BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Quân sự’ Category

580. Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Đăng bởi anhbasam on 10/05/2010

The Japan Times

Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Michael Richardson

09-05-2010


SINGAPORE – Có phải Trung Quốc đang ngày càng trở nên quyết đoán hơn trong việc thực thi đòi chủ quyền nhằm kiểm soát 80% khu vực Biển Đông, yêu sách bao gồm chủ quyền đối với hàng chục hòn đảo tranh chấp với một số nước Đông Nam Á?

Những diễn biến gần đây chắc chắn cho thấy như thế. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Australia – tất cả các cường quốc có khả năng mạnh mẽ trong việc ổn định khu vực – đang quan sát tình hình chặt chẽ.

Trong một cuộc biểu dương lực lượng cho thấy về khả năng thực thi trên biển ngày càng gia tăng, tháng trước hải quân Trung Quốc đã kết thúc việc triển khai tầm xa (1) vào Biển Đông. Việc diễn tập gồm có một số tàu chiến hiện đại nhất của Trung Quốc và kéo dài gần ba tuần.

Đội tàu nhỏ từ Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc có trụ sở tại Thanh Đảo đi vào quần đảo Trường Sa, tất cả hoặc một phần của quần đảo này do Việt Nam, Philippines và Malaysia đòi chủ quyền. Các tàu Trung Quốc neo tại Đá Chữ Thập, bãi đá đã chiếm của lực lượng Việt Nam trong một trận chiến năm 1988 và bây giờ trở thành một căn cứ của Trung Quốc với một trạm radar cảnh báo sớm.

Trong khi đó, máy bay chiến đấu Trung Quốc từ nhiều sân bay khác nhau trên đất liền đã tổ chức các cuộc diễn tập khả năng tàng hình cùng các kỹ năng bay đêm, tiếp nhiên liệu trên không, gây nhiễu radar và các cuộc tấn công giả vờ ném bom vào Biển Đông.

Hai tuần trước, cơ quan thực thi nhiệm vụ ngành thủy sản của Trung Quốc đã xác nhận rằng họ bắt đầu tuần tra thường xuyên để bảo vệ tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc trong và xung quanh quần đảo Trường Sa, vài chục [hòn đảo] ở đó là nơi đồn trú của Việt Nam, Philippines và Malaysia. Cơ quan này nói rằng hai tàu mới được gửi từ đảo Hải Nam của Trung Quốc để thay thế hai tàu đã đi tuần tra trong khu vực từ ngày 1 tháng 4.

Các quan chức Trung Quốc nói rằng các tàu đánh cá bằng lưới của Trung Quốc liên tục bị quấy nhiễu và đôi khi bị Việt Nam , Philippines và Malaysia tịch thu, mặc dù thực tế họ đang hoạt động tại khu vực hàng hải của Trung Quốc.

Tuyên bố việc triển khai thường xuyên nhằm chống lại cướp biển, chống lại việc bắt giữ và chống lại những cố gắng rượt đuổi các tàu đánh cá Trung Quốc ra khỏi khu vực, ông Liu Tianrong, Phó Cục trưởng cục Quản lý Nghề cá Nam Hải của Trung Quốc cho biết, “cung cấp việc bảo vệ trong khu vực này khỏi các mối đe dọa an ninh đặc biệt sẽ giúp gia tăng các quyền chủ quyền hiện tại của Trung Quốc trên lãnh thổ”.

Cùng lúc, hải quân Trung Quốc cho thấy khả năng phối hợp sức mạnh quân sự dấn sâu vào Biển Đông, một hạm đội khác của Trung Quốc bao gồm các tàu chiến trên mặt biển hiện đại và các tàu ngầm chạy bằng hơi nước qua biển Hoa Đông đi vào Thái Bình Dương, phía Nam Nhật Bản, gặp sự phản đối ngay từ phía Tokyo sau khi máy bay trực thăng của Trung Quốc bị cáo buộc đã bay quá gần các con tàu của Nhật Bản.

Báo Global Times, tờ báo của chính phủ Trung Quốc, nhận xét hôm 27 tháng 4 rằng, khi Trung Quốc cho mình có nhiều trách nhiệm hơn trong khu vực Đông Á, sẽ có các cuộc tập trận quân sự thường xuyên hơn của Trung Quốc tại vùng biển quốc tế, đặc biệt kể từ khi Hoa Kỳ tăng cường phòng thủ ở phía Tây Thái Bình Dương.

“Đương nhiên, sự chuyển đổi của hải quân Trung Quốc sẽ mang lại thay đổi cho mô hình chiến lược ở Đông Á và phía tây Thái Bình Dương đã kéo dài trong năm thập kỷ qua”. Global Times nói thêm rằng việc chuyển đổi là tích cực bởi vì Trung Quốc không có ý định “thách thức Hoa Kỳ ở Trung tâm Thái Bình Dương hoặc tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự với Nhật Bản ở vùng biển lân cận, mặc dù Trung Quốc sẵn sàng bảo vệ lợi ích cốt lõi bằng mọi giá”.

Gần đây, báo New York Times đưa tin, trong tháng 3, Trung Quốc đã nói với hai quan chức cao cấp Hoa Kỳ đang viếng thăm rằng, Bắc Kinh sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp nào trên Biển Đông, nói rằng bây giờ Biển Đông đã là một phần các lợi ích “cốt lõi” về chủ quyền của Trung Quốc.

Các quan chức Hoa Kỳ đã được trích dẫn khi nói rằng, đây là lần đầu tiên Trung Quốc đặt Biển Đông vào danh mục lợi ích cốt lõi của quốc gia, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng.

Điều này có nghĩa là, nếu cần, Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ việc tuyên bố chủ quyền quốc gia của mình trên đất liền hoặc trên biển trong khu vực.

Trong một bài diễn văn tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế hồi tháng 3, ông Teo Chee Hean, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Singapore lưu ý rằng, Trung Quốc thường dùng phương pháp tiếp cận “mềm mại và nhẹ nhàng” trong khu vực Đông Nam Á, “trừ khi lợi ích cốt lõi quốc gia của họ bị đe dọa”.

“Chúng tôi thấy điều này qua việc phản ứng của Trung Quốc hồi năm ngoái đối với việc Malaysia – Việt Nam gửi đệ trình chung lên Ủy ban Liên Hiệp quốc về Giới hạn Thềm lục địa cho các yêu sách của mình ở Biển Đông. Trung Quốc đã trả lời lại ngay ngày hôm sau, với một yêu sách trả đũa rằng [vùng biển của họ] trải dài tới tận ngoài khơi phía Đông Malaysia và quần đảo Natuna của Indonesia “.

Biện hộ về việc gia tăng hải quân của Trung Quốc, trong một cuộc họp ở Bắc Kinh về Đối thoại Quốc phòng và An ninh ASEAN – Trung Quốc vào cuối tháng 3, ông Trần Chu Chuẩn tướng (2), thuộc Học viện Khoa học Quân sự cho biết, Trung Quốc là “thành viên duy nhất trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc không nhận sự thống nhất hoàn toàn” (3). Ông nói thêm rằng: “Chúng tôi vẫn phải đối mặt với nhiều thử thách, chẳng hạn như tranh chấp hàng hải với các nước khác.”

Sự quyết đoán rõ ràng của Trung Quốc ở Biển Đông xảy ra giữa lúc tiếp tục có các sự chia rẽ trong 10 thành viên Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về việc có phản ứng hay không và sẽ phản ứng như thế nào. Việt Nam hiện đang giữ chức Chủ tịch ASEAN, nước đang đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ cũng như chuỗi quần đảo Trường Sa, đã không thể đưa cả nhóm cùng hành động như một khối trong giao dịch với Bắc Kinh.

Nếu không có một chiến lược thống nhất [giữa các nước] ASEAN, các cường quốc quan tâm khác gồm Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và Australia, cũng sẽ thấy khó hơn để chế ngự Trung Quốc.

Michael Richardson là một chuyên viên nghiên cứu cao cấp thỉnh giảng tại Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở Singapore .


Người dịch: Ngọc Thu

Dịch từ: http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/eo20100509mr.html

———

Ghi chú:

(1) A long-range deployment: triển khai tầm xa, tức là triển khai khả năng chiến đấu xa và lâu mà không cần tiếp nhiên liệu vì các tàu đưa vào tập trận phải được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể chiến đấu xa bờ và lâu ngày.

(2) Senior Colonel: tức Brigadier General, cấp bậc ở giữa Đại tá và Thiếu tướng.

(3) Ý trong câu này: Trung Quốc thường hay bỏ phiếu ngược lại với các thành viên khác trong HĐBA Liên Hiệp quốc.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quân sự, Trung Quốc | 9 phản hồi »

579. Trung Quốc dấn sâu vào việc bảo vệ vùng biển

Đăng bởi anhbasam on 09/05/2010

South China Morning Post

Trung Quốc dấn sâu vào việc bảo vệ vùng biển

Bắc Kinh ngày càng quyết tâm bảo vệ quyền trên biển trong các tranh chấp với láng giềng

Minnie Chan and Agencies

08-05-2010


Trung Quốc nổi lên như là một cường quốc trên biển và gia tăng sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên trên đại dương, có nghĩa là Bắc Kinh sẽ kiên quyết trong các tranh chấp lãnh hải để bảo vệ lợi ích của mình, các chuyên gia nói.

Trong hai thập kỷ qua, Bắc Kinh đã giải quyết tranh chấp đất đai lãnh thổ với tất cả các nước láng giềng ngoại trừ Ấn Độ, đôi khi có những nhượng bộ được những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan xem là quá lớn, chuyên gia an ninh có trụ sở tại Thượng Hải, ông Ni Lexiong nói.

Nhưng Trung Quốc đã không thỏa hiệp bất cứ điều gì khi tranh chấp lãnh thổ trên biển bởi vì nó đã biến từ một nước nông nghiệp thành một cường quốc hàng hải.

Ông Ni nói: “Ngày càng có nhiều người bắt đầu nhận ra các nguồn tài nguyên dưới nước nhiều như thế nào. Chính phủ của chúng tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ. Sự phụ thuộc ngày càng gia tăng của Trung Quốc vào năng lượng trên biển, thương mại, và thực phẩm có nghĩa là Bắc Kinh sẽ từ chối thỏa hiệp”.

Bắc Kinh được xác định bảo vệ vùng biển mà họ xem là của riêng mình. Họ đã gửi các tàu hải quân và các tàu giám sát để tuần tra vùng đặc quyền kinh tế của họ đi xa và thường hơn trong quá khứ. Tuy nhiên, phần lớn là các khu vực tự xác định này chồng lấn với các khu vực mà các nước láng giềng xác định, thiết lập giai đoạn cho các cuộc đối đầu.

Ông Katsuya Okada, Ngoại trưởng Nhật Bản, hôm qua đã triệu tập đại sứ Trung Quốc đến để phản đối việc một tàu hải quân Trung Quốc rượt đuổi một tàu khảo sát của Nhật hôm thứ hai ở một khu vực tranh chấp trên Biển Hoa Đông, khoảng 320 km về phía Tây Bắc của hòn đảo Amami Oshima, thuộc miền nam nước Nhật, trong vùng biển mà cả hai bên đều cho là vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao cho biết, tàu Trung Quốc hành động trong quyền hạn của mình. Bà nói: “Hoàn toàn hợp pháp để một tàu khảo sát hàng hải Trung Quốc thực hiện các hoạt động bảo vệ luật pháp trong vùng biển này”.

Việc cãi vặt mới nhất này giữa hai nước xảy ra sau một phản đối hồi tháng trước về việc một chiếc trực thăng Trung Quốc đã bay quá gần một tàu khu trục của Nhật Bản.


Trung Quốc cũng có tranh chấp với các nước láng giềng khác. Việt Nam cho biết họ có kế hoạch phản đối lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc, vi phạm chủ quyền của mình trên các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông. Hai nước tham gia vào một cuộc tranh chấp lâu nay về việc kiểm soát quần đảo Trường Sa và một quần đảo khác ở phía Bắc, quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm đóng.

Giáo sư Wang Hanling, một chuyên gia về vấn đề hàng hải và luật pháp quốc tế tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết, tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa Bắc Kinh và các nước láng giềng đã trở nên nóng bỏng khi Trung Quốc nổi lên thành một cường quốc trên biển.

Ông Wang nói: “Thật vậy, các tranh chấp như thế đã tồn tại kể từ khi dầu mỏ và các nguồn tài nguyên trên biển khác đã được phát hiện ở quần đảo Điếu Ngư và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông và Biển Hoa Đông trong thập niên 70″.

“Có một đề nghị về việc thuyết phục tất cả các nước Đông Nam Á tham gia với nhau để chiến đấu với Trung Quốc về việc tranh chấp lãnh hải trong thập niên 70, điều này đã làm cho Bắc Kinh quan ngại”.

Tuy nhiên, ông cho biết, Bắc Kinh đã gạt bỏ mối quan tâm này sau khi thấy không có hành động nào hơn 30 năm sau.

Ông Wang nói: “Chúng tôi thấy các nước láng giềng có tranh chấp lãnh thổ trên biển cãi nhau ầm ĩ và có các lợi ích quốc gia để bảo vệ, điều này rất khó cho họ xây dựng một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc. Ngay cả khi họ thành công trong việc cùng tham gia với nhau, họ vẫn không đủ mạnh để đánh bại Trung Quốc”.

Với lập luận rằng quyền chủ quyền của Trung Quốc và hành chính của các đảo ở vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông đã được thành lập bằng văn bản cách đây 1.000, ông Wang cho biết Bắc Kinh sẽ bám vào lập luận này.


Người dịch: Ngọc Thu – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: , | 4 phản hồi »

569. Hải quân Trung Quốc phối hợp hành động với nhau và trở nên hung hăng

Đăng bởi anhbasam on 01/05/2010

Center for a New American Security

Hải quân Trung Quốc phối hợp

hành động với nhau và trở nên hung hăng

Abe Denmark

26-04-2010

Nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc kéo dài hàng thập kỷ đang có hiệu quả. Sau khi lắp ráp kho vũ khí đã được tân trang vào các con tàu mới, tàu ngầm, máy bay, và tên lửa, Hải quân Trung Quốc (1) cho thấy họ có thể sử dụng tất cả các loại vũ khí đó (2) kết hợp với nhau, trong một hoạt động xa bờ.

Việc phô trương khả năng quân sự đã được cải tiến này xảy ra cùng lúc với các thông điệp gửi tới Hoa Kỳ, cho thấy một sự tiếp cận hung hăng hơn từ Bắc Kinh về các tuyên bố của Trung Quốc đối với vùng biển đang tranh chấp ở Biển Đông. Hoa Kỳ phải đáp lại sự thách thức đang nổi lên này bằng phương pháp tiếp cận có trách nhiệm để giảm bớt căng thẳng, trong khi gửi một thông điệp rõ ràng tới Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận những nỗ lực của Trung Quốc đơn phương kiểm soát quyền hàng hải chung ở Đông Nam Á.

Báo South China Morning Post gần đây đã đưa tin, các tàu khu trục lớn, tàu khu trục nhỏ và các tàu phụ trợ (3) từ Hạm đội Bắc Hải (có trụ sở ở Thanh Đảo) đi qua eo biển Bashi giữa Philippines và Đài Loan, tiến hành “cuộc tập trận đối đầu” chính ở Biển Đông. Vài ngày sau, tàu khu trục có tên lửa điều khiển, loại Sovremenny (4), các tàu khu trục nhỏ, và tàu ngầm từ Hạm đội Đông Hải (có trụ sở tại Ninh Ba) đi qua eo biển Miyako của Nhật Bản mà không báo trước cho Tokyo và tiến hành các cuộc diễ tập về chiến tranh chống tàu ngầm ở Thái Bình Dương, vùng biển nằm phía Đông Nam Nhật Bản.

Hiện cũng có các báo cáo của các phi công hải quân từ một số căn cứ ở các vùng quân sự Nam Kinh và Quảng Châu, tiến hành các cuộc tập trận tầm xa (5), kết hợp gây nhiễu radar, các chuyến bay đêm, tiếp nhiên liệu trên không, và các vụ giả vờ đánh bom ở Biển Đông.

Trong khi khiêu khích về quyền lợi của riêng họ, những cuộc tập trận là một dấu hiệu cho thấy Hải quân Trung Quốc Mỹ đã bước một bước tiến xa về phía trước. Bài báo ở South China Morning Post dẫn lời một tùy viên quốc phòng châu Á không nêu tên: “Chúng tôi chưa từng thấy các hoạt động quy mô như thế trước đây – cuối cùng, họ cho chúng ta thấy họ có thể phối hợp tất cả các hoạt động với nhau”.


Ý nghĩa của việc “phối hợp tất cả các hoạt động với nhau” là quan trọng. Khả năng quân sự của Hoa Kỳ thống trị bầu trời ở bất kỳ chiến trường nào, không chỉ là do lợi thế về công nghệ của họ, mà là khả năng kết hợp các sức mạnh lại để hỗ trợ cho nhau. Chiến tranh chống tàu ngầm và tiếp nhiên liệu trên không là những hoạt động phức tạp và rất khó thực hiện, đòi hỏi [phải có] công nghệ cao, chỉ huy và kiểm soát hiệu quả và những người điều hành phải có tay nghề cao. Khả năng của Trung Quốc tiến hành các hoạt động này nhằm chứng minh sự thành thạo đã phát triển đáng kể trong các hoạt động quân sự phức tạp.


Các cuộc diễn tập này cũng đáng chú ý về vì vị trí và thời gian. Quá cảnh qua eo biển Miyako và hoạt động ở vùng biển gây nhiều tranh cãi, Trung Quốc đang gửi một tín hiệu tới khu vực rằng, đó là phát triển khả năng theo đuổi các tuyên bố lãnh hải của mình hơn là chỉ khoa trương. Những cuộc diễn tập đã được tiến hành vài tuần sau khi ông James Steinberg, Thứ trưởng Ngoại giao và ông Jeff Bader, Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia, đặc trách về châu Á viếng thăm Bắc Kinh. Theo tin từ báo New York Times, họ đã nói rằng Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” đối với Trung Quốc. Đây là một cụm từ quan trọng đối với Bắc Kinh – đưa tầm quan trọng của Biển Đông lên ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng – và cho thấy một cách tiếp cận mới hung hăng và khiêu khích.

Từ lâu, Trung Quốc tuyên bố rằng, Biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ, và Công ước Liên Hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) buộc quân đội nước ngoài phải có sự cho phép của Bắc Kinh trước khi quá cảnh ngang qua. Dĩ nhiên, sáu nước khác trong khu vực cũng đòi chủ quyền hầu hết hoặc một phần trên Biển Đông. Cho nên từ lâu Hoa Kỳ đã xác định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là vùng biển quốc tế mà các tàu quân sự có thể tự do đi lại.

Ông Robert Gates, Bộ trưởng Quốc phòng lưu ý trong một bài phát biểu năm 2008: “Chúng tôi không ủng hộ bên nào hay một quốc gia nào trong việc tranh chấp chủ quyền đối với một quốc gia khác. Chúng tôi hối thúc [các bên], như chúng tôi làm hôm nay, là duy trì một môi trường hòa bình và không quyết đoán, trong đó các bên tranh chấp có thể thảo luận và nếu có thể, giải quyết [vấn đề]. Tất cả chúng ta ở Châu Á phải bảo đảm sao cho các hành động của chúng ta không bị xem như là thủ thuật gây áp lực, kể cả khi chúng tồn tại song song với những biểu hiện hợp tác được thấy rõ”.

Bằng cách đóng dấu “lợi ích cốt lõi”vào Biến Đông và tiến hành các cuộc tập trận chỉ vài ngày sau đó, Trung Quốc đã đưa ra câu trả lời của họ rằng: Trung Quốc sẽ trở lại bằng những lời tuyên bố hung hăng cùng với một khả năng quân sự mạnh mẽ.

Một thông điệp khác từ Bắc Kinh tiềm ẩn hơn, có thể không rõ ràng hơn là: quân sự Trung Quốc đang phát triển khả năng tốt hơn và Hải quân Trung Quốc bây giờ là đội quân tiên phong trong các nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc. Bằng cách mua lại công nghệ quân sự tiên tiến và phát triển khả năng thực hiện các hoạt động phức tạp xa bờ, Trung Quốc đang thay đổi sự cân bằng quân sự trong khu vực với những tác động vượt xa hơn một kịch bản liên quan đến Đài Loan.

Hoa Kỳ và Trung Quốc có vị trí tương tự trước đây. Sự va chạm giữa một máy bay phản lực Trung Quốc và một máy bay EP-3E của Mỹ trong không phận quốc tế ở Biển Đông hồi năm 2001 đã gây ra sự giảm sút đáng kể trong quan hệ Mỹ-Trung. Một cách gây rối, hành động hung hăng của Trung Quốc đối với tàu hải quân Mỹ ở Biển Đông trong những năm gần đây, như đã xảy ra trong năm 2009 với tàu USS Impeccable, cho thấy sự cố hải quân EP-3 là một khả năng thấy rõ trong tương lai.

Trong khi Hoa Kỳ đang điều chỉnh lại vị thế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương để trả lời cho việc hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, Hoa Kỳ phải công nhận rằng có một trò chơi về động lực chính trị không thể bỏ qua. Biển Đông và các vùng biển phụ cận xa bờ của Indonesia, Malaysia, và Singapore sẽ là các tuyến đường biển chiến lược quan trọng nhất trong thế kỷ 21. Đã có 80% lượng  dầu nhập khẩu của Trung Quốc đi qua eo biển Malacca và Nhật Bản, tương tự Hàn Quốc cũng phụ thuộc vào việc sử dụng các vùng biển này.

Hoa Kỳ nên tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận hòa bình và không quyết đoán, đã được Bộ trưởng Gates mô tả tại Shangri-La, và đã làm như vậy thông qua đồi thoại bằng Hiệp định Tư vấn Hàng hải Quân sự (MMCA) với Trung Quốc. Tuy nhiên, có hai cách khác để Hoa Kỳ bảo đảm những tuyến đường biển quan trọng vẫn mở ra.

Trước hết, Mỹ nên phê chuẩn Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS), trong đó xác định các khu đặc quyền kinh tế (EEZ) là tuyến đường biển quốc tế, qua đó tàu chiến có thể tự nhiên qua lại. Trong khi từ lâu Hoa Kỳ hoạt động theo mệnh lệnh của họ, nhưng phê chuẩn UNCLOS sẽ giúp cho luật quốc tế có thêm trọng lượng đối với sự phản đối của Mỹ về tuyên bố chủ quyền trên vùng biển quốc tế.

Thứ hai, Mỹ nên tuân theo Luật Tổng Trọng tải, và thường xuyên tiến hành thực tập về tự do đi lại trên Biển Đông, nhằm bảo đảm rằng vùng biển này vẫn tiếp tục được mở ra [cho tất cả các nước]. Tiếp tục xem Biển Đông như vùng biển quốc tế sẽ ngăn chặn những thói quen trong việc chiều theo các yêu sách của Trung Quốc hình thành. Đây không phải là phương pháp tiếp cận hiếu chiến hay gây hấn, mà quả thật là sự tiếp tục các chính sách quốc tế lâu dài của Mỹ đối với các tuyến đường biển quốc tế.


Các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nếu không bị phản đối, sẽ làm cho Bắc Kinh trở thành trọng tài đối với tất cả các chuyến giao thông hàng hải quốc tế qua lại mà Hoa Kỳ sẽ không được phép [đi qua]. Như chúng ta thấy trong các báo cáo hàng năm cho Quốc hội Hoa Kỳ của Bộ Quốc phòng về quân sự Trung Quốc, Trung Quốc đã và đang phát triển các khả năng này trong một thời gian, và không có dấu hiệu nào cho thấy tham vọng của họ đã được thỏa mãn.

Tóm lại: đây mới chỉ là sự khởi đầu.


Người dịch: Ngọc Thu – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

————–

Ghi chú:

(1) PLAN: Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân, tức Hải quân Trung Quốc.

(2) Assets: ở đây chỉ tàu, tàu ngầm, máy bay, tên lửa và các loại vũ khí khác trên tàu, không chỉ đơn thuần là vũ khí như súng ống, đạn dược.

(3) Auxiliary ships: là tàu phụ trợ, cũng là tàu hải quân nhưng được thiết kế để hoạt động trong các vai trò hỗ trợ các tàu chiến và các hoạt động hải quân khác. Mục đích chính của tàu phụ trợ không phải để chiến đấu, mặc dù nó có khả năng chiến đấu nhưng giới hạn.

(4) Sovremenny: là tàu khu trục, dùng để chống tàu chiến trên mặt nước, là loại tàu do Hải quân Nga thiết kế.

(5) Long-range exercise: tập trận tầm xa, tức là các cuộc tập trận về khả năng chiến đấu xa và lâu mà không cần tiếp nhiên liệu và các tàu tập trận phải được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể chiến đấu ngoài biển khơi lâu ngày.

Dịch từ: http://www.cnas.org/node/4396

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | Tagged: | 1 Comment »

568. Chiến lược lớn của Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 01/05/2010

Foreign Policy

Chiến lược lớn của Trung Quốc

Daniel Blumenthal

29-04-2010


Ông Robert Kaplan đã viết một bài xuất sắc, có ý khiêu khích đăng trên Foreign Affairs. Ông lập luận rằng nhu cầu không thể thỏa mãn của Trung Quốc về năng lượng và tài nguyên thiên nhiên đang tạo nên chính sách chiến lược của họ, như việc mở rộng sự tiếp cận quân sự và ảnh hưởng của Trung Quốc lên cả đất liền lẫn trên biển ở Châu Á. Không phải Trung Quốc có một kế hoạch tổng thể nhằm thống trị thế giới, thay vào đó, như tất cả các cường quốc đang lên, (gồm cả Mỹ hồi thế kỷ 19) logic của sự tăng trưởng đòi hỏi nước này đóng một vai trò quốc tế lớn hơn.

Ở phía Tây, Trung Quốc tăng cường kềm kẹp Tân Cương và Tây Tạng. Chẳng bao lâu nữa, họ sẽ hoàn thành hai đường ống dẫn dầu chính kéo dài từ Trung Á đến Tân Cương. Ở Tây Tạng họ đang xây dựng các đường giao thông và đường sắt để lấy tài nguyên, bình định đám dân cứng cổ, và giữ không rơi vào tay Ấn Độ.

Trung Quốc cũng đang hành quân về phía nam như, gia tăng sự kiểm soát Miến Điện, điều này có thể cung cấp cho Bắc Kinh một hải cảng và việc sử dụng hàng hải ở vịnh Bengal. Và họ đang cố gắng, như ông Kaplan nói, “chia để trị” các nước ASEAN khác, những nước hưởng ứng sự lơ là của Mỹ, đang bắt đầu họp lại thành nhóm đối lập với ảnh hưởng của Trung Quốc.

Theo ông Kaplan, mục đích chính của Bắc Kinh ở bán đảo Triều Tiên là giúp Bắc Hàn phát triển thành một nhà nước “độc tài hiện đại” hơn, để Bắc Hàn vẫn là đối thủ chống lại Nam Hàn – liên minh của Mỹ. Dù vậy, ông Kaplan viết, Trung Quốc không nhất thiết phản đối một Triều Tiên thống nhất, vì lý do kinh tế, sẽ là một phần của tầm ảnh hưởng của “Trung Quốc lớn mạnh”, và cuối cùng dẫn đến việc loại bỏ quân đội Mỹ ở Nam Hàn.

Theo ông Kaplan, khi Trung Quốc trông về vùng biển dọc bờ biển phía Đông, họ cảm thấy bị bao vây. Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Indonesia, và Úc là tất cả, ở các mức độ khác nhau, các đồng minh của Mỹ không chấp nhận sự đột phá của Trung Quốc vào Thái Bình Dương. Trung Quốc đang cố gắng để thoát ra ra khỏi cái hộp này bằng việc gia tăng hạm đội tàu ngầm và hành trình thường lệ với sức mạnh tên lửa đạn đạo. Cuối cùng, theo ông Kaplan, Đài Loan là chìa khóa để hải quân Trung Quốc vượt rào. Kiểm soát Đài Loan sẽ cho phép Trung Quốc phô trương sức mạnh vượt ra khỏi chuỗi “đảo đầu tiên” (1).

Ở phía nam, Trung Quốc cố gắng kiểm soát Biển Đông, với hai lý do, thứ nhất đó là cửa ngõ vào Ấn Độ Dương và thứ hai là đó là vùng biển này rất giàu tài nguyên thiên nhiên. Để đạt được mục đích đó, Trung Quốc đã xây một căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam tại Biển Đông. Đảo Hải Nam có thể cho phép hải quân Trung Quốc không bị cản trở khi đi vào các vùng trở ngại chính trên biển.

Trong khi đánh giá của ông Kaplan về địa chiến lược của Trung Quốc nghe có lý đối với tôi, Trung Quốc cũng đã thực hiện công việc của mình với vài ý khiêu khích. Tôi sẽ cung cấp ba ý nghĩ:

Trước tiên, tôi không đồng ý rằng Trung Quốc có thể đạt được việc củng cố lục địa của họ qua nỗ lực dân số – dân số Tây Tạng, Tân Cương, người Nga ở Viễn Đông – hoặc chỉ riêng các mối quan hệ thương mại. Để làm được điều ông Kaplan đưa ra, rằng Bắc Kinh đang cố gắng – củng cố biên giới đất liền của họ, mở rộng việc vươn tới Trung Á, Miến Điện và Nam Hàn – Trung Quốc cũng cần phải phát triển lực lượng đất đai viễn chinh. Tại sao? Để đáp trả các cuộc tấn công khủng bố, để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh biên giới có thể xảy ra với Ấn Độ, và để nâng các mục tiêu trên bán đảo Triều Tiên trong trường hợp sụp đổ và hỗn loạn [xảy ra]  ở miền Bắc.

Thứ hai, ông Kaplan dường như xác nhận “kế hoạch của Garret”, đó là tìm cách đi vòng quanh Lầu Năm Góc, một kế hoạch mà trong bối cảnh các mục tiêu chính trị khu vực của Mỹ có vẻ như ương ngạnh. Ý kiến cơ bản là “bỏ các căn cứ chủ chốt” ở Nhật Bản và Nam Hàn và thay vào đó, tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở Châu Đại Dương (2) – đảo Guam và Caroline, Bắc Mariana, Solomon, và các đảo Marshal – trong khi cùng lúc mở rộng sự hiện diện bao la của hải quân Mỹ ở Ấn Độ Dương. Chiến lược này đòi hỏi Washington phải nâng cấp quan hệ quốc phòng với Ấn Độ – để sử dụng một số hòn đảo bên ngoài của họ, cũng như với Brunei, Malaysia, và Singapore. Hải quân Hoa Kỳ vẫn sẽ hợp tác với lực lượng tự vệ hàng hải Nhật Bản. Kế hoạch này, theo ông Kaplan, sẽ ít khiêu khích Trung Quốc trong khi cùng lúc vẫn cho phép Hoa Kỳ có cái gì đó để chơi, hơn là vai trò của một nước giữ cân bằng ngoài khơi.

Kế hoạch này gặp một số trở ngại. Không rõ liệu các nước mà chúng ta cần cho kế hoạch làm việc sẽ hợp tác [với chúng ta không], đặc biệt là sau khi chúng ta rút ra khỏi Nhật Bản và Nam Hàn. Việc rút khỏi các “căn cứ chính” được xem như là cam kết của Hoa Kỳ đã không còn đối với các đồng minh của mình. Và trong khi đúng là “chuỗi đảo thứ nhất” ngày càng ít phòng thủ hơn, không phải là quá muộn để thực hiện các bước cẩn trọng nhằm đảo ngược tình thế nguy hiểm này. Chúng ta vẫn chưa cứng rắn với các căn cứ không quân ở Nhật Bản, đẩy mạnh các nỗ lực phòng thủ tên lửa, hoặc tìm các lựa chọn tốt hơn trong việc chống lại lực lượng tên lửa của Trung Quốc (Việc triển khai tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo của Nhật dọc theo Ryukus (3) nhắm tới các giàn phóng của Trung Quốc thì sao?)

Thứ ba, ông Kaplan nhấn mạnh tầm quan trọng của Đài Loan về vị trí địa chiến lược, thay vì địa chính trị, là [điểm cần] tranh cãi. Đài Loan sẽ cung cấp cho Trung Quốc các cảng hiện đại và Trung Quốc có thể mở rộng khả năng giám sát hàng hải của mình. Nhưng trừ khi chúng ta phát triển hệ thống phòng thủ thích hợp, tên lửa của Trung Quốc sẽ làm cho hoạt động quân sự Hoa Kỳ quá tốn kém tại chuỗi đảo thứ nhất, cho dù Trung Quốc có sở hữu Đài Loan hay không.

Trong khi những người Mahanians (4) trong và ngoài Trung Quốc sẽ tranh luận rằng có được thêm lãnh thổ sẽ mở rộng tiếp cận hàng hải của Trung Quốc, các nhà phân tích tập trung vào sức mạnh tên lửa của Trung Quốc sẽ không đồng ý. Với khả năng hướng dẫn chính xác hơn và ở tầm xa hơn, sức mạnh tên lửa của Trung Quốc có thể, qua thời gian, sẽ cung cấp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân (5) tính ưu việt của không lực trên chuỗi đảo thứ nhất, cũng như cho phép họ nhắm vào bất kỳ con tàu nào nổi trên mặt nước hướng về Trung Quốc từ phía Tây Thái Bình Dương.

Chúng ta vẫn có thể thực hiện các bước (các căn cứ khó bị tấn công, tìm kiếm các căn cứ mới, triển khai tên lửa phòng thủ tốt hơn, đầu tư nhiều hơn vào tàu ngầm và máy bay chiến đấu tàng hình tầm xa và máy bay ném bom) sẽ làm cho các hoạt động trong chuỗi đảo thứ nhất ít rủi ro hơn, nhưng nếu các khuynh hướng hiện tại vẫn tiếp tục, Trung Quốc sẽ không cần Đài Loan để phô trương sức mạnh ở Thái Bình Dương.

Từ quan điểm địa chiến lược, Đài Loan chỉ quan trọng nếu chúng ta quyết định sử dụng nước này để chặn và đánh trả tên lửa của Trung Quốc hoặc lực lượng tàu ngầm. Nhưng chúng ta không làm điều đó bây giờ không có nghĩa là chúng ta không có khả năng thực hiện trong tương lai. Vì chúng ta quyết định không sử dụng Đài Loan như “tàu sân bay nổi” của chúng ta, Trung Quốc không cần phải xem xét nó như một rào cản đối với kế hoạch quân sự hiện tại của họ. Vị trí địa lý quan trọng của Đài Loan đối với Trung Quốc có thể bị thổi phồng.

Điều đó đưa tôi trở lại mục tiêu rộng lớn của Hoa Kỳ. Tầm quan trọng của Đài Loan cũng giống như tầm quan trọng của các đồng minh của chúng ta: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine – quan trọng về địa chính trị hơn là địa chiến lược. Những nước này đã nhận hệ thống quốc tế mà Hoa Kỳ đã tạo ra và bảo vệ sau Đệ nhị Thế chiến. Đây là những nước dân chủ với nền kinh tế thị trường tự do mà tất cả [các nước này] muốn là một phần của những gì đã từng được gọi là “phương Tây”, câu lạc bộ hiện đại trên thế giới, nền dân chủ công nghiệp tiên tiến. Lợi ích của Washington được phục vụ tốt hơn khi nền dân chủ mạnh mẽ được tự do, không bị các cường quốc khác kiểm soát -  Điều này bảo đảm hệ thống quốc tế vẫn chào đón chúng ta.

Theo tôi, về lý do địa chính trị cũng như địa chiến lược, quân đội Hoa Kỳ nên duy trì sự hiện diện (phòng thủ hơn) ở lãnh thổ của nhiều đồng minh Hoa Kỳ ở châu Á mà Hoa Kỳ được chào đón, ít nhất là cho đến khi mọi thứ có thể bảo đảm rằng Trung Quốc sẽ là một cường quốc có trách nhiệm và dân chủ, không quan tâm đến việc tạo ra đặc quyền kinh tế riêng hoặc tạo ra phạm vi ảnh hưởng về kinh tế hay quân sự. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải làm việc nhiều hơn để giúp các đồng minh của chúng ta xây dựng khả năng nhằm phản đối các kế hoạch quân sự của Trung Quốc hơn là siết lại và chủ yếu dựa vào các căn cứ nước ngoài.


Người dịch: Ngọc Thu

Ghi chú:

(1) First island chain: một dãy đảo trải dài từ Nhật Bản ở phía Bắc tới Đài Loan và Philippines ở phía Nam.

(2) Oceania: tức Châu Đại Dương là một khu vực địa lý, gồm các vùng đất chủ yếu là các hòn đảo nằm trong khu vực Thái Bình Dương và khu cận kề.

(3) Ryukus: tức Ryukyu Islands, là dãy đảo phía Nam Nhật Bản, phía Tây Thái Bình Dương.

(4) Mahanians: những người theo chủ thuyết của ông Alfred Thayer Mahan, ông là một nhà chiến lược, nhấn mạnh tầm quan trong về sức mạnh trên biển.

(5) PLA: Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, gồm có: PLA Ground Force (Lục quân?), PLA Navy (Hải quân) và PLA Air Force (Không quân).

http://shadow.foreignpolicy.com/posts/2010/04/29/china_s_grand_strategy

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | 1 Comment »

565. Hải quân Trung Quốc phô trương sức mạnh

Đăng bởi anhbasam on 28/04/2010

Sri Lanka Guardian

Hải quân Trung Quốc phô trương sức mạnh

B.Raman

27-04-2010


Từ đầu năm ngoái, Hải quân Trung Quốc đã không còn bí mật về tham vọng trở thành cường quốc hải quân ở Thái Bình Dương ngang hàng với Hoa Kỳ. [Hải quân Trung Quốc] đang áp dụng một chiến lược kép.

Chiến lược này được đánh dấu bằng việc mở rộng và ngày càng gia tăng sự quyết đoán ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và việc mở rộng thêm các khả năng phòng thủ, các khu vực hoạt động và mạng lưới hải quân ở Ấn Độ Dương cùng các khu vực vùng Vịnh.

Sự quyết đoán ở Biển Đông và Biển Hoa Đông được đánh dấu bằng việc lặp đi lặp lại đòi hỏi chủ quyền trong khu vực và quyết tâm bảo vệ các quyền lợi thuỷ sản, khoáng sản, dầu mỏ và khí đốt tại các khu vực mà họ tranh chấp. Sự quyết đoán đó cũng được đánh dấu qua việc cho thấy họ sẵn sàng sử dụng Hải quân để bảo vệ quyền lợi.

Ngày 16 tháng 5 năm 2009, Trung Quốc chính thức áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá mùa hè ở Biển Đông. Bác bỏ sự phản đối của Việt Nam chống lại lệnh cấm [bắt đánh cá] đã làm ảnh hưởng đến sinh kế của ngư dân Việt Nam, những người đã hưởng các quyền đánh cá truyền thống trong khu vực, ông Tần Cương, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nói vào ngày 9 tháng 6 năm 2009 rằng, Trung Quốc có chủ quyền “không thể tranh cãi” ở các đảo thuộc Biển Đông, gồm cả các đảo ở Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và các vùng biển phụ cận. “Đó là biện pháp hành chính thường lệ và hợp lý của Trung Quốc, đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá vào mùa hè ở Biển Đông, với mục đích bảo vệ sự bền vững nguồn tài nguyên biển trong khu vực này”, ông Tần nói. Đồng thời Trung Quốc cũng đã triển khai một số tàu tuần tra trong khu vực để thi hành lệnh cấm.

Ngày 5 tháng 1 năm 2010, bà Khương Du, phát ngôn Bộ Ngoại giao nói rằng chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo ở Biển Đông, bao gồm cả quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là không thể chối cãi. Bà (trong bài viết là “ông”) giải thích thông báo của Hội đồng Nhà nước về chủ trương phát triển du lịch ở tỉnh Hải Nam, trong đó nói rằng du lịch sẽ được đẩy mạnh ở quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và một số đảo không có người ở.

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, Công ty Dầu khí Quốc gia Ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC Ltd) thông báo rằng, đối tác của họ, Công ty dầu Husky Trung Quốc (Husky Oil china Ltd.), một công ty con của Husky Energy Inc., đã phát hiện một mỏ khí đốt mới nằm sâu dưới đáy Biển Đông. Công ty đã nói trong một tuyên bố trên website của họ rằng giếng Lưu Hoa 29-1 (LiuHua 29-1) là giếng thứ ba nằm sâu dưới đáy biển được phát hiện, thuộc lô 29/26 ở cửa Châu Giang phía đông Biển Đông, sau các phát hiện khác trong năm 2006 và 2009 . Theo Tân Hoa xã, CNOOC Ltd được liệt kê là công ty con của Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Ngoài khơi Trung Quốc, là công ty dầu ngoài khơi lớn nhất của Trung Quốc.

Ngày 26 tháng 4 năm 2010, quản lý ngành thủy sản Trung Quốc cho biết họ đã bắt đầu tuần tra vùng Biển Đông bằng cách gửi hai tàu đến thay thế hai tàu khác đang hộ tống các tàu đánh cá Trung Quốc trong khu vực. Ông Ngô Tráng, Giám đốc Cục Quản lý Nghề cá và Giám sát Cảng cá ở Biển Đông thuộc Bộ Nông nghiệp, cho biết: “Tàu Yuzheng 301 và 302 Trung Quốc sẽ thay tàu Yuzheng 311 và 202, đang tuần tra vùng biển thuộc quần đảo Nam Sa (Trường Sa) từ ngày 1 tháng 4″. Ông nói thêm rằng các tàu tuần tra đã được gửi tới hộ tống tàu đánh cá Trung Quốc ở Biển Đông và củng cố quyền đánh cá của Trung Quốc trong vùng biển quanh quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Hai tàu đi từ Tam Á, thành phố ven biển thuộc tỉnh Hải Nam .

Cùng lúc với sự khẳng định ngày càng gia tăng ở Biển Đông, Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh sự quyết đoán ở Biển Hoa Đông, vùng biển mà các tuyên bố chủ quyền và lợi ích của họ xung đột với quyền lợi của Nhật Bản. Thực tế là Tokyo có bây giờ có một chính phủ coi trọng và xử lý tốt đối với Trung Quốc hơn là các chính phủ trước đây đã làm, nhằm tăng cường các mối quan hệ của Nhật Bản với Trung Quốc, đã không theo cách quyết đoán mới ở Biển Hoa Đông.
Ngày 23 tháng 2 năm 2010, ông Tần Cương, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, khi được hỏi phản ứng của Trung Quốc đối với bản tin Nhật Bản sẽ kháng cáo lên tòa án hàng hải quốc tế nếu Trung Quốc bắt đầu sử dụng các mỏ dầu và khí đốt ở Đông Hải để sản xuất khí đốt. Ông ta trả lời như sau: “Trung Quốc và Nhật Bản có nguyên tắc chung mà hai bên đều hiểu về vấn đề Biển Hoa Đông. Trung Quốc ủng hộ và duy trì sự hiểu biết chung. Vị trí này sẽ không bao giờ thay đổi.”

Ông Tần nói thêm rằng, Trung Quốc hy vọng Nhật Bản tạo môi trường thuận lợi hơn để đưa các hiểu biết chung vào thực tế. Theo nguyên tắc chung mà hai bên hiểu, phía Nhật có thể tham gia hợp tác khai thác mỏ dầu và khí đốt Chunxiao phù hợp với luật pháp liên quan của Trung Quốc, nhưng sự hợp tác khai thác thì khác với “khai thác chung”, ông nói.

Ngày 8 tháng 4 năm 2010, Nhật báo Hải quân Trung Quốc thông báo Hạm đội Đông Hải sẽ tiến hành một cuộc tập trận quân sự với “quy mô lớn” ở Biển Hoa Đông. Sau bản tin này, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, ông Toshimi Kitazawa thông báo vào ngày 13 tháng 4 rằng, 10 tàu của Hải quân Trung Quốc (PLAN), trong đó có hai tàu ngầm và tám tàu chiến, đã qua vùng biển quốc tế giữa đảo Okinawa và Miyako, đi về hướng đông nam vào Thái Bình Dương, từ ngày 10 tháng 4.

Tin tức loan báo rằng Nhật đã gửi những thắc mắc về những hành động này tới Bắc Kinh thông qua các kênh ngoại giao. Cùng ngày hôm đó, Bắc Kinh đã chỉ ra rằng các cuộc tập trận tương tự, do các lực lượng hải quân ở các nước khác đã được tiến hành ở vùng biển quốc tế trong quá khứ. Bắc Kinh muốn nói rằng, hải quân các nước khác có thể thực hiện các cuộc diễn tập như thế ở vùng biển quốc tế, nên Trung Quốc cũng có thể tập trận.

Các nguồn tin từ Nhật Bản diễn giải các hoạt động này là để “báo hiệu một nỗ lực của Bắc Kinh, mở rộng các hoạt động hải quân trong vùng biển quốc tế với mục đích ngăn ngừa sự can thiệp của các lực lượng hải quân khác”.

Ngày 21 tháng 4, Nhật Bản phàn nàn với Trung Quốc rằng một máy bay quân sự của Trung Quốc đã bay gần một tàu hải quân của Nhật, đây là lần chạm trán thứ hai xảy ra như thế trong một tháng. Bộ Quốc phòng Nhật cho biết máy bay trực thăng cách tàu Nhật trong vòng 300 feet (90 mét) và đã bay hai vòng quanh tàu. Tàu Nhật Bản đã theo dõi các hoạt động quân sự Trung Quốc.

Tuy nhiên, hãng tin Kyodo đã trích lời Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản, ông Katsuya Okada nói rằng các tàu của Trung Quốc không vi phạm bất kỳ luật pháp quốc tế nào. Sau sự cố đầu tiên ngày 08 tháng 4, Bộ Ngoại giao Nhật đã phản đối Trung Quốc vào ngày 12 tháng 4, nói rằng bay gần như thế là “hành động nguy hiểm theo quan điểm về sự an toàn của hải quân”, và yêu cầu Trung Quốc xem xét vấn đề này. Bộ Ngoại giao cũng đã phản đối tiếp sau sự cố lần thứ hai và nhận được câu trả lời rằng chính phủ Trung Quốc sẽ cho điều tra.

Bộ Quốc phòng Nhật cho biết họ tin rằng những hành động của Trung Quốc có thể là phô trương sức mạnh, và thêm rằng, Nhật Bản dự định tăng cường phòng thủ trong khu vực. Nhật báo “Mainichi” trích lới Bộ Quốc phòng Nhật nói rằng Hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận quân sự từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 4 ở Biển Hoa Đông. Các tàu Trung Quốc đi qua vùng biển quốc tế giữa hai đảo chính, Okinawa và Miyako vào ngày 10 tháng 4 khoảng 8:00 tối và khoảng ngày 13 tháng 4 đi đến gần đảo Okinotorishima, phần cực nam của Nhật Bản.

Tóm lược tin tức truyền thông ở Bắc Kinh hôm 22 tháng 4, ông Huang Xueping, phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã bào chữa cho các cuộc tập trận của hải quân Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và khẳng định rằng hoạt động của các tàu hải quân Trung Quốc ở Biển Hoa Đông không vi phạm luật pháp quốc tế và không đặt ra mối đe dọa cho các nước khác. Ông nói thêm rằng đó là việc thực tập thường xuyên để quân đội có các cuộc tập trận ở vùng biển quốc tế, và cũng là thực tập được các nước khác thực hiện. Ông cảnh báo: “Các nước quan tâm không nên theo dõi hoặc làm gián đoạn các hoạt động của các tàu quân sự Trung Quốc tham gia vào các cuộc tập trận phòng thủ bình thường”.

Thay vì phòng thủ và xuất hiện khiêm tốn, sự quyết đoán của Hải quân Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, Chính phủ / Đảng kiểm soát các phương tiện truyền thông Trung Quốc đã công khai khẳng định sự sẵn sàng của Trung Quốc để bảo vệ các quyền lợi truyền thống và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong khu vực qua việc hiện đại hóa hải quân. Họ cho thấy sự quyết đoán ngày càng tăng như là một thông điệp rằng Hải quân hiện đại và mạnh mẽ của Trung Quốc đã đến khu vực Thái Bình Dương như là một lực lượng được tính tới.

Trả lời phỏng vấn trên “Bản tin Nhật báo Trung Quốc” (ngày 27 tháng 4), ông Jin Linbo, một nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc, cho rằng Tokyo nên nói chuyện với Bắc Kinh trước khi sử dụng bất cứ hành động đơn phương nào có thể làm cho Trung Quốc “hiểu sai”. Ông nói thêm rằng: “Việc gia tăng số lần và quy mô tập trận quân sự của chúng tôi là bình thường, chỉ cho thấy rằng lực lượng hải quân Trung Quốc mạnh mẽ hơn. Miễn là nó không vi phạm bất kỳ luật pháp nào, các quốc gia khác nên tập quen dần dần với điều đó”.
Tờ “Global Times”, nhật báo tiếng Anh do Đảng sở hữu, thuộc nhóm “Nhân dân Nhật báo”, đã viết ngày 27 tháng 4 rằng: “Khi chiến lược cân bằng đang dịch chuyển ở phía tây Thái Bình Dương, ngay cả những thay đổi nhỏ, có thể khó cho một bên chấp nhận. Luyện tập quân sự thường xuyên của các tàu hải quân Trung Quốc trong vùng biển quốc tế đầu tháng này đã gây ra chuyện ồn ào tại Nhật Bản. Truyền thông Nhật có đầy tin nóng qua vụ việc này và cố đổ lỗi cho hành vi có vẻ quyết đoán của Trung Quốc. Thừa nhận chuyện diễn tập đã xảy ra ở vùng biển quốc tế, nhưng truyền thông Nhật Bản vẫn tuyên bố rằng điều đó đã gây ra mối quan ngại ở Nhật ‘bởi vì nó chưa từng xảy ra trước đây’. Lực lượng hải quân mạnh hơn là kết quả của sức mạnh kinh tế Trung Quốc đang phát triển và việc hiện đại hóa sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang diễn ra. Đó là một yêu cầu chiến lược của một nước lớn, trong đó phải bảo vệ lợi ích tốt nhất trong khả năng của nó.

Trung Quốc cho rằng họ có trách nhiệm hơn ở khu vực Đông Á, [nên] sẽ có nhiều cuộc diễn tập quân sự thường xuyên hơn ở vùng biển quốc tế. Gia tăng các lực lượng hải quân của Trung Quốc cũng cần thiết để cho Hoa Kỳ dịch chuyển sức mạnh phòng thủ chiến lược đáng kể ở phía tây Thái Bình Dương.

Đương nhiên, sự chuyển đổi của hải quân Trung Quốc sẽ mang lại sự thay đổi về mô hình chiến lược ở Đông Á và phía tây Thái Bình Dương kéo dài trong năm thập kỷ qua. Nhưng sự biến đổi là tích cực. Trung Quốc không có ý định thách thức Hoa Kỳ ở Trung tâm Thái Bình Dương hoặc tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự với Nhật Bản ở vùng biển lân cận, mặc dù nó sẵn sàng bảo vệ lợi ích cốt lõi bằng mọi giá.

Khu vực phía tây Thái Bình Dương rất quan trọng cho hòa bình và ổn định thế giới, bảo đảm cả hai yêu cầu về sự tham gia của tất cả các nước lớn trong khu vực. Không bên nào độc quyền ở phía tây Thái Bình Dương trong tương lai. Cả Hoa Kỳ và Nhật Bản, cùng với các cường quốc khác trên thế giới, đã tích cực mở rộng khả năng hàng hải của họ, nhưng họ cần điều chỉnh quan điểm khi xem xét các hành động của Trung Quốc.

Cái thời mà các cường quốc thống trị tận hưởng “phạm vi ảnh hưởng” không chia sẻ trên khắp thế giới, giờ đã đi qua. Mục đích của việc gia tăng của hải quân Trung Quốc là để cung cấp phòng thủ ngoài khơi và để bảo vệ tuyến đường thương mại và bảo vệ công dân Trung Quốc khắp toàn cầu. Rất khó có thể tưởng tượng Trung Quốc sẽ dựa vào một hệ thống chiến lược hàng hải của Hoa Kỳ được xây nên sau Đệ nhị Thế chiến nhằm bảo vệ lợi ích toàn cầu của họ ngày nay. Hải quân Trung Quốc phát triển là một biểu tượng của việc phát triển hòa bình của Trung Quốc (*).

Nhiều quốc gia thừa nhận rằng sự gia tăng của Trung Quốc không đặt ra một mối đe dọa nào cho thế giới. Nếu họ thực sự muốn nói như vậy, họ có thể hiểu hải quân Trung Quốc đang lớn mạnh“.
Hải quân Trung Quốc phát triển và khẳng định việc đòi chủ quyền và các quyền của Trung Quốc. Thông điệp đó đã được nói to và rõ ràng.

Trong khi gia tăng sự quyết đoán bằng sự hiện diện và các hoạt động của Hải quân [Trung Quốc] ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và tây Thái Bình Dương, Trung Quốc tiếp tục giữ sự khiêm tốn hơn sự hiện diện và các hoạt động của các tàu hải quân ở Ấn Độ Dương và vùng Vịnh. Họ cho thấy họ đang giữ một vai trò phòng thủ trong việc bảo vệ các tàu buôn Trung Quốc và cung cấp năng lượng từ các cuộc tấn công cướp biển và những chuyện khác. Các nhà phân tích Trung Quốc vẫn chưa nói về bất kỳ lợi ích chiến lược nào của Trung Quốc trong việc phô trương sức mạnh ở khu vực Ấn Độ Dương.

Tác giả là Bộ trưởng (nghỉ hưu), thuộc Ban Thư ký Nội các Chính phủ Ấn Độ (**), New Delhi, và hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu các đề tài thời sự, Chennai. Ông cũng hợp tác với Trung tâm Chennai về Nghiên cứu Trung Quốc. E-Mail: seventyone2@gmail.com


Người dịch: Ngọc Thu

Dịch từ: http://www.srilankaguardian.org/2010/04/chinese-navys-power-projection.html

———

(*) A growing Chinese navy is a symbol of China ‘s peaceful rise: câu này của báo Trung Quốc đã được tờ American Thinker dẫn lại trong câu cuối như sau: Thus, the editorial’s conclusion that, “A growing Chinese navy is a symbol of China ‘s peaceful rise” (emphasis added) is not very convincing.

(**) Ông Raman từng điều khiển văn phòng đặc trách chống khủng bố, thuộc Hội đồng Bộ trưởng Quốc gia Ấn (Cabinet Secretariat Of the Govt of India), chứ không phải thuộc Ban Thư ký Nội các Chính phủ Ấn. Người điều khiển văn phòng này mang cấp Bộ trưởng, nhưng khi gặp thì mình lại chào là Giám đốc (Nếu có lỡ gọi là ông Bộ trưởng cũng không sao).

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | 3 phản hồi »

560. Uy thế Hải quân TQ mở rộng sang vùng biển Hoa Kỳ thống trị

Đăng bởi anhbasam on 24/04/2010

New York Times

Uy thế Hải quân Trung Quốc mở rộng

sang vùng biển Hoa Kỳ thống trị

EDWARD WONG

23-04-2010


Vịnh Yalong, Trung Quốc – Quân đội Trung Quốc đang tìm kiếm kế hoạch ảnh hưởng của hải quân vượt ra khỏi bờ biển Trung Quốc, từ các cảng dầu của Trung Đông tới các đường vận chuyển ở Thái Bình Dương, nơi mà Hải quân Hoa Kỳ từ lâu đã làm chủ như một lực lượng thống trị, các nhà phân tích và các viên chức quân sự nói.

Trung Quốc kêu gọi chiến lược mới “phòng thủ xa bờ”, và tốc độ mà nó phát triển các khả năng tầm xa (*) làm các quan chức quân sự nước ngoài ngạc nhiên.

Chiến lược này là một sự thay đổi lớn từ học thuyết truyền thống và thu hẹp hơn để chuẩn bị cho cuộc chiến trên hòn đảo tự trị Đài Loan hoặc bảo vệ bờ biển Trung Quốc. Hiện tại, các đô đốc Trung Quốc nói rằng họ muốn các tàu chiến hộ tống các tàu thương mại, những con tàu quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước, từ Vịnh Ba Tư cho đến eo biển Malacca ở Đông Nam Á, giúp đảm bảo lợi ích của Trung Quốc ở nơi có tài nguyên phong phú như vùng Biển Đông Trung Hoa và Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

Cuối tháng 3, hai tàu chiến Trung Quốc thả neo tại Abu Dhabi, lần đầu tiên hải quân hiện đại Trung Quốc thực hiện chuyến thăm cảng Trung Đông.

Kế hoạch tổng thể phản ánh cảm giác tự tin và sự sẵn sàng của Trung Quốc ngày càng tăng nhằm khẳng định lợi ích của họ ở khắp nơi. Tham vọng của hải quân Trung Quốc cũng đang được nhận ra, gần đây đã chứng tỏ sức mạnh với Hoa Kỳ: hồi tháng 3, các viên chức Trung Quốc nói riêng với các viên chức cao cấp của Mỹ rằng Trung Quốc sẽ không cho phép sự can thiệp của nước ngoài vào các vấn đề lãnh thổ của mình tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), một viên chức cao cấp của Mỹ về chính sách Trung Quốc cho biết.

Việc mở rộng hải quân sẽ không làm cho Trung Quốc trở thành một đối thủ quan trọng đối với quyền bá chủ của hải quân Mỹ trong tương lai gần, và có ít dấu hiệu cho thấy Trung Quốc có các ý định hung hãn đối với Hoa Kỳ hay các nước khác.

Nhưng Trung Quốc hiện nay là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới và là người thu mua số lượng khổng lồ về dầu mỏ và tài nguyên thiên nhiên khác, không còn hài lòng để giao phó sự an toàn trên các tuyến đường biển cho người Mỹ, và định nghĩa về lợi ích cốt lõi của nó đã mở rộng cùng với ảnh hưởng kinh tế.

Cuối tháng ba, Đô đốc Robert F. Willard, lãnh đạo Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã nói trong lời điều trần trước Quốc hội rằng, sự phát triển của quân đội Trung Quốc gần đây “khá ấn tượng”. Trung Quốc đã thử nghiệm các tên lửa đạn đạo tầm xa có thể sử dụng để chống lại các tàu sân bay, ông nói. Sau nhiều năm chối bỏ, các quan chức Trung Quốc đã xác nhận rằng họ dự định triển khai một nhóm tàu sân bay trong vòng vài năm.

Trung Quốc cũng đang phát triển một hạm đội tàu ngầm tinh vi, có thể ngăn chặn tàu hải quân nước ngoài xâm nhập vào vùng biển chiến lược của mình nếu một cuộc xung đột nổ ra trong khu vực, Đô đốc Willard và các nhà phân tích quân sự nói.

Đô đốc nói: “Quan tâm đặc biệt là các yếu tố hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc cho thấy đã được thiết kế để thách thức sự tự do hành động của chúng ta trong khu vực”.

Vịnh Yalong, nằm ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), là nơi có các khu nghỉ mát năm sao trên bãi biển, nằm ở phía tây của căn cứ tàu ngầm mới dưới lòng đất. Căn cứ này cho phép các tàu ngầm lặn sâu dưới nước trong vòng 20 phút và đi dạo chơi ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), vùng biển có các đường vận chuyển bận rộn nhất thế giới, là khu vực giàu dầu mỏ và khí đốt và là tâm điểm trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các quốc gia châu Á khác.

Điều đó đã gây ra mối quan ngại không chỉ cho các Tư lệnh Mỹ, mà còn cho các quan chức ở các nước Đông Nam Á, những nước đã âm thầm mua thêm tàu ngầm, tên lửa và vũ khí khác. “Các quan chức trong khu vực sửng sốt”, ông Huang Jing, một học giả quân sự Trung Quốc tại Đại học Quốc gia Singapore. “Chúng tôi đã ở trong tình trạng mù [thông tin]. Chúng tôi nghĩ rằng quân đội Trung Quốc đi sau chúng tôi 20 năm, nhưng đột nhiên chúng tôi nhận ra rằng Trung Quốc đang đuổi theo kịp”.

Trung Quốc cũng hối thúc Hoa Kỳ để ý tới tuyên bố của mình trong khu vực. Vào tháng 3, các quan chức Trung Quốc nói với hai quan chức cao cấp của chính phủ Obama đang viếng thăm, ông Jeffrey A. Bader và ông James B. Steinberg rằng Trung Quốc sẽ không tha thứ bất cứ sự can thiệp nào vào Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hiện nay là một phần “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc về chủ quyền, một viên chức Mỹ về chính sách Trung Quốc đã nói. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa chữ “lợi ích cốt lõi” vào vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng, viên chức nói.

Một yếu tố khác về chiến lược mới của Hải quân Trung Quốc là mở rộng tiếp cận hoạt động vượt ra khỏi Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và Philippines với những gì được gọi là “chuỗi đảo thứ hai” – những bãi đá và đảo san hô vòng ngoài khơi Thái Bình Dương, viên chức cho biết. Khu đó chồng lấn một cách đáng kể lên khu vực bá chủ của Hải quân Hoa Kỳ.

Nhật Bản cũng lo lắng. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật, ông Toshimi Kitazawa nói hồi giữa tháng tư rằng hai tàu ngầm Trung Quốc và tám tàu khu trục đã được phát hiện vào ngày 10 tháng 4, đang đi tới giữa hai hòn đảo của Nhật Bản trên đường đến Thái Bình Dương, lần đầu tiên một đội tàu lớn của Trung Quốc đã được nhìn thấy rất gần Nhật Bản. Khi hai tàu khu trục Nhật Bản bắt đầu theo sau tàu Trung Quốc, một chiếc trực thăng của Trung Quốc đã bay trong khoảng 300 feet gần một trong những tàu khu trục, Bộ Quốc phòng Nhật Bản nói.

Từ tháng 12 năm 2008, Trung Quốc đã duy trì ba tàu ở Vịnh Aden để góp phần vào việc tuần tra chống cướp biển quốc tế, đây là việc triển khai đầu tiên của Hải quân Trung Quốc vượt ra khỏi Thái Bình Dương. Sứ mệnh này cho phép Trung Quốc nâng cao khả năng tầm xa của hải quân của họ, các nhà phân tích nói.

Một báo cáo của Lầu Năm Góc trong năm 2009 ước tính lực lượng hải quân Trung Quốc có 260 tàu, gồm 75 tàu “chiến đấu chính” – các tàu chiến lớn – và hơn 60 tàu ngầm. Báo cáo lưu ý việc [Trung Quốc] xây dựng một tàu sân bay, và nói rằng Trung Quốc “vẫn tiếp tục quan tâm” về việc mua máy bay chiến đấu cho tàu sân bay từ Nga. Hải quân Hoa Kỳ có 286 tàu chiến và 3.700 máy bay hải quân, mặc dù so sánh giữa tàu với tàu, Hải quân Mỹ được xem là chất lượng cao so với Hải quân Trung Quốc.

Lầu Năm Góc không xếp Trung Quốc là lực lượng thù địch. Nhưng một phần trong phản ứng về sự phát triển của Trung Quốc, gần đây Hoa Kỳ đã chuyển các tàu ngầm từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương để hầu hết các tàu ngầm tấn công hạt nhân của Hoa Kỳ hiện diện ở Thái Bình Dương, ông Bernard D. Cole, cựu sĩ quan hải quân Mỹ và giáo sư tại Trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia ở Washington, cho biết.

Hoa Kỳ cũng đã bắt đầu luân phiên triển khai 3-4 tàu ngầm khỏi đảo Guam, cho thực tập trở lại, điều đã kết thúc từ hồi chiến tranh lạnh, ông Cole nói.


Các tàu Mỹ bây giờ thường xuyên khảo sát căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải Nam, và hoạt động đó đưa tới sự va chạm không thường xuyên với các tàu Trung Quốc. Một nhiệm vụ khảo sát năm ngoái của một tàu hải quân Mỹ, tàu Impeccable đưa đến kết quả là những điều mà các quan chức Lầu Năm Góc nói đã bị các tàu đánh cá của Trung Quốc quấy nhiễu. Chính phủ Trung Quốc nói họ có quyền ngăn không cho giám sát trong vùng biển này, vì đó là vùng “đặc quyền kinh tế” của Trung Quốc.

Hoa Kỳ và Trung Quốc có những định nghĩa xung đột về khu vực như thế, xác định bởi Công ước Liên Hiệp Quốc như là vùng biển trong phạm vi 200 hải lý từ bờ biển. Hoa Kỳ nói rằng luật pháp quốc tế cho phép một quốc gia ven biển chỉ giữ quyền thương mại đặc biệt tại các vùng, trong khi Trung Quốc tranh cãi đất nước có thể kiểm soát hầu như bất kỳ các hoạt động nào bên trong vùng đó.

Các nhà lãnh đạo quân sự ở đây cho rằng Hải quân Trung Quốc chỉ là một lực lượng tự vệ. Nhưng định nghĩa về tự vệ được mở rộng bao gồm lợi ích kinh tế và hàng hải rộng lớn, hai Đô đốc Trung Quốc tranh luận hồi tháng 3.


“Với chiến lược hải quân của chúng tôi hiện đang thay đổi, chúng tôi đi từ phòng thủ ven bờ tới phòng thủ ngoài khơi”, ông Trương Hoa Thần, Thiếu tướng hải quân và là phó Đề đốc Hạm đội Đông Hải, đã nói trong cuộc phỏng vấn với Tân Hoa xã, hãng truyền thông nhà nước.


Ông nói thêm: “Với việc mở rộng lợi ích kinh tế của đất nước, hải quân muốn bảo vệ các tuyến đường giao thông vận tải của đất nước tốt hơn và sự an toàn của các tuyến đường biển quan trọng của chúng tôi. Để đạt được điều này, Hải quân Trung Quốc cần phát triển song song với các con tàu lớn hơn và với khả năng toàn diện hơn”.

Hải quân sẽ hơn 1/3 tổng ngân sách quân sự Trung Quốc”, phản ánh ưu tiên mà Bắc Kinh hiện đặt ra cho hải quân như một bộ phận về an ninh quốc gia”, ông Cole nói. Ngân sách quân sự của Trung Quốc chính thức trong năm 2010 là $78 tỉ, nhưng Lầu Năm Góc nói rằng Trung Quốc chi tiêu nhiều hơn con số đó. Năm ngoái, Lầu Năm Góc ước tính tổng chi phí quân sự Trung Quốc từ $105 – $150, vẫn còn ít hơn nhiều so với chi phí quốc phòng của Hoa Kỳ. Để so sánh, chính quyền Obama đề xuất $548,9 tỉ, ngân sách điều hành cơ bản của Lầu Năm Góc cho năm tới.

Tăng trưởng ấn tượng nhất của Hải quân Trung Quốc là hạm đội tàu ngầm của họ, ông Huang, học giả ở Singapore nói. Gần đây, Trung Quốc đã xây ít nhất hai tàu ngầm loại Jin, hai tàu hoạt động thường xuyên đầu tiên trong hạm đội có khả năng sử dụng tên lửa đạn đạo, và hai tàu khác đang được xây. Hai tàu ngầm tấn công hạt nhân, loại Shang, gần đây cũng đã đi vào hoạt động.

Các nước trong khu vực đã phản ứng bằng cách tự trang bị [tàu ngầm] cho riêng mình, ông Carlyle A. Thayer, giáo sư tại Học viện Quốc phòng Úc đã nói. Trong tháng mười hai, Việt Nam đã ký một thỏa thuận mua vũ khí của Nga gồm sáu chiếc tàu ngầm loại Kilo, điều này sẽ cho Việt Nam có được hạm đội tàu ngầm ghê gớm nhất ở Đông Nam Á. Năm ngoái, Malaysia nhận một tàu ngầm đầu tiên, một trong hai chiếc đã đặt mua từ Pháp, và Singapore bắt đầu cho hoạt động một trong hai tàu ngầm loại Archer mua từ Thụy Điển.

Mùa thu năm ngoái, trong bài phát biểu tại Washington, ông Lý Quang Diệu, cựu lãnh đạo Singapore phản ánh mối lo ngại lan rộng khi ông lưu ý sự gia tăng hải quân của Trung Quốc và kêu gọi Hoa Kỳ duy trì sự có mặt trong khu vực. Ông nói: “Lợi ích cốt lõi của Mỹ đòi hỏi họ duy trì sức mạnh vượt trội ở Thái Bình Dương. Từ bỏ vị trí này sẽ giảm bớt vai trò của Mỹ trên toàn thế giới”.


Người dịch: Ngọc Thu

(*) Long-range capabilities: tàu Trung Quốc được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể ở ngoài biển khơi lâu ngày.

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | Tagged: | 3 phản hồi »

531. Tàu Mỹ sửa chữa ở VN xác nhận mối quan hệ

Đăng bởi anhbasam on 03/04/2010

South China Morning Post

Tàu Hoa Kỳ sửa chữa ở Việt Nam xác nhận mối quan hệ

Việc sửa chữa tàu gửi một tín hiệu rõ ràng tới Trung Quốc

Greg Torode – phóng viên trưởng phụ trách châu Á

02-04-2010


Một tàu cung cấp của hải quân Hoa Kỳ đã hoàn thành việc sửa chữa mở rộng gần vịnh Cam Ranh, Việt Nam – một dấu hiệu mới cho thấy sự hợp tác thầm lặng giữa hai kẻ thù cũ mà các nhà phân tích tin rằng điều này gửi một tín hiệu chiến lược tới Trung Quốc, do nước này ngày càng gia tăng sự khẳng định trong việc đòi chủ quyền của họ ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

Các viên chức Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ đã xác nhận với báo South China Morning Post rằng hợp đồng sửa chữa tàu USNS Richard E. Byrd đã hoàn thành trong 16 ngày hồi tháng qua. Họ mô tả như là một sự hợp tác về thương mại hơn là quân sự, nhưng nói rằng đó là một phần của nỗ lực “tiếp tục xây thêm khả năng trong trường hợp khẩn cấp và sửa chữa trong các cuộc hành trình”.

Đây là lần gần nhất trong thời hiện đại mà hải quân Hoa Kỳ đến Vịnh Cam Ranh – căn cứ chiến lược quan trọng với nước sâu do Mỹ xây trong chiến tranh Việt Nam, nhưng đã rơi vào tay Liên Xô ở đỉnh cao của cuộc chiến tranh lạnh – trước ngày kỷ niệm 15 năm mối quan hệ giữa Hà Nội và Washington.

Đây chỉ là chiếc tàu thứ hai của Mỹ được sửa chữa tại Việt Nam.

Con tàu dân sự 40.000 tấn được sửa chữa tại nhà máy đóng tàu Cam Ranh của nhà nước ở gần vịnh Vân Phong, gần thành phố nghỉ mát Nha Trang. Các xưởng đóng tàu Việt Nam nhanh chóng mở rộng cho thấy họ có thể nhận một loạt các tàu quân sự từ Mỹ và các quốc gia khác – tất cả nằm trong một phần chính sách âm thầm mở rộng việc xây dựng một loạt mối quan hệ hữu nghị chiến lược để đối phó với việc gia tăng của hải quân Trung Quốc.

GS Carl Thayer, chuyên gia phân tích kỳ cựu về quân đội Việt Nam và Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thuộc Học viện Quốc phòng Úc nói rằng, hành động này có ý nghĩa quan trọng trên nhiều mặt trận.

Ông Thayer nói: “Nó làm nền tảng cho nhiều cuộc viếng thăm hơn và mối quan hệ quân sự rộng lớn hơn và nó sẽ làm cho các viên chức Việt Nam thích nghi hơn với tàu Mỹ”.

“Cùng lúc, nó gửi một tín hiệu chiến lược, mặc dù gián tiếp, đến Trung Quốc – Việt Nam có thể biện minh cho tất cả sự hợp tác này chỉ là thương mại, nhưng Bắc Kinh sẽ thấy được ý nghĩa”.

Phát ngôn của Đệ thất Hạm đội, Hạm trưởng Jeff Davis cho biết, sự hiện diện của con tàu không phải là các hoạt động trao đổi quân sự mà là viếng thăm thương mại tới một xưởng đóng tàu dân sự. “Chúng tôi xem đây là một cơ hội để xây dựng một khả năng sửa chữa trong trường hợp khẩn cấp,” ông nói, lưu ý rằng nó tiết kiệm “tiền đóng thuế của dân Mỹ qua việc giảm bớt những lần quá cảnh”.

“Chúng tôi có các hợp đồng với các nhà máy đóng tàu thương mại ở một số nước châu Á như Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ để cung cấp sửa chữa trong các chuyến đi. Qua việc sử dụng các nhà máy đóng tàu thương mại ở một số nước, chúng tôi rút ngắn thời gian dừng tàu do bốc hàng ở cảng tại bất kỳ một nơi nào”.

Phân tích gia Thayer nói, ông cũng lưu ý rằng các quốc gia khác chỉ làm việc đó trong khu vực khi đã là đồng minh hoặc đối tác chiến lược của Hoa Kỳ.

“Rất thú vị khi thấy Việt Nam dường như đi tới gần hơn với các nước trong tư duy chiến lược của Mỹ, Bắc Kinh sẽ nhận ra ý nghĩa đó.

“Nó có logic riêng, nhưng nó cũng cung cấp thông tin về những gì đang diễn ra trong mối quan hệ – cho thấy cơ hội âm thầm xây dựng và phát triển mối quan hệ quân sự rộng hơn,” GS Thayer nói.

Việc sửa chữa và làm sạch trên diện rộng với giá hơn $382.000 đô la, đã được giữ im lặng ở Việt Nam, và các viên chức ở Hà Nội vẫn chưa chính thức bình luận về điều này. Nói riêng, các viên chức Hà Nội được báo động do sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nơi hai nước đều đòi chủ quyền trên cả hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa và đang tranh giành trong các hợp đồng khai thác dầu với các công ty quốc tế.

Cùng lúc, một quốc gia độc lập đang cố gắng duy trì quan hệ tốt đẹp với các cường quốc mà không phải chịu ơn bất kỳ nước nào.

Trong khi đó, Hoa Kỳ ngày càng khẳng định lợi ích riêng của mình qua việc tuần tra nơi mà họ khẳng định là vùng biển quốc tế trong khu vực.

Lời trình bày chi tiết trong buổi điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ tuần trước, Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ, Đô đốc Robert Willard lên tiếng lo ngại về việc phát triển quân sự liên tục của Trung Quốc, và Mỹ cũng lưu ý tới mối quan hệ quân sự với Việt Nam “tiếp tục cải thiện”.

Ông cũng nói là các nước trong khu vực đã cảnh báo ông rằng, Hoa Kỳ không thể xem các mối quan hệ an ninh luôn vững chắc trong khi trước mắt Trung Quốc luôn tìm kiếm sự tiếp cận và ảnh hưởng riêng.

Quan hệ quân sự Việt – Mỹ đã phát triển dần từ các chuyến tàu viếng thăm hàng năm để thảo luận về hợp tác trên tất cả các lĩnh vực về quân vụ.

Washington đã để mắt tới thỏa thuận toàn diện về dịch vụ và tái cung cấp cho các con tàu của họ – điều mà họ làm để bảo đảm sử dụng hàng loạt các cảng chiến lược – trong khi Hà Nội rất muốn được mua nhiều loại vũ khí và trang thiết bị từ Mỹ.

Hiện tại họ đang nhắm tới rada [do thám] ven biển trong số các thiết bị khác.

Các viên chức Hoa Kỳ từ lâu đã lặp đi lặp lại các gợi ý về việc muốn được quay trở lại Vịnh Cam Ranh, nơi có thể sớm được các chuyên viên kỹ thuật Nga xây lại để chứa sáu chiếc tàu ngầm loại Kilo mà Moscow đang bán cho Hà Nội.

Không rõ mấy chiếc tàu ngầm – với mục đích ngăn chặn sự gia tăng quân sự của Trung Quốc – sẽ được đậu ở đâu, nhưng Nga đã đặt các tàu ngầm trang bị hạt nhân tại Cam Ranh – hải cảng tự nhiên tốt nhất trong khu vực – trong thập niên 80, cùng một căn cứ gián điệp điện tử bao phủ khắp khu vực.


Người dịch: Ngọc Thu, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Việt, Quân sự | Tagged: , | 9 phản hồi »

523. TQ gia tăng quân sự ảnh hưởng cân bằng khu vực

Đăng bởi anhbasam on 28/03/2010

DNA

Hoa Kỳ: Trung Quốc gia tăng quân sự

ảnh hưởng tới cân bằng trong khu vực

27-03-2010

Hình (lấy từ báo cáo của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ): Tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm liên lục địa. Trung Quốc có khả năng bắn tên lửa tới các mục tiêu trên khắp khu vực và khắp thế giới, bao gồm cả lục địa Hoa Kỳ. Hệ thống mới hơn, chẳng hạn như DF-31, DF-31A, và JL-2, giúp Trung Quốc có khả năng chống chọi năng lượng hạt nhân


Washington: việc tăng cường các lực lượng vũ trang của Trung Quốc tiếp tục “không suy giảm” và các mục tiêu của Bắc Kinh có vẻ như là một cường quốc qua mặt châu Á và thách thức các hoạt động tự do của Mỹ trong khu vực, đô đốc hàng đầu của Hoa Kỳ đã nói.

Phác thảo về sự gia tăng của Trung Quốc ảnh hưởng đến cân bằng quân sự trong khu vực, đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nói: “Việc gia tăng nhanh và thay đổi toàn diện các lực lượng vũ trang của Trung Quốc cho thấy đã vượt ra ngoài khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.

Ý kiến của đô đốc trong một trình bày trước Ủy ban Quân vụ Quốc hội đã làm tăng mối quan ngại liệu Bắc Kinh đang che giấu tham vọng quân sự toàn cầu.

“Một điều quan tâm đặc biệt là các yếu tố trong việc hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc cho thấy nó được thiết kế để thách thức sự tự do hoạt động của chúng ta trong khu vực”, ông Willard nói.


Đô đốc người Mỹ hàng đầu cho biết, Trung Quốc đã tăng cường hạm đội tàu ngầm và hạm đội phòng không, những hạm đội này đang hiện diện sự thống trị quan trọng ở các vùng biển châu Á tại Biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông), Biển Đông Trung Hoa và Biển Hoàng Hải và các lực lượng này tạo thành khả năng “chống từ chối và cấm đến gần”, nhằm chống lại các lực lượng của Mỹ và các lực lượng trong khu vực.

“Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA – tức Hải quân Trung Quốc) đã tăng cường tuần tra trên khắp vùng và đã cho thấy có sự sẵn sàng gia tăng đối đầu với các quốc gia trong khu vực trên vùng biển quốc tế và trong các chuỗi đảo đang tranh chấp.

Ngoài ra, Trung Quốc còn đòi chủ quyền trên quần đảo Senkakus (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư Đài), do Nhật Bản quản lý, và các cuộc giao tranh trong các khu vực biên giới với Ấn Độ”, ông Willard nói.


Các quan chức thuộc các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ cũng đã nói với ủy ban của Quốc hội rằng, trong vài năm qua Bắc Kinh đã bắt đầu một giai đoạn phát triển mới về quân sự bằng cách khởi đầu vai trò và nhiệm vụ của Hải quân Trung Quốc một cách rõ ràng. Điều này đã đi quá sự quan tâm về lãnh thổ của Trung Quốc và đã làm cho cộng đồng quốc tế không thể hiểu được mục tiêu về học thuyết tiến hóa và khả năng của Hải quân nước này.

Trong bài phát biểu khai mạc của mình, Thượng nghị sĩ Carl Levin, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện cho biết, do ảnh hưởng và phát triển quân sự của Trung Quốc, các liên minh truyền thống và các nước hợp tác trong khu vực có thể bị áp lực do nhận thức rằng sự cân bằng quyền lực đang dịch chuyển. Và các nước khác trong khu vực cũng có thể cho rằng phát triển quân sự là cần thiết.

“Những sự phát triển như thế, chúng ta cần phải hiểu và phải được cung cấp tin tức để biết mà ra quyết định. Việc Trung Quốc ngày càng liên quan tới Iran, kể cả việc đầu tư vào lĩnh vực năng lượng ở Iran là một ví dụ về những nỗ lực lan rộng  ảnh hưởng của Trung Quốc trên toàn cầu”, ông nói.

“Trung Quốc là sự cản trở chính để Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nghiêm khắc hơn trong việc cấm vận chống Iran”, ông Levin nói.

Một thượng nghị sĩ có ảnh hưởng mạnh khác là ông Joseph Lieberman nói, ấn tượng của ông là trong năm qua dường như có sự gia tăng trong việc khẳng định của Trung Quốc trên các lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao và quân sự.

Để các thượng nghị sĩ có ảnh hưởng tìm ra sự thật cho những thắc mắc này, ông Willard nói rằng Trung Quốc gia tăng từ hệ thống phòng không hợp nhất ngoài khơi, loại vượt  ra ngoài vùng lãnh hải và không gian của họ, cho tới việc đầu tư vào tàu ngầm, phải nói là khá sâu sắc.

Khả năng cụ thể đó, hiện tại vươn ra khắp Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), Biển Đông Trung Hoa, Biển Hoàng Hải và xa hơn nữa, và các công suất khác hợp lại cung cấp khả năng từ chối trong một diện tích khá lớn, ông nói.

“Theo thời gian, nó xuất hiện gần như là vô hại đối với năng lực cũng như khả năng tiềm tàng của Hoa Kỳ để chống lại những thứ đó, như trong khuôn khổ của việc đầu tư này. Nhưng tôi cho là những loại vũ khí đó không những làm cho Hoa Kỳ quan ngại, mà còn làm cho các đồng minh trong khu vực của chúng ta lo lắng.

Như quý vị đã biết, Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng minh của chúng ta ở Đông Nam Á, Philippines và Thái Lan và các đối tác của chúng ta ở Việt Nam và các nơi khác trong khu vực, bây giờ tất cả đều phải đối phó với những khả năng có thể xâm phạm quyền tự do hoạt động của các nước trên khắp khu vực quan trọng trên thế giới này”, ông nói.

Các tư lệnh của Hoa Kỳ cũng nói rằng những mạng lưới của chính phủ và quân đội Mỹ và các hệ thống máy tính tiếp tục là mục tiêu cho sự xâm nhập có nguồn gốc từ bên trong Trung Quốc.


Người dịch: Ngọc Thu

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Quốc tế, Quân sự | Tagged: , , , , | 2 phản hồi »

507. Nhập khẩu vũ khí tăng mạnh đe dọa Đông Nam Á

Đăng bởi anhbasam on 17/03/2010

Reuters

Báo cáo: nhập khẩu vũ khí tăng mạnh đe dọa Đông Nam Á

STOCKHOLM

Mar 14, 2010

STOCKHOLM (Reuters) – Việc các nước Đông Nam Á gia tăng nhập khẩu vũ khí rất nhanh trong 5 năm qua có thể đe doạ sự ổn định trong khu vực, một người thuộc Viện Nghiên cứu có trụ sở ở Thụy Điển nói hôm thứ hai.

Trong báo cáo hàng năm của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), cho biết hôm thứ hai là vũ khí nhập khẩu từ Indonesia đã tăng bất thình lình từ năm 2005 lên 84% năm 2009, Malaysia tăng 146% và Singapore tăng 722%.

“Làn sóng mua sắm hiện tại ở Đông Nam Á có thể làm mất ổn định trong khu vực, gây nguy hiểm cho hàng thập kỷ qua sống trong hòa bình”, Siemon Wezeman, chuyên gia về Châu Á của SIPRI,  đã viết trong báo cáo.

Singapore, Malaysia và Indonesia trong tháng này đã đi tuần tra ven biển ở eo biển Malacca, một đường vận chuyển quan trọng, sau khi hải quân Singapore nói rằng, họ đã nhận được tín hiệu về một nhóm khủng bố lên kế hoạch tấn công các tàu chở dầu.

Gia tăng trong việc mua sắm các máy bay chiến đấu tầm xa và nhiều tàu chiến của ba nước nói trên đã ảnh hưởng đến kế hoạch mua sắm của các quốc gia lân cận, chuyên gia nói.

Năm ngoái, Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á gần đây nhất đã đặt mua máy bay chiến đấu tầm xa và nhiều tàu ngầm. Singapore là nước đầu tiên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á kể từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, nằm trong số 10 nước nhập khẩu vũ khí đứng đầu của SIPRI.

Viện Thụy Điển nơi tiến hành nghiên cứu độc lập về an ninh quốc tế, vũ khí và giải trừ quân bị cho biết, việc chuyển nhượng vũ khí toàn cầu trong suốt giai đoạn 5 năm qua tăng 22%, với Châu Á và Châu Đại Dương có các nước mua sắm lớn nhất, 41% trên tổng số.

Châu Âu theo sau với 24%, kế đến là Trung Đông 17%.

Hoa Kỳ vẫn là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới về các thiết bị quân sự, có vũ khí bán ra nước ngoài trong giai đoạn này chiếm 30%. Gần 40% vũ khí của Hoa Kỳ đã đến Châu Á và Châu Đại Dương và cũng số lượng tương tự đã đến Trung Đông.


Người dịch: Ngọc Thu – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Quân sự | Tagged: , | 4 phản hồi »

487. TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

Đăng bởi anhbasam on 28/02/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM

CỦA CÁC NƯỚC Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 25-2-2010

Ngày 2/2, Viện nghiên cứu Heritage Foundation của Mỹ công bố báo cáo tựa đề: “Submarine Arms Race in the Pacific: The Chinese Challenge to U.S. Undersea Supremacy”, đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm của các nước ở Thái Bình Dương và sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Sau đây là nội dung chính của báo cáo:


  1. Đánh giá về tương quan lực lượng tàu ngầm các nước ở Thái Bình Dương

Cán cân lực lượng tàu ngầm thay đổi một cách đáng kể từ Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt sau khi Nga giảm phần lớn hoạt động đội tàu ngầm của họ từ những năm 1990, số lượng tàu ngầm của Mỹ cũng đang giảm dần. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp hải quân một cách nhanh chóng, đặc biệt là trong bị thêm nhiều tàu ngầm chiến đấu cho đội tàu ngầm chiến đấu của họ khiến lực lượng này trở nên mỏng manh hơn, làm cho Ôxtraylia và Ấn Độ phải tăng gấp đôi số lượng tàu ngầm để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường hải quân. Ngoài ra, các nước như Hàn Quốc, Inđônêxia và Malaixia đang phát triển đội tàu ngầm của họ.

-         Lực lượng tàu ngầm của Mỹ:

Số lượng tàu ngầm tấn công của Mỹ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống chỉ còn 53 trong năm 2009. Việc sụt giảm này bắt nguồn từ một số lần điều chỉnh cơ cấu lực lượng của Hải quân Mỹ kể từ thời Tổng thống Reagan kêu gọi sản xuất 100 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN). Kế hoạch năm 1991 của Tổng thống Bush cha kêu gọi duy trì 80 SSN. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 1997 giảm mục tiêu này xuống chỉ còn 50 chiếc SSN. QDR 2001 nhắc lại mục tiêu duy trì 50 SSN. Trong khi đó, QDR 2006 đưa ra mục tiêu tăng việc sản xuất thêm 2 tàu ngầm mỗi năm vào năm 2012 và triển khai 60% lực lượng tàu ngầm tới khu vực Thái Bình Dương nhằm bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại đây. Nghiên cứu cơ cấu lực lượng tàu ngầm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (JCS) năm 1999 kết luận rằng số lượng tối ưu các tàu ngầm tấn công nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu thu thập tin tức và tác chiến của cộng đồng tình báo và quân sự của Mỹ sẽ là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc SSN vào năm 2025. Một lực lượng bao gồm 55 chiếc SSN vào năm 2015 và 62 chiếc vào năm 2025 sẽ tạo ra nguy cơ tương đối về an ninh. Hiện nay, hạm đội tàu ngầm của Mỹ đang bị dàn trải. Trong khi đó, theo kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng SSN sẽ giảm xuống chỉ còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033 và xuống mức thấp nhất chỉ còn 41 chiếc vào những năm 2028-2029.

Để giải quyết “lỗ hổng” này, Hải quân Mỹ đang cân nhắc giảm thời gian sản xuất tàu ngầm lớp Virginia xuống chỉ còn 60 tháng, và kéo dài việc triển khai một số tàu ngầm từ 6-7 tháng. Nếu như thành công, tất cả những biện pháp này sẽ giúp Hải quân Mỹ duy trì tối đa 44-45 chiếc SSN. Việc giảm sút lực lượng SSN không chỉ tạo ra thách thức đối với việc duy trì khả năng răn đe dưới nước của Hải quân Mỹ mà còn ảnh hưởng tới các nỗ lực tác chiến chống tàu ngầm (ASW). Hiện nay, Hải quân Mỹ có 173 máy bay tuần tiễu P-3C đã cũ kỹ và loại máy bay thay thế P-8A dự kiến sẽ chưa thể đưa vào hoạt động cho đến năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho “nghỉ hưu” loại máy bay săn tàu ngầm S-3B Viking và vẫn chưa có kế hoạch thay thế. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng đang thiếu một hệ thống hiện đại giống như hệ thống định vị bằng âm thanh (SOSUS) để phát hiện các tàu ngầm đối phương. Nhiều hệ thống tương tự triển khai từ thời Chiến tranh Lạnh đã lỗi thời và không có tác dụng trong môi trường tác chiến hiện nay. Hơn nữa, nhiều quốc gia đang triển khai các loại tàu ngầm hiện đại có thể đe doạ các tàu sân bay của Mỹ.

-         Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc:

Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Hải quân Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất châu Á, bao gồm 6 chiếc SSN và 54 chiếc tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen (SS). Hơn một nửa các tàu ngầm chạy bằng điêzen là các loại tàu ngầm hiện đại lớp Kilo, lớp Tống và lớp Nguyên. Trung Quốc đang trên đường thực hiện mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân nước sâu, có thể tác chiến ngoài khơi xa nước này. Trong giai đoạn từ năm 1995-2005, Trung Quốc đã trang bị cho hải quân nước này 31 tàu ngầm mới. Ước tính hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc trong tương lai sẽ có khoảng từ 58-88 chiếc, phụ thuộc vào việc các loại tàu ngầm cũ ngừng hoạt động sớm hay muộn. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cho ra mắt bốn loại tàu ngầm mới được thiết kế và sản xuất trong nước là tàu ngầm lớp Tấn (tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo – SSBN), lớp Thương (SSN), lớp Nguyên (SSP), và lớp Tống (tàu ngầm tấn công chạy bằng điện – SSK). Thế hệ tiếp theo của tàu ngầm lớp Thương cũng đang được chế tạo.

Hạm đội tàu ngầm tấn công của Trung Quốc đã tăng một cách đáng kể số lượng tàu tuần tiễu từ 2 chiếc năm 2006 lên 6 chiếc năm 2007 và 12 chiếc năm 2008. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang có sự tập trung mới vào việc huấn luyện và chứng tỏ với các nước khác là Trung Quốc là một cường quốc hàng hải ở Thái Bình Dương. Một số vụ đụng độ với tàu của hải quân Mỹ trên vùng biển Thái Bình Dương trong những năm vừa qua cho thấy tầm hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc đã vươn xa hơn và hoạt động có phần hiếu chiến hơn so với trước đây. Giới phân tích cho rằng sở dĩ Trung Quốc mở rộng nhanh chóng lực lượng tàu ngầm tấn công là do một số nguyên nhân như: nhằm đáp ứng nhu câuc phòng thủ, hạn chế khả năng can thiệp của Mỹ vào xung đột hai bờ giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục, thách thức sự thống trị của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, bẩo đảm khả năng đánh chặn hạt nhân cũng như tạo cho Trung Quốc vị thế lớn hơn trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Như là một phần của khả năng răn đe hạt nhân, Trung Quốc dự kiến sẽ chế tạo khoảng 5 chiếc tàu ngầm SSBN lớp Tấn, mỗi chiếc được trang bị 12 tên lửa đạn đạo được phóng từ tàu ngầm (SLBM) có khả năng vươn tới lãnh thổ Mỹ từ vị trí bắn ngoài khơi Trung Quốc. Bắc Kinh cũng muốn sử dụng một số tàu SSN để hộ tống việc tuần tra răn đe của SSBN. Rõ ràng Trung Quốc không hề e ngại bộc lộ ý định trở thành một cường quốc toàn cầu và một hạm đội tàu ngầm tấn công mạnh sẽ giúp bảo vệ việc vận chuyển đường biển của Trung Quốc trên toàn thế giới.

-         Lực lượng tàu ngầm của các quốc gia khác trong khu vực:

+ Ôxtraylia: có 6 tàu ngầm chạy bằng điện và điêzen (SSK và SS) và đã có kế hoạch thay thế những chiếc tàu ngầm này bằng 12 tàu hiện đại thông thường được trang bị tên lửa tuần tiễu. Động thái này của Ôxtraylia rõ ràng là do sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hải quân và sự suy yếu uy thế hải quân của Mỹ, mà Ôxtraylia vốn cho rằng đóng một vai trò bình ổn ở trên toàn thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương.

+ Ấn Độ: Mặc dù về mặt địa lý không phải là quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ cũng đang tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Ấn Độ có 16 tàu ngầm tấn công chạy bằng điêzen và gần đây đã hạ thuỷ chiếc SSN đầu tiên. Ấn Độ cũng đang chế tạo 6 tàu ngầm điêzen lớp Scorpene. Việc mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm của Ấn Độ là một phần trong nỗ lực nhằm tăng thêm 100 tàu chiến cho hải quân nước này trong vòng 10 năm tới. Ấn Độ cho rằng chương trình chế tạo tàu chiến là một “nhu cầu chiến lược” của phòng thủ quốc gia, chủ yếu là nhằm đối chọi với việc Trung Quốc tăng cường lực lượng hải quân. Ấn Độ cũng có tham vọng trở thành một nước lớn và lực lượng tàu ngầm là một công cụ quan trọng để thực hiện tham vọng đó.

+ Nga: hạm đội tàu ngầm của Nga đã giảm khoảng 2/3 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ. Trong những năm gần đây, hải quân Nga đã từng bước phục hồi, nhưng vẫn cần thải hàng chục chiếc tàu ngầm hạt nhân tồn tại từ thời Chiến tranh Lạnh. Năm 2009, Nga có 17 chiếc SSN và 20 chiếc SS, trong đó 5 chiếc SSN và 9 chiếc SS thuộc biên chế hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khó khăn về ngân sách đã hạn chế khả năng của Nga trong việc đại tu thường xuyên các tàu ngầm tác chiến, thậm chí duy trì chúng ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

+ Hàn Quốc: có 12 tàu ngầm tấn công và có kế hoạch tăng lên 27 chiếc vào năm 2020.

+ Bắc Triều Tiên: có 22 tàu ngầm tấn công thông thường đã cũ (số lượng tàu còn hoạt động được chưa biết) và nhiều tàu ngầm mini. Về mặt lý thuyết, các tàu ngầm của Bắc Triều Tiên có thể đe doạ các tàu buôn hoặc các tàu chiến bình thường, nhưng không được coi là đối thủ nghiêm trọng trong các hoạt động kiểm soát trên biển.

+ Đài Loan: hiện có 2 chiếc tàu ngầm tấn công và đang có kế hoạch mở rộng và nâng cấp lực lượng này, bao gồm cả tàu chế tạo trong nước.

+ Các nước Đông Nam Á: trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ đang triển khai các loại SSN, hầu hết các nước ở Đông Nam Á đã mở rộng và nâng cấp hạm đội tàu ngầm hiện có của họ. Inđônêxia có 2 tàu ngầm và thông báo kế hoạch chế tạo 12 chiếc vào năm 2024. Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Xinhgapo gần đây đã mua 2 tàu ngầm trang bị hệ thống AIP lớp Archer nhằm thay thế hai chiếc tàu trong tổng số 4 chiếc cũ kỹ. Tháng 10/2007, Malaixia đã nhận được chiếc tàu lớp Scorpene đầu tiên của Pháp và dự kiến sẽ nhận chiếc thứ hai vào năm 2010. Thái Lan chưa có tàu ngầm nhưng cũng bày tỏ tham vọng có một vài chiếc.

2. Một số khuyến nghị nhằm duy trì ưu thế vượt trội dưới biển của Hải quân Mỹ

-         Trong vòng 16 năm qua, Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng hạm đội tàu ngầm của họ, trong khi đó, Mỹ lại giảm bớt lực lượng này. Các nước bạn bè và đồng minh của Mỹ đã bày tỏ lo ngại về môi trường an ninh chuyển đổi ở Thái Bình Dương. Mỹ đã thừa nhận thực tế cán cân thăng bằng đang chuyển đổi này và đã bắt đầu tìm cách giải quyết. Nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Á, Thái Bình Dương và hỗ trợ việc trấn an các nước đồng minh trong khu vực, Mỹ cần đảo ngược xu thế giảm bớt đội tàu ngầm hiện nay và cần tăng khả năng chống tàu ngầm của họ. Cụ thể:

-         Nhanh chóng đóng thêm các tàu ngầm tấn công. Quốc hội cần thông qua việc tăng mua các tàu ngầm lớp Virginia thêm ít nhất 2 chiếc mỗi năm nhằm mục đích nâng tổng số tàu ngầm tấn công nhanh lên 60 chiếc.

-         Rà soát đại tu và hiện đại hoá các tàu ngầm lớp Los Angeles có lựa chọn để kéo dài thời gian phục vụ. Việc đại tu và hiện đại hoá các tàu ngầm sẽ đòi hỏi thêm ngân sách, vì vậy việc kéo dài thời gian phục vụ của các tàu ngầm cũ mà vẫn trong điều kiện hoạt động tốt, thay vì thải đi như kế hoạch đề ra, sẽ giúp thu hẹp “lỗ hổng tàu ngầm” về ngắn hạn với chi phí ít hơn thay vì chế tạo mới.

-         Tăng cường thêm các căn cứ tàu ngầm. Bố trí thêm tàu ngầm ở các căn cứ Guam, Hawaii và có thể Nhật Bản – ngoài 3 chiếc SSN hiện có ở Guam – sẽ giúp hạm đội này tiếp cận gần hơn với khu vực Đông Á nơi có thể cần đến chúng nhiều nhất, đồng thời cho phép tối đa hoá thời gian neo đậu và giảm tối thiểu thời gian khởi hành. Hải quân Mỹ cũng cần phải xem xét mua thêm các tàu tiếp liệu cho tàu ngầm.

-         Đánh giá lại việc sử dụng các tàu ngầm điêzen. Về ngắn hạn, khi năng lực sản xuất trong nước phát triển, Mỹ có thể mua các tàu ngầm của đồng minh. Phát triển năng lực tàu ngầm thông thường sẽ giúp thúc đẩy việc huấn luyện tác chiến chồng ngầm mạnh mẽ hơn và cho phép Mỹ có thể bán các tàu ngầm chạy điêzen tiên tiếng cho Đài Loan.

-         Nghiên cứu, phát triển và triển khai các phương tiện đa chức năng hoạt động dưới biển. Trang bị các thiết bị không người điều khiển dưới biển (UUV) có thể giúp tăng cường phạm vi, năng lực và khả năng sát thương của các loại vũ khí dưới biển hiện nay. Tuy nhiên, không nên coi các UUV như một sự thay thế các loại tàu ngầm tấn công. Trong tương lai gần, Mỹ cần tiếp tục triển khai các tùa ngầm có người điều khiển, đồng thời nâng cấp và tăng cường năng lực nhằm đối phó với các mối đe doạ tiềm tàng.

-         Tăng cường các năng lực tác chiến chống ngầm. Quốc hội cần phân bổ ngân sách đủ và ổn định để tăng cường các năng lực ASW cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể có thể mở rộng và đẩy nhanh chương trình P-8 và chế tạo thêm các tàu chiến có khả năng ASW.

-         Hợp tác với quân đội của các nước bạn bè và đồng minh nhằm cải thiện năng lực tàu ngầm và ASW của họ. Những nỗ lực này bao gồm tiến hành thường xuyên và mạnh mẽ các cuộc tập trận đa phương, chia sẻ công nghệ và lập kế hoạch chung. Tăng cường năng lực hải quân của các nước bạn bè và đồng minh sẽ cho phép Mỹ hạn chế triển khai các nguồn lực của họ trong các tình huống khẩn cấp và sứ mệnh nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách hơn.

-         Khuyến khích Trung Quốc minh bạch hơn trong các vấn đề an ninh thông qua các kênh quân sự. Sự minh bạch lớn hơn về quân sự của Trung Quốc sẽ giúp giải quyết hoặc xa dịu những quan ngại về việc tăng cường sức mạnh hải quân của nước này. Sự hiểu biết lẫn nhau rõ hơn cũng có thể giúp ngăn chặn hoặc tránh các cuộc đụng độ trong tương lai giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Quốc tế, Quân sự | Tagged: , | 2 phản hồi »