BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘TQ xâm lược ’79’ Category

592. ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ

Đăng bởi anhbasam on 29/07/2010

ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG

CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT

ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 22-7-2010

Tuần san châu Á số từ 11-18/7/2010 đăng bài của Giang Tấn về những ân oán trong quan hệ Trung-Việt. Theo Giang Tấn, cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1979 chủ yếu là do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định nhằm củng cố địa vị của mình.


Dẫn lời ông Nghê Sáng Huy, một người từng trải qua những năm tháng chiến tranh Trung-Việt, tác giả cuốn “Mười năm chiến tranh Trung-Việt” vừa được Nhà xuất bản Thiên Hành Kiện (Hồng Công) ấn hành vào đầu tháng 6/2010, Giang Tấn cho biết vào năm 1977, Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương 3 khóa X, khôi phục các chức vụ lãnh đạo cho Đặng Tiểu Bình, gồm Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng quân đội. Một năm sau đó, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Chính hiệp Toàn quốc. Cách mạng Văn hóa vừa kết thúc, Đặng Tiểu Bình muốn trước tiên phải lập lại trật tự, thúc đẩy đường lối tư tưởng, nên đưa ra trọng điểm công tác cho cả nước là chuyển dịch sang xây dựng kinh tế. Tuy nhiên, khi đó ở Trung Quốc, tư tưởng tả khuynh trong, ngoài đảng và ở quần chúng vẫn tiếp tục “trượt” theo quán tính. Đặc biệt là nhóm trong Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc do Hoa Quốc Phong cầm đầu vẫn chủ trương tiếp tục duy trì lý luận và thực tiễn của Cách mạng Văn hóa thêm một thời gian. Trong quân đội Trung Quốc cũng có không ít cán bộ cao cấp tỏ ra không thông với chính sách và đường lối của Đặng Tiểu Bình. Chính vì thế, Đặng Tiểu Bình thấy rằng muốn phá vỡ cục diện này, phải tiến hành cải cách mở cửa. Nhưng nếu chỉ dựa vào chức vụ của Đặng Tiểu Bình khi đó thì khó có thể xoay chuyển được tình thế, mà phải cần đến một phương thức có thể quét sạch được mọi chướng ngại của thế lực cực tả đối với cải cách mở cửa.

Theo ông Nghê, nếu như khi đó đưa ra những đánh giá lịch sử về Mao Trạch Đông, phủ định đường lối “hai phàm là” của Hoa Quốc Phong (Phàm là quyết sách Mao Chủ tịch đưa ra, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ; Phàm là chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều phải tuân thủ trước sau như một – P/v TTXVN), thời cơ vẫn chưa chín muồi. Do đó, Đặng Tiểu Bình quyết định lợi dụng chức vụ Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tham mưu trưởng và sự tín nhiệm của phái nguyên lão trong quân đội đối với mình để tìm kiến sự đột phá từ quân đội. Đặng Tiểu Bình cho rằng cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh chống lại “kẻ xâm lược”, thông qua chiến tranh để chuyển hướng đấu tranh trong nước, tái cố kết sự đoàn kết dân tộc của người dân. Đặng Tiểu Bình cũng muốn nhân cơ hội sau chiến tranh tiến hành điều chỉnh nhân sự trong quân đội. Quả nhiên, sau chiến tranh Trung-Việt, Đặng Tiểu Bình đã làm một cuộc “thay máu” đối với quân đội, đưa một loạt cán bộ trẻ, cán bộ trung niên vào vị trí lãnh đạo. Có thể nói, tiến hành chiến tranh là con đường nhanh nhất giúp Đặng Tiểu Bình xác lập quyền uy tuyệt đối trong Đảng Cộng sản và quân đội Trung Quốc, đẩy mạnh thực hiện kế hoạch cải cách mở cửa.

Ông Nghê cho rằng Trung Quốc đánh Việt Nam là do Việt Nam đưa quân vào Campuchia và Trung Quốc ủng hộ Campuchia chống lại Việt Nam. Ban đầu, Trung Quốc gọi đây là “phản kích tự vệ” sau đó lại đổi thành “đánh trả”. Cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt, theo ông Nghê, tuy đã khiến Việt Nam rút một phần quân khỏi Campuchia, phá vỡ thế bao vây chiến lược của Liên Xô đối với Trung Quốc, làm rõ quân bài chiến lược của Mỹ và Liên Xô, rèn luyện quân đội, nhưng kết quả đạt được rất hạn chế: Không lấy được đất đai của Việt Nam, cũng không lật đổ được chính quyền Việt Nam (nguyên văn là “tập đoàn thống trị Lê Duẩn”). Và mặc dù các mục đích mà Quân ủy Trung ương Trung Quốc đề ra cơ bản đạt được, nhưng nếu xét về lợi ích chỉnh thể của quốc gia, cái hại vẫn lớn hơn cái lợi. Tại sao vậy? Ông Nghê cho rằng trước tiên là cuộc chiến tranh Trung-Việt đã được các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu lấy làm cái cớ để cô lập Trung Quốc. Hai là, việc Trung Quốc xuất binh tấn công Việt Nam đã làm kinh động các nước Đông Nam Á. Ba là, cắt đứt quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới thứ ba, khiến Bắc Kinh rơi vào thế cô lập. Bốn là, Trung Quốc mất đi uy tín trong xử lý quan hệ cấp quốc gia. Năm là, chiến tranh Trung-Việt gây tổn thất nặng nề về mặt kinh tế cả cho Việt Nam lẫn Trung Quốc.

Khi nói về trình tự tiến hành chiến tranh, ông Nghê cho biết một cuộc chiến tranh tất yếu phải đi theo những trình tự do pháp luật quy định. Trước đây, quan niệm pháp trị của người Trung Quốc không cao và nó được biểu hiện trong một số cuộc chiến tranh lớn. Ví dụ: Chiến tranh Triều Tiên chủ yếu do một mình Mao Trạch Đông quyết định, Chiến tranh Trung-Việt chủ yếu do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định. Một người hoặc một vài người vội vàng quyết định tiến hành chiến tranh, theo ông Nghê, khó có thể tránh khỏi việc quyết định đó mang màu sắc tình cảm phiến diện, chủ quan của cá nhân, rất dễ phạm phải sai lầm mang tính lịch sử và hậu quả cũng vô cùng đáng sợ.

Ông Nghê cho biết chiến tranh Trung-Việt không những không được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) thảo luận thông qua, mà cũng không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Theo ông Nghê, chiến tranh phải công khai với nhân dân, cho phép nhân dân bày tỏ thái độ của mình. Nhân dân vốn là chủ nhân của đất nước, nên có quyền được biết tình hình, có quyền được bày tỏ thái độ. Việc nhân dân có thể bày tỏ thái độ một cách tự do đối với một cuộc chiến tranh cũng có lợi cho việc ngăn ngừa một số cá nhân nào đó đi ngược lại ý nguyện của đại đa số nhân dân, phát động chiến tranh./.

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | 10 phản hồi »

488. Với một VN tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

Đăng bởi anhbasam on 02/03/2010

History News Network

Với một Việt Nam tự do kinh doanh,

ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

William Thompson

Ngày 1-3-2010

Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).


Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.

Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”

Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.

Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.

Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.

Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.

Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”

Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.

Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.

Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.

Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.

Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.

Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.

Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.

Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.

Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.

Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.

Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.

Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.

Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.

Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.

Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.

Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.

Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:

Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.

Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”

Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Ghi chú của người hiệu đính:

(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.

(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.

(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.

Đăng trong Chiến tranh VN, Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , , , , | 4 phản hồi »

486. Trung Quốc nên có ngày cựu chiến binh

Đăng bởi anhbasam on 28/02/2010

China Daily

Trung Quốc nên có ngày cựu chiến binh

Yuan Boyang

Ngày 26-2-2010


Trong thời gian diễn ra lễ hội mùa xuân mừng năm con Hổ, Guo Yimin đã không được đoàn tụ với gia đình. Người cựu chiến binh của cuộc phản công tự vệ chống lại Việt Nam đã phải sống một mình tại biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam ở quận Aidian, tỉnh Quảng Tây để làm trọn lời hứa 30 năm trước với người bạn chiến đấu đã hy sinh của mình năm 1979: “Người nào còn sống sót thì phải đem hài cốt của người kia về quê nhà”.

Hoàn cảnh của người bạn chiến đấu với Guo không phải là tệ nhất, ít nhất là ai đó vẫn còn nhớ tới ông và đã làm gì đó cho ông. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, hàng ngàn binh lính Trung Quốc thậm chí đã được chôn cất không rõ tên tuổi ở nước ngoài, một thực trạng gây nên bao nhiêu lời trách móc khôn nguôi từ các gia đình và bạn bè còn sống sót của họ. Và đây không phải là vấn đề duy nhất đối với các cựu chiến binh Trung Quốc.

Người chết đã ra đi từ lâu, trong khi những người sống sót phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Một lý do là trong số các cựu binh Trung Quốc thuộc một nhóm người nào đó, đói nghèo là một hiện tượng phổ biến. Đối với các cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Triều Tiên, khoản trợ cấp hàng tháng của chính phủ vào khoảng 400 nhân dân tệ, trong khi các cựu binh trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam được trợ cấp chưa tới 200 nhân dân tệ một tháng. Mức trợ cấp này nằm dưới mức sống tối thiểu, thấp hơn nhiều so với mức trợ cấp trung bình của một công nhân bình thường cùng lứa tuổi nghỉ hưu.

Một lý do khác, điều đáng thương hơn là các cựu chiến binh phải chịu đựng thái độ thiếu tôn trọng và khinh miệt của xã hội. Như trang Peolple.com.cn cho biết, cựu binh Fu Xiqing, người đã bị mất một chân trong cuộc kháng chiến chống Nhật, đã phải sống những năm cuối đời của mình tại Thiên Tân với công việc vệ sinh đường phố; Yang Yunfeng, người chiến binh đã tiêu diệt những kẻ xâm lược bằng mã tấu trên cầu Lugou, nhưng trớ trêu là ông đã trở thành kẻ ăn mày không được hoan nghênh tại cổng Bảo tàng Kỷ niệm cuộc chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc.

Trong khi đó, các cựu chiến binh Nhật Bản có thể nhận được hơn một trăm ngàn Yen (7.600 nhân dân tệ) mỗi tháng như là món “tiền thưởng”. Các cựu binh Đài Loan được khoản trợ cấp 15.000 Đài tệ (3.200 nhân dân tệ) hàng tháng. Và ngày ’11-11′, được gọi là Ngày Độc thân ở Trung Quốc, là một ngày nghỉ đặc biệt theo nghi thức giành cho các binh sĩ giải ngũ ở hoa Kỳ – Ngày Cựu chiến binh – một ngày để chứng tỏ lòng yêu nước vĩ đại và sức mạnh gắn kết dân tộc.

Người lính từng là một cái tên danh dự ở Trung Quốc, là “những người đáng yêu nhất”. Thế nhưng ngày nay, đa số những người này đều không được đối xử tốt. Xã hội không nên quá vô ơn khi chúng ta lặp đi lặp lại rằng chúng ta sẽ không bao giờ quên lịch sử. Các cựu binh trong cuộc chiến tranh chống Nhật giờ đây đã ở độ tuổi 90, còn các cựu binh trong cuộc chiến Triều Tiên thì khoảng 80 tuổi và trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam là 60 tuổi. Để tạo cho họ một cuộc sống tử tế, có phẩm giá trong những năm cuối đời, chúng ta không có nhiều thời gian.

Ngày Cựu chiến binh đã được đề nghị tại kỳ họp Quốc hội trước đây, song nó đã không được giải quyết. Một phiên họp mới của Quốc hội sẽ bắt đầu vào tuần tới. Trung Quốc cần phải có một ngày như vậy dành cho những chiến binh lớn tuổi, để vào một khoảnh khắc trong ngày đó chúng ta có thể nói lời “mãi mãi biết ơn” và nghe họ đáp lại “không bao giờ hối tiếc. Nếu như chúng ta để cho khoảnh khắc đó mất đi, chúng ta có thể bị mất đi cơ hội cuối cùng.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: , , , | 2 phản hồi »

475. Tiết lộ về cuộc chiến 1979

Đăng bởi anhbasam on 17/02/2010

Những tiết lộ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc

vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979

Đúng 31 năm trước, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm 2005, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

———-

Số thương vong trong cuộc chiến 1979

Tư liệu của Trung Quốc nói rằng từ đầu, Bắc Kinh hạn chế mục tiêu và cách tiến hành cuộc chiến để không vượt quá một cuộc xung đột biên giới với Việt Nam.

Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn.

Giai đoạn đầu từ 17 đến 25-2, khi quân Trung Quốc, theo kế hoạch, sẽ phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và cướp lấy Cao Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ dẫn vào Lạng Sơn.

Giai đoạn hai là tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông, Sa Pa và Phong Thổ ở mạn tây bắc, từ 26-2 đến 5-3.

Giai đoạn cuối là bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16-3.

Diễn biến cuộc chiến

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, cuộc tấn công có vẻ đã làm Việt Nam bị bất ngờ.

Mặc dù có căng thẳng trong nhiều tháng, nhưng dường như các nhà lãnh đạo Việt Nam không tin rằng một “nước anh em” sẽ lại thật sự xâm lấn.

Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Phnom Penh.

Trong lúc gửi điện khẩn nhờ Moscow giúp đỡ, phản ứng ban đầu của Việt Nam là “chống đỡ bằng mọi biện pháp, cốt sao làm chậm bước tiến quân của Trung Quốc.”

Đến ngày 20-2, các cố vấn Liên Xô kết luận quân Việt Nam thiếu sự điều phối và rằng các phòng thủ du kích sẽ không thể ngăn được quân đối phương.

Tuy nhiên, mặc dù có ưu thế lúc đầu, nhưng địa hình hiểm trở và sự chống cự quyết liệt của quân chính quy và dân quân Việt Nam khiến quân Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn.

Tác giả Xiaoming Zhang phân tích một trong những vấn đề nằm trong cách nghĩ truyền thống của các tướng lĩnh Trung Quốc.

Nhiều lần, quân tiền phương kêu gọi không quân hỗ trợ, nhưng Bộ tổng tham mưu Trung Quốc không chịu mà lại yêu cầu hãy dựa vào pháo binh.

Các tướng lĩnh Trung Quốc thuộc về một truyền thống quen với cuộc chiến pháo binh và sử dụng biển người, và hạ thấp vai trò của không quân. Đây là một trong những lý do khiến số binh sĩ chết nơi trận địa lên rất cao.

Cuộc xâm lấn của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn.

Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Đến ngày 23-2, Trung Quốc chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ.

Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Quân đội Việt Nam phân nhỏ thành nhiều đơn vị, và phản công theo lối du kích.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo ngại về tiến trình cuộc chiến, và hối thúc tư lệnh Quảng Tây mở cuộc tấn công vào Lạng Sơn càng sớm càng tốt.

Trận đánh Lạng Sơn bắt đầu ngày 27-2, và khu vực mạn bắc của thành phố này bị Trung Quốc chiếm được vào ngày 2-3. Đây cũng là ngày mà theo kế hoạch Trung Quốc sẽ dừng hoạt động quân sự.

Vì bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại ở Lạng Sơn, Xu quyết định tiếp tục tấn công, với mục đích chiếm toàn bộ Lạng Sơn rồi hướng về Nam, tạo thành vị trí đe dọa Hà Nội.

Mặc dù Bắc Kinh đồng ý với quyết định của Xu, nhưng họ loan báo rút quân vào hôm 5-3, ngay sau khi quân Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn và tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu mà họ đặt ra.

Số thương vong

Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Theo số liệu của nước này, họ đã huy động chín đội quân chính quy cùng các đơn vị địa phương quân, tổng cộng tương đương 300.000 quân.

Cho đến nay, Việt Nam công bố không nhiều các tư liệu liên quan cuộc chiến, và các con số về thương vong cũng khác nhau ở nhiều cuốn sách.

Phía Trung Quốc có tiết lộ một phần nào. Ban đầu Bắc Kinh nói 20.000 lính Trung Quốc đã bị chết hoặc bị thương.

Một số nguồn học thuật hiện thời ước tính có thể có đến 25.000 lính trung Quốc bị chết và 37.000 bị thương.

Những nguồn tài liệu gần đây hơn của chính Trung Quốc thì nói 6900 lính nước này đã chết và 15.000 bị thương.

Dù thế nào, số thương vong của Trung Quốc trong một cuộc chiến ngắn ngày vẫn là cao, thể hiện một trong những truyền thống quân sự của nước này: sẵn sàng chịu tổn thất nhân mạng khi nó được xem là cần thiết.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng miễn là họ tin rằng họ chiếm ưu thế trong tình hình chiến lược chung.

——————-

Trung Quốc rút ra bài học sau 1979

Sau khi cuộc chiến ngắn ngày kết thúc, tất cả các đơn vị Trung Quốc tham chiến phải viết tường trình về kinh nghiệm chiến trường.

Trong vấn đề tổng kết cuộc chiến, Trung Quốc ở trong tình thế khó xử.

Một mặt, họ tuyên bố mình đã chiến thắng, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận những tổn thất mà quân Trung Quốc đã hứng chịu.

Ban lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải có sự đánh giá khách quan tình hình. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc và thành kiến văn hóa cũng khiến họ không đưa ra được những kết luận hoàn toàn khách quan.

Trong bài viết mới nhất về chủ đề này đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, tác giả Xiaoming Zhang cho biết quân đội Trung Quốc đã rút ra sáu bài học từ cuộc chiến 1979.

Thứ nhất, họ kết luận mọi chiến lược và quyết định quân sự đúng đắn phụ thuộc việc nắm bắt mọi khía cạnh của tình hình.

Cuộc chiến biên giới 1979 cho thấy Trung Quốc không mấy chú ý đến chiến thuật và học thuyết quân sự của Việt Nam trước khi tấn công. Vì thế, họ đánh giá thấp khả năng của đối phương.

Mặc dù chê Việt Nam thiếu khả năng tấn công và phòng thủ, nhưng văn bản chính thức của Trung Quốc cũng thừa nhận chiến thuật du kích và dân quân Việt Nam đã khiến Trung Quốc bị bất ngờ.

Bài học thứ hai là phải thu thập đầy đủ thông tin về tình báo. Sự đánh giá địa hình địa vật của Trung Quốc thường dựa theo các bản đồ đã quá cũ, trong khi khả năng dò thám trên chiến trường lại cũng hạn chế.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng tính nhầm số lượng các dân quân Việt Nam. Ban đầu, Bắc Kinh nghĩ tỉ lệ quân đội tham chiến giữa hai bên sẽ là 8-1.

Nhưng kết quả, riêng tại Cao Bằng có tới 40.000 – 50.000 dân quân Việt Nam, khiến tỉ lệ giảm chỉ còn 2-1.

Nâng cao khả năng

Bài học thứ ba Trung Quốc rút ra từ cuộc chiến liên quan đến khả năng tác chiến.

Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc thực hiện tác chiến với sự kết hợp của xe tăng, pháo binh, cộng với không quân và thủy quân.

Nhưng sự lạc hậu trong học thuyết và chiến thuật khiến quân đội không có sự phối hợp cần thiết.

Thành kiến đối với khả năng của không quân khiến binh chủng này không có đóng góp gì vào cuộc chiến ngắn ngày. Trên mặt đất, quân đội cũng chứng tỏ khả năng hợp tác kém giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh.

Kinh nghiệm năm 1979 dạy cho Trung Quốc những bài học về kỹ năng điều phối và hợp tác giữa các binh chủng.

Bài học thứ tư là vấn đề về chỉ huy và kiểm soát.

Quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan và quân đoàn vẫn đóng vai trò lớn hơn các quan hệ dựa trên những định chế.

Vì thế sau này lãnh đạo Quân khu Quảng Châu thừa nhận họ không thoải mái khi chỉ huy số quân được chuyển từ Vũ Hán và Thành Đô trong chiến dịch.

Bài học thứ năm là việc chứng tỏ Trung Quốc phải cải thiện hệ thống cung cấp hậu cần để hỗ trợ cho một chiến dịch xa nhà.

Vì thiếu kho bãi và thiết bị vận chuyển, hai Quân khu Quảng Châu và Côn Minh phải tự lập ra một hệ thống hậu cần mà không bao giờ hoạt động thật hiệu quả.

Khi quân đội tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan hậu cần cũng thấy rằng phải nhờ thêm viện quân để bảo vệ tuyến đường liên lạc.

Bài học cuối cùng liên quan tầm quan trọng của việc tuyên truyền và vận động nhân dân hỗ trợ cuộc chiến.

Kinh nghiệm năm 1979 cho thấy một số lượng khổng lồ lính chính quy Trung Quốc gần như không thể tác chiến ở nước ngoài nếu không có sự ủng hộ của thường dân trong nước.

Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã cổ vũ tinh thần yêu nước và lòng tự hào trong nhân dân. Kết quả, chỉ riêng ở Quảng Tây, hơn 215.000 thường dân được huy động để khuân vác, bảo vệ hàng hóa chở ra trận địa.

Dĩ nhiên, ngày hôm nay không ai nghĩ rằng quân đội Trung Quốc sẽ lặp lại những gì đã làm trong cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam.

Tuy vậy, một số điểm từ cuộc chiến này vẫn có thể có ích để nhìn nhận và đánh giá những chiến lược của quân đội Trung Quốc.

Một kinh nghiệm rút ra là các lãnh đạo Trung Quốc tính toán rất kỹ về việc khi nào cần dùng sức mạnh quân sự, nhưng họ không ngần ngại mở cuộc chiến nếu họ nghĩ rằng quyền lợi quốc gia bị đụng chạm.

———————–

Cạnh tranh Liên Xô – Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam

Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn đề chiến tranh Việt Nam như thế nào?

Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, mối quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản này thực tế đầy sóng gió do các mâu thuẫn về tư tưởng và chính sách.

Ở bối cảnh đó, Việt Nam trở thành vấn đề gây ảnh hưởng giữa hai cường quốc này.

Trong một tiểu luận gần đây, Eva-Maria Stolberg, giáo sư ở ĐH Bonn, đã phân tích về mối quan hệ này.

Bài viết in trong tập sách “America, the Vietnam War and the World” do NXB ĐH Cambridge ấn hành tháng Chín 2003.

Theo Eva-Maria Stolberg, đối với Liên Xô và Trung Quốc, việc ủng hộ phong trào giải phóng của Việt Nam phục vụ ba mục đích: nó cho phép hai siêu cường biện minh hoặc chỉ trích các hệ tư tưởng của nhau; đó là một phần trong chiến lược của Liên Xô và TQ đối với Mỹ; và Việt Nam cũng là phương tiện để phục vụ những mục đích, quyền lợi bên trong cơ cấu nội bộ mỗi đảng.

Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, chúng tôi xin trích lược giới thiệu nội dung chính của bài viết. Xin lưu ý đây là những phân tích và quan điểm riêng của tác giả.

Ngay từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, liên minh Trung Quốc – Liên Xô đã có những chia rẽ mà đã tác động đến hệ tư tưởng, chính sách và chiến lược của cả hai nước trong thời chiến tranh Lạnh. Các quyền lợi quốc gia và quan niệm về an ninh bị định hình bởi quan niệm của lãnh tụ hai nước về cách thức mỗi nước có thể tồn tại trong môi trường toàn cầu khi ấy. Trong hoàn cảnh này, cuộc chiến Việt Nam là chỉ dấu đo đạc mang tính quyết định.

Trong mùa đông 1949-50, khi Stalin và Mao Trạch Đông thương lượng Hiệp ước Trung – Xô, hai người đồng ý việc chia sẻ nhiệm vụ. Đông Dương và Đông Nam Á nằm ngoài quyền lợi của Liên Xô và vì thế trở thành ‘sân chơi’ của Trung Quốc. Khi ông Hồ Chí Minh, trong chuyến thăm Bắc Kinh và Moscow tháng Giêng – Hai 1950, yêu cầu sự hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp, Stalin nói ông Hồ hãy nói chuyện với Trung Quốc. Các bằng chứng mới từ văn khố Trung Quốc cho thấy Stalin khi đó bác bỏ sự dính líu tới Triều Tiên và Đông Dương.

Khác biệt tư tưởng

Người Trung Quốc khi đó có thái độ ngược lại: Họ sẵn sàng cung cấp vũ khí cho Việt Nam đánh Pháp, và sau đó Trung Quốc gửi cố vấn quân sự do tướng La Quý Ba dẫn đầu, người sau này trở thành đại sứ ở Hà Nội.

Một sự thay đổi trong thái độ của Trung Quốc và Liên Xô đối với vấn đề Đông Dương đã diễn ra sau cái chết của Stalin và sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc.

Bộ máy lãnh đạo mới ở Moscow giờ đây muốn có giải pháp hòa bình cho xung đột ở Đông Nam Á. Trung Quốc khi đó cũng muốn có sự thỏa hiệp với phương Tây để ngăn sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Tại hội nghị Geneva năm 1954, mục đích chính của Trung Quốc là đạt được uy tín quốc tế và quyền lực sau khi nước này bị cô lập vì cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên. Do sự thiếu kinh nghiệm ngoại giao quốc tế, Trung Quốc đã đứng đằng sau Liên Xô.

Chính sách của khối Cộng sản ở Geneva được đánh dấu bằng sự nhất trí. Việt Minh, sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ, muốn đuổi Pháp ra khỏi Đông Dương và thống nhất Việt Nam. Nhưng do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc, họ phải chấp nhận việc chia đôi đất nước. Tuy vậy, người Cộng sản Việt Nam ngay sau đó yêu cầu Trung Quốc giúp củng cố chính quyền ở miền Bắc, với mục đích sẽ thống nhất đất nước bằng phương tiện quân sự. Tháng Sáu 1955, Bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp có cuộc họp ở Bắc Kinh với người tương nhiệm, Bành Đức Hoài và một đại diện của nhóm cố vấn quân sự Liên Xô tại Trung Quốc. Cuộc họp, kéo dài đến tháng Mười, liên quan việc hoạch định quân sự.

Lúc này, người lãnh đạo mới của Liên Xô, Nikita Khrushchev, đề ra nguyên tắc ‘cùng chung sống hòa bình’ trong chính trị quốc tế. Trong hoàn cảnh Việt Nam, nguyên tắc này có nghĩa là phía Liên Xô muốn có sự chung sống giữa hai nhà nước Việt Nam và thống nhất thông qua trưng cầu dân ý. Ngược lại, Trung Quốc đề ra nguyên tắc ‘chiến tranh nhân dân’, nói rằng sự dính líu ngày càng tăng của Mỹ tại miền Nam Việt Nam là sự phản bội thỏa thuận Geneva.

Việc Liên Xô rút cố vấn ra khỏi Trung Quốc năm 1960 đánh dấu sự tan vỡ quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản.

Lúc này, người cộng sản Bắc Việt tin rằng đã chín muồi cho đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Nhưng một quyết định chung cuộc đã bị đình hoãn do sự bất đồng chiến lược trong đảng – một bất đồng phản ánh cuộc tranh cãi lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Trong khi tướng Giáp tin rằng cách mạng ở miền Nam sẽ lâu dài và gian khổ, ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh ủng hộ chiến lược tấn công ồ ạt và đồng ý với quan điểm của Trung Quốc.

Mùa xuân 1961, Tổng thống Kennedy chấp thuận gửi 400 cố vấn quân sự đến miền Nam Việt Nam, và Trung Quốc phản ứng. Trong cuộc họp với thủ tướng Phạm Văn Đồng ở Bắc Kinh tháng Sáu năm ấy, Mao ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang, trong lúc Chu Ân Lai thì muốn một con đường linh động hơn, sử dụng biện pháp ngoại giao, chính trị cùng với chiến thuật bí mật ở miền Nam.

Trong chuyến thăm Hà Nội tháng Sáu 1963, chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ tuyên bố trong diễn văn là cuộc đấu tranh giữa phe xét lại (Khrushchev và Liên Xô) với ‘những người Marxist-Leninist chân chính’ (Trung Quốc) trên thực tế xoay quanh câu hỏi “liệu các dân tộc trên thế giới có thực hiện cách mạng hay không’. Ông Hồ Chí Minh đứng về phía ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh, những người ủng hộ chiến tranh ở miền Nam.

Trong những tháng sau đó, có chiến dịch chống phe ‘xét lại’, mà chủ yếu là tướng Giáp, người bị nghi ngờ là ‘bạn của Khrushchev’.

Nếu Chu Ân Lai và người ủng hộ ông đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với Mao, thì có lẽ Trung Quốc sẽ chỉ đóng vai trò quan sát viên trong chiến tranh Việt Nam. Quan điểm đối đầu với Mỹ của ông Mao liên quan đến viễn kiến của ông về đấu tranh giai cấp và chiến tranh nhân dân. Quần chúng cần thực hiện viễn kiến đó cả bên trong và ngoài Trung Quốc.

Trong hoàn cảnh đó, mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn.

Các đàm phán chi tiết tiếp tục trong các tháng sau đó. Cũng trong năm đó, Bắc Kinh đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tính từ 1956 đến 1963, Trung Quốc đã chuyển lượng vũ khí cho miền Bắc ở số lượng trị giá khoảng 320 triệu nhân dân tệ.

Năm 1964, Mỹ bắt đầu chuyển hướng sự chú ý từ miền Nam hướng ra miền Bắc, và tuyên bố sẽ không chấp nhận việc tăng chuyển quân và vũ khí từ miền Bắc.

Quyết định của Mỹ gia tốc cuộc xung đột trong tháng Hai 1965 với các cuộc không kích miền Bắc cho thấy nếu Hà Nội muốn thống nhất đất nước bằng quân sự, họ sẽ phải phụ thuộc vào Liên Xô và Trung Quốc.

Tại Liên Xô, Khrushchev đã không còn quan tâm đến Đông Dương trong mùa hè và mùa thu 1964; ông muốn Liên Xô tránh khỏi Đông Nam Á vì sợ một ‘khủng hoảng tên lửa Cuba thứ hai’. Cuộc chiến Việt Nam cũng có lợi cho Liên Xô ở chỗ nó thu hút sự chú ý của hai đối thủ là Mỹ và Trung Quốc; như thế Liên Xô có thể tập trung cho khu vực châu Âu và Viễn Đông.

Tuy vậy, chính sách không can thiệp của Liên Xô lại khiến Bắc Việt hướng nhiều hơn về Trung Quốc. Tháng 12-1964, bộ trưởng quốc phòng TQ thăm Hà Nội và ký hiệp ước hợp tác quân sự. Việc này cần được nhìn trong bối cảnh tranh chấp Xô – Trung: sự miễn cưỡng của Liên Xô được diễn giải như là cơ hội cho Trung Quốc đưa Việt Nam vào quỹ đạo của mình.

Cũng thời điểm đó, Khruschev bị hạ bệ và Leonid Brezhnev lên thay. Trung Quốc hy vọng sẽ có cải thiện trong quan hệ và trông chờ Brezhnev từ bỏ chính sách cùng chung sống hòa bình với phương Tây. Nhưng Anastas Mikoyan, thành viên trong Bộ Chính trị, sau đó tuyên bố Brezhnev sẽ tiếp tục chính sách chung sống này.

Trung Quốc ban đầu hứa gửi phi công sang Bắc Việt, nhưng sau đó họ rút lại vì lo ngại ưu thế hơn hẳn của không quân Mỹ. Bộ binh trở thành lựa chọn tốt hơn và sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc.

Gần 320.000 người Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng Sáu 1965 đến tháng Ba 1968. Họ không có nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu mà giúp xây sửa cầu đường, đường ray xe lửa. Ngoài ra, Trung Quốc xây một cảng bí mật ở Hải Nam, để từ đó vũ khí được chuyển cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc ở miền Nam.

Chính sách ngoại giao của Mao Trạch Đông lúc này cũng cần được hiểu thông qua những quan ngại của ông về đối nội. Mao lo ngại về tương lai TQ, đặc biệt trong trường hợp ông qua đời và một bộ máy mới lên.

Ông cảm thấy các nguyên tắc của cách mạng TQ sẽ bị phản bội và hệ thống chính trị trong tay lớp trẻ hơn rồi sẽ đưa TQ mở cửa với phương Tây.

Vì thế, Mao sử dụng cuộc chiến Việt Nam khơi gợi tinh thần chống đế quốc trong nhân dân TQ để chống lại những người ‘xét lại’ trong bộ máy và để bảo đảm vị trí của ông trong lịch sử. Đây là mục đích chính của chiến dịch ‘Ủng hộ Việt Nam và chống Mỹ’ tại Trung Quốc. Có một sự liên hệ trực tiếp giữa cuộc chiến tại Đông Dương và sự cực đoan ngày càng tăng trong chính trị nội địa tại TQ.

Thái độ Liên Xô thay đổi

Đầu năm 1965, tân thủ tướng Liên Xô, Kosygin, thăm Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng như một cách đánh dấu sự khôi phục chính sách châu Á của Liên Xô. Hoạt động ngoại giao con thoi này nhằm hai mục đích: hàn gắn quan hệ Xô – Trung và ngăn chặn hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam.

Trong chuyến thăm Hà Nội, tháp tùng Kosygin có các chuyên viên tên lửa. Và ngày 10-2-1965, Liên Xô và Bắc Việt ký hiệp ước hỗ trợ kinh tế và quân sự.

Điều này đáng chú ý vì chỉ mới vào tháng 12-1964, Bắc Việt đã tuyên bố sẽ không hoan nghênh các chuyên viên dân sự và quân sự Liên Xô. Rõ ràng, Hà Nội đã dùng sự hỗn độn quanh diễn biến thay đổi lãnh đạo tại Liên Xô và việc củng cố quyền hành của Brezhnev để gây sức ép cho người Nga. Bắc Việt cảm thấy họ đang được cả hai thế lực cộng sản tìm cách chinh phục.

Sự hố̃ trợ quân sự to lớn của Liên Xô từ sau 1965 cũng có mục đích chung là giảm bớt mối liên hệ của TQ tại Việt Nam.

Nhưng điều này không có nghĩa là Hà Nội giờ đây đứng về phía Moscow trong cuộc tranh chấp Xô – Trung. Thực tế, họ tìm cách nhận được hỗ trợ tối đa từ cả hai bên.

Về cơ bản, có một sự khác biệt quan trọng trong thái độ của Liên Xô và TQ đối với vấn đề Việt Nam. Người Sô viết nghĩ rằng một nước XHCN như VN có quyền tồn tại và thống nhất đất nước, đặc biệt khi bị thế lực phương Tây đe dọa. Nhưng việc bảo vệ của một cường quốc XHCN, dù là Liên Xô hay TQ, chỉ có trong khuôn khổ cùng chung sống hòa bình.

Ngược lại, Trung Quốc xem cuộc xung đột VN là một phần trong phong trào đấu tranh chống đế quốc tại Đông Nam Á – ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan.

Tiến trình đi tìm một giải pháp hòa bình về câu hỏi VN diễn ra chậm chạp. Sự thay đổi trong tam giác Mỹ – Liên Xô – Trung Quốc diễn ra vào năm 1972 sau khi tổng thống Nixon thăm TQ.

Đến giữa tháng Sáu, chủ tịch Liên Xô Podgorny thăm Hà Nội và thúc giục Bắc Việt đàm phán. Một phần lý do là viện trợ quân sự cho Bắc Việt đã gây tiêu cực cho kinh tế Liên Xô, nhất là khi người Sô viết coi vấn đề VN không liên hệ trực tiếp về an ninh cho Liên Xô.

Trung Quốc lúc này cũng muốn có giải pháp hòa bình. Lý do quan trọng nhất là nhờ chuyến thăm của Nixon, TQ giờ đây có thể dùng Liên Xô đối chọi với Mỹ. Ngoài ra, lúc ấy họ hy vọng giải quyết vấn đề Đài Loan, nhưng buộc phải có sự hợp tác của Mỹ.

Lúc này, sự thay đổi chính sách của Liên Xô và Trung Quốc là cú đánh tâm lý cho Bắc Việt. Họ cảm thấy bị bỏ rơi và phản bội.

Moscow và Bắc Kinh có đủ lý do để hòa hoãn với Mỹ và ủng hộ một giải pháp ngừng bắn và chính trị tại Việt Nam. Các hội nghị thượng đỉnh Xô – Mỹ và Trung – Mỹ trong năm 1972 cho thấy rằng cả Liên Xô và Trung Quốc đều không muốn hy sinh quyền lợi quốc gia của họ, tức là cải thiện quan hệ với Mỹ.

Ngày 27-1-1973 khi hiệp định Paris được ký kết, nó phản ánh một trật tự thế giới mới mà sẽ không thể có nếu thiếu sự hòa hoãn Mỹ-Xô-Trung năm 1972.

Cuộc chiến Việt Nam cho thấy quan hệ tam giác Moscow – Hà Nội – Bắc Kinh rất khác với ngôn từ tuyên truyền chính thức về ‘tình hữu nghị quốc tế’.

Mỗi bên đi theo một chính sách quốc gia riêng, tạo nên sự nghi ngờ lẫn nhau mà đã đóng góp vào việc kéo dài cuộc xung đột. Ngoài ra, trong suốt lịch sử, cả ba nước này thể hiện một thái độ yêu – ghét về nhau. Và sự khác biệt văn hóa giữa TQ và VN cũng góp thêm vào sự phức tạp trong tam giác này.

———-

Phản ứng của Liên Xô – Trung Quốc ở thời kì cuối cuộc chiến

Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, chúng tôi đã giới thiệu phân tích của một nhà nghiên cứu (Eva-Maria Stolberg) về việc Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn đề chiến tranh Việt Nam như thế nào.

Tương tự chủ đề này, dưới đây là trích thuật đoạn cuối cùng trong quyển sách “Ending the Vietnam War: The Vietnamese Communists’ Perspective”, của tác giả Ang Cheng Guan.

Ông là giáo sư tại National Institute of Education, thuộc Nanyang Technological University (NTU), Singapore, chuyên ngành nghiên cứu về khía cạnh quốc tế của cuộc chiến Việt Nam và khu vực Đông Nam Á sau Thế chiến Hai.

Cuốn ‘Ending the Vietnam War’, do RoutledgeCurzon xuất bản năm 2004, là phần tiếp theo của tập ‘The Vietnam War from the Other Side’, cùng một tác giả, in năm 2002.

Nếu bản thân những người cộng sản Việt Nam đã ngạc nhiên vì tiến độ diễn biến quân sự ở miền Nam kể từ tháng Ba 1975, thì Bắc Kinh và Moscow, vốn cả hai không nắm rõ tình hình ở Việt Nam cũng như không kiểm soát nhiều diễn biến tại đó, cũng bị ngạc nhiên.

Tiếc là hiện nay, người ta chưa có tài liệu để biết về suy nghĩ tại hai nước vào thời điểm đó. Tuy vậy, chúng ta biết rằng quan hệ Trung Quốc – Việt Nam đã trắc trở kể từ 1972. Đã có các đụng độ nơi biên giới hai nước trong năm 1973, và tháng Giêng 1974, TQ chiếm đảo Hoàng Sa. Nhưng vào thời điểm này, một Hà Nội đang bận rộn với nhiều diễn biến khác chỉ có thể bày tỏ sự phản đối yếu ớt trong chốn riêng tư.

Tháng Ba 1974, Hà Nội đóng cửa tờ báo tiếng Hoa duy nhất và hoạt động của Hội hữu nghị Việt – Hoa cũng bị ngừng lại.

Đến tháng Tám 1974, vì lý do sức khỏe, Chu Ân Lai không còn theo dõi quan hệ Việt – Trung. Hai chuyến đi của ông Lê Thanh Nghị năm 1974 đến Bắc Kinh cho thấy lúc này Hà Nội gặp khó khăn khi muốn có sự hỗ trợ kinh tế và quân sự từ Trung Quốc.

Một tuần trước ngày 30-4, tướng Dương Văn Minh còn tin rằng Hà Nội sẽ phải đàm phán với ông. Trong số các lý do ông nghĩ đến là Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam không muốn bị Hà Nội chi phối và rằng Bắc Kinh muốn có hai nước Việt Nam riêng biệt vì một VN thống nhất sẽ đe dọa biên giới tây nam của TQ.

Giờ đây nhìn lại, người ta thấy vào thời điểm 1974-75, Bắc Kinh đã ước đoán – mặc dù sai lầm – rằng tình hình ở Nam Việt Nam sẽ còn tiếp tục trong một thời gian.

Mặc dù Bắc Việt có khác biệt với người Nga, nhưng bản báo cáo thường niên của sứ quán Liên Xô ở Hà Nội về quan hệ song phương nói chung lạc quan. Tuy không có số liệu, nhưng người ta biết rằng Liên Xô, so với Trung Quốc, tỏ ra đáp ứng nhiều hơn trước yêu cầu của Việt Nam muốn có trợ giúp kinh tế, quân sự.

Moscow vẫn tiếp tục là một kênh liên lạc quan trọng giữa Mỹ và Liên Xô. Hồi ức của Anatoly Dobrynin về ngày 19-4-1975 cho biết Kissinger đã yêu cầu Moscow can thiệp với Hà Nội để cho phép việc sơ tán người Mỹ và người miền Nam ra khỏi Sài Gòn.

Ngày 24-4, Hà Nội trả lời thông qua Brezhnev rằng người cộng sản Việt Nam sẽ không ngăn trở việc di tản và không có ý định gây tổn hại cho uy tín của Mỹ.


(Ba Sàm lượm lặt từ BBC)

Mời xem thêm:

+ 65:Chiến Tranh biên giới Việt-Trung 1979(1);

+ 67:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979(2);

+ 71:Phải tưởng niệm Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979

+ 72:Miền Bắc VN Vẫn Nhớ Cuộc Xâm Lược của TQ năm 1979(3)

+ 73:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979 (bài 4) (hình ảnh)

+ 76:Trung Quốc bị ám ảnh bởi những mối liên hệ với Khmer Đỏ.

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: | 13 phản hồi »

86:Chiến Tranh Năm 1979- Cái nhìn từ Người Nga

Đăng bởi hoangtran204 on 06/03/2009

PRAVDA *

Việt Nam vẫn đang


kiêu hãnh  về những


chiếc đầu lâu của lính


Trung Quốc trong


rừng  rậm

Sergei Balmasov

Ngày 5-3-2009


Việt Nam đã anh dũng đẩy lùi cuộc tấn công của Trung Quốc cách đây 30 năm. Mối thù nghịch giữa hai nước tiếp tục trong hơn 2.000 năm.

Cách đây 2500 năm, lãnh thổ của Việt Nam đã từng lan rộng tới Sông Yangtze. Người Việt Nam đã chứng tỏ cách đây 30 năm rằng họ có thể vẫn còn tiến hành được một cuộc chiến tranh.

Cuộc chiến đã nổ ra năm 1979 bởi vì những mối quan hệ căng thẳng giữa Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sô Viết và Trung Quốc. Hai chế độ cộng sản đang tranh giành ảnh hưởng đối với các quốc gia trong phe xã hội chủ nghĩa. Bắc Kinh đã không thể khoác lác được về bất cứ thành công nào: phạm vi ảnh hưởng của họ chỉ bao gồm có hai nước Albania và Kampuchea.

Pol Pot đã tấn công sang những vùng lãnh thổ biên giới của Việt Nam năm 1978. Hà Nội đã đáp trả bằng cách đưa quân tràn sang Kampuchea từ tháng 12-1978. Trung Quốc đã có được một lý do để xen vào phe Pol Pot và xâm chiếm Việt Nam cốt để làm suy yếu ảnh hưởng của Liên Xô trên thế giới.

Hoa Kỳ đứng đằng sau cuộc xung đột: nước này đang đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Hoa Kỳ khi đó đã đặt Trung Quốc vào vị trí chống lại các nước đồng minh của Liên Xô bằng hứa hẹn sẽ trợ giúp Bắc Kinh.

Đội quân Trung Quốc hùng hậu với 600.000 người đã tấn công Việt Nam dọc theo toàn tuyến biên giới dài 1.460 km. Việt Nam chỉ có hai sư đoàn để chống lại 44 sư đoàn Trung Quốc. Khoảng 85% binh lính Việt Nam khi đó đang đóng tại Campuchea, cách xa hàng ngàn cây số. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thất bại trong một cuộc chiến tranh chớp nhoáng: Việt Nam đã hành động tuyệt vời mà không cần có vai trò cơ bản của các lực lượng chính quy.

Các đơn vị biên phòng và dân quân địa phương đã tỏ rõ sức kháng cự mãnh liệt trước kẻ thù xâm lược. Những toán quân Trung Quốc chỉ di chuyển được có 15 km trong lãnh thổ Việt Nam trong ba ngày đầu của cuộc chiến. Chỉ vài ngàn lính biên phòng Việt Nam nhưng đã ngăn cản được cả một đoàn quân.

Chỉ sang ngày thứ ba dân quân Việt Nam mới tham chiến. Các toán quân Trung Quốc di chuyển dọc theo những con đường hẹp trong rừng rậm – địa thế xung quanh rất tiện lợi cho việc gài bẫy. Các binh lính Việt Nam dần dần đã chia cắt quân đội địch thành nhiều mảnh.

Một nhóm cố vấn Liên Xô đã tới Việt Nam ngày 19 tháng Hai 1979. Moscow đặt quân đội ở Đông Âu của mình trong tình trạng báo động cao độ và đã hăm doạ tràn qua Trung Quốc. Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô khi đó đang tiến vào vùng biển Trung Quốc. Các chiến đấu cơ Sô Viết chuyển vận một nhóm quân đội Việt Nam từ Campuchea về , để có thể tổ chức được một đội quân Việt Nam hùng hậu 100.000 người.

Trung Quốc bắt đầu rút các toán quân của họ vào ngày 5 tháng Ba. Họ đã tuyên bố chiến thắng nhưng không bao giờ giải thích lý do vì sao họ lại thất bại trong việc bảo vệ Pol Pot, đồng minh khát máu của mình. Mãi mười năm sau Việt Nam mới rút quân khỏi Campuchea, sau khi đã đánh bại Khmer Đỏ.

Các binh lính Việt Nam đi theo sau cuộc triệt thoái của quân đội Trung Quốc trong hai tuần và đã tiêu diệt 62.500 lính Trung Quốc. Họ còn phá hủy tới 50% vũ khí hạng nặng của quân đội Trung Quốc được sử dụng cho cuộc gây hấn này.

Những dấu tích của cuộc chiến vẫn còn vang vọng lại cho tới hôm nay. Cách đây không quá lâu, mỗi sinh viên Việt Nam đang học tập tại các trường y khoa địa phương được chấp thuận để mang vài ba cái đầu lâu của binh lính Trung Quốc từ trong rừng rậm cho các lớp học thực tâp. Cuộc tấn công bất ngờ năm 1979 đã chứng tỏ rằng Việt Nam có một trong những đội quân thiện chiến nhất trên thế giới, họ hiểu rõ cách làm sao để bảo vệ vùng đất quê hương mình.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* PRAVDA (Sự Thật): Tờ báo lớn nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô, nay là Đảng Cộng sản Nga, tựa như tờ “Nhân Dân” ở Việt Nam.


—————————

PRAVDA

Vietnam still proud of Chinese skulls

in the jungle

05.03.2009

Vietnam heroically repulsed China’s attack 30 years ago. The enmity between the two states continued for over 2,000 years. Vietnam’s territory was spreading to the Yangtze River 2,500 years ago. The Vietnamese proved 30 years ago that they could still wage war.

The war broke out in 1979 because of the tense relations between the USSR and China. The two communist regimes were fighting for the influence on the countries of the socialist camp. Beijing could not boast of any success: the sphere of its influence included only Albania and Kampuchea.

Paul Pot attacked Vietnam’s border territories in 1978. Hanoi responded with deploying its troops in Kampuchea in December 1978. China obtained a reason to interfere on Pol Pot’s side and occupy Vietnam in order to weaken the Soviet influence in the world.

The United States stood behind the conflict: the country was struggling against communism. The USA was setting China against the USSR’s allies promising its support to Beijing.

The 600,000-strong Chinese army attacked Vietnam along its entire 1,460-kilometer border. Vietnam had only two divisions to oppose China’s 44. About 85 percent of Vietnam’s troops were stationed in Cambodia, thousands of kilometers away. However, China failed to have a blitzkrieg: Vietnam did very well without the basic part of its regular forces.

Border guards and local militia men showed fierce resistance to the aggressor. The Chinese troops moved only 15 kilometers inside Vietnam during the first three days of the war. Only several thousands of Vietnamese border guards deterred a whole army.

The Vietnamese militia joined the war on the third day only. The Chinese troops were moving along narrow paths in the jungle – the surroundings were very convenient for entrapments. The Vietnamese soldiers eventually dismembered the enemy’s army into several parts.

A group of Soviet counselors arrived in Vietnam on February 19. Moscow set its Eastern troops on high alert and threatened to invade China. The USSR’s Pacific Fleet was approaching China’s coast. Soviet warplanes transported a group of the Vietnamese army from Kampuchea, which made it possible to organize a 100,000-strong group of Vietnamese military men.

China began to pull back its troops on March 5. The country declared its victory but never explained why it had failed to defend Pol Pot, its bloody ally. Vietnam pulled back from Kampuchea only ten years afterwards, having defeated the Khmer Rouge.

The Vietnamese troops were following China’s retreat for two weeks and killed 62,500 Chinese soldiers. They also destroyed over 50 percent of China’s military hardware that was involved in the aggression.

The vestiges of that war still echo today. Not so long ago, each Vietnamese student studying at local medical schools was supposed to fetch a couple of Chinese skulls from the jungle for practical classes. The incursion of 1979 proved that Vietnam has one of the best soldiers in the world, who definitely know how to defend their native land.

Sergei Balmasov

Join Pravda.ru forum. Registration is free and simple

Đăng trong TQ xâm lược '79 | Tagged: | 1 Comment »

76:Trung Quốc bị ám ảnh bởi những mối liên hệ với Khmer Đỏ

Đăng bởi hoangtran204 on 22/02/2009

ASIA TIMES

Trung Quốc bị ám ảnh


bởi những mối liên hệ


với Khmer Đỏ

Antoaneta Bezlova

Ngày 21-2-2009


BẮC KINH – Những bí mật đáng kinh sợ về các ký ức đã bị che dấu của Trung Quốc đang tràn về. Kỷ niệm lần thứ 30 cuộc chiến ngắn ngủi mà đẫm máu với Việt Nam có thể đã và đang qua đi mà không có  dấu hiệu hay hàng chữ gì ghi nhận, song thực tế rằng ngày 17 tháng Hai cũng được xem là ngày khởi đầu cho phiên tòa dành cho kẻ tra tấn có chức vụ cao nhất của chế độ Khmer Đỏ ghê tởm ở Cambodia.

Vai trò của Trung Quốc trong quá khứ đẫm máu ở Cambodia giờ đây ít được nói ra và đó là cái cách mà Bắc Kinh, Hà Nội và Phnom Penh – cả ba đều đang có khuynh hướng tập trung vào thương mại và phát triển – ưa thích như thế.

Khi Việt Nam lật đổ chế độ Khmer Đỏ của Pol Pot vào năm 1979, Bắc Kinh đã quá tức giận bởi những gì mà họ nhìn thấy như một sự thách thức ở sân sau của họ do bởi một đảng chính trị mà họ đã giúp thành lập nên, TQ đã ra lệnh một cuộc tấn công để “dạy cho Việt Nam một bài học” và giữ cho Pol Pot được tại vị.

Trong suốt thời gian nắm quyền lực của mình từ 1975-1979, Pol Pot đã mưu toan tái tạo cuộc cải cách điền địa không tưởng của Mao Trạch Đông, song cuộc thí nghiệm nầy đã để lại một đất nước Cambodia đầy thương tích với một phần tư dân số – khoảng 1,7 triệu người – đã chết.


Mặc dù biết rõ những hành động tàn bạo mà chế độ này đã phạm phải, song Bắc Kinh đã về phe với Khmer Đỏ qua cuộc xâm chiếm của Việt Nam vào Cambodia và đã phát động một cuộc tấn công quy mô chống lại Việt Nam dọc theo đường biên giới của hai nước.

Cuộc xung đột biên giới kéo dài một tháng đã làm chết đi khoảng 20.000 tới 60.000 nhân mạng, nhưng lại không có hoạt động kỷ niệm nào đã được tổ chức vào dịp kỷ niệm 30 năm này ở cả Bắc Kinh và Hà Nội.

Khi phiên tòa dành cho điều tra viên cao cấp nhất của Khmer Đỏ là ông Kaing Guek Eav, còn được gọi là Duch, được mở tại Phnom Penh, Trung Quốc đã tìm cách hạ thấp vai trò của họ trong việc hổ trợ cho chính quyền Pol Pot.

“Nhưng mọi người đều biết, chính phủ Kamphuchea Dân chủ đã có một ghế hợp pháp tại Liên hiệp quốc, và trước đó (trước năm 1978) đã thiết lập những mối quan hệ rộng rãi với hơn 70 quốc gia khác,” nữ phát ngôn viên bộ ngoại giao Jiang Yu đã nói tại một cuộc họp báo thường kỳ, với ám chỉ cựu chính phủ Khmer Đỏ trước đây.


Ông Duch đang được đưa ra tòa về các tội hình chống lại loài người. Dưới sự cai quản của y, trong vai trò là sĩ quan chỉ huy trại tù S-21 khét tiếng, khoảng 14.000 người đã bị tra tấn và bị đưa tới cái chết của họ trong những cánh-đồng-giết-người bên ngoài thủ đô Phnom Penh. (Mời xem bài Trial and error in Cambodia, ngày 18-2-2009.)


“Trung Quốc đang nợ những người dân Cambodia một lời xin lỗi,” đó là nhận xét của Lao Mong Hay, cựu giám đốc Viện nghiên cứu về Xã hội Dân chủ Khmer ở Phnom Penh và hiện nay là một nhà nghiên cứu lão thành của Ủy ban Nhân quyền Á châu tại Hong Kong. “Trung Quốc đã giúp Khmer Đỏ từ trước khi chế độ này lên nắm được quyền lực và TQ đã tiếp tục đóng góp những trợ giúp của họ thậm chí sau khi Pol Pot nắm được quyền lực mà không cần quan tâm gì tới những gì đang xảy ra cho dân chúng Cambodia.”


Theo ông Mong Hay, Trung Quốc đã cho Kambodia Dân chủ 1 tỉ đô la trước năm 1979 và một tỉ đô la khác nữa sau 1979 để chiến đấu chống lại cuộc xâm chiếm của Việt Nam.


Trung Quốc thường nhắc nhở Nhật Bản phải “đối diện” với lịch sử, họ nhấn mạnh rằng thái độ không xin lỗi của Tokyo liên hệ tới những quan điểm chính trị của chủ nghĩa xâm lược trong quá khứ đang cản trở các sự tiến bộ về các mối quan hệ với những nước láng giềng của Nhật. Thế nhưng khi được áp dụng vào quá khứ của chính Trung Quốc, những bản chất sai lầm có tính toán (của TQ) trong lịch sử đã được vứt bỏ đi như là không liên quan tới những phát triển hiện tại và tương lai.


“Trung Quốc và Việt Nam đã có một thời kỳ không vui trong quá khứ của họ,” bà Jiang Yu nói với các phóng viên. “Thế nhưng điều quan trọng là các nhà lãnh đạo và nhân dân cả hai nước đều có một ước muốn lớn lao và nhất trí để cùng nhau tạo nên một tương lai tươi sáng. Lịch sử đã đạt được những kết luận của nó rồi,” bà bổ sung thêm.


Khmer Đỏ là một bản sao của chế độ Mao-ít, ông Mong Hay nhận xét, và bất cứ cuộc điều tra nào vào trong những thành tích của nó cũng có thể phơi bày ra ánh sáng những lỗi lầm trầm trọng thuộc về lịch sử của chính bản thân của Trung Quốc. “Chế độ cộng sản Trung Quốc vẫn chưa tính đến những nỗi đau khổ đã gây ra cho chính nhân dân của họ trong suốt nhiều năm trời của các phong trào chính trị và khủng bố đàn áp,” ông nói thêm.


Trong thời gian cầm quyền của Mao, Trung Quốc đã trang bị vũ khí và huấn luyện cho những nhóm phiến quân tại hầu hết các quốc gia Đông nam Á, bao gồm Indonesia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Cambodia, ngay cả khi TQ đã nuôi dưỡng các mối quan hệ đầm ấm với các chính phủ đương quyền ở các quốc gia này.

Sự trợ giúp hào phóng của Bắc Kinh đối với các đội quân cách mạng trên khắp Á châu đã nổi lên trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa khi sự kình địch của Trung Quốc với Liên Xô mạnh mẻ thêm và họ đã tranh dành ảnh hưởng trong khu vực khi các cường quốc thực dân phương Tây đã rút lui (ý nói sau 1954 Pháp và Anh rút lui khỏi các khu vực Châu Á – TH).


“Cuối cùng đó là nền chính trị thực dụng, hơn là sự khẳng định có tính chất ý thức hệ, thứ nầy đã đem lại cho Trung Quốc và Cambodia xích lại gần nhau,” Philip Short đã viết trong cuốn sách về lai lịch của Pol Pot nhan đề Pol Pot: Lịch sử của một Cơn ác mộng. “Đã có một sự đối xứng gần như hoàn hảo liên quan tới những mối quan hệ của 3 nước này. Trung Quốc đã đối xử với Việt Nam giống như là Việt Nam đối xử với Cambodia – một người láng giềng to lớn và hùng mạnh, kẻ này hăm doạ áp đặt ảnh hưởng thống trị của họ lên một quốc gia khác nhỏ hơn.”

Trong khi Bắc Kinh đã từng coi Việt Nam như là một đầu cầu nối của Liên Xô ở châu Á, thì TQ cũng đã coi “Cambodia như là một quốc gia bên sườn phía tây Việt Nam có thể được mong đợi chống lại sự bành chướng của người Việt Nam, và vì thế là kìm chế quyền lực của Sô Viết,” ông Short viết.

Giờ đây, cũng như về sau, những mệnh lệnh của ý thức hệ đã và đang nhường chỗ lại cho nền chính trị thực dụng [1]. Kinh tế và thương mại hình thành cơ sở cho các chính sách của Bắc Kinh đối với những quốc gia láng giềng của mình trong những ngày này. Trung Quốc đang kiên nhẫn xây dựng lại các mối quan hệ truyền thống với tất cả các láng giềng Đông nam Á, sử dụng đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển và “quyền lực mềm” để lôi kéo những nước này vào trong quỹ đạo kinh tế của TQ.

Chương trình trao đổi mậu dịch bên trong vùng khu vực Sông Cửu Long mở rộng, The Greater Mekong Subregion [GMS], được Ngân hàng Phát triển châu Á [ADB] phát động năm 1992, đã và đang cung cấp cho Bắc Kinh một cơ cấu tổ chức để mở rộng các mối thắt chặt về kinh tế mà không làm nổi lên sự lo sợ giữa các nước láng giềng của TQ thường vẫn còn đang làm lo ngại về quyền lực Trung Quốc.

“Trung Quốc đang tham gia một cách tích cực vào việc phát triển của GMS bởi vì họ coi tổ chức này như là sự xây dựng một lối đi tới tất cả các nước vùng Đông nam Á,” theo nhận xét của He Shengda, nhà nghiên cứu làm việc cho Viện Khoa học Xã hội Vân Nam.

Tại Cambodia những ngày này, các công ty Trung Quốc được tham dự vào hoạt động khai thác mỏ và gỗ, và họ đã xây dựng các tuyến đường, cầu cống, các xí nghiệp may mặc, các nhà máy điện, các sòng bài và các khu nghỉ dưỡng cao cấp, TQ đang đầu tư khoảng 1,5 tỉ đô la năm 2007.

Một nhóm đầu tư người Cambodia và một công ty dệt may Trung Quốc đã và đang cam kết góp vốn ba tỉ đô la vào một liên doanh, tại cảng Sihanoukville, rập khuôn theo những phương pháp áp dụng cho các đặc khu kinh tế miễn thuế của Trung Quốc.

Tại Việt Nam, các bãi chiến trường ngày xưa giờ đây đang tấp nập những thương gia Trung Quốc, được hổ trợ bởi các tuyến đường cao tốc mới, chẳng hạn như một tuyến nối liền Nam Ninh của tỉnh Quảng Tây với Hà Nội. Trong vòng ba năm, một tuyến đường khác được ngân hàng ADB cấp tín dụng sẽ rút ngắn chặng đường giữa thủ phủ Vân Nam của tỉnh Côn Minh với Hà Nội xuống còn chưa tới 24 giờ.

Sự hòa nhập về kinh tế gia tăng tương tự có thể được nhận thấy ở bất cứ đâu tại Đông nam Á, nơi mà các công ty Trung Quốc đang cung cấp tiền bạc và chuyên môn để đổi lại những thị trường và những nguồn tài nguyên có giá trị.

“Các nền kinh tế của vùng hạ lưu khu vực Sông Cửu Long mở rộng (GMS) và Trung Quốc bổ sung cho nhau rất tốt,” theo nhận xét của Zhang Guotu, một chuyên gia về Đông nam Á thuộc trường Đại học Thiên An Môn (Xiamen). “Khu vực phụ cận sông Cửu Long có tiềm năng to lớn trong những điều kiện về tài nguyên và lao động thế nhưng các nền kinh tế của nó đang bị tụt hậu. Điều này xuất trình những cơ hội cho nhà nước Trung Quốc và các công ty tư nhân trong việc tìm kiếm cả thị trường tiêu thụ lẫn đầu tư.”

Bên trong mục tiêu lớn hơn của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc cũng đang thúc đẩy cho sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế lớn lớn rộng hơn. Trong một dấu hiệu của những tham vọng đang gia tăng của nước này, năm ngoái Bắc Kinh đã chỉ định một đại sứ đặc biệt cho khối có 10 thành viên này.

Vào năm 2010, Trung Quốc và ASEAN đến kỳ hạn để khởi đầu giai đoạn một về sự thỏa thuận thương mại, giảm các loại thuế thương mại giữa Trung Quốc và năm quốc gia sáng lập khối này – Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Vào năm 2015, Việt Nam, Cambodia, Lào và Burma [Myanma] cũng sẽ tham gia vào khối thương mại này. Brunei là trường hợp ngoại lệ.

Tuy nhiên, các mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia Đông nam Á vẫn còn đầy chông gai khi mà lịch sử và chính trị vẫn thường len vào con đường hội nhập kinh tế.

“Lịch sử không nên bị vứt bỏ đi một cách dễ dàng,” ông Mong Hay phát biểu. “Chỉ cần nhìn vào mối quan hệ của Cambodia và Trung Quốc, để thấy rằng họ đã và đang có vẻ giống như một cái đu quay trong quá khứ – đu từ chỗ tốt sang chỗ xấu rồi ngược lại.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


——————————————–

ASIA TIMES

————–

China haunted by Khmer Rouge links
By Antoaneta Bezlova
Feb 21, 2009
BEIJING – The skeletons are tumbling out of China’s cupboard of buried memories. The 30th anniversary of China’s brief but bloody war with Vietnam may have gone unmarked but for the fact that February 17 also saw the start of the trial of the chief torturer of Cambodia’s grisly Khmer Rouge.

China’s role in Cambodia’s bloody past is now little spoken of and this is how Beijing, Hanoi and Phnom Penh – all intent on trade and development – prefer it.

When in 1979 Vietnam ousted Pol Pot’s Khmer Rouge regime, Beijing was so incensed by what it saw as defiance in its backyard by a political party it had helped create that it ordered an attack to “teach Vietnam a lesson” and keep Pol Pot in power.
During his 1975-1979 rule Pol Pot sought to replicate Mao Zedong’s agrarian utopia, but the experiment left Cambodia deeply scarred and a quarter of its population – some 1.7 million people – dead.

Although aware of the atrocities commit ted by the regime, Beijing sided with the Khmer Rouge over the Vietnamese invasion of Cambodia and launched a massive offensive against Vietnam along the two countries’ border.

The month-long border conflict claimed anywhere between 20,000 to 60,000 lives, and yet no commemorations were held on the 30th anniversary either in Beijing or Hanoi.

As the trial of Khmer Rouge’s chief investigator Kaing Guek Eav, also known as Duch, opened in Phnom Penh, China sought to downplay its role in supporting Pol Pot’s regime.

“As everyone knows, the government of Democratic Kampuchea had a legal seat at the United Nations, and had established broad foreign relations with more than 70 countries,” foreign ministry spokeswoman Jiang Yu said at a regular press briefing, referring to the former Khmer Rouge government.

Duch is being tried on charges of crimes against humanity. Under his watch, as commandant of the notorious S-21 prison, some 14,000 people were tortured and sent to their deaths in the killing fields outside the capital Phnom Penh. (Please see Trial and error in Cambodia, February 18, 2009.)

“China owes Cambodian people an apology,” said Lao Mong Hay, former director of the Khmer Institute of Democracy in Phnom Penh and now a senior researcher at the Asian Human Rights Commission in Hong Kong. “It supported the Khmer Rouge before coming to power and continued to lend its support even after Pol Pot assumed power regardless of what was happening to Cambodian people.”

According to Mong Hay, China had donated $1 billion to Democratic Kampuchea before 1979 and another billion dollars after 1979 in order to fight the Vietnamese invasion.

China often admonishes Japan to “face up” to history, insisting that Tokyo’s unapologetic attitude regarding its invasionist politics of the past impedes relations with its neighbors. But when applied to China’s own past, reckoning of history’s fallacies is discarded as irrelevant to current and future developments.

“China and Vietnam have had a period of unhappiness in their past,” Jiang Yu told reporters. “But what’s important is that the leaders and people of both countries have a broad wish and consensus to create a bright future together. History has already reached its conclusions,” she added.

The Khmer Rouge was a replica of the Maoist regime, said Mong Hay, and any probe into its record could throw unfavorable light on China’s own historical blunders. “The Chinese communist regime hasn’t accounted yet for the sufferings caused to its own people during years of political campaigns and persecutions,” he added.

During Mao’s rule China armed and trained rebel groups in almost every Southeast Asian country, including Indonesia, Laos, Myanmar, Thailand and Cambodia, even as it fostered warm relations with their official governments.

Beijing’s generous support for revolutionary armies all over Asia rose during the Cultural Revolution when China’s rivalry with the Soviet Union intensified and they competed for influence in the region as Western colonial powers retreated.

“In the end it was realpolitik, far more than ideological affinity, which brought China and Cambodia together,” wrote Philip Short in his biography of Pol Pot, Pol Pot: The History of a Nightmare. “There was near-perfect symmetry to the three countries’ relations. China was to Vietnam as Vietnam was to Cambodia – a vast and powerful neighbor, which threatened hegemony.”

While Beijing saw Vietnam as a Soviet bridgehead in Asia, it also saw “Cambodia as the one country on Vietnam’s western flank which might be expected to resist the expansion of Vietnamese, and hence of Soviet power,” Short wrote.

Now, as then, imperatives of ideology have given way to realpolitik. Economy and trade form the basis for Beijing’s policies towards its neighboring countries these days. China is patiently rebuilding traditional ties with all of its Southeast Asian neighbors, using foreign investment, development aid and “soft power” to draw them back into its economic orbit.

The Greater Mekong Subregion intra-regional trade program, launched by the Asia Development Bank in 1992, has provided Beijing with the framework for expanding economic ties without arousing fears among its neighbors still wary of Chinese power.

“China actively participates in the development of the GMS because it sees it as the building of a passage to all of Southeast Asia,” said He Shengda, researcher with the Yunnan Academy of Social Sciences.

In Cambodia these days, Chinese firms are engaged in mining and logging, and have built roads, bridges, garment factories, power plants, casinos and resorts, investing about $1.5 billion in 2007.

A Cambodian investment group and a Chinese textile firm have committed three billion dollars to a joint venture, in Sihanoukville, modelled along the lines of China’s tax-free special economic zones.

In Vietnam, the old theatres of war are now bustling with Chinese traders, facilitated by new highways, such as the one linking Nanning in Guangxi province with Hanoi. Within three years, another ADB-financed highway will shorten the drive between Yunnan capital Kunming and Hanoi to less than 24 hours.

Similar accelerated economic integration can be seen elsewhere in Southeast Asia where Chinese companies are providing capital and expertise in exchange for markets and valuable resources.

“The economies of the GMS and China are highly complementary,” said Zhang Guotu, an expert on Southeast Asia with Xiamen University. “The sub-region has great potential in terms of resources and labor but its economies are lagging behind. This presents opportunities for Chinese state and private companies looking both for markets and investment.”

Within the greater scope of Association of South East Asian Nations (ASEAN), China is also pushing for enlarged economic interdependence. In a sign of its growing ambitions, last year Beijing appointed a special ambassador to the 10-member bloc.

In 2010, China and ASEAN are due to launch the first stage of a trade agreement, reducing tariffs on trade between China and the five founding countries of the bloc – Singapore, Malaysia, Indonesia, the Philippines and Thailand. In 2015, Vietnam, Cambodia, Laos and Burma will also join the trade bloc. The exception is Brunei.

Nevertheless, China’s relations with Southeast Asian nations remain prickly as history and politics often get in the way of economic integration.

“History should not be easily discarded,” said Mong Hay. “It only takes a look at Cambodia and China relations, for example, to see that they have been like a yo-yo in the past – swinging from good to bad and back.”

(Inter Press Service)

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 4 phản hồi »

73:Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979 (bài 4)

Đăng bởi hoangtran204 on 18/02/2009

30 năm sau

cuộc Chiến tranh Biên giới

Trung Quốc- Việt Nam (TIME)


Hơn 30 ngàn binh lính Việt Nam và Trung Quốc đã tử trận do giao tranh trong một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng dữ dội trên những tuyến biên giới hai nước năm 1979

1- Những khẩu pháo trong tháng Hai: Pháo binh Việt Nam nã đạn vào các toán quân Trung Quốc đang tiến lên vào ngày 23-2-1979, sáu ngày sau khi Bắc Kinh phát động một cuộc xâm lăng quy mô và hao tổn vào các tỉnh phía bắc Việt Nam. Trang sử ngắn ngủi mà đẫm máu, ngày nay được biết đến như là cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ Ba, gây tổn thất cho hàng chục ngàn sinh mạng trên hành tinh này chỉ trong thời gian chưa tới một tháng.

China, Vietnam, Border, Conflict
AFP / Getty Images

2- Trận quyết đấu: Trung Quốc Cộng sản đã viện trợ cho Việt Nam (hơn 15 tỉ đô la [1])  trong các cuộc chiến của nước này chống lại những kẻ chiếm đóng người Pháp và người Mỹ, nhưng sau đó Hà Nội đã thiết lập những mối gắn kết vững chắc với Liên Xô, địch thủ của Bắc Kinh. Sau khi Việt Nam phát động các cuộc tấn công vào nước Cambodia đồng minh của Trung Quốc và chiếm đóng nước này, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã công khai tuyên bố rằng ông muốn dạy cho người Việt Nam “một bài học.” China, Vietnam, Border, Conflict

Bettmann / Corbis

3- Đoàn kết, Quyết chiến: Lực lượng nòng cốt trong đảng Cộng sản cầm quyền của Việt Nam tập hợp tại Hà Nội, thủ đô Việt Nam, vào ngày 19-2-1979, biểu hiện thách thức cuộc xâm lược của Trung Quốc.

China, Vietnam, Border, Conflict
ZENTRALBILD / AFP / Getty Images

4- Đi tới chỗ chết: Những dân quân Trung Quốc tập trung tại huyện Giang Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, xếp hàng thành những đội khiêng cáng cứu thương để giúp trận đánh trên bộ suốt tuyến biên giới dài 1.40 km giữa Trung Quốc và Việt Nam. Ước tính có tới 4.000 binh lính Trung Quốc đã chết chỉ trong một trận đánh hai ngày đầu tiên.

China, Vietnam, Border, Conflict
AFP / Getty Images

5- Bị bắt quả tang: Các toán quân Việt Nam canh giữ tù binh Trung Quốc ngày 26-2-1979. Được luyện rèn qua hàng thập kỷ chiến tranh du kích và được trang bị kỹ thuật tân tiến nhất của Liên Xô, người Việt Nam đã chứng tỏ là quá mạnh trước Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), lực lượng có chiến lược vẫn còn tập trung vào lối dàn trận kiểu “biển người” gồm những dân nghèo đi lính, một chiến thuật được sử dụng gần ba thập kỷ trước trong thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

China, Vietnam, Border, Conflict
ZENTRALBILD / AFP / Getty Images

6- Trên đường: Những người Việt Nam lánh nạn trốn chạy khỏi lực lượng Trung Quốc đang đến gần tại tỉnh biên giới chiến lược Lạng Sơn. Vào ngày 5 tháng Ba, một ngày sau khi PLA xâm chiếm tỉnh lỵ, Bắc Kinh loan báo về một cuộc rút quân hoàn toàn.

China, Vietnam, Border, Conflict
AFP / Getty Images

7- Cây cầu tới chốn hư không: Theo sau cuộc rút quân của Trung Quốc, người Việt Nam ở tỉnh Lạng Sơn băng qua sông Kỳ Cùng trên những chiếc bè mảng dựng tạm thành cầu phao do chiếc cầu ban đầu đã bị sập. Cả Hà Nội và Bắc Kinh đều tuyên bố chiến thắng, cuộc chiến là một kinh nghiệm uốn nắn cho mọi bên liên quan.

China, Vietnam, Border, Conflict

8- Mộ của những người lính không được ai thương xót: Một “nghĩa trang liệt sĩ” tại tỉnh Vân Nam phía nam Trung Quốc. Tuy những số liệu thương vong vẫn còn không rõ ràng, các ước tính cho thấy ít nhất 20.000 binh lính Trung Quốc đã tử trận, trong khi số người chết của Việt Nam là dưới mười ngàn. Phương tiện truyền thông nhà nước của cả hai bên vẫn giữ im lặng trong dịp kỷ niệm 30 năm cuộc chiến này. Trong khi những căng thẳng đã lóe lên qua các tranh cãi về biên giới trong những năm tiếp theo, những người láng giềng Cộng sản, được kết nối với nhau qua hàng thế kỷ lịch sử, đã giấu đi những xích mích và giờ đây thích thú với những mối quan hệ kinh tế đầy ý nghĩa.

China, Vietnam, Border, Conflict
MARK RALSTON / AFP / Getty Images

Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


BBC

————————————————————————————————————

Việt Nam căng thẳng

trước ngày kỷ niệm

cuộc chiến

với Trung Quốc


Phạm Nga, BBC News

Thứ Hai, ngày 16-2-2009

Việt Nam đang đánh dấu ngày kỷ niệm cuộc chiến tranh bên giới với Trung Quốc bằng một sự im lặng không dễ chịu, khi các kênh thông tin nhà nước tránh không đề cập tới những sự kiện xảy ra 30 năm trước.

Vivienne Guo
I remember learning that the Vietnamese were so ‘bad and ungrateful’ that we needed to teach them a lesson
Vivienne Guo

Thế nhưng những tình cảm sục sôi có tính chất dân tộc chủ nghĩa đang được hiển lộ ra trên mặt bởi những kỹ niệm đớn đau.

Bà Hoàng Thị Lịch, 72 tuổi, nhớ như in cái buổi sáng ngày 17-2-1979 trong miền núi Cao Bằng, khi bà cùng gia đình thức giấc với một cảm giác nghẹt thở do hoảng hốt.

Khi bình minh vừa ló dạng, Trung Quốc đã phát động các cuộc tấn công tại một loạt vị trí của các tỉnh cực bắc Việt Nam với một màn phô trương đáng kinh ngạc về cái gọi là “làn sóng biển người” và hỏa lực pháo binh.

Gia đình bà Lịch phải vội vã sơ tán từ ngôi làng ngỏ thuộc huyện Hòa An, cùng với mười mấy gia đình dân tộc Tày khác.

Bà nhớ lại: “Chúng tôi được thông báo là phải chạy xuôi hướng nam… Tôi có thể nghe được tiếng súng ầm ĩ. Tôi đã sợ phát cứng cả người trong một lúc lâu mà không biết chuyện gì để làm.”

Gia đình bà Lịch đã chạy thoát an toàn.

Chỉ 18 ngày sau, cũng tại huyện Hòa An, theo tin tức thông báo thì quân Trung Quốc khi rút lui đã dùng dao rìu chém đến chết 43 người – hầu hết là phụ nữ và trẻ em.

Những hy vọng ngây thơ

Những cuộc tấn công của Trung Quốc đã nhắm vào lúc không chuẩn bị của người Việt Nam, bất chấp những tin đồn đại về một cuộc chiến được khởi xướng bởi nhà lãnh đạo khi đó của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình được lan truyền đi mấy tháng trong phạm vi giới chính trị Việt Nam.

Một cựu viên chức ngoại giao hàng đầu tại tòa đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh, ông Dương Danh Dy, đã cảnh báo từ đầu năm 1978 rằng mối quan hệ song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang xấu đi từng ngày.

Vào tháng 7-1979, sau cái điều mà Bắc Kinh xem là hành động ngược đãi đối với người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam, Trung Quốc đã ngưng những trợ giúp cho người láng giềng của mình, thúc đẩy Hà Nội ký kết một hiệp ước “hợp tác và hữu nghị” với Moscow ngay liền sau đó.

Cùng khoảng thời gian đó, Hà Nội tăng cường những nỗ lực của họ để lật đổ người đồng minh của Bắc Kinh, chế độ Mao-ít của Khmer Đỏ.

Cuộc xung đột đẫm máu giữa Việt Nam và Cambodia đã đánh dấu cuộc chiến tranh lần đầu tiên giữa hai quốc gia cộng sản.

Nhà lãnh đạo họ Đặng đã thề sẽ “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Ông Dương Danh Dy, ám chỉ tới một bản tin trên truyền hình của nhà lãnh đạo Trung Quốc (Đặng TB) vào tháng 12-1978, đã nhớ lại: “Tôi không bao giờ quên được vẻ mặt của ông ta khi ông ta mô tả Việt Nam như là một “tên cồn đồ”.

“Vào giai đoạn đó, tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng ‘thế là xong, một cuộc chiến tranh không thể nào tránh được nữa’, ông Dy nói.

“Nhưng sâu thẳm bên trong chúng tôi vẫn hy vọng, có lẽ do ngây thơ, rằng kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc trước đó rất gần gũi nhau và như thể anh em, họ [người Trung Quốc] sẽ không trở mặt đối với chúng tôi quá nhanh và quá mạnh mẻ như vậy.”

Bị cô lập

Thay vào đó, Bắc Kinh đã huy động hàng trăm ngàn binh lính và quân tình nguyện vào một chiến dịch quân sự lớn nhất của họ kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

Trong khi đó, Việt Nam đã bị rơi vào một tình thế khó khăn, phải đối phó với cuộc xung đột với người Cambodia và tái xây dựng lại một nền kinh tế gần như sụp đổ.

Vị cựu thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam, ông ta đang tại chức khi cuộc chiến tranh biên giới bắt đầu, đã nói rằng thứ chủ nghĩa biệt lập của đất nước ông (trước đó) đã làm cho quốc gia dễ bị tổn hại.

“Chúng tôi đã quá lệ thuộc vào những bạn đồng minh ý thức hệ của chúng tôi, và vào thời đó người đồng minh duy nhất mà chúng tôi có là Liên Xô,” ông Trần Quang Cơ nói.

“Là một nước nhỏ cận kề một nước lớn, chúng tôi cần phải có nhiều bạn hơn. Chúng tôi cần mở rộng các mối quan hệ của mình và đa dạng hóa các mối quan hệ của chúng tôi.” [1]

“Cuộc chiến để dạy dỗ” của Trung Quốc đã kéo dài chỉ hơn hai tuần, với cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng.

Mặc dù còn phải bàn cãi, song những ước tính hiện đang cho thấy rằng có tới 60.000 người đã thiệt mạng của cả hai bên.

Cũng như những mất mát về sinh mạng, sự tin cậy và tình nghĩa anh em mà hai đảng cộng sản này từng tranh đấu để xây dựng trong suốt nửa thế kỷ trước đã phải chịu một cú đấm dữ dội.

Trong cuốn hồi ký Nhớ lại và Suy Nghĩ của mình, ông Trần Quang Cơ đã trích dẫn lời nói của nhà lãnh đạo vừa qua đời của Việt Nam ông Võ Văn Kiệt khi phát biểu vào năm 1991 – là năm mà hai nước nầy bình thường hóa quan hệ — rằng Trung Quốc “luôn luồn là một cái bẫy”.

‘Thỏa hiệp quá đáng’

Thái độ nghi ngờ lẫn nhau đã lay lắt qua nhiều năm, đôi lúc lại loé lên khi những cuộc tranh cãi giữa đôi bên diễn ra.

Việt Nam đã nhìn thấy những cuộc phản kháng đông đảo vào tháng 12-2007, khi được tin Trung Quốc loan báo những kế hoạch thiết lập một đơn vị hành chính để quản lý các quần đảo Trường Sa và hoàng Sa – những vùng lãnh thổ đã được tuyên bố quyền bởi Việt Nam.

Một cuộc biểu tình nhỏ hơn đã xảy ra khi ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đến Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, những phản kháng như vậy là chuyện không thường xuyên.

Nội đang cố gắng rất nhiều để không làm nguy hiểm những quan hệ nồng ấm với người láng giềng khổng lồ của họ. Cả Việt Nam và Trung Quốc dường như không muốn lặp lại những kinh nghiệm cay đắng của năm 1979.

Với tăng trưởng thương mại song phương nhanh chóng phát triển và một hiệp định biên giới trên đất liền được mong đợi sẽ sớm thông qua lần cuối sau 35 năm thương thảo, một số người cho rằng các mối quan hệ giữa hai quốc gia này hiện tốt đẹp chưa từng thấy.

Chính quyền Việt Nam bởi vận đang theo dõi chặt chẽ những gì mà các phương tiện truyền thông viết về các mối quan hệ Việt nam-Trung Quốc – đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm như chủ quyền về biên giới và lãnh thổ.

“Trung Quốc đang ngày càng mạnh hơn nên Việt Nam cần học cách khôn ngoan hơn để làm sao cùng tồn tại được với họ,” theo lời nhà ngoại giao cao cấp Lê Công Phụng.

Vào tuần trước, tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị đã cho đang tải trên trang web của mình một bài báo của nhà báo nổi tiếng Huy Đức về cuộc chiến biên giới năm 1979. Bài báo đã bị gỡ xuống chỉ trong vòng có vài giờ [nhưng nó vẫn còn nguyên trên tờ báo giấy - Ba Sàm chú thích].

“Chúng tôi đã và đang thủy chung với lời hứa của chúng tôi là không đưa ra những sự kiện cũ vì lợi ích của mối quan hệ giữa hai nước,” theo lời ông Dương Danh Dy, người giờ đây là một trong những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về Trung Quốc.

Lập trường chính thức của nhà nước đã và đang bị công chúng chỉ trích là quá nhu nhược và quá thỏa hiệp.

Các diễn đàn trên mạng Internet và những blog cá nhân tràn ngập những lời bình luận chống Trung Quốc khi ngày kỷ niệm cuộc chiến biên giới tới gần.

Trên tờ tạp chí Du Lịch, một bài tiểu luận gần đây vướt qua khỏi hệ thống kiểm duyện nhà nước, đã ca ngợi “lòng yêu nước trong sáng và tinh thần tự hào” của những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí minh.

Khi ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa này bùng cháy lên, câu hỏi là liệu nó có lan tỏa như ngọn lửa hay không sẽ phụ thuộc vào những chính sách của cả hai nhà nước đối với nhau.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Các bạn suy nghĩ xem cán bộ ta luôn luôn gọi Mỹ là bọn xâm lược, đúng không? Rất nhiều bạn nghe vậy cứ nói theo y chang “đế quốc Mỹ là bọn xâm lược “… nhưng các bạn ấy không hề suy nghĩ điều ấy có đúng hay không. Các bạn đọc xem đoạn dưới đây rồi suy nghĩ để luyện tập tính phản biện của mình và viết comment trả lời xem sao :)

Canada dân số 33 triệu người, ở sát bên “đế quốc Mỹ xâm lược” có dân số là 320 triệu người. Như vậy Canada có dân số bằng 1/10 của Mỹ. Mexico có 106 triệu người ở sát nách với đế quốc Mỹ xâm lược, với dân số gần bằng 1/3 của Mỹ.

Nếu Mỹ là bọn chuyên đi xâm lược thì Mỹ sẽ chiếm đất đai, tài nguyên, dầu mỏ …của 2 nước nầy cho gần gủi, đúng không?  Vậy thì tại sao 50 năm qua, Mỹ không xâm lược chiếm đất đai của 2 nước nầy mà chạy qua VN làm gì cho xa xôi?

Thêm một cái cớ để cho Mỹ tìm cách gây hấn và xâm lược  là nhân dân  Mỹ bị mất 4 triệu việc làm bởi “chính sách thâm độc” của Canada và Mexico như sau:  Thực tế 50-60 năm qua, Canada đưa ra chính sách chính phủ bảo hiểm sức khỏe cho toàn dân, các công ty không phải trả tiền bảo hiểm sức khỏe cho công nhân và gia đình. Biết vậy, nên 3 hãng xe hơi của Mỹ (Ford, GM, Chrysler, kế cả Toyota, Honda, Nissan, Mazda…) và hàng ngàn công ty Mỹ đã đóng cửa hãng ở Mỹ, cho công nhân Mỹ nghĩ việc, và gom đồ đạc máy móc chở qua Canada thuê nhân công Canada và trả lương ít hơn cở chừng 10%, đã vây lại không cần trả tiền bảo hiểm sức khỏe cho công nhân (lợi được khoảng $6000-7.500/1 người/ năm).

Mexico thì không bảo hiểm cho ai hết, đau ốm cứ vào nhà thương tư, không có tiền ráng chịu…hàng ngàn hãng xưởng của Mỹ dời qua Mexico và lấy đi của Mỹ khoảng 1,5- 2 triệu nhân công.

Nếu Mỹ là bọn xâm lược, thì tại sao không nhân cơ hội công nhân Mỹ bị mất việc làm và sẵn 2 nước nầy có nguồn tài nguyên rất nhiều…tại sao Mỹ không tìm cách lấn đường biên giới, dời cột mốc, và gây hấn chiếm 2 nước Canada và Mexico nầy cho gọng?

Điều quan trọng là chọn bạn mà chơi. Ai mà chơi với quĩ dữ thì bản thân của người ấy cũng là ma bùn chứ không tốt lành gì đâu.

Việt Nam có cái tài nguyên gì quí giá quá đến nổi Mỹ cần phải xâm lượt chiếm lấy miền Nam cho bằng được, nên trung bình Mỹ phải bỏ ra hơn 22 tỉ đô la / 1 năm (số tiền tổng cộng Mỹ đã bỏ ra trong chiến cuộc Việt Nam là 550-600 tỉ đô la theo thời giá ngày nay)  và thiệt hại 58 ngàn người và hàng trăm ngàn người bị thương tật?

—————————————————

BBC

———–

Vietnam tense as China war is mark ed

By Nga Pham
BBC News

Monday, 16 February 2009

Vietnam is marking the anniversary of its border war with China with an uneasy quiet, as official channels avoid mentioning the events of 30 years ago.

But simmering nationalistic emotions are being brought to the surface by painful memories.

Hoang Thi Lich, 72, remembers vividly the morning of 17 February 1979, when she and her family woke to a suffocating sense of panic in the mountains of Cao Bang.

As dawn broke, China launched attacks on a number of positions in Vietnam’s northernmost provinces with a staggering display of so-called “human waves” and artillery power.

Mrs Lich‘s family was quickly evacuated from her small hamlet in Hoa An district, along with a dozen other ethnic Tay families.

She recalls: “We were told to run southwards… I could hear loud gunfire. I was so frightened I froze for a long while, I did not know what to do.”

Mrs Lich‘s family escaped to safety.

Just 18 days later, in the same Hoa An district, retreating Chinese soldiers reportedly hacked to death 43 people – mostly women and children.

Naive hopes

The Chinese attacks caught the Vietnamese off-guard, despite rumours of a war initiated by China’s then-leader Deng Xiaoping circulating for months within Vietnamese political circles.

A former top official at Vietnam’s embassy in Beijing, Duong Danh Dy, warned from early 1978 that the bilateral relationship between Hanoi and Beijing was worsening by the day.

In July 1978, after what Beijing considered mistreatment of ethnic Chinese living in Vietnam, China halted assistance to its neighbour, prompting Hanoi to sign a “co-operation and friendship” pact with Moscow soon after.

Around the same time Hanoi intensified its efforts to topple Beijing’s ally, the Khmer Rouge’s Maoist regime.

The bloody Vietnam-Cambodia conflict marked the first ever war between two communist nations.

Chairman Deng vowed to “teach Vietnam a lesson”.

Vietnam‘s Duong Danh Dy, refer ring to a televised news briefing by the Chinese leader in December 1978, recalled: “I would never forget his face when he described Vietnam as a ‘hooligan’.

“At that stage, we all thought ‘that’s it, a war is no longer avoidable’,” Mr Dy said.

“But deep down inside we still hoped, perhaps naively, that since Vietnam and China had been so close and brotherly, they [the Chinese] wouldn’t turn on us so fast and so strongly.”

Isolation

Instead, Beijing mobilised hundreds of thousands of troops and volunteers in its largest military operation since the Korean War.

Vietnam, meanwhile, was in a difficult situation having to deal with its Cambodian conflict and reconstructing a near-collapsed economy.

Vietnam‘s former first deputy foreign minister, who was in office when the border war began, said his country’s isolationism had left it vulnerable.

“We were too dependent on our ideological allies, and by that time the only ally we had was the Soviet Union,” said Tran Quang Co.

“Being a small country living next to a big country, we needed more friends. We needed to expand our ties and diversify our relations.”

China‘s “pedagogical war” lasted just over a fortnight, with both Vietnam and China claiming victory.

Though disputable, estimates suggest that up to 60,000 lives were lost on both sides.

As well as the loss of life, the trust and fraternity that the two communist parties had struggled to build during the previous half a century suffered a severe blow.

In his memoir Memories and Thoughts, Tran Quang Co cited Vietnam’s late leader Vo Van Kiet as saying in 1991 – the year the two countries normalised their relationship – that China “was always a trap”.

‘Too compromising’

The mutual distrust has lingered through the years, occasionally flaring when bilateral disputes occur.

Vietnam saw mass protests in December 2007, when China reportedly announced plans to establish an administrative unit to govern the Spratly and Paracel islands – territories claimed by Vietnam.

A smaller demonstration took place when the Beijing Olympic torch reached Vietnam’s Ho Chi Minh City.

However, such protests are uncommon.

Hanoi is trying hard not to jeopardise the warming ties with its giant neighbour. Neither Vietnam nor China seem to wish to repeat the bitter experience of 1979.

With bilateral trade rapidly growing and a land border agreement expected to be finalised soon after 35 years of negotiations, some say relations between the two are the best they have ever been.

The Vietnamese government is therefore keeping a close eye on what the media write about Vietnam-China relations – especially sensitive issues such as border or territorial claims.

“China is getting stronger so Vietnam needs to learn more [cleverly] how to co-exist with it,” said senior diplomat Le Cong Phung.

Last week, the newspaper Saigon Tiep Thi published an article by well-known journalist Huy Duc on the 1979 border war on its website. The story was removed within hours.

“We have been faithful to our promise not to bring up old events for the sake of the relationship between the two countries,” said Duong Danh Dy, who is now one of Vietnam’s leading China experts.

The official stance has been condemned by the public as too soft and too compromising.

Internet forums and personal blogs are flooded with anti-China comments as the anniversary of the border war approaches.

In the Du Lich newspaper, a recent essay slipped past the state censors, praising the “pure patriotism and proud spirit” of the anti-Chinese protesters in Hanoi and Ho Chi Minh City.

As this nationalistic flame burns, the question of whether it will spread like wildfire depends on both governments’ policies towards each other.

Đăng trong TQ xâm lược '79 | 17 phản hồi »

72:Miền Bắc VN Vẫn Nhớ Cuộc Xâm Lược của TQ năm 1979(3)

Đăng bởi hoangtran204 on 17/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


Miền Bắc Việt Nam


vẫn nhớ đến cuộc


xâm lược năm 1979


của Trung Quốc


Aude Genet, Hãng thông tấn Pháp Agence France Presse [AFP]

Thứ Ba, ngày 17-2-2009


LẠNG SƠN: Người dân Lạng Sơn vẫn còn nhớ tới sự tàn phá khi quân đội Trung Quốc tràn qua biên giới tấn công như vũ bão 30 năm trước.

Không một tòa nhà nào của chính quyền còn đứng vững. Những xác chết bị bỏ lại đang trôi nổi trên sông.

Thế nhưng giờ đây thành phố phía bắc Việt Nam này là một khu buôn bán hưng thịnh. Và trong khi mối nghi ngờ về người láng giềng khổng lồ của họ vẫn còn đó, thì những mối liên kết thương mại gia tăng qua biên giới đang cải thiện số phận của nhiều người Việt Nam.

“Nhờ vào phát triển kinh tế và thương mại ở đây, cuộc sống của chúng tôi đang trở nên tốt hơn,” theo lời một phụ nữ không cho biết tên vì một lý do đơn giản-bà kiếm tiền bằng cách buôn lậu hàng giả qua biên giới.

Để được trả hơn 1 đô la một chút, những người buôn lậu phải gùi khoảng 50 cân hàng phía sau lưng và băng qua biên giới trên những con đường núi hiểm trở – thỉnh thoảng họ phải đi vài lần trong một ngày.

Bất chấp sự kiểm soát ngày càng gia tăng của hải quan, người phụ nữ này nói là bà đã kiếm đủ tiền để mua một căn nhà.

Mọi thứ kém phần vui tươi hơn vào năm 1979, khi Lạng Sơn còn là một trong những vùng phải gánh chịu sức mạnh tàn phá trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng mà hủy diệt khủng khiếp đó.

Sau nhiều tháng lời qua tiếng lại và đụng độ vũ trang, Trung Quốc phát động một cuộc tấn công quy mô chống lại Việt Nam để dạy cho người đồng minh cộng sản của họ “một bài học” về việc đang trở nên quá độc lập trước những ý muốn của Bắc Kinh.

Cuộc chiến kéo dài chỉ một vài tuần, thế nhưng đã để lại đàng sau một mối hồ nghi dai dẳng về người Trung Quốc, mà nó chỉ được bù đắp phần nào bởi những liên hệ thương mại sâu đậm thêm.

“Mối quan hệ thương mại này là không cân xứng,” theo lời của ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam và là giáo sư Học viện Quốc phòng Úc.

“Việt Nam, như là một đối tác yếu thế hơn, luôn đặc biệt nhạy cảm với bất cứ việc gì Trung Quốc đang làm. Tình trạng yếu thế của Việt Nam làm tăng thêm mối ngờ vực và không tin cậy,” ông nói.

Nhưng nếu như có những mối nghi ngại về nước Trung Quốc ở đây, thì có vẻ như không có những lo âu về hàng hóa của Trung Quốc. Khu vực biên giới tràn ngập mọi thứ từ những loại quần áo cơ bản cho tới những chiếc điện thoại di động và hàng điện tử đời mới nhất – tất cả đều được sản xuất ở Trung Quốc.

Các giới chức địa phương cho biết là buôn bán qua biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đã tăng vọt từ khoảng 200 triệu đô la một năm vào đầu những năm 1990 lên 1,5 tỉ đô la năm 2008 – với lượng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc hầu như chiếm toàn bộ.

“Trong thời gian diễn ra cuộc chiến, mọi người ở đây căm thù người Trung Quốc,” đó là nhận xét của một phụ nữ cũng giấu tên. “Nhưng kể từ đó, cảm giác của chúng tôi từ từ trở lại bình thường.”

Các giới chức Việt Nam thường từ chối đề cập tới cuộc chiến đó và các mối quan hệ với Trung Quốc có vẻ như nằm trong sự sắp đặt tuyệt vời – tuy nhiên đề tài này hầu như là điều cấm kỵ trên hệ thống truyền thông nhà nước.

Trong khi một số vấn đề còn tồn tại dai dẳng, theo Ramses Amer, một giáo sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương của trường Đại học Stockholm, thì những mối liên hệ là vững chãi hơn nhiều so với những năm trước.

“Có nhiều bước tiến bộ, thậm chí trong những đề tài biên giới có tính chất khó khăn,” ông Amer nói.

Dân chúng ở đây có lẽ không bao giờ quên được những năm tháng dài chiếm đó của quân Trung Quốc hay nhiều cuộc đụng độ trong quá khứ, và những vấn đề về lãnh thổ vẫn nuôi sống những mối ngờ vực nào đó.

Trong khi hai nước cuối cùng đã đánh dấu xác định đường biên giới trên bộ, họ vẫn có những tranh đua và có những khẳng định chủ quyền bộc lộ nhiều xúc động về các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong vùng Biển Đông.

“Không có vấn đề nào nhạy cảm hơn là những khẳng định chủ quyền mang tính tranh chấp của họ đối với những phần trên Biển Đông,” ông Thayer nhận xét. “Cuộc tranh cãi này dấy lên câu hỏi dễ gây xúc động về di sản để lại của tổ tiên và chủ quyền quốc gia.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————————————————————————-

The Manila Times

———

Northern Vietnam still
remembers China’s 1979 invasion

By Aude Genet Agence France Presse

Tuesday, February 17, 2009

LANG SON: The people of Lang Son still remember the devastation when Chinese troops came storming across the border 30 years ago.

Not a single government building was left standing. The bodies of the dead were left floating in the river.

But now this northern Vietnam town is a flourishing trade area. And while suspicion of their giant neighbor remain s, the growing trade links across the border are improving the lot of many Vietnamese.

“Thanks to economic development and the trade here, our life is getting better,” says one woman, who declines to give her name for a simple reason—she makes her money smuggling counterfeit goods across the border.

For pay of little more than a dollar, the smugglers strap around 50 kilos (110 pounds) on their backs and make the difficult mountain trek across the border—sometimes several times a day.

Despite an increase in customs controls, the woman says she makes enough to have bought a house.

Things looked less rosy in 1979, when Lang Son was one of the regions that bore the brunt of the devastation in the brief but destructive war.

After months of verbal sparring and armed clashes, China launched a massive offensive against Vietnam to teach its communist ally “a lesson” for becoming too independent for Beijing’s liking.

The war lasted only a few weeks, but left behind a lingering mistrust of the Chinese that has only partly been offset by the deepening links of trade.

“The relationship is asymmetric,” says Carl Thayer, a Vietnam expert and professor at the Australian Defense Force Academy.

“Vietnam, as the weaker partner, is always extremely sensitive to whatever China does. Vietnam’s weakness gives rise to suspicion and distrust,” he says.

But if there are misgivings about China here, there seem to be no worries about Chinese goods. The border area is flooded with everything from basic clothes to the latest in mobile phones and electronics—all made in China.

Local officials say cross-border trade in Lang Son province has jumped from around $200 million a year in the early 1990s to $1.5 billion in 2008—with imports of Chinese goods accounting for almost all of that.

“During the war, everyone here hated the Chinese,” says one woman, who also declined to be named. “But since then, our feelings have slowly been getting back to normal.”

Vietnamese officials normally decline to mention the war and relations with China would seem to be in excellent shape — though the subject is almost taboo in official communication.

While some problems persist, says Ramses Amer, a professor at Stockholm University’s Center for Pacific Asia Studies, ties are much sounder than they were in years past.

“There has been a lot of progress, even on difficult border issues,” Amer says.

People here may never forget the long years of Chinese occupation or the numerous clashes of the past, and territorial matters keep a certain amount of mistrust alive.

While the two countries have finally demarcated their land border, they still have competing and emotionally charged claims over the Spratlys and Paracel islands in the South China Sea.

“No issue is more sensitive than their conflicting claims to features in the South China Sea,” says Thayer. “This dispute raises the emotive question of patrimony and national sovereignty.”

Đăng trong TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 4 phản hồi »

71:Phải tưởng niệm Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979

Đăng bởi hoangtran204 on 16/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


The Epoch Times

————————————————————————————————————

Vì sao Việt Nam


cần phải nhớ ngày


17 tháng Hai


Mối nguy hiểm nằm trong việc quên đi một cuộc chiến tàn khốc

Phạm Hồng Sơn

Ngày 15-2-2009


NỘI – Ngày 17 tháng Hai đánh dấu kỷ niệm lần thứ 30 ngày nổ ra cuộc Chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam.

Cuộc chiến đã diễn ra ngắn ngủi – chỉ khoảng một tháng – song quá đẫm máu và tàn khốc hàng chục ngàn người đã bị cướp đi mạng sống của họ. Nhiều phụ nữ Việt Nam đã bị hãm hiếp, nhiều phụ nữ và trẻ em đã bị giết hại do bị chém bằng rìu hoặc dao rừng tới chết, và gần như tất cả cơ sở hạ tầng dân sự (nhà máy điện, cầu cống, đường sá,…) trên sáu tỉnh biên giới Việt Nam đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong khi tôi viết ra điều này, chỉ còn ít hôm nữa là tới ngày kỷ niệm lần thứ 30 cuộc chiến đó, thế nhưng không có bài báo nào trên phương tiện truyền thông nhà nước Việt Nam nhắc nhở sự kiện đó. Trong vài năm gần đây, các phương tiện truyền thông nhà nước ở Việt Nam đã và đang duy trì một thái độ nhút nhát hướng tới những đề tài liên hệ tới Trung Quốc thuộc loại đó cũng như là bản thỏa thuận về biên giới có tính chất bí mật vào năm 1999, và những quần đảo hay các mốc biên giới phải san sẻ hoặc bị xâm lấn bởi Trung Quốc.

Nhiều nhà hoạt động và các blogger đã  cố gắng nói về tội ác của Trung Quốc, thì đã và đang bị giam cầm hoặc đe doạ. Rõ ràng là những người lãnh đạo đương thời của Việt Nam không muốn vinh danh kỹ niệm bằng cách tổ chức buổi lễ dành cho một sự kiện như cuộc chiến tranh nầy; họ đang giữ im lặng và cố bắt những người khác phải câm họng đối diện với quyền bá chủ của Trung Quốc.

Những mối nguy hiểm của sự im lặng

Có ba mối nguy hiểm kết quả từ sự im lặng đó.

Trước hết, một mối nguy hiểm đang diễn ra bên trong nước Việt Nam. Một yếu tố quan trọng đã tạo dựng nên tính hợp pháp dành cho sự lãnh đạo đơn độc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong năm thập kỷ qua đã là những nỗ lực của đảng để  bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Bất kể những quan điểm khác nhau có thể có về hai cuộc đấu tranh chính trong thế kỷ 20 tại Việt Nam, một với người Pháp và một với chế độ được người Mỹ yểm trợ, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã nắm quyền lãnh đạo và trở thành kẻ chiến thắng.

Trong lịch sử lâu dài của Việt Nam, niềm hãnh diện của dân tộc nằm trong thái độ không bao giờ cúi mình  trước những kẻ tấn công hay xâm lược, đặc biệt trước kẻ xâm lược phương Bắc truyền thống. Vài nhà lãnh đạo Việt Nam trong lịch sử từng sang nước láng giềng phương Bắc nhờ trợ giúp chống lại những cuộc nổi dậy của quần chúng đã và đang bị phản đối gay gắt.

Vả chăng, chiến lược của ĐCSVN trong việc đấu tranh cho quyền lực là luôn tìm kiếm mọi cơ hội để buộc tội các đối thủ về hành động hợp tác với một kẻ thù nước ngoài. Thế nhưng, mỉa mai thay, giờ đây chính là ĐCSVN họ đã và đang chấp nhận cho nhiều phần đất đai, biển, và hải đảo bị mất vào tay Trung Quốc trong năm chục năm qua (1958-2008).

ĐCSVN cần phải nhận ra rằng một sự phẫn nộ sôi sục đang hiện hữu  giữa những người dân, những người đang ý thức được về những hành động nhượng bộ này.

Một cựu bộ đội đã từng chiến đấu trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam năm 1979 gần đây đã viết trên blog riêng của Osin rằng: “Cái mà chúng ta gọi là một “chiến thắng” đã phải trả cái giá bằng máu chảy đầu rơi … Và 30 năm đã trôi qua kể từ khi chúng tôi thẳng tiến lên biên giới phía bắc với lòng căm thù, thế nhưng những hải đảo vẫn đang bị mất và quốc gia nầy  vẫn phải im lặng.”

ĐCSVN giờ đây đang cố bằng mọi nỗ lực che giấu những nhượng bộ của họ trước kẻ xâm lược phương Bắc. ĐCSVN có lẽ đã thành công trong việc bịt miệng dân chúng tới mức độ nào đó, nhưng theo thời gian, với sự trợ giúp của một mạng internet huyền diệu,  sự thực sẽ đến với mỗi người dân. Và tình trạng yên lặng hiện nay sẽ trở nên nguy hiểm như một nắp vung đậy chặt trên một chiếc nồi nước nóng đang đầy hơi.

Những tham vọng của chế độ Trung Quốc

Mối nguy hiểm thứ hai (của sự im lặng của chính phủ VN) là khích lệ những tham vọng đế quốc của chế độ cai trị ở Trung Quốc.

Trung Quốc có đất đai rộng lớn và có nền văn hóa và lịch sử vĩ đại. Trong quá khứ xa xưa Trung Quốc đã từng là một siêu cường trong nhiều thế kỷ. Bởi thế  một tham vọng lấy lại hình ảnh quá khứ của một siêu cường dành cho một nước Trung Hoa hiện đại là có tính chất tự nhiên và dễ hiểu.

Thế nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), đảng vẫn nắm quyền lực độc nhất ở Trung Quốc từ năm 1949, đã thực hiện một số đường lối sai lầm và tai hại nhằm đạt cho được tham vọng này.

Trong kỷ nguyên của Mao từ năm 1949 đến 1976, Trung Quốc đã chỉ đạo hàng loạt những chính sách điên rồ như vậy như “Cuộc vận động chống hữu khuynh”(1957), “Bước Đại nhảy vọt” (1958-1960), và “Cách mạng Văn hóa” (1966-1969). Các cuộc vận động này chỉ đem tới chết chóc cho hàng chục triệu người dân và một sự tàn phá khổng lồ cho nền văn hóa cổ và môi trường tự nhiên của Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình trở thành người kế tục Mao vào năm 1978 và đã mở cửa nền kinh tế Trung Quốc và tìm kiếm công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện vẫn đang chứa đựng trong chính họ những mầm mống của một thảm hoạ âm ỉ, tựa như Nhật Bản trong thời đại Thiên Hoàng  hay nước Đức trong thời kỳ hậu Đệ nhất Thế chiến đã từng đối diện.

Đức và Nhật, đã phát triển những nền kinh tế hùng mạnh bằng cách áp dụng kiến thức và bí quyết khoa học, cả hai nước được lãnh đạo bởi những nhà chính trị độc đoán lao vào một nổ tính đầy thảm khốc giành quyền bá chủ trong cuộc Đệ nhị Thế chiến.

Vì vậy thái độ im lặng hay tuân phục của ĐCSVN trước quyền bá chủ về phía nam của Trung Quốc có hiệu quả khuyến khích  ĐCSTQ để dám  liều lĩnh đi xa hơn nữa trên con đường sai lầm và tai hại.

Gây mất ổn định

Mối nguy hiểm thứ ba là gây mất ổn định cho hòa bình trong khu vực và hòa bình thế giới. Trong lịch sử dài lâu của những thời kỳ sớm sủa hơn, chiến tranh không phải là một hiện tượng hiếm hoi đối với hai quốc gia Việt Nam và người láng giềng phương Bắc. Gần như mỗi một  triều đại ở Trung Quốc đều đã làm ít nhất là một cuộc xâm lược vào người láng giềng Việt Nam ở phương nam của họ.

Thế nhưng các nhà lãnh đạo tiền nhân Việt Nam, cùng với dân chúng, đã từng luôn kiên quyết bảo vệ chủ quyền và danh dự của mình, xuyện qua những nhà lãnh đạo họ đã đi theo một đường lối ngoại giao khéo léo hướng về người láng giềng khổng lồ sau nhiều lần chiến thắng (trên chiến trường). Vì vậy trong nhiều thế kỷ, tinh thần kháng cự của người dân Việt Nam đã làm nên một tấm lá chắn không thể nào khuất phục được đối với các quốc gia Đông-Nam châu Á chống lại cuộc xâm lược của phương Bắc.

Nhưng giờ đây những người lãnh đạo đương thời của Việt Nam, ĐCSVN, đã không chịu đi theo sự khôn ngoan của tổ tiên họ và tấm lá chắn lịch sử mà Việt Nam đã cung cấp cho hòa bình của thế giới và trong khu vực đang bị đập nát.

Một con đường thoát

Vào thời điểm khủng hoảng kinh tế hiện nay, người dân có lẽ ít quan tâm tới những gì khác ngoài chuyện kiếm tiền. Vì vậy, một cuộc chiến tranh ngắn ngủi như cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nổ ra cách đây 30 năm có thể không còn lôi kéo sự chú ý nữa. Tuy nhiên, tham vọng bá chủ của kẻ tấn công đó vẫn còn hung tợn  và dường như còn mạnh mẽ hơn.

Quan trọng hơn nữa, kẻ tấn công nầy đang cư xử một cách hung hăng không phải chỉ đối với người ngoài mà còn với cả người trong nước, như việc những nhà hoạt động dân chủ trong nước Trung Quốc đã phải đối mặt với hành động đàn áp.

Cùng lúc với nhiều người Trung Quốc ngày nay đang kêu gọi cho dân chủ, nhiều người Việt Nam cũng đã hành động như vậy. Dân chủ đã chứng tỏ là giải pháp tốt nhất để giải quyết bất cứ cuộc tranh chấp hoặc khó khăn bất ổn nào mà không cần phải dùng tới bạo lực và là cơ chế tốt nhất để xây dựng sự hài hòa trong xã hội và sự thịnh vượng của quốc gia trong một nền hoà bình bền vững.

Một bước nhỏ hướng tới việc đem nền dân chủ cho Việt Nam và cho Trung Quốc là hãy nói thẳng ra ý nghĩa của ngày 17 tháng Hai.


Bác sĩ Phạm Hồng Sơn vào đầu năm 2002 đã dịch sang tiếng Việt bài báo “Thế nào là Dân chủ?” đã được đưa lên một trang web của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Bị kết án 13 năm tù, ông đã trải qua 4 năm rưỡi trong nhà giam và đã bị quản thúc tại gia ở Hà Nội kể từ khi được trả tự do vào tháng Tám năm 2006. Tác giả của nhiều bài tiểu luận trên mạng tập trung vào những chủ đề đáng quan tâm của đất nước về chính trị và xã hội, năm 2003 và 2008 ông là một trong những người thắng giải   của tổ chức Giám sát Nhân quyền Human Rights Watch Hellmann/Hammet, đã được trao tặng giải thưởng dành cho những nhà văn đang chịu đựng những hành động đàn áp về chính trị.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


————————————————————————————————

The Epoch Times

———–

Why Vietnam Must Remember February 17

Danger lies in forgetting a cruel war

By Pham Hông Son

Feb 15, 2009

HANOI—February 17 marks the 30th anniversary day of the outbreak of the Sino -Vietnamese War. It was short—just about a month—but so bloody and cruel that tens of thousands of people lost their lives. Many Vietnamese women were raped, many women and children were killed by being hacked to death with axes or forest knives, and nearly all the civilian infrastructure in six border provinces of Vietnam was completely destroyed.

As I write this, only a few days remain before this 30th anniversary of this war, but no articles in Vietnam’s official media recall this event. In several recent years, official media in Vietnam have maintained a timid behavior towards such China-related issues as the secret border agreement in 1999, and islands or landmarks shared or occupied by China.

Many activists and bloggers who tried to speak out about China’s evil have been imprisoned or intimidated. It is clear that the incumbent leaders of Vietnam do not want to commemorate such an event as this war; they are keeping silent and attempting to silence others in the face of China’s hegemony.

The Dangers of Silence

Three dangers result from that silence.

First, a danger occurs inside Vietnam. An essential factor that made up the legitimacy for Communist Party of Vietnam’s sole leadership in the last five decades has been its efforts to defend national sovereignty.

Whatever the different opinions may be about the two major struggles in the twentieth century in Vietnam, one with the French and the other with the American-backed regime, the Communist Party of Vietnam (CPV) took the lead and became the winner.

In the long history of Vietnam, the nation’s pride lay in never bending before the attacker or invader, especially before the traditional Northern invader. A few Vietnamese leaders in history who went to the Northern neighbor for help against popular uprisings have been condemned severely.

Moreover, the CPV’s strategy in struggling for power was always to find every opportunity to accuse opponents of co-operating with a foreign enemy. But, ironically, now it is the CPV who has allowed many of Vietnam’s lands, seas, and islands to be lost into China’s hand over the last five decades.

The CPV must have observed that a simmering indignation exists among people who are aware of these concessions. A veteran soldier who fought in the Sino-Vietnamese war in 1979 recently wrote in the private blog Osin: “What we call a ‘victory’ had to be paid for with blood and human heads. … And 30 years have passed since we advanced furiously straight to the northern border, but islands are still lost and the country is still silent.”

The CPV is now trying every effort to hide their concessions to the Northern invader. The CPV may succeed in silencing people to some extent, but over time, with the support of a sophisticated Internet, the truth will come to every person. And the current silence will become as dangerous as a tight lid on a hot steaming pot.

Ambitions of the Chinese Regime

The second danger is to encourage the Chinese regime’s imperial ambitions. China is vast in geography and great in culture and history. In the far past China was for centuries a superpower. So an ambition to bring back the past image of a superpower for a contemporary China is understandable and natural.

But the Chinese Communist Party (CCP), which has held sole rule over China since 1949, took several wrong and disastrous ways to achieve this ambition. In the Mao era from 1949-1976, China conducted a series of such paranoid policies as the “Anti-rightist campaign”(1957), the “Great Leap Forward” (1958-1960), and the “Cultural Revolution” (1966-1969). These campaigns only brought the death of tens of millions of people and a huge devastation of China’s ancient culture and natural environment.

Deng Xiaoping became Mao’s successor in 1978 and opened up China’s economy and sought modern technology. However, China contains within itself the seeds of an insidious disaster, such as Japan in the Meiji era or Germany in the post-WWI period encountered. Germany and Japan, which developed powerful economies by applying scientific knowledge and know-how, were both led by authoritarian politics into a catastrophic attempt at hegemony –World War II.

So the silent or compliant behavior of the CPV before China’s hegemony southward has the effect of urging the CCP to venture further on a wrong and disastrous path.

Destabilizing

The third danger is to destabilize the regional and world peace. In the long history of earlier times, war was not a rare phenomenon for the two countries Vietnam and its Northern neighbor. Nearly every dynasty in China carried out at least one invasion into its southern neighbor Vietnam.

But Vietnam’s leaders, together with their people, were always determined to defend its sovereignty and its honor, though the leaders had to conduct a skillful diplomacy toward their giant neighbor after any victories. So for several centuries, the Vietnamese people’s resistant spirit made an indomitable shield for South-East Asia nations against Northern invasion. But now Vietnam’s contemporary leaders, the CPV, have failed to follow their ancestors’ wisdom and the shield Vietnam historically provided for regional and even world peace is being broken up.

A Way Out

In a time of economic crisis, people may neglect to care about anything other than making money. Thus, a brief war like the Sino-Vietnamese war that broke out 30 years ago may no longer draw much attention. However, the attacker ’s desire for hegemony remains fierce and appears stronger.

More importantly, the attacker behaves aggressively not just toward the outsider but toward the insider, as democracy activists inside China face suppression. Just as many Chinese are today calling for democracy, so are many Vietnamese. Democracy has proven to be the best solution to settle any dispute or trouble without violence and is the best mechanism to build social harmony and national prosperity in a durable peace.

One small step toward bringing democracy to Vietnam and to China is to speak out about the meaning of February 17.

Dr. Pham Hông Son in early 2002 translated into Vietnamese the article “What is Democracy?” that was posted on a website of the U.S. embassy in Vietnam. Sentenced to 13 years in prison, he spent 4.5 years in prison and has been under house arrest in Hanoi since his release in August 2006. Author of many on-line essays focusing on political and social subjects of national interest, in 2003 and 2008 he was one of the winners of Human Rights Watch Hellmann/Hammet grants, awarded to writers suffering political persecution.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, TQ xâm lược '79, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | 4 phản hồi »

69:VN-TQ Căng Thẳng Kinh tế

Đăng bởi hoangtran204 on 16/02/2009

Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


The Star

————————————————————————————————————

Trung Quốc và Việt Nam


đối mặt với những căng


thẳng khi ký ức chiến


tranh mờ dần


John Ruwitch

Chủ nhật, ngày 15-2-2009


LẠNG SƠN, Việt Nam (Reuters) – Những tấm bia lớn màu đen dựng tại nghĩa trang Lạng Sơn liệt kê hàng trăm bộ đội Việt Nam tử trận. Bên cạnh một vài cái tên là dòng chữ “chống Pháp” hay “chống Mỹ” – chỉ rõ họ đã hy sinh như thế nào.

(Tuy vậy), hầu hết trong số bia mộ đó thì được ghi là “Bảo vệ tổ quốc”, một lối ám chỉ gián tiếp nhắm vào cuộc chiến tranh kéo dài một tháng đã bắt đầu khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào ngày 17-2-1979 nhằm trừng phạt Hà Nội vì đã lật đổ Khmer Đỏ được Bắc Kinh hậu thuẫn tại Cambodia trước đó hai tháng.

Ba mươi năm đã trôi qua, cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc mà trong đó ít nhất có 60.000 bộ đội đã tử trận hiện là một ký ức mà cả hai chính phủ sung sướng che đậy hay ngăn cấm tiết lộ. Thế nhưng trong những thời buổi kinh tế đang gặp khó khăn này, Việt Nam và Trung Quốc có thể phải đối mặt với những căng thẳng mới cọng thêm vào lịch sử lâu dài và thường cay đắng của họ.

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1991, Trung Quốc và Việt Nam đã và đang đạt được sự tiến bộ đầy ấn tượng trong việc cố gắng thành lập những mối quan hệ tốt đẹp hơn, theo nhận xét của Brantly Womack, một chuyên gia về Trung Quốc-Việt Nam của trường Đại học Virginia.

Thí dụ việc thương mại hai chiều vào năm 2008 đã tăng lên 21 tỉ đô la.

“Trung Quốc và Việt Nam đã không có nhiều lý do hơn để mà thân thiện so với quan hệ Nga và Ba Lan, và Nga và Ba Lan … vẫn là những kẻ thù tồi tệ nhất của nhau,” ông nói.

“Với Việt Nam và Trung Quốc, nói một cách chính xác thì họ không ưa thích gì nhau, song họ chắc chắn là đã nhận ra làm sao sống hòa thuận với nhau. Đó là mối lợi cho cả hai bên.”

Thực tế về những gì được ghi dấu ở Lạng Sơn không giải thích rõ ràng rằng những người lính đã chết “vì chiến đấu với Trung Quốc” đã minh hoạ cho cách tiếp cận thận trọng của Hà Nội hướng tới Bắc Kinh.

Về phần họ, ban lãnh đạo Trung Quốc bị ám ảnh về tính ổn định đã thực hiện một nỗ lực có kế hoạch trong những năm gần đây để xây đắp những mối quan hệ có tính xây dựng. Thế nhưng, những tháng sắp tới sẽ là những thử thách.

Cả hai nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, lệ thuộc vào tốc độ tăng trưởng cao, đang phải đối mặt với cuộc sát hạch nghiêm khắc nhất của họ kể từ những cải cách kinh tế được phát động cách đây vài chục năm và nền tài chính toàn cầu không có gì chắc chắn đã kích động thêm khả năng căng thẳng gia tăng.

Thậm chí trong những thời kỳ thuận lợi, các nỗ lực của những nhà hoạch định chính sách của Việt Nam và Trung Quốc cũng vẫn có những hạn chế. Cả hai chính phủ đều khẳng định quyền sở hữu của các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông, nơi nầy được nghĩ là chứa đựng trữ lượng dầu lửa và khí gas có giá trị lớn.

Nội và Bắc Kinh đã và đang thỏa thuận không phá vỡ tình trạng ngay hiện nay, song cả hai bên vẫn cứng rắn trong những lời tuyên bố chủ quyền của họ.

Ngoài ra, hai đảng Cộng sản cầm quyền đang bị bối rối bởi ám ảnh không vui về tình trạng náo động dân tộc chủ nghĩa nếu như họ tỏ ra mềm mỏng trong vấn đề này. Năm 2007, hàng trăm thanh niên Việt Nam đã biểu tình trước tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội sau khi có tin Trung Quốc đã thiết lập chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý các quần đảo đang tranh chấp này.

NHỮNG QUẦN ĐẢO ĐANG TRANH CHẤP

Vượt ra ngoài những hành động phản kháng và những lối nói khoa trương, cuộc tranh cãi về lãnh thổ là một mối nguy cơ chính trị hữu hình.

Tháng Bảy năm 2008, Trung Quốc đã gây sức ép làm cho tập đoàn Exxon Mobil Corp (củ Mỹ) phải rút lui khỏi một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Việt Nam mà Trung Quốc coi như là một hành động xâm phạm chủ quyền của họ.

Vào tháng Năm 2008, hãng BP Plc (của Anh) đã ngưng các kế hoạch thực hiện công tác thăm dò ngoài khơi phía nam Việt Nam, viện dẫn tới những mối căng thẳng về chủ quyền lãnh thổ.

“Vấn nạn lớn nhất là về các quần đảo,” theo lời ông Dương Danh Dy, nguyên là một nhà ngoại giao Việt Nam từng có ba chuyến đi sứ tới Trung Quốc từ những năm 1960 đến 1990.

Nếu vị thế toàn cầu của Hoa Kỳ bị mất đi, nếu nền kinh tế của Nhật Bản suy yếu đi hơn nữa, tôi lo ngại là thái độ của Trung Quốc trên Biển Đông có thể cứng rắn hơn,” ông nhận định. “Nếu mọi sự tiếp tục như nó đang diễn ra hiện nay, thì các mối quan hệ song phương sẽ tốt đẹp.

Mối lo ngại khác trong năm nay, đặc biệt đối với Hà Nội, là vấn đề thương mại.

Việt Nam đang từ một mức độ thặng dư mậu dịch với Trung Quốc năm 1997 là 70 triệu đô la đã rơi vào tình trạng thâm hụt mậu dịch với nước này là 9,1 tỉ đô vào năm 2007, theo các thống kê của Việt Nam. Thương mai hai chiều đã đạt 15,9 tỉ đô la năm 2007 trước khi nhảy lên mức 21 tỉ đô la vào năm 2008.

“Có một vấn đề to lớn bởi vì những gì mà Việt Nam đã và đang làm trong vài năm qua là họ đang chạy đua để có một mức thặng dư thương mại tương đối với các quốc gia đã phát triển để cân bằng lại với mức thâm hụt mà Hà Nội đã và đang chạy đua với Trung Quốc,” ông Womack nói.

“Và hiện nay thì Hà Nội sẽ không chạy đua để đạt được mức thặng dư đó được nữa.”

Thêm vào đó, trong khi các thị trường xuất khẩu của Trung Quốc đã biến mất nhanh chóng, những nhà sản xuất của nước này đang trong tình trạng tuyệt vọng sẽ tìm kiếm thị trường và Việt Nam có thể là một lựa chọn hấp dẫn cho họ khi so sánh với nhiều nước láng giềng khác của Trung Quốc.

Ông Nguyễn Quốc Hải, một viên chức phụ trách thương mại của Lạng Sơn cho biết chính phủ Việt Nam đã muốn tăng cường xuất khẩu hơn là cố gắng ngăn chặn hàng hóa của Trung Quốc đang tràn ngập vào.

Thế nhưng tại thị trấn biên giới Tân Thanh của Việt Nam, ba nhà buôn Trung Quốc tại một phiên chợ, đang đổ vào với những nồi cơm điện chế tạo ở TQ, các đầu máy chiếu phim DVD và quần áo sản xuất tại Trung Quốc, đã nói rằng tình hình đã trở nên khó khăn hơn khi đem các đồ dùng này qua cửa khẩu.

Tuy nhiên, những chiếc xe tải của Việt Nam trống rỗng vẫn xếp hàng đợi qua cửa khẩu để lấy hàng Trung Quốc về.

“Buôn bán qua biên giới rõ ràng đang tăng lên,” một thương gia nhận xét.


(Bổ sung thêm cho bài báo này là Nguyễn Nhật Lâm từ Hà Nội và Ben Blanchard từ Bắc Kinh)


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


——————————————————————————————

The Star

————

Sunday February 15, 2009

China and Vietnam face strains as war memory

fades

By John Ruwitch

LANG SON, Vietnam (Reuters) – The tall black tablets at the Lang Son cemetery list hundreds of dead Vietnamese soldiers. Next to some names are the words “chong Phap” or “chong My” — “fighting France” or “fighting America” — indicating how they died.

Most read “Bao ve to quoc”, or “protecting the fatherland”, an oblique reference to a month-long war that began when China invaded Vietnam on Feb. 17, 1979 to punish Hanoi for toppling the Beijing-backed Khmer Rouge in Cambodia two months earlier.

Thirty years on, the Vietnamese-Chinese border war in which at least 60,000 soldiers were killed is a memory both governments are happy to suppress. But in these tough economic times, Vietnam and China could face new strains to add to their long and often acrimonious history.

Since normalisation in 1991, China and Vietnam have made impressive progress in forging better ties, said Brantly Womack, a China-Vietnam expert at the University of Virginia.

Two-way trade last year grew to $21 billion, for instance.

“China and Vietnam had no more reason to be friendly than Russia and Poland, and Russia and Poland … are still each others’ worst enemy,” he said.

“With Vietnam and China, they don’t exactly love each other, but they’ve certainly figure d out how to get along. It’s been mutually beneficial.”

The fact the engravings in Lang Son do not spell out that the soldiers died “fighting China” illustrates Hanoi’s cautious approach toward Beijing.

For its part, the stability-obsessed Chinese leadership has made a concerted effort in recent years to build constructive ties. But the coming months will be challenging.

Both export-fed economies, dependent on high-speed growth, are facing their sternest test since economic reforms were launched decades ago and the global financial uncertainty raises the potential for heightened tension.

Even in good times, the efforts of Vietnamese and Chinese policymakers to be nice has limits. Both governments claim ownership of the Spratly and Paracel islands in the South China Sea, which are thought to sit on valuable oil and gas deposits.

Hanoi and Beijing have agreed not to upset the status quo, but both are firm in their claims of sovereignty.

In addition, both ruling Communist parties are constrained by the spectre of nationalist unrest if they appear soft on the issue. In 2007, hundreds of Vietnamese youth protested at the Chinese embassy in Hanoi after China reportedly set up a county government responsible for the disputed archipelagos.

DISPUTED ISLANDS

Beyond protests and rhetoric, the territorial dispute is a tangible political risk.

Last July, China pressured Exxon Mobil Corp to pull out of an oil exploration deal with Vietnam that it saw as a breach of Chinese sovereignty. In May, BP Plc halted plans to conduct exploration work off the southern Vietnamese coast, citing territorial tensions.

“The biggest problem is the islands,” said Duong Danh Dy, a former Vietnamese diplomat who did three tours in China from the 1960s to the 1990s.

“If the United States’ global position falls, if Japan’s economy weakens further, I fear that China’s position on the South China Sea could harden,” he said. “If things continue as they are now, then bilateral relations will be fine.”

Another worry this year, particularly for Hanoi, is trade.

Vietnam went from a $70 million trade surplus with China in 1997 to a deficit of $9.1 billion in 2007, according to Vietnamese statistics. Two-way trade reached $15.9 billion in 2007 before leaping to $21 billion last year.

“There is a big problem because what Vietnam’s been doing in the last couple of years is running approximately a surplus with the developed countries that equals the deficit it’s been run ning with China,” said Womack.

“And it’s not going to run that surplus anymore.”

Furthermore, as China’s export markets evaporate, desperate manufacturers will be looking for markets and Vietnam may be an attractive option compared with many of China’s other neighbours.

Lang Son trade official Nguyen Quoc Hai said the Vietnamese government wanted to increase exports rather than try to block Chinese goods from flooding in.

But at the Vietnamese border town of Tan Thanh, three Chinese traders in a market overflowing with Chinese-made rice cookers, DVD players and clothes said it had become harder to get items through the checkpoint.

Still, empty Vietnamese trucks queue to cross over and pick up Chinese goods.

“Border trade is definitely increasing,” one trader said.

(Additional reporting by Nguyen Nhat Lam in Hanoi and Ben Blanchard in Beijing)

Copyright © 2008 Reuters

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: | Leave a Comment »