BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Tôn giáo’ Category

490. Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại VN

Đăng bởi anhbasam on 03/03/2010

FOREXPROS.COM

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại Việt Nam

John Ruwitch

Ngày 1-3-2010


Hà Nội ngày 1-3 (Reuters) Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tương đối tốt, GDP tăng trưởng 5,23% năm vừa qua, nhưng đất nước này vẫn còn bị xem như là một nơi đầu tư mạo hiểm và tương đối mù mịt.

Giao dịch trao đổi tín dụng mặc định loại 5 năm đang được thực hiện ở mức chênh lệch khoảng 254 điểm cho Việt Nam, cho thấy mức rủi ro cao đứng hàng thứ hai trong bảng liệt kê của Thomson Reuters dành cho các nước mới nổi lên ở châu Á, mức chênh lệch trung bình trong bảng liệt kê này là 140.

Dưới đây là tóm tắt các rủi ro chính cần lưu ý ở Việt Nam:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Tỷ giá trao đổi cố định của Việt Nam thường xuyên gây áp lực kinh tế chồng chất. Ngân hàng trung ương đã giảm giá đồng bạc Việt Nam lần thứ ba hồi tháng hai, kể từ đầu năm 2008, để giảm áp lực về tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sau đó đã đổ thêm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nói rằng trừ khi chính phủ khôi phục niềm tin về tiền tệ bằng cách kềm chế lạm pháp và giảm thâm thủng mậu dịch, nếu không thì sẽ phải giảm giá đồng bạc thêm nữa.

Chính phủ đã liên tục thực hiện các biện pháp khác để cố gắng khôi phục việc kiểm soát thị trường tiền tệ. Họ đã buộc các nhà xuất khẩu lớn thuộc sở hữu nhà nước bán đô la, và thuyết phục những ngân hàng do nhà nước điều hành đảm bảo đủ đô la cung cấp theo nhu cầu. Họ đã liên tục hứa hẹn thực hiện hình phạt đối với việc buôn bán tiền tệ ngoài biên độ chính thức. Họ đã ra lệnh đóng cửa sàn vàng vào cuối tháng ba. Nhưng hiệu quả của các biện pháp bị hạn chế.

Các phân tích gia nói rằng giá trị đồng bạc nước này vẫn còn được giữ ở mức cao và những vấn đề thuộc về cấu trúc vẫn chưa được giải quyết. Tuy nhiên, rủi ro về một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán không cao. Khi kinh tế đổi chiều, lượng ngoại tệ có khả năng tăng, sẽ hỗ trợ cho tiền đồng.

Cần lưu ý:

- Những bước mà ngân hàng trung ương sử dụng để kềm chế lạm phát và kiểm soát việc thâm thủng mậu dịch. Hầu hết các phân tích gia dự đoán có sự suy yếu tiền tệ vào năm 2010.

- Khoảng cách về tỉ giá đô la/ đồng giữa thị trường chợ đen và tỉ giá liên ngân hàng – thước đo chính về áp lực tiền tệ.

HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ

Thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, và quan liêu nặng nề tác động lên hiệu quả của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cải cách kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi lợi ích xung quanh và các thành phần bảo thủ trong một chính phủ tập trung quá nhiều về vấn đề an ninh, đặc biệt trong những tháng chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản vào năm tới.

Các nhà phân tích nói rằng, có thể có một mức độ tê liệt chính sách, hoặc ít nhất là thái độ bảo thủ trong năm tới như là nạn bè phái và dùng thủ đoạn để tranh giành chức vụ trước Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc đầu năm 2011 sắp tới. Những vị trí lãnh đạo quan trọng và những thay đổi chính sách thường chỉ xảy ra khi có đại hội, năm năm một lần. Các đảng bộ ban ngành địa phương tổ chức hội nghị riêng trong năm nay.

Cần lưu ý:

- Trong khi các gói kích cầu kinh tế giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đã có các câu hỏi đặt ra về việc làm cách nào thâm hụt ngân sách được cấp tiền bù đắp, làm cách nào áp lực lạm phát được kiềm chế, và làm sao tránh được nguồn vốn đầu tư tư nhân ào ạt rút đi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt tay vào một kế hoạch giảm bớt thủ tục quan liêu và đặc biệt các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ xem kết quả ra sao.

- Việc đàn áp bất đồng chính kiến đã dẫn tới một vấn đề gai góc, trong đó các nhà ngoại giao phương Tây và các phân tích gia xem các vụ kết án có động cơ chính trị. Điều này đã làm sôi động hơn trong việc kêu gọi Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao. Cũng vậy, vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ đang đẩy mạnh việc thông qua nghị quyết về nhân quyền. Những sự việc này làm sứt mẻ quan hệ thương mại.

- Các nhà đầu tư thường liệt kê cơ sở hạ tầng lạc hậu là một trong những rào cản lớn của Việt Nam. Khả năng của chính phủ phối hợp nhanh, phát triển hiệu quả trong lĩnh vực này sau khi cam kết trợ giúp phát triển chính thức là một vấn đề trọng điểm.

THAM NHŨNG

Tham nhũng là đặc tính cố hữu ở Việt Nam ở mọi cấp mọi ngành của chính phủ, và nó là rào cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Các nhà chức trách đã công bố kế hoạch tấn công chống tham nhũng, và khuyến khích các phương tiện truyền thông theo dõi và kiểm tra, nhưng những nỗ lực này đã tan thành mây khói, sau khi các nhà báo bị bắt giữ do viết bài về các vụ bê bối lớn. Tiến triển về vấn đề [chống] tham nhũng vẫn là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc hấp dẫn đầu tư dài hạn.

Cần lưu ý:

- Thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng nhận thức về tham nhũng. Một sự cải tiến hay suy giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn. Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2009 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi kể từ năm trước, được xếp hạng 120 trên 180 quốc gia.

BẤT ỔN XÃ HỘI

Các cuộc đình công ở Việt Nam gia tăng, biểu tình phản đối và tranh chấp đất đai trong những năm gần đây liên tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoài. Rối loạn nổ ra ở các vùng nông thôn do việc nhà nước chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng của các cán bộ địa phương.

Báo chí nhà nước trong tháng giêng nêu ra một quan chức Bộ Kế hoạch nói rằng kinh tế năm nay khó khăn có thể dẫn tới nhiều cuộc đình công hơn. Mặc dù hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng bất ổn lớn có khả năng xảy ra, hoặc có thể có bất kỳ rủi ro sắp xảy ra cho chế độ đang có thách thức ngầm từ bên dưới.

Cần lưu ý:

- Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một phong trào phản kháng rộng lớn mang tính toàn quốc sắp sửa xảy ra do các tranh chấp địa phương. Cho tới nay, điều này dường như là chưa có.

- Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa – (Biển Đông). Vấn đề này được tích tụ cao độ tại Việt Nam, nơi mà sự ngờ vực Trung Quốc luôn luôn cao. Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hay nhận thấy sự yếu đuối của Việt Nam về vấn đề này, đều có thể khơi dậy sự ủng hộ cho các cuộc biểu tình rộng lớn.

Vai trò của giáo hội Công giáo. Những người Công giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình định kỳ quanh việc đất đai của nhà thờ bị chính phủ chiếm đoạt sau 1954. Giáo hội Công giáo, trong khi chính thức không tham gia vào chính trị, có khoảng 6-7 triệu giáo dân tại Việt Nam và được tổ chức khá tốt.

Người dịch: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | 3 phản hồi »

393. Giữ vững đức tin ở Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 12/12/2009

BBC News

Giữ vững đức tin ở Trung Quốc

Bài của James Reynolds

BBC News, Bắc Kinh, ngày 25-12-2007

Tại một buổi làm lễ nhà thờ bí mật, bạn cầu nguyện nhanh tới mức bạn có thể – và hy vọng cảnh sát không sờ tới.


Tại điểm cuối con hẻm phía bắc Bắc Kinh, 40 tín đồ Cơ-đốc Trung Quốc tập hợp trong một văn phòng nhỏ. Vào lúc bắt đầu buổi lễ, họ cúi đầu và cầu nguyện.

Vị linh mục, Zhang Minxuan, đứng phía trước họ. Hai mươi năm trước ông là một thợ cắt tóc không quan tâm gì tới tôn giáo. Thế rồi ông dính vào chuyện phiền toái với Đảng Cộng sản và bị đi tù. Sau đó, ông trở thành một tín đồ Cơ-đốc giáo.

Từ đó, ông coi sóc một nhà thờ bí mật và bị giam giữ nhiều lần.

“Một ngày. Chúa sẽ đem nhà thờ của chúng ta ra khỏi bóng tối để đến với ánh sáng,” ông nói với các tín đồ của mình trong căn phòng. Đôi mắt họ ánh lên niềm tin vào ông.

“Ta sẽ cầu nguyện cho chính quyền không có nhiều chuyện quấy rầy tới ta,” ông Zhang nói.

“Cuối cùng, ta tin rằng Chúa sẽ cải đạo cho họ. Ta sẽ không từ bỏ niềm tin yêu của ta đối với Chúa – chẳng có vấn đề gì xảy ra.”

Những tín đồ Cơ-đốc bí mật làm cho Đảng Cộng sản hoảng sợ.

Họ có hàng triệu người trên đất nước này. Họ tổ chức thờ phụng ở bất cứ nơi nào có thể – thường là tại tư gia.

Họ không muốn bị Bắc Kinh kiểm soát, nên họ từ chối ghi danh vào nhà thờ được nhà nước công nhận.

Đảng cảnh giác với những tổ chức không nguyện một lòng trung thành với nhà nước.

Kết án tù

Tại căn nhà của ông ở Bắc Kinh, Cai Zhuohua đọc Kinh Cựu Ước.

Trong phòng khách, kế bên chiếc tivi cũ kỹ là một chồng những cuốn kinh thánh.

Ông Cai là một người coi sóc khác cho hoạt động hành đạo Cơ-đốc bí mật ở Bắc Kinh.

Ông rất sợ để chúng tôi tới dự cuộc hành lễ của ông –sợ rằng cảnh sát sẽ xác định được danh tính họ qua các bài báo của chúng tôi.

Cai Zhuohua theo Cơ-đốc giáo từ khi còn niên thiếu.

Mấy năm trước ông in ra 10.000 cuốn kinh thánh và phân phát cho các tín đồ Cơ-đốc bí mật. Do việc làm này, Đảng Cộng sản đã bỏ tù ông ba năm.

“Tôi cần truyền bá giáo lý Cơ-đốc,” ông nói, “và tôi cần in Kinh thánh ra và phân phát cho các tín đồ – song tôi đã phải chấm dứt việc làm này.”

Nhà máy Kinh thánh

Nên chuyện đó đã giúp cho chúng tôi tìm thấy một điều khá ngạc nhiên ở phía nam thành phố Nanjing.

Trung Quốc có của riêng nó những nhà xuất bản kinh thánh phát đạt – Công ty In Tình Bằng Hữu.

Hàng ngày công ty in ra khoảng 9.000 cuốn kinh thánh. Song nhà máy chỉ được phép cung cấp kinh thánh cho nhà thờ được nhà nước chính thức chấp nhận – không phải nhà thờ bí mật.

Các trang sách được in ra không có vẻ có được nhiều tác động của người công nhân.

“Tôi chưa từng đọc Kinh thánh và tôi không tin vào Cơ-đốc giáo,” theo như lời Zhang Guohong, người đang làm việc tại nhà máy đã được 14 năm.

“Tôi đã lật qua cả cuốn sách, nhưng tôi đến đây để làm việc. Không có thời gian cho tôi đọc nó.”

Công ty Tình Bằng Hữu đã in cuốn kinh thánh bằng tiếng Trung đầu tiên vào năm 1987. Kể từ đó công ty đã phát triển ngày càng lớn.

Vào tháng 2 năm 2008, Tình Bằng Hữu sẽ chuyển tới một địa điểm mới nơi sẽ cho phép in một triệu bản kinh thánh mỗi tháng. Điều đó sẽ làm cho nó trở thành nhà máy in kinh thánh lớn nhất thế giới.

“Chúng tôi đã in ra 41 triệu bản kinh thánh cho các nhà thờ ở Trung Quốc, chúng được phân phát ra qua cái cửa này, và đi tới những hệ thống nhà thờ ở Trung Quốc.’

Nhà thờ chính thức

Một số trong những cuốn kinh thánh đã tới nhà thờ Thiên chúa giáo Xishiku ở Bắc kinh.

Nhà thờ này là một phần của cơ sở tôn giáo được nhà nước phê chuẩn chính thức.

Trong một nhà thờ Thiên chúa, giáo sĩ được chọn lựa bởi Bắc Kinh, không phải do Vatican.

Mọi người ở đây xứng đáng với Đảng Cộng sản – không ai phải che giấu hay lo lắng về chuyện bị bắt bớ.

Vào ngày Chủ nhật, hàng trăm con chiên đến cử hành buổi lễ từ sáng sớm. Có ba buổi lễ được tổ chức – không còn một chỗ trống trong các hàng ghế.

Đây là một dạng đạo Cơ-đốc chính thức được nhà nước Trung Quốc chấp nhận.

Nguyên tắc rất đơn giản: nếu bạn trung thành với Đảng Cộng sản, bạn có thể cầu nguyện và bạn dự lễ bao nhiêu tùy thích.

Nhà nước muốn những tín đồ Cơ-đốc giáo của nó ở các nhà thờ được nhà nước chấp thuận, nơi mà nó có thể nhìn thấy họ và kiểm soát họ.

Song Cơ-đốc giáo đang phát triển vượt ra ngoài sự kiểm soát của nhà nước. Sớm muộn một ngày nào đó, những người Cơ-đốc giáo thậm chí có thể đông hơn những người cộng sản.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Đăng trong Trung Quốc, Tôn giáo | Tagged: | 3 phản hồi »

392. Việt Nam, Vatican thảo luận về quan hệ ngoại giao

Đăng bởi anhbasam on 11/12/2009

REUTERS

Hỏi-Đáp: Việt Nam, Vatican

thảo luận về quan hệ ngoại giao

John Ruwitch

Thứ Ba, ngày 8-12-2009


HÀ NỘI (Reuters) – Chủ tich nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết sẽ gặp Đức Giáo hoàng Benedict vào tuần này trong một chuyến công du tới Italy để thảo luận về việc cải thiện các mối quan hệ. Vatican và quốc gia do Cộng sản cầm quyền ở Đông nam Á này không có các mối quan hệ ngoại giao.

Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã mời Đức Giáo hoàng viếng thăm nước này vào năm sau. Dưới đây là các câu hỏi và trả lời về mối quan hệ Việt Nam-Vatican.

GIÁO HỘI THIÊN CHÚA GIÁO TẠI VIỆT NAM QUAN TRỌNG RA SAO?

Đạo Thiên chúa ở Việt Nam đã tồn tại hàng thế kỷ. Trong số 86 triệu người dân ở Việt Nam, hầu hết là tín đồ Phật giáo, song có tới khoảng 7% theo đạo Thiên chúa, tạo thành một trong những cộng đồng Thiên chúa lớn nhất châu Á.

Không giống như Trung Quốc, nơi mà nhà nước khống chế tôn giáo thông qua một giáo hội “yêu nước” được Đảng Cộng sản hậu thuẫn, ở Việt Nam không có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước và các tín đồ Thiên chúa giáo trung thành với Vatican.

Giáo hội Thiên chúa giáo là một tổ chức lớn nhất ở Việt Nam nằm ngoài Đảng Cộng sản, vốn vẫn kiểm soát chặt chẽ đối với tôn giáo và cắt giảm những hoạt động của các môn đồ khi họ bị cho là liên quan đến chính trị.

BỐI CẢNH CỦA CHUYẾN VIẾNG THĂM NÀY LÀ GÌ?

Năm ngoái, các Giáo sĩ Thiên chúa đã hướng dẫn tổ chức những buổi cầu nguyện và đưa ra các kháng nghị về những mảnh đất tại Hà Nội và cả nơi khác mà nhà thờ cho là chính quyền đã tịch thu một cách bất hợp lý từ những thập kỷ trước. Tại một thời điểm, tám người đã bị bắt do vai trò của họ đối với cuộc phản kháng, song một phiên tòa tổ chức sau đó đã tuyên phạt họ những mức án tương đối nhẹ.

Gần đây nhất, các tín đồ Thiên chúa giáo tại Tam Tòa, phía nam Hà Nội, đã cố dựng lên một nơi thờ tự tạm bợ tại một nhà thờ bị phi cơ Hoa Kỳ phá sập và đã được ấn định là một di tích chiến tranh. Công an đã ngăn chặn không cho họ thực hiện việc đó, bắt đi một số người và các nguồn tin từ phía [những người] Thiên chúa giáo cho biết một vài người đã bị thương trong một cuộc ẩu đả.

Những cuộc phản kháng quy mô xảy ra sau đó, đánh dấu một sự thách thức chưa từng thấy đối với chính quyền và có lẽ đã gây sức ép lên Đảng Cộng sản để dẫn tới một cuộc đối thoại với Vatican – hoặc ít nhất cũng tạo nên một màn trình diễn như thế. Một số nhà phân tích suy đoán rằng chính phủ đã đề nghị sự trợ giúp của Vatican trong việc chế ngự những cuộc biểu dương lực lượng này.

TẠI SAO HÀ NỘI VÀ TÒA THÁNH KHÔNG CÓ CÁC QUAN HỆ NGOẠI GIAO?

Việt Nam nằm trong số một nhúm các quốc gia trên thế giới mà Toà thánh Vatican không có các mối quan hệ [ngoại giao]. Tại châu Á, các nước khác [không có quan hệ ngoại giao với Vatican] như Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Lào, Malaysia và Myanmar.

Khi các lực lượng Cộng sản Việt Nam đánh bại hoàn toàn người Pháp và đất nước bị chia cắt bởi Hiệp định Paris năm 1954, hàng trăm ngàn giáo dân Thiên chúa giáo đã trốn chạy vào nam. Năm năm sau, Vatican đã rút toàn bộ cơ quan đại diện của mình khỏi Hà Nội và chuyển vào Sài Gòn, nơi họ còn giữ một đại diện ngoại giao tại Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ hỗ trợ, hay còn gọi là Nam Việt Nam, cho tới khi chính quyền này sụp đổ năm 1975.

Những dấu hiệu cho thấy có một sự tan băng trong các mối quan hệ với Hà Nội đã bắt đầu xuất hiện vào cuối thập niên 1980, song mọi việc chuyển biến rất chậm chạp do chính quyền Cộng sản cảnh giác với lực lượng đối lập có tổ chức và ở một mức độ thấp hơn, đó là tôn giáo nói chung.

Vatican và chính quyền Việt Nam đã có hơn một chục vòng đàm phán trong nhiều năm và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gặp Đức Giáo hoàng đầu năm 2007.

CÁC QUAN HỆ NGOẠI GIAO CÓ Ý NGHĨA GÌ ĐỐI VỚI CẢ HAI BÊN?

Với nhiều lý do, Vatican tỏ ra thiết tha hơn so với chính quyền Việt Nam trong việc thiết lập các mối quan hệ.

Tuy nhiên, căn cứ vào những phản kháng và sự lên tiếng tiếng của cộng đồng người Thiên chúa giáo gốc Việt ở hải ngoại, các nhà lãnh đạo Cộng sản có lẽ đang xem xét cái lợi, cái hại trong việc giảm bớt căng thẳng với Vatican.

Thực vậy, Vatican đã giúp làm giảm những cuộc phản kháng năm ngoái, đảng có thể nhận ra rằng nâng cao các mối quan hệ như là một biện pháp hữu ích nhằm giữ quyền kiểm soát đối với các tín đồ công giáo nước này.

Theo quan điểm của Vatican, việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với Việt Nam có thể thúc giục các quốc gia khác cải thiện các mối quan hệ song phương với mình.


Hiệu đính: N.T.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Tôn giáo | Tagged: | 1 Comment »

274. ĐÓNG GÓP CỦA THIÊN CHÚA GIÁO VỚI VĂN HOÁ VN

Đăng bởi anhbahoa on 21/08/2009

MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA THIÊN CHÚA GIÁO

ĐỐI VỚI VĂN HOÁ VIỆT NAM

(THẾ KỶ XVII – ĐẦU THẾ KỶ XX)

Ths. Phạm Thị Thanh Huyền Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội *

Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt ở đây (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo…). Trong quá trình phát triển đạo ở Việt Nam, các tôn giáo đã trở thành cầu nối tiếp xúc văn hoá, vì tôn giáo bản thân nó cũng chính là một thành tố của văn hoá. Do đó, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của văn hoá Việt Nam.

Từ sau phát kiến địa lý (thế kỷ XV) cho đến thế kỷ XIX, có thể nói, quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo ra phạm vi toàn thế giới đã gắn bó chặt chẽ như “hình với bóng” với sự bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Vì lẽ đó mà “Sự truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam trong các thế kỷ từ XV đến XIX, một bộ phận của sự truyền bá đạo Thiên Chúa ra phạm vi toàn thế giới trong các thế kỷ nói trên, đương nhiên cũng phải tuân thủ những quy luật lịch sử, thời đại đã chi phối cuộc truyền giáo đó” [1]. Do đó, cũng thật dễ hiểu khi chúng ta thường nói đến vai trò “công cụ” của Thiên Chúa giáo trong quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Nhưng theo các nhà tôn giáo học và văn hoá học thì “tôn giáo là một phương diện của văn hoá và mọi sự tiếp xúc tôn giáo đều có thể được coi là tiếp xúc văn hoá. Và sự truyền bá các tôn giáo lớn sang các vùng đất mới, như trường hợp Thiên Chúa giáo thời cận đại, ngoài những chức năng nào khác, còn được coi là có chức năng chuyển tải văn hoá (transculturel), đương nhiên là văn hoá phương Tây” [2]. Và trong sự chuyển tải văn hoá đó, những yếu tố tích cực, góp phần phát triển nền văn hoá bản địa cần phải được chúng ta nhìn nhận là những đóng góp của tôn giáo nói chung, của Thiên Chúa giáo nói riêng đối với văn hoá Việt Nam.

Như chúng ta đã biết, Thiên Chúa giáo ra đời ở Palextin, thuộc Trung Cận Đông nhưng nó đã sớm được truyền bá và phát triển mạnh ở châu Âu (từ thế kỷ IV đã trở thành quốc giáo của đế quốc Rô Ma rộng lớn). Vì thế, Thiên Chúa giáo mang trong mình dấu ấn của nền văn minh phương Tây. Khi truyền sang Việt Nam, Thiên Chúa giáo đã đóng vai trò là cầu nối chuyển tải những thành tố của văn minh phương Tây đến văn hoá Việt Nam. Các giáo sĩ đến truyền giáo ở nước ta lúc đó đều là những người được đào tạo chính quy trong các chủng viện, đại chủng viện, do đó rất nhiều người có trình độ uyên thâm và có những cống hiến nhất định trong việc chuyển tải văn hoá, văn minh tới vùng đất ngoại. Giáo sư Phan Huy Lê viết “Trong hàng ngũ giáo sĩ có những người chỉ hoạt động vì đức tin và cũng có những góp phần truyền bá một số kỹ thuật phương Tây vào Việt Nam” [3]. Chính họ là những người đầu tiên đã giới thiệu những tiến bộ của văn minh phương Tây với Việt Nam.

Trong quá trình truyền bá đạo ở Việt Nam, Thiên Chúa giáo có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của văn hoá Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như kiến trúc, báo chí, văn chương, ngôn ngữ, lối sống, giáo dục…Trong phạm vi bài viết hội thảo lần này, chúng tôi chỉ xin được đề cập tới một số yếu tố tích cực mà Thiên Chúa giáo đã đem lại cho nền văn hoá Việt Nam, đó là:

Sự tạo thành chữ “Quốc ngữ”

Sự du nhập công nghệ in hiện đại và sự phát triển của báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX

Sự du nhập của nghệ thuật kiến trúc nhà thờ.

1. Sự tạo thành chữ “Quốc ngữ”

Đây là một trong những đóng góp quan trọng nhất của các giáo sĩ đạo Thiên Chúa đối với văn hoá Việt Nam, tất nhiên đóng góp này nằm ngoài ý thức chủ quan của các nhà truyền đạo khi sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Động cơ chủ yếu và trước hết của các giáo sĩ Thừa sai khi sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là để phục vụ cho cuộc truyền giáo. Xuất phát từ mục đích để hoạt động truyền giáo có hiệu quả nên các Thừa sai đã Latinh hoá tiếng Việt để tạo ra một loại văn tự mới đó là chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ ra đời chính xác vào thời gian nào, cho đến nay vẫn chưa xác định được, nhiều người cho rằng thời điểm sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là khoảng từ năm 1620 đến năm 1651, công lao đầu tiên thuộc về các nhà truyền giáo dòng Tên. “Thời gian đầu, từ 1615 – 1663, chỉ có các nhà truyền giáo dòng Tên đến làm việc trong vùng đất Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, đã cùng nhau đóng góp vào công trình tạo ra chữ Quốc ngữ. Năm 1651 in sách Quốc ngữ. Sau đó còn nhiều công trình do nhiều người đã làm cho thứ chữ này hoàn chỉnh hơn, phổ biến hơn suốt từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX” [4].

Lúc đầu, chữ Quốc ngữ là thứ chữ ghi âm nhưng chưa định hình, chưa phản ánh một cách khoa học và trung thực cơ cấu ngữ âm của tiếng Việt, còn chịu ảnh hưởng sâu đậm tiếng nói và chữ viết của người Bồ Đào Nha, người Ý, người Pháp.

Ví dụ: để ghi từ “sách”, người ta viết sayc, để ghi từ “nước mặn”, người ta viết nuocman, để ghi từ “ông nghè”, người ta viết ungue, ungué, ungné, ounghe, oungueh…. Hay người ta viết ũ để ghi vần ung (ví dụ cũ = cung), viết để ghi vần ông, (ví dụ s= sông). Nhưng dần dần qua nhiều lần cải tiến, chữ Quốc ngữ đã đạt đến dạng hoàn chỉnh như ngày nay.

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng người có công đầu tiên tạo ra chữ Quốc ngữ là Thừa sai Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha. Pina sinh năm 1585 tại Guarda, gia nhập dòng Tên lúc 20 tuổi. Ông đến Đàng Trong năm 1617, “là nhà truyền giáo đầu tiên biết Tiếng Việt, cũng là tu sĩ dòng Tên đầu tiên soạn một tập nhỏ về chính tả cùng các dấu thinh của tiếng Việt và năm 1622 bắt đầu soạn ngữ pháp tiếng Việt” [5].

Qua nghiên cứu cuốn sách “Công trình của một số nhà tiên phong Bồ Đào Nha trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt nam cho đến năm 1650” của Roland Jacque (nhà ngôn ngữ học người Pháp), Nguyễn Phước Tương cũng cho rằng “chúng ta có đủ cơ sở khoa học để kết luận rằng giáo sĩ dòng Tên đầu tiên có công trình phiên âm tiếng Việt thành chữ Quốc ngữ chậm nhất vào năm 1623, trước khi Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong vào năm 1624, có tên gọi là “Nhập môn tiếng Đàng Ngoài” là Francisco de Pina” [6].

Sau Francisco de Pina, phải kể đến giáo sĩ Gaspar d’Amaral, người đã biên soạn cuốn “Từ điển Bồ – Việt” vào những năm 1636 – 1645, và giáo sĩ Antonia de Barbosa, ông đã biên soạn cuốn “Từ điển Việt – Bồ” trước khi Alexandre de Rhodes biên soạn và in cuốn “Từ điển Việt – Bồ – Latinh” vào năm 1651.

Nhưng người có công lao to lớn trong việc hình thành chữ Quốc ngữ đó chính là Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ). Ông sinh năm 1593 tại tỉnh Avignon, nước Pháp, là người gốc Do Thái. Năm 1612, Alexandre de Rhodes gia nhập vào dòng Tên ở Rôma, năm 1618, ông được thụ phong linh mục khi mới tròn 25 tuổi.

01

Những công trình đáng kể của Alexandre de Rhodes là “Từ điển Việt – Bồ – Latinh” (Dictionarum Anamiticum Lusitanum et Latinum) và cuốn “Phép giảng tám ngày” (Cathechimus). Cả hai cuốn đều được đúc chữ và ấn hành ở Rôma vào năm 1651. Có thể coi đây là hai cuốn sách đầu tiên được in bằng chữ Quốc ngữ. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes vẫn được coi là tài liệu cơ bản để học tập và nghiên cứu tiếng Việt qua chữ Quốc ngữ.

02

Các thế hệ Thừa sai sau Alexandre de Rhodes tiếp tục theo gương ông biên soạn các loại từ điển tiếng Việt có bổ sung và ngày càng hoàn chỉnh hơn. Đáng kể là năm 1838, một cuốn từ điển mới, đối chiếu hai thứ tiếng Việt – Latinh, Latinh – Việt có ghi thêm chữ Nôm bên cạnh chữ Quốc ngữ, được gọi là “Nam Việt dương hiệp tự vị” (Dictionarium anamitico latinum) do Giám mục Taberd biên soạn, được xuất bản ở Serampur – Ấn Độ. Về cơ bản, chữ Quốc ngữ trong cuốn từ điển này đã có dạng thức như chữ Quốc ngữ ngày nay. Đó là một trong những tài liệu cơ sở được dùng để nghiên cứu tiếng Việt thế kỷ XIX.

03Trang bìa Cuốn Tự điển Việt – La tinh do giáo sĩ P.J. Pigneaux de Béhaine khởi soạn năm 1772; được giáo sĩ J.L. Taberd chỉnh lý bổ sung, xb tại Ấn Độ năm 1838

Trang đầu Cuốn Tự điển Việt – La tinh

Tóm lại, chữ Quốc ngữ đã trải qua một quá trình liên tục cải tiến để được hoàn chỉnh như ngày nay, song chúng ta không thể phủ nhận công lao đầu tiên sáng tạo ra hình dạng của nó thuộc về các Thừa sai Thiên Chúa giáo, nhất là các thừa sai dòng Tên gốc Bồ Đào Nha.

Kể từ lúc ra đời cho tới cuối thế kỷ XIX, chữ Quốc ngữ đã dần dần được hoàn thiện từng bước nhằm phục vụ cho công cuộc truyền giáo như in kinh bổn và các sách giáo lý. Nó cũng là phương tiện ghi chép những hoạt động của các giáo sĩ và giáo dân. Như vậy, trải qua hơn hai thế kỷ sau khi ra đời, phạm vi sử dụng của chữ Quốc ngữ chỉ hạn chế trong khuôn khổ nhà thờ và giáo dân.

Cùng với việc xâm chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp chủ trương mở rộng việc phổ biến chữ Quốc ngữ để đào tạo tay sai thừa hành và đẩy mạnh công cuộc tuyên truyền lừa bịp. Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), chữ Quốc ngữ được chính thức dạy ở các trường “tân học” ở Nam Kỳ. Ngày 22/2/1869, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định “Kể từ ngày 1 tháng 4 năm 1869, tất cả các giấy tờ chính thức đều sẽ được viết và công bố bằng mẫu tự Âu châu”. Chủ ý của chính sách này đã được Giám mục Puginier nói ra một cách rõ ràng: “Sau khi đạo Thiên Chúa đã được thiết lập, tôi coi việc bãi bỏ chữ Hán và thay thế trước tiên bằng chữ Quốc ngữ, sau bằng chữ Pháp, là một phương pháp rất chính trị, rất thực tế và rất hữu hiệu để lập ra ở Bắc kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông… Một khi đã đạt được kết quả to lớn đó, chúng ta đã đoạt được từ Trung Quốc phần lớn ảnh hưởng ở xứ An Nam và giới nho sĩ An Nam vốn rất thù ghét sự thiết lập thế lực Pháp sẽ bị tiêu diệt dần dần” [7].

Điều này đã gây ra sự ác cảm của các sĩ phu đối với chữ Quốc ngữ, vì họ cho rằng đấy là “chữ của Tây”, không học “abc” cũng có nghĩa là bất hợp tác với Tây. Cụ Đồ Chiểu đã kiên quyết không cho con cái đi học thứ chữ này. Trong phong trào Cần Vương và các phong trào khác của văn thân sĩ phu yêu nước, chữ Hán và chữ Nôm được coi là những vũ khí tinh thần lợi hại để chống lại thực dân Pháp.

Tuy vậy, vào khoảng cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện một số văn bản Quốc ngữ ghi lại các truyện Nôm như Kiều, Lục Vân Tiên, Quốc sử diễn ca và một số bản dịch tiếng Việt các sách kinh điển Nho học như Trung dung, Đại học in bằng chữ Quốc ngữ. Cũng trong thời gian này, một số tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên đã được lưu hành như Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, Chuyến đi thăm Bắc Kỳ năm Ất Hợi

Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiếp tục đưa chữ Quốc ngữ vào các hoạt động nhà nước và xã hội nhằm phục vụ cho công cuộc bình định và cai trị của chính quyền thực dân. Một viên Thống sứ đã viết trong bản tường trình: “Việc truyền bá chữ Quốc ngữ chỉ có thể coi là rất có lợi cho sự mở rộng ảnh hưởng của chúng ta trong xứ này và làm cho quan hệ của chúng ta với người bản xứ được dễ dàng…” [8]. Tuy nhiên, thực dân Pháp cũng chủ trương không nên xoá bỏ hoàn toàn chữ Nho vì cho rằng chữ Nho sẽ góp phần đắc lực trong việc duy trì tình trạng lạc hậu về mọi mặt của xã hội Việt Nam.

Trong khi thực dân Pháp coi chữ Quốc ngữ là một công cụ đào tạo tay sai thì các nhà “duy tân” ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã thấy được ở nó những khả năng to lớn cho việc mở mang dân trí. Điều đó được thể hiện qua những vần thơ cổ động:

“ Trước hết phải học ngay Quốc ngữ

Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau

Chữ ta, ta đã thuộc làu,

Nói ra nên tiếng, nên câu, nên lời” [9]

Đông Kinh Nghĩa Thục, một tổ chức vận động cách mạng, đã ra sức cổ động cho việc học tập và phổ biến chữ Quốc ngữ. Trong tập “Văn minh tân học sách” do Hội xuất bản năm 1907, khi nêu 6 việc cần phải xúc tiến để mở mang dân trí, việc sử dụng rộng rãi chữ Quốc ngữ được đặt lên hàng đầu.

“Trầm ngâm suy nghĩ cho cùng, để tìm kế mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn, thì thấy chỉ có sáu đường:

Một là dùng văn tự nước nhà… Văn tự đặt ra là cốt để ghi tiếng nói…Các nước trên địa cầu nước nào chẳng vậy… Còn nước ta vẫn chưa có. Ấy là một điều rất kỳ. Thiết nghĩ nước ta đời xưa hẳn là cũng có văn tự, chẳng qua lâu ngày thất truyền đi đó thôi.

Gần đây, mục sư người Bồ Đào Nha chế ra chữ Quốc ngữ, lấy 26 chữ cái châu Âu phối hợp với 6 âm 11 vận, đánh vần theo lối hài thanh mà đọc ra tiếng ta, rất là giản dị, nhanh chóng. Tưởng nên một loạt học theo. Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để cho trong thời gian vài tháng, đàn bà trẻ con cũng đều biết chữ…” [10].

Có thể nói, sự ra đời của chữ Quốc ngữ là một cuộc cách mạng trong lịch sử hình thành chữ viết của dân tộc ta. Trước khi chữ Quốc ngữ xuất hiện, ở Việt Nam đã tồn tại chữ Hán và chữ Nôm. Trong suốt một thời gian dài, chữ Hán được sử dụng như một văn tự chính thức của nước ta. Mặc dù vậy, giữa chữ Hán và tiếng Việt vẫn có một sự khác biệt rất căn bản. Người Việt Nam chỉ viết đọc chữ Hán nhưng không nói ngôn ngữ Hán. Các văn bản bằng chữ Hán nếu muốn cho người Việt hiểu được phải thông qua phiên dịch. Vì thế, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm theo phương pháp hình thanh và hội ý của chữ Hán để ghi âm tiếng Việt. Nhưng chữ Nôm vẫn là một văn tự quá phức tạp, lại không được các triều đình phong kiến Việt Nam ủng hộ nên nó chưa đạt tới trình độ chuẩn xác và thống nhất cao giữa các địa phương.

Trong khi đó chữ Quốc ngữ lại có khả năng biểu thị chính xác bất kỳ âm thanh nào của tiếng Việt, cấu tạo lại đơn giản, dễ học, dễ nhớ, người Việt chỉ cần học 3 tháng là đã có thể sử dụng được chữ Quốc ngữ. Do đó, chữ Quốc ngữ ra đời đã kết thúc thời kỳ kéo dài sự cách biệt giữa tiếng Việt và chữ viết. Đây là lý do quan trọng nhất khiến cho chữ Quốc ngữ ngày càng được phổ biến và sử dụng rộng rãi và có vai trò to lớn trong sự phát triển văn hoá Việt nam các thời kỳ sau này.

Như vậy, rõ ràng “việc truyền giáo vào Việt Nam đầu thế kỷ XVII, nhìn từ góc độ nó là một sự giao lưu văn hoá, với việc lập thành dạng chữ viết cho tiếng Việt của A.de.Rhodes, đã chuyển tải đến cho nền văn hoá Việt Nam một điều có ích, đó là dạng chữ viết có những ưu điểm hơn hẳn dạng chữ viết đang lưu hành ở Việt Nam. Và, chúng ta có thể ghi nhận công lao của A.de.Rhodes như là một nhà ngôn ngữ học có đóng góp nhiều nhất cho sự ra đời của dạng chữ viết này” [11]. Vì thế, đứng về mặt khách quan và công bằng “việc phục hồi lại công lao của A.de Rhodes trong việc hoàn chỉnh dạng chữ Quốc ngữ, cho dù công việc đó của ông có thể có những động cơ chính trị hay phục vụ cho việc truyền giáo, cũng vẫn là cần thiết và hợp lý, vì đó vốn là một thành tựu khoa học, một yếu tố văn hoá tích cực được chuyển tải đến Việt Nam qua con đường truyền giáo, cũng đồng thời là qua con đường chuyển tải văn hoá vốn là một chức năng tự thân của việc truyền giáo” [12].

2. Sự du nhập công nghệ in hiện đại và sự phát triển của báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX

Cùng với việc truyền báo Thiên Chúa giáo, các giáo sĩ đã du nhập vào Việt Nam rất nhiều thành tựu của kỹ thuật hiện đại phương Tây, trong đó một ngành công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của văn hoá Việt Nam được các giáo sĩ Thừa sai đưa vào Việt Nam khá sớm: đó là ngành in. Cùng với việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, sự du nhập công nghệ in hiện đại vào Việt Nam đã góp phần làm thay đổi diện mạo văn hoá bản địa những năm đầu thế kỷ XIX, đặc biệt trên lĩnh vực báo chí.

Trước khi kỹ thuật in chữ rời được các Thừa sai Thiên Chúa giáo du nhập, ở Việt Nam phổ biến là kỹ thuật in ván khắc. Thời Giám mục Retord (1840 – 1858), một nhà in được lập ở Vĩnh Trị năm 1855 do Thừa sai Theurel trông nom, chủ yếu là in các sách giáo lý bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Latinh và chữ Quốc ngữ. Nhà in này vừa áp dụng công nghệ in khắc gỗ để in chữ Hán, chữ Nôm đồng thời kết hợp với in chữ rời để in chữ Latinh và chữ Quốc ngữ. Công nghệ in chữ rời có thể được coi là công nghệ in tiên tiến nhất ở Việt Nam lúc bấy giờ. Do chính sách cấm đạo gay gắt của chính quyền nhà Nguyễn nên nhà in này phải tạm ngừng hoạt động trong một thời gian dài. Sau đó nhà in Vĩnh Trị được thừa sai Puginier cho phục hồi lại vào năm 1862, đến tháng 4 năm 1864 đã in được 7 – 8 cuốn sách bằng chữ Hán. Đến năm 1868, sau khi nhận chức Giám mục địa phận Tây Bắc Kỳ, Puginier đã cho chuyển xưởng in về Kẻ Sở, gửi mua thêm dụng cụ in từ Pháp như máy in chữ rời, máy in thạch, máy đóng sách. Do vậy mà nhà in Kẻ Sở đã trở thành một nhà in lớn và tương đối hiện đại. Chính tại nhà in này, cuốn “Tự điển Taberd” do Thừa sai Theurel bổ sung đã được xuất bản vào năm 1877.

04

Vào những năm 60 của thế kỷ XIX, một xưởng in khác nữa cũng được thành lập ở giáo phận Đông Nam Kỳ, in các sách chữ Hán, chữ Nôm, chữ Latinh và chữ Quốc ngữ. Cuốn “Tự điển Việt – Pháp” của thừa sai Pénibrel đã được in tại xưởng này vào năm 1898.

Nhà in Thừa sai (Im Primerie de la Mission), sau đó được đổi tên là nhà in Tân Định, được thành lập năm 1874, hoạt động đến năm 1965 với 8 giám mục thay nhau làm giám đốc [13]. Gần một thế kỷ hoạt động, Nhà in Tân Định cho in ấn hàng nghìn tác phẩm văn hoá Thiên Chúa giáo, trong đó tiêu biểu là tờ báo Nam Kỳ địa phận.

Như vậy, sự thành lập và hoạt động của các nhà in nói trên của các giáo sĩ đạo Thiên Chúa đã để lại một số ấn phẩm có giá trị, đáng kể nhất là hai cuốn tự điển của Taberd và Pénibrel. Đây là những tư liệu quý hiếm đánh dấu giai đoạn phát triển của chữ Quốc ngữ, là sự gợi mở cho việc biên soạn các cuốn tự điển khác về sau này, góp phần hoàn chỉnh thêm chữ Quốc ngữ. Thông qua những ấn phẩm in bằng chữ Quốc ngữ của các nhà in này, chúng ta có thể dựng lại các giai đoạn phát triển lịch sử của chữ Quốc ngữ về cấu trúc từ ngữ, cú pháp, âm, vần…

Rõ ràng có thể thấy mặc dù các xưởng in đó lúc đầu chỉ phục vụ cho giáo hội, nhưng điều quan trọng là sự du nhập kỹ thuật in tiên tiến của phương Tây vào Việt Nam đã là tiền đề vật chất quan trọng cho sự phát triển của văn hoá bản địa sau này, mà trước hết là sự phát triển của báo chí – một lĩnh vực của văn hoá được du nhập từ phương Tây vào nước ta.

Thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển rầm rộ của báo chí Việt Nam, điều đó là do sự phát triển của công nghệ in và việc phổ cập chữ Quốc ngữ.

Sau khi Gia Định báo, tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam ra đời vào năm 1865 tại Sài Gòn, báo chí Việt nam xuất hiện và phát triển phong phú, sôi nổi chưa từng thấy từ Nam ra Bắc với những Nông cổ mín đàm, Đại Việt tân báo, Đăng cổ tùng báo, Lục tỉnh tân văn, Trung Bắc tân văn, Phụ nữ tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Đại Việt tạp chí, Thực nghiệp dân báo, Hữu thanh tạp chí, An Nam tạp chí, Tiếng Dân, Phụ nữ thời đàm, Văn học tạp chí, Phong hóa, Ngày nay, Khoa học phổ thông, Thanh Nghị, Tri Tân … gắn liền với tên tuổi của những nhà báo, nhà văn, học giả “Tây học” xuất sắc : Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Ngọc…

Có thể nói, một tờ báo, nhất là một tờ báo bằng chữ Quốc ngữ ra đời trong thời kỳ này là một hiện tượng cực kỳ mới mẻ trong đời sống văn hoá Việt Nam. Trong số các tờ báo Quốc ngữ thì Đông Dương tạp chí Nam Phong tạp chí có vị trí nhất định trong đời sống văn hoá và báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, mặc dù hoạt động dưới sự trợ cấp tài chính và kiểm soát chặt chẽ của Sở mật thám Đông Dương, nhằm tuyên truyền cho chủ trương “Pháp – Nam hợp tác”. Đông Dương tạp chí góp phần đáng kể vào việc trau dồi ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt đầu thế kỷ XX, còn Nam Phong tạp chí đã bước đầu chú trọng khai thác các đề tài lịch sử, xã hội và văn hoá – văn minh của Việt Nam và thế giới với tinh thần “bảo tồn cổ học” và “dung hoà Đông Tây”. Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936), chủ bút tờ Đông Dương tạp chí, là một dịch giả có tài. Hai bản dịch thành công nhất của ông đã có ảnh hưởng tốt đến văn học đương thời là “Thơ ngụ ngôn” của La Fontaine và “Trưởng giả học làm sang” của Molière.

Trong buổi đầu phát triển của báo chí Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của báo chí Công giáo. Tờ báo Công giáo đầu tiên là tờ Nam Kỳ địa phận, ra số đầu tiên ngày 26/11/1908 ở Sài Gòn, có tuổi đời 37 năm (số cuối cùng ra ngày 1/3/1945) [14].

Ra đời sau Nam Kỳ địa phận còn có Thánh thể (1919) (ở địa phận Phát Diệm – Ninh Bình), Thánh giáo tuần báo Bắc Kỳ (1920 – 1923), Trung Hoà nhật báo ở Hà Nội (1924 – 1943), Công giáo Tiến hành (1936 – 1938), Công giáo Đồng Thinh (1927 – 1937)…

Ngay từ khi ra đời, báo chí Công giáo đã sớm tiếp cận được cách trình bày, minh hoạ, cập nhật thông tin của báo chí phương Tây. Việc sử dụng chữ Quốc ngữ của báo chí Công giáo góp phần phát triển tiếng Việt. Hơn nữa, báo chí Công giáo còn là kho tư liệu về lịch sử tôn giáo, về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam thời cận đại.

Không những chỉ làm thay đổi diện mạo văn hoá Việt Nam trên bình diện chữ viết và báo chí, Thiên Chúa giáo khi du nhập vào nước ta còn góp phần làm đa dạng hoá kiến trúc ở Việt Nam với sự du nhập của nghệ thuật kiến trúc nhà thờ phương Tây. Và đặc biệt, sự du nhập này đã tạo ra một sự giao lưu, hoà quyện văn hoá hết sức độc đáo.

3. Sự du nhập của nghệ thuật kiến trúc nhà thờ

Cùng với quá trình truyền bá đạo Thiên Chúa là sự du nhập kiến trúc nhà thờ phương Tây vào Việt Nam. Trước năm 1874, nhà thờ Thiên Chúa giáo Việt Nam có quy mô nhỏ bé giống như nhà dân, cửa được mở ra hai bên cho tín đồ thực hiện “lễ vọng” vào những ngày người đến dự lễ quá đông. Vật liệu xây dựng nhà thờ lúc đầu cũng rất đơn giản, mang tính chất “tạm bợ”, chủ yếu là tranh tre, nứa lá hoặc bằng gỗ.

Từ sau Hoà ước Giáp Tuất 1874 (trong đó có điều khoản đảm bảo cho Thiên Chúa giáo được truyền bá tự do), nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam được xây dựng kiên cố hơn với hình thức đa dạng hơn, có thể quy về hai phong cách kiến trúc: phong cách châu Âu (thường gọi là nhà thờ Tây) và phong cách dân gian Việt nam (thường gọi là nhà thờ Nam)

Đặc trưng của lối kiến trúc theo phong cách châu Âu là kiểu kiến trúc gôtích với tháp chuông cao vút hình tiêm. Tiêu biểu cho phong cách kiến trúc này là nhà thờ Kẻ Sở (Ninh Phú, Kiện Khê, Thanh Liêm, Hà Nam), được xây dựng năm 1877 – 1882, chính Puginier – giám mục địa phận Tây Bắc Kỳ là người đã vẽ mẫu thiết kế cho nhà thờ này.

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn được xây dựng bắt đầu từ năm 1877 đến 1880 thì hoàn thành.

05

Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng năm 1884, đến cuối năm 1887 được hoàn thành cơ bản với quy mô nhỏ hơn nhà thờ Kẻ Sở.

06

Lối kiến trúc gôtích với hình tháp nhọn, vòm mái đòi hỏi kỹ thuật xây dựng khác hẳn với lối kiến trúc truyền thống của người Việt. Qua việc xây dựng những công trình kiến trúc này, những người thợ Việt Nam có cơ hội được tiếp cận với kỹ thuật xây dựng của phương Tây: lối trang trí, họa tiết trong nhà thờ châu Âu như trang trí mặt tiền nhà thờ, trang trí cửa sổ, cửa ra vào, trang trí tháp chuông, vòm nhỏ hai bên hông và vòm lớn trên cung thánh, nơi đặt tượng Chúa, tượng Đức Mẹ Maria và các Thánh.

Nhưng số nhà thờ được xây dựng theo phong cách châu Âu như vậy không nhiều, hầu hết các nhà thờ Thiên Chúa ở Việt Nam đều được kiến trúc theo phong cách dân tộc Việt Nam, hoặc có sự đan xen giữa hai phong cách: vừa có yếu tố châu Âu, vừa có yếu tố truyền thống. Lối kiến trúc này vẫn được tiếp tục ở giai đoạn sau và có thể nói cho đến tận ngày nay. Tiêu biểu cho loại hình này là nhà thờ Lớn Phát Diệm thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, một nhà thờ có quy mô lớn trong các nhà thờ Thiên Chúa ở Việt Nam.

Có loại nhà thờ “vỏ Tây ruột Nam”, tức là về hình dáng mang dáng dấp nhà thờ Tây với tháp chuông nhọn cao vút, trang trí mặt tiền giống nhà thờ Tây nhưng bên trong lại trang trí theo phong cách nhà thờ Nam. Ví dụ như nhà thờ xứ Hà Hồi (Hà Tây), Yên Trì (Quảng Ninh), Tân Lộc (Nghệ An)…

07

Bên cạnh đó có những nhà thờ “thuần Nam” kiến trúc theo phong cách Á Đông như: Hảo Nho, Bình Sa (Ninh Bình), An Vân (Huế), Trung Lao (Nam Định), Ba Làng (Thanh Hoá), đặc biệt là khu quần thể thánh đường Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình). Nét đặc trưng của loại hình nhà thờ “thuần Nam” là không có tháp chuông cao vút gắn với mặt tiền nhà thờ, tháp chuông có thể được làm rời phía trước hoặc bên hông nhà thờ như nhà thờ xứ An Vân (Huế), Sơn Dương (Huế)…Phần lớn các tháp chuông đều xây theo kiểu 3 lầu, càng lên cao càng thu nhỏ lại mang phong cách Á Đông, bên trên có gắn thập tự. Trong các tháp chuông thường treo chuông Nam (loại chuông do nhà thờ mua về hoặc đúc theo kiểu chuông chùa).

08

Nhiều nhà thờ Nam có mặt tiền được xây dựng theo phong cách tam quan: giống như tam quan chùa, cửa ra vào có thể là 3 hoặc 5 cuốn tò vò hoặc hình móng ngựa. Diềm cửa được trang trí hoa văn, hoạ tiết với nhiều bức chạm tứ quý (mai, lan, cúc, trúc) theo lối trang trí cổ truyền của người Việt. Hai bên mặt tiền nhiều nhà thờ Nam còn có câu đối, nội dung thường ca ngợi Thiên Chúa đã sáng tạo ra vũ trụ, ca ngợi những phẩm hạnh của Đức Mẹ Maria…

Ở một vài nhà thờ Nam, mặt tiền có gắn bia đá như nhà thờ Lớn Phát Diệm, nhà thờ Trung Lao. Có thể nói mặt tiền nhà thờ Nam là sự tổ hợp kiến trúc phương Đông và phương Tây trong đó yếu tố phương Đông giữ vai trò chủ đạo. Kiến trúc phương Tây đã được các bàn tay tài hoa của người Việt biến thể tạo ra một loại hình nhà thờ mới góp phần làm phong phú loại hình nhà thờ Thiên Chúa giáo Việt Nam.

09

Cung Thánh trong các nhà thờ “thuần Nam” thường được sơn son thếp vàng, chịu ảnh hưởng của quan niệm thẩm mỹ truyền thống của người Việt: “đẹp vàng son, ngon mật mỡ”: nhà thờ Trung Lao (Nam Định), Hảo Nho ( Ninh Bình), Hà Hồi (Hà Tây), Phát Diệm (Ninh Bình)… Nơi đặt tượng Thiên Chúa, tượng Đức Mẹ, tượng các Thánh ở nhiều nhà thờ Nam được làm bằng gỗ, chạm trổ hoa lá cầu kỳ và được sơn son thếp vàng, dân gian thường gọi là các toà vàng.

10

11

Vách Cung Thánh Nhà thờ Lớn Phát Diệm cũng rất tiêu biểu cho phong cách Cung Thánh vách gỗ sơn son thếp vàng. Toà vàng ở chính giữa, hai bên là hoa văn dây lá chạy dài. Bên trong toà vàng là tượng Đức Mẹ Maria bế Chúa Hài đồng. Hai bên là những ô nhỏ được trang trí hoa văn cách điệu, xung quanh có những đường chỉ gờ bao viền tạo độ sâu cho ô, bên trong các ô gắn ảnh các Thánh. Điều này rất khác cách trang trí Cung Thánh ở các nhà thờ Tây.

Xin được dẫn chứng một công trình kiến trúc tiêu biểu thể hiện sự kết hợp yếu tố dân gian truyền thống vào kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam: Nhà thờ Phát Diệm (có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp) được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX trên vùng đất mới khai phá Kim Sơn – Ninh Bình. Linh mục Phêrô Trần Lục (thường gọi là cụ Sáu) đã chỉ huy việc xây dựng quần thể thánh đường này. Nhà thờ Phát Diệm là một công trình lớn trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, có nhiều giá trị về mặt kiến trúc và đặc điểm nổi bật của nó là mang đậm dấu ấn kiến trúc dân tộc, thể hiện rõ nét tâm thức Việt Nam. Khu quần thể kiến trúc được kiến tạo theo trục chính Bắc – Nam, mặt tiền nhìn về phía Nam, là hướng được ưa chuộng của các công trình đình, chùa, miếu, mạo. Theo quan niệm của người phương Đông, “thánh nhân nam diện nhi thỉnh thiên hạ”, có nghĩa là thánh nhân ngoảnh mặt về hướng Nam nghe thiên hạ tâu bầy.

Khu toà địa phận có 4 cửa, hai cửa phía Đông, hai cửa phía Tây. Cửa phía Đông thường xuyên mở vì theo quan niệm xưa, hướng đông là nơi hội tụ các thần linh, vì vậy người đi vào nhà thờ thường đi theo hướng đông (điều này rất ít gặp ở những nhà thờ xây dựng theo kiến trúc phương Tây).

Phía trước khu quần thể là một cái ao hình chữ nhật rộng gần 1 hécta, đằng sau là núi nhân tạo, điều này không chỉ làm cho phong cảnh hữu tình hơn với “sơn – thuỷ” mà còn dựa trên quan niệm về phong thuỷ của người phương Đông.

Các nhà thờ trong khu quần thể này như nhà thờ thánh Giuse, nhà thờ thành Phêrô, kiến trúc tập trung vào mặt tiền với ba lối vào vòm cuốn, xây theo kiểu tam quan với ba tầng lầu, càng lên lầu trên cửa càng thu nhỏ, mái cong lợp ngói mũi hài. Nếu bên trên không gắn cây thập tự thì người ta sẽ nghĩ đây là một ngôi tháp cổ hay một mái tam quan của đình chùa thường gặp trong các làng quê Việt Nam.

Ba công trình kiến trúc: Nhà thờ Lớn (còn gọi là nhà thờ Kính Đức Mẹ Mân Côi), Phương Đình và nhà thờ Trái tim Đức Mẹ (còn gọi là nhà thờ Đá) là những công trình kiến trúc tiêu biểu mang đậm tính dân tộc hơn cả.

- Nhà thờ Trái tim Đức Mẹ được xây dựng đầu tiên, năm 1883. Nhà thờ này dài 18 mét, rộng 9 mét, cao 5 mét, thường gọi là nhà thờ Đá vì nền, cột, xà, tường, chấn song, tháp, bàn thờ đều bằng đá.

Mặt tiền gồm 3 lối ra vào (tam quan), hai tháp hình vuông mỗi tháp 5 tầng đặt trên hai cửa ra vào phụ. Phía trên cửa ra vào chính giữa là toà Đức Mẹ bằng đá uốn vòm, trong có đặt tượng Đức Mẹ.

12

Phía trong nhà thờ được xây bằng những phiến đá cẩm thạch nhẵn bóng với những đường nét thanh thoát, nhẹ nhàng. Hai bên vách nhà thờ có những bức chạm tứ quý: tùng, cúc phía đông, trúc, mai phía tây. Ngoài ra còn có những bức chạm ở vách ngoài bằng đá hình chim phượng xoè cánh, mang bút nghiên và sư tử có bờm dài, răng nanh, mặt giống mặt người đang cười. Nhà thờ Đá được coi là một kiệt tác nghệ thuật, nhiều người còn gọi đó là Viên ngọc.

- Nhà thờ Lớn (hay còn gọi là nhà thờ Kính Đức Mẹ Mân Côi)

Đây là ngôi nhà thờ lớn nhất, đẹp nhất và lối kiến trúc dân tộc cũng được thể hiện rõ nét nhất. Mặt tiền của nhà thờ Lớn có 5 lối ra vào bằng đá, phía trên là ba tháp vuông bằng gạch, đầu đao, mái cong, lợp ngói mũi hài. Trên đỉnh tháp ở giữa có tượng hai thiên thần cầm thánh giá, hai bên là hai thiên thần khác thổi loa, bên dưới có khắc 4 chữ Hán “Thẩm phán tiền triệu” (điềm báo trước ngày phán xét). Điều đáng nói là các thiên thần này đều mang gương mặt Á Đông, hai tai dài, dái tai chẩy như tai Phật.

13

- Phương Đình

Phương Đình được hoàn thành năm 1899, là công trình sau cùng của linh mục Trần Lục. Hình dáng của Phương Đình giống như đình làng, kích thước gần vuông: ngang 24m, sâu 17m, cao 25m. Toà Phương Đình có 3 cửa ra vào, bên trên là hai tầng lầu, các đầu dốc uốn mái cong uyển chuyển, mái lợp ngói mũi hài. Tầng trên cùng (tầng 3) treo quả chuông Nam (chuông nện vồ, khác với chuông Tây phải kéo chuông mới kêu). Xung quanh chuông có khắc chữ Hán và chữ Latinh. Bốn tháp ở bốn góc kết cấu chồng mái cong rất mềm mại, trên đỉnh mỗi tháp là tượng các Thánh chép sách Phúc âm.

14

Với lối kiến trúc tam bậc, tam cấp, chồng mái, đầu dốc uốn cong vút, lợp ngói mũi hài, toà Phương Đình đem lại cho người ta một ấn tượng mạnh mẽ về một phong cách Á Đông. Tín đồ Thiên Chúa giáo đến nhà thờ thực hành lễ có cảm giác như đến với đình, chùa vốn thân quen và ăn sâu vào tiềm thức của người Việt.

Khu nhà thờ Phát Diệm là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng kiểu phương Đông, hay nói đúng hơn nó mang đậm nét tính dân tộc Việt Nam. Vì vậy, quần thể kiến trúc này đã được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích văn hoá, công trình văn hoá của quốc gia.

Có thể thấy rằng trước khi có kiến trúc nhà thờ phương Tây, những công trình kiến trúc như đình, chùa, miếu, mạo đã in đậm trong tâm thức của người Việt. Phải chăng vì thế mà khi du nhập vào Việt Nam, kiến trúc phương Tây đã kế thừa, hoà trộn những yếu tố Việt đó để dễ đi vào lòng người của người dân quê Việt Nam? Có thể còn nhiều lý do khác nữa, nhưng rõ ràng nhờ đó kiến trúc nhà thờ Việt Nam trở nên đa dạng và đặc sắc. Sự xuất hiện của nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam đã du nhập những phong cách kiến trúc mới, vật liệu xây dựng mới. Trên cơ sở lối kiến trúc phương Tây, người thợ Việt Nam tài hoa đã tạo ra những kiểu dáng mới, tiêu biểu là loại hình kiến trúc nhà thờ Nam – một sáng tạo trong kiến trúc Thiên Chúa giáo Việt Nam. Đây được coi là một tư liệu sống động về sự hội nhập văn hoá.

Kết luận

Đạo Thiên Chúa được truyền bá vào Việt Nam từ khá sớm, khoảng nửa đầu thế kỷ XVI, nhưng hoạt động truyền đạo chỉ thực sự có kết quả từ đầu thế kỷ XVII. Cho đến nay, Thiên Chúa giáo đã có lịch sử trên 400 năm ở Việt Nam. So với Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo thì Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đến muộn, tuy nhiên trải qua thời gian, văn hoá Thiên Chúa giáo vẫn có một chỗ đứng nhất định trong văn hoá Việt Nam. Tuy vậy, văn hoá Thiên Chúa giáo đã có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của văn hoá Việt Nam. Những đóng góp của Thiên Chúa giáo đối với văn hoá dân tộc Việt Nam thể hiện trên rất nhiều lĩnh vực: lối sống đạo, ngôn ngữ – chữ viết, báo chí, văn chương, kiến trúc… Sẽ là thiếu khách quan và công bằng nếu như chúng ta phủ nhận những đóng góp có thể coi là tích cực này của Thiên Chúa giáo. Cuối cùng, chúng tôi xin mượn lời tác giả Nguyễn Văn Kiệm để làm lời kết luận cho báo cáo của mình, bởi đây là một vấn đề lớn và phức tạp, cần có sự nghiên cứu chuyên sâu hơn mà trong phạm vi bài viết hạn hẹp này, chúng tôi chưa thể hiện hết được những nội dung cần chuyển tải:

“Những tôn giáo lớn trên thế giới, trong quá trình lan toả, cùng lúc với sự truyền bá đức tin, còn có vai trò chuyển tải văn hoá nội sinh của tôn giáo nào đó cũng như văn hoá của cộng đồng sản sinh ra nó. Khi du nhập vào Việt Nam, Công giáo cũng thể hiện vai trò đó và có những đóng góp vào nền văn hoá bản địa” [15]

———-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 2001, 400 trang, tr 38.

2. Nguyễn Văn Kiệm, Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H.2003, 645 trang, tr 34.

3. (dẫn theo) Huy Thông, Ảnh hưởng qua lại giữa văn hoá Công giáo và văn hoá Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2, năm 2000, tr 56. 4. (dẫn theo) Nguyễn Hồng Dương, Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H.2004, 393 trang, tr 271 – 272.

5. (dẫn theo) Nguyễn Hồng Dương, Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H.2004, 393 trang, tr 272. 19

6. Nguyễn Phước Tương, Giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina – người tiên phong sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5, năm 2001, tr 29.

7. Nguyễn Văn Hoàn, Chữ Quốc ngữ và sự phát triển của văn hoá Việt Nam trong thế kỷ XX, Tạp chí Văn học, số 9, năm 2000, tr 43.

8.9. (dẫn theo) Đặng Đức Siêu, Chữ viết trong các nền văn hoá, Nxb Văn hoá, H.1982, 177 trang, tr 170.

10. (dẫn theo) Đặng Đức Siêu, Chữ viết trong các nền văn hoá, Nxb Văn hoá, H.1982, 177 trang, tr 171.

11. Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam, H.2001, 400 trang, tr 117.

12. Nguyễn Văn Kiệm, Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H.2003, 645 trang, tr 40.

13. Nguyễn Hồng Dương, Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H.2004, 393 trang, tr 275.

14. Nguyễn Hồng Dương, Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H.2004, 393 trang, tr 253.

15. Nguyễn Văn Kiệm, Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, H.2003, 645 trang, tr 123.

——————-

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này trên mục Chủ ĐỀ/Hội thảo VN học-3 (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ).

Đăng trong Hội thảo VN học-3, Tôn giáo | Tagged: | 13 phản hồi »

258. Ý kiến của Ban Tôn Giáo về vụ Bát nhã

Đăng bởi hoangtran204 on 05/08/2009

The Washington Post

Việt Nam nói rằng những nhà sư

đang bị đuổi đi không phải là bị đàn áp

BEN STOCKING

Hãng Thông tấn Mỹ AP

Thứ Ba, ngày 4-8-2009

Thiền sư Nhất Hạnh và phái đoàn Phật giáo đến chùa Bồ Đề – 2005 (VNN)

HÀ NỘI, Việt Nam – Những nhà sư ủng hộ một sư ông Phật giáo nổi tiếng thế giới bị buộc ra khỏi một tu viện ở Việt Nam do đã không làm cho chính quyền hiểu rõ các hoạt động của họ, một quan chức đã tuyên bố hôm nay thứ Ba, song ông đã phủ nhận rằng vụ việc tranh cãi là về vấn đề tự do tôn giáo.

Các môn đệ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, người đã bán được hơn 1 triệu cuốn sách tại phương Tây, cho biết là chính quyền đang trừng phạt họ do sư thầy của họ ở Pháp đã đề nghị chính phủ cộng sản ở quê hương Việt Nam cần phải bãi bỏ việc kiểm soát tôn giáo.

Tuy nhiên, ông Bùi Hữu Được, thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, đã quy lỗi cho cuộc tranh cãi này là do tình trạng thiếu tôn trọng các quy định của địa phương và nói rằng việc các chính quyền giám sát các hoạt động của những nhóm tôn giáo hoạt động bên trong biên giới của họ là chuyện bình thường.

“Quản lý các nhóm tôn giáo không có nghĩa là kiểm soát họ,” ông Được, người chịu trách nhiệm theo dõi các vấn đề về Phật giáo của ủy ban này, đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn với Hãng thông tấn AP. “Chúng tôi ở đây là để tạo điều kiện thuận lợi cho những cố gắng của họ làm những điều tốt đẹp cho đất nước.”

Tuy nhiên, ông Được đã thừa nhận là các giới chức đã “rất ngạc nhiên” về những nội dung được đưa lên trang Web chính thuộc tu viện chính của sư ông Nhất Hạnh tại miền nam nước Pháp trong đó kêu gọi chính phủ [trong nước] hãy giải tán lực lượng công an tôn giáo.

Việt Nam chính thức công nhận chưa tới một tá các tôn giáo khác nhau, và họ đều phải chấp hành quy định đăng ký với nhà nước.

Các môn đồ của sư ông Nhất Hạnh đã bị yêu cầu phải rời khỏi tu viện Bát Nhã ở vùng Cao nguyên Trung phần từ đầu tháng Chín.

Những căng thẳng ở Bát Nhã đã sục sôi vào cuối tháng Sáu, khi có một đám du thủ du thực đột ngột tấn công vào khu vực này bằng búa tạ, phá huỷ nhà cửa và đe doạ các nhà sư và ni cô Làng Mai. Các nhà chức trách cũng đã cắt điện vào khu vực này.

Cuộc tranh chấp này tiêu biểu cho một sự thay đổi khác thường từ bốn năm trước, khi sư ông Thích Nhất Hạnh ở Pháp trở về quê hương sau 39 năm sống lưu vong. Ông đã bị buộc phải ra đi năm 1966 vì những gì mà chính quyền Nam Việt Nam do Hoa Kỳ ủng hộ khi đó cho là chỉ trích cuộc Chiến tranh Việt Nam. Cuộc trở về của ông năm 2005 đã được đăng tải trên trang nhất các báo của nhà nước.

Phái Phật giáo của sư ông Nhất Hạnh rất phổ biến ở phương Tây. Các môn đồ từ khắp nơi trên thế giới đều tới tu viện Làng Mai của ông tại miền nam nước Pháp để cùng ông tu tập và suy tưởng. Có lẽ ông là vị Phật tử nổi tiếng thứ hai trên thế giới chỉ sau Đức Dalai Lama.

Khi các đệ tử của thầy Nhất Hạnh lần đầu tiên trở về năm 2005, ông Được cho biết, các nhà chức trách Việt Nam đã chấp thuận các hoạt động của họ. Thế nhưng kể từ tháng Bảy năm 2008, ông nói, họ đã đưa ra 11 khoá học tại tu viện Bát Nhã khi chưa xin phép.

Các môn đệ của sư ông Hạnh nói rằng họ tuân theo tất cả những gì mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam được nhà nước công nhận cho biết.

Họ đã được sư Viện trưởng Đức Nghi mời tới tu tập tại Bát Nhã trong chuyến viếng thăm của sư ông Nhất Hạnh năm 2005 và cho biết kể từ đó họ đã bỏ ra gần 1 triệu đô la để mở rộng đất đai và xây thêm những căn nhà mới.

Chúng tôi đã không thể liên lạc được với ông Nghi, song ông Được nói rằng sư viện trưởng hiện giờ muốn gần 400 môn đồ của sư ông Hạnh tại tu viện phải rời khỏi đây.

Các môn đệ của sư ông Nhất Hạnh tin là, đơn giản, ông Nghi đang phản ứng lại với sức ép từ bên trên.

Ông Được cũng cho biết vào hôm nay thứ Ba là các cán bộ của nhà nước Việt Nam “rất ngạc nhiên” về những nội dung xuất hiện trên trang Web của Làng Mai vào tháng Hai năm 2008. Những nội dung này bao gồm những đề nghị mà sư ông Hạnh đã nói ra với Chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong một chuyến viếng thăm năm 2007 tới Hà Nội, ông nói.

Trong những gợi ý đó có một đề nghị giải tán Ban Tôn giáo, giải tán công an tôn giáo của Việt Nam, và thực hiện việc sửa đổi những cái tên chính thức của đảng cộng sản và tên nước, là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

“Khi lần đầu tiên chúng tôi trông thấy những thông tin được đưa lên trang Web của Làng Mai, chúng tôi đã nghĩ chắc chắn phải có một sự nhầm lẫn,” ông Được nói.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

————–

The Washington Post

Vietnam says booting Buddhist monks not repression

By BEN STOCKING

The Associated Press
Tuesday, August 4, 2009; 5:32 AM

HANOI, Vietnam — Monks following a world-famous Buddhist teacher are being evicted from a Vietnamese monastery for failing to clear their activities with the government, an official said Tuesday, but he denied the dispute was about religious freedom.

Followers of Thich Nhat Hanh, who has sold more than 1 million books in the West, say the government is punish ing them because their France-based leader suggested that his native Vietnam’s communist government should abolish its control of religion.

However, Bui Huu Duoc of the government’s Committee on Religious Affairs, blamed the dispute on a failure to abide by local regulations and said it is normal for governments to oversee the operations of religious groups operating within their borders.

“Managing religious groups doesn’t mean controlling them,” Duoc, who oversees Buddhist affairs for the committee, said in an interview with The Associated Press. “We’re here to facilitate their efforts to do good things for the country.”

However, Duoc did allow that officials were “very surprised” at postings on the main Web site for Hanh’s main monastery in southern France calling for the government to disband religious police.

Vietnam formally recognizes less than a dozen religions, and they are all required to register with the state.

Hanh’s followers have been asked to leave the Bat Nha monastery in the Central Highlands by early September.

Tensions at Bat Nha boiled over in late June, when a mob descended on the site with sledgehammers, damaged buildings and threatened the Plum Village monks and nuns. Authorities also cut off electricity at the site.

The dispute represents a remarkable turnaround from four years ago, when France-based Hanh returned to his native land after 39 years of exile. He had been forced out of what was then U.S.-backed South Vietnam in 1966 for criticizing the Vietnam War. His return in 2005 made the front pages of state-owned newspapers.

Hanh’s brand of Buddhism is very popular in the West. Followers from around the world travel to his Plum Village monastery in southern France to study with him. He is perhaps the best known Buddhist after the Dalai Lama.

When Hanh’s followers first came in 2005, Duoc said, Vietnamese authorities approved their activities. But since July 2008, he said, they have offered 11 courses at the Bat Nha monastery without permission.

Hanh’s followers say they have kept the official Vietnam Buddhist Church fully informed.

They were invited to practice at Bat Nha by Abbot Duc Nghi during Hanh’s 2005 visit and say they have since spent nearly $1 million expanding the property and adding new buildings.

Nghi could not be reached for comment, but Duoc says the abbot now wants the nearly 400 Hanh followers at the monastery to leave.

Hanh’s followers believe Nghi is simply responding to pressure from above.

Duoc also said Tuesday that Vietnamese officials were “very surprised” by postings that appeared on the Plum Village Web site in February 2008. These included suggestions that Hanh made to President Nguyen Minh Triet during a 2007 visit to Hanoi, he said.

Among them was a proposal to abolish the Committee on Religious Affairs, disband Vietnam’s religious police, and make modifications to the formal names of both the communist party and the state, known as the Socialist Republic of Vietnam.

“When we first saw that information posted on the Plum Village Web site, we thought it must have been a mistake,” Duoc said.

Đăng trong Tôn giáo | Tagged: , , | 3 phản hồi »

252.Cuộc tấn công vào tu viện Bát Nhã

Đăng bởi hoangtran204 on 31/07/2009

BBC News

Bat Nha monastery sign

Cuộc tấn công vào

một tu viện ở Việt Nam

Một cuộc tấn công mới đây vào một tu viện đang tu luyện theo một môn phái Phật giáo phi truyền thống chỉ là một trong một số biến cố làm dấy lên mối quan ngại về những hạn chế quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam. Krassimira Twigg của Đài BBC quan sát các sự kiện tại tu viện Bát Nhã.

Thứ Năm, ngày 30-7-2009

Vào ngày 29 tháng Sáu, một nhóm đội viên dân phòng đã cố xua đuổi các nhà sư và ni cô đang sống tại tu viện Bát Nhã trên vùng cao nguyên trung phần của Việt Nam.

Cuộc tấn công đã làm cho các nhà sư trong suốt hai tuần lễ không có đồ ăn thức uống và tu viện còn không có cả điện nước.

Mặc dù không có ai bị thương nghiêm trọng, song nhà cửa bị lục soát, đồ đạc cá nhân bị lấy đi và các nhà sư bị đe doạ.

Pháp Hội là một trong 379 người đang sống trong tu viện Bát Nhã. Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với đài BBC, ông đã cho biết rằng mặc dù những kẻ tấn công đã rút lui, song các nhà sư và ni cô vẫn đang sống cùng với những hậu quả của những gì đã xảy ra.

“Cuộc sống vẫn còn khó khăn. Vấn đề lớn nhất là nước. Chúng tôi không có điện, chúng tôi không thể bơm được nước từ giếng lên,” ông nói.

“Nhà bếp và phòng ăn bị khoá, nên chúng tôi không thể sử dụng … Chúng tôi không có bất cứ nguồn cung cấp đồ ăn uống nào trong tuần đầu tiên. Giờ thì người dân từ trong làng đã đem đồ ăn cho chúng tôi.”

Những điều quen thuộc với bối cảnh của câu chuyện này cho thấy tình hình là phức tạp và “u ám”. Những người chứng kiến nói rằng trong đám đông tấn công liên miên các nhà sư có những nhà sư khác, với lối tu hành gần với truyền thống hơn, họ chống lại những cách truyền đạo kiểu mới được thực hành tại tu viện này.

Mặc dù sự liên quan của chính quyền là không thể chứng minh được, nhưng nhiều người tin chắc rằng chiến dịch đẩy đuổi các nhà sư đến từ một cấp cao hơn.

Cảnh sát mặc thường phục và đồng phục cũng có mặt, song theo tin tức thì họ không làm gì để ngăn chặn cuộc tấn công.

Ngăn cản hoạt động tôn giáo

Các nhà sư ở tu viện Bát Nhã theo học các khóa giảng dạy của ông Thích Nhất Hạnh – một Thiền sư nổi tiếng thế giới, nhà hoạt động hòa bình và là tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất.

Ông đã và đang sống lưu vong kể từ năm 1966, khi ông tới Hoa Kỳ kêu gọi chấm dứt chiến tranh trên quê hương mình.

Ông đã lập Làng Mai tại miền nam nước Pháp – một trung tâm thiền tập và là tổ ấm cho Giới luật cùng Hiện hữu của ông *.

Năm 2005, chính phủ Việt Nam đã mời ông trở về và thuyết giảng ở trong nước **. Thích Đức Nghi, thầy viện trưởng của tu viện Bát Nhã, cũng đã mời ông giúp đỡ phát triển tu viện.

Các môn đồ của thầy Thích Nhất Hạnh cho biết họ đã mua đất đai và xây lên những ngôi nhà tại tu viện này để có nơi ở cho gần 400 nhà sư và ni cô Việt Nam trẻ tuổi trải qua thời kỳ tu tập ở đó theo các bài tập của Làng Mai.

Thế nhưng lòng khoan dung khai mở và mới mẻ đối với những lối truyền giáo phi truyền thống này đã bị chết yểu. Trưởng ban Việt ngữ của Đài BBC, Nguyễn Giang, nói rằng chính quyền đã lợi dụng những gì mà họ cần từ một mối quan hệ với ông Thích Nhất Hạnh, và giờ đây họ đang gạt bỏ sự hậu thuẫn đối với ông.

“Lúc đó, chính phủ đã muốn được xem như là mềm dẻo và có thể xem xét tới những hệ tư tưởng khác nhau. Họ muốn được đưa ra khỏi bản danh sách đen về tôn giáo của Hoa Kỳ, muốn trở thành một thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới WTO và thu hút thêm đầu tư nước ngoài. Giờ đây họ đã đạt được điều đó,” ông nhận xét.

Các môn đồ của thiền sư Thích Nhất Hạnh cảm thấy rằng pháp môn Thiền của ông bị chính phủ Việt Nam coi như là một mối đe doạ tiềm tàng, khi nó trở nên phổ biến đối với những người dân còn trẻ tuổi, có học và có thiên hướng độc lập.

Đối với Ni cô Chang Kong từ Làng Mai, những lý do đằng sau cuộc tấn công là rõ ràng.

“Chính phủ lo sợ rằng chúng tôi quá mạnh và họ không thể kiểm soát được chúng tôi. Công an địa phương tại tất cả các tỉnh đã và đang đến thăm những bậc cha mẹ của các môn đồ trẻ tuổi của chúng tôi, để nói với họ là hãy bảo con họ đừng dính líu với Bát Nhã nữa vì chúng tôi liên quan tới ‘chính trị’ “.

“Tình huống nhạy cảm”

Không có tuyên bố chính thức về những gì đã xảy ra tại Bát Nhã, và các phương tiện truyền thông ở Việt Nam đã không đưa bất cứ tin tức nào về sự kiện này.

Thế nhưng một manh mối cho thấy cách mà các nhà chức trách nhìn nhận về lối tu tập ở đây có thể được tìm thấy trong một cơ quan về các vấn đề tôn giáo được chứng minh bằng tài liệu vào năm 2008, trong đó chỉ trích các tu sĩ từ mạng lưới Làng Mai về việc có “cách tiếp cận sai trái đối với các vấn đề chính trị của nhà nước Việt Nam”.

Một sĩ quan công an địa phương, người muốn được giấu tên, đã nói với BBC rằng các nhà chức trách đã không làm gì đối với hành động tấn công và họ có nhiệm vụ phải để cho các nhà sư tự quyết định nếu như họ muốn ở lại hay ra đi.

“Đây là mối quan hệ nội bộ giữa hai nhóm Phật giáo. Chúng tôi không biết ai là những người tấn công và họ đến từ đâu. Đã có một đám đông rất nhiều người. Một vài người trong số họ mặc những bộ quần áo tu viện, cho nên chúng tôi không thể kết luận rằng họ là những kẻ tội phạm,” ông nói.

“Những viên cảnh sát có mặt tại hiện trường đã không can thiệp do đó là một tình huống nhạy cảm cần được các lực lượng an ninh và ban tôn giáo chính phủ xử lý.”

Ông Trần Giác Hạnh là một môn đồ của Sư ông Thích Nhất Hạnh hiện đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã chứng kiến vụ tấn công và cho rằng chính sự thiếu vắng hành động của công an đã tự nó nói lên tất cả.

“Chuyện không thể tin được. Khi một cuộc xung đột bạo lực như vậy xảy ra, các nhà chức trách phải can thiệp vào, nhưng họ đã chẳng làm gì. Họ đã đứng nhìn khi những người chân tu bị đánh đập và tài sản bị huỷ hoại,” ông kể.

“Anh không thể làm vậy ở một đất nước nơi mà luật pháp được tôn trọng. Liệu họ có thể nói rằng họ tôn trọng tự do tín ngưỡng được không khi họ lại ngăn cản những tín đồ đức hạnh tới chùa chiền để tu luyện và thờ cúng?”

Tự do tôn giáo không phải là mối quan ngại duy nhất đối với chuyện rắc rối này. Trish Thompson, một môn đệ của thầy Thích Nhất Hạnh đang sống ở Việt Nam, nói rằng những sự kiện ở tu viện Bát Nhã làm dấy lên những vấn đề mang tính khái quát hơn.

“Mọi người ở trên khắp thế giới, trong đó có tôi, đã đóng góp gần 1 triệu đô la để xây dựng tu viện này. Chúng tôi cảm thấy việc đầu tư của mình cho lớp trẻ hiện tại và trong tương lai ở Việt Nam, mà nhiều người trong đó đã đến từ những nơi nghèo khổ nhất trong những nơi nghèo khổ, giờ thì đã bị mất cả.” ***

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

* Trang web Làng Mai.

** Xem: Đằng sau chuyến trở về của Thầy Nhất Hạnh (BBC).

*** Xem thêm các bài khác: – Căng thẳng tại Tu viện Bát Nhã (BBC). – Vụ đập phá tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng gây phẫn nộ (RFI). Ý kiến của Nhà thơ Hoàng Hưng.

—————–

BBC News

Attack on a Vietnam monastery

A recent attack on a monastery practising a non-traditional brand of Buddhism is just one of a number of incidents that has raised concerns about curbs on religious freedom in Vietnam. The BBC’s Krassimira Twigg looks at the events at Bat Nha monastery.

Page last updated at 00:19 GMT, Thursday, 30 July 2009 01:19 UK

On 29 June, a group of vigilantes tried to evict the monks and nuns living at the Bat Nha monastery in Vietnam’s central highlands.

The attack left monks without food for two weeks and there is still no electricity or water at the monastery.

Although nobody was seriously hurt, buildings were ransacked, personal belongings were taken and monks were threatened.

Phap Hoi is one of 379 people living at the Bat Nha monastery. In a telephone interview with the BBC, he said that although the attackers had stepped back, the monks and nuns were still living with the consequences of what happened.

“Life remains difficult. The biggest problem is water. We have no electricity and without electricity, we can’t pump out water from the well,” he said.

“The kitchen and the dining hall are blocked, so we can’t use them… We didn’t have any food supplies for the first week. Now people from the village bring food to us.”

Those familiar with the background of the story say the situation is complicated and ‘murky’. Eyewitnesses say that in the crowd harassing the monks were other, more traditional, monks who are against the new teachings practised at the monastery.

Although government involvement cannot be proven, many are convinced the campaign to evict the monks comes from a higher level.

Uniformed and plain clothes police were present too, but they reportedly did nothing to prevent the attack.

Tackling religion

The monks at Bat Nha monastery follow the teachings of Thich Nhat Hanh – an internationally renowned Zen master, peace activist and bestselling author.

He’s been living in exile since 1966, when he went to the US to call for an end to the war in his homeland.

He established Plum Village in southern France – a meditation centre and home to his Order of Interbeing.

In 2005, the Vietnamese government invited him to return and lecture in the country. Thich Duc Nghi, the abbot of Bat Nha monastery, also invited him to help with the development of the monastery.

Thich Nhat Hanh’s followers say they have bought the land and built buildings on it to accommodate the nearly 400 young Vietnamese monks and nuns who are undergoing training there in Plum Village practices.

But the opening up and the new tolerance towards non-traditional religious teachings was short-lived. The head of the BBC’s Vietnamese service, Giang Nguyen, says the government has already taken what it needed from a relationship with Thich Nhat Hanh, and is now turning its back on him.

“At the time, the government wanted to be seen as flexible and able to accommodate different ideologies. They wanted to be taken off the US religion blacklist, become a member of the WTO and attract more foreign investment. They’ve now achieved that,” he said.

Hanh’s followers feel that his Zen doctrine is seen as a potential threat by the Vietnamese government, as it is popular with young, educated and independent-minded people.

For Sister Chang Kong from Plum Village, it’s clear what the reasons behind the attack are.

“The government fear that we are too dynamic and they can’t control us. Local police in every province have been paying visits to the parents of our young disciples, telling them to get their sons and daughters out of Bat Nha because we are ‘political’.”

‘Sensitive situation’

There has been no official statement about what happened at Bat Nha, and the media in Vietnam have not published any reports on the event.

But a clue to how the authorities view the teachings there can be found in a department for religious affairs document from 2008, which criticises the monks from the Plum Village network for having the “wrong approach to the political issues of the Vietnamese state”.

A local police officer who wishes to remain anonymous told the BBC that the authorities had nothing to do with the attack and it was up to the monks to decide if they wanted to stay or go.

“This is an internal affair between two Buddhist groups. We don’t know who the attackers are and where they come from. There was a big crowd of people. Some of them were wearing monastic clothes, so we could not conclude that they are criminals,” he said.

“The policemen present at the scene didn’t intervene because that is a sensitive situation which needed to be dealt with by the security services and the government religious committee.”

Tran Giac Hanh is a Thich Nhat Hanh follower living in Ho Chi Minh City. He witnessed the attack and says the lack of police action speaks for itself.

“It was unbelievable. When a violent conflict like that happens, the authorities have to intervene, and they did nothing. They watched as venerables were beaten and their possessions destroyed,” he said.

“You can’t do that in a country where the laws are respected. How can they say they respect religious freedom when they prevent the good believers from going to the pagodas to train and worship?”

Religious freedom is not the only concern for those involved. Trish Thompson, a Thich Nhat Hanh disciple living in Vietnam, says the Bat Nha events raise broader issues.

“People from around the world, including me, have contributed nearly $1m to the development of the monastery. We feel our investment in the current and future youth of Vietnam, many of whom come from the poorest of the poor, has now been lost.”

Đăng trong Tôn giáo | Tagged: , | 1 Comment »

251.Trung Quốc và Vatican tiến tới bình thường hoá quan hệ

Đăng bởi hoangtran204 on 30/07/2009

ASIA TIMES

Trung Quốc và Vatican đạt được

một bước ngoặt cho niềm tin

Francesco Sisci

Ngày 31-7-2009


BẮC KINH – Vào ngày 24 tháng Bảy, tờ nhật báo Hong Kong Wen Wei Po được Bắc Kinh ủng hộ đã cho đăng một bài báo ngắn và không được rõ ràng về một quyết định có vẻ như không quan trọng về Thiên chúa giáo ở Trung Quốc.

Tờ báo đã cho biết ý định của Trung Quốc muốn trì hoãn hội nghị của Hội liên hiệp Công giáo Yêu nước thuộc nhà nước, tổ chức không được sự công nhận từ Tòa thánh của Đức Giáo hoàng và Hội nghị các giám mục, một thể chế Thiên chúa giáo quan trọng được thành lập vào những năm 1960 bởi Hội đồng Vatican II.

Trước đó, hội nghị này đã được lên nghị trình vào nửa cuối năm nay. Nó sẽ bổ nhiệm một người thay vào vị trí ông Fu Tieshan, một cựu giám mục Bắc Kinh, người từng là tổng thư ký và phó chủ tịch hội liên hiệp. Ông Fu, đã qua đời vào tháng Tư năm 2007, không phải là một giám mục hợp pháp đối với Tòa thánh của Đức Giáo hoàng, khi mà giáo hoàng đã không công nhận ông.

Hơn nữa, nhiều quyết định quan trọng có thể được thông qua tại hội nghị này. Một sự thay thế có thể đem đến việc bổ nhiệm ông Liu Bainian, phó chủ tịch trên thực tế của Hội liên hiệp Công giáo Yêu nước. Ông Liu, sinh năm 1931, từng đứng đầu phái của những người Công giáo Trung Quốc chính thức ủng hộ Bắc Kinh trong hàng chục năm nay.

Quan trọng nhất đối với Rome là những quyết định cần được đưa ra về hội nghị các giám mục – ai cần phải được trở thành người lãnh đạo tổ chức này và ai cần phải tham gia vào tổ chức này. Điểm cuối cùng này là rất quan trọng.

Có bốn vị giám mục không hợp thức ở Trung Quốc được Bắc Kinh chỉ định song lại không được giáo hoàng công nhận. Quan điểm của Trung Quốc là họ cần phải được hợp thức hóa gần như là đồng loạt và vì thế mà việc này cần phải là một phần trong nội dung cuộc họp. Rome biện luận rằng việc hòa giải với giáo hoàng là một vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, thứ cần được quyết định bởi giáo hoàng sau một cuộc họp riêng và có thể là một quyết định với cá nhân từng giám mục một.

Vấn đề đối với Nhà thờ đang hoạt động bí mật * có vẻ dễ dàng hơn, song nó cũng có những cái bẫy. Rome nghĩ rằng sau việc bình thường hóa các mối quan hệ, các linh lục và giám mục cần được yêu cầu có cách thức cam kết nào đó đối với chính quyền, như nhiều chính phủ ở châu Âu đã làm với các linh mục Thiên chúa trước đây. Những ai không công nhận chính phủ ở Bắc Kinh sẽ không được tham gia hội nghị các giám mục. Điều này có thể giải quyết được vấn đề.

Một số giám mục hoạt động bí mật có thể sẵn sàng ký tên vào một cam kết với chính phủ sau khi bình thường hóa các mối quan hệ với Vatican, song Bắc Kinh có lẽ vẫn cự tuyệt họ, bởi vì các quan chức Trung Quốc có thể có sự nghi ngờ về lòng trung thành thực sự của họ và sợ những giám mục này có thể giúp chiếm đoạt quyền điều khiển hội nghị từ tay chính phủ hoặc gây ảnh hưởng tới hội nghị.

Điều cuối cùng song không phải kém quan trọng, là quan điểm của các giám mục từ Hong Kong và Macau. Bắc Kinh tin rằng khi mà những lãnh thổ này đã trở về với đại lục, vì thế cần tới giới tăng lữ ở đó – nên họ sẽ là bộ phận trong cuộc họp các giám mục của Trung Quốc. Song ngược lại, các giám mục từ hai thành phố giờ đây đang tập hợp lại cùng với các đồng đạo của mình ở Đài Loan, nơi mà như chúng ta đều biết, là một thực thể chính trị riêng biệt với Trung Quốc Đại lục và có được quyền tự do tôn giáo lớn hơn so với Bắc Kinh.

Tóm lại, các nan đề là nhiều và rắc rối. Thêm nữa, tờ Wen Wei Po cho biết rằng để có nhiều ứng cử viên hơn cho chức chủ tịch của cả hai Hiệp hội Công giáo và hội nghị các giám mục (một điểm khó khăn nữa), cuộc họp đã phải trì hoãn cho tới sang năm.

Đây là một yêu cầu từ phía tòa thánh của Đức Giáo hoàng, mà dường như Bắc Kinh đã chấp nhận. Điều này thực chất là rất quan trọng, song thậm chí quan trọng hơn do trong những tháng gần đây Rome đã để lộ ra một số tài liệu gây nên tranh cãi về Công giáo ở Trung Quốc. Đầu tiên là một bức thư được khởi thảo bởi Hồng y giáo chủ Tarcisio Bertone, ngoại trưởng Vatican và là nhân vật thực chất đứng thứ hai trong Tòa thánh, trong đó giải thích bức thư của giáo hoàng gửi cho người Trung Quốc được công bố từ ba năm trước. Ví dụ trong bức thư của Giáo chủ Bertone đã không đồng ý đóng cửa đối với những nhà thờ mở tại tư gia, thứ bị Bắc Kinh phản đối vì những nơi này nằm ngoài các kênh chính thức của nhà nước.

Tài liệu thứ hai là một bức thư của Hồng y giáo chủ Joseph Zen của Hong Kong, người lãnh đạo thực chất của Công giáo Trung Quốc, từng khuyến khích tất cả các giám mục được nhà nước công nhận ở Trung Quốc hãy lưu tâm một cách nghiêm túc tới các chỉ dẫn tôn giáo của Rome. Đây cũng là điều có thể được cân nhắc một cách khéo léo trong việc tiến tới thiết lập các mối quan hệ với Rome.

Thực tế là Bắc Kinh đã quyết định lờ đi hai dấu hiệu này và thay vào đó đã gửi đi một tín hiệu tích cực, là trì hoãn hội nghị các giám mục, một sự biểu thị rất mạnh mẽ cho một bước tiến bộ to lớn trong các mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Rome và là một thay đổi hoàn toàn về thái độ đối với đạo Thiên chúa ở Trung Quốc.

Thời điểm hiện nay có thể đã chín mùi cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, khi mà những bước đột phá quan trọng cũng đã được hoàn tất trong các cuộc hội đàm giữa đôi bên. Tuy nhiên, mặt nước hồ có thể bị khoấy động một lần nữa. Một số ít người từng đóng những vai trò rất quan trọng trong cuộc đối thoại gần đây sẽ sớm rời bỏ vị trí của mình.

Hồng y giáo chủ Ivan Dias, người lãnh đạo của Propaganda Fide, một tổ chức chủ yếu nắm Giáo hội Thiên chúa ở Trung Quốc, sẽ hồi hưu do tuổi cao. Tương tự, hai nhân vật hàng đầu trong những nhiệm vụ này cũng sẽ rời vị trí của mình. Ông Pietro Parolin sẽ được đưa lên làm giám mục và được phái đi làm đại sứ của giáo hoàng ở hải ngoại, và ông Liu Haixin sẽ được đề bạt trong vài trò là một nhà ngoại giao cao cấp của Trung Quốc tại Âu châu.

Điều này có thể là một dấu hiệu thêm nữa cho thấy rằng cả hai bên tin tưởng hầu hết vào công việc đã được thực hiện và một số quan chức có thể được cử vào những vị trí công tác cao khác. Tuy nhiên, con đường đi tới việc bình thường hóa các quan hệ giữa Trung Quốc và tòa thánh của Giáo hoàng cho đến lúc này đã tỏ ra hết sức nan giải và đầy cạm bẫy.

Có một điều – mà trong đó hai trong số những nhà ngoại giao cao niên nhất trên thế giới biết rất rõ – là hiện có những con người có thực quyền đứng đằng sau những kẻ khác, và những người khác thì sẽ đem tới những kết quả khác. Tiếp đến, việc thay đổi một đội hình đang chiến thắng trong khi cuộc đua chưa có vẻ đã kết thúc và giành được thắng lợi có thể không phải là chọn lựa tốt nhất. Trừ phi, sau thời gian quá dài, một bên hay cả hai bên sẽ nghĩ đến việc phải từ bỏ, hay đơn giản là lơi lỏng mối quan tâm vào một thời điểm khi cần phải được chú ý cao độ nhất.

Francesco Sisci là Biên tập viên Á châu của tờ La Stampa.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

* Khác với Việt Nam, ở Trung Quốc có nhiều nhà thờ Thiên chúa sinh hoạt tín ngưỡng bí mật, không chấp nhận theo tổ chức do nhà nước công nhận, quản lý và bổ nhiệm các vị chức sắc (BS).

——————

China and the Vatican take a leap of faith
By Francesco Sisci
Jul 31, 2009
BEIJING – On July 24, the Beijing-backed Hong Kong daily Wen Wei Po ran a small and obscure article on an apparently minor decision about Catholics in China.

The newspaper reported China’s intention to postpone the meeting of the official Catholic Patriotic Association, which is not recognized by the Holy See, and the conference of bishops, an important Catholic institution established in the 1960s by the Vatican Council II.

Previously, the meeting was scheduled for the second half of this year. It would have named a replacement for Fu Tieshan, the former bishop of Beijing, who was secretary general and vice chairman of the association. Fu, who passed away in April 2007, was not a legitimate bishop for the Holy See, as the pope did not recognize him.

Furthermore, many important decisions could have been made at the meeting. A replacement could have been named for Liu Bainian, the actual vice chairman of the Patriotic Association. Liu, born in 1931, was head of the official pro-Beijing faction of the Chinese Catholics for decades.

Most importantly for Rome, decisions need to be made about the conference of bishops – who should be its chairman and who should take part in it. The last point is very sticky.

There are four illegitimate bishops in China who are appointed by Beijing but not recognized by the pope. China’s view is that they should be legitimated almost wholesale and thus should be part of the conference. Rome argues that reconciliation with the pope is a holy and religious matter, which should be decided by the pope after a private meeting and possibly a confession with each individual bishop.

The issue of the underground Church is apparently easier, but it also has traps. Rome thinks that after the normalization of ties, priests and bishops should be asked to make some kind of pledge to the government, as many European governments did with Catholic priests in the past. The ones who will not recognize the Beijing government would be out of the conference of bishops. This would solve the problem.

Some underground bishops might be willing to subscribe to an official pledge to the government after the normalization of ties with the Vatican, but Beijing may still refuse them entry, because Chinese officials may be suspicious of their true loyalty and fear the bishops might help to hijack the conference from government control or influence.

Last but certainly not least, there is the position of the bishops from Hong Kong and Macau. Beijing believes that as the territories have returned to the motherland, so should their clergy – they should be part of China’s conference of bishops. Yet conversely, bishops from the two cities now assemble with their colleagues from Taiwan, which, as we all know, is a separate political entity from Mainland China and offers greater religious freedom than Beijing.

In sum, the problems are many and troublesome. Plus, Wen Wei Po reported that in order to have more candidates to the presidency of both the Catholic Association and the conference of bishops (another difficult point), the meeting had to be postponed until next year.

This had been a request from the Holy See, which Beijing has apparently accepted. This is very important per se, but even more important because in recent months Rome has come out with a couple of controversial documents for Chinese Catholics. The first was a letter drafted by Cardinal Tarcisio Bertone, Vatican’s secretary of state and the virtual number two in the Holy See, interpreting the pope’s letter to the Chinese, which was issued three years ago. Bertone’s letter, for example, did not close the door to the home churches, which are opposed by Beijing because they are outside the official channels.

The second document was a letter by Hong Kong’s Cardinal Joseph Zen, the virtual head of the Chinese Catholics, who encouraged all Chinese official bishops to strictly heed Rome’s religious directives. This was also something that could be considered tricky in forging ties with Rome.

The fact that Beijing decided to ignore these two signals and instead sent a positive sign, the postponement of the conference of bishops, is a very strong indication of a massive improvement of ties between Beijing and Rome and of a radical change of attitude about Catholicism in China.

The time may now be mature for the normalization of the diplomatic relationship, as important breakthroughs have also been achieved in talks between the two sides. However, waters might become agitated once more. A few people who played very important roles in the recent dialogue will soon leave their positions.

Cardinal Ivan Dias, the head of Propaganda Fide, the organization that at the moment handles the Church in China, will retire because of old age. Similarly, the two point men of the talks will leave their positions. Pietro Parolin will be elevated to bishop and sent as a Nuncio abroad, and Liu Haixin will be posted as a senior Chinese diplomat in Europe.

This could be a further indication that both sides believe most of the job is done and some officers can be sent to other major posts. However, the path to normalization of ties between China and the Holy See has so far proved to be very slippery and full of snares.

For one thing, there is the problem – which two of the most ancient diplomacies in the world know well – that institutions in reality walk on the backs of men, and different men bring different results. Then, changing a winning team when the race is not quite finished and won may not be the best of choices. Unless, after so much time, one or both sides is thinking of giving up or simply relaxing at a time when attention should be sharpest.

Francesco Sisci is the Asia Editor of La Stampa.

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc, Tôn giáo | Tagged: | 1 Comment »

250.TRIỀU NGUYỄN VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

Đăng bởi anhbahoa on 29/07/2009

CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN

ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

PGS.TS. Đỗ Bang *

Trường Đại học Khoa học Huế

Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị-xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau. Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó có triều Nguyễn.

Những người truyền giáo cho rằng chi phái Cơ đốc truyền vào Việt Nam là dòng chính thống trực thuộc tòa thánh La Mã, đại diện cho sự ưu việt và tính hoàn vũ nhất so với bất kỳ tôn giáo nào. Nên việc truyền giáo và bảo vệ đạo là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân loại văn minh, họ không những không muốn thỏa hiệp với bất cứ tôn giáo nào mà phải xóa sạch các tôn giáo bản địa để xây dựng một Thiên chúa giáo độc tôn, một đức tin tuyệt đối về Chúa. Do vậy, họ đưa ra các điều cấm kỵ như cấm lạy xác người chết, cấm dâng hương đốt nến cho người chết, cấm đọc văn tế, cấm mặc tang phục. Những định hướng và giải pháp mang tính siêu hình và cưỡng chế nói trên đã chạm mạnh vào tư tưởng dân tộc và văn hóa truyền thống nên dễ gây ngộ nhận, kích động dẫn đến chính sách kỳ thị, cấm đạo của triều đình nhà Nguyễn và được đông đảo nhân dân vốn mang nặng tính ngưỡng sùng bái tổ tiên đồng tình ủng hộ.

1. Triều Gia Long (1802 – 1819)

Trong các vua triều Nguyễn ở thời kỳ tự chủ, Gia Long là người rất có thiện chí với Thiên chúa giáo nhưng ông vẫn chủ trương bảo vệ Nho giáo và nghi lễ thờ cúng tổ tiên; ông cũng cho rằng địa ngục, thiên đàng của luận thuyết Thiên chúa giáo là sự dị đoan chỉ làm mê hoặc, quyến rũ những người thiếu hiểu biết1.

Nhưng quan điểm của vua Gia Long cho rằng người theo Thiên chúa giáo cũng là công dân nếu họ không tin tưởng vào thờ cúng tổ tiên và các thần linh thì cũng không nên cấm đoán họ 2.

Không một lệnh cấm đạo nào được ban hành dưới thời Gia Long, các giáo sĩ đều cho rằng đây là giai đoạn thuận lợi cho việc truyền giáo ở Việt Nam.

Tuy nhiên, Gia Long vẫn thấy nguy cơ về mất chủ quyền mỗi khi cơ hội đến với phương Tây thông qua con đường bảo vệ đạo Thiên chúa nên ông căn dặn người kế vị (Minh Mạng) không nên đối xử phân biệt giữa các đạo Nho, Phật, Thiên chúa giáo. Việc khủng bố tôn giáo sẽ là nguyên nhân dẫn đến các biến động xã hội và gây ra thù oán trong nhân dân; đôi khi làm sụp đổ cả ngôi vua.

2. Triều Minh Mạng (1820-1840)

Chọn Minh Mạng kế vị, Gia Long đã nhận thấy được khả năng quyết đoán của một con người cứng rắn có thể giải quyết các công việc phức tạp của triều đình, đặc biệt là đối với phương Tây trong đó có vấn đề truyền giáo luôn làm cho nhà vua trăn trở, âu lo.

Năm 1824, chính phủ Pháp cử J. B. Chaigneau sang Huế để duy trì hoạt động ngoại giao có từ thời Gia Long. Năm đó, có một tàu Pháp đến Đà Nẵng mang thư và lễ vật của vua Pháp gửi đến vua Minh Mạng nhưng bị Minh Mạng từ chối, một số giáo sĩ nhân đó trốn lên được đất liền để truyền giáo.

Năm 1825, vua Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: “Các tôn giáo sai trái của người Tây Dương làm hư hỏng lòng người. Đã từ lâu nhiều tàu Tây Dương đến đây buôn bán và đã để lại các đạo trưởng trong vương quốc này. Các đạo trưởng đã lôi kéo và làm hỏng nhân tâm, làm suy thoái thuần phong mỹ tục. Đó chẳng phải tai họa lớn cho đất nước. Vậy phải chống lại sự lạm dụng này để đưa dân chúng trở lại con đường chính… phải canh phòng cẩn thận mặt hải cảng, miền núi, tất cả mọi ngả đường thủy bộ để ngăn không cho các đạo trưởng Tây Dương xâm nhập lén lút, trà trộn vào dân chúng để gieo rắc bóng đen trên vương quốc”3. (?) õ hoạt động truyền giáo, Minh Mạng lệnh cho các giáo sĩ về kinh đô Huế lấy cớ là để dịch sách.

Năm 1831, chính phủ Pháp cử một tàu đến Huế đặt lại quan hệ ngoại giao nhưng bị vua Minh Mạng cự tuyệt. Những động thái đối ngoại đầy kiêu kỳ này của Minh Mạng đã gây sự phản ứng cho nhiều giới chức Pháp.

Năm 1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với chính đạo. Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết”4.

Năm 1832, nhân vụ giáo sĩ người Pháp có tên là Phạm Văn Kinh ở họ đạo Dương Sơn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên bí mật truyền đạo, cầu kinh. Quan phủ Thừa Thiên nhiều lần gọi đến công đường khuyến cáo nhưng không một ai chịu bỏ đạo. Năm đó, Minh Mạng ra lệnh cho các quan tỉnh “ khuyến cáo bỏ đạo, ai thành thực bước qua cây Thập tự thì miễn tội, nhà thờ, nhà giảng cho hủy diệt đi, ai cố tình không tuân bị tội nặng”5.

Châu bản triều Nguyễn có ghi lại việc theo dõi giáo sĩ Phạm Văn Kinh qua bản tâu của Bộ Hình ngày 25 tháng 5 năm Minh Mạng 19 (1838) như sau: Có tên Phạm Văn Kinh, người Tây Dương, tháng 5 năm Minh Mạng 13 (1832), can án về truyền đạo Gia Tô ở làng Cổ Lão, phủ Thừa Thiên bị kết án giảo giam hậu mong ơn phát làm kinh ở phủ Thừa Thiên nhưng vẫn không chừa, ngày đêm giảng đạo tà giáo, lại đày đi đồn phủ ở Ai Lao, sau lại cho trở về an trí ở huyện Cam Lộ. . . Bộ chúng tôi cho người lên Cam Lộ mật thám xem Phạm Văn Kinh có lén thông tin tức gì chăng. Biết rằng Phạm Văn Kinh ở trên ấy, ngày thường có nhiều người tới lui, tiền bạc ăn tiêu dư giả, vã xem bộ kiêu căng không sợ gì cả. Vừa rồi dân Quảng Trị có người theo tà đạo, không chịu bước qua hình chữ thập, vậy xin giao Phạm Văn Kinh cho tỉnh Quảng Trị tra tấn cho ra việc”6. Qua đó mới thấy sự cẩn trọng, khoan dung của triều đình Huế đối với các giáo sĩ nước ngoài và vấn đề cấm đạo không đơn giản như các tội phạm khác.

Năm 1834, Minh Mạng ban hành “Thập điều giáo huấn”, nhà vua chỉ ra rằng: Đạo Gia tô lại càng vô lý “Trai gái chung đụng hỗn tạp, việc làm này giống như cầm thú. . . Đó là làm cho bại hoại luân lý, hư hỏng giáo hóa, không thể tin được. Nếu người nào đó bị dỗ dành thì nên mau chóng bỏ đi. Phần các việc quan, hôn, tang, tế đều phải theo lễ tục nước nhà. . . ”7.

Năm 1835, Phan Bá Đạt, Phó đô ngự sử Viện Đô sát tâu: Cố đạo Mã Song (Marchand) ở Gia Định đồng lõa với Lê Văn Khôi khi bị bắt khai rằng “Thầy thuốc người Tây Dương khoét mắt người sắp chết để chế thuốc”, còn “Tà giáo Tây Dương cho một trai, một gái ở chung một nhà có tường gạch ngăn cách, khi động tình dục, rập cho chúng chết bẹp, ép lấy nước xác chết, hòa làm bánh cho người theo đạo ăn khiến cho họ mê đạo không bỏ được”; rồi nghe nói “Trai gái lấy vợ, lấy chồng, đạo trưởng đem người con gái vào nhà kín với danh nghĩa giảng đạo thực ra để dâm ô…”8. Những chuyện này được phịa ra trong dân gian và quan Đô ngự sử Phan Bá Đạt đã khéo thêu dệt thành những mẩu chuyện ly kỳ, hấp dẫn nên dễ gây ấn tượng trong triều đình và tạo nên sự phẫn nộ trong công chúng. Việc giết đạo từ đó càng khốc liệt hơn.

Từ năm 1825 – 1838 có 4 Giám mục, 9 Linh mục ngoại quốc, 20 Linh mục người Việt và hàng trăm giáo dân bị sát hại 9.

Tháng 10 năm 1839, Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: Buộc tất cả những người theo đạo phải bỏ đạo trong vòng một năm, xây dựng chùa chiền vào những nơi trước đây xây dựng nhà thờ. Tất cả thần dân phải tích cực trông nom chùa chiền.

Dụ cấm đạo mới này đã gây sự căm phẫn trong giáo đồ và giới chức Thiên chúa giáo, làm chấn động xã hội. Tuy nhiên, chính phủ Pháp và triều đình Huế cũng mong muốn có sự hiểu biết cần thiết và thiện chí từ cả hai phía để có thể xích lại gần và cải thiện tốt hơn tình thế gay cấn vốn có. Năm 1840, Minh Mạng cử Phan Thanh Giản cầm đầu một phái đoàn sang Pháp để tìm hiểu tình hình với mong muốn xây dựng quan hệ ngoại giao tốt hơn. Nhưng điều mà cả hai phía không muốn đã xảy ra là khi phái đoàn của triều đình Huế đến Pháp bị các giới chức trong giáo hội thừa sai Paris phản đối kịch liệt và vận động một cuộc tẩy chay trên báo chí, làm áp lực mạnh mẽ với nhà vua nên vua Pháp buộc phải từ chối tiếp phái đoàn của triều đình Huế.

Tuy thế, số giáo dân dưới thời Minh Mạng vẫn được tiếp tục tăng, vào năm 1840, cả nước có 3 Giám mục, 2 Phó giám mục, 24 Linh mục ngoại quốc, 144 Linh mục người Việt và 420. 000 giáo dân 10.

3. Triều Thiệu Trị (1841 – 1847)

Dưới thời Thiệu Trị, nhà vua vẫn duy trì chính sách cấm đạo được ban hành từ thời Minh Mạng nhưng không tỏ ra tích cực như triều vua trước. Phần lớn các giáo sĩ bị bắt đều được Thiệu Trị cho lãnh án “trảm giam hậu” (tội chết nhưng giam đợi xét), rồi cuối cùng cũng được trả tự do. Đối với các quan theo đạo nhà vua kiên trì thuyết phục tạo cho họ có cơ hội bỏ đạo đó là trường hợp quan thủ ngự Hồ Văn Dường ở tỉnh Đồng Nai đã tự nguyện bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá nhưng vẫn chưa chịu dự lễ tế thần ở miếu Kỳ, trình nhà vua xem xét 11.

Năm 1841, các giáo sĩ Miche, Duclos, Galy, Berneux và Charries bị bắt và bị kết án tử hình nhưng Thiệu Trị không cho thi hành án. Năm 1843, tàu chiến Pháp Héroine tự tiện đến Đà Nẵng, thuyền trưởng Felix Favin Lévecque yêu cầu triều đình Huế thả các giáo sĩ trên. Thiệu Trị chấp thuận và trao các giáo sĩ cho viên thuyền trưởng nói trên; tàu Pháp rời cảng Đà Nẵng ngày 16-3-1843.

Tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 7 (4-1-1848), Bộ Hình dâng sớ phóng thích quan phạm, trong đó có trường hợp Nguyễn Văn Thiện ở tỉnh Phú Yên: “Thiện theo dạo Gia Tô, không chịu bỏ bị ghép tội giảo giam hậu (giam đợi ngày thắt cổ) qua đến tháng 6 năm thứ 6 (1846), y được tha chết, đày ra làm lính ở Hưng Hóa, quan tỉnh nhiều lần khuyên giải, y cũng không chịu bỏ đạo. Nay gặp dịp ân xá, y được tha về quê” 12.

Chính sách mềm dẻo về cấm đạo thời Thiệu Trị đã làm cho số giáo dân được tăng thêm nhất là tại Trung và Nam Kỳ.

Năm 1844, địa phận giáo hội được chia ra như sau:

- Địa phận Huế gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên do Pellerin làm Giám mục.

- Địa phận Quy Nhơn gồm các tỉnh Trung Kỳ còn lại do Cuénot làm Giám mục.

- Địa phận Sài Gòn gồm các tỉnh Nam Kỳ còn lại do Lefèbre làm Giám mục.

Tuy nhiên, trong nhận thức Thiệu Trị vẫn cho Thiên chúa giáo luôn là nguy cơ của mất chủ quyền và đảo lộn phong hóa dân tộc. Nhà vua xem Thiên chúa giáo cũng là mầm gây tai họa không kém gì thuốc phiện và đều do người phương Tây mang lại. Năm 1847, nhân triều đình bàn về việc người phương Tây đến xin buôn bán và truyền giáo, nhà vua ra dụ: “ Người Tây Dương lòng vốn xảo trá, nếu bỏ cấm đạo thì Anh Cát Lợi nghe thấy cũng cầu xin bỏ cấm thuốc phiện. Nhưng địch là giống sài lang, không thể thỏa mãn được nó. . . Vả lại đạo Gia tô là tà giáo, cái hại rồi sẽ đến bởi chuyện ngoài biên, mở đường cho chinh chiến. Thuốc phiện là thứ thuốc mê, cái hại của nó rồi sẽ khuynh gia bại sản, hại đến tính mạng người ta. Hai việc ấy đều nghiêm cấm trong nước…”13.

Năm 1847, Đô đốc Cécille chỉ huy hải quân Pháp đến uy hiếp, 5 chiến thuyền của triều đình ở cửa biển Đà Nẵng bị tàu Pháp tấn công. Tức giận vì bị sỉ nhục, vua Thiệu Trị ra lệnh chém các quan đã không hoàn thành nhiệm vụ giữ cảng, rồi chỉ thị cho các quan địa phương nghiêm khắc thực hiện lệnh bắt đạo trên cả nước.

4. Triều Tự Đức (1848 – 1883)

Những áp lực quân sự và ngoại giao của Pháp đã đưa đến những sóng gió dưới triều đình Tự Đức đã gây ra nhiều biến cố trong giáo hội Thiên chúa giáo ở Việt Nam.

Giai đoạn 1848 – 1862 là thời kỳ khốc liệt trong cuộc chiến Việt – Pháp không cân sức cũng là thời kỳ sát đạo gay gắt của triều đình Huế với các nhà truyền giáo và giáo dân.

Năm 1848, lúc mới lên ngôi vua, Tự Đức đã phê duyệt lệnh cấm đạo: “Phàm những đạo trưởng Tây Dương đến nước ta thì cho quân dân mọi người ai có thể bắt được nộp quan, thưởng cho 300 lạng bạc. Còn người đạo trưởng Tây Dương ấy do quan sở tại xét hỏi rõ ràng lý lịch, lập tức đem việc dâng tâu, cho đem đích thân nạn nhân ấy ném xuống biển. Còn những đạo trưởng và bọn theo đạo là người nước ta, xin do các nha lại xét việc hình hai, ba lần mới báo cho biết tội, nếu họ biết hối cải bỏ đạo bước qua cây giá chữ thập thì thả ra ngay. Người nào không chịu nhảy qua cây giá chữ thập thì người đạo trưởng cũng nên xử tử, các con chiên theo đạo hãy tạm thích vào mặt, đuổi về cho vào sổ dân. Nếu họ biết hối cải thì cũng cho đến quan để trừ bỏ thích chữ ấy đi”14.

Giải pháp bắt bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá đối với giáo sĩ và giáo dân trong buổi đầu của triều Tự Đức tuy không mới nhưng phương thức thực hiện mềm dẻo hơn và có tính phân biệt trong việc xét xử nhằm tạo cơ hội cho người Việt theo đạo có thể trở về quê quán làm ăn bình thường.

Năm 1851, sau vụ Hồng Bảo, con trai trưởng của vua Thiệu Trị mưu lật đổ Tự Đức không thành, do nghi ngờ liên kết với Thiên chúa giáo nên Tự Đức ban hành dụ cấm đạo gay gắt hơn: “Để làm sáng tỏ chính đạo, cần phải bắt và ném xuống sông các đạo trưởng Tây Dương hoặc là người Việt Nam, dù chúng có chà đạp hay không chà đạp lên cây Thập tự giá, phải chặt chúng ra làm hai để cho mọi người cùng biết sự nghiêm ngặt của pháp luật nước ta”15. Việc bắt đạo từ đó càng ráo riết và giết đạo càng khốc liệt hơn.

Năm 1857, Tự Đức ra lệnh chém quan Tam phẩm Thái bộc Tự khanh Hồ Đình Hy vì viên quan theo Thiên chúa giáo nhưng không chịu bỏ đạo lại ngấm ngầm tiếp xúc với giặc, mưu phản quốc. Vụ án này có 29 giáo dân bị bắt, trong số đó có 17 người không chịu bỏ đạo nên bị lưu đày.

Tiếp theo là sự xuất hiện một số giáo sĩ và giáo dân trong đội quân viễn chinh Pháp trong các cuộc tấn công vào Đà Nẵng, Gia Định năm 1858, 1859, 1861 làm cho triều đình Tự Đức có đủ chứng cứ về âm mưu sử dụng tôn giáo của giặc Pháp và phản bội của một số giáo dân 16 nên triều đình đã ban hành nhiều lệnh dụ cấm đạo bằng cách xử tử hình, đạp lên Thánh giá, bắt buộc bỏ đạo, thích chữ vào mặt, đi đày. . .

Năm 1861, Tự Đức ra sắc lệnh “Phân tháp giáo dân” nhằm phân tán, cô lập, kiểm soát và tiêu diệt mầm chống dối của giáo dân 17. Chỉ dụ này được các cấp chính quyền chấp hành nghiêm chỉnh là một đòn chính trị, tâm lý đánh vào cân não và tình cảm của giáo dân và tổ chức của giáo hội Thiên chúa giáo; làm phá hủy các làng và các cơ sở Thiên chúa giáo, các gia đình theo Thiên chúa giáo buộc phải ly tán để tự tiêu vong, họ hàng, bà con xa lánh. Giáo dân không có cơ hội để làm lễ, sinh hoạt hội đoàn, cách ly với các giáo sĩ và các tổ chức tôn giáo; bản thân những người theo đạo thường xuyên bị giám sát, con cái bị cách ly khỏi môi trường tôn giáo và làm con tin.

Với chính sách giết đạo oan nghiệt này, ngoài các giáo sĩ phương Tây bị sát hại, trong thời gian này có đến 115 linh mục người Việt bị giết, 50 nữ tu viện bị phá hủy, 2600 nữ tu phải di tản, 100 nữ tu bị giết, khoảng 100 làng giáo dân bị san thành bình địa, 10. 000 chức sắc trong các họ đạo bị bắt giam, trong số đó hơn một nửa bị giết; 2000 xứ đạo bị triệt hạ, 300. 000 giáo dân bị phân tháp, trong số đó có 50. 000 người bị giết.

Giai đoạn 1862-1874 là thời kỳ hiệp thương, nhân nhượng của triều đình nên Thiên chúa giáo được tự do truyền giảng. Khoản 2 của hiệp ước Nhâm Tuất (1862) quy định: “Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha có thể hành đạo Gia Tô trong nước Việt Nam và công dân của nước này, bất luận ai, nếu muốn theo đạo Gia Tô thì theo và không bị ngăn trở; nhưng không được cưỡng bức ai trở thành tín đồ Gia Tô nếu người ấy không muốn”18.

Năm 1865, Tự Đức lại ra một chỉ dụ chính thức cho phép các giáo sĩ tự do truyền giáo và dân chúng được tự do theo đạo.

Tuy nhiên, sự nhượng bộ của triều đình không những đã dẫn đến bức xúc, phản đối kịch liệt của các sĩ tử dự kỳ thi Hương ở Huế, Hà Nội, Nam Định năm 1864 làm triều đình Tự Đức mất uy thế mà cũng là cớ để Pháp leo thang đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1868.

Năm 1874, Pháp ép triều đình Huế ký hiệp ước công nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ và được tự do truyền giáo.

Theo hiệp ước Giáp Tuất (1874), người theo đạo Thiên chúa có quyền dự các kỳ thi do triều đình tổ chức và tham gia vào bộ máy nhà nước các cấp, tham dự vào các hoạt động chính trị, xã hội của đất nước như một công dân bình thường, bình đẳng như mọi công dân khác.

Giai đoạn 1874-1883 là thời kỳ Thiên chúa giáo được hoạt động hợp pháp, nhiều nhà thờ được xây dựng trên cả nước, đất đai, tài sản của giáo hội được mở rộng, giáo dân cũng gia tăng.

Hiệp ước Giáp Tuất tránh được các cuộc đổ máu từ triều đình, nhưng đây lại là thời kỳ đẫm máu do các phong trào văn thân phản đối nghị hòa của triều đình và phong trào “Bình Tây sát tả” diễn ra rất mạnh ở Trung và Bắc Kỳ, làm nhiều làng theo đạo bị tàn phá, nhiều linh mục và giáo dân bị giết, làm cho uy thế triều đình Tự Đức giảm sút nghiêm trọng, tình hình xã hội càng phức tạp hơn, tạo lợi thế cho Pháp và những tay sai nhanh chóng dùng vũ lực để chiếm đoạt đất nước ta.

* * *

Tuy không thực hiện chính sách cấm đạo nhưng việc truyền giáo dưới thời Gia Long cũng không phải thuận lợi vì tính chất ý thức hệ giữa một triều đình chọn Nho giáo làm khuôn mẫu chính trị với đội ngũ quan chức từ các nho gia được đào tạo ngày càng đông đảo lên nắm quyền trở nên bảo thủ và một bên là Thiên chúa giáo và những người truyền đạo tự nhận là tôn giáo siêu việt của loài người mang tính độc tôn cần được truyền bá hệ tư tưởng và văn minh đó trên toàn cầu. Cả hai đều muốn thu phục, cảm hóa người dân về phía mình bằng “đức tin” để có một hậu thuẫn xã hội, rộng rãi và vững chắc.

Dưới triều Minh Mạng và Thiệu Trị khi vấn đề truyền giáo trở nên cấp bách đối với các nước phương Tây và kèm theo là áp lực quân sự, tôn giáo trở thành vấn đề chính trị bức thiết và sâu sắc đối với triều đình Huế. Lệnh cấm đạo được triều đình ban hành nhưng các giáo sĩ vẫn lén lút truyền giáo. Để ngăn chặn nguy cơ về chủ quyền sẽ bị mất, tình hình xã hội sẽ hỗn loạn và vấn đề văn hóa truyền thống bị xâm hại, triều đình Huế huy động cả hệ thống chính trị và xã hội để đương đầu. Đó là một hệ thống nhà nước và pháp luật từ trung ương đến địa phương cùng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh trong toàn xã hội làm công cụ để ngăn chặn và chiến đấu, đã dẫn đến nhiều vụ tàn sát đẫm máu, dã man làm những người theo đạo vốn có khoảng cách nay bị đào sâu thêm hố chia cách, một nguy cơ mới của dân tộc sắp đến gần.

Dưới triều Tự Đức lệnh cấm đạo vẫn được ban hành cùng những biến động trong cung đình và xã hội đã làm cho thế nước rã rời, suy yếu. Lấy cớ bảo vệ giáo sĩ và giáo dân bị sát hại, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đem quân tấn công vào Đà Nẵng (1858) có một số giáo sĩ và giáo dân làm nội ứng, tình hình sát đạo trở nên phổ biến và khốc liệt hơn, nhất là sau khi triều đình cho thực hiện lệnh “phân tháp giáo dân” năm 1861. Một cuộc chiến tranh mang tính trả thù của người nắm quyền lực đối với những làng theo đạo và giáo dân không vũ khí tự vệ vô cùng dã man chưa từng thấy trong lịch sử nước ta. Triều đình Huế tưởng đó là giải pháp sáng suốt và hiệu quả nhằm tiêu diệt giáo dân và giáo xứ thì không ngờ sau đó thế nước lại rã rời hơn, Pháp cho quân đánh chiếm Gia Định buộc triều đình Huế ký hiệp ước năm 1862, chấp nhận cho các giáo sĩ được truyền giáo và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

Thấy rõ truyền giáo là mục tiêu quan trọng của Pháp nên triều đình Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm đạo, xoa dịu các giáo sĩ và giáo dân bị hại, phê phán các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, đặc biệt là các thủ lĩnh phong trào “Bình Tây sát Tả”. Sự tỉnh ngộ của Tự Đức đúng lúc nhưng triều đình Huế từ đó bị cô lập trước sức tấn công của quân Pháp và các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân, lại bị đại bộ phận nhân dân bỏ rơi kể cả những người theo đạo và những người chống đạo. Một triều đình cô thế, không còn được hậu thuẫn của nhân dân và thiếu quyết tâm đánh giặc là nguyên nhân dẫn đến những thất bại liên tiếp cho đến năm Tự Đức qua đời (1883), quân Pháp đánh vào cửa Thuận An, buộc triều đình Huế ký hiệp ước Quý Mùi, chấp nhận sự đô hộ của thực dân Pháp đối với toàn cõi nước ta.

Chính sách cấm đạo của các vua Nguyễn là một trong những nguyên nhân để liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng (1858) và cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của triều đình Tự Đức trong cuộc chiến chống Pháp vào thế kỷ XIX.

Chính sách đối với Thiên chúa giáo có liên quan trực tiếp đến chủ quyền và vận mệnh dân tộc là một sai lầm của triều Nguyễn để cả dân tộc phải trả giá bằng máu xương và sự sĩ nhục là bài học muôn thuở để các thế hệ Việt Nam tìm cho mình một chính sách tôn giáo đúng đắn, phù hợp trong từng giai đoạn lịch sử và bối cảnh chính trị trong nước và quốc tế khác nhau.

————

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

235.PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

240.NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ

243.TỰ DO DÂN CHỦ CỦA MỸ Ở MIỀN NVN 54′-73′

————

1 Tây dương Gia tô bí lục, sách in năm 1812, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nxb Khoa học xã hội, H.1981, tr 291. Sách cho biết: Giám mục Ignatio (Ynêkhu) bí mật vào truyền đạo ở các làng Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường vào năm Quý Tỵ, niên hiệu Nguyên Hòa, đời vua Lê Trang Tông (1533), đến đâu cũng cho tiền, phát thuốc khiến nhiều kẻ mang ơn mà chịu nghe giảng đạo. Từ đó đạo Gia tô mới bắt đầu lan đến nước ta.

2 Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 2001, tr.198.

3 Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử, tập I, Sài Gòn, 1958, tr.191.

4 Võ Đức Hạnh, La place du Catholicisme dans le relation en de la France le Vietnam de 1858 à 1870, Tập II, tr.282.

5 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.235.

6 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.136.

7 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Minh Mạng, bản thảo viết tay, Tập 68, tờ 152-154,

8 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, tr.136.

9 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVII, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, tr.247.

10 Trong đó có Gagelin (1833), Marchand (1835), Corray (1837), Jacard (1838) De Lamothe (1840); các Giám mục Havard (1837), Borie (1838). . .

11 So với năm 1800 số giáo dân tăng thêm 110.000 người.

12 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 49, tờ 24-25,

13 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 47, tờ 40-4.

14 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.276.

15 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.111.

16 Phan Phát Huồn, Sđd, tr.280.

17 Giám mục Pellerin (địa phận Huế) tích cực vận động chính phủ Pháp đem quân đánh Việt Nam, Giám mục Lefèbre (địa phận Sài Gòn) tích cực giúp quân Pháp tấn công Gia Định. Hưởng ứng lời kêu gọi của các giáo sĩ Pháp, nhiều giáo dân đầu quân theo giặc để chống lại triều đình. Khi quân Pháp đánh Đà Nẵng nhiều giáo dân Bắc Kỳ vào Đà Nẵng đầu quân cho Pháp. Đội quân này do tướng chỉ huy Rigaule de Genouilly thành lập đóng ở bán đảo Sơn Trà, họ đã tham gia đánh đánh Đà Nẵng và sau đó vào nam đánh đồn Chí Hòa (Nguyễn Văn Kiệm, Sđd, tr.235).

18 Dụ được ban hành vào tháng 7 năm 1861, có các khoản chính sau: Khoản 1: Tất cả các giáo dân, đàn ông và đàn bà, giàu cũng như nghèo, người già cũng như trẻ con đều phải phân tán vào các làng bên lương. Khoản 2: Tất cả các làng bên lương phải chịu trách nhiệm canh gác các giáo dân đã được tha về theo tỷ lệ cứ 5 người lương một người theo đạo. Khoản 3: Tất cả các làng giáo đều phải san bằng, phá hủy đất đai, vườn tược sẽ được chia cho các làng bên lương xung quanh, các làng này có nghĩa vụ phải nộp thuế. Khoản 4: Giáo dân đàn ông phải tách ra khỏi giáo dân đàn bà, đàn ông đưa đi một tỉnh, đàn bà đưa đến một tỉnh khác để họ không được sum họp, trẻ con sẽ giao cho các gia đình bên lương nào muốn nuôi chúng. Khoản 5: Trước khi đưa đi, tất cả giáo dân đàn ông, đàn bà, trẻ con đều phải thích chữ vào mặt: Ở má trái là hai chữ tà đạo, ở má phải là tên tổng, huyện gửi tới, để chúng không thể chạy trốn.

19 Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2003, tr.132.

Đăng trong Hội thảo VN học-3, Lịch sử, Tôn giáo | Tagged: , , | 4 phản hồi »