BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Quan hệ Việt-Trung’ Category

594. Hillary Clinton thay đổi chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 30/07/2010

Forbes

Hillary Clinton thay đổi chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc


Ngoại trưởng quay 180 độ đối với Bắc Kinh

Gordon G. Chang

28-07-2010

Hôm thứ Sáu, Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton tuyên bố rằng giải pháp hòa bình trong việc cạnh tranh đòi chủ quyền trên Biển Đông là sự “quan tâm quốc gia” của Hoa Kỳ. “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình hợp tác ngoại giao của tất cả các nước tranh chấp trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế”, bà nói tại Hà Nội trong một cuộc họp an ninh khu vực tại Diễn đàn khu vực Asean. “Chúng tôi phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Bắc Kinh đã phản ứng ngay. Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì mô tả ý kiến của bà Clinton là “một cuộc tấn công vào Trung Quốc”, và trong một ý nghĩa nào đó, ông ấy đúng. Trung Quốc đã tuyên bố một cách chính thức rằng tất cả vùng biển là của riêng của họ. Làm như thế, Bắc Kinh nói rằng họ có chủ quyền đối với thềm lục địa của Việt Nam, Brunei, Malaysia, Indonesia, Đài Loan và Việt Nam. Hầu hết các tuyên bố của Trung Quốc là vô căn cứ, và một số [tuyên bố] là lố bịch. Đó có lẽ là lý do tại sao Trung Quốc đã phải sử dụng đến bạo lực để giật lấy các hòn đảo và đảo nhỏ từ những nước đòi chủ quyền khác. Trung Quốc chiếm giữ phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam vào năm 1974 và Đá Vành Khăn từ Philippines vào năm 1995.

Bắc Kinh đã chọn cách tiếp cận mềm mỏng hơn bằng cách ký vào một quy tắc ứng xử đa quốc gia năm 2002. Các nỗ lực gần đây của Trung Quốc được xem như thành công trong việc giành quyền kiểm soát bằng cách ngăn cản các nước đòi chủ quyền khác tập họp thành một nhóm với nhau. Một cách thâm độc, Trung Quốc duy trì chính sách chỉ tham gia đàm phán song phương để có thể sử dụng sức mạnh của họ nhằm đạt được lợi thế tối đa.

Tuy nhiên, dù sao Trung Quốc đã gặp phải sự phản kháng từ các quốc gia trong khu vực – đặc biệt là Việt Nam – cho nên họ đã thay đổi chiến thuật trong thời gian gần đây. Khi ông Jeffrey Bader, viên chức hàng đầu châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia [Hoa Kỳ], và ông James Steinberg, Phó Ngoại trưởng, đã đến Bắc Kinh hồi tháng 3, các viên chức Trung Quốc lần đầu tiên nói [với hai viên chức Hoa Kỳ] rằng Biển Đông là một trong những “lợi ích cốt lõi” của đất nước họ và rằng họ sẽ không cho phép sự can thiệp của người Mỹ ở đó.

Bắc Kinh cố gắng tô vẽ các lời nói của bà Clinton là chính Hoa Kỳ xen vào khu vực này, nhưng điều đó không thể đi xa hơn nữa từ sự thật. Cho đến nay, Washington hầu như mù tịt về những nỗ lực của Trung Quốc để biến Biển Đông thành “cái hồ của Trung Quốc”. Hoa Kỳ đã bỏ qua sự chiếm đoạt lãnh thổ của Bắc Kinh và thậm chí đã làm rất ít để bảo vệ ExxonMobil khi năm 2008, Trung Quốc đã hăm doạ công ty này tham gia một hợp đồng thăm dò dầu khí ở Biển Đông với công ty năng lượng của chính phủ Việt Nam, PetroVietnam. Ở khu vực lân cận, hầu như Hoa Kỳ đã không làm gì để ngăn chặn hải quân Trung Quốc quấy rối tàu chiến Nhật Bản, như họ đã làm gần đây nhất hồi tháng 4, và ngăn chặn tàu ngầm Trung Quốc thường xuyên vi phạm vùng biển Nhật Bản, mà họ đã và đang làm trong thập kỷ này.

Tóm lại, Mỹ có vẻ như đã thừa nhận nhu cầu của Trung Quốc kiểm soát ở Biển Đông. Bắc Kinh đã quá liều lĩnh trong những tháng gần đây, tuy nhiên các quốc gia trong khu vực đang tìm cách chống lại Trung Quốc. Mặc dù tất cả các nước cùng nhau tìm kiếm sự an toàn, vả lại không nước nào muốn làm Bắc Kinh bực mình bằng cách dẫn đầu ở phía trước.

Trong một cuộc họp giữa các thành viên Asean và ông Dương Khiết Trì trước khi bà Clinton đến Hà Nội, chỉ có Philippines sẵn sàng nêu lên vấn đề Biển Đông. Có tin đồn rằng bà Clinton sẽ có lập trường cứng rắn, tuy nhiên, 11 người (tức đại diện cho 11 nước) tham gia đã ra tuyên bố về vấn đề này. Không có gì lạ khi Trung Quốc cảm thấy họ đã bị phục kích tại thủ đô Việt Nam. Liệu đó có là một cái bẫy hay không, bà Clinton, trong giờ phút đẹp nhất của mình với tư cách Ngoại trưởng, đã lãnh đạo ở Đông Nam Á.

Và ở Bắc Á cũng vậy. Học thuyết Clinton – Có quá sớm để gọi như thế chăng? – Cũng sẽ trấn an Nhật Bản và Nam Hàn, hai đồng minh quân sự chính thức của Hoa Kỳ, rằng Washington ở châu Á và sẽ ở lại.

Cho đến nay, cả hai quốc gia đang lưỡng lự khi có vẻ như Tổng thống Obama sẽ đi theo cách tồi tệ nhất về các chính sách “cam kết” của người tiền nhiệm của ông. Đặc biệt nguy hiểm là tại hội nghị thượng đỉnh ở Bắc Kinh hồi tháng 11, dường như ông đã xác nhận – với Trung Quốc cũng như những nước khác – rằng Trung Quốc giờ đây mạnh hơn Hoa Kỳ. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà giới chức Trung Quốc thể hiện sự kiêu ngạo mới chỉ vài tuần sau hội nghị thượng đỉnh, ăn mừng bắt đầu với hội nghị biến đổi khí hậu Copenhagen hồi đầu tháng 12.

Cho đến nay, Mỹ đã miễn cưỡng đối đầu với Trung Quốc như thể họ chờ đợi Bắc Kinh đảm nhận vai trò kiến thiết như một cường quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc diễn giải niềm hy vọng và sự kiên nhẫn của Washington như bằng chứng về sự yếu kém của Mỹ. Nhưng chỉ trong vài câu ngắn gọn hôm thứ Sáu, bà Clinton đã thay đổi nhận thức đó, cả trong lẫn ngoài Trung Quốc.

Tuyên bố về Biển Đông của bà được gọi là “một bước ngoặt” và một “điểm mấu chốt”. Đó là, và nó có thể kết thúc vào thời điểm bà chuyển hướng không chỉ chính sách Trung Quốc của Mỹ mà còn chính sách của Trung Quốc đối với các quốc gia trong khu vực.

Sự tiến lên phía trước mà không bị trở ngại của Bắc Kinh để thống trị toàn cầu vừa gặp phải sự kháng cự. Cuối cùng thì họ cũng đã kháng cự (*).

G. Gordon Chang là tác giả quyển sách The Coming Collapse of China. Ông phụ trách mục bình luận hàng tuần cho tạp chí Forbes.

———

(*) And it’s about time: nghĩa là, they finally did. They should do this before but they didn’t; and they do it now. Tức là: cuối cùng thì họ đã làm. Đáng lẽ họ nên thực hiện điều đó trước đây nhưng họ đã không làm và bây giờ thì họ thực hiện.

Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.forbes.com/2010/07/28/china-beijing-asia-hillary-clinton-opinions-columnists-gordon-g-chang.html?boxes=Homepagechannels

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | 6 phản hồi »

592. ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ

Đăng bởi anhbasam on 29/07/2010

ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG

CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT

ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 22-7-2010

Tuần san châu Á số từ 11-18/7/2010 đăng bài của Giang Tấn về những ân oán trong quan hệ Trung-Việt. Theo Giang Tấn, cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1979 chủ yếu là do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định nhằm củng cố địa vị của mình.


Dẫn lời ông Nghê Sáng Huy, một người từng trải qua những năm tháng chiến tranh Trung-Việt, tác giả cuốn “Mười năm chiến tranh Trung-Việt” vừa được Nhà xuất bản Thiên Hành Kiện (Hồng Công) ấn hành vào đầu tháng 6/2010, Giang Tấn cho biết vào năm 1977, Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương 3 khóa X, khôi phục các chức vụ lãnh đạo cho Đặng Tiểu Bình, gồm Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng quân đội. Một năm sau đó, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Chính hiệp Toàn quốc. Cách mạng Văn hóa vừa kết thúc, Đặng Tiểu Bình muốn trước tiên phải lập lại trật tự, thúc đẩy đường lối tư tưởng, nên đưa ra trọng điểm công tác cho cả nước là chuyển dịch sang xây dựng kinh tế. Tuy nhiên, khi đó ở Trung Quốc, tư tưởng tả khuynh trong, ngoài đảng và ở quần chúng vẫn tiếp tục “trượt” theo quán tính. Đặc biệt là nhóm trong Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc do Hoa Quốc Phong cầm đầu vẫn chủ trương tiếp tục duy trì lý luận và thực tiễn của Cách mạng Văn hóa thêm một thời gian. Trong quân đội Trung Quốc cũng có không ít cán bộ cao cấp tỏ ra không thông với chính sách và đường lối của Đặng Tiểu Bình. Chính vì thế, Đặng Tiểu Bình thấy rằng muốn phá vỡ cục diện này, phải tiến hành cải cách mở cửa. Nhưng nếu chỉ dựa vào chức vụ của Đặng Tiểu Bình khi đó thì khó có thể xoay chuyển được tình thế, mà phải cần đến một phương thức có thể quét sạch được mọi chướng ngại của thế lực cực tả đối với cải cách mở cửa.

Theo ông Nghê, nếu như khi đó đưa ra những đánh giá lịch sử về Mao Trạch Đông, phủ định đường lối “hai phàm là” của Hoa Quốc Phong (Phàm là quyết sách Mao Chủ tịch đưa ra, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ; Phàm là chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều phải tuân thủ trước sau như một – P/v TTXVN), thời cơ vẫn chưa chín muồi. Do đó, Đặng Tiểu Bình quyết định lợi dụng chức vụ Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tham mưu trưởng và sự tín nhiệm của phái nguyên lão trong quân đội đối với mình để tìm kiến sự đột phá từ quân đội. Đặng Tiểu Bình cho rằng cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh chống lại “kẻ xâm lược”, thông qua chiến tranh để chuyển hướng đấu tranh trong nước, tái cố kết sự đoàn kết dân tộc của người dân. Đặng Tiểu Bình cũng muốn nhân cơ hội sau chiến tranh tiến hành điều chỉnh nhân sự trong quân đội. Quả nhiên, sau chiến tranh Trung-Việt, Đặng Tiểu Bình đã làm một cuộc “thay máu” đối với quân đội, đưa một loạt cán bộ trẻ, cán bộ trung niên vào vị trí lãnh đạo. Có thể nói, tiến hành chiến tranh là con đường nhanh nhất giúp Đặng Tiểu Bình xác lập quyền uy tuyệt đối trong Đảng Cộng sản và quân đội Trung Quốc, đẩy mạnh thực hiện kế hoạch cải cách mở cửa.

Ông Nghê cho rằng Trung Quốc đánh Việt Nam là do Việt Nam đưa quân vào Campuchia và Trung Quốc ủng hộ Campuchia chống lại Việt Nam. Ban đầu, Trung Quốc gọi đây là “phản kích tự vệ” sau đó lại đổi thành “đánh trả”. Cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt, theo ông Nghê, tuy đã khiến Việt Nam rút một phần quân khỏi Campuchia, phá vỡ thế bao vây chiến lược của Liên Xô đối với Trung Quốc, làm rõ quân bài chiến lược của Mỹ và Liên Xô, rèn luyện quân đội, nhưng kết quả đạt được rất hạn chế: Không lấy được đất đai của Việt Nam, cũng không lật đổ được chính quyền Việt Nam (nguyên văn là “tập đoàn thống trị Lê Duẩn”). Và mặc dù các mục đích mà Quân ủy Trung ương Trung Quốc đề ra cơ bản đạt được, nhưng nếu xét về lợi ích chỉnh thể của quốc gia, cái hại vẫn lớn hơn cái lợi. Tại sao vậy? Ông Nghê cho rằng trước tiên là cuộc chiến tranh Trung-Việt đã được các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu lấy làm cái cớ để cô lập Trung Quốc. Hai là, việc Trung Quốc xuất binh tấn công Việt Nam đã làm kinh động các nước Đông Nam Á. Ba là, cắt đứt quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới thứ ba, khiến Bắc Kinh rơi vào thế cô lập. Bốn là, Trung Quốc mất đi uy tín trong xử lý quan hệ cấp quốc gia. Năm là, chiến tranh Trung-Việt gây tổn thất nặng nề về mặt kinh tế cả cho Việt Nam lẫn Trung Quốc.

Khi nói về trình tự tiến hành chiến tranh, ông Nghê cho biết một cuộc chiến tranh tất yếu phải đi theo những trình tự do pháp luật quy định. Trước đây, quan niệm pháp trị của người Trung Quốc không cao và nó được biểu hiện trong một số cuộc chiến tranh lớn. Ví dụ: Chiến tranh Triều Tiên chủ yếu do một mình Mao Trạch Đông quyết định, Chiến tranh Trung-Việt chủ yếu do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định. Một người hoặc một vài người vội vàng quyết định tiến hành chiến tranh, theo ông Nghê, khó có thể tránh khỏi việc quyết định đó mang màu sắc tình cảm phiến diện, chủ quan của cá nhân, rất dễ phạm phải sai lầm mang tính lịch sử và hậu quả cũng vô cùng đáng sợ.

Ông Nghê cho biết chiến tranh Trung-Việt không những không được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) thảo luận thông qua, mà cũng không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Theo ông Nghê, chiến tranh phải công khai với nhân dân, cho phép nhân dân bày tỏ thái độ của mình. Nhân dân vốn là chủ nhân của đất nước, nên có quyền được biết tình hình, có quyền được bày tỏ thái độ. Việc nhân dân có thể bày tỏ thái độ một cách tự do đối với một cuộc chiến tranh cũng có lợi cho việc ngăn ngừa một số cá nhân nào đó đi ngược lại ý nguyện của đại đa số nhân dân, phát động chiến tranh./.

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | 10 phản hồi »

586. Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Đăng bởi anhbasam on 22/07/2010

Đôi lời Bài viết này không phải chỉ liên quan tới người Việt hải ngoại, mà còn là một bản đánh giá ngắn gọn, chính xác về hệ thống chính trị Việt  Nam hiện thời, trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, … bữa trước đã điểm nhưng trong mục phản hồi/comment, nay BS xin đăng toàn văn vì e nhiều người chưa đọc; cũng là góp thêm chút cho không khí sôi động của những sự kiện quan trọng đang diễn ra mấy bữa nay tại Hà Nội liên quan tới an ninh trên Biển Đông.

Tác giả bài viết, GS Lê Xuân Khoa từng là phó viện trưởng kiêm giáo sư Trường Đại học Văn khoa, Sài Gòn; sau 1975 là giáo sư tại Đại học Johns Hopkins, rồi  Maryland, Hoa Kỳ. Ông là tác giả của nhiều sách, bài viết về Việt  Nam, trong đó có bài “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?trên trang BBC, từng gây nhiều tranh cãi, chủ yếu từ … “hai phía” của cuộc chia rẽ quá dài lâu: cộng sản và không cộng sản. Ông cũng từng về nước nhiều lần, trực tiếp gặp, đóng góp nhiều ý kiến với các nhà lãnh đạo Việt Nam, trong đó có cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Hy vọng bài viết này tới được tay nhiều vị lãnh đạo đảng, nhà nước Việt Nam, được các vị đọc, suy ngẫm một cách bình tĩnh, cầu thị, may ra bớt được chút nào đó mối “hiểm họa Trung Quốc”.


Trước hiểm hoạ Trung Quốc:

Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Lê Xuân Khoa

Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[1], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.

Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc  dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.

Ba tiền đề

Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).

1.  Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thế sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát Thái Bình Dương, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ[2]. Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc… mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[3] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.

Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng Trung Quốc lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa[4]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của Trung Quốc về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương[5]. Ngay tại Trung Quốc, đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc, vừa xuất bản cuốn Trung Quốc mộng, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ Trung Quốc không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “Trung Quốc phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[6] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.

2.  Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam.

Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trụng Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.

3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.  Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[7]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung tâm SEARAC do tôi làm chủ tịch và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[8]

Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài Đảng Cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.

Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.

Kế hoạch cụ thể và toàn diện

Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:

1.  Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước

a. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu vùng xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính Việt Nam của Trung Quốc bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo Việt Nam đối với Trung Quốc. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho Trung Quốc. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với Trung Quốc.

b. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.

c. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.

d. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.

e. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.

2.  Quan hệ với chính quyền Việt Nam

Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với Trung Quốc để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.

Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.

Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank”  này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên cứu Phát triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội đồng Quản trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.” *

Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.

3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế

Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt  trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [9]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [10].

Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường đại học và các chuyên gia về Trung Quốc. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của Trung Quốc tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.

Kết luận

Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[11] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.

Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đối diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[12] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.

© 2010 Lê Xuân Khoa

© 2010 talawas


[1]Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.

[2]Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.

[3] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.

[4] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.

[5]John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.

[6]Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, Tuần Việt Nam, 15/03/2010

[7]Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa”, Đặc san Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý,  Paris, France (2008).

[8]Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như  những cuộc vận động của SEARAC (Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thời, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư viện Quốc hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.

[9]Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay, ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.

[10] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)

[11]Xem Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010, trong Phụ lục: “Việt Nam làm gì sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.

[12]Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời cơ vàng của Đảng ta” trên VietNamNet năm 2009.

—–

* Ba Sàm chú thích: mời xem 297. Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

—–

30 ý kiến phản hồi trên trang talawas:

Trang 1:

  1. Hoàng Trường Sa nói:

    Kính mời quý vị xem thêm bài dưới đây để suy ngẫm về sự đúng sai của tiền đề “ĐCSVN chống TQ bành trướng”: Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung “chỉ đạo” những gì? (Phần 1 & Phần 2)

  2. Thanh Nguyễn nói:

    @Lê Thượng: Lịch sử đã dạy bài học đắt giá. Tôi dư sức biết chuyện đó. Tuy nhiên, kết quả bài toán sau đây có đúng không? Nhờ mọi người giải giùm và cho đáp số để so sánh: Đảng CSVN = Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu X 10(lần)

  3. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Nam Phan viết: “Tôi cũng không có can đảm lấy ‘cuốn sách ngàn trang’ của một ông tướng ra để xưng tụng là ‘tài liệu lịch sử’”. Câu này ông Nam Phan muốn nói tôi sử dụng quyển “Việt Nam Máu lửa quê hương tôi” là hồi ký (chính trị như tên sách gọi) dài hơn ngàn trang của ông Đỗ Mậu (là đại tá lúc đảo chính 1963, và thiếu tướng khi giải ngũ) làm tài liệu lịch sử. Nhưng thế nào là “tài liệu lịch sử”? Tôi hiểu là những sự việc liên quan đến biến cố lịch sử được ghi nhớ, truyền tụng, và sau được ghi chép lại thành sách. Ở Việt Nam do tình trạng thiếu thông tin, hay tin tức bị cố ý che giấu, nên thường rất lâu sau khi biến cố xảy ra, nhiều sự việc mới được ghi xuống và do đó thường bị mất mát hay thêm thắt ít nhiều. Chưa kể chuyện kể không do nhân chứng trực tiếp và “tam sao thất bổn”. Nhưng đó chỉ mới là tài liệu thuộc lịch sử, và còn phải đối chiếu với nhiều nguồn “sử liệu” khác nhau mới có được một sự kiện lịch sử xác thực. Nhưng không có quyển sử nào, dù được nhiều người coi trọng, ví dụ như “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, chứa đựng những sự kiện lịch sử xác thực, hoàn toàn đáng tin. Thí dụ, trong VNSL có một phần ghi chép chuyện kể theo truyền thuyết, theo sử Trung Quốc (mà sử gia ở rất xa nước ta, và nhìn VN với nhãn quan của người Hán thống trị), theo sử quan của các triều vua VN (vừa thiếu sót, vừa thiên lệch như khi sử gia triều Nguyễn chép về Tây Sơn). Vậy khi cần bàn đôi điều về tình hình chính trị và quân sự ở miền Nam trước 1975, tôi dựa vào “tài liệu lịch sử ” nào? Trước hết là hồi ký của các ông Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, là những người quen biết với cá nhân và gia đình ông Diệm từ trước 1954, đã cộng tác và đưa ông Diệm lên cầm quyền, phục vụ (trung thành) dưới chế độ ông Diệm, và làm đảo chính lật đổ ông Diệm năm 1963. Kế đến là quyền “Việt Nam 1945-1975″ tập 1 của giáo sư Lê Xuân Khoa, mới in gần đây, mà cá nhân tôi cho là đáng tin cậy, nhờ dựa vào nhiều nguồn tài liệu Mỹ và Việt ở cả hai miền. Phụ thêm là vài sách tiếng Anh và sách dịch, sách của Nguyễn Kỳ Phong (Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam), Nguyễn Đức Phương (Chiến tranh Việt Nam toàn tập), cả của Lữ Giang…, và các trang mạng tôi đọc được. Nhiều góp ý tôi dẫn từ các nguồn đó. Nhân đây, sách của Lữ Giang có nhiều tài liệu về dòng họ Ngô Đình Diệm, mang tính lịch sử, nhưng chưa phải là những sự kiện hay chứng cớ lịch sử chân thực, và nhiều sự việc, nhận định trong đó theo tôi còn cần đối chiếu, phối kiểm. Mấy cuốn sách tôi kể trên chỉ là của một người đọc sử bình thường, nếu không là thiếu sót nhiều, nhưng có lần ông Nam Phan hay ai đó khi nói về vài dẫn chứng chuyện cũ tôi chỉ chép lại, gọi là của “sử gia” (đặt trong ngoặc kép); tất nhiên kiểu nói đó không có chút tác động nào đối với tôi. Nhưng đáng ra, khi ai thấy điều gì tôi chép lại trong sách mà không đúng, nên dẫn tài liệu lịch sử ở nguốn khác cho là chính xác hơn. Về chuyện “tiến sĩ triết gia”, tôi không hề nghĩ đó là nói về tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm. Tôi chưa nghe nói, ở đây hay trên trang mạng nào, ông Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, chỉ thấy quảng cáo văn phòng luật sư ghi ông có các bằng MS, MPA, JD.

  4. Nam Phan nói:

    Thưa ông Hoà Nguyễn, Tôi coi câu nói “văn là người” là cách đánh giá những người dùng văn tự để nói lên tư tưởng cuả mình, tuy cũ nhưng vẫn là một tiêu chuẩn đáng tin cậy. Tôi dùng chữ “tiến sĩ triết gia” để chỉ ông Nguyễn Hữu Liêm, căn cứ vào ít nhất những bài viết cuả ông ta được đăng trên diễn đàn này (xin ông có dịp thì xem lại cả những bài viết lẫn những ý kiến cuả độc giả để thêm nhận định) chứ không phải căn cứ vào việc ông ta học triết, dậy triết để rồi gán cho ông ấy một danh hiệu có tính cách mỉa mai. Tôi cũng không có can đảm lấy “cuốn sách ngàn trang” của một ông tướng ra để xưng tụng là “tài liệu lịch sử”, cho nên nếu có được coi là không biết phê bình hay không đủ trình độ phê bình bản văn mà chỉ nhắm vào đả kích nhân thân người viết thì tôi cũng vui lòng nhận phần dốt về mình. Có cần phải tiếp tục luận bàn với những bài viết thuộc dạng “tiến sĩ triết gia” đã viết hay không, hay chỉ huýt gió một cái? Tôi xin làm tiếng ồn cuả tiếng huýt gió trong hội trường, không được ai quan tâm, chỉ cần ông Hoà Nguyễn để mắt tới bằng cách nói gần nói xa (nhưng không trực tiếp nêu tên, họ), là cũng cảm thấy vinh dự rồi. Tuy vậy xin được coi đây là lần cuối. Trân trọng,

  5. Nam Phan nói:

    Tôi chỉ muốn đặt câu hỏi với GS Lê Xuân Khoa và những vị đồng tình với GS: “Đại đa số đảng viên CS, cả chuyên chính lẫn ‘giả cầy’, đặc biệt là những người cầm quyền ở VN từ cấp nhỏ đến cấp cao nhất có chung quan điểm với người Việt hải ngoại khi cho rằng Trung Quốc là hiểm hoạ trước mắt của VN không?” Nếu có thì căn cứ vào đâu? Đường lối, chính sách của VN phản ánh mối quan ngại này? Nếu câu trả lời là có và với những chứng cứ, chúng ta sẽ bàn tiếp và nỗ lực tìm kiếm giải pháp. Nếu không – và căn cứ vào những lời tuyên bố, những giao hảo (qua lại) cuả các cấp lãnh đạo cuả họ (TQ và VN), những “học tập kinh nghiệm lẫn nhau”, những “lợi ích chung” cùng chia sẻ – thì chúng ta nên tiếp tục giải pháp duy nhất dù rằng cũ và có vẻ bất khả là giải trừ chúng. Tôi đứng ngoài hàng ngũ của GS, nếu câu trả lời là không.

  6. Lê Thượng nói:

    “ý quèn” của Thanh Nguyễn: “Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước.” Để Tàu chiếm nước thì đến bao giờ mới lấy lại được? Muốn như Tây Tạng hay dân vùng Tân Cương? Nếu lấy lại được cũng phải mất đi 100 năm hay 1000 ngàn năm không chừng. “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu. Một trăm năm nô lệ giặc Tây”. Lịch sử đã dạy cho ta bài học đắt giá ấy.

  7. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Hoàng Trường Sa viết :”ông (LXK) thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ) “. Cho như thế là không đọc hiểu các bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, bài chủ này và cả bài ông HTS mới giới thiệu tại: http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=28bfc08fa0b70eda8757e174ba28bfec Cũng còn là một quan niệm chống Cộng cứng nhắc,lỗi thời, với cách nói sáo cũ thành khẩu hiệu, không đúng với thực tế đã đổi thay. Nhưng cũng lạ hiện nay ít thấy tại Mỹ. Người Việt ở Mỹ có nhiều lý do để oán hận chính quyền CS trong nước: một số đông di tản hối hả trước 30-5-1975 đã bỏ lại tất cả, các đợt thuyền nhân tiếp theo phần đông định cư tại Hoa kỳ, và sau cùng là những người tù cải tạo và gia đình họ đến Mỹ theo diện H.O. Dễ hiểu đa số họ chống Cộng, nhưng dường như người ở Úc như ông HTS, hoặc ở Canada như ông Lê Quốc Trinh còn chống Cộng mạnh hơn nhiều người ở Mỹ, và vì vậy có lần tôi dùng từ (CC) “quyết liệt” khi nói với ông LQT. Có lẽ chuyện chống Cộng cho tới người Cộng sản cuối cùng, hay tới người chống Cộng cuối cùng, sẽ không xảy ra trên đất Mỷ vì nay người Mỹ gốc Việt có óc thực dụng hơn. Tuy nhiên, đúng là quan điểm về VN của GS Lê Xuân Khoa đã được định hướng từ lâu, tôi lấy mốc năm 2000 khi ông trong phái đoàn của TT Clinton qua thăm VN để bắt đầu một quan hệ mới giữa hai nước cho là từ bỏ đối đầu mà dành cho đối thoại, đối tác( bản tin hôm nay, Mỹ hiện đầu tư nhiều nhất ở VN). Một điều buồn cười: lúc đó TBT Lê Khả Phiêu thân TQ vẫn tố Mỹ là “đế quốc”. Kể từ đó, khuynh hướng “chống Cộng” ở Mỹ cũng dần dần thay đối, ít ra trong giới (tạm gọi) trí thức, cùng với sự thay đổi nhanh hơn của chính quyền Mỹ đối với VN. Ít còn thấy những cách nói quyết liệt, chỉ một chiều, chỉ viện dẫn những chuyện xưa cũ, và thay vào đó là những thông tin trung thực, với các sự kiện đang diễn ra trong cuộc sống, và chú trọng đến những điều Mỹ và cộng đồng thế giới quan tâm nhất như về nhân quyền, tự do, dân chủ. Dù sao, giữa người Việt ít ra cũng phải tạm quên bớt hận thù, hay làm ra vẻ như thế, mới có thể tiếp xúc và nói chuyện được với nhau, và người Việt ở Mỹ cũng không thể làm gì trái ngược với chính sách chung của Mỹ, mà phải biết khôn khéo tận dụng các chính sách mới của Mỹ về VN. Trong bài viết năm 2004 dẫn trên, giáo sư Lê Xuân Khoa kêu gọi người VN cả hai bên cùng hành động, cùng thay đổi vì nếu chỉ xảy ra cho một bên thì sẽ không thực hiện được gì, và ông đã dùng cách nói nhẹ nhàng để Hà Nội có thể nghe: “ Khi xúc tiến việc thiết lập và thực hiện lộ trình dân chủ hóa cho Việt Nam, chính quyền sẽ đương nhiên gia tăng được uy tín của mình trong vai trò phối trí mọi sự đóng góp của các thành phần dân tộc “. Ông viết thêm trong bài chủ này: Về phía cộng đồng hải ngoại, vì quyền lợi chung của đất nước và dân tộc, cũng cần có quyết tâm bỏ qua những niềm thù hận trong quá khứ để góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phú cường trong cộng đồng quốc tế… Chỉ trong thời gian gần đây, khi những cuộc tranh đấu và vận động được tập trung vào vấn đề cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam thì mới thấy có sự hỗ trợ, dù còn giới hạn, của chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ, của Liên Hiệp Châu Âu và các tổ chức quốc tế vì tính chất chính đáng của vấn đề . Về con người thật của giáo sư Lê Xuân Khoa, mỗi người có thể biết được khi đọc ít nhiều về ông và khi có cơ hội tiếp xúc ông. Tôi không thể làm gì khác. Nhưng viết như sau là xúc phạm do thiếu hiểu biết và dễ dãi ngôn từ:” bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm“. Trong cuốn “Nếu đi hết biển”, tác giả Trần Văn Thủy hỏi Nguyễn Thị Hoàng Bắc:” Theo tôi hiểu, chị không muốn hoà nhập vào các tổ chức “cộng đồng ?“. NTHB trả lời:” Tôi không tham gia tổ chức cộng đồng nào. Các con tôi lại càng không tham gia“. (sách trang 90). HB không nói rõ lý do tại sao gia đình bà không tham gia sinh hoạt cộng đồng tại địa phương thuộc Virginia, nhưng ở đoạn khác trước đó, HB kể nhiều điều xấu về các tổ chức chính trị “ mọc lên như nấm” của người Việt tại California. Nhưng sinh hoạt của cộng đồng người Việt, và các tổ chức chính trị hoàn toàn không liên hệ gì với nhau, và khi tình nguyện sinh hoạt trong một cộng đồng, không nhất thiết phải tham gia tổ chức chính trị chống nhà nước VN. Điều này là sự thật hiển nhiên. Nhưng HB cố tình nhập nhằng hai thứ để bôi đen hình ảnh CĐ NVHN trước mắt Trần Văn Thủy, từ trong nước ra điều nghiên đời sống người Việt tại Mỹ. Vì vậy, trong chuyện này khi cho NTHB là “đồng chí” dù với ai cũng lại là cách nhập nhằng để bôi nhọ.

  8. Thanh Nguyễn nói:

    Một “ý quèn” của tôi như thế này: Để Trung Quốc chiếm toàn bộ Việt Nam, sau đó, người Việt khắp nơi phất cờ tụ nghĩa chống Tàu, và đó là cơ hội quét luôn chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đất nước. Thân thể Việt Nam có thể bị thương, nhưng những vết thương đó sẽ được rửa sạch, sẽ lành, sẽ liền da để có một Việt Nam tươi mới và hoàn toàn khác.

  9. Hoàng Linh Vương nói:

    Bài viết này của giáo sư Lê Xuân Khoa thể hiện một lý thuyết rất lý tưởng và chỉ là giả định (nói cho có chuyện mà nói thôi) như lời giáo sư trong phần kết: “Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là…”. “Giả định” này cũng vẫn đang còn là “giả định” thật. Thực tế thì cái “rốn của vũ trụ” là ông Nhà nước VN, cũng lại là “cái đầu gối” mà người đời đang nói chuyện. Thêm nữa: hình như người đời cũng chưa mở lòng được với nhau. Thế là ta “bờ i bi sắc bí” là cái chắc! Hay là không khéo rồi cả nước lại bị bịt mắt bắt làm con tin thì bỏ mẹ thật đấy chứ không phải đùa đâu!

  10. Nguyễn Đăng Thường nói:

    Anh hùng đánh Mỹ đánh Tây Tây chạy Mỹ rút vác cầy đánh ai? Đánh Khựa sẽ bị bộp tai Thôi thì đánh đĩ đánh bài cho vui!

  11. Hoàng Trường Sa nói:

    Quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa trong bài chủ này thật ra cũng không lạ đối với tôi, một người đã đọc nhiều bài của ông trước đây, như bài này ông viết đã 6 năm trước (vào ngày 09-02- 2004): Để tiến tới quan hệ bình thường giữa người Việt hải ngoại và Việt Nam (Lê Xuân Khoa) Những suy nghĩ của ông như được bộc lộ trong các bài viết của mình đã đưa nhiều người (trong đó có tôi) đến nhận định rằng ông thuộc nhóm những người chủ trưong HÒA GIẢI, HÒA HỢP với ĐCSVN, bất chấp mọi sai lầm to lớn của ĐCSVN (kể cả việc không tôn trọng dân quyền và nhân quyền của trên 85 triệu đồng bào ta trong nước, và tệ hại hơn nữa, dâng đất dâng biển cho Tàu bất kể tương lai và sự tồn vong của Tổ quốc, chỉ để kéo dài sự sống còn của đảng họ). Cá nhân tôi hoàn toàn KHÔNG ĐỒNG Ý với quan điểm của Giáo sư Lê Xuân Khoa, dù tôi chia sẻ nhiều quan điểm của bác Hòa Nguyễn, một người học trò cũ của ông, nhưng dĩ nhiên là có tư tưởng độc lập của mình, dù vẫn không quên tình nghĩa cũ và luôn quý mến thầy cũ. Tôi thấy cũng không mấy ngạc nhiên khi bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, một người có lẽ là “đồng chí” với ông trên quan điểm hòa giải hoà hợp với CSVN, đã liệt ông (có lẽ hơi oan ức một chút) vào cùng danh sách những người như Nguyễn Hữu Liêm, người mà cộng đồng người Việt hải ngoại thường châm biếm bằng mấy chữ không đẹp như “luật sư còi hụ”. Dù không đồng ý với Giáo sư Khoa, tôi cũng thấy rõ ràng là ông ở vào tầm cao hơn nhiều trong những người thuộc nhóm gọi là Việt kiều “yêu nước”.

  12. Lề Trái nói:

    Lấy lại câu chuyện An Dương Vương chạy ra biển với Mỵ Châu đang rứt lông ngỗng để quân Triệu Đà-Trọng Thủy đuổi theo, chỉ đến khi thần Kim Quy nói giặc chính ở sau lưng, An Dương Vương mới nhận diện được kẻ thù. Việt Nam bây giờ khác, hầu như ai cũng nhìn ra giặc ở đâu, nhưng vì những lý do rất quái đản, họ “không muốn” tin giặc là giặc. Cái giả định mấp mé giả tưởng của bài này cho ta thấy rõ cái quái gở trong cách suy nghĩ mặc dù chả cần thần Kim Quy, người ta đều biết rõ ai “bán” (thời buổi kinh tế thị trường) nỏ thần cho ngoại bang. Nhưng không, thay vì nhận diện rõ hạng bán nước, họ đổ vấy đổ vá cho tất cả những cái khác ngoại trừ chính họ. Chỉ tội cho những kẻ không thức thời vì đã nhìn và chỉ ra nguyên nhân tối hậu dẫn đến hiểm họa sờ sờ trước mắt. Tôi muốn hỏi lại bao giờ dân tộc mới chịu nhận chân bọn giặc thật sự, hay phải chờ tới bước đường cùng? Trả lời được câu hỏi đó tự khắc sẽ biết được những giải pháp cho tình trạng hiện nay. Nếu vẫn còn tránh né câu hỏi thì mọi giải pháp chỉ là con kiến bò cành cụt. Hiểm họa này nó không tới bất chợt, mà là một “diễn biến” qua một thời gian khá dài. Hiện trạng hôm nay chỉ vì cái kim đã lớn bằng con voi nên hầu như ai cũng thấy. Tức là nó có mục đích, động thái, quá trình phát triển, các bên tham dự với những buổi đàm phán thấm đẫm tinh thần “16 chữ vàng”. Và tôi lại phải hỏi, bộ chưa đủ hay sao?

  13. Hoà Nguyễn nói:

    Các kiểu phê bình chỉ nhắm vào cá nhân, không nói gì tới văn bản, xin đề nghị nên tránh trên diễn đàn này (lý do vì tôi tôn trọng diễn đàn, và đây chỉ là một đề nghị suông). Khi gọi một người làm luận án tiến sĩ triết và sau đó dạy triết là “tiến sĩ triết gia” như một cách đánh giá bài viết, thì hết sức vô nghĩa, kỳ cục, và ai nghe vậy mà cười theo, tán đống thì cũng lạ. Kể cả khi đánh giá thấp, quá thấp ngườì khác, mà không chứng tỏ đọc hết bài và hiểu đúng ý người viết. Đó là hai kiểu phê bình không phải là phê bình, hay vì không thể phê bình được, nên chỉ bày tỏ một thái độ phản đối, mà không liên hệ gì tới nội dung bài viết. Chỉ như tiếng huýt sáo nghe ở hội trường, tuy ồn nhưng không được quan tâm. Tôi tiếp tục góp ý với vài phản hồi tôi đọc cẩn thận. Ông Hoàng Trường Sa (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa):” Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng ” , và ông nhận định chỗ này :” mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua “. Ông HTS viết tiếp :” Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946)“. Chắc chắn ngày nay bên phía không cộng sản không ai còn “ngây thơ” sau nhiều bài học lịch sử như ông Hoàng Trường lo ngại. Ngay cuối câu viết trên của GS LXK cũng cho thấy một thái độ dè dặt cần thiết, vì tiên đoàn sẽ có hai tình huống khác nhau: sau hợp tác (nếu có) sẽ có thể hoà giải hay tiếp tục đối kháng. Trong bài viết năm 2001, GS Lê Xuân Khoa cho biết CSVN đã từng đưa ra các luận điệu hay chiêu bài hòa giải hoà hợp trong bốn trường hợp khác nhau, vào năm 1945 như đã biết (lúc đó phe “quốc gia” ở thế yếu nên phải chấp nhận và sau chừng một năm tự hủy bỏ), năm 1968 với chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam (có các ông Trịnh Đình Thảo), năm 1973 với đề nghị chính phủ hoà giải dân tộc, và miền Nam đã không mắc mưu ở hai lần đó, trừ một số nhỏ cá nhân (như ông Trương Như Tảng tự nhận trong hồi ký), và sau năm 1975. Tôi đọc thấy trên mạng bài sau đây nói về điều đó, và vì bài hơi dài nên chỉ trích vài câu nói lên một ý nghĩ của tác giả. In view of these bitter experiences with the communists, the term “national reconciliation” has become taboo to many overseas Vietnamese. Some people are practically “allergic” to the term and automatically label as pro-communist those who want to consider reconciliation as a topic for discussion with any Vietnamese officials. With full understanding of and sympathy to these emotional reactions, I sincerely want to present my personal reflections on this issue. I am doing this as an independent person who has no ambition other than a desire to contribute something meaningful to the interest of the nation and the people of Vietnam. (Normalization of Relations between the Overseas Vietnamese and Vietnam by Le Xuan Khoa , April 30, 2001) Chưa chắc tôi ủng hộ “giải pháp” trên, nhưng tôi có thể so sánh với hoạt động của nhiều đảng phái, phe nhóm đối nghịch trong một nước dân chủ (như Đài Loan, Nam Hàn) trước tình hình chiến tranh hay khủng hoảng lớn. Họ phải hợp tác với nhau để chống lại nguy cơ trước mắt, đồng thời tỉnh táo thủ thế, và tiếp tục tranh đấu sau đó nếu cần. Riêng về iên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch, theo lịch sử ghi lại, không phải Tưởng Giới Thạch chủ động quyết định, mà do ông bị tướng Trương Học Lương bày mưu bắt giữ,và ép buộc ông phải làm theo. Sau khi thắng Nhật, Tưởng Giới Thạch hủy bỏ liên minh này trước, đưa quân từ miền Nam lên đánh nhau với Mao Trạch Đông để giành giật Mãn Châu trong tay hồng quân, nhưng thất bại do Mao được Liên Xô gần bên giúp, và từ đó phe Tưởng suy sụp về quân sự. Về bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa, tôi cũng có suy nghĩ nhưng chưa thấy rõ vài điều để viết nhiều hơn: 1/ Có thật tình hình VN hiện nay đúng như giáo sư nhận định không. 2/ Đề nghị của giáo sư về hành động của người Việt hải ngoại có những điểm riêng rất hay (nếu cần tôi sẽ nhắc lại), nhưng toàn bộ có thực tế, thích đáng, khả thi để giải quyết (hữu hiệu) vấn đề theo như ông nhận định không, và có thể đưa lại những điều tiêu cực nào, chấp nhận được không khi nhìn trong lợi ích toàn cục. 3/ Còn có thể tìm một giải pháp nào khác hơn không.

  14. Hồ Phú Bông nói:

    Chuyện nước mất về tay Trung cộng đang gần kề hơn lúc nào hết mà con dân người Việt chỉ đành bàn hưu tán vượn thay vì xắn tay áo bắt tay vào việc! Vì đâu nên nỗi? Theo tôi, điểm chính là chế độ cộng sản sau bao nhiêu năm tác oai tác quái đã phá nát niềm tin giữa người Việt! Sự nghi ngờ nhau đã biến thành bản tính mới! Ngay trong nội bộ đảng cộng sản cũng chẳng ai tin ai, chỉ vì cái đích của họ không phải là đất nước, quê hương mà là quyền lực và vơ vét của cải! Cứ nhìn vào tương lai dân tộc qua lối sống “thực dụng” của thế hệ trẻ hiện nay thì rõ. Đây là lý do chế độ cộng sản tại Việt Nam chưa sụp đổ ngay và phong trào dân chủ chưa thể phát triển mạnh. Cho nên, sự thất bại không phải từ kế hoạch (vì chuyện đại sự chẳng có kế hoạch hay phương pháp nào hoàn hảo cả!) mà chính là lòng tin giữa người Việt Nam với nhau không còn nữa! Cứ (tạm) tổng kết tâm huyết từ tác giả bài viết cũng như các phản hồi đã chỉ ra điều đó! Xây dựng lại lòng tin mới xây dựng lại được sức mạnh cho dân tộc!

  15. Tri Ngộ nói:

    @ Hoàng Trường Sa & Hoà Nguyễn Tôi rất cám ơn hai bạn đã phản hồi với những thí dụ và luận lý rất sắc bén và sâu sắc. Riêng tôi luôn được học hỏi thêm qua các phản hồi vì những cái nhìn khác biệt luôn mở rộng thêm tầm nhìn của chính tôi. Nhưng cái “an ủi” lớn cho tôi ở đây là những dẫn chứng lịch sử của bạn Hoà Nguyễn ở điểm số 1 (LXK) cũng như những lý luận về lòng yêu nước ở điểm số 2 (LXK), hình như cũng đã chấp nhận là cả hai điểm này của GS LXK, cũng chỉ là những phương châm (kim chỉ nam), hay là những nhắc nhở, hoặc là những tiền đề… Những phương châm này, dù cho chí lý đến đâu chăng nữa, theo lý luận của bạn HN, trước sau đối với tôi, vẫn chỉ là những lý tưởng đẹp được ghi trên giấy. Lịch sử VN đã cho thấy không biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lòng yêu nước chân chính và đã bị lừa. Đã có rất nhiều người gánh chịu bao nỗi oan khiên từ cái ngày Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 vì những hành động tàn ác của một tập đoàn lãnh đạo luôn tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo tôi, việc nhà cầm quyền hiện nay nhận thức được lòng yêu nước chống quân Bắc phương (TQ) cần có sự hợp lực của CĐNVHN là một mơ tưởng hão huyền. Lịch sử cũng đã trăm lần cho thấy điều này khi quân đội Bắc Việt, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, đã bầm dập và hành hạ người miền Nam sau năm 1975 như thế nào và chính sách của họ, dầu cho có “thoáng” hơn ngày nay, vẫn còn nặng mùi “ám khí” của một chủ nghĩa phản khoa học với cách cai trị độc đoán và mù quáng, đi ngược lại lòng yêu nước chân chính của người dân. Lòng yêu nước chân chính đó hình như phải kêu gọi tình người, kêu gọi lòng từ ái, kêu gọi sự biết ơn tổ tiên đã gầy dựng nên giang sơn gấm vóc ngày nay, kêu gọi sự khát vọng về một tương lai tốt đẹp cho quê hương, và đồng thời cũng kêu gọi sự sám hối về những khổ đau mà người cộng sản đã gây ra (một vết thương lớn cần chữa lành). Khổ thay lòng yêu nước đó hiện nay đang bị những đám mây mù to lớn của sự hưởng thụ (còn được gọi nôm na với 4 chữ “ổn định kinh tế”) và sự sợ hãi của người dân (hé mồm ra là công an mời lên làm việc), và của lòng tham vô đáy của cấp lãnh đạo (cấp lãnh đạo ngày càng giàu) ngăn che. Những đám mây mù này rất khó lấy đi, trừ phi có một cơn gió lớn. Và cơn gió đó có thể sẽ là cuộc tấn công xâm lăng VN của Trung Quốc.

Trang 2:

  1. phivu56 nói:

    Mời xem: Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại http://phivu1956.blogspot.com/2010/07/ho-chi-minh-man-and-myth-ho-chi-minh.html

  2. Phùng Tường Vân nói:

    “Da mồi tóc bạc ta già nhỉ !” Cái sai lầm xuyên suốt bài viết là một sự không tỉnh táo, nó đặt nền móng thuyết phục và khuyến cáo người khác trên những giả định đến mức ảo tưởng. Tôi đồ rằng có ít nhiều nỗi lẩm cẩm của tuổi tác ảnh hưởng chăng, cũng chính vì có nỗi ái ngại buồn bã ấy mà tôi cũng thấy có cái gì hơi bất nhẫn khi có độc giả liệt kê ông vào những hạng như là “triết gia còi hụ” hoặc vị “đại gia hàng thần” nọ khuyến dụ người khác “làm lành với lịch sử” chẳng hạn. Đôi khi tôi lại nghĩ có lẽ ông vẫn chưa thoát ra khỏi cái “hội chứng” một lần được gặp gỡ với “một người cộng sản tử tế” chăng?

  3. Phan Son nói:

    Dù quá trình thôn tính chưa hoàn tất nhưng xã hội ta đã là một xã hội lệ thuộc. Người nghèo lệ thuộc người giàu, người giàu lệ thuộc quan chức, quan chức thì bị chi phối bởi những kẻ cơ hội. Người ta bị điều khiển bởi đồng tiền và những động lực vật chất, thật đúng như Rousseau nói trong khế ước xã hội: “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ”. Sự lệ thuộc vật chất dẫn đến ý thức lệ thuộc và ích kỷ. “Thôi, lo làm mà kiếm tiền, để ý chi đến những việc đó, gặp phiền phức bây giờ” là câu nói mà nhiều người bật ra khi nghe ai đó bức xúc về những vấn đề của xã hội và chính quyền. Những ý thức và suy nghĩ độc lập ngày càng hiếm hoi làm sức đề kháng của xã hội ngày càng xuống thấp. Khi mà thế lực thôn tính nhận thấy rằng nó có thể dẫn dắt các hành động của số đông bằng những tin đồn liên quan đến quyền lợi của họ, đó là lúc mà nó ra sẽ đòn quyết định. Một vài phép thử đã được thực hiện như cơn sốt vàng năm trước và gần đây là chứng khoán. Đáng lo hơn nữa là sự lệ thuộc suy nghĩ như vậy làm rất nhiều người, từ dân nghèo đến cả tầng lớp trung lưu hy vọng thụ động vào một sự thay đổi từ bên ngoài sẽ mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần và quyền lợi chính trị, mà không ý thức rằng chính mình mới là nhân tố quyết định những kết quả đó. Tác động từ bên ngoài là khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại, nhưng chính sức mạnh của nội lực mới quyết định kết quả của sự tác động đó là tốt hay xấu. Với sức đề kháng của xã hội như Việt Nam hiện nay, kết quả đó sẽ là một thảm họa. Chỉ cần nhìn vào thị trường thuốc chữa bệnh thì sẽ thấy quyền lợi và tính mạng của đại đa số dân ta đang bị hy sinh để phục vụ cho một nhóm lợi ích tư rất nhỏ trầm trọng đến mức nào. Các tập đoàn dược phẩm thao túng hoàn toàn thị trường nhờ sự tiếp tay của những kẻ cơ hội, đẩy giá thuốc lên khủng khiếp và liên tục nhiều năm qua bất chấp những nỗ lực của báo chí và những cố gắng của một số quan chức có trách nhiệm. Không cẩn thận thì thị trường xăng dầu sắp tới cũng sẽ bị lũng đoạn.

  4. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Tri Ngộ trích câu viết của GS Lê Xuân Khoa 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“, và ông kết luận: Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Chỉ xét về ý nghĩa riêng nói lên ở chỗ này, tôi nghĩ câu viết trên của giáo sư Lê Xuân Khoa dựa vào những kinh nghiệm đau thương đã xảy ra trong lịch sử dân tộc. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, một hành động dược coi trái đạo nghĩa đối với tư tưởng trung quân thời đó, nhiều người đã đi cầu cứu với nhà Minh bên ngoài, và tổ chức chống lại họ Hồ bên trong. Kết quả là thảm kịch: quân Minh chỉ cần mượn cớ phù Trần diệt Hồ đã chinh phuc nuớc ta rất dễ dàng, và sau đó nói con cháu nhà Trần chẳng còn ai để biến Đại Việt thành quận huyện của Trung quốc. Nhiều người Đại Việt thời đó đã phản ứng theo lòng uất hận kẻ bất nghĩa, bất trung, hay theo quyền lợi riêng vừa bị cướp mất, để chỉ thấy kẻ thù gần gũi cần tiêu diệt là họ Hồ, mà không thấy được kẻ thù còn ở xa nhưng nguy hiểm cho dân tộc hơn, là Trung quốc. Trong trường hợp khác, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để chống Tôn Sĩ Nghị, sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Thiếp đã hết lòng ủng hộ và bày kế cho ông (chưa kể đến Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở), và cũng chính ở vủng Thanh Nghệ Tĩnh nơi đã cung cấp quân binh trung thành nhất cho Chúa Trịnh (dẫn đến loạn Kiêu binh), Nguyễn Huệ đã mộ được hàng chục ngàn người cho đạo quân Tây Sơn Bắc tiến phá Thanh (cũng có nghĩa diệt luôn vua Lê chúa Trịnh). Cảm tính thường phản ứng cho quyền lợi tức thời, nên có khi thành nông nổi, và lý trì hướng dẫn cho hành động đúng đắn, hiệu quả hơn. Vấn đề là làm thế nào để tạo được sự quân bình giữa hai phản ứng, với nhiều xét suy, cân nhắc cho quyền lợi lớn và lâu dài. 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Ông Tri Ngộ nhận xét:” Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước…“. Có lẽ không nên mất nhiều thời gian để bàn thật sâu về thế nào là lòng yêu nước, nhưng nếu nghĩ đơn giản và chấp nhận một số quan niệm thông thường, sẽ thấy câu viết của GS Lê Xuân Khoa nêu vừa đủ các điều kiện cần thiết cho những người lãnh đạo VN trong tình hình gay go hiện nay. Nếu thật lóng yêu nước, họ thấy được đâu là quyền lợi thiết thực, lâu dài, và đâu là nguy cơ thật sự cho dân tộc, đồng thời họ cũng thấy muốn bảo vệ được đất nườc, chống lại được kẻ thú cực mạnh, bên trong cần phải dựa vào sức mạnh toàn dân đoàn kết, với nghĩa tự nguyện, và bên ngoài cần nhờ vào sự ủng hộ của quốc tế (thiện cảm với VN, chống Trung Quốc). Từ nhận thức đó sẽ thấy họ cần phải thay đổi thế nào, và thấy vai trò của người Việt hải ngoại không nhỏ trong hành động chung cho dân tộc.

  5. Hoàng Trường Sa nói:

    “CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.” (Tri Ngộ) Bạn Tri Ngộ nói rất đúng. Nếu xảy ra cuộc chiến TQ trực tiếp tấn công VN trên Biển Đông hay trên bộ dọc biên giới phía Bắc, thì Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại sẽ lâm vào một hoàn cảnh rất khó xử, và có lẽ sẽ bị chia rẽ rất lớn do phải chọn lựa thái độ là có nên nhập cuộc để hỗ trợ ĐCSVN chống lại TQ hay không (giả sử rằng vào lúc đó ĐCSVN không còn chọn lựa nào khác ngoài việc phải chống lại Tàu xâm lược). Một mặt, là con dân nước Việt, không ai có thể bàng quang tọa thị nhìn ngoại bang xâm lăng Tổ quốc mình, mà không chút xót xa, uất giận, và chắc chắn thế nào người Việt hải ngoại tuyệt đại đa số cũng phải tìm mọi cách để chống lại cuộc xâm lược này. Nhưng mặt khác, người Việt hải ngoại biết quá rõ bộ mặt phản dân hại nước của ĐCSVN. Họ cũng thừa biết là sau khi hy sinh tất cả để ngăn chận không cho Tàu xâm chiếm Tổ quốc thiêng liêng của họ, thì kẻ được hưởng lợi cũng lại là cái đảng thổ tả mắc toi mắc dịch CSVN này, chứ chẳng phải là đồng bào họ trong nước hay chính bản thân họ. Bởi vì, lúc đó cái đảng CSVN khốn nạn này lại sẽ tiếp tục hách dịch đè đầu cỡi cổ nhân dân ta trong nước như từ xưa đến nay. Nhưng nếu trái lại, người Việt hải ngoại cũng như toàn dân ta trong nước thờ ơ không nhập cuộc để cứu nước, thì Tổ quốc ta sẽ không còn nữa. Đó là nỗi đau của chúng ta. Nói cách khác, từ ngày có ĐCSVN, đảng này đã coi đất nước VN là vật sở hữu của đảng họ, coi nhân dân VN là những kẻ tôi đòi, những con vật thí mạng mà đảng có thể sử dụng bằng đủ mọi cách (qua những lời kêu gọi hoa mỹ, đánh động tình cảm yêu nước của người dân như Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ) để bảo vệ cái ngai vàng cùng với những đặc quyền đặc lợi của bè đảng bọn họ. Có điều, với sự chia rẽ trầm trọng giữa người Việt hiện nay, với sự suy yếu cùng cực, sự bất tài, tham nhũng, sự yếu hèn khiếp sợ Tàu của ĐCSVN hiện nay, cùng việc nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN đã không có được thiện cảm cùng sự kính trọng, quý mến và hỗ trợ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, việc chống cự lại cuộc xâm lăng của TQ (nếu có) lần này e rằng sẽ rất khó khăn. Cá nhân tôi đã nhiều ngày đêm suy nghĩ về vấn nạn đau khổ này, nhưng thú thật vẫn chưa tìm ra giải đáp. Dù ai cũng biết rằng, để thoát ra nỗi khổ triền miên bất tận này, cách duy nhất là loại bỏ vĩnh viễn cái đảng CSVN này. Nhưng làm sao để thực hiện thành công chuyện này đây, khi ĐCSVN đang nắm trong tay bộ máy thống trị chuyên chính, với dùi cui, roi điện, súng đạn, tiền bạc dồi dào, đầy đủ và sau lưng còn có sự hỗ trợ của bọn bá quyền Bắc Kinh. Để thay đổi chế độ, chắc chắn toàn dân ta sẽ phải làm lịch sử một lần nữa. Nhưng cái giá phải trả e rằng không nhỏ. Có thể phải trả bằng giá máu, mà đây là điều không ai mong muốn cả. Việc mong chờ ĐCSVN tự động thay đổi là chuyện không bao giờ xảy ra. Xin đừng có ai tơ tưởng vào điều bất khả này. Có lẽ, chỉ khi nào dân ta tỉnh ngộ trước thực tế đau xót này, và đồng lòng đứng dậy, hy sinh đòi lại quyền làm chủ đất nước, thì may ra mới có cơ hội thoát ra khỏi thế bí này. Sẽ có người hy sinh ngả xuống cho thế hệ VN tương lai còn được sống, hay nói theo ngôn ngữ của CSVN thì sẽ có người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Thật là một vòng lẫn quẫn khởi đi từ muà thu lịch sử năm 1945. Một chu trình kín dẫn dắt dân tộc qua ngàn cửa ải đau thương, để trở lại điểm bắt đầu, sau 65 năm tang tóc, núi xương, sông máu. Với một giấc mơ còn dang dỡ. Thật là buồn và giận ông Hồ vô vàn.

  6. Trương Đức nói:

    Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội. (trích “Bill Hayton – Đảng Cộng sản và tương lai Việt Nam”) Nhân đọc được đoạn trích trên đây, tôi xin mạn phép tác giả Bill Hayton cũng như dịch giả Đinh Từ Thức được ghi ra đây để làm rõ thêm cái ý “Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!” trong PH của bác Nam Phan. Dĩ nhiên là tôi rất hiểu “thâm ý” của bác Nam Phan, nhưng tiện đây tôi xin có một ý kiến như thế này: Tại sao giáo sư Lê Xuân Khoa có quyền “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được””, còn tôi thì “đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất., hay nói như tác giả Bill Hayton là tôi phải “hạn chế tự do ngôn luận”? Phải chăng, “Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm” là gián tiếp chấp nhận “sự hạn chế tự do ngôn luận” của ĐCSVN? Và cuối cùng, chẳng lẽ giáo sư LXK, với cái ý “học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được”” cũng muốn trở thành “cá mè một lứa” với “Tiến Sĩ triết gia”?

  7. Tri Ngộ nói:

    GS Lê Xuân Khoa viết: 1. “Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc“. Câu này rất hay nhưng chỉ là lý tưởng. Trên thực tế, điều này rất khó xảy ra. Dân tộc nào làm được điều này thì dân tộc đó rất hùng mạnh và chắc chắn có nếp sống đẹp và văn hoá cao. Câu hỏi tôi tự đặt ra là dân tộc chúng ta chưa đạt đến trình độ này. Đời nhà Trần sở dĩ chúng ta hùng mạnh và đánh đuổi được giặc Nguyên cũng nhờ nếp sống từ ái của Vua đối với dân. Vua biết thương dân, biết tha thứ những quan thần đã phản bội Vua. Vua biết hy sinh (đang đi tu và rũ áo tu, quay lại cùng dân quân đánh đuổi giặc Nguyên). Ngày nay những người lãnh đạo nước ta là những người do Đảng chỉ định. Họ là những đảng viên chỉ biết vâng lời Đảng. Họ là những người lãnh đạo bất tài. Họ vâng lệnh Đảng một cách tuyệt đối và mù quáng. Tôi xin trích lại lời của ông Lê Duẩn: “từ đỉnh cao thắng lợi ngày nay, nhìn lại quá trình chiến đấu và trưởng thành đã qua, quân đội ta nhận thức sâu sắc rằng tất cả những chiến công và thành tựu của mình đều bắt nguồn từ đường lối cách mạng độc lập tự chủ của Đảng. Đường lối đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” (NXBQĐND, Hà Nội, 1980). Chúng ta không thể coi thường những cái nhìn rất độc đoán và nguy hiểm này của người CS. Đây là một bức tường lớn ngăn cản sự hợp lực của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại (CĐNVHN). 2. “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế” (LXK) Điều này cũng chỉ là một tiền đề không được chứng minh. Thế nào là thật lòng yêu nước. Sao ta không nói được “thật lòng yêu nước” thì phải trước tiên từ bỏ chủ nghĩa CS, lật đổ chính quyền hiện tại và tổ chức bầu cử cho một nước VN mới có dân chủ với một tương lai sáng lạn hơn. Điều này ai sẽ làm được nếu không có quân đội trong tay. CĐNVHN của chúng ta sẽ bị chia rẽ vô cùng nếu TQ xâm chiếm VN (vì phải chọn “bên tình bên hiếu”). Vấn đề yêu nước VN đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan để không bị người CS lừa chúng ta một lần nữa.

  8. Nam Phan nói:

    Giáo Sư Lê Xuân Khoa đã học được cách “nói làm sao để nhà cầm quyền CS nghe được” cuả Tiến Sĩ triết gia! Độc giả Trương Đức đừng đòi hỏi điều kiện tiên quyết, hay tiền đề, hậu đề gì sất. Hải Ngoại ta cứ theo giả định của GS mà làm. Không thành công thì thành (ngoại) nhân!!!

  9. Hoà Nguyễn nói:

    Nhân một câu viết của ông Hoàng Trường Sa, xin có đôi lời. Theo các thông tin trên mạng, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy học ở Hà Nội từ năm 1950, và tôi hiểu có lẽ là ông dạy thêm khi tiếp tục học như phần đông các sinh viên thời đó. Ông tốt nghiệp đại học Văn Khoa và Cao đẳng Sư Phạm năm 1953, được học bổng năm 1960 để theo học đại học Sorbonne (Pháp), và ghi danh luận án tiến sĩ triết học với dề tài Phật giáo Thiền tông tại Việt Nam. Ông qua Ấn Độ nhiều lần để nghiên cứu triết học Ấn, và giảng dạy triết lý Upanishad tại đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau này, ông cũng dạy tại đại học Đà Lạt, Minh Đức và Vạn Hạnh. Trong một thời gian, tôi đọc nhiều bài ông viết về Phật giáo và Thiền tông đăng trên tạp chí Bách Khoa, với giọng văn không khác ngày nay, sáng sủa và khúc chiết. Có thời gian ngắn ông làm tổng thư ký bộ Giáo dục (tương đương thứ trưởng), và chức vụ cuối cùng ở Việt Nam là Phó Viện trưởng Ðại học Sài Gòn. Sau năm 1975 khi qua Mỹ, ông là chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), và là giáo sư thỉnh giảng Ðại học Johns Hopkins tại Washington DC. Khi mới vào Sài Gòn, giáo sư Lê Xuân Khoa dạy tại trường Pétrus Ký (và Quốc gia Sư phạm gần đó), và tôi theo học giáo sư trong khoảng thời gian này. Tôi vẫn giữ nhiều hình ảnh đẹp về những thầy cũ của mình, và giáo sư là người thầy tận tâm, khả kính. Tôi còn nhớ một hôm khi bài đã giảng xong mà còn mấy phút nữa mới hết giờ, học trò hơi nhốn nháo, “thày Khoa” nói gì đó và chấm dứt với câu “giáo bất nghiêm sư chi noạ”, cả lớp nghe mà ngơ ngác, nhưng do đó cũng im lặng hơn. Mãi nhiều năm sau, tôi cũng “đứng lớp” mới hiểu hết ý nghĩa một câu nói trong nghề giáo, có lẽ đã có từ thời Khổng Tử. Tôi và các bạn học có thể thắc mắc tại sao ông thầy cũ của mình xưa kia thật hiền, nho nhã, có nét mặt rất tươi tuy ít khi cười với đám học trò, chuyên về Triết Đông, suốt đời dạy học và làm việc cho người tỵ nạn, bây giờ lại thường viết về một vấn đề chính trị gai góc vào bật nhất để dễ gặp phản ứng mạnh ở nhiều người, thuộc nhiều khuynh hướng, từ nhiều phía khác nhau đến đối nghịch. Nhưng theo tôi hiểu, việc làm hiện nay của một ông giáo đã nghỉ hưu, như vẫn chuyên cần viết sử, tham luận chính trị, có lẽ bắt nguồn từ tấm lòng và sự can trường khi còn là học sinh Trung học ở Hà Nội: ông từng bị bắt với vài người bạn vì hoạt động chống Pháp (theo thư ông gửi cho BBC) Bài viết “<i Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại ” của giáo sư Lê Xuân Khoa đáng được người Việt hải ngoại đọc và thảo luận ở các diễn đàn thích hợp, dù sẽ có nhiều người đồng ý hay phản đối quan điểm của ông. Đó là một cách nhìn, một phương sách, một giải pháp đề nghị cho một tình thế khẩn thiết lại như đang trong bế tắc. Dù thế nào, tôi cũng cảm thấy giáo sư thao thức nhiều với những suy nghĩ riêng của mính, đồng thời vẫn hy vọng, và có ước vọng lớn cho tương lai Việt Nam. Vấn đề đặt ra rất rộng, nhưng tạm thời, nên giới hạn trong ba tiền đề do ông nêu: <i1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc : Có thật hay không như giáo sư nói “ hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước “, và nguy cơ đó còn xa hay gần kề ? <i2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà nước Việt Nam : Khi điều kiện “ lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế ” không thể có được trong hiện tại, thì với hiểm hoạ Trung Quốc lớn hơn bao giờ hết, đất nước VN sẽ ra sao, và để mong cứu vãn tình thế, người Việt trong và ngoài nước có thể làm được gì. <i3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại : Bài viết gợi ý nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, nên phán định từng điểm để coi có thật sự lợi ích cho đất nước, có khả thi đối với cộng đồng người Việt hải ngoại không, và cũng xét tới làm như thế có gây cản trở gì không cho công cuộc vận động dân chủ, tự do ở VN . Khi có thể, tôi sẽ góp ý tiếp.

  10. Hoàng Trường Sa nói:

    “4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết!” (Trương Đức) Làm răng mà bảo đảm chuyện nớ được, bác Trương Đức ơi ! Tui thấy rõ là không cần chờ tới khi “hiểm họa TQ” đã qua, mà ngay hôm nay, khi “hiểm họa TQ” đang đè nặng trên Tổ quốc ta, ĐCSVN cũng xem cái hiểm họa này rất nhỏ so sánh với kẻ thù không đội trời chung của họ là khối người Việt tỵ nạn CS trên toàn thế giới mà họ đang rắp tâm triệt hạ cho bằng được. Tôi thấy rõ chuyện nớ như đang thấy lòng bàn tay mình dưới bóng đèn điện 200 watt: Các đường chỉ tay ra răng, các đốt ngón tay ra răng. Họa chăng là những người chưa có kinh nghiệm về ĐCSVN hoặc là có kinh nghiệm đấy, nhưng lại tự lừa dối chính bản thân, do quá “yêu nước” hoặc quá ngây thơ, mà hy vọng đảng “ta” đã (hay sẽ) thay đổi. Kính mời quý vị đọc thêm bài dưới đây do Đại Nghĩa sưu tầm: Đảng cộng sản lấy gian dối làm phương châm

  11. [...] Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại    Lê Xuân Khoa – Talawas [...]

  12. Trương Đức nói:

    “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.”(Lê Xuân Khoa) Tôi xin được xin lỗi trước giáo sư LXK, nếu trong phản hồi này có điều gì không phải! Đọc bài này tôi thấy giáo sư Khoa, khi viết bài này, như thể làm cái công việc “vá víu” lại cái “tấm áo dân chủ” đã rách bươm gần thế kỷ nay cho dân tộc VN. Và một câu hỏi hiện lên trong đầu tôi: Tại sao ông LXK không tìm cách “cởi ra” và “vứt bỏ” cái “tấm áo vá chằng vá chịt” ấy đi, và bày cách “mặc” cho dân tộc mình một “tấm áo dân chủ” hoàn toàn mới đi? Tôi xin được phát biểu vài cảm nghĩ của mình như sau: 1. Giáo sư Khoa nêu ra “Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế.“, thì tôi thấy, giáo sư không những không nêu ra được điều gì mới mẻ cả, mà còn “quên béng” mất một điều kiện tối quan trọng và là tiền đề cho ba điều kiện kia, là “Ngay bây giờ, càng sớm càng tốt, nên THIẾT LẬP NỀN ĐA NGUYÊN DÂN CHỦ cho VN”. Bởi vì, khi có được một nền dân chủ đa nguyên đa đảng thực sự tại VN, thì: – Điều kiện thứ nhất là “lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước” sẽ được đáp ứng, bởi vì lúc đó, “lãnh đạo”(đảng hoặc liên minh các đảng thắng bầu cử tự do và được quyền thành lập chính phủ) đương nhiên phải “tài giỏi” và “thực lòng yêu nước” rồi, nếu không thì nhân dân đã không “bầu”. – Điều kiện thứ hai là “huy động được sự đoàn kết của toàn dân” cũng dễ dàng được thực hiện, bởi vì, đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền sẽ huy động được toàn thể số cử tri(nhân dân) của mình, cộng với số cử tri(cũng là nhân dân) của các đảng khác trước nguy cơ xâm chiếm Tổ quốc VN của ngoại bang. – Và như thế, điều kiện thứ ba là “vận động được sự ủng hộ của quốc tế.” chỉ là một mệnh đề kéo theo, cũng sẽ xảy ra, bởi vì cuộc kháng chiến chính nghĩa chống xâm lược của một đất nước dân chủ, bao giờ cũng được quốc tế ủng hộ. 2. Tất nhiên là giáo sư Khoa sẽ bảo tôi rằng, ông nêu ra “3 điều kiện” trên là với tình trạng hiện nay của VN. Vâng, nhưng tôi cũng xin hỏi giáo sư rằng: khi nào thì xảy ra “hiểm họa TQ”? Hiện nay thì chưa, đúng không? Vậy thì tại sao ngay bây giờ “ông Nhà nước VN” không tiến hành một cuộc “thay áo” (tôi không muốn dùng từ “thay máu”, sợ rằng ông Nguyễn Minh Triết lại bảo tôi là kẻ “thích đổ máu”!) cho dân tộc đi? “Ông Nhà nước VN” muốn đợi đến bao giờ? Và giáo sư Khoa còn muốn “vá áo” đến bao giờ nữa? “Tấm áo dân chủ” hiện giờ mà ĐCSVN đã “khoác” lên cho dân tộc hơn 80 năm qua đã “cũ rích”, đã bị “rách bươm” qua “những tháng năm cuồng nộ” và đã bị “vá chằng vá chịt” chẳng ra thể thống gì cả rồi. Nên “thay áo” đi, kể ra bây giờ, sau cuộc chiến 1954-1975 đã hơn 35 năm, là đã muộn lắm rồi, nhưng muộn còn hơn không! 3. Dân tộc VN đã mất lòng tin vào ĐCSVN, nên “Ông Nhà nước VN” có làm gì cũng là những hành động “vá víu” vớ vẩn. Cái hiện tình(sự thoái hóa về đạo đức và văn hóa của xã hội và con người, đời sống thiếu thốn nghèo đói, kinh tế đi xuống, nguy cơ mất nước, không có lối thoát,…) của đất nước VN ta chứng minh điều đó. Tất cả cũng chỉ là do toàn dân không còn tin vào Nhà nước nữa. Không có niềm tin thì khó có thể “xây dựng” hay “bảo vệ” một cái gì cả! 4. Sự “tráo trở” của ĐCSVN đã thể hiện nhiều lần trong lịch sử. Không có gì đảm bảo rằng, sau khi “hiểm họa TQ” đã qua, ĐCSVN sẽ không “độc tài toàn trị” nữa, sẽ “vui vẻ” cho dân tộc VN tiến hành một cuộc “cách mạng nhung” để cải tổ thể chế chính trị. Nếu giáo sư Khoa biết một cái “đảm bảo” gì đấy, xin ông vui lòng cho độc giả biết! 5. Để tạm kết luận, tôi xin được trích lại đây lời PH của bác Lề Trái, coi như là bác LT nói hộ ý kiến của mình (Xin cám ơn bác Lề Trái!): “Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác.”

  13. [...] KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI TRƯỚC HIỂM HỌA TRUNG QUỐC Bởi ngoclinhvugia Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại [...]

  14. Lề Trái nói:

    phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế” Đã có một dữ liệu nào để bảo đảm cái giả định trên là khả thể, hay những gì xảy ra đều chỉ ra giả định trên đang mấp mé giả tưởng? Nếu dữ liệu không đỡ nổi cái giả định, thì những đề nghị trên có còn giá trị nữa hay không? Và cả bài này có đáng giá như những giả định chính trị đầy rẫy ở hải ngoại kiểu “những người hải ngoại phải làm gì”? Đôi khi muốn giải quyết vấn đề, người ta phải truy ngược lên vấn đề bắt nguồn từ đâu, và giải quyết từ gốc thay vì cứ chữa triệu chứng kiểu tương tylenol cho bệnh liệt kháng đơn thuần chỉ vì dễ nhiễm lạnh. Nhân tiện, tôi nói luôn: Một trong những kết quả cuối cùng của Marxism là chủ nghĩa thực dân mới. Vì nó ở mức cao hơn, nên có người đã giả định (theorize) là thực dân tự nguyện ie vũ lực phần lớn mang ý nghĩa tượng trưng. Tiếc dân Đông Âu hình như nhận ra nên cứ cù nhầy cù dưa, còn lòi ra anh Nam Tư cứng đầu cứng cổ. Nhưng sự xuất hiện của xe tăng LX (cũ) ở Tiệp và Hung năm nào là những dấu hiệu đáng kể. VN & TQ có thể sự chuyển tiếp sang thực dân mới sẽ suôn sẻ hơn, tức là trên phương diện lý thuyết, rất có thể VN sẽ thành 1 tỉnh không thể thiếu của TQ, hay ít nhất 2 nền hành chính sẽ sáp nhập. Chừng nào chuyện này xảy ra? Thiển ý của tôi, VN là điểm nổ của Critical Mass TQ. Hiện giờ chưa xảy ra vì TQ vẫn còn nén mình. Tới 1 lúc nào đó khi TQ đã đủ sức “vươn vai đứng dậy sáng lòa”, VN nếu chưa bị thôn tính bằng chính trị sẽ lãnh ngay hậu quả quân sự. TQ muốn tiến ra thế giới sẽ phải bước qua VN. Nói vậy để thấy chúng ta vẫn còn thời gian để làm 1 cái gì đó, nhưng không còn nhiều. Vì thời gian có hạn, những sự giúp đỡ của hải ngoại hiện nay chỉ có thể ở mức “lương tâm cắn rứt” hay hơn 1 tí chứ không thể mang một tính thiết thực hay cụ thể được. Mọi sự nằm trong tay người trong nước, tất nhiên sau khi có momentum rồi thì lại khác. Nếu dân ta cứ để sự thôn tính xảy ra, tôi sẽ buồn, rất buồn nữa là đàng khác. Nhưng để gỡ gạc, tôi đặt sẵn cục gạch xí chỗ trong những người ủng hộ giả thuyết trên. Ngoài lề 1 tí, tưởng đã ăn chắc vụ VN vào Cambodia và TQ chiếm Tây Tạng, LHQ lao vào cứu 1 bàn thua trông thấy vụ VN/Cambodia. TQ/Tây Tạng thuộc loại thực dân thẳng thừng ie bạo lực “không” tượng trưng, nên bên pro-marx cãi là không tính. TQ/VN là hy vọng cuối cùng!

  15. Hoàng Trường Sa nói:

    “Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (trích lời giáo sư Lê Xuân Khoa) Tôi đọc bài này của Giáo sư Lê Xuân Khoa đang ngon lành, đến đoạn này thì KHỰNG lại luôn, mồ hôi đổ toát ra dù lúc này bên Úc tiết trời đang giá lạnh. Dù kính trọng Giáo sư (một phần do nể bác Hòa Nguyễn, một học trò cũ của Giáo sư) và ghi nhận thiện chí của Giáo sư Khoa, tôi thấy Giáo sư có vẻ quên bài học lịch sử năm 1945 quá nhanh. Chính vì phía quốc gia vào năm 1945 đã nghĩ như Giáo sư Khoa rằng “Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng.” (nguyên văn) mà nước ta đã trải qua bao nhiêu tang thương, đổ vỡ do ông Hồ và ĐCSVN gây ra trong 60 năm qua. Người CS họ không bao giờ NGÂY THƠ như thế, thưa Giáo sư. Trái lại, họ sẽ GIẢ BỘ đoàn kết chống Tàu, nhưng ngấm ngầm xâm nhập và đánh nát Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất (xin Giáo sư xem lại bài học về liên minh chống Nhật giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước đây, hoặc liên minh chống Pháp của “kụ” Hồ và các nhà ái quốc VN thuộc phe không CS thời 1945 – 1946). Cái tiền đề của Giáo sư Khoa rằng ĐCSVN cũng muốn chống lại sự xâm lấn bành trướng của TQ, theo ngu ý, là một tiền đề còn quá mù mờ chưa thể tin ngay được, cần xem kỹ lại, bởi vì ngay cả việc người dân trong nước chỉ muốn nói lên câu “Hoàng Sa và Trường Sa là của VN” mà cũng bị nhà nước CS ngăn cấm và đàn áp. Tôi xin lỗi phải tạm ngưng đọc tiếp bài này cho đến khi HOÀN HỒN, sau đó sẽ tính lại. Dù sao cũng phải cám ơn tác giả Lê Xuân Khoa đã cất công viết bài này để mọi người cùng suy ngẫm.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , , , , | 11 phản hồi »

574. Đinh Kim Phúc:THƯ GỬI LÃNH ĐẠO BBC

Đăng bởi anhbasam on 06/05/2010

THƯ GỬI LÃNH ĐẠO BBC

Ngày 5 tháng 5 năm 2010

Thưa ông, Neil Curry

Trưởng phòng Phát triển Kinh doanh, Châu Á và Thái Bình Dương,

BBC World Service

Cám ơn lãnh đạo BBC đã trả lời thư của tôi gửi cho quý vị. Cũng xin nói thêm rằng thư của tôi gửi cho BBC dù được gửi trực tiếp nhưng cũng là dạng thư ngỏ nên tôi muốn tất cả bạn đọc phải biết được thư trả lời của BBC. Sau đây tôi có đôi lời với ban lãnh đạo BBC.

Trước hết, BBC đã thanh minh:

“Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng quan điểm của tác giả không phải là quan điểm của BBC. Tương tự áp dụng cho ba bài “phản hồi quan điểm” mà sau đó được đăng trong mục. Đây là một nguyên tắc cơ bản của các Diễn đàn bình thường”.

Cho tôi được hỏi: BBC trả lời như thế nào về ý kiến của bà Đỗ Ngọc Bích(1)

Trong thông tin chúng tôi có, bà Bích viết:“Tôi rất ‘choáng’ vì thấy BBC không những đưa sai thông tin về cá nhân tôi, mà còn chẳng biên tập, chỉnh sửa gì hết, ngoại trừ việc đặt nhiều câu chữ trong dấu nháy kép làm tăng độ kịch tính, trích dẫn lại câu ra ngoài, sửa mấy lỗi đánh máy và trưng cái tít (mà tôi không hề viết) lên ngay đầu tiên: ‘Một nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế và Việt học tại Hải ngoại cảnh báo về tinh thần dân tộc ‘mù quáng’ ở người Việt’, khiến bài viết trở nên ngông nghênh, kiêu ngạo hơn cái mà nó có”.

Thứ hai, tôi nghĩ rằng BBC chối bỏ trách nhiệm của mình khi cho đăng bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của bà Đỗ Ngọc Bích bằng cách viện dẫn nguyên tắc biên tập của BBC:

“Tất cả những điều chúng tôi làm đã được hướng dẫn bởi tính công bằng và độc lập trong biên tập. Chúng tôi không thể, và không làm, đó là đứng về phía bên nào trong bất kỳ cuộc tranh luận, cho dù chủ đề tranh cãi có như thế nào đi nữa. Trên trang web của chúng tôi, Diễn đàn là một nền tảng cho các quan điểm trong phạm rộng nhất có thể được, cho dù là chính trị, văn hóa, lịch sử và sự tồn tại của nó là để khuyến khích tranh luận trong một môi trường tự do và cởi mở. Vì lý do này, chắc chắn “User Generated Content”(nội dung phát sinh từ phía người sử dụng) trên trang web của BBC có thể gây ra sự bất mãn nhưng chúng tôi luôn luôn đón nhận những lời chỉ trích, phản hồi và quan điểm khác”.

Tôi viết như thế là vì bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của bà Đỗ Ngọc Bích không phải là quan điểm học thuật hay một phát hiện khoa học cần tranh cãi mà đó là sự mạ lị và phỉ báng lịch sử dân tộc Việt Nam và điều dó cho thấy quí Ông đã tự mâu thuẩn với chính mình cố tình vi phạm những nguyên tắc của của quí đài đặt ra.

Ông viết: “Chúng tôi không bao giờ có ý định làm tổn thương tình cảm của bất kỳ ai. Đồng thời, người sử dụng phải hiểu rằng chúng tôi đề cao tính đa dạng của các ý kiến, cũng như cạnh tranh hoặc thậm chí phản đối những bài tường thuật cho một câu chuyện hay sự kiện”. Phải chăng quí ông cho rằng sự đa dạng nầy bao gồm cả nội dung phỉ báng một dân tộc?

Như vậy, nếu tôi mạo nhận là Giáo sư của Đại học Harvard gửi bài cho BBC, trong đó có đoạn viết về lịch sử nước Anh như sau: “ Lịch sử nước Anh là lịch sử của một sự thù hận muôn đời bởi vì Anh đã từng là phần đất của Pháp…và Nữ hoàng Anh vốn xuất thân không phải từ đẳng cấp quý tộc của nước Anh mà xuất thân từ tầng lớp maya ở Tây Ban Nha từ thế kỷ 13…” thì liệu BBC có dám đăng không để mở đường dư luận tranh cãi theo chủ trương nêu trên? Thử hỏi đông đảo độc giả người Anh sẽ có thái độ như thế nào trước sự xúc phạm tương tự?

Chúng tôi chính thức yêu cầu  quí đài BBC phải có lời xin lỗi độc giả người Việt vì sự xúc phạm nầy.

Trân trọng

Đinh Kim Phúc

(Ba Sàm chú thích: Bản tiếng Việt đăng trước được ông Đinh Kim Phúc gửi tới không chính xác với bản tiếng Anh. Ông Phúc đã gửi lại bản này)


Chú thích:

(1)   – Nguồn: http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=855&page=16

- Nguồn: Bài trên Facebook của bà Đỗ Ngọc Bích

——

Dear Mr. Curry,

Thank you for your response to my letter. I would like to mention that even though I send my letters to BBC Service, I want to publish all the letters so that audiences know what’s going on.

There are some points in your letter which I disagree with.

First, BBC explained, “I would also like to stress that the views expressed by the author are not the views of the BBC. The same applied to the three “counter-view” pieces which were subsequently published in the index. This is a basic principle of our regular Forums.”

How does BBC respond to this:

While Ms. Do Ngoc Bich wrote (1),“I’m shocked because BBC not only didn’t correct my title and affiliation, but also edited my article, including putting some of my ideas into quotations that make some of the contexts sound exaggerated, bringing some of the words inside quotations out, making up the title (which I’ve never written) such as: ‘an international relation research and Vietnamese study professor who is living overseas that gives warnings about the blinding of nationalism in Vietnamese people’, which made the article sound more arrogant than it should be.”

While in your letter, you wrote that, the article is true to the original? What can you say to the audiences?

Second, I don’t think BBC Service take full responsibility in this matter by using an excuse such as Editorial Guidelines. You wrote, “Everything we do is guided by the values of impartiality and editorial independence. We cannot, and do not, take sides in any dispute, no matter how controversial it might be, cultural or historical and it exists to encourage debate in a free and open environment. For this reason, certain User Generated Content on BBC websites may cause displeasure but we always welcome criticism, feedback and an alternative view.”

I said BBC doesn’t take responsibility because Ms. Do’s article is not a controversial article relating to historical or cultural debate. It is surely a insult to Vietnamese history. To publish that article, it shows that BBC in conflict with itself based on your own guidelines.

You said, “It is never our intention to hurt anyone’s feelings. At the same time, users have to understand that we feature a diversity of opinions, as well as competing or even opposing narratives to a story or event.” The diversity of opinion you mention here, does it mean to insult others?

What if I misrepresented myself as “a Dr. Dinh from Harvard University ” and wrote an article such as, “A history of England is a history of land stolen from France . And the Queens’ ancestry didn’t come from English nobility but Mayas from Spain since the 13th century…” Would BBC publish such information?

I think BBC owes Vietnamese people a sincere apology for publishing such an article. It is not only the apology for the error over Ms. Do’s title and affiliation that is needed.

Sincerely Yours,

Phuc Kim Dinh

———–

Notes:

(1) http://www.x-cafevn.org/forum/ showthread.php?t=855&page=16

Ms. Do’s entry on Facebook.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , | 83 phản hồi »

573. THƯ CỦA BBC VÀ TRẦN TÌNH CỦA ĐỖ NGỌC BÍCH

Đăng bởi anhbasam on 04/05/2010

BỨC THƯ CỦA BBC VÀ HAI LỜI TRẦN TÌNH

ĐƯỢC CHO LÀ CỦA BÀ ĐỖ NGỌC BÍCH

Đôi lời: Để bạn đọc có thêm thông tin đánh giá chính xác về vụ việc đình đám quanh bài viết của bà Đỗ Ngọc Bích trên trang Việt ngữ BBC, BS xin đăng toàn bộ 3 văn bản liên quan mới được gửi tới: Thư của BBC gửi cho ông Đinh Kim Phúc, tác giả bức THƯ NGỎ GỬI TỔNG GIÁM ĐỐC BBC; Thư (được cho là) của bà Đỗ Ngọc Bích gửi ông Đinh Kim Phúc; và lời trần tình (được cho là) của bà Đỗ Ngọc Bích trên trang Facebook:


1- Thư của Bộ phận châu Á – Thái Bình Dương-BBC

www.bbc.co.uk/worldservice

Ngày 29 tháng 04 năm 2010

Thưa ông,

Cảm ơn ông đã email về diễn đàn trực tuyến Ban Việt Ngữ BBC, đặc biệt bài về ý kiến của bà Đỗ Ngọc Bích, lần đầu tiên được đăng trên trang web ngày 17 tháng 4, và sau đó là bài trả lời của ngày 20 tháng 4 năm nay của bà Bích, cả hai đều đúng với bản chính.

Trước hết, tôi thành thật xin lỗi về việc của chúng tôi đưa tin sai về chức danh và xác định tư cách của tác giả, tuy nhiên tôi xin chỉ ra rằng, điều này đã được sửa ngay sau khi nhóm đã được thông báo. Chúng tôi vô cùng hối tiếc vì sự thiếu chính xác này và nhóm phụ trách chương trình tiếng Việt đã nghiêm túc thảo luận bài học này trong hai cuộc họp ban biên tập đặc biệt để nâng cao quá trình ủy nhiệm của họ trong phạm vi Diễn đàn chịu ảnh hưởng.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng quan điểm của tác giả không phải là quan điểm của BBC. Tương tự áp dụng cho ba bài “phản biện” mà sau đó được đăng trong mục. Đây là một nguyên tắc cơ bản của các Diễn đàn bình thường.

Tất cả những điều chúng tôi làm đã được hướng dẫn bởi tính công bằng và độc lập trong biên tập. Chúng tôi không thể, và không làm, đó là đứng về phía bên nào trong bất kỳ cuộc tranh luận, cho dù chủ đề tranh cãi có như thế nào đi nữa. Trên trang web của chúng tôi, Diễn đàn là một nền tảng cho các quan điểm trong phạm rộng nhất có thể được, cho dù là chính trị, văn hóa, lịch sử và sự tồn tại của nó là để khuyến khích tranh luận trong một môi trường tự do và cởi mở. Vì lý do này, chắc chắn “User Generated Content”(nội dung phát sinh từ phía người sử dụng) trên trang web của BBC có thể gây ra sự bất mãn nhưng chúng tôi luôn luôn đón nhận những lời chỉ trích, phản hồi và quan điểm khác.

Chúng tôi cân nhắc các vấn đề về sự cân bằng trong biên tập rất nghiêm túc. Đây là lý do tại sao, sau khi tham vấn với các biên tập viên cao cấp ở BBC World Service, ông Giang Nguyễn, Trưởng ban Việt ngữ BBC, đã đưa vào blog trên bbcvietnamese.com, giải thích quá trình biên tập của chúng tôi liên quan đến trường hợp này. Đối với đài BBC, Blog của Biên tập là một nơi thích hợp để chia sẻ những suy nghĩ đằng sau quyết định biên tập một cách nghiêm túc nhưng thân thiện, và phương thức cho phép độc giả gửi các ý kiến trực tuyến, cho dù họ đồng ý hay không đồng ý với chúng tôi.

Chúng tôi không bao giờ có ý định làm tổn thương tình cảm của bất kỳ ai. Đồng thời, người sử dụng phải hiểu rằng chúng tôi đề cao tính đa dạng của các ý kiến, cũng như cách diễn tả nhằm tranh cãi hoặc phản đối nội dung hay sự kiện trong bài.

Tất cả các Ban BBC, kể cả Ban Việt ngữ BBC phải tuân theo Nguyên tắc Biên tập của BBC – một cuốn sổ tay toàn diện về đạo đức phát thanh mà chúng tôi nhằm mục đích phát huy mọi lúc. Tài liệu này được đưa ra cho công chúng giám sát để các độc giả của chúng tôi biết một cách chính xác những tiêu chuẩn cao mà chúng tôi mong muốn. Tôi đính kèm đường link cho ông, nếu quan tâm:

(http://www.bbc.co.uk/guidelines/editorialguidelines)

Nếu ông không hài lòng với phản hồi của tôi, ông có thể yêu cầu một phản hồi thứ hai, gửi vào Bộ phận Khiếu nại Biên tập của BBC tại:

http://www.bbc.co.uk/complaints/homepage/

Chân thành

(đã ký)

Neil Curry

Executive Editor

Head of Business Development,

Asia and Pacific, BBC World Service

(Mời bấm vô dòng dưới để tải về bản ảnh PDF nguyên văn tiếng Anh của bức thư)

Reply from the BBC

—–

2- THƯ CỦA BÀ ĐỖ NGỌC BÍCH GỬI NHÀ NGHIÊN CỨU  ĐINH KIM PHÚC

[...]

- BS bổ sung (hồi 17h30-HN, ngày 4/5/2010): Sau khi bài lên trang, có một bức thư điện tử gởi tới, tự nhận là của bà Đỗ Ngọc Bích, nội dung như sau:

Thưa Anh ba sam,
Thư tôi viết cho GS Đinh Kim Phúc hoàn toàn là thư cá nhân gửi cho ông ta, không phải là thư ngỏ, nếu nó đến nhầm địa chỉ, người khác đọc và đưa lên thì người đó sai, không phải lỗi tại tôi mà do người cung cấp đia chỉ email. Tôi hoàn toàn không có ý định đưa công khai bức thư gửi ĐKP lên public forum, mà chỉ gửi đích danh người đã viết phản hồi cho tôi trên BBC thôi. Đề nghị ông gỡ bỏ bức thư đó xuống.
Xin cảm ơn.
Bích.

Vậy BS xin được nói rõ: bức thư được cho là của bà Đỗ Ngọc Bích do ông Đinh Kim Phúc gửi tới BS và yêu cầu đăng. BS xét thấy nội dung có thể góp phần làm rõ vấn đề, song không có gì đảm bảo là của bà ĐNB, nên đã nói rõ ở trên là nó chỉ “được cho là” của bà ĐNB mà thôi, cho nên quyền quyết định giữ nó hay gỡ xuống là thuộc về ông Đinh Kim Phúc. Kể cả bức thư ngay trên đây  cũng vậy, không có gì đảm bảo là của bà ĐNB.
- BS bổ sung tiếp (hồi 20 giờ 45-HN, ngày 4/5/2010): Bà Đỗ Ngọc Bích đã dùng chính hộp thư điện tử riêng của mình để xác nhận hai bức thư trên, 1 gửi ông ĐKP, 1 gửi BS, chính là của bà và đề nghị gỡ bỏ bức thư gửi ông ĐKP. Vậy là đã rõ, BS quyết định chấp nhận đề nghị của bà ĐNB và cám ơn bà đã thông báo kịp thời, tránh khỏi một nghi vấn không cần thiết.

—–

3- Bài trên Facebook của bà Đỗ Ngọc Bích

NÓI THÊM VỀ BÀI VIẾT TRÊN BBC

Đã hơn 2 tuần kể từ ngày một bài viết của tôi được đăng trên website của Ban Việt ngữ đài BBC, gây nên một cơn bão trong giới học thuật Việt Nam và lòng yêu nước của hàng triệu người dân Việt. Giờ đây, tôi mới có đôi phút ngồi tĩnh tâm để chia sẻ vài lời chân thành với chính mình, và với các độc giả.

Mọi việc bắt đầu từ một lần tôi được hân hạnh mời ăn tối cùng các giáo sư và sinh viên chuyên nghiên cứu về Đông Nam Á ở Đại học Yale. Câu chuyện hôm ấy có lúc đề cập đến học giả Trần Trọng Kim. Ông được họ nhắc tới với thái độ rất khâm phục và trân trọng khiến tôi thấy mình có vẻ hết sức dốt nát, lạc lõng.

Ngày hôm sau, tôi tra cứu và tìm cái tên Trần Trọng Kim trong danh mục sách thư viện, và thấy hiện ra 16 đầu sách do ông viết. Trước đó, lần cuối cùng tôi cầm một cuốn sách lịch sử Việt Nam là vào năm 1991, khi học môn “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, và tôi nhớ là mình chỉ biết đến nhân vật này qua cụm từ “chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim” chứ đâu có biết ông là một học giả lỗi lạc như vậy? Tôi cảm thấy tức giận như đã bị lừa, hổ thẹn vì mình kém hiểu biết lịch sử Việt Nam hơn nhiều người nước ngoài khác, và tinh thần dân tộc của tôi bị xúc phạm.

Nhân một dịp rảnh rang trong kỳ nghỉ xuân, tôi ngồi xem bài của mấy blogger Việt Nam nổi tiếng trên Facebook, VOA tiếng Việt, và một số bài lấy từ BBC Việt ngữ, cùng hàng trăm nhận xét. Lời lẽ phê phán chính phủ và giới lãnh đạo Việt Nam có vẻ rất nặng nề, nghiệt ngã, nhiều người tỏ ra rất cảm tính, khiến tôi nghĩ họ có định kiến rõ rệt với nhà nước cộng sản và dường như thù hận Trung Quốc thái quá. Tôi cảm thấy có gì đó không ổn và bắt đầu suy nghĩ.

Hoàn toàn theo phản xạ tự nhiên, tôi viết một bức điện thư cho một người bạn làm bên BBC tiếng Việt, bộc bạch tâm sự của mình về thái độ thù hận Trung Quốc cực đoan, tình hình các blogger bị mắc vì vấn đề chính trị trong nước, đồng thời đưa ra một loạt câu hỏi về những thông tin lịch sử mà phần đông học sinh, sinh viên Việt Nam (trong đó có tôi) được tiếp nhận ở trường trong những năm giáo dục bậc phổ thông và đại học.

Rất nhanh, anh bạn tôi trả lời, bảo rằng ý kiến của tôi có nhiều điểm đáng chú ý, có thể đem ra suy nghĩ và bàn luận, và yêu cầu tôi biên tập lại đôi chút để biến thành một bài viết cho BBC Việt ngữ.

Tôi chưa từng viết báo trong đời, nên ý nghĩ đầu tiên của tôi là từ chối vì tôi đang quá bận với luận án của mình và cuộc sống ở đây. Thêm nữa, bài viết liên quan tới nhiều vấn đề không thuộc chuyên môn của tôi. Tôi trả lời anh rằng, để viết một bài tử tế mất nhiều thời gian đọc thêm để trích dẫn cho chính xác và khoa học, thôi bỏ qua nó đi.

Anh bạn tôi lại khuyến khích rằng không cần viết bài mang tính học thuật quá, chỉ là đưa ra một luận điểm “trái chiều,” mang tính phản biện, để rộng đường thảo luận mà thôi.

Vài tuần sau, tôi gửi anh bài viết, chỉ chỉnh sửa rất ít từ nội dung bức điện thư, với lời dặn: “Em không muốn tên tuổi bị chú ý. Bài này chỉ để các anh tham khảo cũng được, và phải biên tập chỉnh sửa lại nếu đăng lên. Em cũng không có thời gian tham gia diễn đàn hay trả lời đâu.” Nhưng trong thực tế, rõ ràng sự việc đã khác hẳn. Chẳng lẽ anh nghĩ tôi nói đùa?

Trưa thứ bảy ngày 17/4, tôi nhận được e-mail ngắn gọn: “Bài của em lên rồi nhé” cùng với đường dẫn đến bài viết. Ngó qua một giây, tôi phì cười, ông anh “bốc” mình kinh quá: “Học giả nghiên cứu về Việt học? Tiến sĩ từ Đại học Yale?” Phải góp ý để đính chính lại thôi, nhưng đang cuối tuần, lại ở mục Diễn đàn chứ không ở trang chính, chắc mọi người ít để ý. Cứ để đấy, qua hai ngày cuối tuần đã.

Cả ngày thứ bảy tôi cho con đi chơi và ăn BBQ ở nhà thầy giáo dạy tiếng Việt của Yale đến tối mới về. Ngày chủ nhật thì đi chợ, đi công viên, ung dung làm việc nhà đến buổi tối mới vào mạng.

Đọc đến đây, chắc nhiều người giơ tay kêu trời: trong lúc bao nhiêu người sôi sục lên vì “nó” mà “nó” dám ung dung đủng đỉnh coi như không phải việc của mình thế à? Đồ vô trách nhiệm! Vâng, tôi xin nhận.

Đúng là tôi vô trách nhiệm vì không hề ngờ rằng thời đại thông tin khiến mọi người tìm ra và để tâm đến một bài viết nhỏ – thể hiện suy nghĩ cảm tính, cá nhân – nhanh và nhiều đến vậy. Rõ là ngây thơ!

Tối chủ nhật, đọc lại bài của mình, tôi rất “choáng” vì thấy BBC không những đưa sai thông tin về cá nhân tôi, mà còn chẳng biên tập, chỉnh sửa gì hết, ngoại trừ việc đặt nhiều câu chữ trong dấu nháy kép làm tăng độ kịch tính, trích dẫn lại câu ra ngoài, sửa mấy lỗi đánh máy và trưng cái tít (mà tôi không hề viết) lên ngay đầu tiên: “Một nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế và Việt học tại Hải ngoại cảnh báo về tinh thần dân tộc ‘mù quáng’ ở người Việt”, khiến bài viết trở nên ngông nghênh, kiêu ngạo hơn cái mà nó có.

Câu nói của danh hài Mỹ Groucho Marx: “I don’t want to belong to any club that accepts people like me as a member” rất đúng với tâm trạng của tôi lúc đó. Tạm dịch là: “Tôi không muốn tham gia câu lạc bộ nào mà lại chấp nhận một người như tôi là thành viên,” hay có thể hiểu là nếu BBC nhận đăng cái bài như thế của tôi lên (ở dạng nguyên thủy mà tôi gửi đi), thì BBC cũng có… vấn đề!

Bài trả lời của tôi có lẽ còn khiến nhiều người càng tức hơn. Tôi đã viết nó trong sự thúc giục gấp gáp của bên BBC, trong trạng thái thiếu bình tĩnh, cảm thấy bị tổn thương, hiểu lầm, với phản xạ của một kẻ đang bị tấn công, nên nó đã không thể hiện được ý tôi muốn diễn đạt và do đó, không đạt được kết quả cần thiết đối với tôi và độc giả.

Nhưng, một lần nữa, BBC cũng không có ý kiến gì, chỉ đăng nguyên xi nó lên!

Trong câu chuyện này, chắc chắn BBC Việt ngữ có nguyên tắc và cách suy nghĩ riêng của họ mà tôi không được biết trước. Họ có vẻ rất dân chủ và tự do. Nếu như tôi biết là họ sẽ không biên tập gì về nội dung bài viết của mình, thì hoặc là tôi đã không gửi bài, hoặc là đã bỏ rất nhiều thời gian đọc, trau chuốt, và tự hoàn thiện bài viết (nhiều khả năng là lựa chọn thứ nhất, vì tôi vốn đã rất ít thời gian).

Suy nghĩ lại, một số ý kiến của tôi, có lẽ chỉ thích hợp trong trao đổi cá nhân, chứ đưa lên diễn đàn BBC thì hết sức trớ trêu và vô ý.

Những câu như “Việt Nam suốt hơn 2.000 năm từ thời Triệu Đà đến thời Nguyễn, cho dù thỉnh thoảng có tuyên bố ‘Sông núi nước Nam, Vua Nam ở,’ thì Việt Nam vẫn luôn là một phần của Trung Quốc” hay “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn” hay đưa ra câu hỏi các blogger đã đọc nguyên bản Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu chưa (trong khi cuốn này đã thất truyền, chỉ còn 19 đoạn trích mà tôi biết được đưa lại trong cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên), hay cách dùng từ da thịt… là hết sức liều lĩnh và sai lầm, hoặc ít ra là cần có những dẫn chứng rất rõ ràng (điều mà tôi đã bỏ qua).

Vì đã từng đọc nhiều bài viết mang tính học thuật của người bạn biên tập viên BBC, tôi không ngờ là anh lại “để yên” cho những câu như vậy.

Lại nhớ đến một việc xảy ra cách đây gần chục năm, khi tôi nói chuyện với một giáo sư người Mỹ gốc Nhật Bản dạy môn “Asian American Experience” (tạm dịch là “Trải nghiệm lịch sử của người Mỹ gốc Á”). Tôi ngạc nhiên khi thấy cô đưa cuốn “Monkey Bridge” của Lan Cao, một nhà văn Mỹ gốc Việt, vào danh sách giáo trình đọc cho môn này.

Cuốn sách đó có khá nhiều sai lầm cả về dữ kiện và quan điểm (chẳng hạn như chi tiết Việt Nam nằm ở phía Nam xích đạo, hay Việt Nam chưa bao giờ có ý đồ thống trị các nước láng giềng – và một số chi tiết nữa mà các nhà phê bình Mỹ đã chỉ ra, thiết nghĩ không cần nhắc lại). Ngạc nhiên hơn là giáo sư đó không hề nao núng khi nghe ý kiến của tôi, và nói ngay: “Sách hay hay dở, đúng hay sai, chỉ quan trọng một phần. Cái quan trọng hơn là nó tạo ra một ngữ cảnh để sinh viên suy nghĩ, thảo luận, phê phán.” Có lẽ đó cũng là quan điểm của BBC (mà tôi không biết) chăng?

Có ai đó hỏi tôi có ý đồ biện hộ, hay tố cáo, hay cảnh báo về tính chất quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay. Xin thưa, tôi chỉ muốn nói lên hai quan điểm: 1) Trong thời đại kinh tế toàn cầu, tất cả mọi quốc gia đều ít nhiều phải phụ thuộc vào nhau để tồn tại và phát triển, vậy có lẽ chúng ta nên kìm hãm sự thù hận, dùng biện pháp ngoại giao ôn hòa, thay vì quá chú trọng đến cái “tôi” và chủ nghĩa dân tộc cực đoan; 2) Mọi người dân, đặc biệt là giới trẻ (vì họ sẽ là thế hệ lãnh đạo sau này), đều có quyền được tiếp cận thông tin trung thực về lịch sử để có thể tham gia vào chính trị, thời cuộc, và có những quyết định, nhận thức đúng đắn.

Rất tiếc, hai quan điểm ấy của tôi, vì nhiều lý do mà cái chính là do cách diễn đạt không được rõ ràng, đã không tới được bạn đọc như tôi mong muốn.

Mắng tôi là ngu, dốt, liều, vô trách nhiệm, đều đúng cả, nhưng bảo tôi gian dối thì tôi dứt khoát không nhận.

CV tôi gửi BBC ghi rõ phần học vấn “ABD, American Studies, University of Hawaii at Manoa”, nơi cư trú là New Haven, Connecticut, công việc đang làm là giáo viên tiếng Việt và biên dịch. Từ 4 tháng nay, tôi có tên trong bảng lương của Đại học Yale cho những công việc này.

Có người nói “dăm ba cái job lẻ tẻ dạy kèm tiếng Việt với dịch thuật mà cũng gắn mác trường Yale vào.” Xin được nói thêm cho rõ: một phần, đây là do cách làm việc của BBC Việt ngữ (tôi không hề yêu cầu họ đưa thông tin về tôi, trên cương vị người viết bài), và một phần là bởi tôi tự thấy tôi đã làm công việc dạy tiếng Việt của mình theo đúng nghĩa “giáo viên”(8 giờ/tuần) chứ không đơn giản chỉ là dạy kèm giao tiếp qua loa như Tây ba lô ở Việt Nam.

Tôi rất mất công chuẩn bị, tìm tư liệu đọc, nghe, nhìn bằng tiếng Việt chuyên ngành Tâm lý học và Kinh tế môi trường cho hai sinh viên của mình, và áp dụng các phương pháp sư phạm dạy ngoại ngữ mà tôi có được từ kinh nghiệm dạy tiếng Anh từ xưa, có giáo án và báo cáo nộp hàng tuần, có ra bài tập, bài luận, và sửa chữa góp ý, với trách nhiệm như một giáo viên thực sự.

Những ai vội vàng kết tội tôi “mạo danh” hay “lừa” đều thiếu công bằng, nhưng tôi hiểu rằng trong hoàn cảnh thông tin không được rõ ràng từ phía BBC Việt ngữ, khi nghĩ như vậy, rất có thể họ đã bị ảnh hưởng bởi thành kiến đối với nội dung bài viết và quan điểm rất khó chấp nhận của tôi.

Dầu sao đi nữa, câu chuyện đã xảy ra cũng là một bài học, khiến tôi ý thức hơn được rằng, trong những vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến tâm thức và lòng tự hào dân tộc, phải có cách diễn đạt, thể hiện chín chắn hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn đọc đã để tâm và nhắc nhở sau khi xem bài viết nhỏ của tôi.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Blog/Báo, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , | 80 phản hồi »

570. Trở ngại ở phía trước trong quan hệ VN-TQ

Đăng bởi anhbasam on 01/05/2010

International Relations and Security Network

Trở ngại ở phía trước trong quan hệ

Việt Nam và Trung Quốc

Sophie Quinn-Judge *

30-04-2010

Sôi sục về sự bất mãn nổi tiếng ở Việt Nam trong các vấn đề lãnh thổ và môi trường là tín hiệu cho một giai đoạn mới trong mối quan hệ cũ giữa Hà Nội và Bắc Kinh, bà Sophie Quinn – Judge viết riêng cho openDemocracy – nhận xét.

Năm 2009, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa đột nhiên trở thành vấn đề công chúng [quan tâm]. Qua việc đệ trình tuyên bố chủ quyền 80% vùng Biển Đông lên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển trong tháng 5, Trung Quốc chính thức hóa tham vọng lãnh thổ mà trước đây không phê chuẩn theo luật quốc tế. Việc đòi hỏi này đặt Việt Nam vào một vị trí khó xử: hoặc Việt Nam phải chấp nhận sự thống trị của Trung Quốc về cái mà Việt Nam gọi là “Biển Đông”, giáp với bờ biển trải dài của họ, hoặc Việt Nam phải tham gia vào một cuộc xung đột với người láng giềng hùng mạnh của mình, điều mà chính phủ Hà Nội muốn tránh. Nhưng cộng đồng người Việt trên khắp thế giới có thể có sự lựa chọn tháo lui tốn kém.

Từ khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia vào năm 1989 và tiếp theo là cuộc bầu cử do Liên Hiệp Quốc giám sát ở đó, Việt Nam và Trung Quốc đã thiết lập tình hữu nghị tốt đẹp. Bế tắc cay đắng giữa hai nước, trong đó điểm đáng nói nhất là cuộc tấn công phá hoại ngắn ngủi của Trung Quốc hồi tháng 2 năm 1979, đã bị lãng quên. Không chính thức, các nhà ngoại giao Việt Nam nhận xét rằng họ phải cẩn thận để tránh làm bực mình anh láng giềng phương bắc của mình, khi trở nên quá thân thiết với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những cuộc nói chuyện như vậy đã không được hiểu như là một mong muốn tránh xa Trung Quốc, mà là một phần của chính sách đối ngoại “thêm bạn, bớt thù”. Một loạt các quan hệ quốc tế rộng rãi đã từ lâu là mục tiêu trong cải cách của Việt Nam, gấp rút để tự hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Nhưng sau hai thập kỷ thích nghi, sự trỗi dậy của Trung Quốc buộc Việt Nam phải đối mặt với các lựa chọn khó khăn. Tình hình đặc biệt phức tạp đối với sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam (VCP), kể từ khi cuộc khủng hoảng giai đoạn cuối của Chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu vào năm 1989, đã xác định chặt chẽ các chính sách của đảng Trung Quốc: cải cách kinh tế nhanh chóng kết hợp với sự độc quyền của đảng cộng sản lên đời sống chính trị và các tổ chức nhà nước.

Hiện tại, khi Trung Quốc gây áp lực buộc Việt Nam chấp nhận sự kiểm soát của Trung Quốc trên Biển Đông, Đảng [Cộng sản] Việt Nam bị ép buộc phải thừa nhận rằng hai nước có xung đột lợi ích trong một số lĩnh vực. Một trong những lĩnh vực này là việc sử dụng các nguồn tài nguyên địa phương, chẳng hạn như vùng nước ở sông Cửu Long. Lượng nước chảy vào vùng đồng bằng Việt Nam đã giảm rõ rệt trong mười năm qua, khi Trung Quốc xây dựng một loạt các đập thủy điện ở thượng nguồn. Mối đe dọa đối với sông Cửu Long có thể trở thành vấn đề sinh tử cho nhiều người ở miền Nam Việt Nam. Nhưng tại thời điểm này, cuộc xung đột lớn nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới việc sử dụng nguồn cá, dầu hỏa và khí đốt tìm thấy dưới đáy Biển Đông.

Một tia lửa ngầm

Báo động phổ biến về vai trò của Trung Quốc tại Việt Nam đã nổi lên trên bề mặt vào năm 2009, liên quan tới dự án khai thác mỏ ở đất liền gây tranh cãi. Đảng đã công bố một thỏa thuận cho phép Trung Quốc khai thác và chế biến bauxite ở khu vực Cao nguyên Trung phần. Dự án mà ban đầu được công bố là để thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, chẳng bao lâu trở thành mối hiểm họa lâu dài: Trung Quốc cho biết rằng họ sẽ đưa công nhân của họ vào để thực hiện dự án, gây nên nỗi ám ảnh về việc định cư thường trực của Trung Quốc ở khu vực chiến lược nhạy cảm này, lấy mất việc làm của người lao động Việt Nam.

Hơn nữa, không có dấu hiệu của một báo cáo về tác động môi trường – một yếu tố rất quan trọng mà mọi người đều biết rằng việc khai thác bauxite sẽ để lại một cảnh quan lồi lõm và các chất thải gây ô nhiễm cho đất nông nghiệp và nguồn nước. Cuối mùa xuân, 139 trí thức Việt Nam đã ký vào một thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ hủy bỏ thỏa thuận sản xuất bauxite. Nhiều người Việt hải ngoại cũng đã ký tên vào thỉnh nguyện thư, cũng như một số viên chức quân sự cao cấp. Một trong những nhân vật lãnh đạo chống dự án khai thác bauxite là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những nhà lãnh đạo cuối cùng trong thời kỳ cách mạng còn sống, ông vẫn còn đủ uy tín đạo đức để thành nhà phê bình có ảnh hưởng khi ông nhìn thấy đảng đi lạc khỏi đường lối (xem thêm: “Những dao động từ phía bắc“, của David G Marr, mục Inside Story, ngày 31 tháng 8 năm 2009).


Theo tin tức lưu hành ở Hà Nội vào mùa hè năm 2009, đó là một số tướng lĩnh (tin đồn nói rằng ba mươi) đã bị cho nghỉ hưu sớm, chính là sự trả thù về việc phản đối dự án bauxite. Kế hoạch khai thác mỏ sau đó đã được thảo luận trong quốc hội, và trong vòng ba ngày các đại biểu bất đồng nhất đã được thuyết phục để rút lại ý kiến đối lập của họ. Tháng 3 năm 2010, dự án trong giai đoạn đầu xây dựng, và các quan chức chính phủ địa phương bảo đảm với báo chí Việt Nam (một vài nhà báo vẫn còn dám đặt câu hỏi) rằng tác động môi trường sẽ được giám sát chặt chẽ. Vai trò của Trung Quốc đối với dự án ít khi được đề cập tới trong các bài báo này. Tin tức đồn rằng ít nhất có một nhân vật lãnh đạo đảng nhận được tiền chi trả của Trung Quốc để hỗ trợ cho dự án. Trong mọi tình huống, việc xử lý vấn đề bauxite của đảng cho thấy rằng nó đã được hỗ trợ rộng lớn từ những người có quyền lực nhất ở Việt Nam.

Đòi hỏi gây tranh cãi

Chỉ riêng vấn đề này không đủ làm đảo lộn mối quan hệ Việt-Trung lâu dài, nhưng đó là triệu chứng của những vấn đề lớn hơn. Điều làm thay đổi sự cân bằng trong các mối quan hệ giữa hai nước đó là ảnh hưởng mạnh về kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Trung Quốc đơn phương tuyên bố lãnh hải “đường hình chữ U” kéo xuống từ phía bắc Borneo, thể hiện sự tự tin rằng bây giờ Trung Quốc có thể bảo vệ những gì mà Trung Quốc xem là phạm vi ảnh hưởng của họ. Gần đây Trung Quốc đã bắt đầu xem Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của họ, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng.

Trường hợp này, việc đòi quyền sở hữu của Bắc Kinh dựa vào hai nhóm đảo: Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, điều mà cho phép họ viện dẫn vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý được Liên Hiệp Quốc chấp thuận. Nhiều đảo này nằm rải rác không hơn gì các doi cát, và chủ quyền đối với các dải đảo này còn bị nhiều quốc gia khác tranh chấp, nhưng nếu Trung Quốc có thể thiết lập quyền sở hữu, điều đó sẽ cho phép họ kiểm soát các tuyến đường vận chuyển và khu vực được cho là có nhiều dầu hỏa và khí đốt tự nhiên. Tuy nhiên, một số nhà quan sát tin rằng, hiện tại Trung Quốc đã đi quá đà trong việc đưa ra phần của họ trong tranh chấp lãnh thổ này.

Việt Nam đã cố gắng bảo vệ tranh chấp của mình đối với các nhóm đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa kể từ khi thống nhất đất nước vào năm 1976, nhưng không thành công lắm. Ngược lại, Hà Nội đã thừa nhận một số vùng lãnh hải của họ với Trung Quốc trong Hiệp định Biên giới trên Vịnh Bắc Bộ, và thậm chí đồng ý cho hải quân tuần tra chung trong năm 2006. Nhưng cho dù với những nhượng bộ này và các mối quan hệ thân mật công khai, kể từ tháng 5 năm 2009 Trung Quốc cho đâm và bắt giữ các tàu đánh cá đi lạc vào khu vực mà Trung Quốc đòi chủ quyền, khu vực mà người Việt Nam xem là vùng đánh cá truyền thống của mình. Ngư dân đã bị giam giữ làm con tin hoặc bị tịch thu số cá bắt được, đã làm cho công chúng tại Việt Nam giận dữ.

Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh vào đơn vị đồn trú miền Nam Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa ra khỏi quần đảo vào năm 1974, khi chiến tranh Việt Nam đang giảm cường độ. Vào thời điểm đó chẳng ai phản đối gì, khi Hoa Kỳ còn bận tâm vì mối đe dọa của Liên Xô ở Thái Bình Dương. Việt Nam đòi chủ quyền lịch sử trên các quần đảo này, trở lại thời điểm ít nhất là những năm đầu dưới sự trị vì của nhà Nguyễn (từ 1802), hoàng đế Gia Long (trị vì từ năm 1802-1820) và Minh Mạng (trị vì từ năm 1820-1841) đã gửi các đội thám hiểm đến để vẽ biểu đồ vùng nước xung quanh các đảo, cho thấy quyền sở hữu của Việt Nam trên các bản đồ được vẽ bởi các nhà truyền giáo Pháp đầu tiên. Việc đòi chủ quyền này cũng phản ánh một thực tế là ngư dân từ miền Trung Việt Nam từ lâu đã khai thác các nguồn tài nguyên biển ở đây và tiến hành các hoạt động cứu hộ ở vùng biển nguy hiểm. Người Pháp có chủ quyền trên các vùng lãnh thổ này cho đến Đệ nhị Thế chiến, và miền Nam Việt Nam đã thừa kế quyền này.


Ngay cả việc mua sáu chiếc tàu ngầm loại kilo, chạy bằng diesel của Nga, cũng không có cơ hội cho Việt Nam có thể giành chiến thắng trong một cuộc đối đầu hải quân với Trung Quốc. Và Việt Nam biết rằng việc mở rộng quân sự sẽ không giúp xây dựng niềm tin giữa các quốc gia khác trong khu vực. Thay vào đó nên để dành vai trò chủ tịch Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) trong năm 2010 để xây dựng một sự đồng thuận đa phương nhằm hỗ trợ lời kêu gọi các cuộc đàm phán về việc chia sẻ tài nguyên ở Biển Đông (The Philippines, Malaysia và Indonesia cũng đòi chủ quyền trên các vùng biển, điều này có xung đột với tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc). (Xem “Việt Nam kiếm nhiều đồng minh để ngăn ảnh hưởng của Trung Quốc“, Edward Wong, New York Times, ngày 4 tháng 2 năm 2010).

Tuyên bố về quy tắc ứng xử đã được Asean và Trung Quốc ký năm 2002, về các vấn đề như bảo vệ môi trường và tìm kiếm, cứu nạn, có thể là một mô hình cho các thương lượng trong tương lai. Nhưng sự thỏa thuận này không có hiệu lực pháp lý và các cuộc thảo luận là để mở rộng phạm vi đã bị giới hạn trong những năm gần đây. Điều gì có thể tạo ra một bước đột phá trong các lần đàm phán với Trung Quốc sẽ là sự chấp thuận của Mỹ và Nhật Bản tham gia vào một giải pháp đa phương.

Một câu hỏi cấp quốc gia


Có một tiên đoán bên trong Việt Nam rằng một số lãnh đạo đảng muốn nhìn thấy Việt Nam trở thành “một tỉnh của Trung Quốc” hơn là chấp nhận rủi ro quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam bị suy yếu bằng cách thiết lập quan hệ gần gũi hơn với Washington. Tuy nhiên, các mối đe dọa đến toàn vẹn lãnh thổ ở Hà Nội hiện tại nghiêm trọng hơn là vào giữa thập niên đầu của thế kỷ 21.

Bốn mối đe dọa lớn đối với quốc gia được chỉ ra trong một chương trình đã được chuẩn bị cho Đại hội đảng lần tới vào năm 2011 là: 1) Kinh tế lạc hậu, 2) Các thế lực thù địch và diễn biến hòa bình, 3) Tranh chấp lãnh thổ và 4) Các vấn đề toàn cầu liên quan đến an ninh lương thực, an ninh năng lượng và sự nóng lên toàn cầu. Danh sách này thể hiện sự tinh tế ngày càng tăng của ngoại giao Hà Nội, mặc dù thực tế là nỗi lo sợ “diễn biến hòa bình” – mật mã nói về sự phá hoại các giá trị cộng sản do liên hệ với phương Tây – vẫn nằm ở vị trí nguy hiểm cao trong danh sách (xem thêm “Việt Nam: tiếng nói cần thiết“, ngày 29 tháng 4 năm 2007).

Hiện đã rõ ràng hơn đối với lãnh đạo Việt Nam rằng nhượng bộ nhiều hơn để Trung Quốc làm xói mòn niềm tin của tầng lớp quan trọng trong dân chúng, gồm cả trí thức và các bộ phận trong quân đội. Và mặc dù (hoặc có lẽ là do) kiểm soát chặt chẽ báo chí và internet, niềm tin của công chúng đối với các thông tin của chính phủ không còn mạnh như trước đây. Tất cả mọi thứ, từ các con số cho thấy lạm phát được kiểm soát cho tới các báo cáo lạc quan về tiến độ bảo vệ môi trường, được đón nhận với thái độ hoài nghi của những người đọc báo. Nếu công chúng tin rằng đảng cộng sản tự cho là để bảo vệ độc lập dân tộc, mà không còn [đủ sức] bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia, thì tính hợp pháp của đảng sẽ ngày càng bị nghi ngờ.


Người dịch: Ngọc Thu

http://www.isn.ethz.ch/isn/Current-Affairs/Security-Watch/Detail/?ots591=4888caa0-b3db-1461-98b9-e20e7b9c13d4&lng=en&id=115675

Ba Sàm chú thích:

* Sophie Quinn-Judge, tác giả cuốn Hồ Chí Minh – Những năm tháng chưa được biết đếnmời bà con bấm vô đọc/cọp xuống máy toàn bộ bản dịch công phu trên VN Thư quán,  + Điểm sách: Hồ Chí Minh – Những năm chưa biết; Và bài phỏng vấn tác giả (BBC)

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | 4 phản hồi »

567. GS THAYER ĐÁNH GIÁ VIỆC VN TỔ CHỨC HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH ASEAN 16

Đăng bởi anhbasam on 30/04/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ CỦA GS CARLYLE A. THAYER VỀ VIỆC

VIỆT NAM TỔ CHỨC HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH ASEAN 16

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Ba, ngày 27-4-2010


Mạng tin Scribd vừa đăng bài phỏng vẫn giáo sư Carlyle A. Thayer, giảng viên bộ môn Chính trị học tại Đại học New South Wales thuộc học viện Quốc phòng Ôxtrâylia ở Canbơrơ, xung quanh việc Việt Nam tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 16 tại Hà Nội, trong đó đưa ra những đánh giá về một số điểm nổi bật nhất của Hội nghị thượng đỉnh lần này và những vấn đề mà Việt Nam trên cương vị Chủ tịch ASEAN cần chú ý. Giáo sư Thayer là quan sát viên và là nhà phân tích chuyên về Việt Nam được nhiều người biết tiếng trên thế giới, hiện ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Ohio (Mỹ) về môn Đông Nam Á học. Dưới đây là nội dung bài phỏng vấn:

-Hỏi: Ông đánh giá thế nào về Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 16 vừa được tổ chức tại Hà Nội trong năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN? Theo quan điểm của ông, điểm nào là đáng chú ý nhất trong tuyên bố chung  ASEAN?

-Trả lời: Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 16 được tổ chức gần đây là một trong hai hội nghị thượng đỉnh mà Việt Nam tổ chức trong năm 2010. Hội nghị ASEAN 16 lần này là vấn đề của riêng các nước ASEAN với phương châm từ tầm nhìn đến hành động. Những phát triển quan trọng nhất tại hội nghị này liên quan đến các bước tiếp theo của ASEAN nhằm đạt mục tiêu thành một Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Xét về khía cạnh này, việc thông qua Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp là có tiềm năng áp dụng rộng rãi. ASEAN hiện đang ở trong tư thế sẵn sàng trở thành một tổ chức dựa trên các quy tắc, với một cơ chế tuân thủ. Tuy nhiên, điều này còn phải được kiểm chứng trên thực tế.

-Hỏi: Một trong những ưu tiên của chủ tịch ASEAN trong năm nay là tìm kiếm và thúc đẩy sự đồng thuận trong ASEAN về vấn đề Biển Đông, một mục tiêu được kỳ vọng là thúc đẩy Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Theo ông, liệu mục tiêu này có quá thiếu thực tế hay không?

-Trả lời: Năm 2002, khi ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông, ASEAN đã tuyên bố rằng đây là bước đi đầu tiên hướng tới một Bộ quy tắc ứng xử. Trong năm tiếp theo, khi ASEAN thông qua Tuyên bố Thỏa ước Bali II (2003), một lần nữa ASEAN lại tuyên bố tổ chức này ủng hộ một bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Thật thất vọng khi Tuyên bố của Chủ tịch ASEAN có đoạn “các bộ trưởng và các quan chức cấp cao nhất trí tăng cường tận dụng các công cụ và cơ chế hiện có của ASEAN như …Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)… nhằm đảm bảo hòa bình và an ninh trong khu vực”. Điều này cho thấy rằng sau tám năm, ASSEAN vẫn không đạt được đồng thuận trong việc thúc đẩy một bộ quy tắc ứng xử, đồng thời cho thấy một khía cạnh sâu xa hơn nữa là không phải tất cả các thành viên ASEAN đều nhất trí về sự cấp bách của vấn đề này. Nguyên nhân của sự bất đồng này có thể tìm thấy ở những khác biệt về lợi ích quốc gia và áp lực ngoại giao của Trung Quốc nhằm duy trì các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông là vấn đề song phương.

-Hỏi: Liệu việc thực thi DOC, vốn không phải bắt buộc về mặt pháp lý, có thể phát huy hiệu quả trong việc duy trì hòa bình và an ninh ở Biển Đông hay không?

-Trả lời: DOC được xếp vào trong số các văn kiện mà ASEAN sử dụng nhằm đại mục tiêu thành lập một Cộng đồng Chính trị- An ninh, một trong ba trụ cột làm nền tảng của Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. DOC không phải là một văn kiện ràng buộc về mặt pháp lý. Văn kiện này không tính đến quần đảo Hoàng Sa, cũng như không định nghĩa khối đá nào và những điểm đặc trưng nào khác tạo nên quần đảo Trường Sa. DOC là thành quả tốt nhất mà ASEAN có thể thu nhận được sau bảy năm đàm phán với Trung Quốc. DOC đã không ngăn cản được Trung Quốc có những hành động đơn phương trái với tinh thần của văn kiện này. DOC có những sự thiếu hoàn chỉnh, và hòa bình và an ninh ở Biển Đông chỉ có thể đạt được thông qua các thỏa thuận mang tính bắt buộc hơn và sự hợp tác chung giữa các bên liên quan.

-Hỏi: một trong những trở ngại trong các nỗ lực quốc tế hóa tranh chấp ở Biển Đông là việc ASEAN không thể đạt được sự đồng thuận trong vấn đề này và những khác biệt về mức độ ưu tiên của các nước thành viên. Theo quan điểm của ông, cách tiếp cận nào là hiệu quả để Việt Nam giành được sự đồng thuận trong ASEAN? Liệu có một cơ hội khác để Việt Nam nêu lại vấn đề này trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN vào năm nay hay không?

-Trả lời: Chỉ bốn trong 10 nước thành viên ASEAN can dự trực tiếp vào những tranh chấp ở Biển Đông là Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây. Trung Quốc đã thành công trong việc ngăn chặn Việt Nam và Philíppin thành lập một mặt trận thống nhất. Năm ngoái cả Trung Quốc và Philíppin đều phản đối khi Malaixia và Việt Nam cùng nhau đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với vùng thềm lục địa kéo dài ở khu vực phía Nam Biển Đông. Việt Nam cần tăng cường những nỗ lực ngoại giao với Philíppin. Cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo mới chỉ là một bước đi ban đầu. Bà Arroyo sẽ được thay thế khi Philíppin tổ chức cuộc tổng tuyển cử tiếp theo. Hơn nữa, Việt Nam phải vận động sáu nước thành viên ASEAN khác, vốn không phải là các bên tham gia tranh chấp ở Biển Đông, ủng hộ Việt Nam và chứng tỏ sự đoàn kết. Điều này sẽ khó khăn bởi vì Thái Lan đang bị xáo trộn, Trung Quốc đang thiết lập ảnh hưởng tại Campuchia, trong khi Lào và Mianma sẽ không đối kháng với Trung Quốc. Việt Nam chỉ còn một thời gian ngắn trước khi Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 17 được tổ chức vào cuối năm nay khi các nhà lãnh đạo ASEAN sẽ gặp gỡ Trung Quốc. Đây là cơ hội để chứng tỏ một mặt trận thống nhất. Việt Nam phải thúc đẩy sự đồng thuận trên cơ sở hợp tác với Trung Quốc vì hòa bình và không đối đầu với Trung Quốc. Thực tế việc Inđônêxia sẽ tiếp quản chức Chủ tịch ASEAN vào năm tới là một phát triển tốt bởi vì Inđônêxia sẽ đi tiên phong hơn so với Brunây.

- Hỏi: Việt Nam đang cố gắng khẳng định vị thế của mình trong năm làm Chủ tịch ASEAN. Qua theo dõi những hội thảo và hội nghị thượng đỉnh của ASEAN, ông có thể đánh giá sơ bộ về nỗ lực này như thế nào?

- Trả lời: Việt Nam đã chứng tỏ là một đối tác quốc tế đáng tin cậy trong nhiệm kỳ ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hai năm qua. Trước đây, Việt Nam đã từng tổ chức các hội nghị thượng đỉnh của ASEAN. Năm nay bắt đầu triển khai thực hiện Hiến chương ASEAN và Việt Nam có trách nhiện đặc biệt nặng nề. Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN và các tuyên bố chung về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu là những dấu hiệu quan trọng cho thấy sự thành công về mặt ngoại giao của Việt Nam.

- Hỏi: Một số nhà quan sát đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong giải quyết vấn đề Mianma. Cá nhân ông suy nghĩ về vấn đề này như thế nào?

- Trả lời: Về vấn đề Mianma, rõ ràng là Việt Nam có khả năng ngoại giao linh hoạt để phản ánh sự đồng thuận trong ASEAN. Với tư cách là một quốc gia nạn nhân của sự can thiệp bên ngoài, Việt Nam ủng hộ sự không can thiệp vào công việc nội bộ và có một số cảm thông với Mianma. Mặt khác, Việt Nam hiện là một phần của tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, trong đó thừa nhận những vấn đề nội bộ của môt nước có thể lan ra và ảnh hưởng đến các nước khác. Trong trường hợp Minanma, ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực có thể bị ảnh hưởng nếu Mỹ và Liên minh châu Âu thông qua các chính sách cứng rắn đối với Mianma trong vấn đề bầu cử. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rõ ràng đã phản ánh sự động thuận của ASEA khi ông nói về cuộc bầu cử ở Mianma. Vai trò trước đây của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thời gian trước khi diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Diền đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM) tại Hà Nộ được đánh giá cao. Nỗ lực ngoại giao của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi đi thăm Mianma trước Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 16 cũng được đánh giá cao như vậy.

- Hỏi: ASEAN đang nỗ lực lấy lại vai trò trung tâm trong các mối liên kết khu vực; với việc mời EU tham gia TAC, hoặc tỏ ý mời Nga và Mỹ tham gia cơ cấu Đông Á. Theo quan điểm của ông, những nỗ lực này có thể thành công hay không? Liệu có cản trở tiềm tàng nào từ phía những cường quốc này? Giả thiết nếu thành công trong vấn đề này sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của ASEAN?

- Trả lời: EU đã là thành viên của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF). Vì châu Âu thúc đẩy một chính sách đối ngoại chung nên sẽ là một bước tích cực đối với ASEAN khi cho EU tham gia TAC. Điều này sẽ ràng buộc Anh và Pháp, hai nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, với các chuẩn mực của TAC.

Khi Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) được thành lập, Liên bang Nga tìm cách trở thành thành viên của tổ chức này. Đây là một vấn đề khó khăn chưa được giải quyết. Chính quyền Bush đã bày tỏ sự lo ngại về việc EAS lặp lại những trách nhiệm của các tổ chức khu vực khác. Chính quyền Bush kết luận rằng EAS không gây tổn hại đến an ninh khu vực và Mỹ sẽ theo dõi sự phát triển của thể chế này. Chính quyền Obama đã tăng cường vị thế của Mỹ tại Đông Nam Á bằng việc tham gia TAC. Ngoài ra, Mỹ cũng tuyên bố sẽ nghiên cứu  khả năng trở thành thành viên trong EAS. Có những báo cáo cho thấy một số thành viên của EAS phản đối việc chấp nhận Mỹ vì nước này không phải là một quốc gia Đông Á. Tuyên bố của Chủ tịch ASEAN cho thấy các nước Đông Á đã đạt được sự đồng thuận và đưa ra quyết định mang tính “thắng lợi kép” nhằm khuyến khích Nga và Mỹ cùng tham gia. EAS chắc chắn sẽ phải trải qua một số căng thẳng khi tiếp nhận hai siêu cường này. ASEAN muốn sẽ vẫn là trung tâm của EAS; nhưng sự xáo trộn của ASEAN sẽ khiến việc này trở nên khó khăn. Và có thể trong một số vấn đề, các siêu cường sẽ hành động quả quyết hơn và thậm chí là đơn phương khi lợi ích quốc gia của họ mách bảo phải làm như vậy.

- Hỏi: Trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy và tăng cường các bước đi nhằm chứng tỏ ảnh hưởng của nước này trong khu vực, trong khi một số nước thành viên chủ chốt của ASEAN đang vướng phải một số vấn đề, chẳng hạn như Thái Lan đang chìm trong khủng hoảng và Inddooneexxia phục hồi chậm chạp, theo ông thì ASEAN phải làm gì để đối phó với sự chuyển giao quyền lực trong khu vực?

-         Trả lời: Sự trỗi dậy của Trung Quốc thể hiện trên một số khía cạnh – kinh tế, chính trị, quân sự và văn hóa. Trung Quốc và ASEAN đã ký Hiệp định Thương mại tự do (FTA); có hiệu lực đối với các nền kinh tế phát triển trong ASEAN từ đầu năm 2010. ASEAN phải củng cố và xây dựng khu vực thương mại tự do cho riêng mình nhằm tự lớn mạnh khi làm ăn kinh tế với Trung Quốc. Quy mô kinh tế đã được vạch ra rõ ràng. Có một khuôn khổ tích cực cho khía cạnh văn hóa trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc.

Nhưng khía cạnh chính trị và quân sự thì khó khăn hơn nhiều bởi vì sự bất ổn trong bất kỳ nước thành viên ASEAN nào cũng gây ra khó khăn cho việc tăng cường tình đoàn kết trong các vấn đề về chính trị và an ninh. ASEAN cần nỗ lực ngăn ngừa không để bất kỳ cường quốc nào gây được ảnh hưởng áp đảo về chính trị và/hoặc quân sự. ASEAN cần khuyến khích sự can dự của tất cả các cường quốc trong việc xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực “hòa bình, hợp tác và phát triển”. Một ví dụ như xây dựng dựa trên sáng kiến của Mỹ về việc hỗ trợ các nước hạ nguồn sông Mê Công để phát triển tiểu vùng này.

- Hỏi: Việt Nam có thể đóng một vai trò lớn hơn trong ASEAN không?

- Trả lời: Với điều kiện Việt Nam vẫn ổn định về chính trị và kinh tế tiếp tục tăng trưởng, nước này sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn với tư cách là một trong những nhà lãnh đạo ASEAN. Trong số 10 nước ASEAN, Inđônêxia và Việt Nam dường như sẽ là hai nhà lãnh đạo chủ chốt với ảnh hưởng khu vực  rộng rãi. Các sáng kiến về chính sách mà Việt Nam thúc đẩy trong năm nay với tư cách là Chủ tịch ASEAN sẽ được Inđônêxia triển khai. Đây là một quan hệ đối tác quan trọng, Việt Nam sẽ tổ chức hộ nghị các bộ trưởng quốc phòng của ASEAN đầu tiên. Đó là một cơ hội quan trọng để thúc đẩy hợp tác an ninh khu vực chặt chẽ hơn và đặt nền tảng cho tương lai. Do Việt Nam là một trong 10 nước sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất của sự thay đổi khí hậu, nên vai trò đi đầu trong vấn đề này sẽ có lợi cho tất cả các nước Đông Nam Á. Việt Nam sẽ có thể đóng vai trò lớn hơn trong ASEAN khi biết gắn kết những lợi ích quốc gia với các lợi ích của khu vực và đi tiên phong bằng biện pháp ngoại giao.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , | Leave a Comment »

566. Thông cáo Thượng Hải

Đăng bởi anhbasam on 29/04/2010

pbs.org

Thông cáo Thượng Hải

27-02-1972


Ngày 27 tháng 2 năm 1972, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ban hành một thông cáo chung, đỉnh cao của chuyến viếng thăm lịch sử kéo dài một tuần tới Cộng hòa Nhân dân [Trung Hoa] của Nixon và Kissinger. Kissinger đã bắt đầu đưa ra bản thảo Thông cáo Thượng Hải với Chu Ân Lai vào tháng 10 năm trước, khi ông ta gặp thủ tướng Trung Quốc tại Bắc Kinh đặt nền tảng cho chuyến thăm sắp tới của Nixon. Kissinger tiếp tục đưa ra các chi tiết trong hội nghị thượng đỉnh tháng 2 năm 1972, thường là vào những lần họp khuya với Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Qiao Guanhua.

Theo thông cáo, cả hai nước cam kết đi đến “bình thường hóa” quan hệ, và để mở rộng “tiếp xúc giữa người với người” cùng các cơ hội làm ăn. Trong một tham chiếu úp mở dành cho Liên Xô, thông cáo tuyên bố rằng trong hai quốc gia, không nước nào “tìm kiếm quyền bá chủ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và mỗi nước chống lại các nỗ lực của bất kỳ nước nào khác hoặc nhóm các nước khác để thiết lập quyền bá chủ”.

Trước các cuộc đàm phán, nhận ra rằng Trung Quốc và Mỹ có nhiều vị trí không thể dung hòa được, Chu Ân Lai đề nghị một bản thông cáo không chính thống. Hai bên nhất trí về cơ bản không đồng ý, mỗi bên nêu rõ quan điểm của mình trong các phần riêng biệt khi cần thiết. Về vấn đề Việt Nam gai góc, ví dụ, Hoa Kỳ xác nhận kế hoạch hòa bình mới nhất của Nixon, trong khi Trung Quốc bày tỏ sự hỗ trợ vững chắc cho các đề nghị của cộng sản.

Tuy nhiên, bất chấp kế hoạch về các tuyên bố đơn phương, Đài Loan vẫn là một trở ngại trong suốt quá trình đàm phán. Trong khi Hoa Kỳ đang tìm cách cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, nhưng vẫn chính thức công nhận chính phủ Quốc dân của Tưởng Giới Thạch về Đài Loan.

Thực ra, Hoa Kỳ đã đi từng bước nhỏ hướng tới một chính sách “hai Trung Quốc” trong nhiều năm. Chỉ bốn tháng trước đó, khi Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu về việc có nên thừa nhận nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hay không, Mỹ đảo ngược [quan điểm] đối lập 20 năm để bố trí chỗ ngồi cho Trung Quốc, nhưng phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm trục xuất Đài Loan. Cuối cùng, Mỹ đã không còn tranh đấu cho đại diện kép. Trung Quốc đã được nhận vào Liên Hiệp Quốc, Đài Loan đã bị loại ra – và Mỹ đã bỏ các quan hệ lừa dối với hai nước mà cả hai cảm thấy mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của cả Trung Quốc.

Người Trung Quốc coi sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Đài Loan là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và ép quân đội Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi hòn đảo. Nixon và Kissinger muốn điều kiện rút quân phải có sự giúp đỡ của Trung Quốc trong việc kết thúc chiến tranh Việt Nam. Và trong khi Trung Quốc xem các thỏa thuận của mình với Đài Loan là một vấn đề nội bộ một cách nghiêm túc, được xử lý mà họ thấy phù hợp, người Mỹ nhấn mạnh rằng Trung Quốc giải quyết vấn đề Đài Loan mà không được sử dụng vũ lực.

Cuối cùng, cả hai bên đã nhượng bộ. Như Henry Kissinger đã viết trong hồi ký của mình, cả Mỹ lẫn Trung Quốc, không bên nào muốn vấn đề Đài Loan là trở ngại trong mối quan hệ mới giữa hai bên: “Chủ đề cơ bản trong chuyến đi của Nixon – và Thông cáo Thượng Hải – là để vấn đề Đài Loan lại cho tương lai, để hai nước lấp cái hố ngăn cách hai mươi năm và theo đuổi chính sách song song nơi mà hai bên có cùng quyền lợi”.

Hoa Kỳ tuyên bố “mối quan tâm của họ trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan là do chính người Trung Quốc”, và khẳng định tất cả số quân Mỹ rút khỏi hòn đảo như là “mục tiêu cuối cùng”. Hoa Kỳ cũng đồng ý “giảm dần các lực lượng và các căn cứ quân sự ở Đài Loan để giảm căng thẳng trong khu vực”, do đó cho phép Trung Quốc giúp giảm bớt chiến tranh Việt Nam.

Về phần mình, Trung Quốc kiên quyết bác bỏ bất kỳ sự tính toán nào về “hai nước Trung Quốc”, tuyên bố dứt khoát rằng “Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc” và “Đài Loan là một tỉnh của Trung Quốc”. Hoa Kỳ đã khéo léo thừa nhận “rằng tất cả người Trung Quốc ở hai bên eo biển Đài Loan duy trì một nước Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc,” nhưng tránh các câu hỏi ai nên lãnh đạo “nước một Trung Quốc” này.

Phản đối vào phút cuối của Ngoại trưởng Rogers được xem như là một sự lảng tránh. Nixon và Kissinger đã cố tình giữ Rogers và nhân viên của ông ngoài các cuộc đàm phán về thông cáo, và khi các viên chức Bộ Ngoại giao cuối cùng đã nhìn thấy văn bản, họ đã phản đối ngay lập tức.

Tất cả các đối tác có ký hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ ở châu Á đã được được gọi tên cụ thể – ngoại trừ Đài Loan. Khi Rogers cố gắng đưa vấn đề để Nixon chú ý, Tổng thống giận dữ. Nixon biết ông không thể bỏ các cam kết của Mỹ dành cho Đài Loan mà không hứng chịu cơn thịnh nộ của những người ủng hộ bảo thủ của ông ở nhà. Ông không có đủ khả năng đón nhận hình ảnh xấu trước công luận nếu Rogers đã phá vỡ tôn ti và “rò rỉ” thông tin cho báo chí. Rogers đã cố gắng đưa thông cáo trở lại bàn đàm phán – làm Nixon và Kissinger bực mình – nhưng cuối cùng, cả hai bên chỉ đơn giản là bỏ tất cả các tài liệu tham khảo đối với các đối tác có ký hiệp ước với Hoa Kỳ, thay vì ép buộc trong vấn đề Đài Loan.

Thực tế, Nixon và Kissinger đã đi xa hơn nữa về Đài Loan trong đàm phán riêng của họ với Chu hơn là trong thông cáo. Theo ghi chú đã được đưa ra và các bản dịch các cuộc nói chuyện đã được tiết lộ trong thời gian gần đây cho thấy, phía Mỹ đã đề nghị Chu bảo đảm rộng rãi rằng họ dự định mở quan hệ ngoại giao đầy đủ với Bắc Kinh càng sớm càng tốt – và đã sẵn sàng hy sinh Đài Loan để làm điều đó. Tuy nhiên, theo sau vụ bê bối Watergate, Nixon đã không thể thực hiện những lời hứa hẹn này, và Hoa Kỳ không thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Trung Quốc cho đến năm 1979.

Tuy nhiên, một khi thông cáo Thượng Hải đã được ban hành, các văn bản đã được đặt trên tường. Như ông James Mann, nhà báo và học giả Trung Quốc đã viết: “…Bước đầu của Nixon nhằm truyền đạt sự chấp nhận của Mỹ, lần đầu tiên, về kết quả của cuộc nội chiến Trung Quốc và thất bại của Tưởng Giới Thạch. Hoa Kỳ ngừng thách thức quyền lực cai trị đất nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc…. Việc chấp nhận người Mỹ (trong thông cáo) và, thật ra để nắm lấy (trong các cuộc hội đàm riêng tư của Nixon) chính sách một Trung Quốc nhằm chi phối sự điều khiển của người Mỹ kể từ thời điểm đó trở đi”.


Người dịch: Ngọc Thu

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , | 1 Comment »

563. Thay đổi trong cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt-Trung

Đăng bởi anhbasam on 26/04/2010

Đôi lời: Vụ Ban Việt ngữ BBC và “TS” Đỗ Ngọc Bích vẫn chưa tới hồi kết. Nhiều dấu hỏi xung quanh bản chất vụ việc và hệ quả của nó. Mới đây, trên trang diễn đàn X-cafe còn lưu hành một số hình ảnh được cho là bản chụp những bức điện thư trao đổi của bà “TS” và những người liên quan, trong đó có GS Đại học Hawaii Liam C. Kelley, người từng tới Việt Nam nghiên cứu, gặp gỡ nhiều học giả của VN.

Một điều thú vị là GS Kelley có một cuốn sách rất công phu và có lẽ cũng có chút sức thuyết phục về mối quan hệ lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc về văn hóa, mà dường như bài viết của “TS” Bích đã “tóm lược” một cách hàm hồ vài quan điểm trong cuốn sách này.

Năm 2005, trang talawas đã đăng bản dịch lời giới thiệu của cuốn sách và một bài viết của Hà Yên phản bác quan điểm của GS Kelley. Hà Yên chính là bút danh của Nhà nghiên cứu-Phê bình “Dao búa” Nguyễn Hòa.

Để thêm chút thông tin về những quan điểm trái nghịch quanh chủ đề hết sức quan trọng này và góp phần cho việc giải thích vụ việc đình đám nói trên, mời bà con đọc hai bài viết: Thay đổi trong cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt-Trung Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ” về quan hệ văn hóa Việt – Trung, lạm bàn với Liam C. Kelley.


talawas.org – 1.9.2005

Liam C. Kelley

Thay đổi trong cách nhìn về

quan hệ văn hóa Việt-Trung

Lê Quỳnh dịch


Lời giới thiệu: Beyond The Bronze Pillars (Đi qua những cột đồng) là tên tập sách nghiên cứu do Nxb Đại học Hawaii ấn hành năm 2005. Tác giả tập sách là Liam C. Kelley, giảng viên Trường Đại học Hawaii. Không tán thành quan điểm rằng về mặt lịch sử, người Việt luôn tìm cách duy trì một bản sắc văn hóa riêng tách khỏi Trung Quốc, tác giả xem xét các bài thơ đi sứ trong các thế kỷ 16-19 và đưa ra giả thiết (nhiều khả năng gây tranh cãi) rằng trí thức Việt Nam đã cảm thấy có tồn tại hai thế giới văn hóa, riêng nhưng không bình đẳng, và ở đó, người Việt chấp nhận giữ một vai trò phụ.

Về tựa sách, tác giả giải thích trong một cuộc phỏng vấn: “Người Việt Nam và người Trung Quốc đều biết đến truyền thuyết về việc Mã Viện dựng một cây cột đồng sau đó đọc thần chú để lập ra một biên giới. Sau đó cả người Việt Nam và Trung Quốc đã nói rất nhiều về chiếc cột đồng này nhưng không biết nó nằm ở đâu cả. Do đó tôi xem nó như biểu tượng của một biên giới, và người đi sứ phải vượt qua.” [1]

Bản dịch dưới đây trích từ Lời giới thiệu của tập sách Beyond The Bronze Pillars (Honolulu: University of Hawiian Press, 2005), trang 9 – 23.

Người dịch

Lý thuyết “tiểu Trung Hoa”

Nếu chúng ta có thể quay ngược thời gian và đặt câu hỏi về tầm quan trọng biểu tượng của cột đồng Mã Viện cho một số người Tây phương đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc lịch sử khu vực này, họ sẽ mạnh mẽ nói rằng các cột đồng đánh dấu đường biên phía nam của một thế giới Hán hóa và rằng vùng đất mà sau này trở thành Việt Nam, về căn bản, được đúc khuôn theo mô hình thế giới văn hóa này. Chẳng hạn, đây là cách nhà nghiên cứu Trung Quốc người Pháp, Henri Maspero, phân loại Việt Nam trong một bài ông viết năm 1918 về cuộc hành quân của Mã Viện chống lại Hai Bà Trưng. [2]

Một cái nhìn về lịch sử và văn hóa Việt Nam như thế là cái mà tôi gọi là thuyết “tiểu Trung Hoa”. Thuyết này cho rằng trong một thiên niên kỷ khi Việt Nam là một phần của nhiều đế chế Trung Hoa (thời gian mặc định quy ước là từ 111 trước CN – 939 sau CN), vùng đất này trở thành bản sao thu nhỏ của Trung Quốc, và rằng chính nhờ quan hệ với vương quốc lớn hơn kia, và nhờ áp dụng nhiều tập tục và tổ chức chính trị, mà Việt Nam sau đó đủ khả năng duy trì sự tự chủ trong 1000 năm kế tiếp trước khi Pháp đô hộ vào thế kỷ 19. Được viết bởi các học giả làm việc cho chính quyền thực dân, lý thuyết tiểu Trung Hoa dĩ nhiên cũng ngụ ý rằng Việt Nam, về lâu dài, sẽ được truyền cho sức mạnh tương tự nhờ sự giám hộ của người Pháp. Như thế không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng lý thuyết này đã bị phê phán trong thời kì hậu thuộc địa, cả ở Việt Nam và phương Tây.

Nhóm học giả chủ chốt ở phương Tây chống lại lý thuyết tiểu Trung Hoa đa phần là người của các nước nói tiếng Anh. Họ bắt đầu nghiên cứu và viết về Việt Nam từ thập niên 1950 và 1960. Được đào tạo trong khuôn khổ các chương trình Đông Nam Á học sau Thế chiến Hai, các học giả này tiếp cận việc nghiên cứu quá khứ của Việt Nam theo một cách nhìn khác. Quan trọng nhất, nhiều người muốn cung cấp cho các quốc gia trong khu vực cái lịch sử “tự chủ” của quốc gia ấy, những cách kể về quá khứ mà các ông chủ thực dân đã tước bỏ khỏi thần dân của họ. [3] Điều này khiến cho một số học giả đặc biệt chịu ảnh hưởng từ những sáng tạo mang quan điểm dân tộc chủ nghĩa về một quá khứ của Việt Nam đang xuất hiện từ chính Việt Nam lúc ấy, cả ở miền Bắc lẫn miền Nam. Những “truyền thống được sáng tạo” này được tạo ra để chống lại những nguyên lý của lý thuyết tiểu Trung Hoa và những truyền thống đó thể hiện rõ nhất trong ý tưởng một câu chuyện kể to lớn về “truyền thống chống ngoại bang / Trung Quốc xâm lược”, một quan niệm cho rằng người Việt đã duy trì bản sắc và sự tự chủ chính trị riêng trong nhiều thế kỷ bằng việc chống lại các đợt xâm lược liên tiếp (chủ yếu là của Trung Quốc). [4]

Sự hội tụ của những động thái này đã tạo ra một cái nhìn cụ thể về quá khứ Việt Nam, một cái nhìn mà nghiên cứu của tôi phản bác lại. Để hiểu rõ hơn điều mà tác phẩm này (của tôi) muốn thể hiện, chúng ta trước hết cần có ý niệm rõ ràng hơn về cách thức trình bày quá khứ Việt Nam trong mấy thập niên qua. Tôi sẽ ngắn gọn duyệt lại những luận điểm chính về quá khứ của Việt Nam tìm thấy trong các nghiên cứu tiếng Anh, và đồng thời trình bày một phác thảo về lịch sử Việt Nam để độc giả bình thường có thể nhanh chóng nắm bắt một nền tảng lịch sử để từ đó hiểu rõ hơn các chất liệu đi sau đó. [5]

Không phải “Trung Hoa”

Phần phía bắc của Việt Nam ngày nay đã chịu sự kiểm soát của Trung Quốc từ thế kỷ thứ hai trước CN đến thế kỷ 10 sau CN. Keith W. Taylor là học giả viết tiếng Anh duy nhất nghiên cứu chi tiết giai đoạn này. Tác phẩm của ông, The Birth of Vietnam, trực tiếp thách thức cách nhìn của Maspero rằng sự tự chủ của Việt Nam là sản phẩm của ảnh hưởng của Trung Quốc, tức là, đến thế kỷ 10 người Việt đã hấp thụ các quan niệm cai trị của Trung Quốc đủ để cho phép họ đánh bại các nỗ lực từ Trung Quốc muốn giành lại quyền kiểm soát trực tiếp trong khu vực. Đối lập lại, Taylor ghi nhận rằng sự tồn tại của một thực thể chính trị có tổ chức từ trước khi người Hán đến cho thấy người Việt từ lâu đã có khả năng tự cai trị. Tuy nhiên, yếu tố thật sự giúp đem lại sự độc lập này (từ của Taylor) không phải là khả năng bản địa kia, mà là nhờ một “sự thông minh và tinh thần” bắt rễ “từ một xác tín của người Việt rằng họ không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc.” [6]

Lời phát biểu này bộc lộ một quan điểm chủ chốt mà nhiều học giả nghiên cứu Việt Nam cho đến ngày hôm nay đều chia sẻ ở một mức độ nhất định, tức là, về̀ lịch sử người Việt “không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc.” Cái vấn đề với lý thuyết này, đặc biệt thể hiện trong một tác phẩm bao quát thiên niên kỷ đầu tiên, là nó phóng chiếu những thuật ngữ quan trọng “người Trung Quốc” và “người Việt Nam” vào quá khứ. Thế mà khi ta nhìn vào các nguồn tài liệu gốc chép lại câu chuyện về một sự kiện như cuộc chinh phục của Mã Viện, không có từ nào mà ta có thể dịch ra thành “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam.” Các tài liệu nguyên thủy chỉ chứa đựng tên các cá nhân (Trưng Trắc, Tô Định, Mã Viện…), chức danh chính thức của họ (thái thú, phục ba tướng quân), và tên một triều đại (Hán). Nếu chúng ta không thể định vị bất kì sự diễn đạt bản sắc nào trong tư liệu gốc (dù là “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam”), thì làm sao chúng ta có thể lý luận rằng người Việt Nam nuôi dưỡng một xác tín có gốc rễ sâu sắc rằng họ “không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc?”

Chúng ta cần hỏi nhiều câu hỏi như vậy bởi vì toàn bộ ý niệm (rằng một “sự thông minh và tinh thần” đã đưa người Việt Nam đến độc lập) là dựa trên tiền đề rằng con người trong khu vực đã luôn nuôi dưỡng một bản sắc “Việt Nam” thống nhất, tách biệt khỏi một bản sắc “Trung Quốc” thống nhất. Thực tế, bản thân Taylor đã từ bỏ quan điểm ban đầu của ông và nay nghĩ rằng trong những thế kỷ sau giai đoạn kiểm soát của Trung Quốc đã có nhiều cách làm người Việt. [7] Nếu điều này là chính xác, thì người ta chỉ có thể tự hỏi những bản sắc nào đã tồn tại trong 1000 năm chịu sự cai trị trực tiếp của Trung Quốc. Liệu đã có một hình thức bản sắc “Việt Nam” nổi trội hơn cả trong giai đoạn này đáp ứng như một sức mạnh thúc đẩy trong xã hội? Hay cái nơi mà chúng ta giờ đây gọi là Việt Nam đúng hơn đã từng là một vùng của sự giao tiếp văn hóa, một khu vực biên nơi mà việc anh là ai không quan trọng bằng việc anh làm gì?

Trong thế kỷ 10 có một số những cá nhân như vậy, những người tạo nên tên tuổi nhờ vào hành động của họ. Hết người này đến người khác đạt ưu thế tại khu vực trước khi bị một người khác tài giỏi hơn thay thế. Những dòng họ cai trị mà họ tạo lập – nhà Ngô (939-965), nhà Đinh (968-980, và nhà Tiền Lê (980-1009) – tuy nhiên lại có vẻ giống như những nhóm lãnh chúa hơn là những triều đại có tổ chức thật sự. Chỉ đến thế kỷ 11 và 12, trong thời đại nhà Lý (1010-1225), mới có một tổ chức triều chính đầy đủ hơn được thiết lập tại khu vực này.

Thành công lớn hơn mà nhà Lý có được trong việc dựng lên một cơ cấu cai trị nghi thức hóa hơn đã được các học giả làm việc theo truyền thống từ thời thực dân Pháp, hoặc chịu ảnh hưởng của nó, cho rằng chính là lý do cho sự tồn tại lâu dài của nhà Lý. Các học giả này cho rằng nhà Lý duy trì sự ổn định chính trị trong hơn 200 năm vì họ đã thiết lập được một tổ chức hành chính trung ương hóa có hiệu quả dựa trực tiếp trên “mô hình Trung Hoa.” [8] Đây là điểm mà các học giả phương Tây thời kì hậu thuộc địa tìm cách phản bác. Ví dụ, John K. Whitmore sử dụng các nguồn tài liệu Trung Quốc đương thời để vẽ một bức tranh về chính quyền và xã hội đời Lý khác hẳn điều mà ông xem là “mô hình Trung Hoa”, tức là, “một nhà nước Khổng giáo, hành chính hóa, có sự kiểm soát chặt chẽ từ trung ương và một dân tộc được tổ chức thành các thị tộc gia trưởng, theo chế độ phụ hệ.” [9] Còn Taylor lại dùng các nguồn tư liệu Việt Nam để khảo sát cách thức các nhà cai trị triều Lý vận dụng sự hỗ trợ của các vị thần địa phương làm phương tiện củng cố quyền uy và ông cho rằng “uy quyền và tính chính danh của nhà Lý phụ thuộc vào các mô hình tư tưởng chia sẻ cùng các dân tộc Đông Nam Á khác, và rằng cách các mô hình tư tưởng này được thể hiện trong thế kỷ 11 phản ánh những khía cạnh riêng biệt của kinh nghiệm lịch sử Việt Nam.” [10] Mối liên hệ này với Đông Nam Á đặc biệt rõ ràng, Taylor nói trong một nghiên cứu khác, ở tầm quan trọng của Phật giáo đối với các vua nhà Lý, một điểm mà Taylor cảm thấy đã thể hiện rằng lãnh địa nhà Lý “gần với thế giới tư tưởng của các vương quốc Đông Nam Á khác hơn là với thế giới Trung Quốc.” [11]

Sức mạnh của những nghiên cứu ban đầu này một lần nữa là để phê phán thuyết tiểu Trung Hoa. Các nhà nghiên cứu tách Việt Nam khỏi Trung Quốc và liên kết Việt Nam với một quan niệm mới xuất hiện về Đông Nam Á. Tuy nhiên, khi làm như vậy, những luận điểm này vận dụng một sự phân loại khá cứng nhắc về “Trung Quốc” (cũng giống những tác giả thời thuộc địa đã tạo ra lý thuyết tiểu Trung Hoa). Mặc dù xã hội Việt Nam thời Lý chắc chắn chưa trở thành một “nhà nước Khổng giáo, hành chính hóa, có sự kiểm soát chặt chẽ từ trung ương và một dân tộc được tổ chức thành các thị tộc gia trưởng, theo chế độ phụ hệ”, trong một ngàn năm khi Việt Nam là một tiền đồn của các đế chế Trung Quốc, phần lớn các vùng của “Trung Quốc” cũng không thể được phân loại theo cách này. [12] Ngoài ra, việc vận động các vị thần bản địa bởi các viên quan mà ta thấy ở Việt Nam thời Lý lại cũng là một hành vi thông dụng trong suốt lịch sử Trung Quốc. [13] Cuối cùng, thay vì thể hiện bất kì sự liên hệ nào với “thế giới tư tưởng của các vương quốc Đông Nam Á”, sự ưa chuộng của nhà Lý đối với Phật giáo, như Nguyễn Tự Cường chỉ ra, lại liên hệ chặt chẽ với những tập tục đang nở rộ lúc bấy giờ tại Trung Quốc. [14] Chúng ta vẫn chưa có được một sự hiểu biết rõ ràng về những gì diễn ra dưới thời Lý, nhưng câu trả lời chắc chắn không nằm ở việc chọn lựa giữa hai mô hình giải thích cứng nhắc, mà nằm ở sự khảo sát những sự phát triển hữu cơ diễn ra trong thời điểm và nơi chốn cụ thể này.

Nhà Trần (1225-1400) nối tiếp nhà Lý. Sử gia duy nhất có sự nghiên cứu liên tục về nhà Trần là cố giáo sư O.W.Wolters, một trong những người cha sáng lập ngành Đông Nam Á học tại phương Tây. Đối với Wolters, không có điều gì trong quá khứ Việt Nam lại giống như vẻ ngoài của nó. Mặc dù ông đối diện những dấu hiệu đầy dẫy về ảnh hưởng Hán hóa trong các tài liệu viết của Việt Nam được ông khảo sát, điều ông nhìn thấy là một thực tại thuần Việt Nam đằng sau các dấu hiệu ấy. Ông cho rằng mặc dù người Việt và người Trung Quốc được giáo dục dựa trên cùng những văn bản giống nhau và sử dụng cùng những ám chỉ kinh điển trong trước tác của họ, vì thế mà tạo ra sự giống nhau ghê gớm trong sản phẩm văn chương của họ, nhưng người Việt không thật sự tin vào sách vở kinh điển Trung Hoa. Theo Wolters, người Việt trích dẫn kinh sách Nho giáo chỉ để làm “tăng sức nặng cho những tuyên ngôn cụ thể của người Việt về bản thân họ.” [15] Khi làm như thế, họ “bỏ qua cái khung lịch sử và đạo đức mà đem lại tính chặt chẽ” cho sách vở kinh điển và họ “phân mảnh và tách riêng các đoạn văn” và “rút mất cái ý nghĩa văn cảnh ban đầu của những đoạn văn ấy.” [16]

Nhà Trần chấm dứt khi phụ chính Hồ Quý Ly cướp ngôi vào cuối thế kỷ 14. Không có nhiều nghiên cứu về triều Hồ ngắn ngủi (1400-1407) và sự chiếm đóng sau đó của nhà Minh (1407-1427). Whitmore cung cấp cho chúng ta một lịch sử căn bản về nhà Hồ và thời kì chiếm đóng ban đầu của nhà Minh, trong lúc Alexander Woodside có sự đánh giá về sự chiếm đóng của nhà Minh. [17] Whitmore chống lại cách đánh giá truyền thống của Việt Nam xem Hồ Quý Ly là “nghịch thần”, và ông cho rằng họ Hồ đã làm được nhiều điều để củng cố và tập trung hóa “nhà nước Việt Nam.” Còn Woodside lý luận rằng sự chiếm đóng Việt Nam của nhà Minh là một sự thất bại sai lầm. Nhà Minh không đủ chuẩn bị để cai trị một vùng đất xa xôi, và những nỗ lực cai trị nửa vời của triều đình lại còn bị cản trở bởi tham nhũng và sự tham lam của các viên quan kém tài được cử đến cai trị vùng này. Cuối cùng, theo Woodside, sự thất bại của nỗ lực cai trị trực tiếp Việt Nam đã càng làm người Trung Quốc tin vào sự khôn ngoan của hệ thống cống nạp, một chủ đề mà chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn lát nữa đây.

Nhà Minh bị buộc phải từ bỏ tham vọng đế quốc ở Việt Nam sau khi chịu thất trận trước Lê Lợi, người sáng lập nhà Lê (1428-1788). Trong ghi chép lịch sử về nhà Lê, các dấu hiệu ảnh hưởng văn hóa Khổng giáo có nhiều hơn so với các giai đoạn trước. Điều này khiến Whitmore kết luận rằng hẳn đã có một sự biến đổi từ “sách vở cổ điển sang niềm tin Nho giáo” trong thời Lê. Đặc biệt, Whitmore đi theo khẳng định của Wolters rằng những dấu hiệu ảnh hưởng Hán hóa trong thời Trần không thể hiện niềm tin vào các giá trị văn hóa của người Hán, và đặc biệt của Nho giáo. Tuy nhiên, trong thời Lê, chuyện thay đổi, khi giới sĩ phu Việt Nam quay sang phương Bắc và lấy lại không chỉ những tư tưởng hành chính, mà cả toàn bộ cách nhìn về thế giới theo kiểu Tống Nho. [18]

Nếu Whitmore phác thảo sự biến đổi này theo những từ trung tính, Taylor lại tranh luận một cách chủ quan hơn rằng diễn trình hành chính hóa gia tăng dưới thời Lê là “chỉ dấu về sự yếu đuối hơn là sức mạnh: một chỉ dấu rằng những nền tảng văn hóa phổ thông của hệ thống vương quyền Việt Nam, như đã phát triển dưới thời Lý và Trần, nay đã sụp đổ và rằng quyền uy sau đó được giải thích trong một nội bộ văn hóa của tầng lớp cai trị mà thiếu vắng một nền tảng vững vàng trong xã hội bản địa.” Điều mà Taylor nhắc tới ở đây là việc nhà Lê, cả theo nghĩa về cơ cấu cũng như hệ tư tưởng, đã trở nên giống với các triều đại “Trung Quốc” một cách hoàn toàn hơn so với các triều đại trước. Một lần nữa, ngược với khẳng định của lý thuyết tiểu Trung Hoa — rằng chính các yếu tố Trung Quốc trong xã hội và chính quyền đã giúp Việt Nam mạnh mẽ – thì Taylor cho rằng những yếu tố này đã khiến nhà Lê tự cô lập khỏi nhân dân, một hiện tượng sau đó sản sinh ra các thế kỷ “nội chiến kéo dài” và “chia rẽ nội bộ.” [19]

Trong giai đoạn triều Lê, có hai sự “chia rẽ nội bộ” lớn. Chia rẽ đầu tiên bắt đầu khi một viên tướng thế lực, Mạc Đăng Dung, cướp ngôi năm 1527 và cai trị phần lớn vùng đất mà nay là miền bắc Việt Nam cho đến khi những người ủng hộ nhà Lê cướp lại kinh đô và “khôi phục” triều đại của họ vào năm 1592. Không lâu sau đó, một sự chia rẽ khác, lâu dài hơn, đã hình thành khi một gia tộc thế lực, họ Nguyễn, dần dần kiểm soát khu vực miền nam của nhà Lê, trong khi một thế lực tương tự, họ Trịnh, cai trị vùng phía bắc. Mặc dù hai phe đều bày tỏ trung thành với nhà Lê, nhưng thực tế họ duy trì sự kiểm soát gần như tuyệt đối trên lãnh địa của mình. Tình trạng này tồn tại cho đến nửa cuối của thế kỷ 18.

Tình trạng chia rẽ nội bộ thứ hai này gần đây nhận được sự chú ý đáng kể từ giới nghiên cứu. Ví dụ, Taylor cho rằng quyết định của Nguyễn Hoàng ở lại miền nam là một bước đi có ý thức tách khỏi thế giới Hán hóa mà hướng về Đông Nam Á. Theo Taylor, phần phía nam của lãnh địa nhà Lê, đối với một người như Nguyễn Hoàng, thể hiện “những chân trời rộng mở” và “một thế giới phi Việt với các khả năng làm người Việt theo những cách không truyền thống.” Những cách không truyền thống này “được phân biệt bởi sự tự do tương đối tách khỏi quá khứ Việt Nam và tách khỏi dạng uy quyền được biện minh bằng những lời kêu gọi hướng về quá khứ đó.” Trong “thế giới Đông Nam Á rộng lớn hơn” này, con người có thể tự lực cánh sinh và tham gia đầy đủ vào “một thế giới của những lựa chọn.” [20]

Cách phân loại tích cực của Taylor về phần đất phía nam như một khu vực không bị đè nặng bởi những tiêu chuẩn truyền thống vẫn còn tiếp tục thống trị ở miền bắc, ở một mức độ nào đó đã được nhanh chóng nhắc lại trong tác phẩm của Li Tana và Nola Cooke. [21] Cooke cũng tìm cách mở rộng điều mà bà cho là sự ưa chuộng yếu tố phi Nho giáo của người dân miền nam vào nhà Nguyễn (1802-1945), một giai đoạn mà trước đây được cho là giai đoạn chịu tác động Nho giáo nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam. Cụ thể, bằng cách “định lượng hóa, phân tích và so sánh” số lượng các thí sinh đi thi dưới thời Nguyễn, [22] cùng thông tin tiểu sử về họ, [23] Cooke muốn “khách quan” chứng tỏ rằng giai đoạn nhà Nguyễn không phải là thời cực thịnh của ảnh hưởng Tống Nho, như các học giả (đặc biệt là Woodside) từng tin tưởng. Tuy nhiên, chung cục lại, những cách tiếp cận “khách quan” để xác định mức độ Nho giáo hóa ở Việt Nam thời Nguyễn vẫn cần được cân bằng với những bằng chứng văn bản “chủ quan” tồn tại đầy dẫy. Woodside đã bắt đầu nghiên cứu các bằng chứng này từ nhiều năm trước, nhưng phần lớn tư liệu vẫn chưa được khảo sát hết.

Một chủ đề quan trọng khác trong lịch sử Việt Nam còn đang chờ sự chú ý nghiên cứu là giai đoạn Tây Sơn (1788-1802). Ba anh em của phong trào đã có cuộc nổi dậy ở vùng mà nay là miền trung Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ 18. Họ thành lập triều đại của riêng họ sau khi lật đổ nhà Lê và đánh bại đội quân Trung Hoa được gửi sang để hỗ trợ nhà Lê. Mặc dù triều đại Tây Sơn ngắn ngủi, nhưng nó sau đó có tầm quan trọng biểu tượng đối với các sử gia và trí thức Marxist Việt Nam, những người nhấn mạnh đến nguồn gốc khởi nghĩa nông dân của nó. Tuy vậy giai đoạn hấp dẫn này vẫn chưa có được sự chú ý nghiêm túc từ giới học giả phương Tây. [24]

Sẽ là sự phóng đại quá trớn nếu nói rằng có một chủ đề chính trong nghiên cứu bằng tiếng Anh về lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, đã có một xu hướng mạnh mẽ ủng hộ một sự phân chia quan trọng giữa văn hóa Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài ra, khi thảo luận sự tương tác của hai nền văn hóa, nhiều học giả có xu hướng dành ưu tiên cho phía Việt Nam. Xu hướng này biểu lộ rõ nhất trong tác phẩm của những học giả tìm cách xác định những sợi dây liên hệ giữa Việt Nam và khu vực Đông Nam Á (Wolters, hay các bài viết ban đầu của Taylor), nhưng nó cũng hiện ra trong tác phẩm của các sử gia nhấn mạnh quan hệ lịch sử của Việt Nam với vùng Đông Á. Ví dụ, Woodside mô tả trong cuốn sách, Vietnam and the Chinese Model, về một thế giới ở Việt Nam thế kỷ 19, một nơi có sự chia cắt rõ rệt giữa hai truyền thống văn hóa. Tuy nhiên, hai truyền thống văn hóa này không bằng nhau trong cách viết của Woodside. Văn hóa Trung Quốc được trình bày như một mô hình xa lạ mà từ đó giới tinh hoa của Việt Nam đã rút ra, chọn lựa những đặc điểm, đôi khi sai lầm, trong khi văn hóa Việt Nam là một truyền thống sống động, hữu cơ, đã tồn tại và nở rộ bất chấp nỗ lực của giới tinh hoa muốn thay đổi nó bằng “mô hình Trung Hoa.”

Xu hướng dành ưu tiên cho phía Việt Nam khi thảo luận sự tương tác văn hóa Trung – Việt cũng thể hiện trong các bình luận về vấn đề cụ thể hơn của quan hệ ngoại giao Trung – Việt. Một số nghiên cứu về chủ đề này nói rằng có một mối liên hệ giữa việc duy trì quan hệ hữu hảo và sự chấp nhận văn hóa Hán, hay sự thể hiện là mình chấp nhận văn hóa Hán, ở phía người Việt. Cụ thể hơn, một số học giả cho rằng các triều đại cai trị đế chế Trung Hoa, dù là nhà Hán, Mông Cổ hay Mãn Thanh, tất thảy đều xem Việt Nam theo một cách tương tự như cách các siêu cường phương Tây nhìn châu Á trong thế kỷ 19; tức là, trong suốt nhiều thế kỷ họ “luôn tìm cách chớp cơ hội đầu tiên, chớp lấy cái cớ mỏng manh nhất, để tiến về nam một lần nữa nhân danh sứ mạng khai hóa.” Vì thế một ưu tiên lớn của giới tinh hoa Việt Nam là thể hiện rằng họ đã “văn minh” rồi. Họ làm điều này thông qua cơ cấu của chế độ triều cống. Bằng cách gửi các sứ giả và phẩm vật triều cống sang triều đình Trung Hoa, người Việt có thể trình bày một vẻ ngoài thần phục thế giới văn hóa Trung Quốc và nhờ thế mà xua tan cảm giác rằng người Trung Quốc cần trực tiếp can dự vào công việc của Việt Nam. Như cách nói của Taylor, “khả năng thể hiện nhuần nhuyễn ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc của các sứ giả Việt Nam tại triều đình Trung Quốc là một cách quan trọng để chứng tỏ rằng Việt Nam là một đất nước ‘văn minh’ và không cần sự chăm sóc ‘khai hóa’ của Trung Quốc.” [25]

Hệ thống triều cống

Chính ở vấn đề về hệ thống triều cống mà chúng ta thấy có sự liên hệ giữa tác phẩm của các sử gia viết về quá khứ Việt Nam và tác phẩm về lịch sử Trung Quốc. Cái “hệ thống triều cống” mà các sử gia phương Tây đề cập là một ma trận ngoại giao, dựa trên ý niệm về sự ưu việt, mà các triều đại Trung Quốc đã duy trì. Nói một cách tóm tắt, thì ít nhất kể từ nhà Thương (thế kỷ 18 – 11 trước CN), những dân tộc đầu tiên mà ta phân loại là “người Trung Quốc” đã cảm thấy rằng xã hội của họ, với hệ thống chữ viết và các lễ nghi phức tạp, ưu việt hơn hẳn các dân du cư lang thang nơi hoang mạc, đồng cỏ ở phía bắc và tây bắc và các dân tộc sống ở các vùng rừng rậm rạp ở miền nam. Trước điều mà họ xem là sự bất xứng này, người Trung Quốc cảm thấy thật lô-gích khi quan hệ với các dân tộc xung quanh cần diễn ra theo tôn ti trật tự. Dân tộc nào muốn có quan hệ với Trung Quốc, thì quan hệ đó phải bao gồm sự thừa nhận tính ưu việt của nhà cai trị Trung Quốc, Thiên Tử, với việc phủ phục trước sân triều, và cống nạp phẩm vật. [26]

Mặc dù không phải là bài viết sớm nhất của phương Tây về hệ thống triều cống, nhưng một bài viết năm 1941 của John King Fairbank và S.Y.Teng đã vô cùng có ảnh hưởng khi nó định hình các quan niệm sau này về hệ thống triều cống. Tuy Fairbank và S.Y.Teng kết luận rằng “hệ thống triều cống là một cái khung mà trong đó mọi loại quyền lợi, cả mang tính cá nhân lẫn đế quốc, cả kinh tế lẫn xã hội, được thể hiện,” nhưng một ý tưởng trong bài đã được quảng đại độc giả chú ý, tức là, “triều cống là cái lốt, cái cách nói thay cho thương mại.” [27]

Kể từ khi người phương Tây tiếp xúc với hệ thống ngoại giao độc đáo này, họ đã cố gắng để hiểu cái lý lẽ đằng sau nó. Từ cái nhìn hiện đại của phương Tây về sự bình đẳng quốc gia, một hệ thống ngoại giao dựa trên bất bình đẳng là điều không thể chấp nhận theo nghĩa bề mặt của nó. Vì thế, các học giả tìm cách nhìn thấu qua cái “ngôn từ khoa trương” của hệ thống triều cống với hy vọng phát hiện ra một “thực tại” có thể hiểu được. Chắc chắn phải có một lý do lô-gích giải thích vì sao các vương quốc bên ngoài lại chấp nhận vị thế thua kém trong quan hệ này, một điều mà các nước phương Tây đã không chấp nhận ở thế kỷ 19 trong giao tiếp với Trung Quốc. Ở đây, giải thích kinh tế của Fairbank và Teng xuất hiện như một phát hiện. Thật có lý là mặc dù giá trị đạo đức của sự triều cống có thể làm lợi cho người Trung Quốc, nhưng giá trị vật chất của các hàng hóa được nhận về sẽ biện hộ cho việc các nước chấp nhận vị thế thua kém của mình.

Nhiều thập niên sau khi Fairbank và Teng công bố bài viết tiên phong của họ, nhiều nghiên cứu đã thách thức và tinh lọc nhiều khía cạnh trong luận điểm của hai tác giả. Tuy nhiên, như James Hevia gần đây chỉ ra, “gần như tất cả những ai đi sau Fairbank [và Teng] đều trung thành lặp lại sự khẳng định là hệ thống triều cống về bản chất có tính nhị nguyên.” [28][29] Điều dễ hiểu là người Việt Nam lấy lựa chọn đầu tiên. Theo đa số các học giả, quyết định làm như vậy dựa trên sự đánh giá thực tiễn về các quyền lợi chiến lược, chứ không phải vì niềm tin vào hệ thống triều cống hay tin vào cái thế giới quan vốn là nền tảng của hệ thống triều cống. Vì vậy mà Taylor nói rằng “trong nhiều thế kỷ, [Việt Nam] là một vương quốc độc lập giả vờ làm chư hầu của đế chế Trung Hoa.” [30] Các sử gia về quan hệ Trung – Việt cũng đồng ý về tính hai mặt của hệ thống triều cống. Tuy nhiên, họ không nói đến lô-gích kinh tế của mối quan hệ này, mà họ đặt ra một lựa chọn cho người Việt Nam giữa việc đồng ý những điều khoản bất công của hệ thống triều cống hoặc chịu nguy cơ tấn công.

Theo quan điểm này, việc gửi hàng trăm sứ thần đến thủ đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ chỉ là việc “giả vờ.” Đó là màn làm bộ làm tịch, trong đó người Việt hiểu rõ vai nào thì làm hài lòng người Trung Quốc, một dân tộc có vẻ chìm đắm trong cảm thức cao ngạo mà không nhận ra người Việt Nam chỉ giả vờ thần phục mà thôi.

Người ta có thể hỏi, làm thế nào các học giả biết rằng người Việt không tin vào tính chính đáng của hệ thống triều cống? Có bao nhiêu bằng chứng văn bản chứng tỏ những suy nghĩ này? Ở đây, tôi cho rằng có vô cùng ít bằng chứng. Ở phần lớn các trường hợp, các nhà nghiên cứu chỉ áp đặt sự diễn giải mà họ muốn lên quá khứ, bởi vì có rất ít chi tiết trong ghi chép lịch sử chứng tỏ một cách thuyết phục rằng người Việt không tin vào hệ thống triều cống. Chỉ khi người ta tách văn bản ra khỏi văn cảnh, và bổ sung những ý nghĩa mới cho chúng, thì người ta mới có thể thấy người Việt, trong chiều dài lịch sử, đã thách thức một nhãn quan về thế giới có trung tâm là Trung Quốc.

Dòng văn chương chống ngoại xâm?

Một nhận định như trên có thể làm một số độc giả thấy là vô cùng phóng đại. Dù gì, bất kì ai có chút tiếp xúc với những sách vở tiếng Anh về lịch sử Việt Nam đều gặp nhiều những nhắc nhở về văn chương chứng tỏ truyền thống kháng chiến chống ngoại xâm / Trung Quốc. Tuy nhiên, những tác phẩm đó ít khi được giải thích trong cái ngữ cảnh của thời điểm chúng được viết ra. Kết quả là, một tài liệu như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, viết ngay khi nhà Lê thành lập sau việc đánh bại quân Minh và những người Việt hợp tác với Minh, đã được xem là bản tuyên ngôn về bản sắc quốc gia. [31] Tuy nhiên, một sự xem xét kỹ lưỡng hơn về khung cảnh khi văn bản này được thảo lại cho thấy nó không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, mà Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng. Tương tự như lời đại cáo (Great Announcement) trong Kinh thư, mà từ đó văn bản này lấy cảm hứng và âm vọng, đây là lời cảnh cáo từ những người chiến thắng trước những người đồng bào thất trận – “chúng tôi giờ đây là chỉ huy, các anh khôn hồn thì nên tuân lời.”

Việc một cách hiểu văn bản như thế không quen thuộc với chúng ta là vì chỉ mới đến gần đây các học giả phương Tây mới bắt đầu xem xét những sự thù địch nồi da xáo thịt giữa người Việt trong lịch sử. Các nhà nghiên cứu có xu hướng tránh đi chủ đề này – câu hỏi về sự thống nhất của người Việt – bởi vì nó đi vào một khu vực dễ bị công kích kịch liệt trong phần lớn của nửa cuối thế kỷ 20. Thay vì xem những trường hợp trong quá khứ – khi một số người Việt chiến đấu chống lại quân Trung Quốc trong khi những người khác hợp tác – như những chương lịch sử phức tạp và xáo trộn, nhiều học giả lại chọn cách tưởng tượng, trong cảm tình dành cho các quan điểm dân tộc của người Việt hiện đại, một quá khứ mà trong đó một dân tộc Việt thống nhất liên tục đứng lên bảo vệ quê hương chống lại láng giềng phương bắc luôn gây hấn. Tuy nhiên, để làm như vậy, các nhà nghiên cứu buộc phải lướt qua những tư liệu gây bối rối trong lịch sử. Trong khi một cách hiểu dân tộc chủ nghĩa nhân tạo đối với Bình Ngô đại cáo đã được phổ biến rộng rãi trong các văn phẩm tiếng Anh về quá khứ Việt Nam, thì những tư tưởng của một nhân vật phù Lê thế kỷ 18 như Nguyễn Huy Túc lại không được thế. Là quan của triều Lê, triều đại đã yêu cầu nhà Thanh giúp đỡ quân sự chống lại Tây Sơn, Nguyễn Huy Túc viết bài thơ bày tỏ niềm vui khi thấy quân Thanh đến. Có nhan đề “Vui mừng vì quân Thanh đã qua biên giới và đến giúp chúng ta,” bài thơ ca ngợi sự cứu viện.

Khi những chiến binh dũng cảm đã tuốt gươm

Sông núi vương quốc ta sẽ vui hưởng thêm 10 ngàn năm nữa

Nguyễn Huy Túc nói trong thơ rằng ông luôn nghi ngờ có thể có những lúc, một vương quốc không thể tồn tại một mình. Mặc dù người ta nói trong thời tao loạn, các viên quan chính trực chỉ cần quẳng mũ, đóng cửa, và lo bảo vệ vùng đất của mình, nhưng nay Túc hiểu rằng những biện pháp ấy là không đủ. Vì thế ông vui mừng khi thấy quân Thanh đã đến giúp triều Lê, và ông đối lập sức mạnh của họ với thế yếu của Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc, lãnh đạo cuộc nổi dậy Tây Sơn. Ngoài ra, khi Túc viết bài thơ, ông sẵn sàng quy cho tương lai tồn tại 10 ngàn năm của vương quốc là nhờ khả năng quân Thanh đánh bại Tây Sơn trong mấy ngày tới.

Tuy nhiên, thực tế là quân Thanh chịu thất bại và điều này góp phần vào sự sụp đổ của vương triều. Dẫu vậy, sự “sụp đổ” của dòng thơ Nguyễn Huy Túc chỉ xảy ra sau đó. Những dòng thơ phù Lê như vậy vẫn còn phổ biến cho đến nửa cuối thế kỷ 19, nhưng khi có sự đô hộ của Pháp và sự xuất hiện của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, sự quan trọng của lòng trung quân bị làm suy yếu bởi các câu hỏi về tính thuần khiết dân tộc. Với sự biến đổi này, tiếng nói của Nguyễn Huy Túc chìm vào im lặng, bởi nó không thể hỗ trợ cho những chia rẽ mà nay đã hiện ra rõ rệt bởi những ý niệm mới xuất hiện về chủng tộc và những sự phân biệt dân tộc.

Ngày nay việc Nguyễn Huy Túc không biết phân biệt sự chia cắt quan trọng giữa người Việt Nam và người Trung Quốc có thể được giải thích nhanh gọn như là một tín điều sai trái của một thành viên thuộc giới tinh hoa bị Hán hóa, bởi vì rõ ràng “nhân dân” hiểu biết rõ hơn. Chắc chắn, có nhiều câu chuyện về một bản chất mang tính phổ thông hơn, mà quả thật thể hiện một hình thức kháng cự chống lại các cá nhân người Trung Quốc. Ví dụ, có câu chuyện về Nguyễn Thế Nghi. Nghi là người làng Mộ Trạch, quê hương của nhiều sĩ phu nổi tiếng; ông này có một chút liều lĩnh, không quan tâm lắm đến các khuôn phép. Tuy nhiên, ông giỏi chữ nghĩa, đặc biệt là thơ Nôm.

Nguyễn Thế Nghi là bạn của Mạc Đăng Dung. Sau khi Dung cướp ngôi năm 1527, ông cho Nguyễn Thế Nghi nhiều chức vụ chính thức, nhưng Nghi không quan tâm. Nghi chỉ muốn được trao tước hiệu Đại hưng. Mạc Đăng Dung đồng ý, phong ông làm Đại hưng hầu. Nguyễn Thế Nghi sau đó làm đôi câu thơ Nôm và khắc nó lên một chiếc cổng có cùng tên tại kinh thành, cổng Đại Hưng. Hai dòng thơ có thể dịch nghĩa như sau:

Có bậc anh hùng nào lại không thích oai vệ

Nhưng khi đến Đại Hưng, đều phải cúi đầu

Đoạn thơ như thế vừa là sự vinh danh cái cổng và, vì Nguyễn Thế Nghi nay có tước hiệu giống như cổng, nên dòng thơ cũng ngụ ý là bất kì ai, dù anh dũng đến đâu, cuối cùng cũng phải cúi đầu trước ông.

Đến cuối thế kỷ 16, một công sứ Trung Quốc chuẩn bị đi qua cánh cổng này trên đường đến kinh đô. Mặc dù ông không hiểu dòng chữ Nôm, nhưng có vẻ đã được thông báo về ý nghĩa của nó. Viên công sứ ra lệnh dừng lại, và một chiếc thang được mang tới để ông trèo qua cổng. Viên quan Việt Nam hộ tống miễn cưỡng thi hành lệnh, nhưng rồi nghĩ ra một kế. Ông ra lệnh mang một con voi già đến, và khi voi đi gần đến cổng, thì có người đâm vào đằng sau nó. Voi rống lên và chạy nhào về hướng cổng. Viên công sứ Trung Quốc, sợ hãi, chạy thẳng qua cổng vào kinh thành. Khi đã xong, y mới nhận ra mình bị lừa và cảm thấy rất xấu hổ.

Một câu chuyện như vậy gợi lên cảm giác đối kháng giữa người Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài ra, người Việt còn thắng thế trong cuộc đọ sức này khi họ tận dụng những đối tượng thuộc thủy thổ của mình – tiếng Nôm và một con voi. Như thế, câu chuyện có vẻ tóm tắt thực chất của cách người Việt nhìn mỗi quan hệ với láng giềng phương bắc. Tuy nhiên, ở đây một lần nữa chúng ta cần xem xét ngữ cảnh ghi chép và bảo quản những câu chuyện như vậy. Câu chuyện này thuộc thể loại “giai thoại”. Giai thoại là những câu chuyện giới tinh hoa ghi lại để giải trí. Chúng có thể vui nhộn. Chúng có thể bí ẩn. Nhưng dù nội dung có thế nào, mục đích là để giải trí. Mặc dù một số giai thoại chứa đựng thông điệp tinh thần ủng hộ niềm tin Nho giáo của giới tinh hoa, nhưng thông thường chúng cũng chứa đựng chuyện về các nhà sư Phật giáo, Đạo sĩ, nhà phong thủy, và như thế chứa đựng một tập hợp các ý niệm và tín điều. Ngoài ra, chúng ta cũng cần thận trọng không nên diễn giải việc giải trí như là thực tại.

Chắc chắn có những lúc tồn tại mức độ đối kháng giữa một số dân tộc sống ở các lãnh địa mà nay ta gọi là Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn tất nhiệm vụ vô cùng quan trọng là xem xét các ví dụ này trong ngữ cảnh văn hóa và lịch sử của chúng. Chỉ bằng cách làm như vậy, chứ không phải phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ, thì chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn về mối bất hòa Trung – Việt. Không may, cuốn sách này không thể đóng góp trực tiếp vào nhiệm vụ quan trọng này. Tuy nhiên, các tài liệu khảo sát ở đây thật sự cung cấp thông tin nền tảng quan trọng để có sự khảo sát sâu sắc hơn về những ví dụ của sự đối kháng Trung – Việt. Các tài liệu ở đây (bài thơ đi sứ) nói trực tiếp về quan hệ Trung – Việt, và chúng không nói gì về xung đột hay đối nghịch. Chúng không bộc lộ bất kì cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc, mà lại mô tả một sự khẳng định toàn diện về một trật tự thế giới mà quan hệ triều cống dựa vào và về vị trí phụ của Việt Nam trong thế giới ấy. Chỉ khi những văn bản này được nghiên cứu trong sự kết hợp với việc khảo sát mang tính văn hóa và lịch sử về “dòng văn chương kháng chiến”, thì chúng ta mới đến gần hơn sự hiểu biết về thực chất của quan hệ lịch sử Việt – Trung.

© 2005 talawas

——————-

[1]Phỏng vấn của báo Thể thao và Văn hóa.

[2]Henri Maspero, “L’Expédition de Ma Yuan”, Bulletin de l’École Francaise d’Extreme-Orient 18 (1918): 11-28

[3]John Smail, “On the Possibility of an Autonomous History of Modern Southeast Asia,” Journal of Southeast Asian History 2.2 (July 1961): 72-102. Về lịch sử nghiên cứu (chủ yếu tiếng Anh) Đông Nam Á, xem J.D.Legge, “The Writing of Southeast Asian History,” trong The Cambridge History of Southeast Asia, vol. I., Earl Times to c.1800, do Nicholas Tarling chủ biên (Cambridge: Cambridge University Press, 1992), 1-50.

[4]Xem thêm về chủ đề này trong quyển Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past của Patricia M. Pelley (Durham: Duke University Press, 2002). Về quan niệm “truyền thống được sáng tạo”, xem Eric Hobsbawm và Terence Ranger, biên tập, The Invention of Tradition (Cambridge: Cambridge University Press, 1983)

[5]Nói một cách chính xác, một số học giả có tác phẩm tôi phê bình đã thay đổi quan điểm về một số vấn đề. Tuy nhiên, những tác phẩm ban đầu của họ vẫn có ảnh hưởng và vì thế vẫn cần có sự chú ý mang tính phê phán. Điều này đặc biệt áp dụng cho trường hợp của Keith Taylor. Để xem một số bài viết gần đây của ông mà đã đi ra khỏi dòng nghiên cứu bị tôi phê bình, xem thêm bài “Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region,” Journal of Asian Studies 57.4 (1998): 949-978, và “Voices Within and Without: Tales from Stone and Paper about Đỗ Anh Vũ,” trong quyển Essays into Vietanmese Past, K.W.Taylor và J.K.Whitmore chủ biên (Ithaca: Cornell Southeast Asia Publicaions, 1995), 59-80.

[6]Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983): xvii-xviii.

[7]Keith W. Taylor, “Surface Orientations in Vietnam,” 949-978.

[8]Một tác phẩm tiêu biểu thuộc dòng này là Le Việt Nam: Histoire et Civilisation của Lê Thành Khôi, (Paris: Les Éditions des Minuit, 1955)

[9]John K.Whitmore, “Elephants Can Actually Swim: Contemporary Chinese Views of Late Ly Dai Viet,” trong Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, do David G.Marr và A.C.Milner biên tập (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1986), 117.

[10]Keith W. Taylor, “Authority and Legitimacy in 11th Vietnam,” trong Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, do David G.Marr và A.C.Milner biên tập (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1986), 141.

[11]Keith Taylor, “An Evaluation of the Chinese Period in Vietnamese History,” The Journal of Asiatic Studies 23:1 (1980): 160.

[12]Về câu hỏi các chính quyền Trung Quốc đã được hành chính hóa, hay trung ương hóa như thế nào trong những thế kỷ đầu tiên, xem Albert Dien chủ biên, State and Society in Early Medieval China (Stanford: Stanford University Press, 1990).

[13]Jean Lévi, “Les Fonctionnaires et le Devin: Luttes de Pouvoires entre Devinites et Administrateurs dans les Contes des Six Dynasties et des Tang,” Cahiers d’Extreme-Asie 2 (1986): 81-110.

[14]Cuong Tu Nguyen, Zen in Medieval Vietnam: A Study and Translation of the Thien Uyen Tap Anh (Honolulu: University of Hawaii Press, 1997).

[15]O.W.Wolters, “Assertions of Cultural Well-being in 14th Century Vietnam: Part II,” Journal of Southeast Asian Studies 11.1 (1980): 87.

[16]O.W.Wolters, “Assertions of Cultural Well-being in 14th Century Vietnam: Part I,” Journal of Southeast Asian Studies 10.2 (1979): 437.

[17]John K.Whitmore, Vietnam, Ho Quy Ly and the Ming (1371-1421) (New Haven: Yale Southeast Asia Studies, 1985), và Alexander Woodside, “Early Ming Expansionism (1406-1427): China’s Abortive Conquest of Vietnam,” Papers on China 17 (1964), 1-37.

[18]John K.Whitmore, “From Classical Scholarship to Confucian Belief in Vietnam,” The Vietnam Forum 9 (1987): 49-65, và John K.Whitmore, “Literati Culture and Integration in Dai Viet, c.1430-c.1840) trong Beyond Histories: Re-imagining Eurasia to c.1830, Victor Lieberman chủ biên (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1999), 221-243.

[19]Keith Taylor, “The Early Kingdoms,” The Cambridge History of Southeast Asia, vol. I., From Early Times to c.1800, Nicholas Tarling biên tập (Cambridge: Cambridge University Press, 1992), 151.

[20]Keith Taylor, “Nguyen Hoang and the Beginning of Vietnam’s Southward Expansion,” trong Southeast Asia in the Early Modern Era: Trade, Power, and Belief, do Anthony Reid biên tập (Ithaca: Cornell University Press, 1993), 64.

[21]Xem Li Tana, Nguyen Cochinchina: Southern Vietanm in the 17th and 18th Centuries (Ithaca: Cornell University Press, 1998). Cũng xem thêm tiểu luận của bà, “An Alternative Vietnam? The Nguyen Kingdom in the 17th and 18th Centuries,” The Journal of Southeast Asian Studies 29.1 (1998): 111-121. Và Nola Cooke, “The Myth of the Restoration: Dang Trong Influences in the Spiritual Life of the Early Nguyen Dynasty (1802-47),” trong The Last Stand of Asian Autonomies, Anthony Reid biên tập (Melbourne: Macmillan Press, 1997), 269-295.

[22]Nola Cooke, “Nineteenth-Century Vietnamese Confucianization in Historical Perspective: Evidence from the Palace Examinations (1463-1883),” Journal of Southeast Asian Studies 25.2 (1994): 270-312.

[23]Nola Cooke, “The Composition of the Nineteenth-Century Political Elite of Pre-Colonial Nguyen Vietnam (1802-1882),” Modern Asian Studies 29.4 (1995): 741-764.

[24]Một ngoại lệ hứa hẹn là luận án gần đây của George Dutton, “The Tay Son Uprising: Society and Rebellion in Late Eighteenth-Century Vietanm, 1771-1802” (Luận án tiến sĩ, Đại học Washington, 2001)

[25] Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam, 298.

[26]Một tóm tắt về hệ thống triều cống có mặt trong quyển China among Equals: The Middle Kingdom and its Neighbors, 10th – 14th Centuries, Morris Rossabi biên tập, (Berkeley: University of California Press, 1983), 1-4.

[27]John K. Fairbank và S.Y.Teng, “On the Ch’ing Tributary System,” Harvard Journal of Asiatic Studies 6 (1941). Nhiều năm sau, Fairbank một lần nữa trình bày ý tưởng của ông về hệ thống triều cống trong tập sách The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge: Harvard University Press, 1968).

[28] James L. Hevia, Cherishing Men from Afar: Qing Guest Ritual and the Macartney Embassy of 1793 (Durham: Duke University Press, 1995), 14.

[29]Để đọc một phát biểu rõ ràng ủng hộ thuyết này, liên quan một giai đoạn cụ thể̉ lịch sử, xem bài “Tribute in Sino-Vietnamese Relations, 1788-1790,” của Trương Bửu Lâm, trong quyển The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge: Harvard University Press, 1968), 165-179.

[30]Keith W. Taylor, “China and Vietnam: Looking for a New Version of an Old Relationship,” trong The Vietnam War: American and Vietnamese Perspectives, Jayne Werner và Lưu Đoàn Huynh (New York: M.E. Sharpe, 1993), 271.

[31]Ví dụ, xem, Stephen O’Harrow, “Nguyen Trai’s Binh Ngo Dai Cao of 1428: The Development of a National Identity,” Journal of Southeast Asian Studies 10.1 (1979). Mặc dù bài viết này tương đồng với một số quan điểm trong nghiên cứu của tôi nói về cảm giác chia sẻ chung của giới sĩ phu Việt Nam đối với truyền thống văn hóa Đông Á, nhưng bài viết hình dung về một giới tinh hoa Việt Nam thống nhất biểu lộ sự ngang hàng của họ với Trung Quốc – đây là những tư tưởng mà nghiên cứu này của tôi nghi ngờ.

Nguồn: Liam C. Kelley, Beyond The Bronze Pillars, Honolulu: University of Hawiian Press, 2005, trang 9 – 23.

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

562. Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ” về quan hệ văn hóa Việt – Trung, lạm bàn với Liam C. Kelley

Đăng bởi anhbasam on 26/04/2010

Talawas.org – 9.9.2005

Hà Yên

Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ”

về quan hệ văn hóa Việt – Trung,

lạm bàn với Liam C. Kelley

1.

Với các khảo chứng lịch sử – văn hóa in đậm dấu ấn tinh thần dân tộc và ý thức tự chủ, lô-gích từ sự khác biệt cộng đồng tới sự khác biệt văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa dường như lâu nay đã trở thành một kết luận không còn xa lạ với những ai quan tâm tới vấn đề này; đồng thời cũng từng bước “xếp vào quá khứ” các quan niệm từng thịnh hành một thời rằng văn hóa Việt Nam chỉ là một bộ phận, một phái sinh của văn hóa Trung Hoa. Tất nhiên khi chứng minh, người ta không chỉ bắt đầu từ cảm quan hiện thực, đa số các trường hợp đều sử dụng những cứ liệu lịch sử bao chứa các yếu tố cơ bản có tư cách là tư liệu tiền đề. Và cũng tất nhiên, trước khi đưa ra các kết luận về lịch sử – văn hóa Việt Nam, cần thiết phải đặt nó trở về với bối cảnh phức tạp của các biến thiên lịch sử ở một quốc gia không có truyền thống làm sử chính xác và cập nhật, thêm vào đó là tình trạng thất lạc, mất mát do giặc giã thiên tai… Lại nữa, sự tồn tại và chen lấn của truyền thuyết, của huyền thoại, của các thành phần folklore khác không chỉ mang ý nghĩa bổ sung các nội dung lịch sử – văn hóa “bác học” mà đôi khi còn làm tăng thêm tính “mờ, nhòe” của một số sự kiện, cho dù có hoặc không được ghi chép. Nên tôi vẫn quan niệm, khi nghiên cứu lịch sử – văn hóa Việt Nam, có lẽ câu hỏi: “nó vốn là cái gì” thường khi lại quan trọng hơn câu hỏi: “nó vốn như thế nào?”; nói cách khác, trong từng trường hợp cụ thể, việc mô tả không quan trọng bằng việc tìm hiểu tại sao nó lại như thế… (?). Bởi vậy với một số vấn đề lịch sử – văn hóa Việt Nam, theo tôi góc nhìn duy lý và thực chứng chưa hẳn sẽ đem lại một kết quả thuyết phục và như ý.

Viết bài này, tôi không có may mắn và cũng không có khả năng (!) tiếp cận Beyond The Bronze Pillars (Đi qua những cột đồng) của Liam C. Kelley, tôi đành thỏa mãn với việc tìm hiểu một số quan niệm của ông trong “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung” qua bản dịch của Lê Quỳnh (talawas, 1.9.2005). Dẫu vẫn biết về nguyên tắc, muốn tìm hiểu một công trình khoa học cần đọc kỹ nguyên tác, song công việc này đối với tôi hiện tại là bất khả, nên việc đưa ra các nhận xét sai lạc là rất khó tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu coi bản dịch có nhan đề „Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung“ như một văn bản tóm lược các nội dung chủ yếu trong công trình của Liam C. Kelley thì tôi nhận thấy ở đó toát lên ý tưởng coi Việt Nam chỉ là một “tiểu Trung Hoa”, coi các luận điểm như bản sắc dân tộc, dòng văn chương chống ngoại xâm… chỉ là sự “phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ” và Liam C. Kelley đã không thuyết phục được tôi. Những luận chứng dưới đây có thể không có gì mới, có thể chỉ là biểu hiện của một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ”, có thể không bao giờ vọng tới Liam C. Kelley… nhưng tôi vẫn trình bày, và về thực chất, bài viết này chuyển tải các suy nghĩ nhiều hơn là đưa ra những ý kiến tranh luận mà ai đó có thể xem là “liều lĩnh”!

2.

Từ sự không tin cậy với ý kiến của nhiều tác giả nghiên cứu lịch sử – văn hóa Việt Nam ở trong nước và ngoài nước khi họ có các kết luận đại loại như: Việt Nam không phải là một “tiểu Trung Hoa”; Việt Nam có bản sắc riêng; việc gửi hàng trăm sứ thần đến thủ đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ chỉ là việc “giả vờ”; sự tồn tại của một dòng văn chương chống ngoại xâm… Liam C. Kelley muốn “thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung” xuất phát từ một tiền đề có thể coi là điển hình cho tinh thần thực chứng, ông viết: “Khi ta nhìn vào các nguồn tài liệu gốc chép lại câu chuyện về một sự kiện như cuộc chinh phục của Mã Viện, không có từ nào mà ta có thể dịch ra thành “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam.” Các tài liệu nguyên thủy chỉ chứa đựng tên các cá nhân (Trưng Trắc, Tô Định, Mã Viện…), chức danh chính thức của họ (thái thú, phục ba tướng quân), và tên một triều đại (Hán). Nếu chúng ta không thể định vị bất kì sự diễn đạt bản sắc nào trong tư liệu gốc (dù là “người Trung Quốc” hay “người Việt Nam”), thì làm sao chúng ta có thể lý luận rằng người Việt Nam nuôi dưỡng một xác tín có gốc rễ sâu sắc rằng họ “không phải là, và không muốn là, người Trung Quốc?”

Nghĩa là Liam C. Kelley yêu cầu phải có một (nhiều) tài liệu xác thực, cho phép chứng minh từ xa xưa trong các ghi chép lịch sử thành văn, hai khái niệm “người Việt Nam” và “người Trung Quốc” đã được xác lập và phân định rạch ròi. Nghĩa là về thao tác, Liam C. Kelley không nghiên cứu lịch sử để rút ra kết luận về lịch sử, ông xác lập một giả thuyết làm việc rồi khảo chứng lịch sử đặng tìm hiểu giả thuyết có khả năng đứng vững hay không, nếu không đứng vững tức là các kết luận ông thiếu tin cậy ở trên không có cơ sở tồn tại. Tôi nghĩ đây là một hướng nghiên cứu mang màu sắc chủ quan (?), xét về thao tác, ông đã tiến hành ngược chiều với yêu cầu ông đặt ra ở cuối bài: “Các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn tất nhiệm vụ vô cùng quan trọng là xem xét các ví dụ này trong ngữ cảnh văn hóa và lịch sử của chúng. Chỉ bằng cách làm như vậy, chứ không phải phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ, thì chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn về mối bất hòa Trung-Việt”. Để trả lời, để chứng minh các luận điểm ông còn chưa tin cậy, trong đoạn trích “Lời giới thiệu” của Đi qua những cột đồng, Liam C. Kelley viết: “Các tài liệu ở đây (bài thơ đi sứ) nói trực tiếp về quan hệ Trung – Việt, và chúng không nói gì về xung đột hay đối nghịch. Chúng không bộc lộ bất kì cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc, mà lại mô tả một sự khẳng định toàn diện về một trật tự thế giới mà quan hệ triều cống dựa vào và về vị trí phụ của Việt Nam trong thế giới ấy”.

Do chưa đọc Đi qua những cột đồng, nên tôi không biết Liam C. Kelley đã khảo sát những “bài thơ đi sứ” nào, của tác giả nào, nhưng tôi rất khó tin Liam C.Kelley đã nhận định chính xác, vì qua „Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung“ tôi hiểu ông nghiên cứu dựa trên nguyên tắc: văn bản, văn bản và văn bản; nếu văn bản không xác định thì tính hiện thực của sự kiện sẽ bị nghi ngờ (!?).

Tôi cũng từng đọc nhiều “bài thơ đi sứ”, tôi cũng nhận ra ở chúng thiếu vắng tinh thần “xung đột hay đối nghịch”. Song tôi coi đó là tình trạng hết sức bình thường, không bao hàm ý nghĩa, không phản ánh quan niệm về “vị trí phụ” của Việt Nam trong một trật tự do phong kiến Trung Hoa xác lập. Xưa kia cha ông chúng ta “đi sứ” không tương tự như các vị đại sứ của thế giới hiện đại, cũng không có một “dư luận quốc tế” nào ngõ hầu cứu giúp lúc nguy nan. Vị trí một nước nhỏ không cho phép thơ ca của các sứ giả được bày tỏ chí khí hay tinh thần tự tôn một cách công khai, thơ văn của họ trở thành những cảm tác tiêu dao, thành nơi thi thố tài năng với các quan lại, danh sĩ Trung Hoa… Mặt khác, do các tương quan luôn bất lợi nhiều mặt đối với Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ sau ngày giành lại độc lập ở thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, trong các giai đoạn hai nước đang giữ hòa hiếu thì theo tôi, chỉ có vị sứ giả nào “bất thường về tâm lý” mới bày tỏ thái độ đối đầu. Còn lúc hai nước nảy sinh bất đồng, đạo quân binh “thiên triều” đã thập thò nơi biên ải, đường về nước thì xa, sứ giả trở thành con tin, tính mạng “ngàn cân treo sợi tóc”, thậm chí một câu nói hớ hênh cũng đủ đưa sứ giả lên đoạn đầu đài…, thì thái độ nhún nhường, thần phục thật sự là lựa chọn khôn ngoan, tỉnh táo, đưa lại hy vọng cứu đất nước khỏi họa binh đao, và bảo toàn tính mạng của chính mình. Không rõ Liam C.Kelley đã tìm hiểu kỹ lưỡng về cái gọi là “đi sứ” ở phương Đông hay chưa, và việc ông không tìm thấy trong các bài thơ đi sứ thái độ “xung đột hay đối nghịch” và “cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc” có được đặt trong các mối liên hệ và bối cảnh phức tạp của lịch sử quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa từ hàng nghìn năm trước hay không? Đối với các đối tượng nghiên cứu có tính cách là sản phẩm của lịch sử – văn hóa, thao tác tách văn bản một cách tuyệt đối ra khỏi văn cảnh có thể đưa Liam C. Kelley tới một kết luận đối lập với kết luận của người khác, song tách văn bản một cách tuyệt đối ra khỏi văn cảnh cũng chính là một thao tác “siêu hình”, khu biệt sự vật hiện – tượng khỏi bối cảnh lịch sử và không gian sinh tồn của nó. Vậy, liệu kết luận rút ra có bảo đảm tính chính xác?

3.

Nếu dừng lại ở những luận điểm Liam C. Kelley trình bày trong “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung”, tôi tin ông không chú ý khảo sát các sử liệu Việt Nam – nơi theo tôi ý thức tự chủ của các triều đại phong kiến Việt Nam thường được trình bày khá nhất quán, ông tìm kiếm trong sử sách Trung Hoa, hiển nhiên ông sẽ không thể thâu lượm được bất kỳ một sử liệu nào đủ sức chứng minh tính xác thực trong giả thuyết khoa học của mình. Tôi chỉ băn khoăn: lẽ nào Liam C. Kelley không tiến thêm một bước nữa để lý giải lý do tại sao trong những ghi chép lịch sử do các sử gia phong kiến Trung Hoa thực hiện lại không đặt vấn đề phân biệt “người Trung Quốc” với “người Việt Nam”?

Tới hôm nay, chúng ta đều biết một “chân lý phổ biến” từng thống trị trong ý thức cai trị của các triều đại phong kiến Trung Hoa rằng: “phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ, suất thổ chi tân, mạc phi vương thần”. Và “mệnh Trời” với thiên tử (con trời) là đại diện, từ ngàn xưa đã tạo dựng nên một thái độ “cao ngạo” không dễ tìm thấy ở một dân tộc nào khác từ phương Đông sang phương Tây cùng thời. Đại Đường, Đại Tống, Đại Minh, Đại Thanh…, cùng các ý niệm “phên dậu”, “tứ di”, “phiên thuộc” dùng chỉ các quốc gia tồn tại quanh Trung Hoa tự thân đã nói lên điều các vua chúa Trung Hoa luôn muốn khẳng định (theo tôi, phải chăng đây là một lý do đưa tới việc các triều đại phong kiến Trung Hoa không coi trọng việc đặt tên nước và tên nước được lấy theo tên của triều đại trị vì?).

Vì thế quan hệ với các quốc gia “phên dậu”, “tứ di”, “phiên thuộc” trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Hoa cũng không có gì sáng sủa, nó được xác lập theo một biên độ rất rộng rãi, từ “ki mi” (lỏng lẻo) tới thiết lập một vương triều “thân Hoa”. Với Việt Nam, không chỉ từ thời Sĩ Nhiếp, ngay cả khi đoàn quân Tôn Sĩ Nghị thất trận, Càn Long cũng không thoát khỏi cái nhìn truyền thống, nên sách phong Nguyễn Quang Bình làm An Nam Quốc vương mới có đoạn cho thấy một thái độ “cao ngạo” đến mức nào: “Trẫm Vương hóa nơi xa xôi, phạt tội rồi tha cho qui phục. Ngươi được phong tước, giữ phận thờ nước lớn do đạo kính trời. Xét lòng thành kẻ hoang dã, tha chuyện cũ, ơn mưa móc tưới nhuần thuộc quốc. Vui mừng vận hội mới, rạng rỡ thay sủng ái ban ân, gắng sức lo bề huấn học[1] . Liam C. Kelley cũng nhận biết điều này khi ông tóm tắt: “Nói một cách tóm tắt, thì ít nhất kể từ nhà Thương (thế kỷ 18 – 11 trước CN), những dân tộc đầu tiên mà ta phân loại là “người Trung Quốc” đã cảm thấy rằng xã hội của họ, với hệ thống chữ viết và các lễ nghi phức tạp, ưu việt hơn hẳn các dân du cư lang thang nơi hoang mạc, đồng cỏ ở phía bắc và tây bắc và các dân tộc sống ở các vùng rừng rậm rạp ở miền nam. Trước điều mà họ xem là sự bất xứng này, người Trung Quốc cảm thấy thật lô-gích khi quan hệ với các dân tộc xung quanh cần diễn ra theo tôn ti trật tự. Dân tộc nào muốn có quan hệ với Trung Quốc, thì quan hệ đó phải bao gồm sự thừa nhận tính ưu việt của nhà cai trị Trung Quốc, Thiên tử, với việc phủ phục trước sân triều, và cống nạp phẩm vật”. [2]

Đáng tiếc là ông không đi xa hơn để tìm hiểu căn nguyên sâu xa vấn đề do ông đặt ra, trong bối cảnh đó, ông vẫn hy vọng tìm kiếm trong sử sách Trung Hoa một cái nhìn bình đẳng với các quốc gia “phiên thuộc” thì thiết nghĩ, đây thật sự là một hy vọng bất khả. Bản thân các triều đại phong kiến Trung Hoa không đặt ra vấn đề về sự bình đẳng giữa các quốc gia thì không lý gì họ phải đặt ra vấn đề phân biệt sự khác nhau giữa “người Việt Nam” với “người Trung Hoa”. Do đó yêu cầu thực chứng các ý niệm trên đây của Liam C. Kelley theo tôi là không thỏa đáng. Đòi hỏi của ông thật sự thoát ly khỏi một đặc trưng quan trọng của lịch sử – văn hóa Trung Hoa trong quá khứ.

4.

Về “hệ thống triều cống” thì, như đã nói ở trên, Liam C.Kelley nhận xét: “Kể từ khi người phương Tây tiếp xúc với hệ thống ngoại giao độc đáo này, họ đã cố gắng để hiểu cái lý lẽ đằng sau nó. Từ cái nhìn hiện đại của phương Tây về sự bình đẳng quốc gia, một hệ thống ngoại giao dựa trên bất bình đẳng là điều không thể chấp nhận theo nghĩa bề mặt của nó. Vì thế, các học giả tìm cách nhìn thấu qua cái “ngôn từ khoa trương” của hệ thống triều cống với hy vọng phát hiện ra một “thực tại” có thể hiểu được. Chắc chắn phải có một lý do lô-gích giải thích vì sao các vương quốc bên ngoài lại chấp nhận vị thế thua kém trong quan hệ này, một điều mà các nước phương Tây đã không chấp nhận ở thế kỷ 19 trong giao tiếp với Trung Quốc.” và ông không tin việc gửi hàng trăm sứ thần đến thủ đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ chỉ là việc “giả vờ”. Dường như theo ông, vấn đề triều cống là biểu thị cho tình trạng “thần phục tự giác”, chứ không phải là một “sách lược tự vệ” (xin nhấn mạnh – NH) của các triều đại phong kiến Việt Nam trước các triều đại phong kiến Trung Hoa. Và một lần nữa, tinh thần thực chứng lại được bộc lộ qua các câu hỏi và ý kiến do Liam C. Kelley trình bày: “Người ta có thể hỏi, làm thế nào các học giả biết rằng người Việt không tin vào tính chính đáng của hệ thống triều cống? Có bao nhiêu bằng chứng văn bản chứng tỏ những suy nghĩ này? Ở đây, tôi cho rằng có vô cùng ít bằng chứng. Ở phần lớn các trường hợp, các nhà nghiên cứu chỉ áp đặt sự diễn giải mà họ muốn lên quá khứ, bởi vì có rất ít chi tiết trong ghi chép lịch sử chứng tỏ một cách thuyết phục rằng người Việt không tin vào hệ thống triều cống. Chỉ khi người ta tách văn bản ra khỏi văn cảnh, và bổ sung những ý nghĩa mới cho chúng, thì người ta mới có thể thấy người Việt, trong chiều dài lịch sử, đã thách thức một nhãn quan về thế giới có trung tâm là Trung Quốc”.

Với các câu hỏi trên tôi nghĩ, Liam C. Kelley nghiên cứu lịch sử – văn hóa Việt Nam nhưng không chú ý tìm hiểu, không quan tâm tới những nội dung có tính “ngầm ẩn”, “phi văn bản” của lịch sử, nhất là lịch sử quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa xưa kia. Điều tôi nghĩ trên đây là có cơ sở, bởi thật “bất thường” khi các cuộc chiến tranh tương ứng giữa các triều đại: Tống – Lý, Nguyên – Trần, Minh – Lê, Thanh – Tây Sơn lại được ông kết luận khá giản đơn: “Chắc chắn có những lúc tồn tại mức độ đối kháng giữa một số dân tộc sống ở các lãnh địa mà nay ta gọi là Việt Nam và Trung Quốc”.

“Mức độ đối kháng” chứ không phải chiến tranh xâm lược, có lẽ Liam C. Kelley là người lần đầu tiên và là người cuối cùng rút ra một kết luận như vậy. Liệu có đáng ngờ? Đi tìm lô-gích bên trong của hệ thống triều cống, Liam C. Kelley lấy các bài “thơ đi sứ” làm đối tượng khảo sát, không tìm thấy trong đó “cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc”, ông không tin vào ý thức tự chủ và lòng tự tôn dân tộc của người Việt, và tôi cho rằng ông cũng không đi xa hơn những người đi trước.

Với vị trí của một quốc gia đông dân và rộng lớn, có tiềm lực quân sự, kinh tế, văn hóa vào bậc nhất châu Á trong suốt hàng nghìn năm trước thế kỷ XX, “cái bóng” đồ sộ của nước Trung Hoa phong kiến đã “phủ” xuống nhiều quốc gia, không chỉ ở xung quanh nó mà còn ảnh hưởng tới cả Nhật Bản. Trên thực tế, một cuộc chiến tranh dù nhỏ, do phong kiến Trung Hoa tiến hành cũng đủ làm tan hoang, kiệt quệ các quốc gia lân bang. Ngay cả những khi người Mông Cổ, người Mãn Châu vào Hoa Hạ, họ chỉ “chiến thắng” trong chốc lát rồi nhanh chóng bị đồng hóa đến mức gần như “không còn là mình” nữa. Sinh sống cạnh một quốc gia vĩ đại với những tiềm năng vĩ đại, nếu khôn ngoan, người ta không lựa chọn giải pháp đối đầu. Một sự “thần phục” trên danh nghĩa, “chấp nhận giữ một vai trò phụ” vẫn có lợi hơn đối đầu. Nhưng thiết nghĩ “chấp nhận giữ một vai trò phụ” không chuyển tải ý nghĩa về sự phụ thuộc, trong nhiều thời đoạn lịch sử, khi vận mệnh hay danh dự quốc gia bị xâm phạm, người Việt cũng không ngần ngại tuyên bố dứt khoát về sự tồn tại độc lập của mình (nếu Liam C. Kelley đã đọc Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng, ông sẽ thấy một trí thức Việt Nam đã mang trong mình một ý thức rõ ràng và cụ thể về tổ quốc của mình ra sao). Phải chăng đã có một “quy ước ngầm” giữa các triều đại phong kiến Trung Hoa với các triều đại phong kiến ở các quốc gia “phên dậu” về chính sách triều cống (liệu có thể coi sự lặp đi lặp lại từ đời này sang đời khác đã biến việc triều cống thành một “vô thức lịch sử”?). Phải chăng chính sách triều cống đã mang lại ích lợi cho cả hai phía:

- Phía các triều đại phong kiến Trung Hoa, việc được triều cống đưa tới hai lợi ích: một là khẳng định uy thế nước lớn, hai là lợi ích về kinh tế (có thể là không nhiều)?

- Phía các triều đại phong kiến ở các quốc gia “phiên thuộc”, đây là sách lược ngoại giao khá nhất quán của các nước nhỏ trong quan hệ với Trung Hoa thời quá khứ. Việc triều cống có thể ảnh hưởng ít nhiều đến kinh tế, ảnh hưởng tới quốc thể, song lại giúp vào sự ổn định, tránh “dính” vào các cuộc binh đao?

Với chính sách triều cống, Việt Nam không phải là ngoại lệ. Và tôi tin chưa bao giờ nó được các triều đại phong kiến Việt Nam thực hiện như một nghĩa vụ tự giác. Đọc các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục… người ta dễ nhận ra việc triều cống của các triều đình phong kiến Việt Nam có tương quan nhất định với tình trạng thịnh trị hay suy vi của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Khi một triều đại phong kiến Trung Hoa suy yếu, hoặc Trung Hoa đứng trước họa ngoại xâm… thì sự triều cống của Việt Nam cũng sinh ra chểnh mảng. Thậm chí vào thời hưng thịnh nhất của nhà Lê, lúc Việt Nam có một nhà nước đủ mạnh và khéo léo, thì việc triều cống không phải là đòi hỏi bức bách từ phía phong kiến Trung Hoa, cũng không là lý do để dậm dọa, dù cũng có lúc nhà Minh tỏ ra tức giận về thái độ “lảng tránh nghĩa vụ” này. Thiển nghĩ, ở đây không có một lô-gích nào cả, chỉ là những ứng xử sinh tồn bắt buộc giữa các cộng đồng lớn – nhỏ, mạnh – yếu mà thôi (xin nhấn mạnh – HY). Do vậy có thể đặt câu hỏi: Phải chăng ở đây, Liam C. Kelly đã trở về với cái nhìn coi “Trung Hoa làm trung tâm”, nếu không, tại sao ông quả quyết: “chắc chắn phải có một lý do lô-gích giải thích vì sao các vương quốc bên ngoài lại chấp nhận vị thế thua kém trong quan hệ này, một điều mà các nước phương Tây đã không chấp nhận ở thế kỷ 19 trong giao tiếp với Trung Quốc”? (Gần đây, đọc công trình nghiên cứu về nhà Mạc của TS Đinh Khắc Thuân có nhan đề Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia [3] , tôi cho rằng công trình nghiên cứu một triều đại ngắn ngủi mà trong bài viết Liam C. Kelley dành cho một câu: “Trong giai đoạn triều Lê, có hai sự “chia rẽ nội bộ” lớn. Chia rẽ đầu tiên bắt đầu khi một viên tướng thế lực, Mạc Đăng Dung, cướp ngôi năm 1527 và cai trị phần lớn vùng đất mà nay là miền bắc Việt Nam cho đến khi những người ủng hộ nhà Lê cướp lại kinh đô và “khôi phục” triều đại của họ vào năm 1592”, lại đưa tới một số cứ liệu lý thú có liên quan đến việc triều cống.)

5.

Dưới một tiêu đề nhỏ mang tính cách một câu hỏi: “Dòng văn chương chống ngoại xâm?”, Liam C. Kelly bày tỏ sự nghi ngờ của mình về dòng văn chương này, ông viết: “Thay vì xem những trường hợp trong quá khứ – khi một số người Việt chiến đấu chống lại quân Trung Quốc trong khi những người khác hợp tác – như những chương lịch sử phức tạp và xáo trộn, nhiều học giả lại chọn cách tưởng tượng, trong cảm tình dành cho các quan điểm dân tộc của người Việt hiện đại, một quá khứ mà trong đó một dân tộc Việt thống nhất liên tục đứng lên bảo vệ quê hương chống lại láng giềng phương bắc luôn gây hấn. Tuy nhiên, để làm như vậy, các nhà nghiên cứu buộc phải lướt qua những tư liệu gây bối rối trong lịch sử”. Và ông dẫn ra những câu thơ của Nguyễn Huy Túc – vốn là quan của triều Lê, bày tỏ niềm vui khi thấy quân Thanh vào Việt Nam, ông nhắc tới hai câu thơ Nôm của Nguyễn Thế Nghi, lại nữa là một giai thoại dưới hình thức “tiếu lâm” có liên quan tới “sứ Tàu”. Đặc biệt hơn là việc Liam C. Kelley đánh giá Bình Ngô đại cáo từ một góc nhìn dễ gây bất ngờ, thậm chí kinh ngạc với những ai đã tiếp xúc và hiểu ý nghĩa của văn bản này. Ông viết: “Một sự xem xét kỹ lưỡng hơn về khung cảnh khi văn bản này được thảo lại cho thấy nó không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, mà Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”.

Tôi không rõ Liam C. Kelley đọc Bình Ngô đại cáo ra sao, căn cứ vào những câu chữ nào để rút ra kết luận kể trên, nhưng quả thật nếu bằng vào nhận xét của ông về Bình Ngô đại cáo, tôi khẳng định ông không hiểu triệt để về văn bản này, ít nhất là về mặt thể loại. Nếu Liam C. Kelley nắm được thể loại “cáo” là gì, ông sẽ biết về bố cục, phần mở đầu bài “cáo” bao giờ cũng dành (nhằm) nêu lên một tư tưởng chính trị, một quan niệm đạo đức… làm cơ sở biện luận. Theo đó, tư tưởng chính trị của Bình Ngô đại cáo thể hiện ở những câu mở đầu:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một nước văn hiến.

Cõi bờ sông núi đã riêng,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

Song hào kiệt không bao giờ thiếu…” [4]

Có lẽ, không cần phân tích về phần mở đầu này, tự nó đã nói lên tất cả. Tôi trích lại vì muốn khẳng định Liam C. Kelley đã đưa ra một nhận xét “méo mó” về Bình Ngô đại cáo khi coi nó: “không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, mà Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”. Sự “cảnh báo nghiêm khắc” cũng là một thành phần của văn bản, song đó không phải là mục đích, nội dung chủ yếu của Bình Ngô đại cáo. Vả lại, nếu không có một ý thức tự chủ, một “niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc” thì hà cớ gì sau khi giành lại độc lập, vua tôi nhà Lê lại phải quan tâm “cảnh báo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”? Với các sự vật – hiện tượng thuộc về văn hóa tinh thần, khi nghiên cứu, người ta không thể bỏ qua hai vấn đề quan trọng là “tính biểu tượng” và “mã văn hóa”. Hai vấn đề ấy, một khi bị tách ra khỏi văn cảnh thì chỉ còn là những nội dung đã bị tước bỏ sinh khí, bị cắt đứt các mối liên hệ cơ bản quyết định sự ra đời và tồn tại của sự vật – hiện tượng.

Tôi không rõ Liam C. Kelley đã đọc bao nhiêu tác phẩm đủ để ông tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của “dòng chương chống ngoại xâm” trong lịch sử Việt Nam trung đại. Chỉ riêng việc ông đọc và đưa ra nhận xét về Bình Ngô đại cáo cũng giúp tôi hiểu ông đọc không nhiều, không đọc trong tương quan với lịch sử liên tục phải đương đầu với các cuộc xâm lược của phong kiến Trung Hoa. Còn về các câu thơ của những tác giả như Nguyễn Huy Túc ư? Tôi không phủ nhận sự hiện hữu của chúng, song tôi không coi đó là “văn chương chính thống” của cha ông. Vả lại, trước các thử thách cam go trong quá khứ, việc xuất hiện một hai xu hướng “phi chính thống” cũng là chuyện lạc lõng bình thường (điều này có lẽ cần được giải thích từ tư tưởng “trung quân”, từ mặc cảm tự ti và tâm lý nhược tiểu, thậm chí từ thái độ vị kỷ và cơ hội… vốn rất dễ nảy sinh trong cảnh loạn ly?), chỉ cần biết đó không phải là một trong các xu hướng chủ đạo. Những bài thơ như thế không được lưu giữ trong ký ức cộng đồng. Nói cách khác, chúng không đủ sức đẩy tới cái mà Liam C. Kelley gọi là “những tư liệu gây bối rối trong lịch sử”… Khảo sát văn chương thời trung đại ở Việt Nam, người ta không quan tâm đến những câu thơ như của Nguyễn Huy Túc, khảo sát văn hóa, người ta càng bỏ qua, vì đó là nỗi sỉ nhục, là vết nhơ, là sự xúc phạm danh dự cộng đồng.

Cuối cùng, xin bàn về bình luận của Liam C. Kelley sau khi ông kể lại một giai thoại gắn với tên tuổi của Nguyễn Thế Nghi, và trong trường hợp này tôi nghĩ, ông chưa tường minh lắm về những giai thoại mà ở Việt Nam, vẫn được xem như là văn hóa – văn chương dân gian, ông bình luận: “Câu chuyện có vẻ tóm tắt thực chất của cách người Việt nhìn mỗi quan hệ với láng giềng phương bắc. Tuy nhiên, ở đây một lần nữa chúng ta cần xem xét ngữ cảnh ghi chép và bảo quản những câu chuyện như vậy. Câu chuyện này thuộc thể loại “giai thoại”. Giai thoại là những câu chuyện giới tinh hoa ghi lại để giải trí. Chúng có thể vui nhộn. Chúng có thể bí ẩn. Nhưng dù nội dung có thế nào, mục đích là để giải trí… chúng ta cũng cần thận trọng không nên diễn giải việc giải trí như là thực tại”.

Bảo rằng “giai thoại là những câu chuyện giới tinh hoa ghi lại để giải trí. Chúng có thể vui nhộn. Chúng có thể bí ẩn. Nhưng dù nội dung có thế nào, mục đích là để giải trí” thì xem ra Liam C. Kelley chưa nắm bắt được nguồn gốc của giai thoại và rộng hơn là nguồn gốc của văn chương dân gian, chưa nắm bắt được một mục đích quan trọng của giaí thoại là bày tỏ thái độ của dân chúng trước các vấn đề xã hội, và giải trí không phải là mục đích cuối cùng, duy nhất. Các giai thoại có liên quan tới “sứ Tàu” được lưu truyền ở Việt Nam trước hết là sản phẩm văn chương dân gian, chúng có nguồn gốc “lưỡng hợp”, vừa có thể là sản phẩm ra đời từ dân gian, vừa có thể do một (nhiều) người thuộc tầng lớp tinh hoa sáng tạo rồi “dân gian hóa”. Sự thận trọng là cần thiết, song không thể căn cứ vào sự ghi chép các giai thoại của giới tinh hoa để nói rằng giai thoại (kiểu như trong truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn…) chỉ nhằm mục đích giải trí. Sự “ngạo mạn nước lớn” của các triều đại phong kiến Trung Hoa xưa kia đôi khi còn đi theo các vị “sứ Tàu” tới các nước thuộc “tứ di”, sử sách Việt Nam còn ghi lại không ít sự phẫn nộ của quan lại và dân chúng trước thái độ ngông ngạo một số vị “sứ Tàu”. Trong khi triều đình cố gắng nhún nhường để giữ hòa khí, thì giai thoại về “sứ Tàu” chẳng lẽ không phải là sự bày tỏ thái độ căm phẫn bằng cách thức “hài hước hóa” đối tượng bị căm ghét hay sao?

Còn khá nhiều ý kiến của Liam C. Kelley trong “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung” buộc tôi phải suy nghĩ, như với câu hỏi: “cái nơi mà chúng ta giờ đây gọi là Việt Nam đúng hơn đã từng là một vùng của sự giao tiếp văn hóa, một khu vực biên nơi mà việc anh là ai không quan trọng bằng việc anh làm gì?” chẳng hạn. Để kết thúc, xin dẫn lại một ý kiến – như là một sự tri ân, đó là lời GS Trần Quốc Vượng mà tôi đã ghi trong một lần nghe ông giảng bài: “người Việt Nam đã phải học người Trung Hoa hàng nghìn năm để chiến thắng người Trung Hoa, người Việt Nam đã phải học người Pháp hàng trăm năm để chiến thắng người Pháp”, và tôi đồng tình với ý kiến của người thầy đáng kính.
NH – 05.9.2005

© 2005 talawas

—————–

[1]Xem: Hồ Bạch Thảo, “Bằng chứng về việc vua Càn Long thay đổi chính sách, qua hai đạo sắc phong vua Lê Chiêu Thống và Quang Trung”, talawas 23.6.2005

[2]Liam C.Kelley, “Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt – Trung”, talawas 1.9.2005, chú thích số 26: “Một tóm tắt về hệ thống triều cống có mặt trong quyển China among Equals: The Middle Kingdom and its Neighbors, 10th – 14th Centuries, Morris Rossabi biên tập, (Berkeley: University of California Press, 1983), 1-4”.

[3]Đinh Khắc Thuân, Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2001.

[4]Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 282.

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | Leave a Comment »