghế quyền lực. Tương tự ở Bôlivia, những người biểu tình chống Morales thuộc tầng lớp trung lưu hiện nay đang đối mặt với những người ủng hộ Morales đang tức giận mà phần lớn là những người nghèo. Ở Philíppin, những người nghèo tức giận vì người hùng của họ, Estrada, đã bị tầng lớp trung lưu lật đổ, đã phát động các cuộc tuần hành ủng hộ Estrada . Hiện nay, với việc đất nước này đang tiến tới một cuộc bầu cử khác, Estrada đã ra khỏi trại giam và lại chạy đua, đang lấy lại sự ủng hộ của những người nghèo trong nỗ lực giành vị trí Tổng thống của ông.

Các cuộc phản kháng chống lại làn sóng biểu tình này đã dẫn đến những chia cắt về tầng lớp xã hội, mà có thể mất hàng thế hệ để hòa giải. sau hơn một thập kỷ của chế độ dân chủ mong manh, nhiều thể chế được tạo ra vào những năm 1990 đã bị phá hủy, còn các nhà cầm quyền chỉ còn lại ít công cụ để giải quyết tình trạng căng thẳng về chính trị. Chẳng hạn, ở Nga cho dù một nhà lãnh đạo lên nắm quyền muốn khôi phục nhiều quyền tự do hơn nữa, thì ông/bà ta phải chiến đấu với hệ thống và bộ máy hành chính theo kiểu Putin, mà tập trung mọi quyền lực vào Cremli. Ở Thái Lan, cho dù Thủ tướng hiện nay, Abhisit Vejjajiva, muốn đem trở lại cho đất nước này sự tự do của những năm 1990, thì ông cũng không thể bởi vì trong lúc Thaksin nắm quyền và sau cuộc đảo chính, các nhà cầm quyền của Thái Lan đã xé bỏ hiến pháp cải cách của riêng nước này, hủy hoại các tòa án, và chính trị hóa phương tiện thông tin đại chúng tới mức mà các tờ báo hiện nay được hậu thuẫn một cách mù quáng bởi các lực lượng chống và ủng hộ Thaksin. Có thể phải mất hàng năm, nếu không nói là hàng thập kỷ, để một nhà  lãnh đạo mới xây dựng lại ngành dân chính, các tòa án và các thể chế khác với những người được đào tạo và công tâm đã được phát triển trước đây.

Có lẽ vấn đề lớn nhất là ở Irắc, nơi hàng triệu cử tri đã đi bỏ phiếu vào giữa tháng 3 lần thứ hai kể từ khi Saddam Hussein sụp đổ. Nhiều người hi vọng có cuộc sống tốt hơn sau sự sụp đổ của Saddam nhưng sự ủng hộ chế độ dân chủ đã sớm ra đi một phần là bởi vì những người Irắc trung lưu đã chứng kiến tình trạng hỗn loạn và sự ẩu đả chính trị của hệ thống chính trị mới. Vào những thời điểm tồi tệ nhất của tình trạng hỗn loạn của Irắc sau năm 2003, khi ý tưởng biến Irắc thành một chế độ dân chủ kiểu mẫu cho Trung Đông dường như là điên rồ, nhiều người Irắc trung lưu, đặc biệt là người Sunni, đã bắt đầu mong đợi sự trở lại của một nhà cầm quyền độc đoán, cho dù là một nhà cầm quyền thô bạo như Saddam. Trong một cuộc điều tra của ABC News hồi năm 2007, chỉ 43% người Irắc cho là chế độ dân chủ là hệ thống chính trị tốt nhất đối với đất nước của họ. Số người tham gia cuộc bầu cử gần đây nhất cho thấy nhiều người Irắc vẫn hết sức thất vọng. Và cho dù chế độ dân chủ của họ phát triển, họ không thể lơ là mất cảnh giác. Lịch sử của các chế độ dân chủ non trẻ khác cho thấy thành công này có thể mong manh như thế nào./.

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Quốc tế, Đảng/Nhà nước | 4 phản hồi »

558. SỰ CẠNH TRANH GIỮA CÁC CƯỜNG QUỐC TẠI LÀO

Đăng bởi anhbasam on 23/04/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

SỰ CẠNH TRANH GIỮA CÁC CƯỜNG QUỐC TẠI LÀO

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Ba, ngày 13-4-2010

Mạng “Asia Times Online” vừa đăng bài phân tích về sự cạnh tranh giữa các cường quốc tại Lào của tác giả Brian McCartan. Sau đây là những nội dung chính của bài viết:


Một cuộc họp cao cấp giữa các nhà ngoại giao Mỹ và Uỷ hội Sông Mê Công (MRC) đã được tổ chức gần đây ở Lào trong lúc đang có những nghi ngờ gia tăng về cách Trung Quốc quản lý vùng thượng nguồn dòng sông này, mà trong thời gian gần đây gây ra nạn khô hạn ở các quốc gia vùng hạ lưu. Cuộc trao đổi này được xem như một bước tiến gần đây nhất trong một nỗ lực mới của Mỹ để chống lại ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong khu vực và tăng cường hình ảnh của Mỹ tại một quốc gia mà họ có vai trò khiêm tốn do những lý do lịch sử. Trong khi đó, quốc gia láng giềng Trung Quốc gần đây đã tiến sâu vào Lào qua những sáng kiến về thương mại, viện trợ và đầu tư.

Trong khuôn khổ chuyến công du châu Á vừa qua, ông Kurt Campbell, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực đông Á và Thái Bình Dương, đã đến thăm Viêng Chăn hai ngày. Ông Campbell đã gặp gỡ Thứ tưởng Ngoại giao Lào Phongsavath Boupha, chào xã giao Bộ trưởng Ngoại giao Thongloun Sisoulith và tham dự cuộc đối thoại song phương toàn diện lần thứ ba giữa Mỹ và Lào. Ông Campbell là nhà ngoại giao Mỹ cao cấp nhất tham dự cuộc đối thoại này với chủ trương cải thiện mối quan hệ qua thảo luận về những mục tiêu chính sách chung đối với thế giới và khu vực, và chương trình nghị sự song phương. Khi được hỏi về những quan tâm của Mỹ tại Lào, một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết: “Chúng tôi cam kết can dự ở cấp cao với Lào” và sự can dự lớn hơn “là một phần trong những nỗ lực to lớn hơn của chúng tôi để tái khẳng định cam kết của Mỹ đối với Đông Nam Á, bao gồm thông qua những sáng kiến như sáng kiến Hạ lưu sông Mê Công –LMI”.

LMI được khởi xướng bởi Mỹ với sự hợp tác của Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam trong các cuộc họp bên lề của diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tháng 7/2009. Từ đó đến nay, Mỹ đã cam kết cung cấp 7 triệu USD cho các chương trình về môi trường cho hạ lưu sông Mê Công. Theo một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ, chương trình này khuyến khích hợp tác về những vẫn đề có tầm quan trọng trong vùng và đặt trọng tâm vào môi trường, sức khỏe, giáo dục và hạ tầng cơ sở. Bản tuyên bố cũng cho thấy một cái nhìn bao quát về các thành phần của chương trình để củng cố thêm cách quản lý nước bao gồm sự hợp tác giữa MRC và Uỷ ban sông Mississippi, bảo vệ rừng, hợp tác khoa học và thúc đẩy các chương trình năng lượng sạch. Những chi tiết khác của chương trình không được biết đến và hầu như sáng kiến đó vẫn còn trong giai đoạn thăm dò cho những lĩnh vực hợp tác. Tuy thế, sáng kiến này có thể làm cho Mỹ đạt được thế đứng đối diện với Trung Quốc trên một vấn đề quan trọng trong vùng mà Mỹ bị cho là bỏ bê trong những năm gần đây. Đó chắc chắn là trường hợp Lào, một ngã tư chiến lược ngày càng quan trọng giáp ranh với Trung Quốc.

Viện trợ yếu ớt

Sức mạnh địa phương của Mỹ và Lào không đáng kể. Một báo cáo của cơ quan nghiên cứu Quốc hội (CRS) về quan hệ Mỹ -Lào được công bố vào tháng 1 nói rằng “ Mỹ cung cấp tương đối ít viện trợ nước ngoài cho Lào”. Trong năm 2009, Mỹ viện trợ có 5 triệu USD cho Lào và năm 2010 tăng lên chút ít lên 5,15 triệu USD. CRS cho rằng số tiền này thấp hơn nhiều so với 65 triệu USD mà Mỹ viện trợ cho Campuchia năm 2009. Ngân sách viện trợ bị chia rất mỏng qua những chương trình bao gồm tháo bom mìn, chống ma túy, chương trình cải thiện khả năng mậu dịch, phòng ngừa và điều trị bệnh HIV/AIDS, tìm kiếm quân lính Mỹ vẫn còn mất tích từ chiến tranh Việt Nam và giáo dục, huấn luyện quân sự.

Chương trình viện trợ lớn nhất là tiếp tục tháo gỡ những tàn tích của hơn 2,5 triệu tấn bom được thả ở Lào trong thập niên 1960 và 1970. Theo một viên chức của Bộ Ngoại giao, Mỹ viện trợ 3,25 triệu USD cho Lào trong năm 2009 để tháo gỡ và phá bỏ bom mìn. Cùng lúc đó, Mỹ đang hợp tác kinh tế với Lào qua gia tăng trợ giúp kỹ thuật để nâng cao khả năng thi hành những thỏa hiệp mậu dịch và hiện đại hóa khuôn khổ pháp lý và luật lệ của họ. Cơ quan phát triển Quốc tế Mỹ ( USAID) đang trợ giúp một chương trình cải cách thương mại với mục đích cải tiến khả năng của Lào để được ra nhập WTO, thi hành hiệp định song phương giữa Mỹ và Lào, và tham dự cộng đồng kinh tế ASEAN được dự tính vào năm 2015. Thương mại giữa Mỹ và Lào tăng gấp bốn lần từ 15 triệu USD năm 2006 lên 60 triệu USD năm 2008, nhưng Mỹ vẫn đứng thứ 7 trong những đối tác thương mại lớn nhất của Lào.

Để thúc đẩy thương mại hơn nữa, Tổng thống Obama vào tháng 6/2009 đã loại Lào và Campuchia ra khỏ danh sách đen cấm Ngân hàng xuất nhập khẩu của Mỹ cung cấp tài chính cho các công ty Mỹ muốn kinh doanh ở Lào. Việc làm này có thể khuyến khích một số công ty Mỹ đầu tư ở Lào, nhưng khó mà có thể lên đến mức của các quốc gia đầu tư chính của Viêng Chăn như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan và Hàn Quốc. Các chương trình của Mỹ có một vị trí khiêm nhường so với những nỗ lực viện trợ của các quốc gia khác, nhất là Trung Quốc. Mỹ cũng đang mở rộng quan hệ với quân đội Lào. Sau một cuộc trao đổi tùy viên quân sự vào năm 2008, Mỹ đã mở một văn phòng tùy viên quân sự ở tòa đại sứ của họ ở Viêng Chăn. Mỹ cũng dạy tiếng Anh và đào tạo quân sự cho binh lính Lào qua chương trình giáo dục và huấn luyện quân sự quốc tế (IMET).

Một điểm khó chịu lâu nay trong quan hệ giữa Mỹ và Lào hầu như đã được giải quyết vào tháng 12 năm ngoái khi Thái Lan cưỡng ép hồi hương 4.371 người tỵ nạn gốc Hmông từ một trại trong tỉnh Petchabun và 158 người từ một trung tâm giam giữ di trú ở Nong Khai. Các viên chức trong chính phủ Lào và Thái Lan cho những người Hmông này là di dân kinh tế, nhưng những nhà tranh đấu cho nhân quyền và người Mỹ gốc Hmông nghĩ rằng ít nhất một số người tỵ nạn thực sự sẽ bị trả thù nếu trở về Lào. Chính phủ Lào hứa cho phép những người hồi hương nộp đơn xin định cư ở ngoại quốc và Mỹ, Ôxtrâylia, Canađa sẵn sàng nhận họ. Tuy nhiên, hiện nay chính phủ lào tuyên bố rằng những người Hmông không muốn đi nữa và không thấy ai nộp đơn. Các nhân viên tòa đại sứ và một số nghị sĩ có thể thăm viếng những người hồi hương hiện đang ở trong hai trại định cư. Một viên chức của Bộ Ngoại giao tuyên bố với Asia Times Online rằng Chính phủ Mỹ hài lòng vì cộng đồng thế giới đang được phép thăm người Hmông và khuyến khích Viêng Chăm tiếp tục cho phép tiếp xúc với họ đều đặn hơn. Mỹ cũng đang định trợ cấp “thêm thực phẩm và nhu yếu phẩm cho những người hồi hương và sẵn sàng làm hơn thế, nếu Chính phủ Lào đồng ý”.

Các mục tiêu địa chiến lược

Dù dè dặt, Viêng Chăm có vẻ chấp nhận Mỹ. Các lãnh đạo của Lào có lẽ nhìn ra lợi ích dùng Mỹ để cân bằng với ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc ở trong nước. Trong khi nhiều người Lào hài lòng với mối quan hệ ngày càng lớn mạnh với Trung Quốc và số lượng hàng hóa gia tăng trong thị trường với số tiền kiếm được từ thương mại, vẫn có một nỗi sợ hãi đang lên về việc người Trung Quốc đô hộ. Có một cảm nghĩ là số nhân công Trung Quốc ngày càng gia tăng đến sinh nhai ở Lào sẽ tạo nên một mối đe dọa chủ quyền mà Chính phủ Lào còn làm cho trở nên tồi tệ hơn bằng cách cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn các vùng đất rộng lớn.

Việt Nam, một quốc gia từng là bảo trợ và đồng minh, cũng muốn Lào có một mối quan hệ tốt hơn với Mỹ để dùng nó như là một phương tiện duy trì quyền lợi của họ ở Lào cũng như để chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc. Mối ác cảm lịch sử của Việt Nam đối với Trung Quốc càng trở nên sâu xa trong những năm gần đây vì những tranh chấp vẫn còn trên quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông, nơi có thể có nhiều mỏ dầu. Nếu Lào cải thiện quan hệ của họ với Mỹ, cạnh sườn phía tây của Việt Nam sẽ được bảo vệ tốt hơn và Hà Nội sẽ có một cương vị mạnh hơn cả ở Lào lẫn trong thương thuyết với Trung Quốc.

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á vào năm 1997, Trung Quốc có những bước tiến rất sâu vào Đông Nam Á qua thay đổi chính sách để nhấn mạnh vào viện trợ phát triển, khuyến khích kinh tế và trao đổi văn hóa thay vì dùng sức mạnh chiến lược thô bạo. Những nước cờ này đã diễn ra một cách dễ dàng vì có một quan niệm chung trong các quốc gia ASEAN là Mỹ để ý vào nơi khác, hầu hết là “chiến tranh chống khủng bố” ở Irắc và Ápganixtan. Các nhà lãnh đạo trong vùng chắc chắn không quên là Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice lúc đó đã không tham dự hai cuộc họp thượng đỉnh ASEAN trong ba năm.

Trái ngược với sự cải thiện quan hệ chậm chạp giữa Lào và Mỹ, sự hiện diện của Trung Quốc đã gia tăng một cách nhanh chóng sau một giai đoạn quan hệ lạnh lẽo trong thập niên 1970 và 1980. Bắc Kinh cung cấp viện trợ hậu hĩnh cho Lào sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1997 -1998 và từ đó, họ đã trở thành nguồn lợi kinh tế chính cho Viêng Chăn qua tiền trợ cấp, tiền vay với lãi xuất thấp, đầu tư nước ngoài, và trợ giúp kỹ thuật. Bản báo cáo của CRS cho biết Lào nhận được khoảng 400 triệu USD từ viện trợ song phương và đa phương hàng năm của Trung Quốc. Khó mà tính được phần đến từ Trung Quốc trong số tiền viện trợ đó vì chương trình viện trợ của họ thường bao gồm nhiều lĩnh vực bao quát hơn là chương trình bình thường được xem là trợ giúp phát triển nước ngoài. Trung Quốc chú trọng rất nhiều vào việc tạo nên một hình ảnh tích cực của họ ở Lào qua những công trình xây dựng có tầm vóc như hội trường văm hóa quốc gia ở Viêng Chăn, đại lộ Lan Xang ở trung tâm thành phố dẫn đến đền Patouxy nổi tiếng. Một công ty Trung Quốc có trách nhiệm xây sân vận động chính cho Đại hội thể thao Đông Nam Á tháng 12 năm 2009, lần đầu tiên được tổ chức ở Viêng Chăn. Trung Quốc cũng huấn luyện hàng trăm quân nhân và nhân viên trong chính phủ trong các trường của họ và cấp nhiều học bổng cho học sinh Lào học đại học Trung Quốc. Viện trợ nước ngoài của Bắc Kinh kèm theo cam kết không can thiệp vào công viêc nội bộ, điều này khác với những điều kiện thường đi theo viện trợ của Mỹ hay châu Âu đòi hỏi tiến bộ có thể kiểm chứng được trong các lĩnh vực cải thiện nhân quyền và bài trừ tham nhũng.

Nếu dẹp các lời chỉ trích sang một bên, sự tham gia của Mỹ vào LMI và những cố gắng khác để làm cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ có thể được ủng hộ ở Lào. Trong khi còn lâu Mỹ mới có thể cạnh tranh từng đồng USD với tiền viện trợ to lớn của Trung Quốc, những chương trình song phương được quảng bá tốt hơn có thể bắt đầu thu hẹp khoảng cách trong nhận thức dân gian và chuẩn bị cho một cuộc ganh đua ảnh hưởng ngoại giao thật sự”./.


* Xem thêm: - 123:Bằng cách nào TQ di dân vào VN,Lào,CPC; – 214.Khu phố mới của người Tàu ở Thủ đô Lào; – 413. Trung Quốc và Việt Nam chuyển thế tiến công vào Lào; – 497. Canh bạc với hàng xóm

Đăng trong Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , | 2 phản hồi »

536. Bất hòa vì biên giới dầu vẫn tốt hơn là gây chiến

Đăng bởi anhbasam on 08/04/2010

The Nation

Bất hòa (*) vì biên giới dầu vẫn tốt hơn là gây chiến


Robin Mills

05-04-2010


Đá  ngầm gây tai họa (Mischief Reef – Đá Vành Khăn) là cái tên thích hợp. Gần đây, khi trở về từ Đông Á, tình cờ tôi bay qua vùng đất nhỏ xíu này, không nơi nào có được 2 mét khi thuỷ triều lên.

Dường như chẳng có nghĩa gì, nhưng nó đã trở thành biểu tượng trong vấn đề tranh chấp biên giới ngày càng tăng ở các khu vực giàu dầu hỏa.

Đá Vành Khăn là một phần của quần đảo Trường Sa, một chuỗi đảo nhỏ mà các nước Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei và Việt Nam đang tranh chấp. Năm 1988, 80 thuỷ thủ Việt Nam đã chết trong một trận chiến với Trung Quốc trên một số đảo. Năm 1995, Trung Quốc chiếm bãi Đá Vành Khăn, đầu tiên họ tuyên bố là xây dựng nơi trú ẩn cho ngư dân. Những ngư dân may mắn này bây giờ đang hưởng các tòa nhà ba tầng, các món ăn vệ tinh, một nơi cho máy bay trực thăng hạ cánh và những cây súng để bắn hạ máy bay.

Quần đảo Trường Sa là vùng có vị trí chiến lược quan trọng và là nơi có nhiều cá. Nhưng yếu tố quan trọng nhất trong việc tranh chấp mà có thể đoán được, đó là dầu. Khi nhu cầu sử dụng năng lượng ở châu Á gia tăng và sản xuất nội địa ngày càng không kịp, sở hữu các đảo như thế có thể giữ các tuyên bố về nguồn trữ dầu hỏa và khí đốt có tiềm năng lớn ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

Với việc khai thác đi vào biên giới mới của các nước và vào vùng nước sâu hơn, một khi biên giới hàng hải học trở nên quan trọng.

Gần đây, những khám phá khổng lồ ở vùng nước sâu Ghana đã gây tranh cãi với nước láng giềng Bờ Biển Ngà. Nhiều nước có thể làm theo: chỉ có 7 trong số 33 biên giới ngoài khơi ở phía tây châu Phi được vẽ đúng. Theo Giáo sư Peter Phạm, giám đốc dự án châu Phi tại Uỷ ban Quốc gia về Chính sách Đối ngoại của Mỹ, một nhóm chuyên gia ở New York, nhận xét: “Nếu không chắc chắn, không ai đầu tư vào những nơi gần khu vực tranh chấp vì lo sợ mua phải một giấy phép không có giá trị”.

Những tranh chấp như thế thậm chí phổ biến hơn trong phần này của thế giới. Chẳng có gì ngạc nhiên khi một số quốc gia chia sẻ các vùng biển ở vịnh hẹp, đánh dấu các bán đảo và hòn đảo, và là nơi tập trung dầu mỏ lớn nhất trên hành tinh.

Nhiều mỏ ở Trung Đông, gồm những nơi tích tụ khí đốt lớn nhất thế giới, phần phía Nam do Iran làm chủ và khu mỏ phía Bắc thuộc sở hữu của Qatar, đã chia đôi hai nước. Cố gắng rút khí đốt ở những mỏ chia nhau như thế này quả là tốn kém và lãng phí.

Việc Iran chiếm giữ một giếng dầu của Iraq trong thời gian gần đây, giếng dầu mà sau nó họ đã nhanh chóng rút lui, là một tiếng vang đáng ngại về những tranh chấp trong quá khứ.


Trong cuộc chiến Iran – Iraq từ năm 1980-1988 và việc Iraqi xâm chiếm Kuwait năm 1990, tranh chấp biên giới đã được xem như là nguyên nhân, hoặc ít nhất là cái cớ. Hơn một triệu người phải bỏ mạng vì việc chiếm các mỏ dầu ở dưới cát sa mạc chuyển dịch và bên dưới con sông Shatt al-Arab uốn khúc.

907 người khác đã thiệt mạng trong Chiến tranh Falklands năm 1982, nơi mà việc khoan mỏ dầu gần đây của nước Anh đã làm cho Argentina lên án. Nhưng lần này người ta đã học được nhiều bài học như cố Thủ tướng Churchill nói: “Đối thoại vẫn tốt hơn chiến tranh” (**), và tranh chấp đang diễn ra thông qua các kênh ngoại giao.

Do biến đổi khí hậu nên băng tuyết ở Bắc cực tan ra, làm cho chúng ta dễ tiếp cận với dầu khí hơn, cũng như làm cho các chính trị gia tập trung tâm trí trong việc đòi chia sẻ chủ quyền. Năm quốc gia Bắc cực – Hoa Kỳ, Canada, Nga, Na Uy và Đan Mạch – đã gặp nhau hồi tuần trước, và biên giới cùng với sự thăm dò dầu khí là trọng tâm trong chương trình nghị sự.

Các trường hợp trên cho thấy tầm quan trọng của luật pháp quốc tế và đàm phán đa phương ngày càng cao trong việc giải quyết các vấn đề liên quan tới biên giới. Những tiến bộ qua việc lập bản đồ vệ tinh và phần mềm (software) về địa lý để giải quyết các câu hỏi có liên quan đến kỹ thuật.

Việc giải quyết một số tranh chấp ở châu Phi trong những năm gần đây có tiến triển tốt, và việc giải quyết ít nhất một biên giới ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) giữa Việt Nam và Indonesia. Dầu hỏa và khí đốt gần như được tìm thấy ngay lập tức trong khu vực.

Có thiện ý cũng rất quan trọng: khi tiềm năng của vùng Biển Bắc được thấy rõ trong thập niên 1960, các nước xung quanh chia nó ra với tốc độ đáng kể và bớt gay gắt hơn.

Sự có mặt của dầu hỏa hay hy vọng về việc có dầu ở đó, càng làm cho các cuộc đàm phán khó khăn. Mỗi bên nhận thức rõ những gì mà mình có thể phải nhượng cho bên kia. Các đối thủ của chính phủ và những người theo chủ nghĩa dân tộc trở về nhà, tất cả sẵn sàng trừng trị những kẻ đàm phán trong việc bàn giao một phần tài nguyên thiên nhiên quốc gia, như đã xảy ra với Tổng thống Ucraina, ông Viktor Yushchenko, sau khi ông đồng ý một thỏa thuận với Romania.

Một trọng tài trung lập giúp giảm bớt các vấn đề như thế. Tòa án Quốc tế vì Công lý ở Hague đã xử một số trường hợp, gồm vụ xung đột ở bán đảo Bakassi giữa Nigeria và Cameroon – đã được xử cho Cameroon thắng – và quần đảo Hawar tranh chấp giữa Bahrain và Qatar, và Bahrain đã thắng.

Ở các khu phát triển chung, dầu khí có thể được khai thác và chia sẻ với số lượng giới hạn trong khi chờ phán quyết cuối cùng về biên giới.

Điều này rút ngắn thời gian tranh cãi hàng thập niên và tránh cạnh tranh trong vấn đề khai thác. Khu trung lập Ả Rập Saudi-Kuwait, và vùng tranh nhau giữa Iran và Sharjah là hai ví dụ.

Cuối cùng, chủ nghĩa dân tộc quá khích không nên xen vào để quyền lợi được đánh giá một cách hợp lý. Niềm tự hào quốc gia trên một tảng đá cằn cỗi có thể kéo dài các mối quan hệ không thân thiện với láng giềng và ngăn cản sự đầu tư. Vào thời điểm có nhiều thách thức về kinh tế, căng thẳng trong khu vực và giá năng lượng tăng cao, các chính trị gia khắp thế giới nên cho thấy sự cấp bách trong việc giải quyết các phần cuối của vấn đề, và sẵn sàng thỏa hiệp và hợp tác.

Hàng tỷ thùng dầu thì quan trọng; nhưng quan trọng hơn là quần đảo Trường Sa và những tranh chấp tương tự sẽ không leo thang từ mối bất hòa trở thành chiến tranh.

Robin Mills là một nhà kinh tế năng lượng ở Dubai và là tác giả của cuốn sách “The Myth of Oil Crisis” – Huyền thoại về khủng hoảng dầu.

————-

(*) Mischief: trong bài, tác giả chơi chữ “mischief” vì nó vừa có nghĩa là mối bất hòa, điều phiền muộn…vừa có nghĩa “Đá Vành Khăn” khi đi với Reef.

(**) Câu nói của TT Churchill: “jaw-jaw is better than war-war” cũng là lối chơi chữ, “jaw-jaw” vần với “war-war”.

Người dịch: Ngọc Thu – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , | 1 Comment »

527. Vụ tiền polymer-VN:Hai viên chức Úc mất việc

Đăng bởi anhbasam on 31/03/2010

The Age

Hai viên chức mất việc vì vụ bê bối tiền

RICHARD BAKER và NICK MCKENZIE

Ngày 31-03-2010

Hai viên chức hàng đầu công ty thuộc Ngân hàng Dự trữ đang bị cảnh sát điều tra về việc liên quan tới các quan chức nước ngoài, đã rời khỏi công ty, cùng ngày khi bản báo cáo rất quan trọng về việc chỉ đạo của họ đã được đưa ra.

Việc kiểm toán đã tìm thấy Securency, công ty in tiền polymer sử dụng ở Úc và 28 nước khác, đã trả gần 50 triệu đô la tiền hoa hồng và các khoản thanh toán khác từ năm 2003 cho các đại lý trên toàn cầu có liên quan đến chính trị.

Công ty kiểm toán KPMG tìm thấy [thông tin về] các viên quản đốc của Securency đã không làm theo lời khuyên pháp lý trong việc thanh toán cho các đại lý, thẩm định yếu kém trước khi chỉ định các đại lý, cố ý giữ lại thông tin từ hội đồng quản trị của công ty và điều khiển một hệ thống “luôn thiếu tài liệu làm bằng chứng”.

Giám đốc Điều hành của Securency International, ông Myles Curtis và ông John Ellery, thư ký công ty đã rời khỏi công ty hôm qua.

Hai người này đã bị đình chỉ kể từ tháng 11 khi các viên sĩ quan Cảnh sát Liên bang Úc đột kích vào nhà của họ và trụ sở chính của Securency ở Craigieburn. Securency là công ty con của Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA).

Trợ lý thống đốc Ngân hàng Dự trữ Úc, ông Bob Rankin, người giữ ghế chủ tịch hội đồng quản trị Securency, hôm qua đã không bình luận về việc hai người này đã bị sa thải hay đã từ chức.

Hôm qua bên ngoài căn nhà của ông ở Bắc Mont Albert, khi được hỏi có phải ông đã bị sa thải hay không, ông Curtis nói: “Tôi chẳng có điều gì để nói với anh”. Không thể liên lạc được với ông Ellery để có câu trả lời.

Securency đang bị lực lượng đặc biệt của Cảnh sát Liên bang Úc điều tra từ tháng 5 năm ngoái sau khi báo The Age tiết lộ các khoản thanh toán hàng triệu đô la cho những người môi giới nước ngoài trước đây có dính líu trong các vụ bê bối tham nhũng.

Cảnh sát Liên bang Úc đang điều tra công ty Securency vì bị cáo buộc hối lộ các quan chức ở các nước trong đó có Nigeria, Malaysia và Việt Nam, hàng triệu đô la đã được trả cho những người môi giới có quan hệ rất gần gũi [với các quan chức] sau khi được trao các hợp đồng cung cấp tiền.

Các khoản tiền đã được thanh toán thường xuyên vào các ngân hàng bí mật ở nước ngoài không phải trả thuế như Seychelles và Thụy Sĩ. Với Việt Nam, chính phủ Úc đã cảnh báo Securency hồi năm 2007 rằng đại diện ở Hà Nội, ông Lương Ngọc Anh, được cho là đại diện của một Bộ có quyền lực ở Việt Nam, Bộ Công an.

Theo luật pháp Úc, các công ty hoặc cá nhân trả tiền cho các quan chức nước ngoài để có được một lợi thế kinh doanh là phạm tội hình sự. Tội đó có thể nhận mức án tối đa 10 năm tù và các khoản tiền phạt đáng kể.

Công ty kiểm toán KPMG phát hiện Securency đã trả 47,5 triệu đô la cho các đại lý của mạng lưới từ tháng 1 năm 2003 tới tháng 1 năm ngoái. Tổng doanh thu của công ty cùng các khoản tiền hoa hồng là 361,4 triệu đô la.

Một nửa công ty Securency thuộc sở hữu của Ngân hàng Dự trữ Úc và một một nửa thuộc một công ty tư nhân của Anh đầu tư. Securency đã được các bộ trưởng thời chính quyền Thủ tướng Rudd và Howard, cũng như các viên chức Bộ Ngoại giao và Thương mại, ủng hộ mạnh mẽ.

KPMG kết luận rằng mặc dù Hội đồng Quản trị và việc quản lý công ty Securency đã phát triển các thủ tục “tài chính an toàn” trong việc chỉ định và giám sát các đại lý, nhưng quản lý công ty đã không thực hiện đúng các nguyên tắc hoặc giám sát các hoạt động của các đại lý của mình.

“Chúng tôi xem xét lại hồ sơ của các đại lý và các yêu cầu khác thể hiện luôn thiếu các tài liệu cho thấy chứng cứ về thủ tục bổ nhiệm đại lý của công ty, và đã không hoàn toàn tuân theo lời khuyên mà những nhà quản lý nhận được từ các cố vấn pháp lý của công ty,” phía kiểm toán cho biết.

Kiểm toán cũng đã nhận thấy :

- Ban Quản lý Securency đã không hành động theo lời tư vấn pháp lý để giữ một bản đăng ký tất cả các khoản thanh toán cho các đại lý và các tài liệu ghi lý do việc chuyển tiền cho các đại lý vào các tài khoản ngân hàng ngoài nước mà họ cư trú.

- Ban Quản lý Securency thường không thông báo cho Hội đồng Quản trị công ty về các khoản thanh toán thêm cho các đại lý, ngoài các khoản tiền hoa hồng đã được phê duyệt.

- Những quan ngại của đội ngũ nhân viên vào năm 2007, về nguy cơ hối lộ và tham nhũng trong việc sử dụng các đại lý nước ngoài, đã được Ban Quản lý đề cập theo một cách thiếu minh bạch.

Công ty KPMG đưa ra 12 khuyến nghị cho Tiến sĩ Rankin và Hội đồng Quản trị Securency nhằm cải thiện các giao dịch với các đại lý. Các khuyến nghị này gồm việc thực hiện đầy đủ các thủ tục hiện hành và những lời khuyên pháp lý trong việc bổ nhiệm, thanh toán và giám sát các đại lý.

Securency cũng đã được khuyên nên đánh giá các phương pháp khác trong việc làm ăn với các đại lý, bao gồm cả việc cần các kiểm toán viên bên ngoài đánh giá hàng năm.

Công ty cũng nên cân nhắc việc cho một viên Quản đốc Điều hành không chịu trách nhiệm về việc buôn bán hoặc tiếp thị được bổ nhiệm và giám sát các đại lý.

Tiến sĩ Rankin đã nói trong một tuyên bố hôm qua rằng Hội đồng Quản trị Securency, có nhiều người được bổ nhiệm khác ở Ngân hàng Dự trữ Úc, sẽ thực hiện tất cả 12 kiến nghị của KPMG.

Ngân hàng Dự trữ Úc cho biết trong một tuyên bố rằng đã xác nhận các hành động của Hội đồng Quản trị Securency. Securency bây giờ đang tìm kiếm một giám đốc quản lý mới.

Sự ra đi của ông Curtis và ông Ellery xảy ra sau khi Giám đốc bán hàng lâu năm khác của Securency đã bị nghỉ hưu năm ngoái, ông Peter Chapman, người quản lý bộ phận làm ăn của công ty ở châu Phi. Securency cũng đã cắt đứt các mối quan hệ với một số đại lý gây tranh cãi trước đây, bao gồm nhân viên làm ở văn phòng người Nam Phi, là tội phạm đã bị kết án tù, ông Don McArthur, và một nhà môi giới quân sự người Malaysia, ông Abdul Kayum Syed Ahmad.

Cảnh sát Liên bang Úc được cho là đang làm việc chặt chẽ với Cục chống Gian lận Nghiêm trọng ở Anh, về các vấn đề liên quan tới việc điều tra Securency với giám đốc bán hàng toàn cầu của công ty, ông Hugh Brown, hoạt động ở ngoài nước Anh liên quan tới hai đại lý mà họ đã thuê để đại diện cho công ty tại Nigeria.

Securency cũng nằm trong câu chuyện trên tờ The New York Times hôm qua liên quan tới một vụ điều tra hối lộ quốc tế với công ty Alstom của Pháp *.

Bản báo cáo cho biết các nhà điều tra đã tìm thấy Securency và Alstom sử dụng cùng một đại diện ở Việt Nam – Ông Lương và công ty CFTD của ông.

Các nhà điều tra châu Âu chia sẻ quan điểm với chính phủ Úc rằng ông Lương là đại diện cho chính phủ Việt Nam, bản báo cáo cho biết. **


Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

* Bài trên New York Time, ngày 29/3/2010, có tựa đề: Alstom at Center of Web of Bribery Inquiries. Trong đó có đoạn: “An inquiry in Britain and Australia focuses on the use of one such agent in Europe to secure contracts in Vietnam. The agent, Company for Technology and Development, based in Hanoi, is believed to be a front for government officials in Hanoi, according to law enforcement officials, who declined to be identified because they were not authorized to speak publicly. In November 2009, the Australian Federal Police opened an investigation into the use of Company for Technology and Development by Securency International, an Australian company that owns a patented formula for polymer-based bank notes, to help win a contract with the Vietnamese national bank. According to European law enforcement officials, who asked to remain anonymous because they were not authorized to speak, Australia is now coordinating its investigation with the Serious Fraud Office in Britain because evidence was found that the same agent was used by European subsidiaries of Alstom. The three executives of the British unit of Alstom were questioned last week about allegations of bribery, money laundering and false accounting.”

** Mời xem thêm: + 211.Mở rộng điều tra vụ in tiền polymer(liên quan VN); + 351. Việt Nam hỗ trợ trong vụ việc Ngân Hàng Trung ương Úc; + 370. Tin tiếp về vụ tiền polymer liên quan VN.

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Tham nhũng | Tagged: , , , | 2 phản hồi »

525. Các quốc gia chia rẽ vì luật lệ bầu cử ở Myanmar

Đăng bởi anhbasam on 29/03/2010

The National

Các quốc gia chia rẽ vì luật lệ bầu cử ở Myanmar

James Reinl, thông tín viên LHQ

27-03-2010


NEW YORK – Các cường quốc thế giới đã tranh cãi về luật bầu cử mới ở Myanmar lần đầu tiên hồi tuần qua, nhưng triển vọng về một áp lực quốc tế thống nhất theo hướng cải cách dân chủ vẫn ảm đạm khi vài nước mâu thuẫn nhau về phản ứng của họ đối với chế độ quân phiệt.

Sau cuộc họp hôm thứ năm với Nhóm những Người bạn của Myanmar (*), Tổng thư ký LHQ, ông Ban Ki-moon, tái khẳng định những lo ngại về cuộc bầu cử năm nay và kêu gọi phải có một cuộc bỏ phiếu “toàn diện, có [các bên] tham gia và minh bạch”.

Tuy nhiên, các nước quan trọng trong nhóm 15 nước thành viên đã không đồng ý. Anh quốc đã lên án luật lệ bầu cử vì nó không như mọi người mong đợi, trong khi Trung Quốc khen ngợi các thành phần quân sự ưu tú đã đi “một bước rất quan trọng trong quá trình hòa giải dân tộc”.

Tháng này, các tướng lãnh Myanmar đã công bố luật quản lý cuộc bầu cử đầu tiên của nước này trong 20 năm, phác thảo các điều lệ đăng ký các đảng phái chính trị và cấm bất kỳ người nào bị phạt tù làm thành viên của một đảng chính thức.

Các nhà phê bình nói rằng các điều lệ đó với mục đích cố ý loại bỏ nhà dân chủ bị giam giữ, bà Aung San Suu Kyi và 2.100 tù nhân chính trị khác ở nước này, bao gồm các nhà lãnh đạo sinh viên, những người đã cùng các nhà sư Phật giáo tham gia cuộc biểu tình đông đảo hồi năm 2007.

Đảng của bà Suu Kyi, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) đã thắng trong cuộc bầu cử cuối cùng trên đất nước này hồi tháng 5 năm 1990, nhưng đã bị cấm thành lập chính quyền dân sự, vẫn chưa quyết định có chấp nhận các điều lệ đó và các ứng cử viên theo quy định hay không.

Người nhận giải thưởng Nobel 64 tuổi nhận hình phạt 18 tháng quản thúc tại gia ở ngôi nhà của bà bên bờ hồ tại thủ đô cũ, Yangon, tuần qua đã yêu cầu Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ tẩy chay cuộc bầu cử, dự kiến sẽ diễn ra vào cuối năm nay.

Những nhà vận động phương Tây đã nhiều lần chỉ trích các tướng quân phiệt ngăn chặn những cuộc cải cách dân chủ, buộc dân làng vào các băng nhóm lao động và móc túi họ để lấy hết lợi nhuận từ các nguồn cung cấp dồi dào về gỗ, ngọc và đá quý ở Myanmar.

Phát biểu bên ngoài Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc hôm thứ tư, Đại sứ Anh tại Liên Hiệp Quốc, ông Mark Lyall Grant, nói rằng luật bầu cử “đã làm cộng đồng quốc tế thất vọng”.

Ông nhắc tới yêu cầu của Hội đồng [Bảo an LHQ] trước đó đã nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc phóng thích tất cả các tù nhân chính trị, kể cả bà Suu Kyi, thiết lập một cuộc đối thoại quốc gia, tạo điều kiện thích hợp cho hoà giải.

“Chúng tôi tin rằng luật lệ này đặt ra tiến trình không phải để thực hiện các cuộc bầu cử tự do và công bằng vào cuối năm nay và qua nhiều cách có vẻ như nó được lập ra để tấn công bà Aung San Suu Kyi và đảng đối lập NLD, để làm khó họ trong việc đăng ký bầu cử”, ông Grant nói.

Nhưng ông Lý Bảo Đông, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, nước vẫn duy trì các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với nước láng giềng [Miến Điện] và đã nhận hết dân tị nạn tràn qua từ cuộc xung đột dân sự, nhấn mạnh chủ quyền của Myanmar và cơ cấu tổ chức cuộc tổng tuyển cử là vấn đề nội bộ.


Đại sứ đã được chỉ định gần đây nói với các phóng viên rằng: “rất quan trọng với cộng đồng quốc tế và Hội đồng Bảo an giúp Myanmar thúc đẩy xây dựng một môi trường lành mạnh, có lợi cho cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Các chuyên gia cảnh báo rằng cách phê phán của phương tây về vấn đề Myanmar vẫn chưa đủ để làm suy yếu các tướng lãnh lớn tuổi đang lãnh đạo đất nước. Họ duy trì sự kìm kẹp chặt chẽ lên đất nước nhiệt đới với 48 triệu dân từ mục đích xây thủ đô Naypyidaw.

Wesley Clark, một cựu tướng lãnh Hoa Kỳ và đồng tác giả của một báo cáo sắp ra: Thực tế hiện tại và khả năng tương lai ở Miến Điện: các lựa chọn cho chính sách Hoa Kỳ, nói rằng “thập kỷ theo đuổi chính sách cô lập và cấm vận của Mỹ đã không ảnh hưởng nhiều đến sự thay đổi” tại Myanmar và kêu gọi xem xét lại chính sách. Miến Điện là tên cũ của Myanmar.

Henrietta Fore, đồng tác giả khác của bản báo cáo, kêu gọi chính quyền Obama “gây sức ép lên các lãnh đạo quân sự để họ cải thiện sự cai trị và hỗ trợ những người không có gốc Miến đang sống ở trong nước, có được một tiếng nói công bằng trong việc cai quản quốc gia” trong thời kỳ chuyển tiếp bầu cử ở Myanmar.

Các nhà phân tích chỉ ra sự ảnh hưởng của các nước trong khu vực, gồm Trung Quốc, Nhật Bản và các thành viên trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), những nước đã miễn cưỡng trừng phạt nước láng giềng của mình.

Một số người chỉ ra rằng Singapore và Indonesia đang mất kiên nhẫn với quá trình cải cách chậm chạp của chính quyền quân phiệt và nói rằng các thành viên ngày càng quan trọng của khối Asean có thể làm cho tiếng nói của họ được lắng nghe trong hai ngày hội nghị thượng đỉnh của khối tại Hà Nội, bắt đầu từ ngày 9 tháng 4.

Bà Suzanne DiMaggio, một chuyên gia từ Hội Xã hội Châu Á có trụ sở tại New York, cho biết, ngay cả Trung Quốc “ở vào thế khó xử” đối với nước láng giềng chủ yếu là Phật giáo, nước mà các nhóm dân tộc thiểu số tiến hành xâm lược vũ trang chống lại chính quyền trung ương.

“Trên tất cả mọi thứ, Trung Quốc muốn ổn định tại Miến Điện, lo ngại về sự bùng nổ dọc theo biên giới, những bất ổn về dân tộc và những tác động này có thể ảnh hưởng tới Trung Quốc”, bà nói.


Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

(*) Nhóm những Người bạn của Myanmar: gồm 15 nước, trong đó có 5 nước là ủy viên thường trực HĐBA Liên Hiệp Quốc như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp và 10 nước khác.

Đăng trong Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , | 1 Comment »

524. Từ cải cách y tế Mỹ ngẫm về lộn khái niệm

Đăng bởi anhbasam on 28/03/2010

Từ cải cách y tế Mỹ ngẫm về lộn khái niệm

Nguyễn Quang A *


Ngày 23-3-2010 Tổng thống Mỹ Obama đã ký ban hành luật cải cách y tế Mỹ. Dẫu luật này còn gặp nhiều khó khăn do Đảng Cộng hòa nói sẽ dùng mọi biện pháp để ngăn cản việc thực hiện và cả chục bang (do đảng Cộng hòa nắm quyền) đe dọa sẽ kiện đạo luật này vi hiến, Tổng thống Obama đã có một kỳ công ngoạn mục, giữ được một lời hứa quan trọng của mình khi tranh cử.

Sau khi được thực hiện, luật này sẽ cải tổ sâu sắc xã hội Mỹ, nó là một sự điều chỉnh rất khó khăn và vô cùng lớn của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Nó sẽ đảm bảo thêm cho 32 triệu người Mỹ các dịch vụ y tế cơ bản mà họ chưa được hưởng. Đảng dân chủ đã định đưa ra đạo luật cải cách y tế từ nhiều chục năm qua nhưng đều thất bại, lần này họ đã thành công.

Trong khi các nhà nước phúc lợi châu Âu đã đảm bảo dịch vụ y tế cơ bản cho mọi người dân từ lâu, thì hệ thống y tế của Mỹ dựa quá nhiều vào sự tự nguyện, vào thị trường, vào khu vực tư nhân nên đã khiến hàng chục triệu người không có bảo hiểm y tế.

Phúc lợi xã hội tạo gánh nặng cho nhà nước ở các nước châu Âu và đã buộc các nước này có những cải tổ hệ thống để nâng cao hiệu quả. Với đạo luật này Mỹ dường như tiến đến một nhà nước phúc lợi hơn, tiến gần hơn tới kiểu chủ nghĩa tư bản dân chủ châu Âu.

Đảng cộng hòa và các hãng bảo hiểm y tế tư nhân ở Mỹ đã phản đối kịch liệt dự luật này trong thời gian qua và sẽ tìm mọi cách để cản trở việc thực hiện nó trong tương lai. Họ có rất nhiều lý do phản đối, từ giảm quyền tự do của người dân đến lấn quyền của các bang, v.v. Nhưng một trong những lý do cơ bản là ý thức hệ. Họ mang con ngáo ộp “xã hội chủ nghĩa” ra dọa dân Mỹ, để biện hộ cho sự phản đối của họ, nói rằng luật này cho phép nhà nước can thiệp quá sâu vào lĩnh vực y tế và khiến nước Mỹ trở nên “xã hội chủ nghĩa” hơn.

Xã hội chủ nghĩa được hiểu ở mỗi nơi một khác với sự lẫn lộn khái niệm do vô tình hay hữu ý.

Nếu hiểu xã hội chủ nghĩa là nhiều dân chủ hơn, nhiều phúc lợi hơn cho người dân, là “dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh”, thì đúng các nhà nước phúc lợi Tây Âu “xã hội chủ nghĩa” hơn Mỹ, và hơn các nước tự xưng là xã hội chủ nghĩa rất rất nhiều. Có thể gọi họ là “xã hội chủ nghĩa dân chủ” nhưng thực chất họ là các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại. Chủ nghĩa tư bản có sức sống dẻo dai, có khả năng tự điều chỉnh và đã có sự điều chỉnh rất nhiều từ chủ nghĩa tư bản man rợ thời trước Marx. Luật cải cách y tế Mỹ là một minh chứng nữa cho sự điều chỉnh như vậy.

Thực ra, tên gọi là gì cũng quan trọng (đối với hiệu quả truyền thông nếu dùng các khái niệm rõ ràng) song không quan trọng bằng thực chất là gì.

Một số trong số các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu trước kia đã chuyển hẳn sang con đường tư bản chủ nghĩa hiện đại hay “chủ nghĩa xã hội dân chủ”, số còn lại (phần lớn thuộc Liên Xô trước đây) đi theo con đường tư bản man rợ.

Trung quốc rất khôn khéo đi theo con đường mà họ gọi là “chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc”. Con đường mang mầu sắc Trung Quốc là gì? Xét theo việc làm chứ không theo lời họ nói, đó, thực chất, là con đường tư bản chủ nghĩa. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, khu vực tư nhân phát triển, cải cách mạnh khu vực doanh nghiệp nhà nước, nền kinh tế hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu. Nhà nước phúc lợi trước kia ở Trung Quốc, tuy mới chỉ dành cho số ít (trong bộ máy nhà nước, doanh nghiệp nhà nước) nhưng đã bị cắt giảm, bị “xã hội hóa” theo kiểu chủ nghĩa tự do Mỹ, tuy mức độ phúc lợi kém hơn nhiều. Nay Trung Quốc muốn cắt ngắn giai đoạn tư bản chủ nghĩa man rợ để phát triển chủ nghĩa tư bản hiện đại và họ đã có kế hoạch cải cách hệ thống phúc lợi, trong đó có y tế, cho số đông.

Họ chẳng bao giờ nói họ phát triển tư bản chủ nghĩa (vì nói thẳng thế không hay cho sự phát triển tư bản chủ nghĩa của họ), nhưng việc làm của họ thì chính xác như vậy, đấy là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất để chấn hưng Trung Quốc. Cái chủ nghĩa thực sự thịnh hành ở Trung Quốc hiện nay là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa dân tộc. Sự vươn lên của Trung Quốc hiện nay có nét giống với sự vươn lên của Đức và Nhật cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Không rõ Trung Quốc có trở thành “tư bản chủ nghĩa dân chủ” hay không? Nếu có thì đó sẽ là hồng phúc cho nhân loại; nếu không sẽ có nhiều bất trắc cho thế giới.

Nhân tranh cãi về cải cách y tế ở Mỹ, có thể thấy cả ở Mỹ lẫn Trung Quốc và nhiều nơi khác người ta vẫn dùng đến chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ để biện hộ cho sự phản đối hay thúc đẩy những cải cách nào đó. Lời nói, phép tu từ học vẫn được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để biện hộ, đôi khi che dấu những mục đích, những động cơ thực.

Học kinh nghiệm nước ngoài nên xem xét hành động thực tiễn, đừng quá tin vào ngôn từ. Cùng một từ có thể được dùng với những nghĩa khác nhau. Cứ thấy họ dùng từ giống hay gần giống mình mà làm theo cách người ta nói, người ta khuyên hay ám chỉ thì rất có thể phải mang thóc giống ra ăn.

Hãy xem họ làm gì, cách họ làm thế nào, đưa chúng vào một khung khổ khái niệm rõ ràng để có những phân tích mạch lạc và hãy đừng quá để ý đến điều họ nói. Tránh kinh nghiệm xấu, học cách làm hay và tìm cách làm cho chúng thích ứng với điều kiện của mình, sẵn sàng thử nghiệm những cách làm mới. Đấy có thể là cách khôn ngoan để cải tổ xã hội, nền kinh tế và hệ thống phúc lợi, để nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, để chấn hưng đất nước.


* Bài viết đã được biên tập lại và đăng trên Tiền phong Chủ nhật, 28-3-2010. Bản ở đây là đầy đủ.

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Quan hệ Quốc tế | Tagged: , , , | 5 phản hồi »

523. TQ gia tăng quân sự ảnh hưởng cân bằng khu vực

Đăng bởi anhbasam on 28/03/2010

DNA

Hoa Kỳ: Trung Quốc gia tăng quân sự

ảnh hưởng tới cân bằng trong khu vực

27-03-2010

Hình (lấy từ báo cáo của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ): Tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm liên lục địa. Trung Quốc có khả năng bắn tên lửa tới các mục tiêu trên khắp khu vực và khắp thế giới, bao gồm cả lục địa Hoa Kỳ. Hệ thống mới hơn, chẳng hạn như DF-31, DF-31A, và JL-2, giúp Trung Quốc có khả năng chống chọi năng lượng hạt nhân


Washington: việc tăng cường các lực lượng vũ trang của Trung Quốc tiếp tục “không suy giảm” và các mục tiêu của Bắc Kinh có vẻ như là một cường quốc qua mặt châu Á và thách thức các hoạt động tự do của Mỹ trong khu vực, đô đốc hàng đầu của Hoa Kỳ đã nói.

Phác thảo về sự gia tăng của Trung Quốc ảnh hưởng đến cân bằng quân sự trong khu vực, đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nói: “Việc gia tăng nhanh và thay đổi toàn diện các lực lượng vũ trang của Trung Quốc cho thấy đã vượt ra ngoài khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.

Ý kiến của đô đốc trong một trình bày trước Ủy ban Quân vụ Quốc hội đã làm tăng mối quan ngại liệu Bắc Kinh đang che giấu tham vọng quân sự toàn cầu.

“Một điều quan tâm đặc biệt là các yếu tố trong việc hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc cho thấy nó được thiết kế để thách thức sự tự do hoạt động của chúng ta trong khu vực”, ông Willard nói.


Đô đốc người Mỹ hàng đầu cho biết, Trung Quốc đã tăng cường hạm đội tàu ngầm và hạm đội phòng không, những hạm đội này đang hiện diện sự thống trị quan trọng ở các vùng biển châu Á tại Biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông), Biển Đông Trung Hoa và Biển Hoàng Hải và các lực lượng này tạo thành khả năng “chống từ chối và cấm đến gần”, nhằm chống lại các lực lượng của Mỹ và các lực lượng trong khu vực.

“Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA – tức Hải quân Trung Quốc) đã tăng cường tuần tra trên khắp vùng và đã cho thấy có sự sẵn sàng gia tăng đối đầu với các quốc gia trong khu vực trên vùng biển quốc tế và trong các chuỗi đảo đang tranh chấp.

Ngoài ra, Trung Quốc còn đòi chủ quyền trên quần đảo Senkakus (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư Đài), do Nhật Bản quản lý, và các cuộc giao tranh trong các khu vực biên giới với Ấn Độ”, ông Willard nói.


Các quan chức thuộc các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ cũng đã nói với ủy ban của Quốc hội rằng, trong vài năm qua Bắc Kinh đã bắt đầu một giai đoạn phát triển mới về quân sự bằng cách khởi đầu vai trò và nhiệm vụ của Hải quân Trung Quốc một cách rõ ràng. Điều này đã đi quá sự quan tâm về lãnh thổ của Trung Quốc và đã làm cho cộng đồng quốc tế không thể hiểu được mục tiêu về học thuyết tiến hóa và khả năng của Hải quân nước này.

Trong bài phát biểu khai mạc của mình, Thượng nghị sĩ Carl Levin, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện cho biết, do ảnh hưởng và phát triển quân sự của Trung Quốc, các liên minh truyền thống và các nước hợp tác trong khu vực có thể bị áp lực do nhận thức rằng sự cân bằng quyền lực đang dịch chuyển. Và các nước khác trong khu vực cũng có thể cho rằng phát triển quân sự là cần thiết.

“Những sự phát triển như thế, chúng ta cần phải hiểu và phải được cung cấp tin tức để biết mà ra quyết định. Việc Trung Quốc ngày càng liên quan tới Iran, kể cả việc đầu tư vào lĩnh vực năng lượng ở Iran là một ví dụ về những nỗ lực lan rộng  ảnh hưởng của Trung Quốc trên toàn cầu”, ông nói.

“Trung Quốc là sự cản trở chính để Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nghiêm khắc hơn trong việc cấm vận chống Iran”, ông Levin nói.

Một thượng nghị sĩ có ảnh hưởng mạnh khác là ông Joseph Lieberman nói, ấn tượng của ông là trong năm qua dường như có sự gia tăng trong việc khẳng định của Trung Quốc trên các lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao và quân sự.

Để các thượng nghị sĩ có ảnh hưởng tìm ra sự thật cho những thắc mắc này, ông Willard nói rằng Trung Quốc gia tăng từ hệ thống phòng không hợp nhất ngoài khơi, loại vượt  ra ngoài vùng lãnh hải và không gian của họ, cho tới việc đầu tư vào tàu ngầm, phải nói là khá sâu sắc.

Khả năng cụ thể đó, hiện tại vươn ra khắp Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), Biển Đông Trung Hoa, Biển Hoàng Hải và xa hơn nữa, và các công suất khác hợp lại cung cấp khả năng từ chối trong một diện tích khá lớn, ông nói.

“Theo thời gian, nó xuất hiện gần như là vô hại đối với năng lực cũng như khả năng tiềm tàng của Hoa Kỳ để chống lại những thứ đó, như trong khuôn khổ của việc đầu tư này. Nhưng tôi cho là những loại vũ khí đó không những làm cho Hoa Kỳ quan ngại, mà còn làm cho các đồng minh trong khu vực của chúng ta lo lắng.

Như quý vị đã biết, Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng minh của chúng ta ở Đông Nam Á, Philippines và Thái Lan và các đối tác của chúng ta ở Việt Nam và các nơi khác trong khu vực, bây giờ tất cả đều phải đối phó với những khả năng có thể xâm phạm quyền tự do hoạt động của các nước trên khắp khu vực quan trọng trên thế giới này”, ông nói.

Các tư lệnh của Hoa Kỳ cũng nói rằng những mạng lưới của chính phủ và quân đội Mỹ và các hệ thống máy tính tiếp tục là mục tiêu cho sự xâm nhập có nguồn gốc từ bên trong Trung Quốc.


Người dịch: Ngọc Thu

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Quốc tế, Quân sự | Tagged: , , , , | 2 phản hồi »

521. Nguyên nhân TQ bắt giam nhân viên Rio Tinto

Đăng bởi anhbasam on 26/03/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Nguyên nhân sâu xa của việc Trung Quốc

bắt giam các nhân viên Rio Tinto

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Ba, ngày 16-3-2010

Vụ Bắc Kinh bắt giam Stern Hu, giám đốc chi nhánh Trung Quốc của tập đoàn khai khoáng Rio Tinto, tháng 8/2009 là một sự kiện mang tính bước ngoặt trong quan hệ Trung Quốc- Ôxtraylia. Doanh nhân người Hoa mang quốc tịch Ôxtrâylia Stern Hu cùng với 3 đồng nghiệp Trung Quốc là Wang Yong, Ge Minqiang và Liu Caikui đang chờ phiên tòa xét xử về những cáo buộc liên quan đến nhận hối lộ và đánh cắp các bí mật thương mại. Theo các chuyên gia về hệ thống tư pháp của Trung Quốc, các chi tiét về những cáo buộc chống lại 4 người nói trên cho thấy họ có thể phải đối mặt với những án tù từ 5 năm trở lên nếu bị kết tội.

Trong bài phân tích đăng trên mạng Diễn đàn Đông Á (EAF) ngày 9/3, học giả Peter Yuan Cai thuộc Đại học Quốc gia Ôxtrâylia (ANU) cho rằng sự can thiệp bất ngờ của Bắc Kinh dưới danh nghĩa an ninh quốc gia không chỉ chứng tỏ những nhận thức của Trung Quốc đối với bất lợi của họ trong kinh doanh quặng sắt lớn đến mức nào, mà còn cho thấy sự thiếu rành mạch trong luật pháp Trung Quốc liên quan đến bí mật quốc gia và hoạt động của thị trường. Mệnh lệnh kiên quyết từ Bắc Kinh, đặc biệt bởi các cơ quan tình báo Trung Quốc, chỉ có thể xảy ra với sự cho phép của các cấp bậc cao nhất trong tiến trình chính trị ở nước này.

Thế nhưng, điều gì khiến cho Chính phủ Trung Quốc phải đưa ra hành động gây ấn tượng đến như vậy tại một thời điểm hết sức nhạy cảm trong các cuộc thương lượng về giá quặng sắt? Báo chí Trung Quốc theo lệ thường chấp nhận rằng Stern Hu cùng các đồng nghiệp đã can dự vào việc làm gián điệp, điều gây thiệt hại trầm trọng cho lợi ích kinh tế quốc gia của Trung Quốc. Nhiều nhà bình luận Ôxtraylia nhìn nhận điều đó như là một sự lăng mạ có tính toán với mưu đồ bày tỏ sự khó chịu của Trung Quốc về việc công ty nhôm quốc doanh khổng lồ Chinalco của Trung Quốc thất bại trong nỗ lực mua cổ phần chiến lược trong Rio Tinto hồi tháng 6/2009. Điều này chắc chắn đã gây ảnh hưởng tới những hành động của Trung Quốc, nhưng những cân nhắc quan trọng hơn dường như là quyết tâm của Trung Quốc nhằm củng cố và tái cơ cấu ngành nghề chế tạo thép lớn nhưng rời rạc của nước này, đồng thời chống lại giá quặng sắt tăng nhanh, nhưng việc sử dụng công cụ này nhằm cố gắng kiểm soát thị trường có thể đã tạo ra nhiều ý nghĩa.

Ngành thép của Trung Quốc bao gồm hàng trăm công ty vừa và nhỏ cạnh tranh dữ dội với nhau về các nguồn cung cấp quặng sắt. Sự cạnh tranh và mất đoàn kết trong ngành này đã gây ra thảm họa cho vị thế đàm phán về giá quặng sắt của Trung Quốc trong quá khứ. Các nguồn Trung Quốc ước tính rằng giá quặng sắt đã tăng trên 400% trong vòng 6 năm qua, và kết quả là các nhà máy thép của Trung Quốc đã phải trả thêm 700 tỉ nhân dân tệ (103 USD).

Trong một nỗ lực nhằm đoàn kết các nhà sản xuất thép và mặc cả tập thể để có được giá tốt hơn, Chính phủ Trung Quốc đã tước vai trò lãnh đạo trong các cuộc thương lượng về giá quặng sắt của nhà sản xuất Baosteel có trụ sở ở Thượng Hải và thay vào đó bằng Hiệp hội Sắt Thép Trung Quốc (CISA). Quyết tâm tự chứng tỏ mình, CISA đã yêu cầu giảm 40% giá so với những thỏa thuận của năm trước. Các công ty khai mỏ đã không chấp nhận sự giảm giá mạnh này và không bên nào nhượng bộ trong khi các cuộc thương lượng kéo dài quá hạn chót.

Trong lúc các nhà máy thép của Trung Quốc ngày càng nản lòng với cuộc mặc cả bị kéo dài, Rio Tinto và các công ty khai mỏ khác được cho là tận dụng lợi thế thiếu kiên nhẫn đó, theo duổi chiến lược “chia để trị” bằng cách mời chào các nhà máy này những giá chuẩn dải hạn hấp dẫn. Rất nhiều nhà máy nắm lấy cơ hội này để mua quặng sắt với giá rẻ hơn. Theo dõi mặt trận thống nhất bị tan rã, CISA đề nghị Chính phủ can thiệp và ngăn chặn những giao dịch trái phép. Việc ccs nhà máy thép vừa và nhỏ của Trung Quốc nắm lấy những  mời chào hấp dẫn của Rio Tinto có thể là giọt nước tràn ly. Cùng với vị thế mặc cả của SISA có vẻ ngày càng yếu đi, có những đồn đại lan tràn rằng CISA đã sẵn sàng từ bỏ lập trường cứng rắn về giảm giá 40% và chấp nhận một thỏa thuận mang tính giũ thẻ diện. NHiếu người tin răng niềm tin và những đòi hỏi thái quá của Rio Tinto bắt nguồn từ sự hiểu biết riêng tư của tập đoàn này về điểm yếu của các nhà thương lượng Trung Quốc cũng như những chi tiết về sản lượng và kho chứa tại các nhà máy thép của Trung Quốc. Những tin tức từ báo chí nhà nước của Trung Quốc quả quyết thông tin này đã được tìm thấy trong các máy tính bị tịch thu từ văn phòng của Rio Tinto ở Thượng Hải.

Vụ bắt giam Stern Hu cùng các đồng nghiệp có thể được nhìn nhận như là một phần của một nỗ lực lớn hơn nhằm ngăn chặn sự rò rỉ thông tin nhạy cảm từ các nhà máy thép của Trung Quốc. Đó cũng là một lời cảnh báo mạnh mẽ từ Bắc Kinh về quyết tâm lập lại trật tự trong thị trường nhập khẩu quặng sắt và trấn áp bất kỳ giao dịch trái phép nào.

Tuy nhiên, các vụ bắt giam dường như mang tính trả đũa này là sản phẩm của một cảm giác thất vọng nói chung trong các quan chức Chính phủ Trung Quốc về những giao dịch với Rio Tinto. Không có quy chết đặc biệt nào được dành cho Trung Quốc, quốc gia với tư cách là khách hàng lớn nhất, nhập khẩu hơn 70% lượng quặng sắt được buôn bán bằng đường biển. Trong vòng đàm phán gần đây, CISA một lần nữa công khai nêu lên ý tưởng về một “giá Trung Quốc” đặc biệt.

Điều vẫn chưa rõ là chính xác ai là người chủ mưu những hành động chống lại công ty khai mỏ này? Căn cứ vào ảnh hưởng đối với vị trí thương mại của Trung Quốc nói chung, tại sao và làm sao vụ này được tiến hành vào thời điểm này? Việc trả lời những câu hỏi đó sẽ mang tính quyết định để hiểu sự lan tỏa từ vụ này và xử lý một cách đúng đắn các quan hệ thương mại Trung Quốc trong tương lai.

Khía cạnh đáng báo động và kỳ lạ nhất của việc bắt giam Stern Hu là sự can dự của Bộ An ninh. Cơ quan phản gián nội địa này có nhiệm vụ bảo vệ Đảng và Nhà nước trước nhứng gián điệp nước ngoài, những phần tử ly khai và những “kẻ thù của nhà nước” khác. Vai trò của bộ này trong vụ thương lượng tranh cãi nóng bỏng nói trên vượt ra ngoài khía cạnh thương mại hoặc kinh tế tới mức độ an ninh quốc gia, phản ánh sự thay đổi rộng lớn hơn trong chiến lược an ninh tài nguyên của Trung Quốc.

Do Trung Quốc trở thành nước nhấp khẩu năng lượng từ đầu những năm 1990, Bắc Kinh ngày càng có ý thức về nhu cầu đảm bảo các nguyên liệu thô chiến lược. Sau khi cuộc mau sắm toàn cầu của Trung Quốc bị các nhà quản lý ở Mỹ và Ôxtrâylia chặn lại, có một cảm giác ngày càng tăng ở Trung Quốc rằng các nguồn tài nguyên không thể luôn được mua một cách công bằng trên thị trường toàn cầu. Vì thế, Trung Quốc có động thái tiến tới một chiến lược hợp nhất liên quan đến sự cộng tác của các bộ và cơ quan chính phủ nhằm đảm bảo các nguồn tài nguyên có ý nghĩa sống còn. Các cơ quan an ninh có thể được lôi kéo đóng một vai trò ngày càng lớn trong kế hoạch này.

Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động ở Trung Quốc nghi ngờ cơ sở pháp lý cho những tội danh gián điệp ban đầu được gán cho các nhân viên của Rio Tinto. Những nhập nhằng trong luật có thể được thấy trong Luật về bí mật nhà nước năm 1989, trong đó định nghĩa một cách lỏng lẻo rằng các bí mật là những vấn đề liên quan đến “an ninh và lợi ích quốc gia”, kể cả “những bí mật liên quan đến phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia”. Theo một nghiên cứu nội bộ do Ủy ban Nội vụ và Tư pháp của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội), các cơ quan nhà nước và các tập đoàn tùy tiện phân loại tài liệu là bí mật nhà nước vì lo ngoai bị cáo buộc làm rò rỉ thông tin nhạy cảm. Điều này phản ánh luật bí mật được định nghĩa kém của Trung Quốc vốn cho phép hầu như tất cả bộ máy quan liêu hành chính đóng dấu mật cho các giấy tờ.

Chính phủ Trung Quốc biết rõ rằng Luật về bí mật nhà nước thâu tóm tất cả mọi thứ của nước này cần một số điều chỉnh nghiêm túc, nhưng nguyên tắc cũ của bí mật được ngầm định là vẫn có hiệu lực.

Nếu có bất kỳ kết quả tích cực nào từ vụ Stern Hu, thì đó là các luật sư có thể thăm dò ranh giới của những gì cấu thành bí mật nhà nước, tạo ra một phép thử đối với tiến bộ mà Trung Quốc tự nhận về sự minh bạch và cởi mở hơn, mang lại ý nghĩa mới cho quan niệm về sự toàn vẹn của thị trường. Trong lúc này, Stern Hu cùng các đồng nghiệp vẫn sẽ là những “vật tế thần” cho an ninh quốc gia của Trung Quốc cũng như tính không rõ ràng của quan hệ giữa thị trường và nhà nước.


* Mời đọc thêm: 228.Thua đau bauxite-Trung Quốc bắt người của đối thủ?

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , | 2 phản hồi »