BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Quan hệ Việt-Trung’ Category

496. TƯ DUY BIỂN CẢ CỦA TRUNG QUỐC

Đăng bởi anhbasam on 08/03/2010

TƯ DUY BIỂN CẢ CỦA TRUNG QUỐC

Đinh Kim Phúc *


Các học giả Việt Nam đã đến Paris nhưng Hội thảo về biển Đông ở Pháp đã không diễn ra như mọi người kỳ vọng.

“Hủy bỏ”

Chúng tôi buộc lòng phải hủy bỏ hội thảo mà chúng tôi đã lên kế hoạch cho ngày 27 và 28 tới tại Pantin, về chủ đề “Biển Đông: điều kiện nào để bảo đảm hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực ?”.

Quyết định này buộc phải đưa ra vì một thực tế là có một số lượng lớn người trình bày vừa cho chúng tôi biết rằng có những nghĩa vụ khác, hoàn toàn cấp bách đối với họ, cuối cùng đã không cho phép họ nhận lời mời của chúng tôi.

Trong điều kiện đó, sự khởi xướng của chúng tôi không thể có được đặc điểm mà chúng tôi muốn nó có để cho phép đề cập đến chủ đề vốn rất phức tạp này trong những điều kiện tốt.

Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng rằng có thể tổ chức hội thảo này trong đầu nửa năm nay vào một ngày mà chúng tôi sẽ thông báo cho quý vị trong thời gian sớm nhất có thể”.

Quỹ Gabriel Peri đưa ra lý do hủy bỏ cuộc hội thảo khá đơn giản khó mà thuyết phục được dư luận. Người ngoài cuộc khó có ai hiểu được lý do chính xác, nhưng có điều cần nhấn mạnh là có thể tư tưởng “Chủ quyền thuộc ngã” kết hợp với tin tức báo chí cùng thời gian dự định tiến hành đã ngăn cuộc hội thảo lại.(1)

Mặc dù trước đó Quỹ Gabriel Peri đã rào trước đón sau: “Biển Đông cũng là đầu mối những quan hệ căng thẳng giữa các nước quanh bờ: Trung Quốc Việt Nam, Malaysia, Brunei, Đài Loan…và các cuộc xung đột về chủ quyền xảy ra ngày càng nhiều một cách quan ngại.

Trong bối cảnh này, việc xác định chủ quyền của các nước liên quan đối với các đảo lớn nhỏ, việc duy trì một môi trường hoà bình, ổn định, bảo đảm tự do hàng hải, việc gìn giữ môi trường và tài nguyên, cũng sự hợp tác trong việc cứu hộ ngư dân trong khu vực đòi hỏi các bên hữu quan phải cùng nhau hành động để tìm kiếm những giải pháp khả dĩ trước tiên là giảm bớt, sau đó là loại bỏ những sự căng thẳng.

Trong những thập niên vừa qua nhiều nỗ lực đã được triển khai (Tuyên bố 1992 của ASEAN; Tuyên bố về hành xử của các bên ở Biển Đông, được kí kết giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002). Đó là những nỗ lực đáng khích lệ nhưng còn rất không đủ.

Tham vọng cuộc hội thảo do Quỹ Gabriel Peri chủ trương là soi sáng những cái được mất liên quan tới các vấn đề chủ quyền. Đây không phải là lúc đối chọi những quan điểm ủng hộ bên này, chống đối bên kia, mà là thời điểm để suy ngẫm nghiêm túc trên cơ sở lịch sử khu vực và trên nền tảng pháp lý quốc tế”.


Nhà nghiên cứu Hồng Lê Thọ đã nhấn mạnh: “Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang cố gắng dùng lời lẽ ngọt ngào trong đàm phán ngoại giao, với những thông điệp rất êm tai như “hòa bình”, “hữu nghị”, “láng giềng thân thiện”… hay gần đây nhất là “sơn thủy tương liên, văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan” của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào khi đề cập đến quan hệ Trung-Việt nhưng bên trong và hành động trên thực tế hoàn toàn trái ngược, áp đặt “một chiều” để lấn át  và răn đe thô bạo kiểu Trung Quốc. Nhìn hạm đội của Trung Quốc trong tư thế vũ trang sẵn sàng chiến đấu, thao dượt rầm rộ trên biển Đông và liên tục bắt bớ tàu đánh cá, đánh đập ngư dân Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa, xem biển Đông và Nam Trung Hoa như ao nhà, người ta không thể không cảnh giác trước uy hiếp về quân sự của Trung Quốc. Tư tưởng biên giới lãnh thổ mở rộng và luôn biến động theo tầm địa lý của lợi ích quốc gia trong một số nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc càng kích động những người quá khích chạy theo chủ nghĩa dân tộc ích kỷ và bành trướng, đưa nguy cơ xung đột ngày càng có điều kiện bùng nổ bất cứ lúc nào.

Không thể xây dựng niềm tin trên sự giả dối và càng không thể thương thảo khi đối tác lăm lăm gươm giáo, đằng đằng sát khí, với mùi khét của khói súng lãng vãng bên cạnh. Lời nói phải đi đôi với việc làm với thái độ tự trọng và biết kiềm chế, tương kính lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để tìm lối thoát hợp lý và công bằng vì một nền hòa bình và ổn định dài lâu để cùng phát triển phải chăng là một đòi hỏi quá đáng hay ngược lại đang nằm trong tầm tay của các nhà lãnh đạo Trung Quốc nếu họ chấp nhận từ bỏ tư tưởng Đại Hán?”(2), Tác giả Hồng Lê Thọ kêu gọi: “Với tình hình quốc tế hiện nay, việc “đa phương hóa” hay”quốc tế hóa” vấn đề biển Đông đã có được những tiền đề vô cùng thuận lợi, không nhất thiết phải lo lắng thái quá trước động thái phá hoại hay ngăn cản từ một phía nào đó, mà theo chúng tôi chẳng qua là họ bắt buộc phải lên tiếng hung hăng như bao lần, vẫn cứng cổ rằng “không thể tranh cãi” trong yêu sách ngoan cố về chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông ngang ngược và trái khoáy với “chiếc lưỡi bò” lãnh hải vô căn cứ “do lịch sử để lại”. Trước khi chấp nhận một giải pháp đa phương, nhà đương cuộc của Trung Quốc có thể có hành động làm càn, ra tay trước để thị uy. Vì vậy việc cảnh giác trước mọi động thái hiếu chiến và khả năng sử dụng vũ lực của Trung Quốc nhằm chiếm đoạt toàn bộ quần đảo Trường Sa, Việt Nam cần phải có phương án để đối phó một cách hữu hiệu và nâng cao nhận thức bảo vệ chủ quyền hải đảo trong nhân dân hơn bao giờ hết”.(3)

Để phụ hoạ thêm cho những “thủ thuật” của các nhà ngoại giao Trung Quốc, các học giả Trung Quốc trong thời gian gần đây đã đưa ra các “bằng chứng” về chủ quyền của họ trên biển Đông như: Thời Tần (từ năm 221 trước công nguyên đến năm 207 trước công nguyên), đã thành lập Quận Nam Hải quản lý nhiều đảo tại biển Hoa Nam trong đó bao gồm cả quần đảo Tây Sa; thời Hán (từ năm 206 trước công nguyên đến năm 220 sau công nguyên), từng cử các chuyên gia biển tới tuần tra khu vực Tây Sa; Thời Lưu Tống (từ năm 420 – 479 sau công nguyên) đã đưa quần đảo Tây Sa vào phạm vi tuần biển của Thủy quân Quảng Nam; Thời Nguyên (1271 – 1368), Quách Thủ Kính từng tiến ra biển Hoa Nam đo đạc và trong bản đồ “Quảng Hưng” vẽ ra sau đó đã đánh dấu quần đảo Tây Sa và gọi là khu vực “Thiên Lý Trường Sa”; Thời Minh (1368 – 1644), khi Trịnh Hoà đến Đại Tây Dương đều nghỉ ngơi tại Tây Sa…

Như chúng ta đã biết, nhiều lần các tác giả Trung Hoa đã khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo tranh chấp từ đời nhà Hán. Tuy nhiên, có tác giả Trung Hoa lại xác định là những tài liệu sớm nhất ghi chép sinh hoạt của người Trung Hoa trên những đảo này, thuộc đời nhà Tống (thế kỷ XIII).

Khảo sát nhiều bản đồ Trung Quốc từ năm 1949 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ nước Trung Quốc dù là do các nhà hàng hải phương Tây hay do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa-Trường Sa). Tất cả bản đồ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.

Bản đồ 1:

Bản đồ Trung Quốc năm 1625 của Samuel Purchas

(Nguồn:http://www.raremaps.com/gallery/detail/23040/The_Map_of_China/Purchas.html)

Bản đồ 2:

China Veteribus Sinarumregio nunc Incolis Tame dieta năm 1636 của Hondius,

Jodocus & Jansson, Jan

(Nguồn: http://www.old-church-galleries.com/stock_9711.asp)

Bản đồ 3:

Bản đồ Trung Quốc năm 1655 của Blaeu/Martini

(Nguồn: www.helmink.com/Antique_Map_Blae…hina.jpg)

Bản đồ 4:

Bản đồ Trung Quốc năm 1781 của Bellin, J.N

Nguồn: (http://www.swaen.com/antique-map-of.php?id=9652)

Bản đồ 5:

Bản đồ Trung Quốc năm 1812 của Arrowsmith and Lewis

(Nguồn: http://maps.library.umass.edu/raster/other_historical/arrow.html)

Bản đồ 6:

Bản đồ Trung Quốc năm 1855 của J.H. Colton

(Nguồn: http://www.philaprintshop.com/china.html)

Bản đồ 7:

Bản đồ Trung quốc vẽ năm 1910 thời Nhà Thanh

(Nguồn: http://www.drben.net/files/China/ChinaMaps-ALL/Historic_Maps/Qing_Dynasty-1644-1911/_Ancient_Maps__Asia_-_Chinese_Empire_1910-S_op_800×611.jpg)

Bản đồ 8:

Bản đồ Trung Quốc năm 1936 của Sheng Bao

(Nguồn: http://commons.wikimedia.org/wiki/File:China_old_map_1936.jpg)

Bản đồ 9:

Bản đồ Trung Quốc năm 1947

(Nguồn:http://commons.wikimedia.org/wiki/File:1947_Zhonghua_Minguo_Quantu.png)

Những luận cứ và luận chứng kể trên càng được củng cố hơn khi chúng tôi phát hiện ra hàng loạt bản đồ cổ của Trung Quốc thì cương vực phía Nam của Trung Quốc cũng chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam. Các học giả Trung Quốc lý giải ra sau về bằng chứng này?

Bản đồ 10:

Đường Đại Cương Vực Đồ (bản đồ Triều Đường)

(Nguồn: http://commons.wikimedia.org/wiki/File:Tang_map.jpg)

Bản đồ 11:

Bản đồ đời Tống vẽ trên đá

(Nguồn: http://commons.wikimedia.org/wiki/File:Song_Dynasty_Map.JPG)

Bản đồ 12:

Đại Minh Hỗn nhất đồ, được vẽ trên vải lụa vào năm 1389, nhưng với chú thích bằng tiếng Mãn Châu được viết trên giấy gió dán chồng lên bản đồ này nhiều thế kỷ sau đó.

Đây là bản đồ Trung Quốc cổ nhất còn sót lại.

(Nguồn: http://geog.hkbu.edu.hk/GEOG1150/Chinese/Catalog/am31_map1.htm)

Với những luận chứng như đã kể trên, tính xác thực trong những chuyến hải trình chinh phục biển cả trong lịch sử Trung Quốc nhất là của Trịnh Hòa “Tam Bảo Thái giám hạ Tây Dương” cần phải được xem xét lại một cách khoa học và nghiêm túc.

Đầu tiên có thể nói rằng, những chuyến đi của Trịnh Hòa không phải là để chinh phục biển cả cũng như không phải để củng cố hay xác lập chủ quyền trên các nơi mà ông ta đã đi qua như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Ấn độ… huống chỉ là những quần đảo rải rác trên biển Đông mà các nhà khoa học của Trung Quốc thường nhấn mạnh!

Bản đồ 13:

Hành trình của Trịnh Hòa

Sử liệu của những chuyến “Tây Dương” đã bị bị làm sai lệch bởi các học giả Trung Quốc hiện nay nhằm gây ấn tượng rằng ở thế kỷ XV, Trung Quốc đã từng thám hiểm mặt biển không thua kém gì các quốc gia Âu Châu thời kỳ tiền tư bản và coi cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa có tầm vóc ngang hàng với Columbus.

7 chuyến hải du của Trịnh Hòa đã đưa ra một minh chứng đầy ấn tượng về khả năng tổ chức và sức mạnh công nghệ của Trung Quốc lúc bấy giờ, nhưng đã không mở ra thời kỳ chính sách trọng thương cho đất nước này và cho cả thế giới cũng như không mở ra thời đại phát kiến địa lý (năm 1424 Minh Thành Tổ chết. Người kế nghiệp là hoàng đế Minh Nhân Tông (trị vì từ năm 1424 đến năm 1425), đã quyết định hạn chế ảnh hưởng của nội cung. Trịnh Hòa cũng đã thực hiện một chuyến đi nữa dưới thời trị vì của Minh Tuyên Tông (trị vì từ năm 1426 đến năm 1435), mở đường cho những cuộc di dân ồ ạt của người Hoa (Triều Châu, Phúc Kiến, Quáng đông….) nhưng sau đó những chuyến tàu giao thương của người Trung Quốc đã chính thức chấm dứt. Nhà Minh bắt đầu chính sách bế quan tỏa cảng bằng chỉ dụ Hải cấm).

Nhưng có một điều chắc chắn, đó là các sự hỗ trợ của chính quyền cho hoạt động hàng hải đã suy giảm nghiêm trọng sau các chuyến đi của Trịnh Hòa. Từ đầu thế kỷ XV Trung Quốc đã phải chịu áp lực ngày càng tăng từ các bộ lạc Mông Cổ mới trỗi dậy ở phía Bắc. Năm 1421 vua Minh Thành Tổ đã dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh như là một sự thừa nhận sự hiện hữu của mối đe dọa này cũng như là để gần với khu vực quyền lực của dòng họ này. Từ kinh đô mới ông có thể kiểm soát tốt hơn các cố gắng nhằm bảo vệ biên cương phía Bắc. Với phí tổn đáng kể, Trung Quốc hàng năm đều phải có các cuộc viễn chinh nhằm làm suy yếu người Mông Cổ. Các phí tổn cho các chiến dịch trên bộ này đã cạnh tranh trực tiếp với ngân sách cần thiết dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải.Trong hoàn cảnh đó, ngân khố dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải đơn giản là không còn nữa.

Nói một cách khác, không giống như các chuyến thám hiểm sau này của các quốc gia châu Âu, các tàu thuyền chở của cải của người Trung Quốc dường như bị hao hụt dần đến cạn kiệt sau các chuyến đi dài, do các chuyến đi này thiếu động cơ kinh tế. Chúng chủ yếu để làm tăng uy thế của hoàng đế và các chi phí cho chuyến đi cũng như tặng phẩm cho các vị vua chúa và sứ giả nước ngoài còn lớn hơn cả các món lợi thu được từ các cống phẩm. Vì thế khi tài chính của chính quyền nhà nước bị áp lực, thì các ngân quỹ dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải không thể có nữa. Trái lại, vào thế kỷ XVI, phần lớn các chuyến thám hiểm của người châu Âu là có đủ lãi từ các hoạt động thương mại cũng như từ thành công trong việc xác lập một chế độ cai trị thuộc địa, sự chiếm đoạt các nguồn tài nguyên và đất của bản xứ đã có thể tự trang trải, cho phép họ có thể tiếp tục thám hiểm mà không liên quan nhiều đến ngân khố quốc gia.(4)

Tóm lại, tư duy biển của các nhà cầm Trung Quốc từ thời Trung đại cho đến trước năm 1949 cũng chỉ là tư duy tập trung vào “nội địa”, đối phó với Mông Cổ và vùng Trung Á, xem biển là rào chắn thiên nhiên đối với bên ngoài, chỉ cần lệnh “Hải Cấm” là đủ vì vậy ý thức chủ quyền biển đảo của các chế độ ở Trung Hoa dừng lại đảo Hải Nam và không vượt quá hải đảo ven bờ cận duyên. Tư duy nầy đã phản ánh rõ nét khi chúng ta khảo sát các bản đồ của chính người Trung quốc vẽ(như bản đồ 8-12) ở trên, phù hợp với những bản đồ cổ của người Phương tây trong suốt thời gian tương ứng (xem bản đồ từ 1-7) . Hơn thế nữa, lãnh thổ của nước Trung Hoa ở theo sách lược phương Nam của Tôn Trung Sơn cũng chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam như bản đồ dưới đây.

Bản đồ 14:

Bản đồ: “TÔN TRUNG SƠN TIÊN SINH kiến quốc PHƯƠNG LƯỢC ĐỒ”

(Nguồn:http://commons.wikimedia.org/wiki/File:%E5%AD%AB%E4%B8%AD%E5%B1%B1%E5%85%88%E7%94%9F%E5%BB%BA%E5%9C%8B%E6%96%B9%E7%95%A5%E5%9C%96.jpg

Bản chất của chính sách Đại Minh đã được phân tích rõ: “Trong tình hình tài chính phủ phê, Vĩnh Lạc đế(nhà Minh) tích cực thúc đẩy chính sách vươn ra bên ngoài để chứng tỏ uy thế của mình, xem Trung Hoa là trung tâm của thế giới. Về mặt mậu dịch trên biển, Vĩnh lạc đế đã kế thừa “Hải cấm chính sách” của Hồng Vũ đế không những ngăn cấm thương gia trung quốc ra bên ngoài mua bán mà còn cấm chỉ việc đóng tàu viễn dương, buộc những tàu đi biển khơi chuyển sang tàu chuyện chở đường thủy nội địa có cấu tạo bằng đáy ngang, Vĩnh lạc đế khống chế việc giao thương của thương nhân trung quốc nhưng lại mở rộng việc mậu dịch triều cống (5), ông ta liên tục gửi các đoàn sứ thần sang Triều Tiên,Việt Nam, Xiêm La, Chân Lạp, Java…Từ năm 1405 Vĩnh lạc quyết tâm cho một đoàn tàu đi về Nam Hải với qui mô lớn chưa từng thấy và đã chọn Trịnh Hòa, vốn là người theo đạo Hồi vượt đại dương tất cả 7 lần, dài 10 vạn hải lí với số tùy tùng, phục dịch trên 27,000 người/lần trong suốt 28 năm”. (6)

Tất cả điều nầy cho thấy chủ thuyết “Hán-di”(tư tưởng lấy nước Trung Hoa là trung tâm và các chư hầu chung quanh là man di mọi rợ) đã hình thành sau khi Nhà Minh chinh phục được Mông Cổ ở phương bắc và Việt Nam ở phương Nam.

Ban lãnh đạo nhà nước Trung Quốc  ngày nay cố tình nhấn mạnh tên tuổi của Trịnh Hòa còn có giá trị khác phù hợp với ý chí của Trung Quốc hiện đại: “Trịnh Hòa từng khoanh vùng ở Đông Nam Á và Trung Quốc đã từng vươn ra các châu lục”(!).

Cuối cùng, nói đi nói lại dù cho lời hay ý đẹp cũng là “Chủ quyền thuộc ngã” khi muốn ôm trọn biển Đông ở phương Nam hay những hòn đảo, đá… ở biển Đông Trung Hoa như Senkaku, Okinotori (Nhật Bản) mang tính chiến lược của ý đồ bành trướng mà lãnh đạo Trung Quốc vẫn ấp ủ từ lâu.


Chú thích:

(1) Xem:

- VN sẽ thất bại trong quốc tế hóa Biển Đông

(Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/02/100228_china_vietnam_sea.shtml)

- VN-TQ tăng cường quan hệ quốc phòng

(Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/03/100302_viet_china_defence.shtml)

2) Hồng Lê Thọ, “Chủ quyền thuộc ngã” – Từ “Gác lại” đến “Cưỡng đoạt”: Sách lược thực dụng và thâm độc trong tranh chấp chủ quyền biển đảo của Trung Quốc

(Nguồn: http://bauvinal.info.free.fr/)

(3) Hồng Lê Thọ, Cộng đồng quốc tế quan tâm đến biển Đông tiền đề của “quốc tế hóa”

(Nguồn: http://bauvinal.info.free.fr/)

(4) Tham khảo thêm:

- Momoki Shiro, Đại Việt và Mậu Dịch Vùng Biển Nam Hải từ Thế Kỷ Thư 10 đến Thế kỷ Thứ 15 (Nguồn: http://www.gio-o.com/NgoBacMomokiShiro15.htm)

- Li Tana, Một Cái Nhìn Từ Ngoài Biển: Viễn Cảnh Về Bờ Biển Bắc Và Trung Phần Việt Nam (Nguồn: http://www.gio-o.com/NgoBacLitanaBien(.htm)-

- Charles Wheeler Một Vai Trò Hợp Lý Của Biển Đối Với Lịch Sử Việt Nam? Xã Hội Duyên Hải Trong Thế Giới Mậu Dịch Của Hội An, thời khoảng 1550-1830

(Nguồn: http://www.gio-o.com/NgoBacCWheeler1.htm)

- John K. Whitmore Sự Trổi Dậy Của Miền Duyên Hải: Mậu Dịch, Quốc Gia và Văn Hóa Thời Ban Sơ Của Đại Việt (Nguồn:http://www.gio-o.com/NgoBacJohnWhitmoreBien1.htm)

(5) Điều nầy có ghi trên bản đổ của Matteo Ricci và bản đồ của Ricci cũng phản ánh tư tưởng nầy của Nhà Minh

Xem: Đinh Kim Phúc, Những phát hiện mới chung quanh tấm bản đồ thế giới của Matteo Ricci, Số Xuân Diễn Đàn.

(Nguồn: http://vtunnel.com/index.php/1010110A/fab14b5db5385e41333b264dba28f7173fe398010076ba824be1c17b4071f579ed2d03a87acd2d012eb6bd8873ce4ed07977c7eab0e01ffc76e28189e3e441cbd7ba692d72178f14766f1fc77fb6c36cef92a09e92cfbaff1b1c9eaa482d0898e8f2b9dab83b2715462)

(6) Cuộc Đại Viễn Chinh Nam Hải của Trịnh Hòa—trang 99. GS Miyazaki Masakatsu, đại học Giáo Dục Hokkaido (NB) NXB Chukoshinsho 1997.

—–

* Ba Sàm bổ sung: Cùng một tác giả:

+ Những lập luận mâu thuẫn của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa (Đại đoàn kết)

+ 295. Hai trang web: ĐCSVN và ĐSQ Hàn Quốc

+ 296. Mục Lân, An Lân, Phú Lân? (Vanchuongviet.org)

+ 299. TRUNG QUỐC VI PHẠM CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ!

+ 303. TAM GIÁC TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN-PHILIPPINES TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

+ 305. QUAN HỆ TRUNG-NHẬT-BÀI HỌC CHO VN.

+ 318. THÀNH NGỮ “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ”

+ 321. “THẤT TRẢM SỚ”

+ 333. VẤN ĐỀ TÊN GỌI BIỂN ĐÔNG TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

+ 343. ĐỔI TÊN GỌI BIỂN ĐÔNG CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

+ 366. TỪ BÃI CÁT VÀNG CHO ĐẾN HOÀNG SA-TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

+ 423. KẾ HOẠCH “TẰM ĂN DÂU”

+ 438. HOÀNG SA-TRƯỜNG SA MÃI MÃI LÀ CỦA VIỆT NAM

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | 1 Comment »

492. Trung Quốc rối trí vì các dãy đảo của Nhật

Đăng bởi anhbasam on 05/03/2010

ASIA TIMES

Trung Quốc rối trí vì các dãy đảo của Nhật

Peter J Brown

Ngày 4-3-2010


Đảo Okinotori của Nhật Bản, nơi có một địa chỉ bưu điện của Tokyo mặc dù  nó nằm ở phía nam cách thủ đô 1.770 km và trên thực tế nó chỉ là một cặp đảo nhỏ xíu, nhưng nó đã trở thành một khúc xương khó nuốt trong việc tranh chấp đối với Trung Quốc.

Cùng với các vấn đề khác, Trung Quốc không công nhận tình trạng hòn đảo, thay vào đó, xem nó như là một đảo san hô vòng, dải đá ngầm hay đơn giản chỉ là một hòn đá. Làm như vậy, Trung Quốc hy vọng sẽ giảm tốc độ thực hiện kế hoạch của Nhật Bản trong việc thiết lập vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) ở đó. Tranh chấp ở Okinotori, mà Nhật Bản gọi là Okinotorishima, vẫn còn dai dẳng bởi vì nó liên quan tới mối quan ngại mang tính chiến lược và các quyền lợi về nguồn tài nguyên dưới đáy biển ở khu vực tương đương với toàn bộ khu vực đất đai rộng lớn trên bốn hòn đảo chính của Nhật.

Tại hội nghị về phát triển nguồn tài nguyên dưới đáy biển do trường Đại học Kyushu đăng cai hồi tháng 12 năm ngoái, có các chuyên gia đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên và các nơi khác tham dự, đã nhấn mạnh đến những tầng địa chất mangan giàu chất cobalt quanh vùng Okinotori. Mặc dù “các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú” tại khu vực này cũng thường xuyên được Trung Quốc đề cập tới, nhưng lại thiếu chi tiết.

Trong hội nghị về Biển Đông Á ở Manila hồi tháng 11 năm ngoái, bản đệ trình của Nhật Bản lên Ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa Liên hiệp quốc (CLCS) tháng 3 năm 2009 đã được thảo luận. Tài liệu này đã nêu ra bảy khu vực nằm giữa Nhật Bản và Philippines gồm 740.000 km vuông. Ngoài việc đòi chủ quyền có khả năng chồng lấn với yêu sách của Hoa Kỳ và Cộng hòa Palau – không liên quan tới Okinotori – Nhật Bản phải đương đầu với cả Trung Quốc lẫn Cộng hòa Triều Tiên (Nam Triều Tiên), quốc gia đã đệ trình các đơn kiện hồi năm ngoái lên CLCS, liên quan tới những hành động của Nhật Bản tại Okinotori. [1]

Khi Đảng Dân chủ của Nhật Bản, đứng đầu là Thủ tướng Yukio Hatoyama, lên cầm quyền vào năm ngoái, họ đã không bỏ phí thời gian khi tuyên bố rằng Nhật Bản đang dùng số tiền 7 triệu đô la trong năm 2010 để tạo dựng một công trình tại Okinotori trong một nỗ lực nhằm thiết lập thế đứng vững chắc của mình ở đó. Số tiền này có vẻ lớn, nhưng chưa tới 3% trong tổng số tiền của Nhật chi ra nhằm duy trì hòn đảo xa xôi này. Hàng trăm triệu đô la đã được người Nhật sử dụng trong suốt hai thập kỷ qua.

Giờ đây Nhật Bản nhận ra là mình đã mắc nợ Việt Nam, dù là gián tiếp. Việt Nam đang đưa ra những mâu thuẫn lạ lùng mà nước này đã phát hiện ra trong vụ tranh chấp của Trung Quốc chống lại Nhật Bản trong trường hợp này.

Việt Nam, cùng với các quốc gia Đông Nam Á khác, có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Năm ngoái, chính phủ Việt Nam đã đệ trình lên CLCS một bản báo cáo cấp quốc gia về giới hạn thềm lục địa của nước mình “trải dài 200 hải lý bên ngoài đường cơ sở quốc gia, nằm ở phía bắc của Biển Đông [tên Việt Nam gọi cho Biển Nam Trung Hoa]“. Việc này xảy ra hồi cuối tháng 8.

Việt Nam cùng với Malaysia cũng đệ trình một báo cáo chung lên CLCS về thềm lục địa của cả hai nước, “kéo dài 200 hải lý tính từ đường cơ sở ở phần phía nam Biển Đông”.

Bản báo cáo quốc gia của Việt Nam và bản báo cáo đứng tên chung của Việt Nam với Malaysia đã được Quốc hội Nhật thừa nhận trong phần đầu của bộ luật ban hành năm 2010, cho phép chính phủ trung ương – không phải chính quyền địa phương – quản lý và kiểm soát cả đảo Okinotori và thậm chí cả đảo Minamitori ở rất xa, phía đông nam Tokyo – xa hơn Okinotori khoảng 290 km.

Trong khi Trung Quốc phủ nhận toàn bộ các hành động này của Nhật Bản, coi đó là không hợp pháp, thì Trung Quốc lo lắng nhìn qua vai mình, người Việt Nam táo bạo hơn trước.

“Việc xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ không thay đổi vị trí pháp lý của dải đá ngầm Okinotori”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Khương Du tuyên bố trong cuộc họp báo ngắn hồi tháng 1 và cho biết thêm là điều này vi phạm luật biển quốc tế. [2]

Năm 1931 Nhật Bản đã đòi chủ quyền đối với Okimotori, cũng được biết đến với cái tên là dải Đá ngầm Douglas hay là Vòng cung Parece, như là bộ phận của xã Ogasawara thuộc quận Tokyo, và đặt tên chính thức cho nó là Okinotorishima.

“Người Nhật đòi chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa quanh Okinotorishima dựa trên nhiều yếu tố”, theo lời Trợ lý Giáo sư Peter Dutton thuộc Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc của trường cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ”. Trước hết, các học giả Nhật tuyên bố rằng Okinotorishima là một hòn đảo đủ tiêu chuẩn theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) quy định về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà trong đó duy trì được các hoạt động kinh tế, mặc dù bên ngoài nhìn vào nó chỉ rộng không quá 10 m vuông khi thủy triều lên cao.

“Lập luận này có giá trị mong manh nhất dựa theo luật quốc tế hiện thời. Người Nhật có vẻ nhận ra thực tế này và đã đưa ra cơ sở pháp lý thứ hai, cụ thể là Nhật Bản có những lợi ích mang tính lịch sử lâu dài ở Okinotorishma, những vùng biển lân cận, và các nguồn tài nguyên xung quanh dưới đáy biển. Theo quan điểm của Nhật, những lợi ích này đã được củng cố qua thời gian thành những quyền lợi được bảo vệ một cách hợp pháp”.

Trung Quốc nhắm vào điều 121 của UNCLOS, định nghĩa một hòn đảo như là “một vùng đất được hình thành một cách tự nhiên, có nước biển bao bọc, nằm trên mực nước biển lúc thủy triều lên cao”. Trung Quốc chỉ ra rằng, nó như là một hòn đá theo quy định trong điều này – các hòn đá không thể giữ vững chỗ ở cho con người hoặc cho đời sống kinh tế – bởi vì một hòn đá tự nó không thể được sử dụng để đòi vùng đặc quyền kinh tế hay kéo dài thềm lục địa ở dưới mặt nước biển trong một vùng biển tương đối nông cạn.

Hành động như thể mình có vị trí hợp pháp theo UNCLOS, Trung Quốc đã bất ngờ mở cánh cửa cho Việt Nam, và Việt Nam đã nắm lấy cơ hội đó.

Tầm chiến lược quan trọng của Okinotori mà ai cũng có thể nhận ra rằng nó nằm ở vị trí giữa căn cứ quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ trên đảo Guam và Đài Loan. Trong khi các quyền lợi chiến lược của Trung Quốc và Nhật Bản khác nhau trong cuộc tranh chấp này, thì nhu cầu tự do đi lại của Trung Quốc trên biển ngày càng tăng.

Ông Dutton nhận xét: “Trung Quốc đã đặt cược vào vị trí pháp lý để loại bỏ tình trạng hợp pháp của các hoạt động quân sự nước ngoài ở EEZ của quốc gia ven biển. Phản đối của Trung Quốc đối với các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trong vùng EEZ của mình là dựa trên quan điểm pháp lý này. Mặt khác, khi sức mạnh hải quân Trung Quốc gia tăng trong vài thập kỷ qua, chiến lược của Trung Quốc trong việc kiểm soát các hoạt động khắp Đông Á vào lúc diễn ra cuộc khủng hoảng cũng được suy ra từ đó. Trong thời gian khủng hoảng, Trung Quốc hiện có những khát vọng thách thức các cường quốc hải quân bên ngoài trong việc kiểm soát các vùng biển giữa chuỗi đảo đầu tiên và thứ hai”. (Chuỗi đảo đầu tiên bao quanh Biển Hoàng Hải, Biển Đông Trung Hoa và Biển Nam Trung Hoa – tức Biển Đông. Chuỗi thứ hai bao quanh vùng Biển Nhật Bản, Biển Philippines và Biển Indonesia).

Điều này đặt Trung Quốc vào một vị thế khó xử để nói lên điều tối thiểu nhất.

“Để giữ vững lập trường trong việc đòi Hoa Kỳ ngưng các hoạt động quân sự ở trong và ở trên vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, thì Trung Quốc không cần thực hiện các hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản bao quanh Okinotori. Như thế, để duy trì các lợi ích an ninh của riêng họ, Trung Quốc từ chối công nhận yêu sách chủ quyền của Nhật Bản”, ông Dutton nói.

Trước hành động của Việt Nam, mục tiêu chính của Nhật ở đây đã lịch sự bỏ qua sự phản đối của Trung Quốc và bảo đảm rằng, trên tất cả mọi thứ, Okinotori không thể chìm dưới biển.

“Không có sự thay đổi về bản chất của vụ tranh chấp. Nhật Bản đã trồng san hô ở Okinotori để bảo đảm chắc chắn tình trạng của nó như “một hòn đảo”, trong khi Trung Quốc chỉ trích [và khẳng định rằng] đó là một ‘mỏm đá’, để không cho phép Nhật có vùng đặc quyền kinh tế”, ông Yukie Yoshikawa, nhà nghiên cứu kỳ cựu tại Trung tâm Reischauer thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á ở Washington, DC, nói.

Trồng san hô ở đó chỉ là một trong những biện pháp mới nhất của Nhật Bản, bao gồm cả việc đổ hàng tấn bê tông, với chi phí lên tới $ 280 triệu đô la, bao bọc lấy cả hai đảo nhỏ, cũng như bao phủ chúng bằng một tấm lưới titanium, tốn thêm $50 triệu đô la.

Năm 2005, Nhật Bản đã gắn một tấm biển lớn, có địa chỉ trên đó “Đảo Okinotori 1, Làng Ogasawara, Tokyo“, để tất cả mọi người nhận ra ngay khi họ tới. Ngay sau khi tấm biển được gắn lên, thống đốc Tokyo, ông Shintaro Ishihara đã chụp tấm ảnh cho thấy ông hôn tấm biển và vẫy tay chào quốc kỳ Nhật Bản. Lúc đó ông có mặc áo cứu sinh trên mình. [4]

Khi Trung Quốc cố gắng thuyết phục các nước còn lại ở châu Á rằng, những gì Nhật Bản đang làm lúc này thực sự gây nguy hại cho các nước láng giềng, Việt Nam lắc đầu không đồng ý.

Ông Wang Hanling, một chuyên gia trong vấn đề hàng hải và luật pháp quốc tế, thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói: “Nếu những nỗ lực của Nhật Bản thành công, các nước khác sẽ không được phép đánh cá hay chia sẻ các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú trong khu vực hiện được xem là vùng biển quốc tế. Ngoài ra, đối với một số nước láng giềng như Trung Quốc và Hàn Quốc, việc tự do đi lại trên biển của các đội tàu cùng một số tuyến đường chính trong khu vực cũng sẽ bị cản trở. Điều đó sẽ gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia”.


Trong khi giao thiệp với Nhật Bản, đôi lúc Trung Quốc đã nêu ra vấn đề công bằng, thủ đoạn chắc phải làm Hà Nội tức cười.

Ông Jin Yongming, một nhà nghiên cứu tại Học viện Khoa học Xã hội Thượng Hải, nói: “Việc đòi chủ quyền của Nhật Bản ở Okinotori, mỏm đá nằm giữa Đài Loan và đảo Guam, là một vị trí chiến lược quan trọng đối với lợi ích Nhật Bản. Nhưng việc này gây nguy hại đến lợi ích trong việc đi lại của các quốc gia khác cũng như ảnh hưởng đến việc khảo sát trên biển, xung quanh khu vực Okinotori, và điều đó đi ngược lại nguyên tắc công bằng”.[4]

Trung Quốc bắt đầu nhận ra rằng lập trường của họ ở đây có thể có tác dụng ngược, ngày càng trở nên rõ ràng. Việt Nam vẫn tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là đảo Tây Sa – ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), trong khi quần đảo Trường Sa, hoặc Trung Quốc gọi là Nam Sa, đang tranh chấp bởi Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia.

Đầu năm 2009, hoặc có thể trước đó, Việt Nam bắt đầu đưa ra “các rạn san hô và các đảo” làm luận cứ để cãi với Trung Quốc khi Trung Quốc nêu ra quy định của UNCLOS trong trường hợp họ phản đối Nhật Bản, và nói đại ý rằng, “Chờ chút, Trung Quốc, các ông đang tranh cãi [với Nhật] đúng y như chúng tôi đang cãi với các ông ở Biển Đông”.

Việt Nam lập luận rằng, lúc thì Trung Quốc khẳng định Okinotori không thể có đặc quyền kinh tế hoặc xác định giới hạn thềm lục địa, vì đó là một đảo san hô, rạn san hô hoặc đá và không có sự sống độc lập về kinh tế, và lúc khác Trung Quốc lại khẳng định rằng cái gọi là “quần đảo” ở biển Đông tất cả có đời sống kinh tế độc lập để họ có thể đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý gồm 80% Biển Đông.

Nghe như có vẻ không đúng, hoặc ít ra không phải điều mà Trung Quốc đang làm là điều họ muốn làm. Chủ quyền của các đảo ở Biển Đông thực sự không phải là tâm điểm của vấn đề bởi vì Việt Nam tranh cãi rằng “không một quốc gia nào có thể đòi đến 80% vùng biển Đông trên cơ sở đòi chủ quyền của những hòn đảo này”. [5]

Nói cách khác, hãy nhìn kỹ và một người có thể phát hiện ra hàng chục đảo “Okinotoris” nhỏ rải rác ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Trung Quốc chỉ hy vọng rằng phần còn lại của thế giới – ít nhất là phần còn lại của thế giới đã chạy theo nỗ lực của Trung Quốc gây thất bại cho Nhật Bản – sẽ không nhận ra chúng.

“Dường như Việt Nam đang đưa ra tín hiệu rằng họ sẽ được thỏa mãn với chủ quyền trên các quần đảo và để lại hầu hết vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) như vùng biển quốc tế. Ngụ ý quan điểm của Việt Nam là Việt Nam củng cố việc đòi chủ quyền của mình bằng chi phí của Trung Quốc, đó là hầu hết vùng Biển Nam Trung Hoa sẽ mở ra cho tất cả các nước đánh cá và khai thác nguồn tài nguyên dưới đáy biển “, ông Dutton nói.” Đó không phải là kết quả của việc Trung Quốc đòi chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)”.

(Ghi chú của người dịch: theo quan điểm đòi đảo Okinotori của Trung Quốc mà đem áp dụng ở Biển Đông thì Trung Quốc chẳng được gì cả, và đó không phải là điều Trung Quốc muốn, Trung Quốc muốn tới 80% cả biển lẫn đảo ở vùng Biển Đông.)

Đồng thời, nếu Trung Quốc cố gắng chống lại chiến thuật khôn khéo này của Việt Nam, thì họ đang làm một việc không mang lại hiệu quả cao. Quả thực, Trung Quốc làm ra vẻ như họ không nhìn thấy Việt Nam ở đây (ghi chú người dịch: Trung Quốc cố tình làm lơ, không nhìn thấy quan điểm mà Việt Nam đang tranh cãi với Trung Quốc ở chỗ này).

“Điều này cho thấy Trung Quốc ở vào tình thế khó xử hơn mà họ vẫn chưa công khai bắt đầu giải quyết”, ông Dutton nói.

Quyết định của Bắc Kinh xây dựng một khu nghỉ mát sang trọng tại Hoàng Sa ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã không có lợi cho tình hình.

“Đầu tháng 1 năm 2010, [Việt Nam] yêu cầu Trung Quốc từ bỏ các dự án, mà [Việt Nam] nói rằng đó là nguyên nhân gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình”, ông Yoshikawa nói.

Tuy nhiên, khi ông Chen Bingde, người đứng đầu Bộ Tổng tham mưu thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và là thành viên Ủy Ban Quân sự Trung ương, đã gặp Nguyễn Chí Vinh, Phó Bộ trưởng Bộ quốc phòng Việt Nam tại Bắc Kinh vào đầu tháng Ba, không có đề cập đến tranh chấp này, [hoặc nếu có đề cập mà] không công khai.

Trung Quốc năng nổ trong các vấn đề hàng hải bất chấp sự phản đối. Ví dụ như mới hồi tháng trước, Trung Quốc đã hoàn thành việc xây dựng 13 trạm hải đăng trên các hòn đảo và dãi đá ngầm ở Biển Đông Trung Hoa, là một phần của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng và trong quá trình phát triển. Một ngọn hải đăng mới tại Waikejiao [được dựng lên] là phần bổ sung mới nhất.

“Bởi vì Nhật Bản và Trung Quốc có khuynh hướng nhìn vào chính sách đối ngoại trên mối quan hệ định hướng – chứ không theo chính sách về sự kiện của Washington – nếu cả hai nước đang có mối quan hệ tốt, mà bạn có thể nói trong lúc này, vấn đề đảo Okinotori sẽ được giải quyết để không ảnh hưởng đến mối quan hệ “, ông Yoshikawa nói.

(Ghi chú: chính sách đối ngoại của Trung Quốc – Nhật dựa trên quan hệ tổng thể giữa hai nước trong thời gian dài, quyết định điều gì tốt nhất cho quan hệ hai nước, khác với Washington, đối ngoại qua từng vụ việc, khi có chuyện thì giải quyết từng vấn đề)

Nhật Bản dường như không phải chịu bất kỳ hậu quả nào khi họ tiến hành kế hoạch trên đảo Okinotori.

“Tôi không thấy có chuyện gì xảy ra trong tương lai gần, đây là vấn đề bên ngoài mà nhiều khả năng ảnh hưởng đến mối quan hệ tổng thể giữa Trung Quốc – Nhật Bản “, ông Yoshikawa cho biết. (Ghi chú: ông Yoshikawa muốn nói rằng mối quan hệ tổng thể của 2 nước Nhật – Trung ảnh hưởng tới vấn đề đảo Okinotori hơn là vấn đề đảo Okinotori ảnh hưởng tới quan hệ hai nước)

Tuy nhiên, Trung Quốc có lý do chính đáng để họ kiên trì các nỗ lực của mình ở đây, bất kể điều đó có làm cho Nhật Bản bực mình hay không.

Ông Dutton nói: ” Trung Quốc không thể làm gì hơn trong việc Nhật Bản đòi chủ quyền, khi Trung Quốc đưa ra tuyên bố như thế về chủ quyền của họ ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), tuy nhiên, có lẽ Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách ngoại giao đối với việc đòi chủ quyền của Nhật Bản để bảo vệ quyền tự do hành động quân sự của Trung Quốc trong vùng biển xung quanh Okinotori. “

Peter J Brown là nhà báo tự do từ tiểu bang Maine, Hoa Kỳ

1.) EAS CONGRESS 2009 HIGHLIGHTS , Nov 24, 2009
2.)Beijing slams Tokyo move on atoll, China Daily, Jan 8, 2010
3.)Japan and China Dispute a Pacific Islet , New York Times, July 10, 2005
4.) Japan atoll expansion ‘hurts neighbors’, China Daily, Feb 11, 2010
5.) Vietnam delimits its continental shelf in UN report. Vietnamnet, Aug 2009

Người dịch: Ngọc Thu

* Mời đọc thêm: 305. QUAN HỆ TRUNG-NHẬT-BÀI HỌC CHO VN; 430. TQ,VN,NB.Ai phải lo lắng về những đốm núi lửa ở Thái Bình Dương?; 444. Biển Động.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , , , , | 5 phản hồi »

489. Mạ bạc lớp vải lót che phủ mối oán cừu VN, TQ

Đăng bởi anhbasam on 02/03/2010

The Straits Times

Mạ bạc lớp vải lót che phủ mối oán cừu Việt Nam, Trung Quốc


Bài của Mitton, thông tín viên tại Việt Nam

Ngày 4-2-2008


HÀ NỘI – Thật khó cho những kẻ ngoài cuộc để hiểu về mối thù hận của hầu hết người Việt Nam đối với Trung Quốc.

Hiếm khi được nói ra công khai, nó tuôn trào trong những cuộc đàm luận riêng tư với sự dữ dội đáng kinh ngạc.

Lời nói nhanh và mạnh mẽ, và ngôn ngữ thì một mạc dân giã.

Sớm ngay sau ngày tới đây vào tháng 6-2006, tôi đã gặp một quan chức ở một bộ do sự giới thiệu của người bạn ở Washington.

Qua tuần trà vào buổi chiều tại một trong những khách sạn hàng đầu tại Hà Nội, ông hỏi han về những câu chuyện có thể thu hút sự chú ý của tôi tại Việt Nam. Tôi nói với ông rằng, giữa mọi vấn đề khác nhau, mối quan hệ của nước ông với Trung Quốc sẽ là chủ đề then chốt.

Những nước láng giềng cộng sản có những nền kinh tế đang bùng nổ, những hệ thống chính trị được sao chép và đang được vá víu trên bối cảnh của thế giới, hãy còn chìm đắm và lâng lâng gắn bó bên nhau tựa như trên chiếc xe goòng nhào lộn.

‘Nó là một thứ quyến rũ theo kiểu mối quan hệ yêu-ghét,’ tôi nói.

Ông ta cứng cỏi đáp: ’Ông bảo yêu-ghét, nhưng sự thật mà nói, chả có tình yêu nào ở đó cả.’

Trong vòng 18 tháng kể từ đó, tôi đã được nghe vô số lần những ý kiến tương tự được lặp đi lặp lại bởi những cán bộ đảng, những doanh nhân, học viên các học viện, sinh viên và thậm chí cả những nông dân nghèo khó.

Tuần trước, anh Bùi Văn Thắng, một nhân viên bán hàng trẻ của một công ty xuất nhập khẩu tại đây, đã giải thích về thái độ không ưa thích đối với người Trung Quốc: ’Họ cố gắng thống trị chúng tôi và cướp đất đai của chúng tôi.’

Quả thực, sự phản kháng ở đây bị dồn nén bởi quan niệm rằng Trung Quốc đã phỗng mất đất đai lãnh thổ của Việt Nam và họ đã không ngừng cố gắng giành lại nó.

Lãnh thổ đang tranh chấp bao gồm hai nhóm đảo – Trường Sa (Spratly) và Hoàng Sa (Paracels) – cưỡi trên lưng những vỉa dầu và khí gas to lớn, những vùng hải sản dồi dào và những tuyến hải hành chiến lược trên Biển Nam Trung Hoa, nơi Việt Nam gọi là Biển Đông.

Theo lời ông Nguyễn Trần Bạt, chủ tịch Tập đoàn Tư vấn Đầu tư, một trong những hãng tư vấn thương mại hàng đầu của Việt Nam: ’Trung Quốc sẽ hiểu rằng những hành động của họ trên Biển Đông gây lo ngại cho nhà nước chúng tôi và làm dân chúng tôi nổi giận. Nhiều người Việt Nam không còn muốn tới thăm Trung Quốc. Tôi đã có kế hoạch đi, nhưng sau những sự kiện vừa qua, tôi đã hủy bỏ chuyến đi của mình.’

Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã thiết lập một trung tâm hành chính cho các đảo, tiết lộ các kế hoạch xúc tiến du lịch ở đó và tổ chức diễn tập quân sự trên biển. Các động thái đã gây phẩn nộ cho Hà Nội và dẫn đến những cuộc phản kháng rầm rộ chống Trung Quốc trước Tòa Đại sứ và xung quanh lãnh sự quán nước này ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Truyền thông do nhà nước kiểm soát cũng có ảnh hưởng, đều đặn đăng những câu chuyện nói về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, thường có những tấm ảnh với những ngôi sao nhỏ hiên ngang xung quanh là các chiến sĩ trẻ với gương mặt hồ hởi được trở lại nơi đồn trú trên đảo.

Tháng trước, Thanh Niên, một trong hai tờ báo có số ấn bản bán ra cao nhất cả nước, đã tạo điểm nhấn trên toàn trang nhất với dòng tít: ’Trường Sa, máu thịt của Việt Nam.’

Ở dưới, là dòng tin: ’Trung Quốc đã thực hiện cuộc chiếm đóng Hoàng Sa từ hơn 30 năm trước, song quần đảo thân yêu thuộc về tất cả người dân Việt Nam, những người đã mong ước có ngày được đến thăm đảo.’

Các đơn vị Trung Quốc đã tràn lên chiếm vị trí của quân đội Việt Nam trên Hoàng Sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974, và chiếm đóng quần đảo từ đó.

Với dấu hiệu qua hàng tít cao ngay trên trang đầu như vậy trong ngày kỷ niệm sự kiện thì chỉ có thể được che đỡ với sự chấp thuận của các nhân vật cấp cao trong đảng ở đây.

Nó cũng đã xuất hiện suốt ngày đầu tiên trong chuyến viếng thăm của Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Gia Khiêm tới Bắc Kinh để thảo luận cho sự phê chuẩn vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Với lập trường của Hà Nội được thể hiện qua biểu đồ nguyên tắc bằng phương tiện truyền thông quốc gia, và với việc Bắc Kinh lặp lại vị thế của mình rằng các quần đảo là thuộc về Trung Quốc không thể thay đổi, sẽ có một chút lo ngại cho những cuộc bàn thảo chẳng đi tới đâu.

Song hai bên cũng đã đồng ý rằng một tiến trình được ‘xử lý đúng mức’ cho những tranh chấp lãnh thổ sẽ là giải pháp tốt nhất để hướng tới. Tuy nhiên, không bên nào chịu thay đổi những tuyên bố chủ quyền trong quá khứ về các quần đảo.

Bất chấp những ý kiến phản đối và tiêu cực, vẫn có một số lý do để lạc quan.

Nhìn chung đã có sự công nhận rằng bằng việc thỏa thuận ‘xử lý đúng mức’ mọi vấn đề, hai bên thể hiện họ sẽ tìm cách tránh để xảy ra những xung đột quân sự.

Ông Bạt nói:’Hai chính phủ đã tỏ ra khôn ngoan hơn trong việc đảm bảo cho tình thế không thể tồi tệ hơn. Họ biết là sẽ không được gì nếu như gây nên sự xáo động vào lúc này.’

Tất nhiên, những phản kháng chống Trung Quốc và bài báo khích động trên Thanh Niên đã được bù đắp bởi sự tiếp đón và quảng bá nồng ấm đối với một chuyến thăm viếng hữu nghị của đại biểu đến từ Trung Quốc vừa qua.

Truyền thông Việt Nam cũng đã đưa tin lạc quan về ngày kỷ niệm lần thứ 58 thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Cũng đã có một nỗ lực hiện tại nêu bật những mối liên kết kinh tế đang phát triển.

Việt Nam nhập khẩu hầu hết hàng hóa cho trong nước từ Trung Quốc, với thương mại song phương đạt tới mức 15 tỉ US dola (21 tỉ dola Singapore) vào năm ngoái.

Thậm chí có thể đạt mức cao hơn khi một số dự án cơ sở hạ tầng được khởi động.

Ngân hàng Phát triển Châu Á đang đưa vào Việt Nam 896 tỉ US dola để xây dựng một tuyến đường cao tốc 244 km từ Hà Nội tới Lào Cai, trên biên giới với Trung Quốc.

Nó sẽ nối tới thành phố Côn Minh (Kunming) của Trung Quốc đi qua một con đường cao tốc đã hoàn thành được hai phần ba. Từ đó sẽ tạo nên một hành lang vận tải tốc hành từ thủ phủ đang phát triển vượt bậc của tỉnh Vân Nam (Yunnan) tới cảng nước sâu Hải Phòng của Việt Nam.

Một đường cao tốc nối liền khác, giữa Nam Ninh (Nanning) và Hải Phòng, cũng đang được xây dựng.

Thế rồi, khi hàng hóa, khách du lịch tuôn chảy và qua lại, và biên giới Việt-Trung trở nên liền một giải, niềm hy vọng rằng những mối oán cừu lâu đời sẽ tan biến và hai nước láng giềng sẽ trở thành, may quá, những hàng xóm ăn ở thuận hòa.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

———
The Straits Times

Silver lining to Vietnam, China animosity

Roger Mitton, Vietnam Correspondent

February 4, 2008 Monday

HANOI – IT IS hard for an outsider to understand the animosity most Vietnamese feel towards China.

Rarely voiced in public, it gushes forth in private conversations with stunning vehemence.

The words flow thick and fast, and the language is blunt and earthy.

Soon after arriving here in June 2006, I met a ministry official recommended to me by a friend in Washington.

Over afternoon tea at one of Hanoi’s top hotels, he inquired about the kind of stories that might interest me in Vietnam. I told him that, among other things, his country’s relations with China would be a key topic.

The communist neighbours have booming economies, mirror-image political systems and rising clout on the world stage, yet their bilateral ties dip and soar like a roller-coaster.

‘It is a fascinating kind of love-hate relationship,’ I said.

He stiffened, and said: ‘You say love-hate, but speaking frankly, there is no love there.’

In the 18 months since, I have heard the same sentiment repeated countless times by party cadres, entrepreneurs, academics, students and even lowly rice farmers.

Last week, Mr Bui Van Thang, a young salesman at a wine import-export company here, explained his dislike of the Chinese: ‘They try to dominate us and take our territory.’

Indeed, the antagonism here is driven by the view that China has stolen Vietnamese territory and ruthlessly repels attempts to reclaim it.

The disputed territory comprises two groups of islands – the Spratlys and the Paracels – which straddle major oil and gas deposits, rich fishing grounds and strategic sea lanes in the South China Sea, which Vietnam calls the East Sea.

Said Mr Nguyen Tran Bat, chairman of the Investconsult Group, one of Vietnam’s top business advisory firms: ‘China should understand that its actions in the East Sea upset our government and infuriate our people. Many Vietnamese no longer want to visit China. I had planned to go, but after recent events, I have cancelled my visit.’

Over recent months, China set up an administrative centre for the islands, revealed plans to promote tourism there and held military exercises in the area. The moves inflamed Hanoi and resulted in noisy anti-Beijing protests in front of the Chinese Embassy here and around the consulate in Ho Chi Minh City.

The state-controlled media weighed in too, regularly running stories about Vietnam’s right to the islands, often with photographs of buxom starlets surrounded by eager young soldiers about to return to the offshore garrisons.

Last month, Thanh Nien, one of the two top selling newspapers in the country, splashed over its entire front page the headline: ‘Paracels, Vietnam’s flesh and blood.’

Underneath, it reported: ‘China made a grab for the Paracels more than 30 years ago, but the islands are dear to all Vietnamese, who long one day to be able to visit them.’

Chinese forces overran Vietnamese troops on the Paracels on Jan 19, 1974, and have occupied the islands since.

Such a high-profile front-page feature on the anniversary of the event could only have been carried with approval of senior party figures here.

It also appeared on the first full day of Vietnamese Foreign Minister Pham Gia Khiem’s visit to Beijing to discuss the sovereignty issue.

With Hanoi’s position graphically staked out in its state media, and with Beijing reiterating its stance that the islands are irrevocably Chinese, it was little wonder the talks went nowhere.

But the two sides did agree that a process of ‘properly handling’ territorial disputes would be the best way forward. Still, neither side budged from its historic claim to all the islands.

Despite the acrimony and negative sentiment, there is still some cause for optimism.

It is generally accepted that by agreeing on ‘properly handling’ the issue, both sides mean they will seek to avoid any military conflict.

Mr Bat said: ‘The two governments are intelligent enough to make sure the situation does not get worse. They know there is nothing to be gained by triggering unrest at this time.’

Certainly, the anti-China protests and the provocative article in Thanh Nien were offset by the warm reception and publicity accorded to a recent visiting friendship delegation from China.

Vietnam’s media also carried positive reports about the 58th anniversary of diplomatic ties between the two countries.

There is also an effort now to highlight growing economic ties.

Vietnam imports most of its goods from China, with bilateral trade hitting a record $15US billion ($21S billion) last year.

It will soar even higher when several infrastructure projects go on stream.

The Asian Development Bank is lending Vietnam $896US million to build a 244km highway from Hanoi to Lao Cai, on the border with China.

It will link up to the Chinese city of Kunming via an expressway that is already two-thirds completed. This will result in a fast-freight corridor from the booming capital of Yunnan province to Vietnam’s deep-sea port of Haiphong.

Another expressway link, between Nanning and Haiphong, is also under construction.

Then, when goods and travellers are flowing to and fro, and the Sino-Vietnamese border becomes more seamless, the hope is that the age-old animosities will melt away and the two neighbours will become, well, neighbourly.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | 6 phản hồi »

488. Với một VN tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

Đăng bởi anhbasam on 02/03/2010

History News Network

Với một Việt Nam tự do kinh doanh,

ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

William Thompson

Ngày 1-3-2010

Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).


Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.

Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”

Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.

Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.

Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.

Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.

Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”

Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.

Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.

Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.

Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.

Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.

Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.

Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.

Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.

Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.

Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.

Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.

Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.

Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.

Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.

Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.

Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.

Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:

Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.

Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”

Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú của người hiệu đính:

(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.

(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.

(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.

Đăng trong Chiến tranh VN, Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , , , , | 4 phản hồi »

483. “CHỦ QUYỀN THUỘC NGÔ

Đăng bởi anhbasam on 24/02/2010

“CHỦ QUYỀN THUỘC NGÔ


Hồng Lê Thọ *

Từ “Gác lại” đến “Cưỡng đoạt”: Sách lược thực dụng và thâm độc trong tranh chấp chủ quyền biển đảo của Trung Quốc

Hổ lớn vờn hổ con

Trong lần trả lời phỏng vấn vào đầu năm 2010, đại sứ TQ tại VN Tôn Quốc Tường đã nhắc lại chủ trương “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” trên biển đông của chính phủ TQ,  chờ đến một thời điểm “chín muồi” sau nầy(1). Phát biểu nầy không có gì mới, thường được lập đi lập lại có vẻ như lãnh đạo TQ muốn hợp tác hòa bình, không muốn tranh cãi hay tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh những lời nói êm tai này, vấn đề tăng cường tuần tra, kiểm tra bằng các loại tàu “Ngư Chính” cải trang, lực lượng hải quân, cảnh sát biên phòng và tuần tra ngư nghiệp không ngớt quần thảo và ngày càng gay gắt trên biển Đông. Động thái tăng cường khả năng chiến đấu, hiện đại hóa lực lượng hải-không quân bằng khí tài hiện đại với tầm hoạt động vươn ra vùng biển Ấn Độ dương và xa hơn nữa trong suốt một thập niên 2000…cho thấy sách lược hai mặt của nhà cầm quyền TQ với thái độ khăng khăng của TQ trong vấn đề chủ quyền đối với HS-TS với chiếc lưỡi bò chiếm 80% diện tích biển  Đông.

CT Mao Trạch Đông tiếp TT Nixon tháng 2 1972

Bài viết nầy với mục đích tìm hiểu sáng kiến “gác lại” nêu trên được phía TQ đề xuất từ lúc nào và thể hiện trên thực tế ra sao, liệu chúng ta có thể tin tưởng được “thiện chí” của phía TQ đến đâu và có thể chấp nhận giải pháp “gác lại” để cùng khai thác trên vùng biển và quần đảo vốn từ xưa thuộc về chủ quyền của nước ta ?

Thử đặt vấn đề nếu như HS và TS vốn thuộc lãnh thổ của TQ, “không thể tranh cãi được” như  TQ khẳng định thì liệu nhà cầm quyền TQ có đưa ra chủ trương nầy hay dứt khoát bảo vệ “lãnh thổ thần thánh” (Senkaku ở biển Đông TH, HS-TS ở biển Nam TH, Đài Loan và nhiều đảo khác trên biển Đông và Nam TH) như tuyên bố của Đặng Tiểu Bình cũng như các lãnh đạo khác của TQ (2 ) Nói khác đi, TQ chỉ bày tỏ thái độ “thiện chí” hợp tác “mềm dẻo” trên vùng biển thuộc lãnh thổ của nước khác như VN, Nhật Bản… để lấn lướt và xâm thực trong lúc chưa thể dùng sức mạnh quân sự để chiếm đoạt như đã xảy ra đối với quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 hay đối với một số đảo nhỏ ở Trường Sa năm 1988.

Chiếc lưỡi bò lãnh hải của Trung Quốc

Bước 1. Tránh né: Chu Ân Lai nói với thủ tướng NB Tanaka Kakuei ” Tôi không muốn đề cập đến vấn đề này”

Trong cuộc hội đàm kéo dài 3 ngày tại Bắc Kinh (3) nhằm tiến đến việc bình thường hóa quan hệ Trung-Nhật sau khi quan hệ Trung-Mỹ đã được Tổng thống Nixon và Mao Trạch Đông khai thông trước đó vào tháng 2/1972, Thủ tướng Nhật bản(đương nhiệm) Tanaka Kakuei trong phiên

CT Mao Trạch Đông gặp Thủ Tướng Tanaka Kakuei và ngoại trưởng Ohira Masayoshi(NB)

họp cuối cùng vào ngày  27/9/1972, đã đặt vấn đề chủ quyền của Nhật Bản đối với dãy đảo  Senkaku với người đồng nhiệm(4), Thủ tướng Chu Ân Lai thì ông ta đã gạt phăng “tôi không muốn đề cập đến vấn đề nầy”, tỏ thái độ tránh né, cho rằng hai bên phải xuất phát từ “đại cục” trên cơ sở “đại đồng tiểu dị”, không để cho vấn đề chủ quyền “Senkaku”(hay đảo Điếu Ngư) trở thành vật cản trong cuộc đàm phán mà mục tiêu trước mắt là bình thường hóa quan hệ Trung-Nhật là tối thượng. Phía Nhật cũng đã ngầm hiểu ý đồ của Chu Ân Lai, tỏ ra “đồng tình” vì cho rằng Nhật bản đã sáp nhập các đảo ở Senkaku vào lãnh thổ của Nhật bản từ ngày 14/1/ 1895 (Minh Trị thứ 14), tuyên bố có chủ quyền và quản lý kể từ ngày đó đến năm 1969, tức trong 74 năm đã trôi qua phía TQ chưa hề lên tiếng phản đối. Nhưng từ khi Ủy Ban Kinh Tế Viễn Đông (ECAFE) công bố kết quả thăm dò thềm lục địa ở biển Đông TH năm 1969, cho biết có khả năng trữ lượng dầu mỏ ở vùng biển quanh các đảo Senkaku vô cùng phong phú thì Đài Loan và TQ lần lượt lên tiếng đưa ra yêu sách về chủ quyền vào tháng 5/1969 (5). Ngầm hiểu ý kiến của Chu Ân Lai trước đề xuất của Tanaka, Nhật Bản càng không muốn gây cãi vã căng thẳng có thể đưa đến đổ vỡ cuộc đàm phán này khi tình hình kinh tế trong nước đang đứng trước nạn lạm phát phi mã ,nhu cầu về dầu mỏ của Nhật Bản ngày càng  khó khăn vì phản ứng của các nước Trung Đông đối với thái độ ủng hộ Israel của Mỹ và chính sách theo đuôi của NB, và sức hấp dẫn của thị trường TQ đang khát vốn và kĩ thuật của phương tây mà Nhật bản là nước có nhiều thuận lợi nhất(6). Hơn thế nữa,  kể từ khi chiến tranh thứ hai kết thúc, chính quyền Nhật Bản vốn thuộc về phe bảo thủ thân Đài Loan trong đảng cầm quyền LDP(Tự do dân chủ) và nằm dưới sự bảo trợ của chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ, Nhật bản không thể thực hiện việc chủ động mở ra quan hệ với Trung Quốc  suốt một thời gian dài, mãi đến khi Tanaka Kakuei(田中 角栄)lên nắm quyền vào tháng 7/ 1972 với thế lực chính trị ủng hộ hùng hậu (của các phe phái khác trong Đảng như Phe cánh Ohira Masayoshi 大平 正芳, Miki Takeo 三木 武夫…) chiếm đa số, lấn lướt các phe phái  thân Đài Loan như Fukuda Takeo 福田 赳夫, Nakasone Yasuhiro 中曽根 康弘…) trong đảng LDP là người đang nắm đa số tại thượng-hạ viện trong quốc hội Nhật bản. Ông Tanaka Kakuei đã đưa ra hai chủ trương lớn trong cuộc tranh dành chức Chủ Tịch Đảng nầy, về đối nội là thực hiện chương trình “Cải tạo quần đảo Nhật bản”(Nihon Retto Kaizoron 日本列島改造論) để đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng hòng tạo ra sức bật mới cho nền kinh tế trước nguy cơ khủng hoảng (7) và về  đối ngoại là nhanh chóng khôi phục quan hệ Nhật-Trung, không chậm chân, bị nhỡ “cơ hội” nhảy vào thì trường béo bỡ mà tư bản phương tây đang chực chờ sau khi quan hệ Trung-Mỹ được cải thiện. Vì vậy, khi bản tuyên bố Thượng Hải Mỹ-Trung năm 1972 ra đời, được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông trước khi Nixon kết thúc chuyến thăm lịch sử ở TQ, các nhà lãnh đạo chính trị, tài giới và tư bản công nghiệp của Nhật bản không dấu nỗi sự bàng hoàng và ngỡ ngàng vì phía Nhật Bản không hề được phía đồng minh Hoa Kỳ thông báo hay hé lộ khả năng bình thường hóa với TQ trước và vì bản thân Nhật Bản cũng đã chuẩn bị một kịch bản tương tự đối với TQ từ khi có cuộc tiếp xúc qua “ngoại giao bóng bàn” (thi đấu bóng bàn quốc tế có tuyển thủ TQ tham dự tại Yokohama) như Mỹ đã thực hiện trước đó.

Thủ tướng Chu Ân Lai nâng cốc chúc mừng  Thủ tướng Tanaka(1972)

Về phía TQ, sau một thời gian dài đấu đá thanh trừng nội bộ khốc liệt, điên cuồng chạy theo Cách Mạng Văn Hóa(1966-1976) theo chỉ đạo của CT Mao Trạch Đông, thất bại của “Đại Nhảy Vọt”(1958-1960) trước đó đã đẩy nền kinh tế của TQ khốn đốn lại càng kiệt quệ hơn, sản xuất công-nông nghiệp suy sụp toàn diện, trước mối lo sợ bị LX vây hãm và thôn tính ở biên giới ám ảnh, vào những năm cuối đời, Mao Trạch Đông đã phải chuyển hướng chiến lược đối ngoại, chấm dứt thời kỳ xem Mỹ là cừu địch, có chủ trương cải thiện quan hệ với các nước phương tây trong đó xác định mục tiêu tối thượng là vấn đề Đài Loan phải được công nhận thuộc lãnh thổ  của một nước TQ, duy nhất, không can thiệp nội bộ lẫn nhau và chung sống hòa bình với hàm ý chống lại giặc thù con gấu bắc cực (LX). Từ đó, trước khi qua đời, Mao Trạch Đông sắp xếp lại bộ máy lãnh đạo cấp cao trong đó giao cho người kế thừa là Hoa Quốc Phong điều hành ,trấn áp “bè lũ 4 tên” cầm đầu “Hồng Vệ Binh” trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diệp Văn Nguyên và Vương Hồng Văn) cất nhắc Đặng Tiểu Bình (ĐTB)– sau một thời gian dài trấn áp và giam lỏng– trở lại vị trí lãnh đạo cùng với Thủ tướng Chu Ân Lai xây dựng kinh tế và triển khai công tác đối ngoại của Đảng CS TQ.

Với một bối cảnh chính trị các nước Nhật-Mỹ-Trung như trên , chúng ta có thể thấy được rằng Chu Ân Lai đã chọn cách đối phó cực kỳ khôn khéo trước đối thủ Nhật bản, gạt phăng vấn đề xác định chủ quyền một số hòn đảo trên biển Đông TH như đã nói ở trên của Thủ tướng Tanaka, gây cảm tưởng cho phía Nhật bản rằng TQ không quan tâm đến những hòn đảo nhỏ nhặt trên biển Đông TH. Nhưng trên thực tế vào 2 năm sau đó, lợi dụng tình hình Mỹ thất bại trong cuộc chiến ở VN, bắt đầu rút quân  khỏi bán đảo Đông dương, chính quyền Nixon lún sâu vào cuộc khủng hoảng chính trị (Vụ Watergate) và nền kinh tế  của Hoa Kỳ rơi vào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng, TQ đã nhanh tay cướp lấy thời cơ, cưỡng đoạt bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa bất chấp quần đảo nầy vồn thuộc về lãnh thổ chủ quyền của Việt nam. Hay nói khác đi, không phải Chu Ân Lai đã từ bỏ vấn đề yêu sách chủ quyền của họ đối với Senkaku như chúng ta đã thấy, chỉ vài năm sau đó, tức vào năm 1978, ĐTB vẫn nhắc đi nhắc lại các đảo Senkaku là “thuộc” chúng ta, nhấn mạnh vấn đề chủ quyền của TQ đối với các quần đảo trên biển Đông TH và Nam TH là “không thể tranh cãi”(!) và TQ chỉ chấp nhận đàm phán trên tiền đề này.(8)

Thực ra, hành động tránh né nầy của Chu Ân Lai  không phải là không được báo trước, vì vào ngày tháng 28/7/1972 trước đó, trong lần gặp Chủ tịch Đảng Kômei (Nhật Bản) , Ông Takeiri Yoshikatsu thuộc phe thiểu số trong quốc hội nhưng là người tích cực ủng hộ chủ trương bình thường hóa quan hệ Nhật-Trung , Thủ tướng Chu Ân Lai cũng đã cho biết ý đồ nầy của phía TQ, rằng “Phía TQ không muốn đụng chạm đến vấn đề quần đảo Senkaku, một việc quá nhỏ so với việc khôi phục quan hệ Trung –Nhật”(9). Theo ghi chép của Takeiri “Chu nói rằng không quan tâm đến vấn đề Senkaku, chỉ có mấy ông nghiên cứu lịch sử đặt chuyện từ khi có vấn đề dầu mỏ…không cần phải xem nặng đến vậy”. Có phải thực tâm Chu Ân Lai nghĩ như vậy hay chủ quan cho rằng TQ có nguồn dầu mỏ phong phú(!?) có thể cung cấp cho Nhật bản về lâu dài vì vậy khuyên phía đối tác Nhật không nên đem vấn đề Senkaku ra tranh luận hay chọn môt cách nói mà phía NB không thể phản bác, yên lòng trước thái độ mềm dẻo của ông ta ? Hoặc có thể bản thân Ông Chu cũng không hình dung được rằng không đầy 20 năm sau khi TQ bước vào thời kì “cải cách và mở cửa”, từ năm 1978 để phát triển kinh tế thì nước nầy đã trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ từ năm 1993 và ngày nay đứng vào vị trí nước lớn thứ hai về số lượng dầu mỏ nhập khẩu và kèm theo đó biết bao hệ lụy trong chính sách “phú quốc cường binh” theo chủ nghĩa bành trướng ngày nay mà VN là nạn nhân gần nhất !(10)

Bước hai: “Gác lại tranh chấp”

Ý đồ xem TQ vừa là nơi cung ứng dầu mỏ vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm và công nghệ của NB thể hiện rất rõ trong thái độ háo hức, tạo ra  “China boom” trổi dậy mạnh mẽ, nhất là khi Nhật bản nằm trong vòng xoáy của “Nixon Shock”( Cú choáng Nixon) xảy ra vào năm 1971(11) và tiếp đến là “Oil Shock”(Cú choáng Dầu mỏ lần thứ nhất) sau khi chiến tranh Trung Đông lần thứ 4 bộc phát vào năm 1973 khi các nước xuất khẩu dẩu mỏ ở Trung Đông xếp Nhật bản thân Mỹ vào đối tượng những nước cần hạn chế xuất khẩu dầu mỏ vì có chính sách thù địch ở Trung Đông trong khi hơn 90 % dầu mỏ nhập khẩu của Nhật Bản phải dựa vào các nước xuất khẩu dầu mỏ từ khu vực nầy. Mặt khác, với giá cả dầu mỏ nhập khẩu tăng vọt đẩy nền kinh tế Nhật bản vào tình trạng suy thoái và lạm phát triền miên với tốc đó 23% trong năm 2004, kết thúc thời kì kinh tế phát triển tốc độ cao trong hơn một thập niên. Cho nên niềm hi vọng của nước

Nguồn nhập khẩu dầu thô của TQ (đơn vị: nghìn thùng/ngày)

nầy vào nguồn dầu mỏ của TQ rất lớn (tuy rằng  chất lượng dầu mỏ của TQ không tốt). Nhật Bản đã tranh thủ nhập khẩu nguồn “dầu mỏ vừa gần lại vừa rẽ” của TQ (12), rất cần cho công nghiệp đồng thời đẩy mạnh mậu dịch, xuất khẩu trang thiết bị gang thép ồ ạt sang nước nầy bên cạnh việc cho vay ODA và viện trợ kĩ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng như cầu đường, bến cảng… phục vụ xuất khẩu của TQ.

Ở thời điểm tuyên bố bình thường hóa Trung-Nhật năm 1972, chưa có nhà lãnh đạo TQ nào đưa ra giải pháp sâu hơn một bước như “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” vì lúc ấy như đã nói ở trên, Chu Ân Lai chưa vội tỏ rõ thái độ TQ trong vấn đề chủ quyền đối với các đảo Senkaku. Như đề cập trong chú thích ở dưới, quan hệ kinh tế Nhật-Trung đã phát triển cực nhanh sau khi TQ có chính sách “cải cách và mở cửa” vào năm 1978 và tham gia vào WTO năm 1991 sau nầy, xem phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu.

Để triển khai việc hợp tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản, ngày 8/10/1978, trước khi sang thăm Nhật Bản để kí kết “Hiệp Ước Hòa Bình và hữu nghị Trung-Nhật”, Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã nói với ngoại trưởng Nhật bản Sonoda Sunao tại Bắc Kinh rằng  “giữa hai nước Trung Nhật      không

PTT Đặng Tiểu Bình tiếp thủ tướng NB Suzuki Zenko

phải là chẳng có vấn đề gì.  Thí dụ như vấn đề đảo Điếu Ngư(Nhật gọi là Senkaku), vấn đề thềm lục địa nhưng chẳng cần lôi ra ngay bây giờ. Hãy để yên bên cạnh. Rồi từ từ hai bên thảo luận một cách bình tĩnh, trao đổi tìm ra phương cách mà bên nào cũng có thể chấp nhận được. Thế hệ chúng ta không tìm ra phương cách giải quyết thì thế hệ kế tiếp, hoặc kế tiếp nữa cũng sẽ tìm thấy một giải pháp thỏa đáng”(13). Điều nầy cho thấy ĐTB đã khôn khéo đưa ra vấn đề về chủ quyền “Điếu Ngư” với hàm ý “đây là một vấn đề còn tồn tại, chưa được giải quyết”– ngược lại với chủ trương của Nhật Bản cho rằng “không có vấn đề tranh chấp chủ quyền”– thay vì tránh né nhưng lại áp dụng một chiêu bài cao cấp và thực tế hơn Chu Ân Lai, rõ ràng nhất là nội dung họp báo của ĐTB tại Tokyo sau đó 2 tuần lễ, vào ngày 23/10/1978, rằng:

“Các đảo Senkaku ở TQ gọi là đảo Điếu Ngư. Từ cái tên gọi cũng đã khác nhau. Rõ ràng là chủ trương về chủ quyền các đảo Senkaku giữa Trung Quốc và Nhật bản khác nhau. Hai bên đã cam kết là sẽ không đụng đến vấn đề nầy khi bình thường hóa quan hệ và lần kí kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị cũng nhất trí là sẽ không đề cập đến nó. Với trí tuệ của người TQ thì chúng tôi chỉ nghĩ ra phương pháp nầy. Có nghĩa là nếu đụng đến vấn đề nầy thì sẽ không nói gì thêm được rõ ràng. Treo lại vấn đề nầy cũng chẳng sao, thế hệ kế tiếp sẽ thông minh hơn chúng ta, chúng sẽ tìm ra được giải pháp mà mọi người có thể chấp nhận được”. Theo Hiramatsu Shigeo thì “Việc gác lại nầy đối với TQ là cần thiết ở thời điểm mà việc giải quyết vấn đề nầy không thích hợp. Khi TQ thấy có lợi thì họ sẽ lôi xuống một cách dễ dàng”(14) vì ”TQ không bao giờ thỏa hiệp với bất cứ ai về vấn đề chủ quyền họ cho là thuộc TQ như ĐTB vẫn thường nhấn mạnh”.(15) Đây là một điểm quan trọng trong sách lược ngoại giao “thực dụng” của nhà lãnh đạo TQ trong khi đàm phán với đối tác “đang có vấn đề tranh chấp lãnh thổ” với nước nầy và cũng là mặt trái của nhà cầm quyền TQ đối với Nhật Bản là nước đang thèm khát thị trường và dầu mỏ TQ như đã nói ở trên.

Bước ba: “Cùng nhau khai thác”—một thủ đoạn tinh vi

Ngày 31/5/1979 trong lần gặp gỡ Thủ tướng Suzuki Zenko 鈴木 善幸(đương nhiệm—người kế tục Tanaka Kakuei) ĐTB nói rõ chủ trương của TQ là khai thác chung tài nguyên dầu khí ở vùng biển này không đụng chạm đến chủ quyền lãnh thổ trên các đảo Senkaku và sang tháng 6/1979 tức 1 tháng sau, qua con đường ngoại giao, phía Bắc Kinh chính thức công bố đề án “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” trên tiền đề là chủ quyền các đảo nầy thuộc về TQ, cho đây là giải pháp hữu hiệu để tránh “đụng chạm” về vấn đề chủ quyền lãnh thổ và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Phương sách nầy sau đó cũng đã được Đặng Tiểu Bình (16), Chủ tịch Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng đề xuất với các nước ASEAN trong giải pháp hợp tác về nghề Cá trên biển Đông(17).

Tóm lại, từ những năm cuối thập niên 1970 TQ đã đưa ra và luôn kiên trì chủ trương chính sách “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác” trên cơ sở bảo đảm chủ quyền thuộc về TQ. Trong bức điện trả lời phỏng vấn của báo chí Nhật bản ngày 12/10/1996, Ngoại trưởng TQ, Tiền Kỳ Tham nhấn mạnh “Hai bên đã nhất trí giao lại việc giải quyết vấn đề quần đảo Senkaku cho tương lai khi đàm phán để bình thường hóa quan hệ cũng như kí kết Hiệp ước hòa bình và hữu nghị Trung-Nhật. Đó là một sự thật lịch sử” và còn nói thêm “dựa trên tiền đề này, chúng tôi đã nhiều lần gạt sang một bên và đề nghị cùng nhau khai thác tài nguyên. Chủ trương nầy xuất phát từ đại cục của quan hệ giữa hai nước, và quan điểm chiến lược có lợi hòa bình và ổn định của khu vực”. Gần đây Ngoại trưởng Dương Khiết Trì cũng đã lập lại chủ trương nầy vào ngày 12/3/2008 trong cuộc họp báo nhân kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa 11 TQ , rằng “TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa và vùng biển phụ cận, TQ  tích cực chủ trương thông qua phương thức ‘gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác’ để giải quyết những vấn đề liên quan”(18) chứ không bao giờ rút lại yêu sách  về “chủ quyền” như phương châm chỉ đạo “chủ quyền tại ngã”(chủ quyền là của chúng ta) trước đây của ĐTB.

Nói khác đi, TQ sử dụng chiến lược “tằm ăn dâu”, tạo ra “sự thật đã rồi” bằng cách đi từ chỗ đơn phương tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở biển Đông TH vốn thuộc Nhật bản hay quần đảo HS-TS trên biển Nam TH xưa nay vốn thuộc VN, sang đến chỗ tranh chấp để chứng minh vấn đề yêu sách của TQ là có thật, xem đó  là “vấn đề do lịch sử để lại” tồn tại (19) chưa được giải quyết  thỏa đáng và tiến dần đến chỗ “gác lại tranh chấp “ để “cùng khai thác” trên một tiền đề là Nhật Bản hay các nước có yêu sách chủ quyền trên biển Đông như VN, Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines phải công nhận “chủ quyền” của TQ theo chủ trương của họ

Sản xuất nội địa và lượng dầu mỏ tiêu thụ của TQ (1990-2010)

trong khi TQ chưa đủ khả năng khống chế như trường hợp đảo Senkaku hay tình hình chính trị quốc tế chưa đủ chín muồi (lời của Đại Sứ Tôn Quốc Cường) cho phép TQ có thể sử dụng vũ lực chiếm đoạt một cách mạo hiểm như đã hành động ở biển Đông đối với quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Ba bước đột phá theo thứ tự và có hệ thống nầy luôn được hệ thống tuyên truyền của TQ rao giảng, lớn tiếng la lối  và được hổ trợ bằng cách kích động tinh thần dân tộc dư luận trong nước theo chủ nghĩa Đại Hán qua việc công bố kết quả thăm dò dư luận, rằng 92 % người dân tán thành biện pháp vũ lực để “khôi phục chủ quyền của TQ trên quần đảo Trường Sa (20). Mặt khác,  về pháp lý, TQ củng cố chủ trương bằng những luật pháp do nước nầy nhào nặn như “Luật về lãnh hải” được Hội nghị đại biểu toàn quốc thông qua vào tháng 2/1992. Thật vậy,  Điều 2 về lãnh thổ trên đất liền của bộ luật nầy xác định “tất cả đại lục TQ, các đảo ven biển, Đài Loan  và các đảo phụ thuộc bao gồm đảo Điếu Ngư, quần đảo Bành Hồ, các quần đảo Đông Sa, Tây Sa(Hoàng Sa ), Trung Sa, Nam Sa(Trường Sa) kể cả các đảo nhỏ khác được TQ tự ý ghi rõ tên gọi để khẳng định phạm vi chủ quyền của TQ”. Hành động nầy đã nảy sinh mâu thuẩn nghiêm trọng trên vùng biển Đông Trung Hoa với Nhật Bản và với các nước đông nam á khác như VN, Malaysia…về vấn đề chủ quyền ở quần đảo Trường Sa ở biển Đông. Đồng thời những điều khoản của Luật lãnh hải của TQ còn đe dọa đến sự tự do đi lại của tàu bè trên biển đông, TQ tự cho phép mình có quyền truy đuổi, bắt bớ các tàu thuyền “xâm phạm” lãnh hải TQ hay khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) trên vùng biển 200 hải lí (370 km) tính từ đường phân định lãnh hải của các hòn đảo mà TQ tự nhận là của mình  trên biển Đông.(21)

Trong khi ĐTB không ngừng luôn miệng, rằng “TQ xem trọng việc phát triển quan hệ lâu dài với Nhật bản đến đời đời con cháu mai sau, từ thế kỷ 21 sang đến thế kỷ 22, 23 vĩnh viễn. Đây là điều quan trọng hơn mọi vấn đề quan trọng khác…”( phát biểu với Thủ tướng Nakasone Yasuhiro vào 25/3/1984)(22) thì những gì đã xảy ra trên thực tế ở biển Đông TH với Nhật bản trong những tháng năm sau đó đã phủ nhận, chứng minh ý đồ  ngang ngược nầy của nhà cầm quyền TQ trong chủ trương “gác lại tranh chấp”.

GS Hiramatsu Shigeo cho biết “từ đầu tháng 12/1995 đến trung tuần tháng 2/1996, trong khoảng 60 ngày, TQ đã xâm nhập vào vùng biển EEZ  để khoan đào thăm dò ở các điểm cách 570 mét nằm sâu trong đường trung tuyến của Nhật bản mặc dù Cục an ninh trên biển của Nhật bản đã nhiều lần yêu cầu chấm dứt nhưng các tàu điều tra hải dương của TQ vẫn tiếp tục…thử hỏi hành động như là nhảy vào sân nhà của người khác để đào bới và sau đó còn bước sâu vào tận cửa nhà người ta tìm của cải…như vậy có ngang ngược hay không ?” (23). Cách thức nầy TQ cũng đã áp dụng với vùng biển Tư Chính hay trên Vịnh Bắc Bộ của VN , ngang nhiên kí kết hợp đồng cho công ty nước ngoài thăm dò để khai thác ở vùng biển bên trong khu vực đặc quyền kinh tế  Việt Nam theo UNCLOS(Công ước về Biển của LHQ) mặc dù TQ đã nhiều lần cam kết tôn trọng hiệp ước nầy trong vấn đề lãnh hải và qui định về khu vực EEZ hay thỏa thuận về việc phân định đường lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ. Nói khác đi, trong khi kêu gọi “gác lại tranh chấp” thì phía TQ lấy “Luật biển” của mình để lật ngược, khẳng định chủ quyền, xác định đó là lãnh thổ của họ là một thủ đoạn xảo trá (“deception”—chữ dùng của TS Ota Fumio) thì liệu những lời kêu gọi của các nhà lãnh đạo TQ có thể làm cho các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế yên tâm tin tưởng vào cái gọi là “thiện chí” như việc “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” được hay không.(24) Cựu Đề Đốc Ota Fumio phân tích “Mô hình chiến thuật dùng vào việc xâm lấn lãnh hải của TQ như sau: một là TQ tuyên bố chủ quyền lãnh thổ. Luật Lãnh hải năm 1992 trong đó TQ khẳng định quần đảo Senkaku thuộc lãnh thổ của mình và Luật chống ly khai đối với Đài loan trong năm 2005. Hai, thế rồi TQ thường xuyên thực hiện việc tuần tra biển trong khu vực mà họ khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Ba, TQ chứng tỏ sự hiện diện của mình chi mọi người biết bằng cách điều lực lượng/quân lính hải quân đến khu vực ấy. Bước cuối cùng, TQ biến việc chiếm đóng tạo thành môt sự thật đã rồi. TQ theo đuổi mô hình nầy trong biển nam TH. Đối với biển Đông TH, TQ đã tiến đến bước thứ ba”(25)

Sau một thời gian nguội lạnh trong quan hệ Nhật-Trung dưới thời Thủ tướng Koiizumi Junichiro 小泉純一郎(26/4/2001-31/10/2005), tháng 6/2008  thủ tướng Fukuda Yasuo cải thiện quan hệ hai nước, ra tuyên bố chung xác nhận thỏa thuận “việc gác lại tranh chấp và cùng khai thác chung giếng khí đốt nằm trong vùng biển tiếp cận đường trung tuyến của hai bên thuộc vùng biển Đông TH, biến vùng biển nầy thành “biển của hữu nghị, hòa bình và hợp tác giữa hai nước trong quan hệ chiến lược bình đẳng và hai bên cùng có lợi”(26) nhưng cũng từ tháng 12/2008, lực lượng vũ trang TQ lại bắt đầu hàng loạt hoạt động điều tra quần thảo trên vùng biển Nhật bản nhằm tái khẳng định chủ quyền của họ đối với các đảo Senkaku và người phát ngôn phía TQ luôn tuyên bố phía TQ không bao giờ nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền biển đảo trong đàm phán (27).

Những hành động và lời nói với phía Nhật Bản trong  vấn đề chủ quyền và khai thác vùng biển các đảo Senkaku cũng đã diễn ra tương tự nhưng cường độ mạnh mẽ và thô bạo  hơn trên biển Đông trong khi lãnh đạo hai nước Trung –Việt đều tán thành “phương châm 16 chữ vàng”– và sau nầy thêm “tinh thần 4 tốt”– của Chủ Tịch Giang Trạch Dân, xác nhận việc xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược và toàn diện giữa hai nước vào năm 1999(28).

Thay lời kết

Nhà cầm quyền TQ hiện nay đang cố gắng dùng lời lẽ ngọt ngào trong đàm phán ngoại giao(29), với những thông điệp rất êm tai như “hòa bình”, “hữu nghị”, “láng giềng thân thiện”… hay gần đây nhất là “sơn thủy tương liên, văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan” của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào (30) khi đề cập đến quan hệ Trung-Việt nhưng bên trong và hành động trên thực tế hoàn toàn trái ngược, áp đặt “một chiều” để lấn át  và răn đe thô bạo kiểu Trung Quốc (31). Nhìn hạm đội của TQ trong tư thế vũ trang sẵn sàng chiến đấu, thao dượt  rầm rộ trên biển Đông và liên tục bắt bớ tàu đánh cá, đánh đập ngư dân Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa, xem biển Đông và Nam TH như ao nhà, người ta không thể không cảnh giác trước uy hiếp về quân sự của TQ. Tư tưởng biên giới lãnh thổ mở rộng và luôn biến động theo tầm địa lý của lợi ích quốc gia trong một số nhà lãnh đạo quân sự TQ càng kích động những người quá khích chạy theo chủ nghĩa dân tộc ích kỷ và bành trướng, đưa nguy cơ xung đột ngày càng có điều kiện bùng nổ bất cứ lúc nào.

Không thể xây dựng niềm tin trên sự giả dối và càng không thể thương thảo khi đối tác lăm lăm gươm giáo, đằng đằng sát khí, với mùi khét của khói súng lãng vãng bên cạnh. Lời nói phải đi đôi với việc làm với thái độ tự trọng và biết kiềm chế, tương kính lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để tìm lối thoát hợp lý và công bằng vì một nền hòa bình và ổn định dài lâu để cùng phát triển phải chăng là một đòi hỏi quá đáng hay ngược lại đang nằm trong tầm tay của các nhà lãnh đạo TQ nếu họ chấp nhận từ bỏ tư tưởng Đại Hán ?


Mồng 5 tết Canh Dần, tháng 2/2010

Kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa

====================

Chú thích:

(1) Tại buổi họp báo ở Hà Nội ngày 6/1/2010, Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường nhắc lại chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của lãnh đạo TQ.

Đại sứ Tôn Quốc Tường nói, “Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã nêu ra một sáng kiến mang tính xây dựng, đó là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác“, và đề nghị rằng Việt Nam và Trung Quốc nên tạm gác lại tranh chấp, đợi điều kiện chín muồi.

“Nếu điều kiện chín muồi, hai bên giải quyết được vấn đề, chắc chắn sẽ thúc đẩy phát triển quan hệ hai bên chúng ta. Nếu điều kiện chưa chín muồi, làm cản trở cho quan hệ hai nước thì điều cần phải làm và nên làm là gác lại vấn đề. Trong quan hệ hai nước còn có nhiều công việc cần cố gắng, nỗ lực, có nhiều hợp tác có thể tiến hành…

Trong khi phát triển quan hệ song phương và chờ đợi điều kiện chín muồi, hai bên có điều kiện giải quyết vấn đề này tốt hơn và sẽ đưa ra phương án giải quyết hợp lý hơn nữa.”

Xuân Linh. Chờ điều kiện chín muồi giải quyết tranh chấp Biển Đông. Vietnamnet,6/1/2010.

http://vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/

Nữ quân nhân TQ canh gác trên đảo Hoàng Sa

(2) 关于权属我 搁置争议 共同开发”讨论一、“属我 搁置争议 共同开发”的来源 “Chủ quyền thuộc về chúng ta–Nguồn gốc của chủ trương “Gác tranh chấp về chủ quyền—cùng nhau khai thác”

http://www.nansha.org.cn/study/4.html   

(3) Biên bản ghi chép cuộc hội đàm giữa Tanaka-Chu Ân Lai lần thứ ba vào ngày  27/9/1972) trong “những bí mật của hội đàm Nhật-Trung” của báo Asahi ngày 2/10/1972:

Tanaka Kakuei:

-Về vấn đề các đảo Senkaku thì Ngài suy nghĩ sao ? Có rất nhiều người nói nầy nọ với chúng tôi.

Chu Ân Lai:

-Về vấn đề các đảo Senkaku thì lần nầy tôi không muốn đề cập. Bây giờ mà nói  ra cũng chẳng tốt lành gì. Cho rằng vì nơi nầy sẽ có dầu mỏ, thế là trở thành vấn đề. Nếu chẳng có dầu mỏ thì Đài Loan hay Hoa Kỳ cũng không xem là vấn đề.

「尖閣論議深入りせず、日中会談で周首相、田中首相が明 かす」『朝日新聞』1972年10月2日、「尖閣論議避け
た周首相、肩の荷おろし日中会談秘話」『日新聞』同10月2 日 (tư liệu đại học Tokyo)

(4) http://akebonokikaku.hp.infoseek.co.jp/page071.html

(5) 尖閣諸島の領有権問題と中国の東シナ海戦略 (平松茂雄 )

GS Hiramatsu Shigeo cho biết “tháng 9/1972 lần đầu tiên thủ tướng Nhật Bản, Tanaka Kakuei sang thăm TQ để bình thường hóa quan hệ Nhật-Trung, phát biểu rằng phía NB “muốn làm rõ vấn đề chủ quyền các đảo Senkaku” thì Chu Ân Lai đáp lại” nên kết thúc đàm phán tại đây”, gạt ra bàn đàm phán để tránh va chạm về vấn đề nầy. Xem như một sự đồng thuận giữa lãnh đạo hai nước. Nhận thức nầy đã trở thành một sự thỏa thuận làm nền tảng cho việc “gác lại tranh chấp” của `ĐTB sau nầy vì theo Hiramatsu Shigeo thì “Việc gác lại nầy đối với TQ là cần thiết ở thời điểm mà việc giải quyết vấn đề nầy không thích hợp. Khi TQ thấy có lợi thì họ sẽ lôi xuống một cách dễ dàng”

http://akebonokikaku.hp.infoseek.co.jp/page071.html

(6)Kim ngạch thương mại Nhật-Trung năm 1972 trước khi bình thường hóa quan hệ chỉ ở mức 900 triệu đô la, chiếm 4% tổng kim ngạch mậu dịch của TQ thì từ năm 1993, Nhật Bản đã vượt kim ngạch thương mại của Hong Kông với TQ, bình quân hàng năm tăng 16.3 % trong quãng thời gian từ năm 1990-2000 và năm 2000-2007 là 16%/năm, kim ngạch thương mại Nhật-Trung năm 2007 đã lên đến 236 tỷ đô la, tăng 20.6% so với năm trước và gấp 33 lần khi TQ bắt đầu có chính sách “cải cách và mở cửa”. Đặc biệt quan hệ Nhật-Trung phát triển ở tốc độ cao kể từ khi TQ gia nhập WTO vào năm 2001. Hàng hóa Nhật Bản đứng hàng thứ 1 trong nhập khẩu của TQ và hàng thứ 4 trong xuất khẩu của TQ. Kim ngạch FDI của Nhạt tính đến 2007 là 61.56 tỷ đô la, là nước đứng thứ hai  về kim ngạch đàu tư vào TQ., không kể 20 tỷ đô la là khoản vay ODA từ năm 1979 đến 2007 và 2 tỷ đo la thuộc viện trợ kĩ thuật.( He Liping “Sino-Japanese Economic Relations:A Chinese Perspective”)

http://www.gotoread.com/mag/13690/sarticle_27862.html

Danh sách 10 quốc gia xuất khẩu nhiều nhất sang TQ ( năm 2008, đơn vị : tỷ USD)

(7) Chiến tranh Trung Đông lần thứ 4 bộc phát vào ngày 6/10/1973, liền sau đó Tổ chức các 6 nước xuất khẩu dầu mỏ(OPEC) công bố nâng giá dầu từ 3.01 USD/thùng lên 5.12 USD/thùng, tăng 70% vào ngày 16/10/1973, và sẽ từng bước giảm sản lượng. Tổ chức OAPEC(xuất khẩu dầu mỏ khối Ả Rập) tuyên bố cấm vận dầu hỏa đối với các nước ủng hộ Israel kể từ ngày 20/10 và sau đó công bố giá dầu mới từ 1/1974 từ 5.12 USD lên 11.65 USD/thùng…đã làm cho giá cả hàng tiêu dùng trong nước Nhật bản rối loạn, xã hội rơi vào tình trạng không trọng lực, tỷ lệ làm phát tăng vọt trên 23% trong năm 1974.

http://ja.wikipedia.org/wiki/%E3%82%AA%E3%82%A4%E3%83%AB%E3%82%B7%E3%83%A7%E3%83%83%E3%82%AF

(8) như (2)

(9) http://www.geocities.jp/ktakai22/murata.html

(10) Abe Junichi “Chiến lược hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc nhằm thống nhất “Phú quốc với Cường binh”

http://bauvinal.info.free.fr/songngu/chienluochiendaihoatq.htm

(11) “Cú sốc Nixon” hay “cú sốc đô la” là một biện pháp kinh tế của Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Ngày 15 tháng 8 năm 1971 đồng đô la Mỹ đã tụt giá xuống mức thấp nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Tổng thống Nixon đã tuyên bố Mỹ sẽ đơn phương phá giá đồng Đô-la, đình chỉ khả năng quy đổi của đồng đô la ra vàng, đồng thời áp đặt mức thuế đặc biệt 10% đối với hàng hóa nhập khẩu. Những hành động này được biết đến như là “Cú sốc Nixon” chủ yếu nhằm vào Nhật BảnTây Âu, những nước tuy là đồng minh chiến lược của Mỹ nhưng ngày càng trở Nixon hành đối thủ cạnh tranh kinh tế với Mỹ.

http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%BA_s%E1%BB%91c_ t

(12) Bộ Công Thương Nhật Bản và tài giới mong muổn mở rộng nguồn nhập khẩu dầu mỏ để đối phó với cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 trong đó hơn 90% là nhập khẩu từ các nước Trung đông, phần dầu nhập khẩu từ TQ bắt đầu từ năm 1973 sau khi hai nước  cam kết bình thường hóa quan hệ. Năm 1975 NB nhập từ TQ khoảng 65 triệu thùng, chiếm 3,9% tổng số lượng, gấp 8 lần số lượng năm 1973, năm 1976 là 80 triệu thùng, tương đương 5%.(Beaver County(Pa) Times 26/12/1975). Năm 2004 TQ đã công bố quyết định ngừng việc xuất khẩu dầu mỏ sang Nhật bản sau khi TQ đã trở thành nước nhập khẩu do nhu cầu về dầu mỏ tăng cao trong quá trình kinh tế phát triển quá nhanh..

(13) 人民網日本語版」2004年8月13日

http://j.peopledaily.com.cn/2004/08/13/jp20040813_42344.html

(14) Ota Fumio “ Những biện pháp ngăn ngừa xung đột và xây dựng lòng tin giữa Nhật Bản và Trung Quốc * Conflict Prevention and Confidence Building Measures between Japan and China

http://bauvinal.info.free.fr/songngu/nhungbienphapngannguaxungdotNBTQ.htm

(15) như (5)

(16) Bộ Ngoại giao Trung Quốc. “Set aside dispute and pursue joint development”. Ngày 17/11/2000. http://www.fmprc.gov.cn/eng/ziliao/3602/3604/t18023.htm

*Tháng 6/1986, Đặng Tiểu Bình đề nghị với Phó Tổng Thống Philippines Salvador Laurel rằng Trung Quốc và Philippines nên gác tranh chấp Trường Sa, “không nên để vấn đề này cản trở tình hữu nghị của Trung Quốc với Philippines và các nước khác

*Tháng 4/1988, Đặng Tiểu Bình đề nghị với Tổng Thống Philippines Corazon Aquino, “Xét quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta, chúng ta có thể tạm gác vấn đề này và tiếp cận theo hướng khai thác chung

(17) Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) trong tuyên bố ngày 13 tháng 8 năm 1990 tại Singapore rằng Trung Quốc đã chuẩn bị xếp lại những vấn đề về chủ quyền và sẽ liên kết phát triển vùng quần đảo Trường Sa (Spratly), muốn gác lại vấn đề gây trở ngại chính và dựng lên một khung cảnh mới để giải quyết những vấn đề trong vùng. Tuyên bố trên theo sau sự kiện va chạm khốc liệt tháng 3-1988 giữa Trung Quốc và Việt Nam tại rặng đá ngầm Johnson – khi đó ba tàu Việt Nam bị đắm và 77 thủy thủ Việt Nam bị giết hoặc mất tích – và phản ánh một sự trở mặt rất quan trọng.

Trích “Trung quốc và các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa » – China and the South China Sea Disputes . M. Valencia

http://bauvinal.info.free.fr/songngu/tqvacactranhchap3.htm

(18) http://mekongnet.ru/index.php?mod=News&sid=621

(19) Hồng Lê Thọ “Quan hệ Việt Trung và các vấn đề do lịch sử để lại ?”

http://bauvinal.info.free.fr/binhluan/quanheviettrungvacacvande.htm

(20) Hồng Lê Thọ ”Lý lẽ và âm mưu bành trướng của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán”

http://vietsciences.free.fr/vietnam/bienkhao-binhluan/lyle-ammuubanhtruong.htm

(21)Kayahara Ikuo “中国軍事論中国軍事論–Về quân sự của Trung Quốc”(Chugoku Gunjiron) trang 301-327

(22) 中日関係に関するトウ小平氏の語録

http://j.peopledaily.com.cn/2004/08/13/jp20040813_42344.html

(23)Sakurai Yoshiko “中国の意図を甘く見るな 『週刊新潮』 20041028日号
http://yoshiko-sakurai.jp/index.php/2004/10/

(24) như (13)

(25) như trên

(26) 東シナ海ガス田開 発合意について

www.ndl.go.jp/jp/data/publication/legis/23602/02360211.pdf

(27)       「断固我が国の大陸棚の主権権利を守る」と題する人民日報評論員論評要旨1980年5月8日

http://www.ioc.u-tokyo.ac.jp/~worldjpn/documents/texts/JPCH/19800508.O1J.html

「釣魚島および付属の島嶼は、中国の固有の領土である」

劉建超報道官:中国政府は「釣魚島および付属の島嶼は、古代から中国の固有の領土である。釣魚島および付属の島嶼に対する中国の主権は疑う余地もない」と再度言明するものである。中日間で釣魚島の主権問題で食い違いが存在することは、客観的な事実である。われわれは協調を通じてこの問題を解決することを主張している。

2008年7月18日

釣魚島(日本名:尖閣諸島)問題は、中日間で未解決の領土問題である”1996年10月18日付 「人民日報」第8 面 作者:鐘厳

“釣魚島問題について”

http://japanese.china.org.cn/jp/archive/dydzt/2009-02/04/content_17223428.htm

(28) Phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” đánh dấu quan hệ Trung Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới được lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước xác định trong Tuyên bố chung, từ tháng 2/1999.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C6%B0%C6%A1ng_ch%C3%A2m_16_ch%E1%BB%AF_v%C3%A0ng

(29) Quan hệ hữu nghị truyền thống Trung Việt mãi mãi xanh tươi” Tôn Quốc Tường  21/2/2010 (mạng báo moi.com)

(30) Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đề cao chủ trương Hợp Tác Chiến Lược Toàn Diện trong dịp viếng thăm Việt Nam vào tháng 11/2006: “Sơn Thủy Tương Liên – Văn Hóa Tương Thông – Lý Tưởng Tương Đồng – Vận Mệnh Tương Quan”.

http://dinhtanluc.yolasite.com/phuc-trinh-ngoai-giao.php

(31) Hồng Lê Thọ ”Thông điệp mở đầu năm hữu nghị Việt-Trung : những gáo nước lạnh ngổ ngáo!”

http://bauvinal.info.free.fr/binhluan/thongdiepmodau.htm

=====

* Bổ sung của Ba Sàm: Mời đọc thêm cùng một tác giả:

- Bài 24. “Rừng vàng biển bạc” dưới nanh vuốt khủng bố của những đoàn “tàu” lạ

- Bài 25. Lý lẽ và âm mưu bành trướng của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán

- 377. Xã Giao hay nói thật

- 425. Thông điệp mở đầu năm hữu nghị Việt-Trung:những gáo nước lạnh ngổ ngáo!

- Và nhiều bài đã đăng trên trang bauvinal

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 8 phản hồi »

475. Tiết lộ về cuộc chiến 1979

Đăng bởi anhbasam on 17/02/2010

Những tiết lộ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc

vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979

Đúng 31 năm trước, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm 2005, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

———-

Số thương vong trong cuộc chiến 1979

Tư liệu của Trung Quốc nói rằng từ đầu, Bắc Kinh hạn chế mục tiêu và cách tiến hành cuộc chiến để không vượt quá một cuộc xung đột biên giới với Việt Nam.

Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn.

Giai đoạn đầu từ 17 đến 25-2, khi quân Trung Quốc, theo kế hoạch, sẽ phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và cướp lấy Cao Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ dẫn vào Lạng Sơn.

Giai đoạn hai là tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông, Sa Pa và Phong Thổ ở mạn tây bắc, từ 26-2 đến 5-3.

Giai đoạn cuối là bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16-3.

Diễn biến cuộc chiến

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, cuộc tấn công có vẻ đã làm Việt Nam bị bất ngờ.

Mặc dù có căng thẳng trong nhiều tháng, nhưng dường như các nhà lãnh đạo Việt Nam không tin rằng một “nước anh em” sẽ lại thật sự xâm lấn.

Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Phnom Penh.

Trong lúc gửi điện khẩn nhờ Moscow giúp đỡ, phản ứng ban đầu của Việt Nam là “chống đỡ bằng mọi biện pháp, cốt sao làm chậm bước tiến quân của Trung Quốc.”

Đến ngày 20-2, các cố vấn Liên Xô kết luận quân Việt Nam thiếu sự điều phối và rằng các phòng thủ du kích sẽ không thể ngăn được quân đối phương.

Tuy nhiên, mặc dù có ưu thế lúc đầu, nhưng địa hình hiểm trở và sự chống cự quyết liệt của quân chính quy và dân quân Việt Nam khiến quân Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn.

Tác giả Xiaoming Zhang phân tích một trong những vấn đề nằm trong cách nghĩ truyền thống của các tướng lĩnh Trung Quốc.

Nhiều lần, quân tiền phương kêu gọi không quân hỗ trợ, nhưng Bộ tổng tham mưu Trung Quốc không chịu mà lại yêu cầu hãy dựa vào pháo binh.

Các tướng lĩnh Trung Quốc thuộc về một truyền thống quen với cuộc chiến pháo binh và sử dụng biển người, và hạ thấp vai trò của không quân. Đây là một trong những lý do khiến số binh sĩ chết nơi trận địa lên rất cao.

Cuộc xâm lấn của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn.

Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Đến ngày 23-2, Trung Quốc chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ.

Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Quân đội Việt Nam phân nhỏ thành nhiều đơn vị, và phản công theo lối du kích.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo ngại về tiến trình cuộc chiến, và hối thúc tư lệnh Quảng Tây mở cuộc tấn công vào Lạng Sơn càng sớm càng tốt.

Trận đánh Lạng Sơn bắt đầu ngày 27-2, và khu vực mạn bắc của thành phố này bị Trung Quốc chiếm được vào ngày 2-3. Đây cũng là ngày mà theo kế hoạch Trung Quốc sẽ dừng hoạt động quân sự.

Vì bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại ở Lạng Sơn, Xu quyết định tiếp tục tấn công, với mục đích chiếm toàn bộ Lạng Sơn rồi hướng về Nam, tạo thành vị trí đe dọa Hà Nội.

Mặc dù Bắc Kinh đồng ý với quyết định của Xu, nhưng họ loan báo rút quân vào hôm 5-3, ngay sau khi quân Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn và tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu mà họ đặt ra.

Số thương vong

Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Theo số liệu của nước này, họ đã huy động chín đội quân chính quy cùng các đơn vị địa phương quân, tổng cộng tương đương 300.000 quân.

Cho đến nay, Việt Nam công bố không nhiều các tư liệu liên quan cuộc chiến, và các con số về thương vong cũng khác nhau ở nhiều cuốn sách.

Phía Trung Quốc có tiết lộ một phần nào. Ban đầu Bắc Kinh nói 20.000 lính Trung Quốc đã bị chết hoặc bị thương.

Một số nguồn học thuật hiện thời ước tính có thể có đến 25.000 lính trung Quốc bị chết và 37.000 bị thương.

Những nguồn tài liệu gần đây hơn của chính Trung Quốc thì nói 6900 lính nước này đã chết và 15.000 bị thương.

Dù thế nào, số thương vong của Trung Quốc trong một cuộc chiến ngắn ngày vẫn là cao, thể hiện một trong những truyền thống quân sự của nước này: sẵn sàng chịu tổn thất nhân mạng khi nó được xem là cần thiết.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng miễn là họ tin rằng họ chiếm ưu thế trong tình hình chiến lược chung.

——————-

Trung Quốc rút ra bài học sau 1979

Sau khi cuộc chiến ngắn ngày kết thúc, tất cả các đơn vị Trung Quốc tham chiến phải viết tường trình về kinh nghiệm chiến trường.

Trong vấn đề tổng kết cuộc chiến, Trung Quốc ở trong tình thế khó xử.

Một mặt, họ tuyên bố mình đã chiến thắng, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận những tổn thất mà quân Trung Quốc đã hứng chịu.

Ban lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải có sự đánh giá khách quan tình hình. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc và thành kiến văn hóa cũng khiến họ không đưa ra được những kết luận hoàn toàn khách quan.

Trong bài viết mới nhất về chủ đề này đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, tác giả Xiaoming Zhang cho biết quân đội Trung Quốc đã rút ra sáu bài học từ cuộc chiến 1979.

Thứ nhất, họ kết luận mọi chiến lược và quyết định quân sự đúng đắn phụ thuộc việc nắm bắt mọi khía cạnh của tình hình.

Cuộc chiến biên giới 1979 cho thấy Trung Quốc không mấy chú ý đến chiến thuật và học thuyết quân sự của Việt Nam trước khi tấn công. Vì thế, họ đánh giá thấp khả năng của đối phương.

Mặc dù chê Việt Nam thiếu khả năng tấn công và phòng thủ, nhưng văn bản chính thức của Trung Quốc cũng thừa nhận chiến thuật du kích và dân quân Việt Nam đã khiến Trung Quốc bị bất ngờ.

Bài học thứ hai là phải thu thập đầy đủ thông tin về tình báo. Sự đánh giá địa hình địa vật của Trung Quốc thường dựa theo các bản đồ đã quá cũ, trong khi khả năng dò thám trên chiến trường lại cũng hạn chế.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng tính nhầm số lượng các dân quân Việt Nam. Ban đầu, Bắc Kinh nghĩ tỉ lệ quân đội tham chiến giữa hai bên sẽ là 8-1.

Nhưng kết quả, riêng tại Cao Bằng có tới 40.000 – 50.000 dân quân Việt Nam, khiến tỉ lệ giảm chỉ còn 2-1.

Nâng cao khả năng

Bài học thứ ba Trung Quốc rút ra từ cuộc chiến liên quan đến khả năng tác chiến.

Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc thực hiện tác chiến với sự kết hợp của xe tăng, pháo binh, cộng với không quân và thủy quân.

Nhưng sự lạc hậu trong học thuyết và chiến thuật khiến quân đội không có sự phối hợp cần thiết.

Thành kiến đối với khả năng của không quân khiến binh chủng này không có đóng góp gì vào cuộc chiến ngắn ngày. Trên mặt đất, quân đội cũng chứng tỏ khả năng hợp tác kém giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh.

Kinh nghiệm năm 1979 dạy cho Trung Quốc những bài học về kỹ năng điều phối và hợp tác giữa các binh chủng.

Bài học thứ tư là vấn đề về chỉ huy và kiểm soát.

Quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan và quân đoàn vẫn đóng vai trò lớn hơn các quan hệ dựa trên những định chế.

Vì thế sau này lãnh đạo Quân khu Quảng Châu thừa nhận họ không thoải mái khi chỉ huy số quân được chuyển từ Vũ Hán và Thành Đô trong chiến dịch.

Bài học thứ năm là việc chứng tỏ Trung Quốc phải cải thiện hệ thống cung cấp hậu cần để hỗ trợ cho một chiến dịch xa nhà.

Vì thiếu kho bãi và thiết bị vận chuyển, hai Quân khu Quảng Châu và Côn Minh phải tự lập ra một hệ thống hậu cần mà không bao giờ hoạt động thật hiệu quả.

Khi quân đội tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan hậu cần cũng thấy rằng phải nhờ thêm viện quân để bảo vệ tuyến đường liên lạc.

Bài học cuối cùng liên quan tầm quan trọng của việc tuyên truyền và vận động nhân dân hỗ trợ cuộc chiến.

Kinh nghiệm năm 1979 cho thấy một số lượng khổng lồ lính chính quy Trung Quốc gần như không thể tác chiến ở nước ngoài nếu không có sự ủng hộ của thường dân trong nước.

Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã cổ vũ tinh thần yêu nước và lòng tự hào trong nhân dân. Kết quả, chỉ riêng ở Quảng Tây, hơn 215.000 thường dân được huy động để khuân vác, bảo vệ hàng hóa chở ra trận địa.

Dĩ nhiên, ngày hôm nay không ai nghĩ rằng quân đội Trung Quốc sẽ lặp lại những gì đã làm trong cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam.

Tuy vậy, một số điểm từ cuộc chiến này vẫn có thể có ích để nhìn nhận và đánh giá những chiến lược của quân đội Trung Quốc.

Một kinh nghiệm rút ra là các lãnh đạo Trung Quốc tính toán rất kỹ về việc khi nào cần dùng sức mạnh quân sự, nhưng họ không ngần ngại mở cuộc chiến nếu họ nghĩ rằng quyền lợi quốc gia bị đụng chạm.

———————–

Cạnh tranh Liên Xô – Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam

Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn đề chiến tranh Việt Nam như thế nào?

Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, mối quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản này thực tế đầy sóng gió do các mâu thuẫn về tư tưởng và chính sách.

Ở bối cảnh đó, Việt Nam trở thành vấn đề gây ảnh hưởng giữa hai cường quốc này.

Trong một tiểu luận gần đây, Eva-Maria Stolberg, giáo sư ở ĐH Bonn, đã phân tích về mối quan hệ này.

Bài viết in trong tập sách “America, the Vietnam War and the World” do NXB ĐH Cambridge ấn hành tháng Chín 2003.

Theo Eva-Maria Stolberg, đối với Liên Xô và Trung Quốc, việc ủng hộ phong trào giải phóng của Việt Nam phục vụ ba mục đích: nó cho phép hai siêu cường biện minh hoặc chỉ trích các hệ tư tưởng của nhau; đó là một phần trong chiến lược của Liên Xô và TQ đối với Mỹ; và Việt Nam cũng là phương tiện để phục vụ những mục đích, quyền lợi bên trong cơ cấu nội bộ mỗi đảng.

Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, chúng tôi xin trích lược giới thiệu nội dung chính của bài viết. Xin lưu ý đây là những phân tích và quan điểm riêng của tác giả.

Ngay từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, liên minh Trung Quốc – Liên Xô đã có những chia rẽ mà đã tác động đến hệ tư tưởng, chính sách và chiến lược của cả hai nước trong thời chiến tranh Lạnh. Các quyền lợi quốc gia và quan niệm về an ninh bị định hình bởi quan niệm của lãnh tụ hai nước về cách thức mỗi nước có thể tồn tại trong môi trường toàn cầu khi ấy. Trong hoàn cảnh này, cuộc chiến Việt Nam là chỉ dấu đo đạc mang tính quyết định.

Trong mùa đông 1949-50, khi Stalin và Mao Trạch Đông thương lượng Hiệp ước Trung – Xô, hai người đồng ý việc chia sẻ nhiệm vụ. Đông Dương và Đông Nam Á nằm ngoài quyền lợi của Liên Xô và vì thế trở thành ‘sân chơi’ của Trung Quốc. Khi ông Hồ Chí Minh, trong chuyến thăm Bắc Kinh và Moscow tháng Giêng – Hai 1950, yêu cầu sự hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp, Stalin nói ông Hồ hãy nói chuyện với Trung Quốc. Các bằng chứng mới từ văn khố Trung Quốc cho thấy Stalin khi đó bác bỏ sự dính líu tới Triều Tiên và Đông Dương.

Khác biệt tư tưởng

Người Trung Quốc khi đó có thái độ ngược lại: Họ sẵn sàng cung cấp vũ khí cho Việt Nam đánh Pháp, và sau đó Trung Quốc gửi cố vấn quân sự do tướng La Quý Ba dẫn đầu, người sau này trở thành đại sứ ở Hà Nội.

Một sự thay đổi trong thái độ của Trung Quốc và Liên Xô đối với vấn đề Đông Dương đã diễn ra sau cái chết của Stalin và sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc.

Bộ máy lãnh đạo mới ở Moscow giờ đây muốn có giải pháp hòa bình cho xung đột ở Đông Nam Á. Trung Quốc khi đó cũng muốn có sự thỏa hiệp với phương Tây để ngăn sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Tại hội nghị Geneva năm 1954, mục đích chính của Trung Quốc là đạt được uy tín quốc tế và quyền lực sau khi nước này bị cô lập vì cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên. Do sự thiếu kinh nghiệm ngoại giao quốc tế, Trung Quốc đã đứng đằng sau Liên Xô.

Chính sách của khối Cộng sản ở Geneva được đánh dấu bằng sự nhất trí. Việt Minh, sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ, muốn đuổi Pháp ra khỏi Đông Dương và thống nhất Việt Nam. Nhưng do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc, họ phải chấp nhận việc chia đôi đất nước. Tuy vậy, người Cộng sản Việt Nam ngay sau đó yêu cầu Trung Quốc giúp củng cố chính quyền ở miền Bắc, với mục đích sẽ thống nhất đất nước bằng phương tiện quân sự. Tháng Sáu 1955, Bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp có cuộc họp ở Bắc Kinh với người tương nhiệm, Bành Đức Hoài và một đại diện của nhóm cố vấn quân sự Liên Xô tại Trung Quốc. Cuộc họp, kéo dài đến tháng Mười, liên quan việc hoạch định quân sự.

Lúc này, người lãnh đạo mới của Liên Xô, Nikita Khrushchev, đề ra nguyên tắc ‘cùng chung sống hòa bình’ trong chính trị quốc tế. Trong hoàn cảnh Việt Nam, nguyên tắc này có nghĩa là phía Liên Xô muốn có sự chung sống giữa hai nhà nước Việt Nam và thống nhất thông qua trưng cầu dân ý. Ngược lại, Trung Quốc đề ra nguyên tắc ‘chiến tranh nhân dân’, nói rằng sự dính líu ngày càng tăng của Mỹ tại miền Nam Việt Nam là sự phản bội thỏa thuận Geneva.

Việc Liên Xô rút cố vấn ra khỏi Trung Quốc năm 1960 đánh dấu sự tan vỡ quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản.

Lúc này, người cộng sản Bắc Việt tin rằng đã chín muồi cho đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Nhưng một quyết định chung cuộc đã bị đình hoãn do sự bất đồng chiến lược trong đảng – một bất đồng phản ánh cuộc tranh cãi lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Trong khi tướng Giáp tin rằng cách mạng ở miền Nam sẽ lâu dài và gian khổ, ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh ủng hộ chiến lược tấn công ồ ạt và đồng ý với quan điểm của Trung Quốc.

Mùa xuân 1961, Tổng thống Kennedy chấp thuận gửi 400 cố vấn quân sự đến miền Nam Việt Nam, và Trung Quốc phản ứng. Trong cuộc họp với thủ tướng Phạm Văn Đồng ở Bắc Kinh tháng Sáu năm ấy, Mao ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang, trong lúc Chu Ân Lai thì muốn một con đường linh động hơn, sử dụng biện pháp ngoại giao, chính trị cùng với chiến thuật bí mật ở miền Nam.

Trong chuyến thăm Hà Nội tháng Sáu 1963, chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ tuyên bố trong diễn văn là cuộc đấu tranh giữa phe xét lại (Khrushchev và Liên Xô) với ‘những người Marxist-Leninist chân chính’ (Trung Quốc) trên thực tế xoay quanh câu hỏi “liệu các dân tộc trên thế giới có thực hiện cách mạng hay không’. Ông Hồ Chí Minh đứng về phía ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh, những người ủng hộ chiến tranh ở miền Nam.

Trong những tháng sau đó, có chiến dịch chống phe ‘xét lại’, mà chủ yếu là tướng Giáp, người bị nghi ngờ là ‘bạn của Khrushchev’.

Nếu Chu Ân Lai và người ủng hộ ông đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với Mao, thì có lẽ Trung Quốc sẽ chỉ đóng vai trò quan sát viên trong chiến tranh Việt Nam. Quan điểm đối đầu với Mỹ của ông Mao liên quan đến viễn kiến của ông về đấu tranh giai cấp và chiến tranh nhân dân. Quần chúng cần thực hiện viễn kiến đó cả bên trong và ngoài Trung Quốc.

Trong hoàn cảnh đó, mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn.

Các đàm phán chi tiết tiếp tục trong các tháng sau đó. Cũng trong năm đó, Bắc Kinh đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tính từ 1956 đến 1963, Trung Quốc đã chuyển lượng vũ khí cho miền Bắc ở số lượng trị giá khoảng 320 triệu nhân dân tệ.

Năm 1964, Mỹ bắt đầu chuyển hướng sự chú ý từ miền Nam hướng ra miền Bắc, và tuyên bố sẽ không chấp nhận việc tăng chuyển quân và vũ khí từ miền Bắc.

Quyết định của Mỹ gia tốc cuộc xung đột trong tháng Hai 1965 với các cuộc không kích miền Bắc cho thấy nếu Hà Nội muốn thống nhất đất nước bằng quân sự, họ sẽ phải phụ thuộc vào Liên Xô và Trung Quốc.

Tại Liên Xô, Khrushchev đã không còn quan tâm đến Đông Dương trong mùa hè và mùa thu 1964; ông muốn Liên Xô tránh khỏi Đông Nam Á vì sợ một ‘khủng hoảng tên lửa Cuba thứ hai’. Cuộc chiến Việt Nam cũng có lợi cho Liên Xô ở chỗ nó thu hút sự chú ý của hai đối thủ là Mỹ và Trung Quốc; như thế Liên Xô có thể tập trung cho khu vực châu Âu và Viễn Đông.

Tuy vậy, chính sách không can thiệp của Liên Xô lại khiến Bắc Việt hướng nhiều hơn về Trung Quốc. Tháng 12-1964, bộ trưởng quốc phòng TQ thăm Hà Nội và ký hiệp ước hợp tác quân sự. Việc này cần được nhìn trong bối cảnh tranh chấp Xô – Trung: sự miễn cưỡng của Liên Xô được diễn giải như là cơ hội cho Trung Quốc đưa Việt Nam vào quỹ đạo của mình.

Cũng thời điểm đó, Khruschev bị hạ bệ và Leonid Brezhnev lên thay. Trung Quốc hy vọng sẽ có cải thiện trong quan hệ và trông chờ Brezhnev từ bỏ chính sách cùng chung sống hòa bình với phương Tây. Nhưng Anastas Mikoyan, thành viên trong Bộ Chính trị, sau đó tuyên bố Brezhnev sẽ tiếp tục chính sách chung sống này.

Trung Quốc ban đầu hứa gửi phi công sang Bắc Việt, nhưng sau đó họ rút lại vì lo ngại ưu thế hơn hẳn của không quân Mỹ. Bộ binh trở thành lựa chọn tốt hơn và sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc.

Gần 320.000 người Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng Sáu 1965 đến tháng Ba 1968. Họ không có nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu mà giúp xây sửa cầu đường, đường ray xe lửa. Ngoài ra, Trung Quốc xây một cảng bí mật ở Hải Nam, để từ đó vũ khí được chuyển cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc ở miền Nam.

Chính sách ngoại giao của Mao Trạch Đông lúc này cũng cần được hiểu thông qua những quan ngại của ông về đối nội. Mao lo ngại về tương lai TQ, đặc biệt trong trường hợp ông qua đời và một bộ máy mới lên.

Ông cảm thấy các nguyên tắc của cách mạng TQ sẽ bị phản bội và hệ thống chính trị trong tay lớp trẻ hơn rồi sẽ đưa TQ mở cửa với phương Tây.

Vì thế, Mao sử dụng cuộc chiến Việt Nam khơi gợi tinh thần chống đế quốc trong nhân dân TQ để chống lại những người ‘xét lại’ trong bộ máy và để bảo đảm vị trí của ông trong lịch sử. Đây là mục đích chính của chiến dịch ‘Ủng hộ Việt Nam và chống Mỹ’ tại Trung Quốc. Có một sự liên hệ trực tiếp giữa cuộc chiến tại Đông Dương và sự cực đoan ngày càng tăng trong chính trị nội địa tại TQ.

Thái độ Liên Xô thay đổi

Đầu năm 1965, tân thủ tướng Liên Xô, Kosygin, thăm Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng như một cách đánh dấu sự khôi phục chính sách châu Á của Liên Xô. Hoạt động ngoại giao con thoi này nhằm hai mục đích: hàn gắn quan hệ Xô – Trung và ngăn chặn hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam.

Trong chuyến thăm Hà Nội, tháp tùng Kosygin có các chuyên viên tên lửa. Và ngày 10-2-1965, Liên Xô và Bắc Việt ký hiệp ước hỗ trợ kinh tế và quân sự.

Điều này đáng chú ý vì chỉ mới vào tháng 12-1964, Bắc Việt đã tuyên bố sẽ không hoan nghênh các chuyên viên dân sự và quân sự Liên Xô. Rõ ràng, Hà Nội đã dùng sự hỗn độn quanh diễn biến thay đổi lãnh đạo tại Liên Xô và việc củng cố quyền hành của Brezhnev để gây sức ép cho người Nga. Bắc Việt cảm thấy họ đang được cả hai thế lực cộng sản tìm cách chinh phục.

Sự hố̃ trợ quân sự to lớn của Liên Xô từ sau 1965 cũng có mục đích chung là giảm bớt mối liên hệ của TQ tại Việt Nam.

Nhưng điều này không có nghĩa là Hà Nội giờ đây đứng về phía Moscow trong cuộc tranh chấp Xô – Trung. Thực tế, họ tìm cách nhận được hỗ trợ tối đa từ cả hai bên.

Về cơ bản, có một sự khác biệt quan trọng trong thái độ của Liên Xô và TQ đối với vấn đề Việt Nam. Người Sô viết nghĩ rằng một nước XHCN như VN có quyền tồn tại và thống nhất đất nước, đặc biệt khi bị thế lực phương Tây đe dọa. Nhưng việc bảo vệ của một cường quốc XHCN, dù là Liên Xô hay TQ, chỉ có trong khuôn khổ cùng chung sống hòa bình.

Ngược lại, Trung Quốc xem cuộc xung đột VN là một phần trong phong trào đấu tranh chống đế quốc tại Đông Nam Á – ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan.

Tiến trình đi tìm một giải pháp hòa bình về câu hỏi VN diễn ra chậm chạp. Sự thay đổi trong tam giác Mỹ – Liên Xô – Trung Quốc diễn ra vào năm 1972 sau khi tổng thống Nixon thăm TQ.

Đến giữa tháng Sáu, chủ tịch Liên Xô Podgorny thăm Hà Nội và thúc giục Bắc Việt đàm phán. Một phần lý do là viện trợ quân sự cho Bắc Việt đã gây tiêu cực cho kinh tế Liên Xô, nhất là khi người Sô viết coi vấn đề VN không liên hệ trực tiếp về an ninh cho Liên Xô.

Trung Quốc lúc này cũng muốn có giải pháp hòa bình. Lý do quan trọng nhất là nhờ chuyến thăm của Nixon, TQ giờ đây có thể dùng Liên Xô đối chọi với Mỹ. Ngoài ra, lúc ấy họ hy vọng giải quyết vấn đề Đài Loan, nhưng buộc phải có sự hợp tác của Mỹ.

Lúc này, sự thay đổi chính sách của Liên Xô và Trung Quốc là cú đánh tâm lý cho Bắc Việt. Họ cảm thấy bị bỏ rơi và phản bội.

Moscow và Bắc Kinh có đủ lý do để hòa hoãn với Mỹ và ủng hộ một giải pháp ngừng bắn và chính trị tại Việt Nam. Các hội nghị thượng đỉnh Xô – Mỹ và Trung – Mỹ trong năm 1972 cho thấy rằng cả Liên Xô và Trung Quốc đều không muốn hy sinh quyền lợi quốc gia của họ, tức là cải thiện quan hệ với Mỹ.

Ngày 27-1-1973 khi hiệp định Paris được ký kết, nó phản ánh một trật tự thế giới mới mà sẽ không thể có nếu thiếu sự hòa hoãn Mỹ-Xô-Trung năm 1972.

Cuộc chiến Việt Nam cho thấy quan hệ tam giác Moscow – Hà Nội – Bắc Kinh rất khác với ngôn từ tuyên truyền chính thức về ‘tình hữu nghị quốc tế’.

Mỗi bên đi theo một chính sách quốc gia riêng, tạo nên sự nghi ngờ lẫn nhau mà đã đóng góp vào việc kéo dài cuộc xung đột. Ngoài ra, trong suốt lịch sử, cả ba nước này thể hiện một thái độ yêu – ghét về nhau. Và sự khác biệt văn hóa giữa TQ và VN cũng góp thêm vào sự phức tạp trong tam giác này.

———-

Phản ứng của Liên Xô – Trung Quốc ở thời kì cuối cuộc chiến

Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, chúng tôi đã giới thiệu phân tích của một nhà nghiên cứu (Eva-Maria Stolberg) về việc Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn đề chiến tranh Việt Nam như thế nào.

Tương tự chủ đề này, dưới đây là trích thuật đoạn cuối cùng trong quyển sách “Ending the Vietnam War: The Vietnamese Communists’ Perspective”, của tác giả Ang Cheng Guan.

Ông là giáo sư tại National Institute of Education, thuộc Nanyang Technological University (NTU), Singapore, chuyên ngành nghiên cứu về khía cạnh quốc tế của cuộc chiến Việt Nam và khu vực Đông Nam Á sau Thế chiến Hai.

Cuốn ‘Ending the Vietnam War’, do RoutledgeCurzon xuất bản năm 2004, là phần tiếp theo của tập ‘The Vietnam War from the Other Side’, cùng một tác giả, in năm 2002.

Nếu bản thân những người cộng sản Việt Nam đã ngạc nhiên vì tiến độ diễn biến quân sự ở miền Nam kể từ tháng Ba 1975, thì Bắc Kinh và Moscow, vốn cả hai không nắm rõ tình hình ở Việt Nam cũng như không kiểm soát nhiều diễn biến tại đó, cũng bị ngạc nhiên.

Tiếc là hiện nay, người ta chưa có tài liệu để biết về suy nghĩ tại hai nước vào thời điểm đó. Tuy vậy, chúng ta biết rằng quan hệ Trung Quốc – Việt Nam đã trắc trở kể từ 1972. Đã có các đụng độ nơi biên giới hai nước trong năm 1973, và tháng Giêng 1974, TQ chiếm đảo Hoàng Sa. Nhưng vào thời điểm này, một Hà Nội đang bận rộn với nhiều diễn biến khác chỉ có thể bày tỏ sự phản đối yếu ớt trong chốn riêng tư.

Tháng Ba 1974, Hà Nội đóng cửa tờ báo tiếng Hoa duy nhất và hoạt động của Hội hữu nghị Việt – Hoa cũng bị ngừng lại.

Đến tháng Tám 1974, vì lý do sức khỏe, Chu Ân Lai không còn theo dõi quan hệ Việt – Trung. Hai chuyến đi của ông Lê Thanh Nghị năm 1974 đến Bắc Kinh cho thấy lúc này Hà Nội gặp khó khăn khi muốn có sự hỗ trợ kinh tế và quân sự từ Trung Quốc.

Một tuần trước ngày 30-4, tướng Dương Văn Minh còn tin rằng Hà Nội sẽ phải đàm phán với ông. Trong số các lý do ông nghĩ đến là Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam không muốn bị Hà Nội chi phối và rằng Bắc Kinh muốn có hai nước Việt Nam riêng biệt vì một VN thống nhất sẽ đe dọa biên giới tây nam của TQ.

Giờ đây nhìn lại, người ta thấy vào thời điểm 1974-75, Bắc Kinh đã ước đoán – mặc dù sai lầm – rằng tình hình ở Nam Việt Nam sẽ còn tiếp tục trong một thời gian.

Mặc dù Bắc Việt có khác biệt với người Nga, nhưng bản báo cáo thường niên của sứ quán Liên Xô ở Hà Nội về quan hệ song phương nói chung lạc quan. Tuy không có số liệu, nhưng người ta biết rằng Liên Xô, so với Trung Quốc, tỏ ra đáp ứng nhiều hơn trước yêu cầu của Việt Nam muốn có trợ giúp kinh tế, quân sự.

Moscow vẫn tiếp tục là một kênh liên lạc quan trọng giữa Mỹ và Liên Xô. Hồi ức của Anatoly Dobrynin về ngày 19-4-1975 cho biết Kissinger đã yêu cầu Moscow can thiệp với Hà Nội để cho phép việc sơ tán người Mỹ và người miền Nam ra khỏi Sài Gòn.

Ngày 24-4, Hà Nội trả lời thông qua Brezhnev rằng người cộng sản Việt Nam sẽ không ngăn trở việc di tản và không có ý định gây tổn hại cho uy tín của Mỹ.


(Ba Sàm lượm lặt từ BBC)

Mời xem thêm:

+ 65:Chiến Tranh biên giới Việt-Trung 1979(1);

+ 67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2);

+ 71:Phải tưởng niệm Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979

+ 72:Miền Bắc VN Vẫn Nhớ Cuộc Xâm Lược của TQ năm 1979(3)

+ 73:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979 (bài 4) (hình ảnh)

+ 76:Trung Quốc bị ám ảnh bởi những mối liên hệ với Khmer Đỏ.

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: | 13 phản hồi »

462. VN kiếm nhiều đồng minh để ngăn ảnh hưởng của TQ

Đăng bởi anhbasam on 05/02/2010

The New York Times

Việt Nam tranh thủ kiếm nhiều đồng minh để

ngăn ngừa tầm ảnh hưởng của Trung Quốc

Các ngư dân đang dỡ cá đánh bắt được từ một con tàu ở Đà Nẵng, Việt Nam. Trung Quốc đã và đang ngăn chặn các ngư dân Việt Nam hoạt động tại một quần đảo đang tranh chấp trên Biển Nam Trung Hoa. Hình của Hoang Dinh Nam/AFP

EDWARD WONG

04-02-2010


HÀ NỘI, Việt Nam – Quần đảo được gọi là Hoàng Sa nằm trong vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) cách bờ biển phía đông Việt Nam 250 dặm, có các khối đá, những dải đá ngầm và cù lao nhô lên khỏi mặt biển, mà với cái nhìn mơ hồ thì có vẻ như chúng chỉ có giá trị như là những rạn san hô bị vỡ, trôi vạt trên bãi biển.

Nhưng quần đảo đó và quần đảo Trường Sa lân cận rất giàu dầu mỏ và khí đốt. Nên các quốc gia nằm trong vòng cung rộng xung quanh Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thèm muốn các quần đảo này. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đã đua tranh đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, trong khi cả ba nước này và Philippines, Malaysia và Brunei đòi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa hoặc vùng biển xung quanh các quần đảo này.

To tiếng nhất là Việt Nam và đối thủ truyền thống của mình là Trung Quốc. Thật vậy, chẳng có vấn đề nào giữa hai nước này lại dễ gây xúc động hơn hoặc khó giải quyết hơn.


Vào tháng trước, căng thẳng leo thang thêm một bước nữa khi Trung Quốc tuyên bố kế hoạch phát triển du lịch ở Hoàng Sa, nơi mà quân đội Trung Quốc đã kiểm soát từ năm 1974. Đó là một khởi đầu không may cho những gì mà chính phủ hai nước đã chính thức đánh dấu là “Năm Hữu nghị” của mình.

Bộ Ngoại Việt Nam lớn tiếng lên án hành động của Trung Quốc như Việt Nam vẫn thường làm trong các tình huống này. Nhưng một cách âm thầm, Việt Nam đã làm nhiều hơn là chỉ khiếu nại, nó đã đặt nền tảng cho một chiến lược khác để nắm lấy những hòn đảo từ tay Trung Quốc.


Phía sau hậu trường, Việt Nam đang cố gắng hết sức đưa nhiều đối thủ nước ngoài vào các cuộc đàm phán để Trung Quốc sẽ phải mặc cả đa phương với tất cả các nước Đông Nam Á đòi chủ quyền lãnh thổ trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Điều này đi ngược lại mong muốn của Trung Quốc, chỉ muốn thương lượng song phương với từng quốc gia.


Nói cách khác, Việt Nam muốn tất cả các bên cùng ngồi chung bàn để ngăn chặn Trung Quốc, một nước khổng lồ. Chiến lược “quốc tế hoá” vấn đề này là chiến lược mà những nước nhỏ hơn ở châu Á như Việt Nam có lẽ thường dễ chấp nhận hơn khi tranh cãi với một nước Trung Quốc lớn mạnh về nhiều mặt. Ý tưởng này là: Khi mà quyền lực chính trị của Trung Quốc trên thế giới mở rộng thì các quốc gia nhỏ hơn sẽ chỉ kiếm được cơ chế đòn bẩy gây ảnh hưởng đối với Trung Quốc khi các nước này bắt buộc Trung Quốc thương lượng ở các diễn đàn đa phương.

Các quan chức Việt Nam “đang quốc tế hoá vấn đề này, và họ đang âm thầm thực hiện, nhưng không theo cách trực tiếp”, ông Carlyle A. Thayer, một học giả chuyên về khu vực Đông Nam Á và an ninh hàng hải, thuộc Học viện Quốc phòng Úc, đã nói. “Họ nói họ muốn giải quyết vấn đề này một cách hòa bình, nhưng để cho cộng đồng quốc tế nêu lên vấn đề”.

Các nhà phân tích nói rằng một thử thách lớn cho chiến lược này sẽ đến trong năm nay, khi Việt Nam nắm giữ vai trò lãnh đạo Hiệp hội các nước Đông Nam Á, tức Asean. Có khả năng Việt Nam sử dụng vị thế của mình để cố gắng thuyết phục các nước tham gia đàm phán lãnh thổ với Trung Quốc, theo nhận định của nhà phân tích. Trong tháng mười một, Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo tại thủ đô Hà Nội, có 150 học giả và các viên chức từ khắp châu Á đến để thảo luận về tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) – mở màn cho một chiến lược mới, các nhà phân tích nói.

“Điều mà tôi nhận ra là những tiến triển trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã làm tệ hơn hoặc có tiềm năng tệ hại hơn”, ông Thayer, người đã tham dự hội thảo nói.

Các quan chức tình báo quân đội Hoa Kỳ nói rằng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), khu vực có các đường vận chuyển bận rộn nhất thế giới, đang nổi lên như là một mối quan ngại về an ninh do Bắc Kinh đang ngày càng tăng cường một cách táo bạo sức mạnh hải quân trong khu vực này. Hai năm qua, Trung Quốc đã gây hấn bằng cách đòi kiểm soát khu vực này – giam giữ ngư dân Việt Nam, gia tăng tuần tra trên biển và cảnh cáo các công ty dầu mỏ nước ngoài không được làm ăn với Việt Nam.

Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong các tranh chấp, nhưng các viên chức Mỹ “vẫn lo ngại về tình trạng căng thẳng giữa Trung Quốc với Việt Nam khi hai nước đang tìm cách khai thác dầu mỏ và khí đốt nằm bên dưới biển Nam Trung Hoa (Biển Đông),” ông Scot Marciel, Phó trợ lý thư ký của chính phủ cho biết hồi tháng bảy khi ra điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ. Ông Marciel nói thêm rằng Trung Quốc đã thể hiện “sự khẳng định ngày càng gia tăng” việc Trung Quốc lầm tưởng về các quyền hàng hải.

Căng thẳng về các quyền như thế gây tai hoạ cho quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng. Chỉ mới tháng vừa rồi, Nhật Bản phản đối Trung Quốc lên kế hoạch khai thác các mỏ khí đốt ở Biển Đông Trung Hoa.

Đối với người Việt, tranh chấp trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) là vấn đề rất dễ gây xúc động vì nó đoàn kết hầu như tất cả mọi người dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước chống lại Trung Quốc, thậm chí cả những người lưu vong thường ghét cay ghét đắng Đảng Cộng sản đương quyền ở Việt Nam. Tại Houston, cộng đồng Nam Việt Nam thường là đối nghịch với chính phủ Việt Nam, một ban nhạc pop tự hào đặt tên là Hoàng Sa, là tên mà người Việt Nam đặt cho Paracels.

Trong tháng mười hai, Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc trả lại tàu thuyền và các dụng cụ đánh bắt cá tịch thu của ngư dân, những người bị quân đội Trung Quốc giam giữ gần quần đảo. Một cơ quan thông tấn Việt Nam ước tính Trung Quốc đã bắt giữ tổng cộng 17 tàu cùng với 210 ngư dân hồi năm ngoái; tất cả các ngư dân này đã được trả tự do.

Cũng trong tháng mười hai, thủ tướng Việt Nam đã ký một thỏa thuận mua vũ khí của Nga, theo như tin tức được loan, bao gồm việc mua sáu tàu ngầm diesel trị giá 2 tỷ USD, có lẽ sẽ được sử dụng ở Biển Nam Trung Quốc (Biển Đông).

Trong khi đó, Trung Quốc đã đồng ý tiếp tục đàm phán với Việt Nam, nhưng nước này chỉ sẵn sàng thảo luận về việc phát triển chung trong khu vực, chứ không phải về những vấn đề quanh chủ quyền lãnh thổ. Và nước này từ chối đàm phán với tất cả các nước Đông Nam Á có liên quan trong bất kỳ cuộc đàm phán đa phương nào.

“Có quá nhiều nước liên quan,” ông Xu Liping, một học giả khu vực Đông Nam Á tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc ở Bắc Kinh nói.

Đỗ Tiến Sâm, một học giả về Trung Quốc tại Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, đã cho biết là chính phủ Việt Nam tin rằng hoàn toàn ngược lại, các cuộc đàm phán “cần phải bao gồm các cuộc thảo luận giữa ít nhất năm quốc gia.”


“Tất cả mọi người cần phải ngồi xuống”, ông Đỗ nói.


Hội nghị diễn ra tháng mười một vừa qua đó không phải là một hội nghị chính thức cho các cuộc đàm phán mà là một hội thảo phần nào để thăm dò các cách tiếp cận đa phương cho vấn đề này. Mặc dù có sự phản đối của Trung Quốc đối với các phương pháp tiếp cận như thế, nhiều học giả từ các nhóm nghiên cứu ở Bắc Kinh đã tham dự.

Các nhà phân tích hoài nghi về việc liệu Việt Nam sẽ có được bất kỳ sự ủng hộ nào cho chiến lược mới của mình, đặc biệt là nếu Việt Nam quyết định nhấn mạnh vấn đề đó khi giữ chức chủ tịch Asean. Hiệp hội này có các thành viên không tranh giành gì cả như Campuchia và Myanmar.

“Phương pháp tiếp cận của Việt Nam phải đối mặt với những trở ngại thực sự”, ông M. Fravel Taylor, một nhà khoa học về chính trị tại Viện Công nghệ Massachusetts, người đã viết một cuốn sách về các vấn đề lãnh thổ của Trung Quốc. “Thật khó thấy được sự đồng thuận có thể đạt được trong khối Asean mà không có một cuộc xung đột vũ trang chính liên quan đến lực lượng của Trung Quốc.”


Người dịch: Ngọc Thu

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 8 phản hồi »

450. Đôi lời gởi hai ông đại sứ TQ tại VN

Đăng bởi anhbasam on 25/01/2010

Đôi lời gởi hai ông

đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam 

Tôn Quốc Tường và Dương Công Tố

Hoàng Lại Giang *


Ngày 6 tháng 1 năm 2010, họp báo ở Hà Nội, ông Tường nói những  vấn đề mà dân Việt Nam đang bức xúc bằng cái lối văn hết sức tế nhị rằng thời này hợp tác cùng làm ăn thì phát triển… Đấu tranh thì thất bại. Phải tôn trọng mười sáu chữ vàng. Đừng làm hỏng đại cục. Những vấn đề tranh chấp chưa chín muồi chờ cho chín muồi rồi hãy giải quyết….

Khác người thầy của ông một thời đã không úp mở: Dạy cho Việt Nam bài học! Ông Tường tỏ ra tôn trọng Việt Nam. Mọi việc được  ông phân tích lý giải khoa học, khách quan. Không ai thấy cái ý răn đe của ông. Không ai thấy cái khôn lỏi của ông ẩn khuất trong cái qui luật tất yếu: Đấu tranh thì thất bại.

Hoàng Sa, Trường Sa Trung Quốc chiếm. Điều đó thuộc quá khứ, thuộc lịch sử. Khi nào điều kiện chín muồi thì hãy bàn thảo. Bản thảo khi điều kiện chưa chín muồi chỉ có thất bại thôi. Ông không nói đòi mà ông nói đấu tranh. Ông không nói thua mà ông nói thất bại. Như bao nhiêu cuộc đòi đất, đòi nước khác. Kẻ mạnh bao giờ cũng dẫm lên xác của kẻ yếu mà đi tới!!!

Khi nói những ý này , ông Tường quên mất ông tổ Khổng Tử của ông đã từng dạy: Người quân tử không dạy cho người khác điều mà mình không muốn.

Nếu ai đó chiếm đất chiếm đảo của Trung Quốc ,chắc ông Tường nói khác.

Ngày 15 tháng 1 năm 2010 tôi  được  đọc hồi ký của đại sứ Dương Công Tố (1) có tên “ Tang thương 90 năm – Hồi ký một đặc sứ ngoại giao” (2)

Chắc không ít người Trung Quốc và nước ngoài sẽ không hiểu sao dân Việt Nam hiếu chiến thế? “Mới vừa đánh xong giặc Mỹ thống nhất Nam Bắc đã quay 180 độ nhằm đúng Trung Quốc, rêu rao Trung Quốc đã trở thành nước thù địch phương Bắc lớn nhất của mình. Quân đội Việt Nam không ngừng gây sự tại biên giới hai nước, gây ra xung đột, xâm chiếm lãnh thổ Trung Quốc, đốt phá nhà cửa, khiến dân cư Trung Quốc không thể sản xuất bình thường mà tính mạng còn bị đe dọa” (3)….

Đúng là mới hôm qua nhân dân Việt Nam còn nhận sự giúp đỡ hết tình, hết nghĩa của Trung Quốc, vậy mà hôm nay !!! Thật là một dân tộc bạc tình, bội nghĩa!

Đọc hai ông đại sứ tôi thấy nước Tàu thật đại tài, dạy như thế nào mà đại sứ của họ đều trở thành những nhà ngoại giao nước lớn. Nói câu nào chết cứng câu nấy. Khó ai bảo Tường răn đe Việt Nam! Không ai bảo Tố là vu oan giá họa cho Việt Nam.

Chỉ có điều hai ông đại sứ không đọc sử Việt Nam. Truyền thống dân tộc Việt Nam là : “Ăn quả nhớ người trồng cây” là  “Uống nước nhớ nguồn”.

Trong lịch sử, Việt Nam cũng thế. Mỗi lần đánh đuổi xong giặc phương Bắc, triều đình Việt Nam bao giờ cũng cử sứ thần mang triều cống qua cảm ơn cái sự “biết điều” lui binh của Thiên triều và xin mở đường hòa hiếu lâu dài.

Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của mình, Việt Nam luôn hiểu thân phận mình là một nước nhỏ đứng cạnh một nước khổng lồ. Làm sao mà dám gây chiến, mà dám gây hấn. Bao nhiêu tâm huyết dồn vào việc giữ nước cho yên lành đã là mừng lắm rồi, còn nói gì tới việc gây hấn, gây chiến, quấy rồi Thiên triều.

Nhưng lịch sử dân tộc Việt Nam cũng cho thấy không bao giờ Việt Nam quì gối, khom lưng trước một ai, ngay cả đối với Thiên triều.

Thời Lý, Lý Thường Kiệt, trước quân Tống đã ngẩng cao đầu, hiên ngang, dõng dạc:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

……

Còn Nguyễn Trãi thì phân minh, rạch ròi:

Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương (4)

Cha ông chúng tôi đã xác lập ngay từ đầu mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là mối quan hệ bình đẳng, không có quan hệ nước lớn, nước nhỏ, nói cách khác quan hệ giữa hai nước không thể, và mãi mãi không thể là mối quan hệ gia đình chồng vợ, anh em. Và vì vậy không thể cậy thế, cậy mạnh mà ức hiếp nhau….

Trong lịch sử quan hệ giữa hai nước, chỉ có Trung Quốc cậy mạnh mà thôn tính Việt Nam. Lịch sử ấy, hoàn cảnh xã hội địa chính trị ấy đã tạo cho người Việt Nam tinh thần cảnh giác cao độ.

Tống Thần Tôn một thời đã chiếm Quảng Nguyên của Việt Nam, trong đó có hai động: Vật Dương và Vật Ác. Vua Lý Nhân Tông sai binh bộ thị lang Lê Văn Thịnh sang Tống triều đòi bằng được. Người Việt Nam có câu tục ngữ hơi thô một chút : “ Để lâu cứt trâu hóa bùn”. Chậm, thì Tống triều nhập ngay cái đất thổ hào cống nộp ấy vào đất Tống và giao cho người Tống khai phá, thì chừng đó Việt Nam có đòi cũng không dễ.

Tới Minh Triều, người ta lại cho quân do thám vùng biên cương nước Việt. Lê Thánh Tông cho quân binh trừng phạt ngay. Người cho bắt tất cả bọn đi đo suối, đo khe và quậy phá dân ở biên ải Việt Nam về triều trừng trị rồi cử sứ thần sang Minh triều cảnh cáo. Có người e ngại. Nhà vua liền bảo: “Ta phải giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc  sông của Thái tổ để lại”.

Truyền thống của Việt Nam là cảnh giác chứ không phải bành trướng và xâm lược. Cho nên cái lối nói lấy được như đại sứ Dương Công Tố là nói điêu. Ở Việt Nam cái từ “ nói điêu” chỉ cách nói của bọn lăng loàn, đen nói trắng, không dựng thành có, cái nói của bọn “gái đĩ già mồm”.

Thời cận hiện đại cũng vậy. Pháp đem quân sang xâm lược Việt Nam. Cái cớ của xâm lăng là công giáo bị cấm đoán và cái sự đóng cửa cài then, không chịu bang giao của triều đình nhà Nguyễn. Thời hiện đại, cha ông chúng tôi phải nhờ Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em mới đánh đuổi được quân Pháp ra khỏi Việt Nam. Đấy cũng là thời kỳ thế giới phân cực thành hai phe : cộng sản và tư bản. Phe này là kẻ thù không đội trời chung của phe kia. Vì vậy Liên Xô và Trung Quốc cũng như các nước anh em nhận thức sâu sắc rằng giúp Việt Nam hồi ấy cũng là giúp chính mình. Việt Nam trở thành tiền đồn. Và vì vậy nhân dân Việt Nam phải hứng chịu một cuộc chiến tranh hủy diệt cực kỳ tàn bạo của phe tư bản đứng đầu là Mỹ. Ở chỗ này cần được cảm thông và cảm ơn hơn là kể công.

Do kinh nghiệm bị áp đặt ở hội nghị Geneve, ở hội nghị Paris những nhà lãnh đạo Việt Nam bằng sự mẫn cảm của mình thấy cần phải độc lập hơn trong tư duy và hành động. Mọi sự lệ thuộc đều phải trả giá.

Và hậu họa của độc lập tính đó là cuộc trả thù của Khơme Đỏ từ sau năm 1975. Chỗ dựa của Khơme Đỏ là ai, chắc cả thế giới đều biết. Tiếp đến là sự trả thù của chính Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình quyết “dạy cho Việt Nam bài học”! Đây là cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 mà ngài đại sứ Dương Công Tố qui chụp tội lỗi cho Việt Nam đấy!

Dẫu có phải trả giá như thế hoặc hơn thế thì thế hệ chúng tôi cũng biết ơn cha anh một thời đã thoát ra khỏi mối quan hệ anh em mang tính áp đặt gia đình như Tôn Quốc Tường dạy bảo ngày 6 tháng 1 năm 2010.

Trở về với tinh thần độc lập, tự chủ. Hơn ai hết Việt Nam nhận thức được giá trị của bài học lớn trong quá khứ, đấy là tính ảo tưởng. Mối quan hệ giữa nước này và nước kia không bao giờ là mối quan hệ Anh – Em, mối quan hệ Vợ – Chồng trong gia đình. Quyền lợi dân tộc, đó là nguyên tắc của mối quan hệ giữa các quốc gia.

Bài học thứ hai Việt Nam rút ra được trong trường kỳ lịch sử là cảnh giác với nền độc lập dân tộc và phải biết ứng xử thích hợp ngay với kẻ thù như tổ tiên chúng tôi một thời giữ nước.

Cha anh chúng tôi quay 180 độ hướng về kẻ thù phương Bắc đấy là một phản ứng chính đáng và chính xác. Không thể Nhẫn hơn nữa khi nền độc lập vừa được giành lại với bao xương máu của nhân dân Việt Nam bị đe dọa.

Nhẫn hơn nữa là mất nước. Điều ấy với nhân dân Việt Nam là không thể được!

Là người cùng thời tôi hiểu điều đó hơn ông đại sứ.


Tp Hồ Chí Minh

Ngày 20 tháng 01 năm 2010


(1) Đại sứ Việt Nam từ năm 1978

(2) Nhà xuất bản Nam Hải

(3) Bản dịch của Dương Danh Duy

(4) Bản dịch của Bùi Kỷ

* Ba Sàm chú thích:

- Nhà văn Hoàng Lại Giang – Tiểu sử.

- Các bài viết liên quan: Tôi đang viết về ông Sáu Dân (Người lao động – 28/6/2008); Nhà văn Hoàng Lại Giang:Người  chiêu tuyết  cho Trương Vĩnh  Ký (Văn nghệ Trẻ/Phong Diệp); Số phận của ‘Chân dung Nhà văn’ (BBC News – 5/6/2008); Hành trình tìm lại cội nguồn : một công trình lịch sử đáng được quan tâm (Văn chương Việt – 10/11/2008); Kỉ niệm trong một chuyến đi với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Tuần VN-29/5/2009).

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , | 6 phản hồi »

443. VIỆT NAM ĐÓN NĂM MỚI VỚI NHIỀU VẤN ĐỀ LO TOAN

Đăng bởi anhbasam on 22/01/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VIỆT NAM ĐÓN NĂM MỚI VỚI NHIỀU VẤN ĐỀ LO TOAN

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 14-1-2010

(Danchimviet)


Tập đoàn sản xuất vũ khí Raytheon của Mỹ vừa tuyên bố họ đã nhận được đơn đặt hàng quân sự trị giá 1,1 tỷ USD từ phía Đài Loan. Theo đó, Mỹ sẽ cung cấp cho Đài Loan các hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot. Câu chuyện về việc Quốc hộ Philippin đã thống qua dự luật về chủ quyền biển năm 2009 vừa xong khiến Trung Quốc tức giận thì nay lại đến chuyện Đài Loan, nơi chỉ cách Đại lục một eo biển và người dân hai bên cùng một gốc Hoa thần chủng, cùng nói tiếng Bắc Kinh (tiểng phổ thông) nay vẫn còn họ hàng anh em đi lại thăm nhau, thế mà hàng năm họ đã đổ ra hàng chục tỷ USD lo tân trang, mua sắm tên lửa, tàu chiến trước những cái mà hòn đảo này cho là mối đe doạ từ phía Đại lục.

Rồi việc Malaixia cũng phải bỏ tiền mua máy bay và nhiều vũ khí hiện đại của Pháp… là các dấu hiệu cho thấy các nước trong khu vực đang rất lo lắng về việc có các tàu chiến lớn với lá cờ đỏ nhiều sao suốt ngày diễu hành trên Biển Đông và thường làm những chuyện bất thường như bắt bỏ các tàu thuyền đánh cá của Việt Nam và các nước trong khu vực chủ quyền của chính họ. Những động thái đó là bất bình thường và như thể họ tự cho đây là khu vực riêng cảu mình, có độc quyền cai quản khu vực này dù nằm cách xa đất nước họ, điểm nhô ra biển nhất cũng là hàng trăn ngàn hải lý, đe doạ đến an ninh của các nước trong khu vực cùng chung sống.

Người ta lại đặc biệt quan tâm đến việc vừa mới đây ngày 23/12/2009, Đài Loan lại quyết định mua của Tập đoàn sản xuất vũ khí Raytheon của Mỹ hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot, một điều chắc chắn không làm hài lòng người anh em ruột thịt Trung Quốc. Là người bà con anh em cùng một gốc Hoa thì câu hỏi được đặt ra là tại sao Đài Loan hàng năm cứ phải lo mua sắm tên lửa, máy bay và tàu chiến để bảo vệ lãnh thổ của mình? Phải tìm hiểu được nó thì người ta mới có thể lý giải các việc lo toan của các quốc gia khác nhau trong khu vực khi thấy một người khổng lồ chân đất sau ba thập kỷ nay trở thành một cường quốc đang khiến các quốc gia này phải toát mồ hôi lo lắng trăm chiều và cảnh giác cao độ.

Để tìm hiểu câu trả lời, người ta rất chú ý đến những phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo Đài Loan phải trả lời trước dân chúng của mình về việc chỉ số tiền tốn kém để trang bị dàn tên lửa phòng thủ của mình, đó là trước tình trạng hiện nay Trung Quốc vẫn có ít nhất 1500 tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm thấp luôn hướng về Đài Loan và nhiều tàu chiến, máy bay chiến đấu hiện đại của phía Trung Quốc luôn sẵn sàng thực hiện lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo Trung Quốc là “không tha thứ cho hòn đảo này nếu họ tuyên bố độc lập”.

Vì thế, Đài Loan nhiều năm qua liên tục mua sắm các tàu chiến và máy bay của Mỹ và nhiều quốc gia khác để phòng thủ nhưng nay họ tập trung chủ yếu vào việc mua tên lửa Mỹ để phòng vệ. Như tuyên bố của nhà lãnh đạo Đài Loan thì: “Hệ thống Patriot là một nhân tố quan trọng trong việc cung cấp khả năng phòng thủ tên lửa và phòng thủ trên không, giúp Đài Loan có thể tự bảo vệ được mình”. Ngoài ra trên dọc các bờ biển của mình, Đài Loan đã phải xây các hầm phòng thủ kiên cố để cho dân ẩn nấp khi có một cuộc giao chiến với Trung Quốc. Các hầm cố thủ đó có đủ sức chống được cả những đòn tấn công bằng tên lửa và pháo hạng nặng từ phía Trung Quốc một khi họ bị tấn công. Vì thế, dư luận quốc tế càng thông cảm với Việt Nam trong tình trạng một số đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa bị Trung Quốc chiếm đóng, đã vậy người dân đánh cá luôn bị quấy nhiễu, bị săn đuổi bắt bớ dù đang làm ăn đánh bắt cá trên chính vùng biển và lãnh hải của quốc gia mình.

Không chỉ có Việt Nam mà ngay cả dư luận quốc tế đều thấy một điều lạ là mới cách đây không lâu tại các khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, các vua chúa Việt Nam còn cử người ra trông nom đảo biển của mình, điều đó đã được thể hiện bằng những chứng tích vừa thu được qua các phong dụ, bút tích của các triều đại vua chúa Việt Nam, của nhà Nguyễn và mới đây nhất của vua Bảo Đại trao thưởng cho các quần thần có công trông nom Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, trong đó có cả các sỹ quan người Pháp. Những khu vực đó từ xa xưa chưa bao giờ trong lịch sử được chính nhà Hán, nhà Thanh coi là lãnh hải của mình.

Vì thế chuyện nhà nước Việt Nam dẫu kinh tế còn có nhiều khó khăn, đời sống dân còn nhiều khó khăn, còn nghèo khó nhưng nhân dân rất vui vẻ, đồng tình với việc nhà nước phải dành tài chính mua sắm vũ khí như tàu ngầm, máy bay chiến đấu, tên lửa để bảo vệ biển và đảo của mình, đặc biệt khi mà Hoàng Sa và Trường Sa là vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Không những thế, nơi nơi nô nức sưu tầm hiến tặng các văn kiện, di tích lịch sử khẳng định chủ quyền về biển và đảo của Việt Nam từ những đời vua trước đây. Trong các văn bản thời đó cho đến thời Pháp thuộc đã chứng minh hùng hồn chủ quyền của đất nước Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và ngay cả đến thời Pháp thuộc cũng không hề có dấu ấn dù nhỏ nhất nào về chủ quyền mơ hồ của phía Trung Quốc với hai quần đảo này. Có thể nói, đây là thắng lợi quan trọng về mặt chứng cứ pháp lý.

Những ngày qua, bầu không khí tại khu vực này như lại càng nóng lên khi nhiều dân lành Việt Nam bị cướp tàu và các phương tiện sinh sống trở về nhà với hai bàn tay trắng luôn trong tinh thần hoảng loạn sau những ngày bị hành hạ, rồi lại chuyện Trung Quốc ngang nhiên tổ chức các tour du lịch đưa khách đến thăm Hoàng Sa, Trường Sa, những hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Phải chăng đây là biểu hiện rõ nết nhất về việc Trung Quốc quyết tâm thể hiện ý chí muốn biến Biển Đông thành biển nhà mình, bất chấp công ước quốc tế, không tuân thủ các nguyên tắc ứng xử về biển như họ đã cam kết với Việt Nam và các quốc gia trong khu vực và thể hiện ý đồ hợp thức hoá phù phép để biến đảo và biển của Việt Nam thành của mình? Rồi các cuộc diễu binh nhân ngày quốc khánh vừa qua, đó là lúc Trung Quốc có dịp để dương oai, trưng bày một phần kho vũ khí hiện đại của mình, nhưng liệu đã đến mức khiến các nước láng giềng nhìn vào mà khiếp nhược không? Câu trả lời dứt khoát là không! Tất cả các nước trên thế giới đều cho rằng Việt Nam từ xưa đến nay vẫn chủ trương giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải bằng thương lượng hoà bình, công bằng bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau nhưng cách làm này rất tiếc hình như phía Trung Quốc không muốn lắng nghe. Đã thế, phía Trung Quốc luôn muốn dùng thế thượng phong của một cường quốc lớn, kẻ mạnh để cho mọi người thấy Biển Đông là của mình họ”.

Người Việt Nam xưa nay có câu: “Thương nhau rào dậu cho kín”, trước những thách thức lớn không gì hơn là Việt Nam buộc phải trang bị hiện đại hoá quân đội của mình, công khai minh bạch trước dư luận quốc tế về chủ quyền biển và hải đảo của mình bằng các chứng cứ lịch sử và pháp lý không thể chối cãi, một mặt vẫn phải tăng cường khả năng phòng thủ và bảo vệ biển và đảo thuộc chủ quyền của mình. Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần cực lực lên án hành động vi phạm trắng trợn chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thể chối cãi của Việt Nam. Mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có các trí thức, các vị tướng lĩnh đã biểu thị lòng căm phẫn về các việc làm trên đây của Trung Quốc và đã đề nghị Nhà nước Việt Nam phải có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ lãnh hải, biển, và các đảo của Tổ quốc mình. Dư luận quốc tế cũng tỏ ra rất quan ngại về các hành động trên của phía Trung Quốc và đều nhất trí cho rằng ý đồ của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông thành “ao” của mình không phải là điều dễ dàng vì các nước càng bị sức ép của Trung Quốc họ càng tỏ thái độ không sợ sệt, càng kiên quyết hơn mà biểu hiện cụ thể là vừa qua Quốc hội Philippin đã quyết định xác lập chủ quyền vùng lãnh hải của mình bất chấp sự phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc, và càng có khả năng các nước nhỏ ở khu vực này sẽ liên kết lại thành một lực lượng lớn để đủ sức tạo cùng với Mỹ một thế cân bằng trong khu vực.

Đúng như Tướng Daniel Schaeffer (Pháp) đã tuyên bố trong cuộc hội thảo về Biển Đông tại Hà Nội vừa qua là: “ASEAN phải hành động cùng nhau trước khi thảo luận với Trung Quốc. Bằng cách đối thoại, dần dần từng bước vấn đề Biển Đông sẽ được giải quyết. Và sẽ là hữu ích nếu ASEAN tìm sự hỗ trợ từ các chuyên gia bên ngoài”. Nhận định của viên tướng này nay cũng trở thành nhận định của nhiều vị tướng lĩnh Mỹ, Pháp, Đức và là câu nói cửa miệng của các nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á cũng như các nhà bình luận quân sự hiện nay.

Người ta rất quan tâm đến những ý kiến của Tướng Daniel Schaeffer tại hội thảo ở Hà Nội khi ông nêu lên sự thật về đường lưỡi bò của Trung Quốc với những sự vô lý của nó, dựa trên Công ước Luật biển Quốc tế 1982 và những bằng chứng lịch sử liên quan đến Biển Đông mà ông có điều kiện tiếp xúc sớm và tiếp tục tìm kiếm các tài liệu quý về Biển Đông tại Pháp để đưa ra các bằng chứng lịch sử không thể chối cãi. (Ông Daniel Schaeffer từng là tuỳ viên quân sự Pháp tại Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc). Người ta cho rằng nếu Việt Nam đưa vấn đề này ra trước toà án Quốc tế Lahay thì phần thắng chắc chắn thuộc về phía Việt Nam và người ta đoán biết trước là phía Trung Quốc sẽ không có mặt và không chấp nhận quyết định này, nhưng đây sẽ là một thắng lợi pháp lý mạnh mẽ cho Việt Nam.

Trung Quốc mạnh là điều không chối cãi thể hiện qua việc chính họ đã khoe khoang và biểu dương cũng như qua sự đầu tư tiền của rất lớn vào việc tân trang mua sắm nhưng không có nghĩa là các quốc gia sợ đến mức không dám phản ứng, hành động để bảo vệ chủ quyền về lãnh hải, lãnh thổ đảo của chính mình. Nếu có ai đó đặt câu hỏi: Việt Nam có sợ một Trung Quốc mạnh? Câu trả lời dứt khoát của người Việt Nam là “Việt Nam không sợ mà phải cảnh giác, có vậy thôi”. Điều này đã được thấy trong bầu không khí sôi nổi đầy lòng yêu nước tại hội nghị bàn về quốc phòng toàn dân vừa qua.

Tại diễn đàn này người ta đã thấy rõ những ý kiến vô cùng kiên quyết của nhiều vị tướng lĩnh Việt Nam khi đã khẳng khái tỏ rõ quyết tâm bảo vệ đến cùng biển và đảo của đất nước mình mà đại diện như lời phát biểu của Thượng tướng Phan Trung Kiên đã biểu thị rõ: “Nếu ai cố tình đi làm cái việc trái ngược với lương tâm, đạo lý của loài người thì sẽ bị trả  giá”. Người ta cũng hoan hô lời tuyên bố của Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Trung tướng Đỗ Xuân Công: “Chúng ta có đủ điều kiện bảo vệ vững chắc biển đảo”. Mọi quốc gia trong khu vực đang hân hoan chào đón việc Việt Nam tiếp quản vai trò Chủ tịch ASEAN và hy vọng vấn đề biển và đảo trong khu vực tranh chấp sẽ sớm được giải quyết ổn thoả trên tinh thần của công ước quốc tế và của lịch sử đã để lại, có lý có tình. Người ta tin tưởng Việt Nam sẽ hoàn thành xứng đáng vai trò lãnh đạo này tương tự như vai trò trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mà Việt Nam đảm nhận trong những năm qua. Việt Nam đã để lại tiếng thơm rất đáng trân trọng. Đất nước Việt Nam luôn luôn yêu chuộng hoà bình, muốn giải quyết các bất đồng bằng biện pháp thương lượng trên những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và tôn trọng bình đẳng, có lý có tình chứ không phải là sợ đến mức không thể bảo vệ nổi biển và đảo của mình.

Đúng như Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã nói: “Trong tình hình hiện nay, lực lượng quân đội, nhất là hải quân nhân dân, phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác trong nhiệm vụ bảo vệ từng tấc đất, biển đảo của Tổ quốc”. Rõ ràng nhìn vào  những việc làm đó đã cho thấy Việt Nam đang cảnh giác chứ không phải nhìn bất kỳ ai dương oai múa võ là thấy sợ. Ngoài sự biểu thị tinh thần yêu nước cao độ của đồng bào trong nước, nay tại hải ngoại đa số đồng bào người Việt cũng đã biểu thị sự ủng hộ trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước thân yêu của mình. Như vậy sức mạnh của dân tộc đã được nhân lên gấp bội phần. Người ta hoàn toàn đồng ý với nhận định “Thế kỷ XIX, với một trái tim đập lạc nhịp với thế giới, cha ông ta đã thất bại khi đối đầu với làn sóng thực dân hoá. Ngày nay, chúng ta đối đầu với làn sóng toàn cầu hoá không thể bằng đôi mắt sợ hãi hay phòng thủ mà phải bằng ‘tinh thần toàn cầu’ và ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc thông qua những đóng góp của mình cho nhân loại chung” của bạn Nguyễn Lương Hải Khôi đăng trên báo Vietnamnet ngày 5/1/2010 mới đây. Biển Đông luôn bị nổi sóng, đó là do gió không ngừng thổi là sóng sẽ yên, biển sẽ lặng, vậy sóng liên tục xô vào bờ hình chữ S này là do đâu? Điều này mọi người đã có thể tự trả lời lấy câu hỏi đó, còn làm gì cho gió ngừng thổi thì mỗi quốc gia đều phải có cách của riêng mình.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

439. Cuộc xâm lăng Hoàng Sa của quân Trung Quốc, ngày 19-1-1974

Đăng bởi anhbasam on 19/01/2010

Đôi lời: Có lẽ đây là bài báo đầu tiên và duy nhất của trong nước từ năm 1975 kể về hành động xâm lăng này – cách hôm nay đúng 36 năm. Một bài báo mà nhắm tới được hai điều hệ trọng nhất nhưng còn gian nan của đất nước: chủ quyền lãnh thổhòa hợp dân tộc. Chỉ tiếc là nó không đi được tới cùng, như lời mở đầu và dự định của BBT báo. Hy vọng có ngày nào đó độc giả lại được nghe tiếp câu chuyện này.

Tuổi trẻ

Hoàng Sa – tường trình 35 năm sau

Thế Anh-Lữ Công Bảy

Thứ Ba, 08/09/2009, 06:31 (GMT+7)

Hơn 35 năm trước, những người con đất Việt đã nhận lệnh vượt trùng dương ra quần đảo Hoàng Sa canh giữ biển trời Tổ quốc. Họ tự hào ra đi trong tâm thế của người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Bây giờ nhắc lại, mắt họ rưng rưng, tim họ nghẹn lại khi Hoàng Sa vẫn còn trong tay nước ngoài.

Quân đồn trú Pháp – Việt chào cờ trên đảo Hoàng Sa

Từ số báo này, Tuổi Trẻ đăng tải hồi ức của những người từng canh giữ biển trời Hoàng Sa 35 năm trước. Thời gian dài trôi qua, nhưng những gì tận mắt họ chứng kiến, những gì họ trực tiếp tham gia không thể phai mờ trong tâm trí.

Kỳ 1: (Hình bên: ông Nguyễn Văn Đức)

Hoàng Sa trong ký ức một đảo trưởng

Cách nay đúng 40 năm, ông Nguyễn Văn Đức đã cùng các cộng sự vượt trùng dương đến với Hoàng Sa. Nhiệm vụ của ông là canh giữ biển trời Tổ quốc với chức vụ là đảo trưởng theo lệnh của Bộ chỉ huy biệt khu Quảng Đà. Lúc đó ông vừa tròn 22 tuổi, là một trong những đảo trưởng trẻ nhất từng làm nhiệm vụ trấn giữ tại quần đảo Hoàng Sa.

1. Mái đầu ông Nguyễn Văn Đức đã điểm muối tiêu của tuổi ngoài 60. Hỏi ngày nào đáng nhớ trong cuộc đời của mình, ông trả lời không chút đắn đo: “Đó là ngày 14-10-1969, tôi nhận được tờ sự vụ lệnh biên chế về trung đội Hoàng Sa ra đảo làm nhiệm vụ dưới chức danh đảo trưởng”.

Buột miệng hỏi ông về những lo lắng trước lúc lên đường làm nhiệm vụ, ông phản ứng: “Tại sao phải lo lắng? Đó là đất của cha ông mình để lại, là máu mủ thân yêu của Tổ quốc nên chúng tôi ra đi như lẽ bình thường, hiển nhiên. Chẳng có chút gì phải lo sợ khi chúng tôi đi trong tâm thế của một người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Khi đó quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, thuộc về người Việt, đó là sự thật lịch sử không thể chối cãi”.

Một ngày cuối tháng 10-1969, ông Đức cùng trung đội Hoàng Sa gồm 34 người và bốn nhân viên khí tượng rời cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) lên đường làm nhiệm vụ. Sau hơn 24 giờ lênh đênh trên biển, Hoàng Sa thân yêu hiện dần lên trước mắt ông.

Ông Đức nhớ lại: “Lúc đầu biển khá êm, nhưng khi rời đất liền được khoảng hơn 100km thì sóng lớn dần. Từ xa Hoàng Sa hiện lên giữa nền xanh của đại dương. Bao bọc quanh Hoàng Sa là những rạn san hô rộng lớn, vì thế chúng tôi không thể cặp tàu vào được mà phải dùng canô để chuyển quân và quân trang vào đảo. Trên đảo có một tòa nhà lớn được xây dựng từ thời Pháp thuộc, cao khoảng 8m, tường dày 2m dành cho đảo trưởng.

Trong phòng làm việc của đảo trưởng có một bức tường ghi tên tất cả những người lính đã ra đây giữ đảo. Và tên của chúng tôi đã được ghi lên đó, đó là niềm vinh dự lớn lao của một người con đất Việt. Xung quanh đảo là những rừng cây, tuy không to lớn nhưng cũng đủ để che chắn nắng gió cho lính đảo. Hình ảnh lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất tuyệt đẹp của Tổ quốc nơi xa đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ y nguyên. Xúc động lắm”.

2. Ông Nguyễn Văn Đức kể: “Nhiệm vụ của chúng tôi là đo đạc, báo cáo về sở chỉ huy ở đất liền những tin tức ở Hoàng Sa mỗi ngày. Anh em khí tượng làm nhiệm vụ quan trắc và báo cáo tình hình thời tiết để phục vụ cho tàu bè lưu thông trong vùng. Trang bị vũ trang lúc ấy không nhiều, chỉ có hai khẩu đại liên 50mm nhưng anh em vẫn kiểm soát được toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Tàu bè quốc tế ngang qua đều tôn trọng chủ quyền của chúng ta, và chúng ta cũng sẵn sàng hỗ trợ tàu bè khi gặp bão tố. Những lúc rảnh rỗi chúng tôi thường dùng canô đi qua các đảo lân cận để chơi vì cảnh quan ở đây rất hữu tình. Đảo Cát, đảo Chim, đảo Elbe, đảo Duncan, đảo Drumond… chúng tôi đều đã đặt chân đến”.

Tờ sự vụ lệnh quyết định điều chuẩn úy Nguyễn Văn Đức làm đảo trưởng Hoàng Sa tháng 10-1969 trong đợt thay quân thứ 38 của quân đội chính quyền Sài Gòn tại Hoàng Sa – Ảnh: Thế Anh

Trầm ngâm nhớ lại những ngày tháng gắn bó với mảnh đất xa xôi của Tổ quốc, cựu chuẩn úy Nguyễn Văn Đức kể tiếp: “Khi thủy triều xuống, cả rạn san hô hiện lên tuyệt đẹp như một rừng hoa biển. Mỗi khi nhớ đất liền, anh em lại lấy vài cành san hô bỏ vô chậu, bắt vài con cá nhỏ ngồi ngắm nghía bên tách cà phê đen. Có sống ở đảo mới thấy nhớ đất liền, yêu quê cha đất tổ. Thời tiết ở đây khá ôn hòa nhưng gió mạnh lắm, nhiều khi anh em bị gió đẩy ngã sóng soài. Tuy vất vả, thiếu thốn nhưng anh em thấy vui và hãnh diện khi được trấn giữ biển đảo quê nhà”.

Ông nói có hai di tích ở đảo Hoàng Sa ông không thể nào quên. Đó là cái miếu nhỏ ở góc đảo mà anh em lính đảo vẫn thường ra đó để tìm chút an bình giữa sóng gió.

Ông kể: “Mỗi khi sóng to gió lớn hay thấy lòng bất an, anh em chúng tôi thường tìm đến ngôi miếu. Lạ lắm, chỉ cần ngửi thấy mùi nhang khói là cảm giác ở xa đất liền như được gần lại. Hơn nữa, mùi nhang khói như gợi lên những tiềm thức về quê cha đất tổ, nhớ về nguồn cội. Đó là những điều cần thiết để những người con đất Việt như chúng tôi yên lòng nơi đầu sóng ngọn gió giữ gìn biển đảo của cha ông để lại. Cạnh đó là một nghĩa trang có hơn 30 ngôi mộ là hài cốt của những chiến sĩ người Việt ngã xuống vì bệnh tật nơi đảo xa, là nắm xương của những người con Việt đã nằm xuống sau những lần đụng độ với âm mưu xâm lược của ngoại bang.

Ở đó còn có cả hài cốt của những ngư dân từ miền Trung, miền Bắc gặp nạn trên đường mưu sinh. Và cũng có cả những nắm xương của lính nước ngoài bị chúng ta hạ gục khi âm mưu đánh chiếm đảo. Có một điều là chúng tôi không phân biệt địch ta khi họ đã ngã xuống, mỗi ngày rằm hay cuối tháng chúng tôi đều thắp nhang lên những nấm mồ hoang. Có lẽ đó là một nét đặc biệt của người Việt mình, là một hành xử đầy tính nhân văn, “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn” mà mỗi người Việt chúng ta còn lưu giữ được từ dòng máu Lạc Hồng!”.

Bia chủ quyền VN ở Hoàng Sa được dựng vào những năm 1930 (ảnh chụp tại phòng lưu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng)

Ngày 19-1-1974, ngày quân Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa – một phần máu xương của Tổ quốc VN, là ngày ông Đức cảm thấy đau đớn nhất trong cuộc đời mình. Ông xúc động kể lại: “Khi hay tin Hoàng Sa bị quân Trung Quốc tước đoạt bằng vũ lực, tôi đau đớn đến mức nước mắt không thể chảy được, lòng dạ như ai xát muối. Tôi biết ngoài kia những đứa con của đất Việt sẽ phải đổ máu vì quê hương. Tôi đau vì một mảnh đất tuyệt đẹp và giàu có của nước nhà đã bị ngoại bang vô cớ cướp đoạt. Đó là nỗi đau của một người con đất Việt!”.

Là một người từng học và hiểu biết về luật quốc tế, ngay trong ngày Hoàng Sa bị chiếm đó ông đã âm thầm lục tìm lại những tài liệu liên quan, gói ghém cẩn thận nhằm làm bằng chứng chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa. Đó là tờ sự vụ lệnh đã nhàu nát và úa vàng vì thời gian.

35 năm sau, ông Đức quyết định liên hệ với chính quyền và báo Tuổi Trẻ để cung cấp những bằng chứng quý báu đó. Có lẽ những ai quen biết ông đều không mấy khó hiểu về hành động yêu nước của ông khi biết trong ngày 30-4-1975, ông đã từng xuống tàu để rời Việt Nam, nhưng trong một tích tắc của thời khắc lịch sử ông đã nhảy lại lên bờ, bởi ông biết không nơi đâu bằng quê hương.

Ông Đức lần giở lại tờ sự vụ lệnh năm nào rồi nói: “Chừng nào Hoàng Sa vẫn còn trong tay ngoại bang thì niềm vui vẫn chưa thể gọi là trọn vẹn được. Tôi sợ rằng lớp trẻ sẽ quên mất Hoàng Sa, sẽ quên mất một phần máu thịt của Tổ quốc, sẽ quên mất rằng có rất nhiều người con của đất Việt đã ngã xuống vì Hoàng Sa trong ngày đáng nhớ 19-1-1974”. Có lẽ đó không chỉ là điều trăn trở của riêng ông.

Kỳ 2: (Hình bên: ông Lữ Công Bảy)

Thứ Tư, 09/09/2009, 16:05 (GMT+7)

Biển động

Tác giả câu chuyện này là người đã có mặt trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 35 năm trước: ông Lữ Công Bảy – quân nhân trên chiến hạm Trần Khánh Dư HQ-4. Sau ngày giải phóng 1975, ông Bảy vẫn ở lại VN, phục vụ trong lực lượng hải quân quân đội nhân dân VN. Hiện ông là nhân viên bảo vệ của Đài truyền hình VN tại TP.HCM.


Khi tôi ghi lại những dòng hồi ký này, sự việc đã xảy ra 35 năm (1974 – 2009). Đã 35 năm trôi qua, những gì tận mắt tôi đã chứng kiến, những gì tôi đã trực tiếp tham gia trong trận hải chiến với hải quân Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974 vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi.

Lúc bấy giờ tôi là thượng sĩ giám lộ (giám sát lộ trình – hàng hải) trên khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 (chiến hạm tối tân nhất của hải quân Sài Gòn thời bấy giờ) với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng ngành giám lộ, kiêm hạ sĩ quan phụ tá trưởng khối hành quân.

Với chức danh đó, lúc nào (trong nhiệm sở tác chiến hay hải hành) tôi đều phải có mặt thường xuyên trên đài chỉ huy, thường xuyên bên hạm trưởng Vũ Hữu San (trung tá hải quân). Nhiệm vụ của anh em chúng tôi là ghi lại nhật ký tác chiến, nhật ký hàng hải, xác định vị trí của chiến hạm, đồng thời nhận và chuyển những tài liệu bằng đèn và cờ.

Hôm ấy, ngày 16-1-1974, gió mùa đông bắc thổi mạnh trên biển Đông. Biển động mạnh. Chiến hạm chúng tôi đang tuần tiễu vùng biển Quảng Ngãi từ Sa Huỳnh đến cù lao Ré (đảo Lý Sơn). Đây đã là ngày thứ 14 lênh đênh trên biển. Chỉ còn một ngày nữa chiến hạm sẽ được về Đà Nẵng nghỉ bến, anh em thủy thủ đoàn rộn ràng nghĩ đến ngày được vào đất liền.

Chưa kịp dùng cơm trưa thì từ trung tâm truyền tin đưa lên đài chỉ huy một công điện thượng khẩn: lệnh cho tàu về ngay Đà Nẵng. 17 giờ tàu về đến quân cảng Đà Nẵng (cảng Tiên Sa). Hạm trưởng San và đại úy Diên – trưởng khối hành quân, được lệnh lên họp khẩn cấp ở trung tâm hành quân Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải. Từ trung tâm hành quân, hạm trưởng điện về tàu lệnh cho ban ẩm thực lên bờ đi chợ (tiếp tế lương thực).

20 giờ hạm trưởng San về tàu. Lệnh cấm trại 100% được ban ra. Ban cơ khí chuẩn bị bắt ống để nhận dầu và nước ngọt. Đến 21g, hai chiếc xe GMC chở một trung đội với đầy đủ vũ khí đạn dược xuất hiện. Lần đầu tiên trước mắt tôi được chứng kiến một toán quân mặc quân phục lạ lùng. Sau một hồi dọ hỏi tôi mới biết đây là lực lượng biệt hải. Tôi được lệnh từ đại úy Diên chuẩn bị hải đồ đi Hoàng Sa. 23g, tàu khẩn cấp rời cảng Tiên Sa trực chỉ Hoàng Sa. Tôi cảm giác có một chuyện gì lớn lao sắp xảy ra.

Ngày N+1

11g30 ngày 17-1, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. Trước đó ngày 16-1, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 do hải quân trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng cũng đã có mặt tại Hoàng Sa.

HQ-4 tiến gần đảo Vĩnh Lạc. Còi tác chiến vang lên, tất cả thủy thủ đoàn đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu. 14 giờ, trung đội biệt hải được lệnh rời tàu trên ba xuồng cao su, 20 phút sau trung đội biệt hải đã đổ bộ lên rìa đảo an toàn và nhận lệnh tiến sâu vào đảo lục soát.

Báo cáo từ đoàn quân gửi về: không phát hiện gì ngoài vài nấm mộ hình như mới đắp, không có bia, chỉ có cọc gỗ và bảng gỗ đóng trước đầu mộ ghi bằng chữ Trung Quốc với ngày sinh và ngày chết hàng mấy chục năm về trước.

Các chiến sĩ biệt hải được lệnh đào bới các nấm mộ giả lên, hóa ra chẳng thấy xương cốt gì cả. Đây là những nấm mộ ngụy tạo mà ai đó đã dựng lên để chứng tỏ có người Trung Quốc đã sống và chết trên đảo mà thôi. 16g30, lực lượng biệt hải được lệnh rút về tàu.

Đến buổi chiều, phòng chiến báo theo dõi qua hệ thống rađa tầm xa đã phát hiện hai mục tiêu trên biển đang di chuyển đến quần đảo Hoàng Sa. Từ nóc đài chỉ huy, các bộ phận quan sát bằng ống nhòm đã nhìn thấy hai tàu chiến lạ. Trung tâm chiến báo được lệnh theo dõi và báo cáo thường xuyên mọi hoạt động, hướng đi, khoảng cách của hai tàu trên.

Đêm 17 rạng 18-1 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Còi nhiệm sở tác chiến báo động suốt đêm. Phía Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích, các chiến hạm của họ tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. Tàu HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh cáo: Đây là lãnh hải của Việt Nam. Yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay! Phía Trung Quốc đáp trả, cho rằng Hoàng Sa là của họ.

Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu VN trên đường ra Hoàng Sa – Ảnh tư liệu

Ngày N+2

Sáng 18-1, chiến hạm HQ-4 của chúng tôi tiến về đảo Cam Tuyền. Lúc 8g, trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ lên đảo. Sau khi lục soát chỉ phát hiện những nấm mộ mới đắp không hài cốt y như ở đảo Vĩnh Lạc.

Đến 11g, đài khí tượng và quân đồn trú đảo Hoàng Sa báo cáo có hai tàu đánh cá vũ trang mang cờ Trung Quốc xâm nhập và tiến gần đến đảo Hoàng Sa, tàu HQ 4 và HQ 16 được lệnh tiến về đảo Hoàng Sa. Khi tiến đến gần tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc, tàu HQ-4 dùng tín hiệu cảnh cáo và đuổi đi nhưng cả hai tàu Trung Quốc cố tình khiêu khích.

Tàu HQ-4 tiến thẳng đến một tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc. Trên tàu có khoảng 30 thuyền viên mặc đồng phục màu xanh dương đậm. Tàu được trang bị hai thượng liên (một đằng trước mũi và một đằng sau lái tàu), ngoài ra có rất nhiều súng AK 47. Tàu HQ-4 quyết định áp sát mạn tàu đánh cá Trung Quốc để xua đuổi.

Hai bên đánh nhau bằng… võ mồm. Thấy không tác dụng, tàu HQ-4 lùi ra dùng mũi tàu ủi thẳng vào tàu Trung Quốc, mũi tàu HQ-4 và neo mũi vướng vào cửa và hành lang phòng lái làm gãy hành lang và cong cửa phòng lái của tàu Trung Quốc. Trước thái độ cương quyết của hải quân VN, họ vội vàng tháo lui. Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt xua đuổi tàu đánh cá vũ trang còn lại.

Cũng trong sáng 18-1, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 do trung tá hải quân Phạm Trọng Quỳnh làm hạm trưởng được lệnh tăng cường ra Hoàng Sa. Cùng đi trên HQ-5 có đại tá Hà Văn Ngạc, được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ Hoàng Sa. Ngoài ra, đi theo tàu có một trung đội người nhái (lực lượng đặc biệt của hải quân).

Lúc 15g30 chiều 18-1, lệnh đại tá Ngạc cho ba chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 sắp đội hình hàng dọc tiến thẳng về đảo Duy Mộng. Khoảng 16g, có hai tàu chiến Trung Quốc bắt đầu khiêu khích, cắt đường ngang mũi HQ-4 và HQ-16. Đội hình bị chia cắt không thể tiến lên được vì các tàu rất gần nhau, các khẩu đại bác sẵn sàng nhả đạn nhưng không ai được lệnh nổ súng.

Đêm 18 rạng ngày 19-1, tàu chiến và tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc vẫn tiếp tục khiêu khích, tiến đến gần đảo Hoàng Sa. Chiến hạm HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Tình hình dịu hơn khi tàu Trung Quốc rút lui về hướng bắc.

Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 do thiếu tá hải quân Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng đã ra chi viện cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa.

——

Tình hình tại biển Đông đột ngột trở nên căng thẳng vào ngày 11-1-1974 khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đang được chính quyền Sài Gòn quản lý, là một phần lãnh thổ của họ. Ngay sau tuyên bố nói trên, hải quân Trung Quốc đã mở màn chiến dịch xâm chiếm Hoàng Sa bằng cách tung nhiều chiến hạm và tàu đánh cá vũ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa.

Trong các ngày kế tiếp, phía Trung Quốc bất ngờ đổ người lên các đảo của Việt Nam. Đến ngày 15-1-1974, quân Trung Quốc đã chiếm đóng các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drummond)…

Ngày 12-1-1974, ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động gây hấn của Trung Quốc, đồng thời Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn đã đưa bốn chiến hạm ra vùng biển Hoàng Sa để bảo vệ lãnh thổ. Và trận hải chiến Hoàng Sa đã nổ ra ngày 19-1-1974.

B.T.

——-

Cùng bạn đọc

TT – Vì lý do ngoài ý muốn, chúng tôi xin tạm dừng hồ sơ “Hoàng Sa – tường trình 35 năm sau”. Chúng tôi sẽ tiếp tục đề tài này vào thời điểm thích hợp. Chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc.

Tuổi Trẻ

——–

(18h 30 cùng ngày) Cáo lỗi bà con - còn một kỳ nữa, do độc giả phát hiện, xin đăng luôn. Không ngờ sau khi Tuổi trẻ đăng khúc “cùng bạn đọc” ở trên được 5 ngày, không hiểu vì sao loạt bài lại được tiếp tục? Chiến thuật “du kích”? Hic hic! …

Thứ Hai, 14/09/2009, 10:00 (GMT+7)

Kỳ 3:

Ngày N+3

Lúc 6g sáng 19-1-1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo. Không một tàu chiến nào của Trung Quốc phát hiện được HQ-4 và tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5.

Sơ đồ các hướng tấn công trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974

Khi gần đến đảo, bằng ống nhòm và mắt thường từ đài chỉ huy, chúng tôi đã phát hiện doanh trại mới toanh và cột cờ có cờ Trung Quốc (trước đó hơn một tháng, HQ-4 trong một chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam đã không phát hiện gì ngoài chai lọ trôi tấp lên bãi cát). Chúng tôi hiểu rằng quân Trung Quốc đã bí mật chiếm đảo. Hai mươi phút sau, lực lượng biệt hải đổ bộ lên đảo (mặt đông nam). Lực lượng đổ bộ cắm cờ Việt Nam lên bờ cát và hốc đá, rồi khẩn cấp tiến vào bên trong đảo.

Trong khi đó, lực lượng người nhái vẫn còn ngoài xa chưa vào được vì HQ-5 không thể vào sát bờ, gió mùa đông bắc thổi khá mạnh, các xuồng cao su bị sóng gió giật dữ dội không vào bờ được. HQ-5 phải thả tàu cứu hộ xuống để kéo các xuồng cao su vào. Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát chúng tôi đã phát hiện một tàu Trung Quốc đang đổ bộ một đội quân đông đảo lên phía bắc đảo, hàng trăm quân Trung Quốc ồ ạt vào đảo rất nhanh vì xuôi gió.

Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 – một trong bốn tàu tham gia trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 – Ảnh tư liệu

Thế rồi báo cáo bất lợi dồn dập gửi về đài chỉ huy tàu HQ-4. Một số đông quân Trung Quốc nấp sau các tảng đá chĩa thẳng mũi súng vào đội hình biệt hải. Trên mặt biển lúc ấy, chúng tôi thấy tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 và hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đang tiến về rìa tây nam đảo, theo sau là bốn tàu chiến Trung Quốc đang tiến vào đội hình của ta. Tình hình bắt đầu căng thẳng, báo hiệu một trận đụng độ sinh tử không thể nào tránh khỏi. Trong khi đó ở phía bắc đảo, những chiếc tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc tiếp tục cho đổ người ồ ạt lên đảo của ta.

Và họ nổ súng trước. Vào lúc 8g30, một loạt đạn đại liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sĩ tử thương và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.

Lệnh nổ súng

Lúc đó, sát bên tàu HQ-4 của chúng tôi đã xuất hiện hai tàu chiến Kronstadt của Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 li và nhiều đại bác 37 li. Các họng súng đại bác Trung Quốc đều đang chĩa thẳng vào tàu HQ-4.

* Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm toàn bộ các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa do VN quản lý, ngày 19-1-1974 và 14-2-1974 chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên cáo về việc Trung Quốc “xâm lăng trắng trợn bằng quân sự” và tái khẳng định về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa.

* Ngày 20-1-1974, ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn cũng đã gọi điện và gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng sa.

* Trong khi đó, ngày 26-1-1974, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN cũng đã ra tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và công bố lập trường “về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của VN.

* Sau ngày miền Nam giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN đã nhiều lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của VN. Và ngày 5-6-1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam VN đã lên tiếng bác bỏ những thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa – Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền VN, từ trước đến nay đều do người VN quản lý.

B.T.

Các tín hiệu bằng đèn hiệu được liên tục chuyển đến HQ-4. Chúng tôi nhận những tín hiệu từ tàu Trung Quốc và trình cho hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San. Nghe xong một nội dung cực kỳ khiêu khích từ tàu Trung Quốc, hạm trưởng San tức thì đỏ mặt, quát tháo ầm ĩ. Quay sang chúng tôi, ông ra lệnh không nhận tín hiệu từ tàu Trung Quốc nữa.

Vào thời điểm hết sức căng thẳng này, khi trận chiến sắp nổ ra, việc thông tin liên lạc giữa lực lượng bảo vệ Hoàng Sa và Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải thường xuyên bị đứt. Tần số liên lạc bị phá rối, trên hệ thống bộ đàm chỉ nghe toàn tiếng Hoa. Đại tá Hà Văn Ngạc, lúc đó đang ở trên chiến hạm HQ-5, được giao toàn quyền hành động (lệnh khai hỏa đã được truyền đi từ Bộ tư lệnh hải quân vùng 1  duyên hải trước đó. Nhưng một hồi lâu sau, quyết định nổ súng mới được thực hiện sau cuộc điện đàm giữa đại tá Ngạc và tư lệnh hải quân vùng 1 Hồ Văn Kỳ Thoại – B.T.).

Đại tá Ngạc ra lệnh: Tất cả đại bác đều phải hướng lên đảo. Khi nhận lệnh bắn thì tất cả khai hỏa lên đảo, dọn đường lập đầu cầu để biệt hải và người nhái đổ bộ tái chiếm đảo. Đó là lệnh từ soái hạm chỉ huy HQ-5. Nhưng hạm trưởng Vũ Hữu San đã bực bội trước lệnh này. Trước khi chuẩn bị nổ súng, đại tá Hà Văn Ngạc có hỏi ý kiến từng hạm trưởng.

Đến khi hỏi ý kiến HQ-4, hạm trưởng Vũ Hữu San gằn từng tiếng trong bộ đàm: “Trình đại bàng, tôi là quân nhân, tôi chấp hành quân lệnh nhưng hiện nay nước cờ đã bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ, muốn đổ bộ lên chiếm đảo trước mắt phải tiêu diệt lực lượng trên biển trước khi tính đến việc đổ quân, hiện nay số tàu địch gấp đôi tàu ta, quân địch đã đổ bộ từ sáng đến giờ đầy trên đảo, ta chỉ có hai trung đội thì làm sao thành công được?”. Rồi hạm trưởng San nói tiếp: “Tôi là quân nhân, tôi chấp nhận hi sinh vì Tổ quốc, nhưng…”.

Ông cúp máy và ra lệnh: “Tất cả khẩu súng nhắm thẳng vào tàu địch!”.

Quyết liệt

Đúng 10g20, bốn chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, hạm trưởng Vũ Hữu San ra lệnh “bắn”. Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì trúng đạn, vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa.

Chiến hạm HQ-4 chạy uốn lượn như con rắn, hết sang phải lại sang trái nên đã tránh được loạt đạn đại bác của đối phương. Thế rồi các cột nước bùng lên, đạn rít xung quanh tàu vèo vèo. Một mảnh đạn phạt lủng đài chỉ huy, văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu Trung Quốc qua màn hình rađa. Thượng sĩ nhất giám lộ Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái. Hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy, bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ cả áo. Tiếng la ơi ới của các anh em bị thương vọng lên đài chỉ huy.

Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 – Ảnh tư liệu

Tuy nhiên, chiến hạm HQ-4 vẫn vững vàng trong cuộc hải chiến. Đài quan sát trên nóc báo cáo có tàu Trung Quốc đang đuổi theo. Tôi nhìn ra phía sau vừa thấy hai tàu chiến Trung Quốc. Liền lúc đó từ mạn phải HQ-5 cắt đuôi HQ-4 rồi phóng thẳng vào hai tàu đối phương. Những khối cầu lửa từ mũi HQ-5 bắn ra (đại bác 127 li) bay thẳng vào tàu Trung Quốc. Một chiếc trúng đạn bốc cháy, một chiếc quay ngang và sau đó lãnh đủ hàng loạt đạn từ HQ-4.

Nhưng ngay lúc đó, thông tin từ HQ-5 cho biết ụ tháp đại bác 127 li của tàu này đã bị trúng đạn, ba quân nhân tử thương, hai bị thương nặng. HQ-4 vòng lại yểm trợ HQ-5. Không thấy tàu HQ-16 và HQ-10 đâu cả. Liên lạc mãi với hai tàu này vẫn không được.

Thật ra lúc ấy tàu HQ-10 đã bị thương nặng. Tàu này nhỏ, cũ kỹ, các khẩu đại bác xoay trở bằng tay nên bị trúng liền hai quả 100 li từ tàu Trung Quốc. Trong bộ đàm tôi đã nghe tiếng bạn tôi, trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương, báo cáo: HQ-10 đã bị trúng đạn, hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử thương, hạm phó Thành Trí trọng thương ngay bụng. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều bị tử thương và bị thương rất nặng.

HQ-4 và HQ-5 quay đầu về hướng nam. Sau đó một giờ không còn thấy HQ-5 ở đâu. HQ-5 do máy yếu và một máy bị sự cố chưa kịp khắc phục nên “rớt” lại đâu đó. Trên biển HQ-4 trở nên lẻ loi một mình. Đó cũng là lúc hải quân Trung Quốc tung xuống một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm gần đó và từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, hạm trưởng Vũ Hữu San đã vẽ một đường trực chỉ về Đà Nẵng.

Lúc này tôi mới rời được đài chỉ huy. Trên đường xuống nơi nghỉ ngơi, tôi đã chứng kiến một cảnh tượng kinh khủng sau chiến trận. Hành lang dưới tàu tanh đến ngộp thở: mùi máu, mùi cồn, bông băng… Hơn 130 binh sĩ bám chặt vị trí chiến đấu giờ đều mệt lả, nằm đâu ngủ đó. Họ chỉ cầm hơi bằng mì gói, nước ngọt và lương khô. Các binh sĩ biệt hải kiệt sức nằm rải rác trên hành lang phòng ăn.

Nỗi đau còn lại

Khoảng 16g30, tôi đang trong giấc ngủ sâu vì đã mấy hôm không chợp mắt thì còi tập họp vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn tập họp đầy đủ nghe thông báo: “Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tàu được lệnh quay lại Hoàng Sa. Nếu cần sẽ ủi thẳng lên bờ đảo Hoàng Sa, chiến đấu đến cùng để giữ đảo”. Nhìn sau lái tàu, tôi biết tàu đang quay lại và hướng thẳng về Hoàng Sa. Tất cả đều bất động, không ai nói với ai một lời nào trước giờ phút cảm tử này.

Tôi vào phòng hải đồ phía sau đài chỉ huy mệt lả và thiếp đi, đến khi thức dậy trời tối hẳn, trung sĩ nhất giám lộ Khiết cho biết tàu đang quay đầu về Đà Nẵng. Anh nói hạm trưởng San báo cáo thẳng với tư lệnh hải quân là HQ-4 không còn khả năng chiến đấu, lương thực cạn, cơ số đạn không còn đủ để tác chiến, các khẩu đại bác đều có trục trặc… Lệnh từ đất liền: các tàu quay về, hủy bỏ lệnh tấn công tái chiếm Hoàng Sa.

5g30 sáng 20-1 HQ-4 về đến cảng Tiên Sa, 9g tàu HQ-5 tiến vào vịnh Đà Nẵng. Lúc 12g30, tàu HQ-16 bị thương nặng, từ từ tiến vào vịnh với sự trợ giúp của hai tàu lai dắt biển.

Tối hôm đó, 20-1-1974, cũng là đêm 30 tết âm lịch, anh em chúng tôi được dự buổi liên hoan tất niên cuối năm theo truyền thống. Giữa mâm cao cỗ đầy nhưng ai nấy đều buồn bã, không thiết gì đến ăn uống. Mọi người vẫn hết sức lo lắng cho số phận đồng đội đang trôi giạt trên sóng biển giữa ngày tết thế này, lo lắng cho số phận anh em mắc kẹt lại các đảo. Ai cũng hồi tưởng trận hải chiến hôm qua và đau đớn trước một điều: dù đã cố gắng hết sức vẫn không giữ được mảnh đất thiêng liêng mà tổ tiên để lại.

Trận hải chiến Hoàng Sa chỉ kéo dài hơn 30 phút, nhưng nỗi đau ấy vẫn làm quặn thắt trái tim chúng tôi dù 35 năm đã trôi qua.

LỮ CÔNG BẢY

Theo các nhân chứng trên tàu Nhật Tảo HQ-10 còn sống sót, khi hộ tống hạm này sắp chìm, 28 thủy thủ đã được lệnh đào thoát bằng các phao bè. Họ đã trôi giạt trong sóng gió 78 giờ liền, và sáu người đã chết trên biển vì kiệt sức hoặc bị thương quá nặng, trong đó có hạm phó Nguyễn Thành Trí. Mãi đến chiều 22-1 họ mới được tàu dầu của Hãng Shell là Kopionella mang quốc kỳ Hà Lan cứu vớt. Lúc lên tàu, thêm một thủy thủ nữa qua đời vì kiệt sức.

B.T.

—————


Bổ sung của BS:

Danh sách một số trong 74 chiến sĩ (danh sách của GS Nguyễn Văn Canh là 74) đã nằm xuống để bảo vệ Hoàng Sa trong trận hải chiến cách đây đúng 36 năm:



HQ.10 & Tường-Trình
Ủy-Khúc #
Tên Số Quân
1   ? HQ.Th/Tá Ngụy-Văn Thà 63A/700.824 HT
2  121BTL/HĐ HQ.Đ/Úy Nguyễn-Thành Trí 61A702.714 HP
3   ? ThS.1/TP Châu QNT
4  121BTL/HĐ TS /QK Nguyễn-Văn Tuấn 71A700.206
5  121BTL/HĐ TS /GL Vương Thương 64A700.777
6  121BTL/HĐ TS /TP Võ-Văn Nam 71A705.697
7  121BTL/HĐ TS /VCh Phan-Ngọc Đa 71A703.001
8  121BTL/HĐ ThS ĐT Trần-Văn Thọ 71A706.845
9   ? TT ĐT Thanh ?
10 157BTL/HĐ HQ.Tr/Úy Vũ-Văn Bang 66A/702.337
11 157BTL/HĐ HQ.Tr/Úy Phạm-Văn Đồng 67A/701.990
12 157BTL/HĐ HQ.Tr/Úy Huỳnh-Duy Thạch 63A/702.639 CKT
13 157BTL/HĐ HQ.Tr/Úy Ngô-Chí Thành 68A/702.453
14 157BTL/HĐ HQ.Tr/Úy Vũ-Đình Huân 69A/703.058
15 157BTL/HĐ THS.1/CK Phan-Tân Liêng 56A/700.190
16 157BTL/HĐ THS.1/ĐK Võ-Thế Kiệt 61A/700.579
17 157BTL/HĐ THS. /VC Hoàng-Ngọc 53A/700.030
18 157BTL/HĐ TRS.1/VT Phan-Tiến Chung 66A/701.539
19 157BTL/HĐ TRS. /TP Huỳnh-Kim Sang 70A/702.678
20 157BTL/HĐ TRS. /TX Lê-Anh Dũng 70A/700.820
21 157BTL/HĐ TRS. /ĐK Lai-Viết Luận 69A/700.599
22 157BTL/HĐ TRS. /VC Ngô-Tấn Sơn 71A/705.471
23 157BTL/HĐ TRS. /GL Ngô-Văn Ơn 69A/701.695
24 157BTL/HĐ TRS. /TP Nguyễn-Thành Trong 72A/700.861
25 157BTL/HĐ TRS. /TP Nguyễn-Vinh Xuân 70A/703.062
26 157BTL/HĐ TRS. /CK Phạm-Văn Qúy 71A/703.502
27 157BTL/HĐ TRS. /CK Nguyễn-Tấn 66A/701.761
28 157BTL/HĐ TRS. /CK Trần-Văn Ba 65A/700.365
29 157BTL/HĐ TRS. /ĐT Nguyễn-Quang Xuân 70A/703.755
30 157BTL/HĐ TRS. /BT Trần-Văn Đàm 64A/701.108
31 157BTL/HĐ HS.1 /VC Lê-Văn Tây 68A/700.434
32 157BTL/HĐ HS.1 /VC Lương-Thành Thu 70A/700.494
33 157BTL/HĐ HS.1 /TP Nguyễn-Quang Mén 65A/702.384
34 157BTL/HĐ HS.1 /VC Ngô Sáu 68A/700.546
35 157BTL/HĐ HS.1 /CK Đinh-Hoàng Mai 70A/700.729
36 157BTL/HĐ HS.1 /CK Trần-Văn Mông 71A/703.890
37 157BTL/HĐ HS.1 /DV Trần-Văn Định 69A/700.627
38 157BTL/HĐ HS /VC Trương-Hồng Đào 71A/704.001
39 157BTL/HĐ HS /VC Huỳnh-Công Trứ 71A/701.671
40 157BTL/HĐ HS /GL Nguyễn-Xuân Cường 71A/700.550
41 157BTL/HĐ HS /GL Nguyễn-Văn Hoàng 72A/702.678
42 157BTL/HĐ HS /TP Phan-Văn Hùng 71A/706.091
43 157BTL/HĐ HS /TP Nguyễn-Văn Thân 71A/702.606
44 157BTL/HĐ HS /TP Nguyễn-Văn Lợi 62A/700.162
45 157BTL/HĐ HS /CK Trần-Văn Bây 68A/701.244
46 157BTL/HĐ HS /CK Nguyễn-Văn Đông 71A/703.792

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 29 phản hồi »