BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Trung Quốc’ Category

499. Thuốc giả của TQ không phải là chuyện đùa

Đăng bởi anhbasam on 10/03/2010

Far Eastern Economic Review

Thuốc giả của Trung Quốc không phải là chuyện đùa

Bài của Roger Bate

Ngày 6-8-2008

Số ra tháng 8-2008


Hàng trăm nghìn du khách đang đổ đến Bắc Kinh để tham dự Thế vận hội Olympic được bắt đầu vào ngày mai. Trong mấy tháng qua, chính phủ nước này đã dàn xếp công phu cho một nỗ lực tinh tế để chuẩn bị cho thành phố trong tư thế sẵn sàng: dọn sạch đường phố, khai quang bầu trời, thậm chí chỉ định rõ các dịch vụ ứng cứu khẩn cấp và y tế của “Olympic.”

Thế nhưng theo các nhà điều tra đóng tại Bắc Kinh và Hong Kong, những người đã không đồng ý để ghi âm lời phát biểu của mình do họ lo ngại chính phủ sẽ trả đũa, thì du khách có lẽ phải cân nhắc tới toàn bộ các bệnh viện do quân đội sở hữu, nơi họ có thể đụng phải những rủi ro khi được điều trị với các loại thuốc giả hoặc không đạt tiêu chuẩn.

Quân đội Trung Quốc hoạt động bên ngoài hệ thống pháp luật, quản lý những mạng lưới giả mạo, ngay cả dù cho các doanh nghiệp quân đội đó làm ăn có lãi và chỉ là bất hợp pháp về kỹ thuật. “Các hoạt động đó được chế độ ở Bắc Kinh tỏ ra khoan dung.” Như tờ Washington Post cho biết từ năm 2002, “những chiếc xe tải mang biển số quân đội được trông thấy có chở hàng hóa bên trong và phóng ra khỏi khu chợ dược phẩm Puning,” một trung tâm được chấp nhận cho bán sỉ dược phẩm giả, nhái và hợp thức hóa.

Theo Bản cáo cáo Đặc biệt số 302c của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ [USTR] được công bố vào tháng Tư, dược phẩm buôn lậu và giả mạo là một vấn nạn chính ở Trung Quốc. Trong khi USTR thiếu khoản đề cập tới sự liên quan của quân đội thì các nguồn khác nêu rõ hơn. Như chuyên gia về hàng hóa giả mạo trong nước Li Guorong trao đổi với tờ Asia Times vào tháng Tư, “Hoạt động sản xuất hàng giả giờ đây quá lớn,” trong một đất nước mà “hành động quyết liệt của nó có thể nghiền nát nền kinh tế chỉ qua một đêm [và] thậm chí làm mất ổn định cả một chính phủ, nơi các nhà máy và các cửa hàng sản xuất tiêu thụ hàng giả thường thuộc về các nhân vật quan trọng trong quân đội và giới chính trị địa phương.”*

Các cuộc điều tra của riêng tôi và những trao đổi với các điều tra viên cho thấy rằng Công ty Kang Hong Medical đóng tại tây nam Trung Quốc, thuộc sở hữu của các sĩ quan quân đội hồi hưu và tại ngũ đã bán ra các loại thuốc giả gồm thuốc giảm đau, kháng sinh và các loại khác, rồi được đem tiêu thụ theo cách y như các sản phẩm của các công ty tân tiến của phương Tây. Những sản phẩm này được bán cho vài bệnh viện, bao gồm bệnh viện Số 211 PLA [Quân Giải phóng Nhân dân] tại Thành phố Hạ Bình cực đông bắc Trung Quốc. Bệnh viện này cũng như nhiều bệnh viện khác không chỉ thường xuyên khám và điều trị cho các nhân viên quân sự mà còn cả thường dân nữa. Vì vậy đã không có được những báo cáo chính thức về số bệnh nhân bị tai biến do các sản phẩm giả có liên quan tới những bệnh viện quân đội. Mặc dù vậy, trong một đất nước mà số liệu về y tế vốn là một vấn đề gây tranh cãi và luôn bị giữ kín thì những thông tin này là một đảm bảo nho nhỏ. Thực vậy, các bệnh viện quân đội tại Bắc Kinh đã từng dính líu vào việc không công bố các vụ dịch SARS năm 2003.

Các điều tra viên cho tôi hay rằng những chủ nhân và giám đốc các bệnh viện này đã “kiếm được rất nhiều tiền,” bằng cách mua các dược phẩm giả giảm giá rồi thanh toán với bệnh nhân với giá thông thường như các sản phẩm tân kỳ tương đương. Kang Hong đã làm giả những bức thư cho phép từ thương gia và là nhà bán sỉ hợp pháp tên là Yu Xing ở Quảng Đông, được cho là đã cho phép mình cung cấp các sản phẩm tân tiến cho các bệnh viện thuộc sở hữu của các nhân vật cao cấp trong Quân Giải phóng Nhân dân. Thế nhưng Yue Xing Quảng Đông lại chưa bao giờ gửi một giấy phép nào như vậy cả. Khi công ty Guangdong Yue Xing đưa vụ việc này ra cho cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Trung Quốc (SFDA) tại Thành phố Hạ Bình thì họ cho biết rằng bệnh viện quân đội không nằm trong quyền hạn pháp lý của họ, mà cũng không thuộc quyền phán xử của bất cứ thực thể dân sự nào.

Kang Hong đã dùng cách tiếp cận tương tự tại Thành phố Jin Zhou miền Nam Trung Quốc, lần nữa giả bộ đại diện cho các sản phẩm của một công ty dược phẩm tân tiến khác. Một lần nữa, SFDA lại tuyên bố họ không thể làm gì được.

Ảnh hưởng và tác động của hành vi đồng loã trong quân đội trong việc giả mạo đã được mở rộng ra nước ngoài. Các công ty được quân đội ủng hộ được cho là đã dính líu vào việc sản xuất các thành phần dược phẩm kích thích tiêu hóa có chất phóng xạ (API), chuyện này đặt ra một cảnh báo đáng chú ý cho thị trường Hoa Kỳ. Bốn mươi phần trăm thành phần dược liệu hoạt tính được sử dụng trong y dược Hoa Kỳ được sản xuất tại Ấn Độ và Trung Quốc, và số lượng đó được dự đoán sẽ tăng gấp đôi trong vòng 15 năm tới. Trong cả năm qua, cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã phát hiện những mối liên kết giữa cái chết của 95 người Mỹ thành phần dược liệu hoạt tính (API) bị nhiễm với tạp chất được sản xuất tại Trung Quốc.

Song các du khách tới Bắc Kinh sẽ phải đối mặt với một vấn nạn trực tiếp hơn: Bệnh viện Đa khoa Quân đội 301. Được phong danh hiệu là “bệnh viện được chỉ định phục vụ Olympic” bởi Bộ Sức khỏe tại Bắc Kinh, 301 Quân đội (cùng với các bệnh viện liên kết với nó là 304, 309) có trên 4.000 giường bệnh và hơn 150 phòng kỹ thuật. Nó có khả năng sẽ được chính phủ Trung Quốc sử dụng cho bất cứ sự cố y tế nào trong thời gian diễn ra Olympic. Đáng lưu ý là bệnh viện này không nằm trong danh sách được chuẩn thuận do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cung cấp. Trong khi các giới chức quân sự Trung Quốc không chắc sẽ cho phép các dược phẩm giả được sử dụng trong các bệnh viện này, kể từ khi có việc công bố công khai bất cứ tổn hại nào thuộc loại gây thiệt hại lớn, thì họ có thể đơn giản là không biết tất cả các dược phẩm giả đó ở đâu ra. Từ đó các dược phẩm sẽ dễ dàng được lưu hành và theo các điều tra viên, tình trạng hàng giả tràn lan, dược phẩm xấu có thể tự chúng có mặt trong hầu như bất cứ bệnh viện nào vào hầu như bất cứ thời điểm nào.

Vì sự an toàn của hàng triệu du khách quốc tế tới Trung Quốc – và vì một quốc gia đang háo hức gây ấn tượng trước thể giới với hình ảnh sạch sẽ của mình – hãy hy vọng rằng thuốc giả sẽ không xảy ra.


Ông Bate, một thành viên chính thức của Viện Doanh nghiệp Mỹ, là tác giả của cuốn “Making a Killing: The Deadly Implications of the Countefeit Drug Trade,” Nhà xuất bản AEI, tháng 6-2008.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Đăng trong Trung Quốc | Tagged: | Leave a Comment »

497. Canh bạc với hàng xóm

Đăng bởi anhbasam on 09/03/2010

SPIEGEL

Canh bạc với hàng xóm

Thielke, Thilo

Ngày 11-1-2010


Trung quốc âm thầm dịch chuyển biên giới của họ xuống phía nam. Các nhà đầu tư từ quốc gia rộng lớn đông dân này thuê hẳn một thành phố và xua đuổi dân bản xứ.

George Huang đang phởn chí. Khi gã người Trung quốc này mở cửa sổ văn phòng rộng cỡ cái 2 ga-ra ra, cả một luồng không khí mát rượi ùa vào. Cuốn theo nó là tiếng ồn ào của máy ủi, tiếng đập thình thịch của máy nện và tiếng chói tai nhức óc của máy khoan cắt bê-tông. Du khách phương Tây nếu phải đến đây sẽ không thể chịu được, nhưng đối với Huang thì cái thứ âm thanh hỗn tạp ở thị trấn Bò thèn khỉ ho cò gáy sát biên giới Lào-Trung này lại là âm nhạc.

Gã doanh nhân đóng trong bộ đồ Tây kẻ sọc nhỏ, áo sơ-mi kẻ đen trắng và kravat xám màu. Từ bàn làm việc gã có thể phóng tầm mắt xa tít tới vùng đất đẹp thơ mộng đang dần biến thành công trường. Gã ta là sếp của cái thị trấn bắc Lào này, hay đúng hơn là Tổng Giám đốc công ty Golden Boten City Co. Ltd. Gã thích được gọi là Chủ tịch hơn, còn anh chàng gày gò luôn kè kè bên cạnh mỗi khi có đám khách ngoại quốc lạc vào đây được Huang gọi là Ngoại trưởng.

Mà mấy khi có khách ngoại quốc. Đơn giản bởi vì cái thị trấn Bò-thèn trên đất Lào này hoàn toàn có thể coi là đất Trung Quốc. Ngôn ngữ chính là tiếng Trung, biển hiệu toàn ký tự chữ Hán, thanh toán bằng Nhân dân tệ, đến cả giờ cũng là giờ Bắc Kinh chứ không phải giờ Vientian. Danh chính ngôn thuận thì đây là đất Lào, nhưng cái “thị trấn vàng” Bò-thèn với 21 cây số vuông Đặc quyền kinh tế này nằm chắc trong tay những người Trung quốc.

Những tay cò mồi của các quốc gia giàu có đang dòm ngó đất đai tại những nước đang phát triển. Dẫn đầu là Trung Quốc, họ đã có được những nông trường rộng lớn ở các nước như Sambia, Uganda hay Congo.

Nhưng đặc biệt ở Đông Nam Á hình thái mới của Chủ nghĩa thực dân này đang hiển diện ngày một rõ nét nhất. Tại chính đây Trung Quốc đang mở rộng bờ cõi bằng cách âm thầm di dời đường biên giới vào sâu trong đất của các quốc gia lân bang có chủ quyền.

Theo đánh giá của tổ chức Hợp tác Kỹ thật Đức GTZ thì riêng tại nước nhiệt đới cộng sản nghèo với vẻn vẹn sáu triệu dân này đã bị Trung Quốc đưa vào dự án khoảng 10 ngàn cây số vuông đất, cỡ 4 % diện tích của cả nước Lào. Khoảng chừng 15 % đất của Lào đã nằm trong tay các công ty nước ngoài, trong đó có cả của Việt Nam và Thái Lan.

Theo bản tin điện tử “Asia Time” thì: “Trung Quốc đã nắm trong tay phần lớn nền kinh tế Lào. Từ khai mỏ, thuỷ điện đến cao-su, từ bán lẻ đến dịch vụ khách sạn. Họ kiểm soát hầu hết các mảng trong nền kinh tế”. Ngay từ năm 2007, Trung quốc đã đầu tư hơn một tỷ dollar, chiếm 40 phần trăm tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Lào.

Chính quyền tỉnh Vân Nam Trung Quốc tiếp giáp với Lào đã có hẳn một chương trình cho sự nghiệp công nghiệp hoá miền bắc Lào cho tới năm 2020. Chương trình với cái tên “Dự án phương bắc” đã được đệ trình lên chính phủ Lào và chờ được sự phê chuẩn của đại hội đảng lần thứ 9 Đảng Cộng sản Lào. Dự án chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp then chốt như nông-lâm nghiệp cũng như điện, khai mỏ và du lịch.

Người Trung Quốc đã vào cuộc ngay từ bây giờ. Họ đang cho xây một khách sạn hoành tráng 700 giường Royal Jinlun Hotel, một casino 11 sảnh với một tốc độ chóng mặt.

Đồng thời họ cũng đang hoàn thành một khách sạn 700 giường khác, muộn nhất đầu tới phải xong, một sân golf, một đường đua xe, một công viên, một trường đua ngựa và một trường bắn thể thao. Bò-thèn đang phát – Huang khoe khoang; giờ hiện đang có 7000 người sống ở đây, nhưng không bao lâu nữa sẽ là 6 vạn nguời. Chúng tôi sẽ có đầy đủ khách sạn với tất cả các hạng giá cả. Ngay giờ chúng tôi đã không có đủ phòng để cho thuê.

Bò-thèn nay trở thành trốn truỵ lạc, người dân Lào không dám bén mảng đến đây nữa. Dân Lào bị cấm chơi cờ bạc và đến động mại dâm. Số ít người Lào còn sót lại nơi đây thì giữ khoảng cách với lũ thống trị mới đến từ phương bắc. Một chế độ Apartheid đang hiển diện ở miền bắc Lào.

Huang thì khẳng định còn ít nhất 20% dân số là người Lào gốc còn sống ở đây. Nhưng họ hầu như không xuất hiện. Nhưng tay công an và những chiếc xe cảnh sát không biển kiểm soát lo giữ an ninh trên đường phố đều đến từ Trung Hoa. Cũng như những đầu bếp chuyên gia chế biến thịt gấu hay những chị lao công, các cô váy ngắn đứng phát tờ rơi trước cửa khách sạn hay những tay hồ lì đóng bộ ngồi trong sòng bài đều đến từ đất nước rộng lớn này.

Đường dây điện thoại và đường điện được kéo đến từ Trung Quốc, ổ cắm điện Trung Quốc, bia Tsingtao và thuốc lá được nhập từ Trung Quốc. Ngay cả hải quan Lào cũng rút hẳn khỏi nơi đây, trạm hải quan không còn nằm tại biên giới Lào – Trung mà nằm phía nam của Bò-thèn. Dường như thị trấn này không còn thuộc về Lào nữa.

Phần lớn số dân Lào sau khi bị người Hoa chiếm đất phải sống cách đó 20 km trong khu tạm bợ bên lề con đường liên huyện. Ngay sau khi hợp đồng chuyển nhượng nhằm biến khu thị trấn thành ổ sòng bài được ký thì quân đội Lào được điều động đến.

Một cô gái tên Sida kể: “Quân đội chất chúng tôi lên những chiếc xe tải và thả chúng tôi xuống đây. Họ cấm chúng tôi quay trở lại thị trấn”. Cho một khởi đầu mới mỗi một người dân Bò-thèn được nhận trợ cấp 800 dollar. Nhưng số tiền không giúp họ được bao lâu.

Sida trong chiếc quần jeans lửng và áo T-shirt đỏ này có 3 đứa con phải nuôi. Cô bán Coca-cola, dép tông nhựa và hạt dưa rang. Chồng cô còn có việc làm trong mỏ muối còn sót lại ở Bò-thèn. Chẳng bao lâu nữa cái nghề truyền thống này cũng sẽ bị xoá sổ. Cách duy nhất còn lại để sống là họ phải di xuống phía nam, nơi đất Lào còn là của nguời Lào.


Người dịch: Lê Viết Linh

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , | 14 phản hồi »

496. TƯ DUY BIỂN CẢ CỦA TRUNG QUỐC

Đăng bởi anhbasam on 08/03/2010

TƯ DUY BIỂN CẢ CỦA TRUNG QUỐC

Đinh Kim Phúc *


Các học giả Việt Nam đã đến Paris nhưng Hội thảo về biển Đông ở Pháp đã không diễn ra như mọi người kỳ vọng.

“Hủy bỏ”

Chúng tôi buộc lòng phải hủy bỏ hội thảo mà chúng tôi đã lên kế hoạch cho ngày 27 và 28 tới tại Pantin, về chủ đề “Biển Đông: điều kiện nào để bảo đảm hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực ?”.

Quyết định này buộc phải đưa ra vì một thực tế là có một số lượng lớn người trình bày vừa cho chúng tôi biết rằng có những nghĩa vụ khác, hoàn toàn cấp bách đối với họ, cuối cùng đã không cho phép họ nhận lời mời của chúng tôi.

Trong điều kiện đó, sự khởi xướng của chúng tôi không thể có được đặc điểm mà chúng tôi muốn nó có để cho phép đề cập đến chủ đề vốn rất phức tạp này trong những điều kiện tốt.

Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng rằng có thể tổ chức hội thảo này trong đầu nửa năm nay vào một ngày mà chúng tôi sẽ thông báo cho quý vị trong thời gian sớm nhất có thể”.

Quỹ Gabriel Peri đưa ra lý do hủy bỏ cuộc hội thảo khá đơn giản khó mà thuyết phục được dư luận. Người ngoài cuộc khó có ai hiểu được lý do chính xác, nhưng có điều cần nhấn mạnh là có thể tư tưởng “Chủ quyền thuộc ngã” kết hợp với tin tức báo chí cùng thời gian dự định tiến hành đã ngăn cuộc hội thảo lại.(1)

Mặc dù trước đó Quỹ Gabriel Peri đã rào trước đón sau: “Biển Đông cũng là đầu mối những quan hệ căng thẳng giữa các nước quanh bờ: Trung Quốc Việt Nam, Malaysia, Brunei, Đài Loan…và các cuộc xung đột về chủ quyền xảy ra ngày càng nhiều một cách quan ngại.

Trong bối cảnh này, việc xác định chủ quyền của các nước liên quan đối với các đảo lớn nhỏ, việc duy trì một môi trường hoà bình, ổn định, bảo đảm tự do hàng hải, việc gìn giữ môi trường và tài nguyên, cũng sự hợp tác trong việc cứu hộ ngư dân trong khu vực đòi hỏi các bên hữu quan phải cùng nhau hành động để tìm kiếm những giải pháp khả dĩ trước tiên là giảm bớt, sau đó là loại bỏ những sự căng thẳng.

Trong những thập niên vừa qua nhiều nỗ lực đã được triển khai (Tuyên bố 1992 của ASEAN; Tuyên bố về hành xử của các bên ở Biển Đông, được kí kết giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002). Đó là những nỗ lực đáng khích lệ nhưng còn rất không đủ.

Tham vọng cuộc hội thảo do Quỹ Gabriel Peri chủ trương là soi sáng những cái được mất liên quan tới các vấn đề chủ quyền. Đây không phải là lúc đối chọi những quan điểm ủng hộ bên này, chống đối bên kia, mà là thời điểm để suy ngẫm nghiêm túc trên cơ sở lịch sử khu vực và trên nền tảng pháp lý quốc tế”.


Nhà nghiên cứu Hồng Lê Thọ đã nhấn mạnh: “Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang cố gắng dùng lời lẽ ngọt ngào trong đàm phán ngoại giao, với những thông điệp rất êm tai như “hòa bình”, “hữu nghị”, “láng giềng thân thiện”… hay gần đây nhất là “sơn thủy tương liên, văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan” của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào khi đề cập đến quan hệ Trung-Việt nhưng bên trong và hành động trên thực tế hoàn toàn trái ngược, áp đặt “một chiều” để lấn át  và răn đe thô bạo kiểu Trung Quốc. Nhìn hạm đội của Trung Quốc trong tư thế vũ trang sẵn sàng chiến đấu, thao dượt rầm rộ trên biển Đông và liên tục bắt bớ tàu đánh cá, đánh đập ngư dân Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa, xem biển Đông và Nam Trung Hoa như ao nhà, người ta không thể không cảnh giác trước uy hiếp về quân sự của Trung Quốc. Tư tưởng biên giới lãnh thổ mở rộng và luôn biến động theo tầm địa lý của lợi ích quốc gia trong một số nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc càng kích động những người quá khích chạy theo chủ nghĩa dân tộc ích kỷ và bành trướng, đưa nguy cơ xung đột ngày càng có điều kiện bùng nổ bất cứ lúc nào.

Không thể xây dựng niềm tin trên sự giả dối và càng không thể thương thảo khi đối tác lăm lăm gươm giáo, đằng đằng sát khí, với mùi khét của khói súng lãng vãng bên cạnh. Lời nói phải đi đôi với việc làm với thái độ tự trọng và biết kiềm chế, tương kính lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để tìm lối thoát hợp lý và công bằng vì một nền hòa bình và ổn định dài lâu để cùng phát triển phải chăng là một đòi hỏi quá đáng hay ngược lại đang nằm trong tầm tay của các nhà lãnh đạo Trung Quốc nếu họ chấp nhận từ bỏ tư tưởng Đại Hán?”(2), Tác giả Hồng Lê Thọ kêu gọi: “Với tình hình quốc tế hiện nay, việc “đa phương hóa” hay”quốc tế hóa” vấn đề biển Đông đã có được những tiền đề vô cùng thuận lợi, không nhất thiết phải lo lắng thái quá trước động thái phá hoại hay ngăn cản từ một phía nào đó, mà theo chúng tôi chẳng qua là họ bắt buộc phải lên tiếng hung hăng như bao lần, vẫn cứng cổ rằng “không thể tranh cãi” trong yêu sách ngoan cố về chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông ngang ngược và trái khoáy với “chiếc lưỡi bò” lãnh hải vô căn cứ “do lịch sử để lại”. Trước khi chấp nhận một giải pháp đa phương, nhà đương cuộc của Trung Quốc có thể có hành động làm càn, ra tay trước để thị uy. Vì vậy việc cảnh giác trước mọi động thái hiếu chiến và khả năng sử dụng vũ lực của Trung Quốc nhằm chiếm đoạt toàn bộ quần đảo Trường Sa, Việt Nam cần phải có phương án để đối phó một cách hữu hiệu và nâng cao nhận thức bảo vệ chủ quyền hải đảo trong nhân dân hơn bao giờ hết”.(3)

Để phụ hoạ thêm cho những “thủ thuật” của các nhà ngoại giao Trung Quốc, các học giả Trung Quốc trong thời gian gần đây đã đưa ra các “bằng chứng” về chủ quyền của họ trên biển Đông như: Thời Tần (từ năm 221 trước công nguyên đến năm 207 trước công nguyên), đã thành lập Quận Nam Hải quản lý nhiều đảo tại biển Hoa Nam trong đó bao gồm cả quần đảo Tây Sa; thời Hán (từ năm 206 trước công nguyên đến năm 220 sau công nguyên), từng cử các chuyên gia biển tới tuần tra khu vực Tây Sa; Thời Lưu Tống (từ năm 420 – 479 sau công nguyên) đã đưa quần đảo Tây Sa vào phạm vi tuần biển của Thủy quân Quảng Nam; Thời Nguyên (1271 – 1368), Quách Thủ Kính từng tiến ra biển Hoa Nam đo đạc và trong bản đồ “Quảng Hưng” vẽ ra sau đó đã đánh dấu quần đảo Tây Sa và gọi là khu vực “Thiên Lý Trường Sa”; Thời Minh (1368 – 1644), khi Trịnh Hoà đến Đại Tây Dương đều nghỉ ngơi tại Tây Sa…

Như chúng ta đã biết, nhiều lần các tác giả Trung Hoa đã khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo tranh chấp từ đời nhà Hán. Tuy nhiên, có tác giả Trung Hoa lại xác định là những tài liệu sớm nhất ghi chép sinh hoạt của người Trung Hoa trên những đảo này, thuộc đời nhà Tống (thế kỷ XIII).

Khảo sát nhiều bản đồ Trung Quốc từ năm 1949 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ nước Trung Quốc dù là do các nhà hàng hải phương Tây hay do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa-Trường Sa). Tất cả bản đồ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.

Bản đồ 1:

Bản đồ Trung Quốc năm 1625 của Samuel Purchas

(Nguồn:http://www.raremaps.com/gallery/detail/23040/The_Map_of_China/Purchas.html)

Bản đồ 2:

China Veteribus Sinarumregio nunc Incolis Tame dieta năm 1636 của Hondius,

Jodocus & Jansson, Jan

(Nguồn: http://www.old-church-galleries.com/stock_9711.asp)

Bản đồ 3:

Bản đồ Trung Quốc năm 1655 của Blaeu/Martini

(Nguồn: www.helmink.com/Antique_Map_Blae…hina.jpg)

Bản đồ 4:

Bản đồ Trung Quốc năm 1781 của Bellin, J.N

Nguồn: (http://www.swaen.com/antique-map-of.php?id=9652)

Bản đồ 5:

Bản đồ Trung Quốc năm 1812 của Arrowsmith and Lewis

(Nguồn: http://maps.library.umass.edu/raster/other_historical/arrow.html)

Bản đồ 6:

Bản đồ Trung Quốc năm 1855 của J.H. Colton

(Nguồn: http://www.philaprintshop.com/china.html)

Bản đồ 7:

Bản đồ Trung quốc vẽ năm 1910 thời Nhà Thanh

(Nguồn: http://www.drben.net/files/China/ChinaMaps-ALL/Historic_Maps/Qing_Dynasty-1644-1911/_Ancient_Maps__Asia_-_Chinese_Empire_1910-S_op_800×611.jpg)

Bản đồ 8:

Bản đồ Trung Quốc năm 1936 của Sheng Bao

(Nguồn: http://commons.wikimedia.org/wiki/File:China_old_map_1936.jpg)

Bản đồ 9:

Bản đồ Trung Quốc năm 1947

(Nguồn:http://commons.wikimedia.org/wiki/File:1947_Zhonghua_Minguo_Quantu.png)

Những luận cứ và luận chứng kể trên càng được củng cố hơn khi chúng tôi phát hiện ra hàng loạt bản đồ cổ của Trung Quốc thì cương vực phía Nam của Trung Quốc cũng chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam. Các học giả Trung Quốc lý giải ra sau về bằng chứng này?

Bản đồ 10:

Đường Đại Cương Vực Đồ (bản đồ Triều Đường)

(Nguồn: http://commons.wikimedia.org/wiki/File:Tang_map.jpg)

Bản đồ 11:

Bản đồ đời Tống vẽ trên đá

(Nguồn: http://commons.wikimedia.org/wiki/File:Song_Dynasty_Map.JPG)

Bản đồ 12:

Đại Minh Hỗn nhất đồ, được vẽ trên vải lụa vào năm 1389, nhưng với chú thích bằng tiếng Mãn Châu được viết trên giấy gió dán chồng lên bản đồ này nhiều thế kỷ sau đó.

Đây là bản đồ Trung Quốc cổ nhất còn sót lại.

(Nguồn: http://geog.hkbu.edu.hk/GEOG1150/Chinese/Catalog/am31_map1.htm)

Với những luận chứng như đã kể trên, tính xác thực trong những chuyến hải trình chinh phục biển cả trong lịch sử Trung Quốc nhất là của Trịnh Hòa “Tam Bảo Thái giám hạ Tây Dương” cần phải được xem xét lại một cách khoa học và nghiêm túc.

Đầu tiên có thể nói rằng, những chuyến đi của Trịnh Hòa không phải là để chinh phục biển cả cũng như không phải để củng cố hay xác lập chủ quyền trên các nơi mà ông ta đã đi qua như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Ấn độ… huống chỉ là những quần đảo rải rác trên biển Đông mà các nhà khoa học của Trung Quốc thường nhấn mạnh!

Bản đồ 13:

Hành trình của Trịnh Hòa

Sử liệu của những chuyến “Tây Dương” đã bị bị làm sai lệch bởi các học giả Trung Quốc hiện nay nhằm gây ấn tượng rằng ở thế kỷ XV, Trung Quốc đã từng thám hiểm mặt biển không thua kém gì các quốc gia Âu Châu thời kỳ tiền tư bản và coi cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa có tầm vóc ngang hàng với Columbus.

7 chuyến hải du của Trịnh Hòa đã đưa ra một minh chứng đầy ấn tượng về khả năng tổ chức và sức mạnh công nghệ của Trung Quốc lúc bấy giờ, nhưng đã không mở ra thời kỳ chính sách trọng thương cho đất nước này và cho cả thế giới cũng như không mở ra thời đại phát kiến địa lý (năm 1424 Minh Thành Tổ chết. Người kế nghiệp là hoàng đế Minh Nhân Tông (trị vì từ năm 1424 đến năm 1425), đã quyết định hạn chế ảnh hưởng của nội cung. Trịnh Hòa cũng đã thực hiện một chuyến đi nữa dưới thời trị vì của Minh Tuyên Tông (trị vì từ năm 1426 đến năm 1435), mở đường cho những cuộc di dân ồ ạt của người Hoa (Triều Châu, Phúc Kiến, Quáng đông….) nhưng sau đó những chuyến tàu giao thương của người Trung Quốc đã chính thức chấm dứt. Nhà Minh bắt đầu chính sách bế quan tỏa cảng bằng chỉ dụ Hải cấm).

Nhưng có một điều chắc chắn, đó là các sự hỗ trợ của chính quyền cho hoạt động hàng hải đã suy giảm nghiêm trọng sau các chuyến đi của Trịnh Hòa. Từ đầu thế kỷ XV Trung Quốc đã phải chịu áp lực ngày càng tăng từ các bộ lạc Mông Cổ mới trỗi dậy ở phía Bắc. Năm 1421 vua Minh Thành Tổ đã dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh như là một sự thừa nhận sự hiện hữu của mối đe dọa này cũng như là để gần với khu vực quyền lực của dòng họ này. Từ kinh đô mới ông có thể kiểm soát tốt hơn các cố gắng nhằm bảo vệ biên cương phía Bắc. Với phí tổn đáng kể, Trung Quốc hàng năm đều phải có các cuộc viễn chinh nhằm làm suy yếu người Mông Cổ. Các phí tổn cho các chiến dịch trên bộ này đã cạnh tranh trực tiếp với ngân sách cần thiết dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải.Trong hoàn cảnh đó, ngân khố dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải đơn giản là không còn nữa.

Nói một cách khác, không giống như các chuyến thám hiểm sau này của các quốc gia châu Âu, các tàu thuyền chở của cải của người Trung Quốc dường như bị hao hụt dần đến cạn kiệt sau các chuyến đi dài, do các chuyến đi này thiếu động cơ kinh tế. Chúng chủ yếu để làm tăng uy thế của hoàng đế và các chi phí cho chuyến đi cũng như tặng phẩm cho các vị vua chúa và sứ giả nước ngoài còn lớn hơn cả các món lợi thu được từ các cống phẩm. Vì thế khi tài chính của chính quyền nhà nước bị áp lực, thì các ngân quỹ dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải không thể có nữa. Trái lại, vào thế kỷ XVI, phần lớn các chuyến thám hiểm của người châu Âu là có đủ lãi từ các hoạt động thương mại cũng như từ thành công trong việc xác lập một chế độ cai trị thuộc địa, sự chiếm đoạt các nguồn tài nguyên và đất của bản xứ đã có thể tự trang trải, cho phép họ có thể tiếp tục thám hiểm mà không liên quan nhiều đến ngân khố quốc gia.(4)

Tóm lại, tư duy biển của các nhà cầm Trung Quốc từ thời Trung đại cho đến trước năm 1949 cũng chỉ là tư duy tập trung vào “nội địa”, đối phó với Mông Cổ và vùng Trung Á, xem biển là rào chắn thiên nhiên đối với bên ngoài, chỉ cần lệnh “Hải Cấm” là đủ vì vậy ý thức chủ quyền biển đảo của các chế độ ở Trung Hoa dừng lại đảo Hải Nam và không vượt quá hải đảo ven bờ cận duyên. Tư duy nầy đã phản ánh rõ nét khi chúng ta khảo sát các bản đồ của chính người Trung quốc vẽ(như bản đồ 8-12) ở trên, phù hợp với những bản đồ cổ của người Phương tây trong suốt thời gian tương ứng (xem bản đồ từ 1-7) . Hơn thế nữa, lãnh thổ của nước Trung Hoa ở theo sách lược phương Nam của Tôn Trung Sơn cũng chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam như bản đồ dưới đây.

Bản đồ 14:

Bản đồ: “TÔN TRUNG SƠN TIÊN SINH kiến quốc PHƯƠNG LƯỢC ĐỒ”

(Nguồn:http://commons.wikimedia.org/wiki/File:%E5%AD%AB%E4%B8%AD%E5%B1%B1%E5%85%88%E7%94%9F%E5%BB%BA%E5%9C%8B%E6%96%B9%E7%95%A5%E5%9C%96.jpg

Bản chất của chính sách Đại Minh đã được phân tích rõ: “Trong tình hình tài chính phủ phê, Vĩnh Lạc đế(nhà Minh) tích cực thúc đẩy chính sách vươn ra bên ngoài để chứng tỏ uy thế của mình, xem Trung Hoa là trung tâm của thế giới. Về mặt mậu dịch trên biển, Vĩnh lạc đế đã kế thừa “Hải cấm chính sách” của Hồng Vũ đế không những ngăn cấm thương gia trung quốc ra bên ngoài mua bán mà còn cấm chỉ việc đóng tàu viễn dương, buộc những tàu đi biển khơi chuyển sang tàu chuyện chở đường thủy nội địa có cấu tạo bằng đáy ngang, Vĩnh lạc đế khống chế việc giao thương của thương nhân trung quốc nhưng lại mở rộng việc mậu dịch triều cống (5), ông ta liên tục gửi các đoàn sứ thần sang Triều Tiên,Việt Nam, Xiêm La, Chân Lạp, Java…Từ năm 1405 Vĩnh lạc quyết tâm cho một đoàn tàu đi về Nam Hải với qui mô lớn chưa từng thấy và đã chọn Trịnh Hòa, vốn là người theo đạo Hồi vượt đại dương tất cả 7 lần, dài 10 vạn hải lí với số tùy tùng, phục dịch trên 27,000 người/lần trong suốt 28 năm”. (6)

Tất cả điều nầy cho thấy chủ thuyết “Hán-di”(tư tưởng lấy nước Trung Hoa là trung tâm và các chư hầu chung quanh là man di mọi rợ) đã hình thành sau khi Nhà Minh chinh phục được Mông Cổ ở phương bắc và Việt Nam ở phương Nam.

Ban lãnh đạo nhà nước Trung Quốc  ngày nay cố tình nhấn mạnh tên tuổi của Trịnh Hòa còn có giá trị khác phù hợp với ý chí của Trung Quốc hiện đại: “Trịnh Hòa từng khoanh vùng ở Đông Nam Á và Trung Quốc đã từng vươn ra các châu lục”(!).

Cuối cùng, nói đi nói lại dù cho lời hay ý đẹp cũng là “Chủ quyền thuộc ngã” khi muốn ôm trọn biển Đông ở phương Nam hay những hòn đảo, đá… ở biển Đông Trung Hoa như Senkaku, Okinotori (Nhật Bản) mang tính chiến lược của ý đồ bành trướng mà lãnh đạo Trung Quốc vẫn ấp ủ từ lâu.


Chú thích:

(1) Xem:

- VN sẽ thất bại trong quốc tế hóa Biển Đông

(Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/02/100228_china_vietnam_sea.shtml)

- VN-TQ tăng cường quan hệ quốc phòng

(Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/03/100302_viet_china_defence.shtml)

2) Hồng Lê Thọ, “Chủ quyền thuộc ngã” – Từ “Gác lại” đến “Cưỡng đoạt”: Sách lược thực dụng và thâm độc trong tranh chấp chủ quyền biển đảo của Trung Quốc

(Nguồn: http://bauvinal.info.free.fr/)

(3) Hồng Lê Thọ, Cộng đồng quốc tế quan tâm đến biển Đông tiền đề của “quốc tế hóa”

(Nguồn: http://bauvinal.info.free.fr/)

(4) Tham khảo thêm:

- Momoki Shiro, Đại Việt và Mậu Dịch Vùng Biển Nam Hải từ Thế Kỷ Thư 10 đến Thế kỷ Thứ 15 (Nguồn: http://www.gio-o.com/NgoBacMomokiShiro15.htm)

- Li Tana, Một Cái Nhìn Từ Ngoài Biển: Viễn Cảnh Về Bờ Biển Bắc Và Trung Phần Việt Nam (Nguồn: http://www.gio-o.com/NgoBacLitanaBien(.htm)-

- Charles Wheeler Một Vai Trò Hợp Lý Của Biển Đối Với Lịch Sử Việt Nam? Xã Hội Duyên Hải Trong Thế Giới Mậu Dịch Của Hội An, thời khoảng 1550-1830

(Nguồn: http://www.gio-o.com/NgoBacCWheeler1.htm)

- John K. Whitmore Sự Trổi Dậy Của Miền Duyên Hải: Mậu Dịch, Quốc Gia và Văn Hóa Thời Ban Sơ Của Đại Việt (Nguồn:http://www.gio-o.com/NgoBacJohnWhitmoreBien1.htm)

(5) Điều nầy có ghi trên bản đổ của Matteo Ricci và bản đồ của Ricci cũng phản ánh tư tưởng nầy của Nhà Minh

Xem: Đinh Kim Phúc, Những phát hiện mới chung quanh tấm bản đồ thế giới của Matteo Ricci, Số Xuân Diễn Đàn.

(Nguồn: http://vtunnel.com/index.php/1010110A/fab14b5db5385e41333b264dba28f7173fe398010076ba824be1c17b4071f579ed2d03a87acd2d012eb6bd8873ce4ed07977c7eab0e01ffc76e28189e3e441cbd7ba692d72178f14766f1fc77fb6c36cef92a09e92cfbaff1b1c9eaa482d0898e8f2b9dab83b2715462)

(6) Cuộc Đại Viễn Chinh Nam Hải của Trịnh Hòa—trang 99. GS Miyazaki Masakatsu, đại học Giáo Dục Hokkaido (NB) NXB Chukoshinsho 1997.

—–

* Ba Sàm bổ sung: Cùng một tác giả:

+ Những lập luận mâu thuẫn của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa (Đại đoàn kết)

+ 295. Hai trang web: ĐCSVN và ĐSQ Hàn Quốc

+ 296. Mục Lân, An Lân, Phú Lân? (Vanchuongviet.org)

+ 299. TRUNG QUỐC VI PHẠM CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ!

+ 303. TAM GIÁC TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN-PHILIPPINES TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

+ 305. QUAN HỆ TRUNG-NHẬT-BÀI HỌC CHO VN.

+ 318. THÀNH NGỮ “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ”

+ 321. “THẤT TRẢM SỚ”

+ 333. VẤN ĐỀ TÊN GỌI BIỂN ĐÔNG TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

+ 343. ĐỔI TÊN GỌI BIỂN ĐÔNG CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

+ 366. TỪ BÃI CÁT VÀNG CHO ĐẾN HOÀNG SA-TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

+ 423. KẾ HOẠCH “TẰM ĂN DÂU”

+ 438. HOÀNG SA-TRƯỜNG SA MÃI MÃI LÀ CỦA VIỆT NAM

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | 1 Comment »

495. Một con Rồng đói

Đăng bởi anhbasam on 07/03/2010

Economist.com

Một con Rồng đói

Nỗ lực của Trung Quốc kiếm tìm các nguồn tài nguyên

Ngày 13-3-2008

Từ bản Báo in của The Economist

Ham muốn mãnh liệt của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên để bù đắp vào cơn bùng nổ trao đổi hàng hóa toàn cầu. Các nước phát triển lo ngại sẽ bị bỏ lại trên mặt đất khô kiệt, song những tác động lớn nhất sẽ thấy rõ ngay trong bản thân Trung Quốc, theo Edward McBride


BÊN CẠNH vệt đường ray, nằm giữa hai gò đất nhỏ nhuốm đỏ màu rỉ sắt tại trung tâm vành đai khai mỏ của Congo, ba người làm công Trung Quốc xuất hiện như đến từ cõi hư vô. Có nhiều người Trung Quốc ở đây trong những ngày này, giải thích cho điều mà một trong những đồng bào của họ, Harvey Lee, anh chàng đang lái xe chạy xuyên qua mấy lùm cây tới xí nghiệp khai thác đồng kế bên do anh điều khiển cho một hãng sản xuất kim loại của Canada. Dọc đường đi, anh ta chỉ tay vào những người thợ đúc mới vào nghề, “Đấy đấy,” anh nói, khoát tay chỉ vào một dãy nhà xưởng lợp tôn lá và những lò bễ đang khạc lửa, “là thuộc về một tay đến từ Thượng Hải.” Lát sau, khi những khu nhà xiêu vẹo hiện ra trước mắt, anh tiếp lời, “và chỗ kia thuộc về hai bà đến từ Hong kong.” ? Trong mọi thứ ở đây, anh ta nhẩm tính, các doanh nhân Trung Hoa đã dựng lên một nửa trong số các xí nghiệp sơ chế bán thành phẩm của vùng Lubumbashi.

Chung quanh Lubumbashi, thủ phủ tỉnh Katanga giàu có nguồn đồng đỏ của nước Congo, có nhiều dấu hiệu của một cuộc xâm chiếm bất ngờ của Trung Quốc. Những tay môi giới người Trung Hoa đã bắt đầu thu mua quặng từ nhiều người thợ mỏ liều lĩnh trong vùng và bán nó cho các xí nghiệp sơ chế kiểu như của anh chàng Lee. Những người dân địa phương chỉ ra vài ngôi biệt thự nằm trong khu đồn trú quân thực dân rợp bóng cây của thành phố giờ đây đầy những thương gia Trung Hoa bí ẩn. Katanga Fried Chicken, nhà hàng nổi tiếng nhất ở Lubumbashi cho tới nay, giờ đây đã có ba đối thủ Trung Hoa.

Nếu như mọi điều đều theo đúng với kế hoạch thì những hoạt động kinh doanh mới mẻ này chẳng mấy chốc sẽ bị bao phủ bởi làn sóng đầu tư của người Trung Quốc trong một quy mô lớn hơn nhiều. Vào cuối năm 2007 chính phủ Congo đã loan báo rằng các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc sẽ xây dựng hoặc tân trang nhiều tuyến đường sắt, đường bộ và hầm mỏ trong khắp đất nước với chi phí khoảng 12 tỉ dola, đổi lại họ được quyền khai thác quặng đồng với giá trị tương đương. Toàn bộ giá trị trao đổi đó lớn gấp ba lần ngân sách quốc gia hàng năm của Congo và lớn khoảng gấp mười lần số viện trợ mà “nhóm tư vấn” của các nhà tài trợ phương Tây đã hứa cho nước này mỗi năm cho tới năm 2010. Các giới chức Trung Quốc có vẻ như đã quá lo lắng làm sao kiếm được đủ các nguồn khoáng sản nhằm duy trì mức tăng trưởng kinh tế đáng kể của đất nước mình nên họ đã sẵn sàng đầu tư hàng tỉ dola vào những khu vực nghèo nàn bẩn thỉu và luôn bị chiến tranh cày xới như Congo – nhiều hơn hàng tỉ dolo trên thực tế so với các chính phủ phương Tây và các nhà đầu tư liên quan đang đổ vào đây.

Và Congo không phải là mối lợi duy nhất trong cơn đói khát các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc. Từ Canada đến Indonesia cho tới Kazakhstan, các công ty Trung Quốc đang ngấu nghiến dầu lửa, khí gas, than đá và kim loại, hoặc chi phí cho quyền được khai thác chúng, hay mua lại các công y đang sản xuất các tài nguyên này. Các chuyến tàu thủy đang xếp hàng chờ rời cảng than đá lớn nhất Australia, Newcastle, để chuyển những chuyến hàng cho Trung Quốc theo dự định (xem hình ở đầu trang); là tại một điểm trên cả một dãy dài 79 con tàu. Các nền kinh tế Phi châu và Mỹ Latin đang tăng trưởng với nhịp độ nhanh nhất trong hàng thập kỷ qua cũng là nhờ một phần lớn từ đòi hỏi rất cấp bách của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên của họ.

Sức tiêu thụ đang đâm chồi nẩy lộc của Trung Quốc đã giúp cho việc đẩy giá của mọi loại nhiên liệu, kim loại và lương thực lên tới những đỉnh điểm mới so với năm vừa qua. Các nhà phân tích nhìn nhận có chút ít viễn cảnh cho sự kết thúc giai đoạn bùng nổ; giá cả của một số ít mặt hàng đã sút giảm tới mức tồi tệ trước triển vọng kinh tế Mỹ đang xấu dần, song các mặt hàng khác, gồm dầu lửa, lúa mì và quặng sắt vẫn tiếp tục đạt tới những bảng thành tích mới. Trung Quốc, với khoảng một phần năm dân số thế giới, giờ đây tiêu thụ một nửa số xi măng của thế giới, một phần ba thép và hơn một phần tư lượng nhôm. Lượng nhập khẩu các loại tài nguyên thiên nhiên của nước này đang tăng lên thậm chí nhanh hơn mức tăng vọt của nền kinh tế. Quặng sắt nhập qua đường biển, là một ví dụ, đã tăng cao tới 27% một năm trong vòng bốn năm qua. Các công ty khai khoáng phương Tây đang thích thú duy trì sự bùng nổ này.

Những tiến bộ không được chào đón

Song biểu hiện bất ngờ vươn tầm với ra toàn cầu của Trung Quốc đang phát sinh nhiều mối lo ngại dẫu có vẻ như là một thành công. Năm 2005, nghị sĩ quốc hội Mỹ, khi đề cập tới các mối quan ngại mơ hồ đối với an ninh quốc gia, đã làm phá sản một đề xướng tiếp quản đối với Unocal, một hãng dầu khí của Mỹ, bởi hãng dầu quốc gia CNOOC của Trung Quốc. Ứng cử viên đối lập trong cuộc bầu cử tổng thống ở Zambia năm 2006 đã giành một vị trí đặc biệt qua việc công kích vào sự có mặt của Trung Quốc đang gia tăng tại nước này. Các cư dân tại miền viễn đông Nga lo ngại rằng Trung Quốc đang lập kế hoạch cướp đoạt dầu lửa và gỗ của họ và thậm chí có thể tới định cư tại những vùng hẻo lánh ở đây.

Một số tổ chức phi chính phủ lo ngại rằng các công ty của Trung Quốc sẽ phớt lờ những quy định cơ bản của luật pháp, bảo vệ môi trường và các tiêu chuẩn lao động trong cuộc rượt đuổi để có được các nguồn tài nguyên, vạch lối chỉ đường cho những trò tham nhũng, ô nhiễm môi trường theo sau các hoạt động khai thác của họ. Các công ty phương Tây bực bội trước việc nhiều doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc bằng việc ganh đua đã có những hoạt động xa rời cả lợi ích thương mại. Họ còn nói rằng chính phủ Trung Quốc sẵn sàng trả những khoản tiền chênh lệch để giành quyền khai thác sao cho cố gắng có được phương cách tiếp cận các nguồn tài nguyên khoáng sản. Họ thậm chí còn can thiệp bất chấp thông lệ, nhân danh các công ty của nước mình bằng cách đề nghị các khoản viện trợ cả gói to lớn cho những nước nào chào đón nguồn đầu tư của Trung Quốc. Tất cả thực tế này, là đáng lo ngại, sẽ gây tổn hại tới lợi ích của các hãng khai thác than và dầu lửa lớn, thúc đẩy lạm phát và dồn đẩy phương Tây lao vào cuộc đua tranh với Trung Quốc trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên khoáng sản.

Các nhà ngoại giao và giới học giả, về phần mình, đã lo ngại rằng phương Tây “đang đánh mất” Phi châu và những khu vực giàu tài nguyên khác. Sự nổi lên bất ngờ của Trung Quốc, theo quan điểm này, sẽ làm suy giảm ảnh hưởng của Mỹ, Âu châu và các nền dân chủ giàu có khác đối với thế giới đang phát triển. Trung Quốc sẽ trợ giúp cho các chế độ bị tẩy chay và cổ vũ họ thách thức các tiêu chuẩn quốc tế. Tham nhũng, quản lý kinh tế tồi, sự trấn áp và bản chất không kiên định sẽ sinh sôi nảy nở. Nếu ảnh hưởng có tính tai họa này lan truyền quá rộng rãi, theo lời một nhà phê bình, thì “tính nhất trí Washington” trong chủ nghĩa tự do kinh tế và nền dân chủ sẽ tìm thấy chính nó trong cuộc đua tranh với một “tính nhất trí Bắc Kinh” của sự phát triển do nhà nước lãnh đạo và chế độ độc tài.

Mối lo ngại đó là hoàn toàn không có căn cứ nếu như cách quản lý của một vài láng giềng của Congo là tất cả những gì đã bị bỏ qua. Angola, ở phía nam, đang được tiếp nhận rất nhiều việc trợ và đầu tư từ Trung Quốc khi mà năm 2006 nước này đã quyết định không cần hàng triệu dola từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế và tất cả những luật lệ khó chịu đối với họ về quản lý kinh tế minh bạch và lành mạnh. Sudan, ở phía bắc, nhún vai khinh rẻ những hăm doạ và trừng phạt của phương Tây về những hành động tàn bạo vẫn đang tiếp diễn tại Darfur, nhờ một phần lớn vào thiện ý của Trung Quốc đầu tư vào những giếng dầu của Sudan và mua lại hàng hóa xuất khẩu của nước này. Hơn nữa, sự hăng hái giao thương của Trung Quốc tại Myanmar, và thái độ miễn cưỡng dễ hiểu của họ trong việc quở trách tất cả những hành động bạo ngược xảy ra tại nơi đây, đã giúp cho việc ngăn cản một hành động phản ứng mạnh mẽ của quốc tế đối với sự đàn áp bằng bạo lực trước những cuộc biểu tình hoà bình tại đó vào năm ngoái.

Dù sao, báo cáo đặc biệt này sẽ biện luận rằng những mối quan ngại đó về những hệ quả khủng khiếp từ sự lùng kiếm của Trung Quốc tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên là quá mức. Quả tình Trung Quốc xử sự với các nhà độc tài bằng chính sách bàn tay nhung, song họ đã bị cô lập ghê gớm trước hành động đó. Các công ty của họ không thường xuyên duy trì các tiêu chuẩn cao nhất, song một lần nữa, nhiều hãng của phương Tây cũng chẳng phải là những thiên thần. Năm mươi năm viện trợ của Âu châu và Mỹ đã không thành công trong việc đem tới nhiều sự thịnh vượng cho Phi châu và các quốc gia nghèo đói khác, trừ những xứ sở giàu tài nguyên khoáng sản. Một cách tiếp cận khác từ Trung Quốc có lẽ sẽ mang lại những kết quả tốt hơn. Tối thiểu nó sẽ khích lệ những nhà hảo tâm khác tìm kiếm những phương cách hiệu quả hơn.

Với tất cả những tiếng kêu cứu báo động, Trung Quốc vẫn chỉ là một trong rất nhiều quốc gia đang lùng kiếm các nguyên liệu thô trên khắp thế giới. Nó đã giành được ảnh hưởng lớn nhất tại các nước mà các chính phủ Tây phương đã nổi rõ sự vắng mặt của họ, và nơi mà những lợi ích chiến lược ít quan trọng đang bị đe doạ. Hơn nữa, trong khi Trung Quốc đang trở nên dính líu nhiều hơn vào những nơi ví như Congo, các chính sách của nó đang bắt đầu thay đổi. Họ đã hứa hợp tác với World Bank trong những nỗi lực phát triển của mình tại Phi châu. Họ dường như không còn có vẻ sẵn sàng quay lại với các đồng minh đáng trách của mình để đối mặt với những xỉ nhục của quốc tế. Các nhà ngoại giao của họ, một ví dụ, rốt cuộc cũng đã chấm dứt lối nói như vẹt của mình về việc không cho phép can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, và đã cho phép lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc triển khai tại Sudan.

Trường thiên tiểu thuyết về Sudan cho thấy mức độ nhạy cảm tới đâu để những người cầm quyền ở Trung Quốc đã trở thành mục tiêu của những lời chỉ trích, dù cho họ có nổi tiếng là những người không biết xúc động. Khi Steven Spielberg rút lui khỏi vai trò như là một cố vấn cho Olympics Bắc Kinh để phản đối hành động không thích hợp của Trung Quốc trong việc phải làm nhiều hơn đối với Darfur, một dàn đồng ca lanh lảnh những lời chỉ trích đến từ hệ thống truyền thông chính thức của Trung Quốc – cho thấy rằng cử chỉ đó quả thực có một ảnh hưởng.

Các công ty của Trung Quốc sẽ tất yếu tự nhận ra mình trong cuộc đua tranh khốc liệt với các hãng của Tây phương trong việc kiếm tìm nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong khi họ buộc phải vậy nếu thị trường toàn cầu hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên, phần lớn trong số họ không phải hoạt động rất khác nhau. Tới phạm vi mà chính phủ Trung Quốc bao cấp cho sản phẩm dầu lửa, họ đã giúp cho tất cả các công ty giảm giá bán (sự bao cấp cho khâu tiêu thụ dầu là một vấn đề khác nữa). Như là một khách hàng lớn nhất thế giới trong mọi thứ sản phẩm, Trung quốc một cách tự nhiên muốn đảm bảo một nguồn cung ứng sẵn sàng của họ nhằm giữ cho nền kinh tế vận hành. Song các thị trường cho các sản phẩm mang tính toàn cầu, và sự rủi ro của bất cứ khách hàng nào trong việc mua vét nguồn hàng, hay gắn chặt vào chúng với một mức giá thấp, sẽ không có ý nghĩa đáng kể.

Ghi bàn thắng

Những gì diễn ra tồi tệ nhất từ sự lùng kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc sẽ được nhìn thấy không phải tại những quốc gia có tài nguyên, mà cũng không phải tại các quốc gia đang cùng đua tranh, mà là trong chính bản thân Trung Quốc. Trong một vài năm qua, khối lượng các loại nguyên liệu thô mà nước này tiêu thụ trên đơn vị đầu ra đã tăng lên ghê gớm. Chỉ xét riêng, Trung Quốc đã từ một gã keo kiệt trở nên kẻ tham ăn trong việc sử dụng năng lượng của mình, và lúc này đang vật lộn để kiêng khem. Điều đó liên hệ với những nguồn nhập khẩu dầu, gas và than đá, và rồi cả những mắc míu với nước ngoài hơn nữa. Song điều này đã dẫn tới tình trạng cạn kiệt ghê gớm nguồn tài nguyên làm cho Trung Quốc không thể nhập khẩu, ví như không khí và nước sạch.

Trung Quốc đang xây cất một kho dự trữ khổng lồ của ngành công nghiệp nặng dơ bẩn, khi chỉ tính trong số những tỉnh duyên hải của nó đang giàu lên nhanh chóng nhưng phải lo lắng tới những hệ quả. Các kháng nghị về những vấn đề môi trường đang gia tăng. Không đủ lượng nước trong lưu vực sông Hoàng Hà, nơi bao trùm một khu vực rộng lớn ở miền bắc Trung Quốc, cung cấp nước cho cả ruộng đồng và các nhà máy. Mưa a-xit từ các nhà máy nhiệt điện đang làm giảm năng suất nông nghiệp, dấy lên những bóng ma bất ổn tại nông thôn. Đúng vậy, các giới chức đang phải vật lộn để đảm bảo rằng không khí sẽ thích hợp cho việc hô hấp của các lực sĩ tại thế vận hội Olympics mùa Hè này. Trong khi đó mọi thứ, số lượng những nhà máy luyện thép độc hại, những lò nung xi măng và những nhà máy điện vẫn tăng lên không ngớt. Tình trạng trái đất đang nóng dần lên, được bồi bổ bởi khói bụi ô nhiễm, sẽ làm cho tất cả những vấn đề này thậm chí tồi tệ hơn.

Những lo âu về môi trường không chắc sẽ làm hạ bệ chế độ Cộng sản, hoặc ngay cả khuấy động nhiều nỗi phẫn uất từ sự tước đoạn một cách độc đoán đất đai của những người dân nghèo khổ nhất ở Trung Quốc. Song những lo âu đó chắc chắn đang nhắc nhở chính phủ phải mang lại một phần những gì mà đường nối phát triển kinh tế của nó muốn theo đuổi. Cho tới lúc này, những nỗ lực của họ hạ nhiệt nền kinh tế đang tăng trưởng, cổ vũ cho việc sử dụng năng lượng có hiệu quả và thôi trò bú mớm cho nền công nghiệp nặng đã đem lại chút ít hiệu quả. Trái lại, thất bại liên tục sẽ rốt cuộc làm cho Trung Quốc trở thành một xứ sở kém thịnh vượng và thiếu ổn định hơn.


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

——–

Economist.com

CHINA’S QUEST FOR RESOURCES

A ravenous dragon

Mar 13th 2008
From The Economist print edition

China’s hunger for natural resources has set off a global commodity boom. Developed countries worry about being left high and dry, but the biggest effects will be felt in China itself, says Edward McBride

BESIDE the railroad track, between two hillocks of rust-red soil in the midst of Congo’s mining belt, three Chinese labourers appear as if from nowhere. There are lots of Chinese around these days, explains one of their compatriots, Harvey Lee, who is driving through the scrub to the nearby copper plant he runs for a Canadian metals firm. On his way, he points out several rudimentary smelters. “That one”, he says, waving at a clump of corrugated-iron sheds and belching chimneys, “is owned by a man from Shanghai.” Moments later, when another ramshackle compound comes into view, he adds, “and that one belongs to two ladies from Hong Kong.” In all, he reckons, Chinese entrepreneurs have set up half of Lubumbashi’s 50-odd processing plants.

All around Lubumbashi, the capital of Congo’s copper-rich province of Katanga, there are signs of a sudden Chinese invasion. Chinese middlemen have begun buying ore from the area’s many wildcat miners and selling it on to processing plants like Mr Lee’s. Locals point out several villas in the city’s leafy colonial cantonment that are occupied by mysterious Chinese businessmen. Katanga Fried Chicken, hitherto Lubumbashi’s most popular restaurant, now has three busy Chinese competitors.

If all goes according to plan, these fledgling businesses will soon be overshadowed by Chinese investment on a much grander scale. In late 2007 the Congolese government announced that Chinese state-owned firms would build or refurbish various railways, roads and mines around the country at a cost of $12 billion, in exchange for the right to mine copper ore of an equivalent value. That sum is more than three times Congo’s annual national budget and roughly ten times the aid that the “consultative group” of Western donors has promised the country each year until 2010. The Chinese authorities, it seems, are so anxious to obtain enough minerals to sustain their country’s remarkable economic growth that they are willing to invest billions in a dirt-poor and war-torn place like Congo—billions more, in fact, than Western governments and investors combined are putting in.

And Congo is not the only beneficiary of China’s hunger for natural resources. From Canada to Indonesia to Kazakhstan, Chinese firms are gobbling up oil, gas, coal and metals, or paying for the right to explore for them, or buying up firms that produce them. Ships are queuing off Australia’s biggest coal port, Newcastle, to load cargoes destined for China (pictured above); at one point last June the line was 79 ships long. African and Latin American economies are growing at their fastest pace in decades, thanks in large part to heavy Chinese demand for their resources.

China’s burgeoning consumption has helped push the price of all manner of fuels, metals and grains to new peaks over the past year. Even the price of shipping raw materials recently reached a record. Analysts see little prospect of an end to the boom; the prices of a few commodities have fallen on the back of America’s worsening economic outlook, but others, including oil, wheat and iron ore, continue to set new records. China, with about a fifth of the world’s population, now consumes half of its cement, a third of its steel and over a quarter of its aluminium. Its imports of many natural resources are growing even faster than its bounding economy. Shipments of iron ore, for example, have risen by an average of 27% a year for the past four years. Western mining firms are enjoying a sustained boom.

Unwelcome advances

But China’s sudden global reach is generating as much anxiety as prosperity. In 2005 America’s congressmen, citing nebulous national-security concerns, scuppered the proposed takeover of Unocal, an American oil firm, by CNOOC, a state-owned Chinese one. The opposition candidate in Zambia’s presidential election in 2006 made a point of attacking the growing Chinese presence in the country. Residents of Russia’s far east fear that China is planning to plunder their oil and timber and perhaps even to colonise their empty spaces.

Some non-governmental organisations worry that Chinese firms will ignore basic legal, environmental and labour standards in their rush to secure resources, leaving a trail of corruption, pollution and exploitation in their wake. Western companies fret that the Chinese state-owned firms with which they suddenly find themselves competing have an agenda beyond commercial gain. The Chinese government, they say, is willing to pay over the odds for mining or drilling rights to secure access to physical resources. It also intervenes unfairly on its companies’ behalf, they claim, by offering big aid packages to countries that welcome Chinese investment. All this, it is feared, will dent the profits of big oil and mining firms, stoke inflation and imperil the West’s access to resources that it needs just as much as China does.

Diplomats and pundits, for their part, fear that the West is “losing” Africa and other resource-rich regions. China’s sudden prominence, according to this view, will reduce the clout of America, Europe and other rich democracies in the developing world. China will befriend ostracised regimes and encourage them to defy international norms. Corruption, economic mismanagement, repression and instability will proliferate. If this baleful influence spreads too widely, say the critics, the “Washington consensus” of economic liberalism and democracy will find itself in competition with a “Beijing consensus” of state-led development and despotism.

Such fears are not entirely groundless if the recent conduct of some of Congo’s neighbours is anything to go by. Angola, to the south, has been receiving so much aid and investment from China that in 2006 it decided it had no need of the International Monetary Fund’s billions and all the tiresome requirements for transparency and sound economic management that come with them. Sudan, to the north, has shrugged off Western threats and sanctions over the continuing atrocities in Darfur, thanks in large part to China’s readiness to invest in Sudanese oilfields and buy their output. Farther afield, China’s eagerness to do business in Myanmar, and its consequent reluctance to chide the tyrannical generals that run the place, helped to prevent a forceful international response to the violent repression of peaceful demonstrations there last year.

Nonetheless, this special report will argue that concerns about the dire consequences of China’s quest for natural resources are overblown. China does indeed treat some dictators with kid gloves, but it is hardly alone in that. Its companies do not always uphold the highest standards, but again, many Western firms are no angels either. Fifty years of European and American aid have not succeeded in bringing much prosperity to Africa and other poor but resource-rich places. A different approach from China might yield better results. At the very least it will spur other donors to seek more effective methods.

For all the hue and cry, China is still just one of many countries looking for raw materials around the world. It has won most influence in countries where Western governments were conspicuous by their absence, and where few important strategic interests are at stake. Moreover, as China is becoming more involved in places such as Congo, its policies are beginning to change. It has promised to co-operate with the World Bank in its development efforts in Africa. It no longer seems prepared to back its most objectionable allies in the face of international opprobrium. Its diplomats, for example, did eventually stop parroting their line about unwarranted interference in the internal affairs of a sovereign state and allow United Nations peacekeepers to be deployed in Sudan.

The saga over Sudan shows how sensitive the Chinese authorities have become to criticism, despite their impassive reputation. When Steven Spielberg resigned as an adviser to the Beijing Olympics in protest at China’s failure to do more about Darfur, a shrill chorus of criticism arose from China’s official media— suggesting that such gestures do indeed have an impact.

Chinese companies will inevitably find themselves in fierce competition with Western ones for natural resources, as they must if global markets are to work efficiently. For the most part, however, they do not operate very differently from their peers. To the extent that the Chinese government does subsidise oil production, it helps to bring down the price for everyone else (its subsidies for oil consumption are another matter). As the world’s biggest consumer of many commodities, China naturally wants to ensure a steady supply of them to keep its economy going. But markets for commodities are global, and the risk of any one consumer cornering supplies, or securing them at a lower price, is negligible.

Own goal

The worst fallout from China’s quest for natural resources will be seen not in the countries they come from, nor in the countries that are competing for supplies, but in China itself. Over the past few years the volume of raw materials it consumes per unit of output has risen sharply. In particular, China has gone from miser to glutton in its use of energy, and is now struggling to diet. That has involved bigger imports of oil, gas and coal, and so more foreign entanglements. But it has also led to the rapid depletion of resources that China cannot import, such as clean air and water.

China is building a huge stock of grimy heavy industry, just as its coastal provinces are getting rich enough to care about the consequences. Protests about environmental issues are on the increase. There is not enough water in the Yellow River basin, which covers a huge swathe of northern China, to supply both farmers and factories. Acid rain from coal-fired power plants is reducing agricultural yields, raising the spectre of increased rural unrest. As it is, the authorities are struggling to ensure that the air will be fit for athletes to breathe at the Olympics in Beijing this summer. All the while, the number of noxious steel mills, cement kilns and power plants relentlessly increases. Global warming, which is fed by their fumes, will make all these problems even worse.

Environmental concerns are unlikely to bring down the Communist regime, or even to stir as much resentment as the arbitrary confiscation of land currently does among China’s poorest. But those concerns are certainly prompting the government to reflect on what sort of economic path it wants to pursue. So far, its efforts to temper economic growth, encourage energy efficiency and wean the country off heavy industry have had little effect. But continued failure would eventually make China a less prosperous and more unstable place.

Đăng trong Trung Quốc | Tagged: , | 2 phản hồi »

486. Trung Quốc nên có ngày cựu chiến binh

Đăng bởi anhbasam on 28/02/2010

China Daily

Trung Quốc nên có ngày cựu chiến binh

Yuan Boyang

Ngày 26-2-2010


Trong thời gian diễn ra lễ hội mùa xuân mừng năm con Hổ, Guo Yimin đã không được đoàn tụ với gia đình. Người cựu chiến binh của cuộc phản công tự vệ chống lại Việt Nam đã phải sống một mình tại biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam ở quận Aidian, tỉnh Quảng Tây để làm trọn lời hứa 30 năm trước với người bạn chiến đấu đã hy sinh của mình năm 1979: “Người nào còn sống sót thì phải đem hài cốt của người kia về quê nhà”.

Hoàn cảnh của người bạn chiến đấu với Guo không phải là tệ nhất, ít nhất là ai đó vẫn còn nhớ tới ông và đã làm gì đó cho ông. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, hàng ngàn binh lính Trung Quốc thậm chí đã được chôn cất không rõ tên tuổi ở nước ngoài, một thực trạng gây nên bao nhiêu lời trách móc khôn nguôi từ các gia đình và bạn bè còn sống sót của họ. Và đây không phải là vấn đề duy nhất đối với các cựu chiến binh Trung Quốc.

Người chết đã ra đi từ lâu, trong khi những người sống sót phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Một lý do là trong số các cựu binh Trung Quốc thuộc một nhóm người nào đó, đói nghèo là một hiện tượng phổ biến. Đối với các cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Triều Tiên, khoản trợ cấp hàng tháng của chính phủ vào khoảng 400 nhân dân tệ, trong khi các cựu binh trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam được trợ cấp chưa tới 200 nhân dân tệ một tháng. Mức trợ cấp này nằm dưới mức sống tối thiểu, thấp hơn nhiều so với mức trợ cấp trung bình của một công nhân bình thường cùng lứa tuổi nghỉ hưu.

Một lý do khác, điều đáng thương hơn là các cựu chiến binh phải chịu đựng thái độ thiếu tôn trọng và khinh miệt của xã hội. Như trang Peolple.com.cn cho biết, cựu binh Fu Xiqing, người đã bị mất một chân trong cuộc kháng chiến chống Nhật, đã phải sống những năm cuối đời của mình tại Thiên Tân với công việc vệ sinh đường phố; Yang Yunfeng, người chiến binh đã tiêu diệt những kẻ xâm lược bằng mã tấu trên cầu Lugou, nhưng trớ trêu là ông đã trở thành kẻ ăn mày không được hoan nghênh tại cổng Bảo tàng Kỷ niệm cuộc chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc.

Trong khi đó, các cựu chiến binh Nhật Bản có thể nhận được hơn một trăm ngàn Yen (7.600 nhân dân tệ) mỗi tháng như là món “tiền thưởng”. Các cựu binh Đài Loan được khoản trợ cấp 15.000 Đài tệ (3.200 nhân dân tệ) hàng tháng. Và ngày ‘11-11′, được gọi là Ngày Độc thân ở Trung Quốc, là một ngày nghỉ đặc biệt theo nghi thức giành cho các binh sĩ giải ngũ ở hoa Kỳ – Ngày Cựu chiến binh – một ngày để chứng tỏ lòng yêu nước vĩ đại và sức mạnh gắn kết dân tộc.

Người lính từng là một cái tên danh dự ở Trung Quốc, là “những người đáng yêu nhất”. Thế nhưng ngày nay, đa số những người này đều không được đối xử tốt. Xã hội không nên quá vô ơn khi chúng ta lặp đi lặp lại rằng chúng ta sẽ không bao giờ quên lịch sử. Các cựu binh trong cuộc chiến tranh chống Nhật giờ đây đã ở độ tuổi 90, còn các cựu binh trong cuộc chiến Triều Tiên thì khoảng 80 tuổi và trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam là 60 tuổi. Để tạo cho họ một cuộc sống tử tế, có phẩm giá trong những năm cuối đời, chúng ta không có nhiều thời gian.

Ngày Cựu chiến binh đã được đề nghị tại kỳ họp Quốc hội trước đây, song nó đã không được giải quyết. Một phiên họp mới của Quốc hội sẽ bắt đầu vào tuần tới. Trung Quốc cần phải có một ngày như vậy dành cho những chiến binh lớn tuổi, để vào một khoảnh khắc trong ngày đó chúng ta có thể nói lời “mãi mãi biết ơn” và nghe họ đáp lại “không bao giờ hối tiếc. Nếu như chúng ta để cho khoảnh khắc đó mất đi, chúng ta có thể bị mất đi cơ hội cuối cùng.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: , , , | 2 phản hồi »

477. Đàn ông TQ hướng sang VN tìm ‘vợ lý tưởng’

Đăng bởi anhbasam on 19/02/2010

CNN

Đàn ông Trung Quốc hướng sang Việt Nam

để tìm ‘người vợ lý tưởng’

Đối mặt với tình trạng khan hiếm cô dâu ở trong nước, đàn ông Trung Quốc đang hướng về phương nam để tìm những người bạn đời vui vẻ và ít tốn kém.

Xing Zhao

Ngày 19-2-2010


Tin tức cho biết rằng Trung Quốc sẽ là nơi mà 24 triệu đàn ông độc thân dư thừa không kiếm được vợ vào năm 2020 đã gây ra một nỗi hốt hoảng không phải là nhỏ đối với số đàn ông trẻ tuổi của đất nước này. Và như những gì thường xảy ra trong thời khủng hoảng, lời quảng bá cho một phương thuốc thần kỳ, chữa lành tất cả các bệnh về hôn nhân, một phương thuốc chữa bách bệnh dành cho những người độc thân đang lo âu ở Trung Quốc, đã được lan rất nhanh như là một đám cháy được đổ dầu trên mạng, kích thích thói dâm dục và nỗi thèm khát.

Từ câu chuyện lo lắng về hôn nhân của nam giới ở Trung Quốc đã sinh ra huyền thoại về người vợ lý tưởng, người vợ có thực ở một nơi không xa, mà chi phí không quá cao. Với giá 35.000 nhân dân tệ, bạn cũng có thể làm người đàn ông hãnh diện đứng bên cạnh cô vợ trẻ, xinh đẹp và biết phục tùng, và mọi thủ tục chỉ trong vòng 3 tháng. Miền đất hứa này là Việt Nam và câu chuyện huyền thoại này đã là đề tài nóng trong hầu hết mọi trang web chính và diễn đàn trực tuyến ở Trung Quốc.

Câu chuyện thậm chí còn truyền cảm hứng cho một số đàn ông Trung Quốc thích phiêu lưu mạo hiểm, thực hiện những chuyến đi tới đất nước láng giềng của họ, đến nỗi tin chắc rằng những nỗi khao khát hôn nhân của họ sẽ được thỏa mãn tại đó.

Có điều tại sao lại là Việt Nam, và liệu câu chuyện đó có là sự thật?

Câu chuyện được bắt đầu với những sự thực đã được xác minh. Trung Quốc hiện có số người độc thân nam nhiều hơn nữ là 18 triệu. Một cuộc khảo sát trực tuyến có tên gọi là “Bạn có lo lắng về việc tìm kiếm một người bạn đời không?” đã tiến hành trên trang QQ.com, tiết lộ là 7.817 người trong tổng số 18.800 (chiếm 42%) được hỏi lo lắng rằng họ không thể lập gia đình. Rõ ràng vấn đề hôn nhân luôn ở trong tâm trí mọi người.

Những sức quyến rũ từ Việt Nam

Thế rồi, những lời đồn đại tồn tại trên không gian ảo đã dội trở lại và được thêm bớt, làm cho những người đàn ông Trung Quốc có ấn tượng sai lầm rằng Việt Nam đang liên tục ở trong tình trạng thay đổi, và rằng tỉ lệ giới tính nam nữ của nước này là ba người đàn ông thì có năm người phụ nữ. Những bài báo trên mạng miêu tả nước này như là một vùng đất trong cảnh khốn cùng, có những cô gái xinh đẹp ao ước có một cuộc sống ở Trung Quốc. Thêm nữa, là quảng cáo của các công ty môi giới hôn nhân phóng đại về việc đàn ông Trung Quốc độc thân ao ước một người vợ Việt Nam. Họ bảo đảm cô gái sẽ còn trinh, sẽ lấy bạn trong vòng ba tháng, và nếu như cô dâu của bạn bỏ trốn, họ cũng bảo đảm kiếm một cô khác thay thế.

Những chi tiết này được giải thích cặn kẽ trong các bài viết trên mạng trực tuyến. Một bài viết được đưa lên mạng Xici Hutong mô tả những cô gái Việt Nam tìm cách lấy người nước ngoài để thoát khỏi tình trạng nghèo đói ra sao. “Trong một chuyến đi của tôi tới Việt Nam, hướng dẫn viên người địa phương của chúng tôi, một cô gái Việt Nam 26 tuổi, đã bảo tôi rằng ước mơ của cô là lấy một người đàn ông Trung Quốc”, một anh chàng đã viết như vậy trong một bài báo. “Ở miền bắc Việt Nam, đàn ông có thể có vài vợ. Phụ nữ có vị trí rất thấp kém trong gia đình họ. Tất cả các cô gái xinh đẹp phải làm việc rất cực nhọc ngoài đồng cho tới già. Cho nên họ thực sự muốn lấy người Trung Quốc”.

Bài báo cũng khoác lác về chuyện Việt Nam phục vụ cho ngành du lịch của Trung Quốc ra sao. “Người dân Việt Nam biết Lãnh tụ Mao thích thịt lợn hầm, cho nên tất cả các nhà hàng lớn ở Việt Nam đều phục vụ món thịt lợn hầm”.

Cư dân mạng có tên là Hai Dao từ Dalian đã bình luận, “Là một thủy thủ, tôi đã tới Việt Nam nhiều lần. Xứ này rất nghèo khổ. Phụ nữ Việt Nam muốn lấy đàn ông Trung Quốc như là phụ nữ Trung Quốc muốn lấy người Mỹ. Khi tôi ở đó vào năm 2000, chỉ mất có 500 nhân dân tệ là cưới được một người phụ nữ Việt Nam”.

Những gì mà các cô gái Trung Quốc không có

Cuối cùng là các quảng cáo trên mạng đã thuyết phục họ là những điều kiện căn bản này đã sinh ra những người phụ nữ truyền thống, không phải tốn nhiều tiền để chăm sóc và có nét quyến rũ kín đáo. Da Hui Lang từ Quảng Châu nói là bản chất “dịu dàng và ngoan ngoãn” của các cô gái Việt Nam tỏ ra hấp dẫn. “Điều đó có giá trị hơn nhiều những cô gái Trung Quốc chỉ muốn có tiền thôi”.

Vấn đề tiền bạc và tài chính là vấn đề quan tâm nhất đối với những người ở độ tuổi từ 20 cho tới ngoài 30 tìm người lập gia đình ở Trung Quốc ngày nay, đặc biệt là ở Thượng Hải.

Công dân mạng tên Shen Me Mian Dai cũng nghĩ rằng quá khó để cưới được các cô gái Trung Quốc. “Các cô gái Trung Quốc đòi hỏi quá nhiều ở người đàn ông, và họ không còn coi trọng tiêu chuẩn làm việc cần cù và tốt bụng nữa. Cho nên đàn ông phải sang Việt Nam để tìm kiếm những người phụ nữ với các tiêu chuẩn này”.

Đặt tất cả những điều này lại với nhau, và câu chuyện cổ tích về người vợ Việt Nam hoàn hảo không chỉ được sinh ra, mà còn được nuôi dưỡng.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

* Hình minh họa chụp trên hai trang web quảng cáo lấy vợ Việt Nam.

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Trung Quốc | Tagged: , | 15 phản hồi »

463. NHẬN THỨC VÀ CHIẾN LƯỢC BIỂN CỦA TRUNG QUỐC

Đăng bởi anhbasam on 06/02/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NHẬN THỨC VÀ CHIẾN LƯỢC BIỂN CỦA TRUNG QUỐC

Bài 1: NHỮNG THAY ĐỔI TRONG QUAN NIỆM VỀ BIỂN CỦA TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Bảy, ngày 30-1-2010

(Tạp chí “Khai thác và quản lý biển” – Trung Quốc – số 6/2009)


Hầu hết các nước phát triển trên thế giới đều là những nước ven biển, nhưng ngược lại các nước này không thể có được nhận thức chung về biển, dẫn đến hiệu quả phát triển khác nhau. Quan niêm về biển là cách nhìn nhận chung và quan điểm cơ bản của mọi người đối với biển cũng như mối quan hệ giữa con người với biển. Quan niệm về biển là một phạm trù lịch sử, phản ánh hành vi đặc trưng của mọi người ở các thời đại khác nhau về biển, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế biển, thậm chí quyết định phương hướng phát triển trong tương lai của một dân tộc và nhà nước. Sự thức tỉnh của phương Tây hiện đại trong quan niệm về biển đã dẫn đến những phát hiện lớn về địa lý cũng như sự hùng mạnh của các nước phương Tây. Trung Quốc bắt đầu nhận thức về biển muộn hơn so với thế giới. Trong thế kỷ 21, kinh tế Trung Quốc hoà nhập toàn diện vào thế giới, sự dựa vào biển ngày càng lớn.

1 – Sự đặc trưng trong quan niệm truyền thống về biển của Trung Quốc.

Trong việc tiếp xúc lâu dài với biển, các cư dân ven biển thời Trung Quốc cổ đại đã có những nhận thức ban đầu về biển, trên cơ sở đó hình thành quan niệm về biển rất sớm, với tư các là một bộ phận tố thành của nền văn minh cổ đại Trung Hoa, quan niệm truyền thống về biển thể hiện rõ nét đặc sắc phương Đông.

Biển và đất liền là đặc trưng cơ bản về vị trí địa lý của Trung Quốc, cũng là ưu thế địa lý lớn nhất của Trung Quốc, nhưng vào thời cổ đại, ở mức độ rất lớn, biển là một sự ngăn cách về địa lý, cuối cùng Trung Quốc hình thành quan niệm địa lý mới; mối đe doạ đến từ đất liền Tây Bắc cuối cùng là tiêu điểm chú ý của các thời đại. Đặc trưng của cuộc đấu tranh địa lý này khiến cho tổ tiên của chúng ta hình thành khuynh hướng chính sách coi trọng đất liền, coi nhẹ biển; bên cạnh điều kiện tự nhiên ưu việt, nguồn của cải phong phú cũng như từ đó cảm giác thiên triều thượng quốc nảy sinh đều đã làm gay gắt thêm khuynh hướng về biển ở Trung Quốc, hơn nữa khuynh hướng này rất dễ là một quán tính lịch sử kéo dài liên tục. Đúng như một nhà Hán học người Mỹ cho rằng “nền văn minh Trung Hoa là một nền văn minh đại lục kiểu hướng nội khác với nền văn minh biển mang tính mở cửa, là một nền văn minh chính trị quan liêu, nông nghiệp ngưng trệ, tinh thần chiết trung và đầy sự thoả hiệp”.

Kết quả tất yếu mang tính khuynh hướng này là không quan tâm đến sự tồn tại của biển, sự bên lề về quan niệm biển đã quyết định nó rất khó lọt vào tầm mắt của các nhà cầm quyền, cũng không thể nâng lên tầm chiến lược quốc gia, chỉ có thể là sự tồn tại vụn vặt. Tuy Trung Quốc có sự nhìn xa trông rộng “muốn đất nước giàu có, hùng mạnh, không thể coi nhẹ biển, của cải từ biển mà ra, rủi ruo cũng từ biển mà đến”, nhưng lại thiếu sự kinh doanh lâu dài đối với biển, đừng nói gì đến việc theo đuổi đối với quyền lực trên biển cũng như có những đảm bảo tương ứng về thể chế. Cơ cấu xã hội tri thức, nông dân, doanh nhân coi doanh nhân ở tận đáy của xã hội, việc xây dựng hệ thống quan chức hùng mạnh càng khiến doanh nhân không có cơ hội được nâng lên vị thế nhà cầm quyền; các nhà cầm quyền bao đời nay đều theo khuynh hướng đánh đồng việc coi trọng nông dân với kiềm chế doanh nhân, điều này đã hạn chế việc phát triển của biển lấy buôn bán làm gốc, chính sách cấm biển gay gắt đã kiềm chế xu thế kinh tế biển tư nhân, xuyên tạc sự phát triển bình thường của quan niệm về biển. Ông tổ của thuyết quyền lực trên biển cận đại cho biết “xưa nay, số đông người theo đuổi ngành nghề liên quan đến biển là nhân tố quan trọng của quyền lợi về biển”. Không có sức mạnh biển tư nhân lớn mạnh là nền tảng, “một ông vua độc tài có thể xây dựng nên một sức mạnh trên biển mang tính quân sự thuần tuý v.v…, nhưng kinh nghiệm cho thấy hải quân của ông vua này giống như cây không có rễ”.

Chịu sự hạn chế của tư duy nông nghiệp truyền thống, quan niệm biển truyền thống có khuynh hướng nhất nguyên rất mạnh, thể hiện ngày càng nhiều ở sự nhận thức về biển đó là tập trung vào “những lợi ích của sản vật biển, coi trọng cá và muối”, “dựa vào biển để sống, coi biển là đồng ruộng” v.v… Trên thực tế, những điều này là sự tiếp diễn của nông nghiệp, hơn nữa đã bỏ qua sự mở cửa và tính thương mại quan trọng nhất mà bản thân biển đều có. Về khuynh hướng chính sách, nhưng kẻ thống trị phong kiến có lợi ích chính trị hẹp hòi, một mặt thực hiện chính sách cấm trao đổi thương mại với bên ngoài; mặt khác lại đẩy mạnh thương mại triều cống, điều này trái với quy luật kinh tế, thực hiện nguyên tắc “không trao đổi buôn bán mà chỉ cống nạp”, sẽ tách rời “buôn bán” và “cống nạp”. Chính sách đối ngoại này chỉ nói đến chính trị mà không tính đến giá thành, điều đó đã cản trở nghiêm trọng sự phát triển thương mại đối ngoại của nhà nước, rốt cuộc là trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính của triều đại Minh, cuối cùng khó có thể tiếp tục.

Ý thức biển truyền thống là hoà bình, không phải là coi việc cướp bóc của cải, chiếm lĩnh lãnh thổ, khai thác vùng đất ven biển là mục đích. Đúng như Lý Ước Sát bình luận: “Các nhà hàng hải phương Đông người Trung Quốc ôn hoà, quên thù cũ, khẳng khái, không đe doạ sự sinh tồn của người khác; họ được trang bị đầy đủ vũ khí, lại không chinh phục các dân tộc khác, cũng không xây dựng doanh trại”. Tuy quy mô và trình độ kỹ thuật của hạm đội Trịnh Hoà khi đó hoàn toàn có khả năng đi chinh phạt, nhưng hạm đội này đã thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình “bên trong giữ yên Trung Hoa, bên ngoài vỗ về, cùng hưởng thái bình”. Hạm đội này còn thông qua các biện pháp để hoà giải, làm dịu những mâu thuẫn giữa các nước Á Phi lúc đó, đồng thời tấn công hải tặc, bảo vệ an toàn giao thông trên biển, tìm cách thiết lập môi trường quốc tế ổn định lâu dài để đề cao uy tín và tiếng tăm trên trường quốc tế của thời nhà Minh.

Dưới sự chỉ dẫn của quan niệm biển này, triều đình Minh Thanh thực hiện chính sách co lại, thậm chí bế quan toà cảng, khiến Trung Quốc nhiều lần mất đi cơ hội phát triển, cuối cùng lạc hậu so với trào lưu phát triển của thế giới, rơi vào cảnh khó khăn.

2 – Sự phát triển trong quan niệm về biển thời cận đại Trung Quốc – những thay đổi mang tính bị động.

Bắt đầu từ năm 1840, quân đội các nước như Nhật Bản, Anh, Mỹ, Pháp, Nga, Đức, Italia, Áo đã xâm lược hơn 470 lần vùng ven biển Trung Quốc, ép Trung Quốc ký hơn 50 hiệp ước không bình đẳng. Một loạt thất bại trong chiến tranh đã làm thức tỉnh ý thức hoạn nạn khốn khó của người Trung Quốc, cũng đem lại những ảnh hưởng mạnh mẽ cho quan niệm biển truyền thông sang quan niệm biển hiện đại. Những thay đổi này đại thể lấy cuộc chiến tranh Giáp Ngọ làm đường ranh giới.

Sau cuộc chiến tranh Nha Phiến, mối đe doạ đến từ vùng ven biển đã làm thức tỉnh ý thức về biển của Trung Quốc, hình thành một loạt ý tưởng về chiến lược biển. Sự thất bại của cuộc chiến tranh biển Giáp Ngọ đã ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh của Trung Quốc và tình hình châu Á 100 năm qua, sự diệt vong của hải quân Bắc Dương quy mô lớn nhất châu Á khi đó đã tuyên bố sự thất bại của quan niệm phòng thủ biển bị động. Nguy cơ lớn về vùng biển ven bờ đã làm ý thức tỉnh ý thức hải quyền của Trung Quốc.

3 – Quan niệm về biển trong tương lai

Từ thế kỷ 21 đến nay, do sức ép về nguồn tài nguyên, sinh thái, kinh tế biển phát triển với tốc độ nhanh, các nước đều tỏ ra hào hứng chưa từng thấy đối với vấn đề biển. Các nước như Mỹ, Nhật Bản đều tới tấp đưa ra những chiến lược về biển và điều chỉnh chính sách biển của mình, tranh giành nguồn tài nguyên biển. Hàn Quốc đã đề ra chiến lược “Biển Hàn Quốc thế kỷ 21”, tuyên bố thành lập cơ quan ngang vụ – Uỷ ban chính sách biển, trực thuộc văn phòng tổng thống. Suy ngẫm về chính sách biển, đây là lần đầu tiên trong 30 năm qua và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, Uỷ ban chính sách biển trực thuộc văn phòng tổng thống Mỹ.

Cùng với việc Trung Quốc ngày càng nhanh chóng hoà nhập hệ thống kinh tế quốc tế, vai trò của biển ngày càng lớn trong việc phát triển của Trung Quốc trong tương lai, nhưng ý thức về biển của nhân dân đối với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế biển vẫn rất yếu. Trung ương đoàn thanh niên cộng sản đã mở một cuộc điều tra trong giới sinh viên ở Thượng Hải và đã phát hiện trên 90% sinh viên cho rằng lãnh thổ của Trung Quốc chỉ có hơn 9.600.000 km2, có sinh viên thẳng thắn cho rằng tranh chấp chủ quyền hải đảo không ảnh hưởng đến Trung Quốc. Việc toàn thể dân tộc ý thức rất mờ nhạt về biển rất bất lợi cho việc giữ vững toàn vẹn chủ quyền biển, quyền lợi biển cũng như thực thi chiến lược phát triển biển bền vững, Trung Quốc cần có một quan niệm mới về biển.

a-     Tích cực, chủ động

Khác với sự tiêu cực của thời cổ đại về biển, thờ ơ và không chú ý, quan niệm về biển cũng cânc khác với kiểu bị động, phản ứng của thời cận đại. Quan niệm mới về biển cần phải chủ động, tiếp thu những thành quả văn minh của các nước trên thế giới về biển, kết hợp mục tiêu phát triển với nhu cầu hiện thực của nhà nước, tính đến tình hình cơ bản của thế giới, xác định rõ chiến lược biển của bản thân, nhà nước hoàn toàn có thể nâng  việc nghiên cứu phát triển biển lên tầm chiến lược quốc gia giống như cuộc đại khai phát miền Tây. Điểm này được thể hiện rất rõ ở dân tộc Nga đó là quá trình theo đuổi không mệt mỏi đối với biển, và cũng là quá trình phát triển của nhà nước Nga. Mặt khác, cần nhìn nhận đúng đắn nguyên tắc “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác phát triển”. Nguyên tắc này tuyệt đối không những không để xảy ra tranh chấp giữa các nước khác nhau như Việt Nam và Philippin với Trung Quốc, mà còn cùng với các nước khác khai thác phát triển; sự bị động về quyền lợi biển không thể đổi lấy an ninh của vùng biển ven bờ, chúng ta không thể dùng phương thức hy sinh lợi ích biển để đổi lấy cái gọi là tình hình phát triển nào đó, cần phải tích cực tìm kiếm và thực thi phương thức mới về quyền lợi biển quốc gia, trong đó dồn sức phát triển kinh tế biển, chấn hưng sức mạnh biển, là nguồn gốc của việc Trung Quốc phát triển bền vững sự nghiệp biển,.

b-    Dự đoán

100 năm trước, mọi ngưòi không thể ngờ được rằng đường hàng hải bắc cực sẽ trở thành điểm nóng được nhiều nước quan tâm chú ý, và cũng không thể ngờ được cuộc tranh giành giữa các nước ven biển về thềm lục địa đang trở thành căn nguyên của vòng tranh chấp quốc tế mới. Quan niệm về biển trong tương lai cần phải tính đến điểm cốt lõi của vòng cạnh tranh tới về biển là gì? Chỉ có như vậy mới có thể phát huy vai trò chủ đạo đối với hành vi các nhân và nhà nước. Đúng là thiếu tính dự đoán và sự suy tính trước sau, Trung Quốc nằm ở thế bị động trong cuộc tranh giành biển Hoa Đông và biển Đông. Mọi người cần xác định rõ đảo Điểu Ngư không chỉ liên quan đến lãnh thổ trên biển 200.000 km2 và sự quy thuộc trên ½ nguồn tài nguyên dưới đáy biển Hoa Đông, hơn nữa có ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia và việc khai thác phát triển kinh tế trên biển của Trung Quốc trong tương lai.

c- Quan niệm hoà bình, hợp tác, khai thác phát triển

Dưới hệ thống quốc tế hiện hành, việc duy trì hoạt động kinh tế ở nước ngoài như đằut và thương mại cần dựa vào thị trường chung toàn cầu chứ không phải dựa vào sức mạnh quân sự của bản thân. Với tư cách nước lớn mang tính khu vực, việc duy trì đầu mối giao thông quan trọng của Trung Quốc đối với tuyến vận tải trên biển cũng chỉ có thể dựa vào hợp tác quốc tế. Do đó, việc xây dựng nên quan niệm lợi dụng một cách hoà bình đối với biển, tuân thủ luật biển quốc tế, trong khuôn khổ “Công ước luật biển Liên Hợp Quốc”, tăng cường hợp tác giữa các nước, phù hợp với lợi ích của Trung Quốc; thứ nữa, do tính đặc thù của nguồn tài nguyên biển, thu hút đầu tư nước ngoài cùng khai thác phát triển, tăng cường hợp tác quốc tế về mặt bảo vệ môi trường và khoa học kỹ thuật biển là điều rất cần thiết.

d-     Quan niệm đa phương, toàn diện

Bất kỳ sự nhận thức cô lập, tĩnh lặng đối với biển cũng như vai trò của biển trong sự phát triển của nhà nước đều là sai lầm, quan niệm về lãnh thổi biển, bao gồm lãnh hải và nội thuỷ, đặc khu kinh tế và thềm lụa địa ven biển cũng như khả năng không gian trong tương lai, bởi vì cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phạm vi thăm dò không ngừng mở rộng, diện tích lãnh thổ biển thể hiện xu thế vươn rộng, hơn nữa trong biển vẫn tồn tại nguồn tài nguyên phong phú có ý nghĩa vô cùng quan trọng mà nhân loại vẫn không thể lợi dụng chẳng hạn như băng nhiên liệu; hai là, quan niệm an ninh biển, vừa bao gồm lĩnh vực an ninh truyền thống, vừa bao gồm lĩnh vực an ninh phi truyền thống như thông tin, sinh vật, môi trường. Theo số liệu của “Báo cáo thiên tai biển Trung Quốc năm 2007” do Cục hải dương nhà nước công bố cho thấy trong năm 2007, Trung Quốc tổng cộng xảy ra 163 vụ thiên tai biển như bão biển, sóng biển, băng trôi và sóng thần, gây thiệt hại kinh tế 8,837 tỷ đồng nhân dân tệ, làm chết và bị thương 161 người. Sự phát triển kinh tế biển và những thiên tai nghiêm trọng đã hình thành nên mâu thuẫn gay gắt, nhất là mấy năm gần đây những thiệt hại về kinh tế do thiên tai biển gia tăng nhanh chóng khiến mọi người phải quan tâm chú ý; ba là, xây dựng quan niệm về biển một cách khoa học, đòi hỏi mọi người ra sức phát triển khoa học kỹ thuật về biển, nội dung kinh tế biển không ngừng phong phú, nâng cao khả năng phát triển kinh tế biển bền vững; việc phát triển và hoàn thiện quan niệm về biển là xây dựng trên nền kinh tế biển phát triển mạnh.

đ – Quan niệm về pháp chế

Hiệu quả của “Công ước về luật biển Liên Hợp Quốc” khiến việc giữ vững trật tự biển quốc tế và thực hiện phương thức đấu tranh về quyền lợi biển đều nảy sinh những thay đổi sâu sắc. Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của công ước, việc duy trì thực hiện quyền lợi biển quốc gia, sự tranh cãi trong việc phân chia hải vực đều đòi hỏi mọi người tăng cường nghiên cứu đối với “Công ước về luật biển Liên Hợp Quốc”, tích cực giành lấy quyền lợi lập pháp biển quốc tế, đặt nền tảng tốt đẹp cho việc giữ vững quyền lợi biển quốc gia; mặt khác, sự nhiệt tình của nhân dân đối với việc khai thác phát triển biển, bắt nguồn từ sự tôn trọng lợi ích cần phải thông qua luật pháp để xác định rõ sự quy thuộc về quyền lợi, điều này đòi hỏi mọi người cần tăng cường ý thức luật pháp, hoàn thiện hệ thống luật biển nhà nước và chế độ bảo đảm.


Bài 2: HIỆN THỰC VÀ SUY NGHĨ VỀ CHIẾN LƯỢC BIỂN CỦA TRUNG QUỐC

(Tạp chí “Khai thác và quản lý biển” -  Trung Quốc – Số 6/2009)


Biển cả thai nghén sự sống trên trái đất và cũng thai nghén cả nền văn minh của loài người. Nó chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên cực kỳ phong phú, nguồn duy nhất để loài người có thể phát triển bền vững trong thế kỷ 21. Là nguồn tài nguyên mang tính chiến lược, biển vừa là đường giao thông quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, vừa là con đường quan trọng giải quyết một loạt vấn đề thách thức nghiêm trọng sự sống còn của loài người và phát triển bền vững hiện nay, như bùng nổ dân số toàn cầu, tài nguyên cạn kiệt, môi trường xấu đi. Thế kỷ 21 là thế kỷ biển đã trở thành nhận thức chung của toàn nhân loại. “Nghị trình thế kỷ 21” do Đại hội môi trường và phát triển Liên hợp quốc thông qua năm 1992 chỉ rõ: Biển cả không chỉ là bộ phận quan trọng trong hệ thống duy trì cuộc sống, mà còn là nguồn của cải quý giá để phát triển bền vững. Các hoạt động chính trị, kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật quốc tế đều gắn liền với biển, sự phát triển bền vững của loài người tất nhiên cũng phải dựa ngày càng nhiều vào biển cả.

Trung Quốc là nước lớn biển, qua gần 20 năm phát triển nhanh, giá trị tổng sản lượng hải sản năm 2006 đã đạt trên 2.095 tỉ NDT, đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước ngày càng tăng, song còn cách mục tiêu cường quốc biển một khoảng rất lớn. “Nước lớn biển” nhấn mạnh ưu thế tự nhiên của một quốc gia trên phương diện điều kiện tự nhiên về biển và ưu thế tổng giá trị ngành hải sản dựa vào điều kiện tự nhiên. Còn “cường quốc biển” là chỉ một nước có thực lực tổng hợp kinh tế biển hùng hậu, trình độ khoa học kỹ thuật biển tiên tiến, thực lực cạnh tranh quốc tế kinh tế biển nổi bật, môi trường tài nguyên biển có khả năng lớn mạnh phát triển bền vững, có quy chế kiểm soát, quản lý tổng hợp các công việc trên biển, môi trường sinh thái biển lành mạnh, có thực lực quân sự trên biển và năng lực xử lý các công việc ngoại giao liên quan. Nếu “nước lớn biển” nhấn mạnh sự tích luỹ về “lượng”, thì “cường quốc biển” nghiêng về nâng cao “chất”.

Chiến lược biển quốc gia là phương châm chỉ đạo về vạch kế hoạch khai thác, lợi dụng và quản lý biển, là sách lược tối cao liên quan đến các mặt kinh tế biển, chính trị biển, ngoại gia biển, quân sự biển, luật biển và kỹ thuật biển, là nguyên tắc phát triển biển nhằm giải quyết đúng đắn quan hệ giữa đất liền và biển cả, kinh tế và quân sự, trước mắt và lâu dài, bao gồm giáo dục ý thức biển cho toàn dân tộc, chính sách biển của chính phủ và khả năng thực hiện, năng lực tổng thể ủng hộ công cuộc phát triển sự nghiệp biển của quốc gia.

I-     Cơ hội lịch sử để Trung Quốc xây dựng cường quốc biển

1-    Hiện trạng

Điều kiện tự nhiên ưu việt, tài nguyên phong phú. Vùng biển Trung Quốc rộng bao la, trùm lên cả vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, bờ biển dài trên 18.000 km. Tài nguyên biển có nhiều chủng loại, tiềm năng khai thác lớn, như sinh vật biển, dầu khí, khoáng sản rắn, năng lượng có thể tái sinh, du lịch biển…

Điều kiện xã hội phát triển kinh tế biển ngày càng hoàn thiện. Từ thập kỷ 90 thế kỷ 20 đến nay, Trung Quốc coi khác thác tài nguyên biển là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, coi phát triển kinh tế biển là biện pháp quan trọng chấn hưng kinh tế, đầu tư cho bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, quản lý và sự nghiệp biển ngày càng tăng. Nhà nước đã lần lượt ban hành và thực thi hàng loạt đạo luật và pháp quy, ý thức biển của toàn dân ngày càng được tăng cường. Đã có điều kiện xã hội tốt đẹp để phát triển nhanh kinh tế biển.

Từ ngày cải cách, mở cửa đến nay, kinh tế biển Trung Quốc phát triển nhanh, liên tục và ổn định, ngày càng trở thành điểm tăng trưởng mới trong nền kinh tế quốc dân. Bố cục kinh tế khu vực biển không ngừng được ưu hoá, cơ cấu sản nghiệp biển ngày càng hợp  lý, ngành kỹ thuật cao phát triển nhanh, môi trường sinh thái biển từng bước được cải thiện, trật tự khai thác biển càng chuẩn mực hơn, kinh tế biển ngày càng có vai trò nổi bật trong công cuộc phát triển kinh tế quốc dân và xã hội của Trung Quốc.

2-    Những vấn đề tồn tại

Phát triển kinh tế biển thiếu sự chỉ đạo, phối hợp và quy hoạch vĩ mô, thể chế khai thác, quản lý không hoàn thiện, mâu thuẫn mang tính cơ cấu nổi bật, các ngành truyền thống vẫn trong giai đoạn phát triển theo bề rộng, trình độ tổng thể của khoa học kỹ thuật tương đối thấp, một số ngành mới nổi lên chưa hình thành qui mô lớn; chưa ngân chặn có hiệu quả xu thế môi trường sinh thái biển xấu đi, nguồn cá ở vùng biển gần bị phá hoại nghiêm trọng, một số loài vật biển quý hiếm đứng trước nguy cơ tuyệt chủng; tại một số vùng biển và hải đảo, trật tự khai thác hỗ loạn, mâu thuẫn sử dụng biển nổi bật, trình độ thăm dò, khai thác biển thấp, số liệu tài nguyên quan trọng có thể khai thác không rõ ràng, các công trình cơ sở và trang bị kỹ thuật để phát triển kinh tế biển còn khá lạc hậu; nhân dân thiếu ý thức về biển; thực lực hải quân tương đối yếu, thiếu năng lực bảo vệ vùng biển và hộ tống các tàu buôn.

3-    Cơ hội lịch sử xây dựng cường quốc biển

Sự phát triển bền vững của loài người ngày càng phải dựa nhiều vào biển, các hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự và khoa học kỹ thuật đều không tách khỏi biển. Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, phải quan tâm tới biển từ toàn cục chiến lược. Thời cơ để Trung Quốc xây dựng cường quốc biển cũng đã chín muồi. Một là, sức mạnh tổng hợp của đất nước đang mạnh lên, có điều kiện thực thi chiến lược cường quốc biển. Trung Quốc có khoảng 4 triệu lao động đang làm công tác biển, khoảng 300 nghìn tày thuyền các loại, giá trị sản lượng biển từ 8 tỉ NDT năm 1980 tăng lên tới 350 tỉ NDT năm 1999, trình độ khoa học kỹ thuật biển không ngừng được nâng cao, công tác nghiên cứu, thăm dò đã tiến vào Thái Bình Dương, Nam cực và Bắc cực; đã có lực lượng hải quân đang lớn mạnh. Hai là, thế kỷ 21 là thế kỷ mới, loài người khai thác, lợi dụng biển, cũng là thời kỳ then chốt giành giật lãnh thổ biển và tài nguyên biển. Chúng ta phải nắm chắc thời cơ, trong cuộc đấu tranh hải quyền, giành lấy nhiều hơn nữa lãnh thổ màu xanh và tài nguyên biển.

Ba là, đại khai phá miền Tây và xây dựng cường quốc biển là điều mấu chốt để thúc đẩy cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa. Hai nhiệm vụ chiến lược này đều đòi hỏi kế hoạch lâu dài, đều phải trải qua cuộc phấn đấu gian khổ của vài thế hệ. Đồng thời với việc khởi động chiến lược đại khai phá miền Tây, cần bắt đầu hoạch định chiến lược xây dựng cường quốc biển.

II – Suy nghĩ về chiến lược xây dựng cường quốc biển

1-    Tư tưởng chiến lược, nguyên tắc và mục tiêu chiến lược

Định ra chiến lược cường quốc biển phải đối mặt với hai thị trường trong và ngoài nước, kiên trì lấy xây dựng kinh tế biển làm trung tâm, xác lập vững chắc ý thức dân tộc xây dựng cường quốc biển, coi việc dựa vào khoa học kỹ thuật khai thác biển, khai phá và bảo vệ biển, bảo vệ chủ quyền biển quốc gia là sứ mệnh lịch sử và chức trách thiêng liêng, chấn hưng toàn diện sự nghiệp biển, từ đó đảm bảo kinh tế biển phát triển nhanh, liên tục và lành mạnh, để thực hiện bước nhảy vọt lịch sử Trung Quốc từ nước lớn biển lên cường quốc biển.

Mục tiêu dự tính đến giữa thế kỷ 21, giá trị tổng sản phẩm kinh tế biển lấy lãnh thổ biển (chiếm khoảng ¼ diện tích lãnh thổ Trung Quốc) làm đối tượng khai thác chủ yếu đạt ¼ giá trị tổng sản phẩm quốc dân, khiến sự nghiệp biển có thể gánh vác ¼ dân số cả nước hoặc nhiều hơn; trình độ hiện đại hoá phòng thủ trên biển được nâng cao thêm một bước, đứng vào hàng ngũ các cường quốc quân sự trên biển. Đến cuối thế kỷ 21, kinh tế biển chiếm trên 35% giá trị tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế biển dẫn đầu thế giới.

2-    Chiến lược quân sự biển

Quan niệm mới về biển nảy sinh quan niệm mới về lãnh thổ, quan niệm mới về lãnh thổ dẫn đến việc đổi mới quan niệm quốc phòng của các nước ven biển. Điều này chủ yếu thể hiện ở tiền tuyến mới về quốc phòng, sứ mệnh mới của công cuộc phòng thủ trên biển và tư duy mới về xây dựng quốc phòng. Tiền tuyến quốc phòng của các nước ven biển không phải là đường bờ biển, cũng không phải đường bên ngoài lãnh hải, mà là mặt biển 200 đến 350 hải lý bên ngoài đường cơ sở lãnh hải. Hình thái biển toàn cầu sinh ra vấn đề mới phân chia lãnh thổ biển giữa các nước láng giềng ven biển, biểu hiện tập trung trên các mặt tranh chấp tài nguyên biển, tranh chấp vạch ranh giới biển và chủ quyền các đảo, xu thế tranh cãi và giành giật gay gắt rõ rệt, chẳng những cường độ hoạt động quân sự tăng lên, mà cường độ đối kháng quân sự và đấu tranh cũng tăng lên, cường độ đối kháng quân sự trên một số vùng biển đã vượt xa đất liền. Trung Quốc là nước lớn đang trỗi dậy, tất sẽ là một trong những nước gánh vác trách nhiệm lớn nhất cho loài người, lẽ ra phải có nhiều hơn nữa quyền kiểm soát biển và quyền quyết sách đối với các công việc về biển. Bởi vậy, Trung Quốc cần gấp rút tăng cường lực lượng trên biển, mở rộng thực lực hải quân, xây dựng một lực lượng hải quân mới hiện đại hoá, tinh nhuệ, hùng mạnh. Giải quyết vấn đề Đài Loan là tạo cơ sở cho chiến lược biển của Trung Quốc; chưa giải quyết vấn đề này, Trung Quốc chưa có chiến lược biển hoàn chỉnh, khả thi và an toàn. Bởi vậy, giải quyết vấn đề Đài Loan là tiền đề cho chiến lược biển của Trung Quốc, là bước đầu tiền để Trung Quốc trở thành cường quốc biển.

3-    Chiến lược kinh tế biển

Thực hiện kinh tế biển phát triển bền vững, trong việc phan chia tài nguyên biển phải nghĩ tới đời sau, không thể chỉ chạy theo lợi ích trước mắt, tát cạn đầm bắt cá, mà phải phối hợp ba mặt kinh tế, tài nguyên và môi trường cùng tồn tại và phát triển.

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường xã hộị chủ nghĩa, sự kết hợp hữu cơ giữa nhà nước kiểm soát vĩ mô và điều tiết thị trường là khâu quan trọng để thực hiện kinh tế biển phát triển bền vững. Nhất là đối với khu vực kinh tế cá thể hoạt động sôi động như đánh bắt cá biển, chính phủ phải thông qua các chính sách sản nghiệp, chính sách bảo vệ môi trường, và các chính sách kinh tế tương quan, đem lại sự đảm bảo cơ bản cho kinh tế biển phát triển nhanh đúng mức. Đồng thời, phải phát huy hết chức năng điều tiết của thị trường.

Kinh tế biển Trung Quốc vẫn trong giai đạon phát triển theo bề rộng, cơ cấu sản nghiệp biẻn không hợp lý là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kinh tế và kỹ thuật biển của Trung Quốc lạc hậu so với các quốc gia biển tiên tiến trên thế giới, cần giải quyết ván đề này thông qua quy hoạch thống nhất, điều chỉnh hợp lý và ưu hoá cơ cấu sản nghiệp biển. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển thành các chuỗi thành phố cảng và các cụm công nghiệp biển với đặc điểm khác nhau, để thúc đẩy kinh tế biển Trung Quốc phát triển bền vững trong thế kỷ 21.

4-    Chiến lược khoa học kỹ thuật biển

Trung Quốc cần định ra phương châm, chính sách lấy kỹ thuật cao- mới làm hạt nhân, thực hiện qui hoạch “dựa vào khoa học-kỹ thuật chấn hưng biển”, thực hiện bước chuyển dịch chiến lược điều chỉnh hợp lý nghề biển và phát triển kinh tế biển. Phát triển khoa học kỹ thuật cao về biển phải phục vụ phương hướng phát triển trên, có trọng điểm. Hai là, phải nâng cao trình độ kỹ thuật thực dụng, nắm chắc cải tạo kỹ thuật. Bà là, trong khi đẩy mạnh khai thác biển, từng bước hình thành hệ thống phát triển kỹ thuật biển tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu kinh tế biển Trung Quốc phát triển nhanh, sớm thoát khỏi tình trạng kỹ thuật cao-mới chủ yếu dựa vào nhập khẩu.

Xét tổng đầu tư nghiên cứu, khai thác biển, Mỹ cao nhất, trỉnh độ kỹ thuật biển của Mỹ cũng cao nhất, tiếp đó là Nhật, Anh. Kinh phí của ba nước trên đều lớn hơn Trung Quốc rất nhiều, đó là nguyên nhân chủ yếu khiến họ giữ vị trí dẫn đầu thế giới về kỹ thuật biển, cũng là nguyên nhân quan trọng khiến trình độ kỹ thuật biển của Trung Quốc tương đối lạc hậu. Do đó, cần thông qua ngân sách tài chính nhà nước, hàng năm nâng cao kinh phí nghiên cứu và khai thác biển, thúc đẩy Trung Quốc nhanh chóng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật biển.

Cạnh tranh khoa học kỹ thuật cao về biển thực chất là cạnh tranh tri thức và nhân tài, phải coi đào tạo nhân tài khoa học kỹ thuật biển là một nhiệm vụ chiến lược vô cùng quan trọng. Thiết lập cơ chế khuyến khích, đào tạo, phát hiện nhân tài, thu hút nhân tài, tạo ra môi trường lớn lưu giữ nhân tài, khuyến khích nhân tài lập nghiệp.

III-Kết luận

Thực thi chiến lược biển là kinh nghiệm thành công của các cường quốc, cũng là sự lựa chọn địa chiến lược của Trung Quốc trong thế kỷ mới, hơn nữa, là nhu cầu tất yếu để đất nước thống nhất và trỗi dậy. Trung Quốc là quốc gia lục địa, cũng là nước lớn biển, khai thác và lợi dụng biển có ý nghĩa chiến lược lớn lao đối với sự phát triển lâu dài của Trung Quốc. Nguyên Cục trưởng Cục Hải dương Vương Thự Quang từng nói: “Chúng tao phải nhận thức biển từ tầm cao chiến lược, tăng cường ý thức biển của toàn dân tộc, tổ chức tốt việc khai thác, lợi dụng và qui hoạch biển, tăng cường đổi mới khoa học kỹ thuật biển, phát triển kinh tế biển nhanh và liên tục, thiết thực bảo vệ môi trường sinh thái biển, bảo vệ có hiệu quả quyền lợi biển, tăng cường lập pháp và quản lý biển, nỗ lực xây dựng Trung Quốc thành cường quốc biển có khoa học kỹ thuật biển tiên tiến, kinh tế biển phát triển, môi trường sinh thái biển lành mạnh, quốc lực biển hùng mạnh.” Cố gắng để đến giữa thế kỷ 21, làm cho năng lực khai thác, lợi dụng, quản lý, bảo vệ biển của Trung Quốc tiếp cận hoặc bằng trình độ tiên tiến trên thế giới, xây dựng Trung Quốc thành cường quốc biển ở châu Á-Thái Bình Dương, thực hiện sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: , , , | 2 phản hồi »

457. VỊ ĐẮNG CỦA ĐẦU TƯ TRUNG QUỐC Ở ÔXTRALIA

Đăng bởi anhbasam on 01/02/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VỊ ĐẮNG CỦA ĐẦU TƯ TRUNG QUỐC Ở ÔXTRALIA

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Ba, ngày 26-1-2010

Công ty đường CSR của Ôxtraylia vừa mới bác bỏ đề nghị mua lại bộ phận sản xuất, kinh doanh đường và năng lượng tái sinh với giá 1,5 tỷ USD từ Tập đoàn thực phẩm lớn nhất Thượng Hải là Bright Food Group để tiếp tục chiến lược phát triển của mình “vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông”.

Trong bài bình luận mang tựa đề “Vị đắng của một đề nghị ngọt ngào” đăng trên tờ “Người đưa tin Xítni buổi sáng” ngày 16/1, tác giả Ian Verrender nhận định việc Trung Quốc muốn mua lại các cơ sở sản xuất đường của CSR, công ty mía đường lớn nhất Ôxtraylia và lớn thứ sáu thế giới, đã làm tăng thêm những thách thức trong cuộc tranh luận về lợi ích quốc gia ở Ôxtraylia.


Trong những hoàn cảnh bình thường, việc Công ty Bright Food của Trung Quốc đặt vấn đề mua lại hoạt động kinh doanh đường của tập đoàn CSR tại Ôxtraylia lẽ ra sẽ là lý do để ăn mừng, vì cái giá trên hầu như chắc chắn sẽ cao hơn những gì mà Giám đốc điều hành CSR Jerry Maycock có thể mang lại cho những cổ đông thông qua việc chia tách tập đoàn này. Thay vào đó, cách tiếp cận này đã làm “sưng tấy một vết thương đang mưng mủ”. CSR đã trở thành tâm điểm cho một cuộc tranh luận đang đe doạ gây chia rẽ Ôxtraylia mà kết quả của nó có thể gây ra những hậu quả cho nhiều thế hệ. Đó là một vấn đề mà sẽ chi phối không chỉ thế giới kinh doanh mà còn cả viễn cảnh chính trị trong nhiều năm tới.

Tình thế tiến thoái lưỡng nan của Canbơrơ là làm thế nào để bảo đảm Ôxtraylia lợi dụng sự tăng trưởng kinh tế phi thường đang diễn ra ở Trung Quốc mà không làm tổn hại đến sự toàn vẹn và chủ quyền quốc gia, đồng thời không phải bán rẻ cái gì. Liệu Canbơrơ có nên cho phép một chính phủ nước ngoài mua các tài sản chiến lược ở Ôxtraylia? Đây là một cuộc tranh luận mà dự kiến sẽ được phủ đầy bởi những quyền lợi bất di bất dịch trong cả hai phía của sự phân tích chính trị, đồng thời là nơi lý lẽ lôgích và lý trí sẽ là nạn nhân của những cáo buộc rẻ tiền về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và sự bài ngoại.

Ôxtraylia có những gì mà Trung Quốc cần: các nguồn tài nguyên dồi dào, cả khoáng sản lẫn nông nghiệp, những thứ rất cần thiết để Trung Quốc cuối cùng giành được điều mà Bắc Kinh tin là vị trí chính đáng của Trung Quốc trong trật tự xã hội toàn cầu. Thế nhưng, Trung Quốc không đơn giản bằng lòng là một khách hàng. Trung Quốc muốn là người sở hữu, tăng cường các nguồn cung cấp chất lượng cao chừng nào Bắc Kinh vẫn cần và với giá thấp nhất có thể.

Ôxtraylia lâu nay luôn dựa vào vốn nước ngoài. Kể từ khi những người định cư châu Âu đến Ôxtraylia vào cuối thế kỷ 18, đất nước này đã đầu tư nhiều hơn những gì tiết kiệm được và sự thiếu hụt đó ban đầu được tài trợ từ Anh và gần đây hơn là từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Điều khiến Trung Quốc khác biệt là đầu tư nước ngoài trước đây được tài trợ bởi những nhà đầu tư và các tập đoàn với động cơ chính là lợi nhuận, trong khi làn sóng mới từ Bắc Kinh do Chính phủ Trung Quốc kiểm soát – một chế độ lấy việc chế ngự các quyền của cá nhân để thiên về đám đông quần chúng làm giá trị cốt lõi. Thậm chí khi Trung Quốc đã tỏ thái độ mở rộng tự do đối với thương mại, buôn bán và chủ nghĩa tư bản trong những thập niên gần đây, Bắc Kinh chưa bao giờ từ bỏ cách tiếp cận độc đoán đối với sự bất đồng chính kiến trong chính các công dân của họ.

Khi thực hiện ngoại giao quốc tế, Trung Quốc làm những gì Trung Quốc muốn. Bắc Kinh đều đặn đe doạ các nhà lãnh đạo nước ngoài, những người nuôi dưỡng những ý tưởng gặp Đạtlai Lạtma. Bắc Kinh nổi cơn thịnh nộ hồi năm 2009 khi Ôxtraylia cấp thị thực nhập cảnh cho một nhà lãnh đạo độc lập của người Duy Ngô Nhĩ để tới dự Liên hoan phim quốc tế Melbourne. Tháng 7/2009, Trung Quốc bắt giam 4 nhân viên cấp cao của Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto, buộc tội họ là tham nhũng trong những hợp đồng mua quặng sát. Các vụ bắt giam này diễn ra chỉ vài tuần sau khi Rio Tinto từ chối một thoả thuận trao quyền kiểm soát công ty này cho doanh nghiệp quốc doanh Chinalco của Trung Quốc.

Các tập đoàn của Trung Quốc cho đến nay hằunh chỉ nhằm vào những công ty khai thác tài nguyên của Ôxtraylia, nhất là quặng sắt, than đá và những thành phần chủ chốt khác nhằm giữ cho ngành thép đang bành trướng nhanh chóng của nước này hoạt động hết công suất. Động thái vừa qua nhằm vào một công ty nông nghiệp là sự chuyển hướng khỏi chủ đề đó và cho thấy một sự thúc đẩy của Bắc Kinh nhằm mở rộng các mục tiêu đầu tư.

Trong hầu hết thập niên qua, mục tiêu đầu tư chính của Trung Quốc là thiên đường an toàn trái phiếu Chính phủ Mỹ. Tác động cuối cùng của chiến lược này là quỹ tiết kiệm quốc gia của Trung Quốc đã tài trợ cho nước Mỹ tiêu pha hoang phí. Trung Quốc hiện là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, với gần 800 tỷ USD đầu tư vào các loại trái phiếu Chính phủ Mỹ, chiếm gần ¼ nợ quốc gia của Mỹ.

Các quan chức Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kinh công khai thừa nhận họ đã sai lầm khi đầu tư quá nhiều tiền tiết kiệm quốc gia vào các trái phiếu Chính phủ Mỹ, nhất là dựa vào sự giảm giá có phần ác ý của đồng USD trong năm qua, trong khi lẽ ra họ nên mua các hoạt động khai thác tài nguyên ở những nơi như Ôxtraylia.

Cho đến 2 năm trước đây, quan tâm của Trung Quốc ở Ôxtraylia vẫn ở mức độ thấp và thận trọng. Chỉ thị từ Bắc Kinh cho những người đứng đầu các doanh nghiệp là hoạt động dưới tầm rađa, không gây ầm ĩ. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm thay đổi mọi thứ. Sau khi được gọi đến để cứu Phố Uôn và sau đó kích thích nền kinh tế của mình để giữ cho Mỹ và châu Âu cùng trụ lại, các nhà lãnh đạo Trung Quốc quyết định đã đến lúc phải có một cách tiếp cận táo bạo hơn đối với các vấn đề kinh tế.

Vở diễn quốc tế lớn đầu tiên của Trung Quốc là đầu tư vào Rio Tinto 2 năm trước đây thông qua công ty quốc doanh Chinalco khi Rio Tinto tìm cách chống trả nỗ lực tiếp quản từ BHP Billiton. Sau đó vào năm 2009, khi BHP không còn mặn mà với việc tiếp quản, ban giám đốc Rio Tinto đầy tuyệt vọng vì đã tự đẩy mình vào cảnh nợ nần do một kế hoạch mở rộng tốn kém đã đồng ý để Chinalco nâng cổ phần từ 9% lên 18%, điều sẽ khiến cho Bắc Kinh, khách hàng lớn nhất của công ty, trở thành cổ đông chính. Dưới sức ép của các cổ đông, Rio Tinto phá ngang thoả thuận này vào năm 2009, khiến cho các quan chức Chinalco bị bẽ mặt trong con mắt các ông chủ chính trị của họ. Sự báo thù diễn ra mau lẹ. Trong vòng vài tuần, 4 quan chức cấp cao của Rio Tinto, trong đó có một công dẫn Ôxtraylia là Stern Hu, đã bị bắt giam, mở ra một cửa sổ trong cách tiếp cận độc nhất vô nhị của Bắc Kinh đối với chủ nghĩa tư bản cũng như sự tích hợp liền mạch của chính phủ, kinh doanh và luật pháp.

Canbơrơ nên đáp lại sự công kích được mong đợi từ Trung Quốc như thế nào? Có lẽ Canbơrơ có thể bắt chước Oasinhtơn và Brucxen, những nơi ngày càng trở nên lớn tiếng trong chỉ trích đối với các chính sách kinh tế của Trung Quốc.

Trung Quốc có thể đang phát triển rất nhanh, nhưng nước này vẫn là một quốc gia tương đối nghèo. Tuy nhiên, Trung Quốc có các trữ lượng vốn rất lớn, được xây dựng thông qua sự mất cân bằng thương mại trên diện rộng với thế giới phát triển. Trong hai thập niên qua, ngành công nghiệp nặng đã di chuyển từ thế giới phát triển sang Trung Quốc, ban đầu là do sức hấp dẫn của giá nhân công rẻ. Không có ai phàn nàn vì sản lượng công nghiệp hiệu quả và giá rẻ của Trung Quốc giữ cho giá cả ở mức thấp, giữ cho lạm phát toàn cầu ở mức thấp. Thế nhưng, trong những năm gần đây hơn, một nhân tố khác đã bắt đầu có hiệu lực. Trung Quốc đã chủ tâm giữ cho đồng tiền của họ ở mức thấp một cách giả tạo, làm suy giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia khác và trên thực tế trợ cấp cho các ngành xuất khẩu.

Trung Quốc vừa mới chính thức vượt Đức để trở thành nước xuất khẩu lớn nhất của thế giới, với 10% thị phần toàn cầu. Một thập niên trước đây, Trung Quốc chỉ chiếm có 3% thị phần. Sự thay đổi nhanh chóng này đã dẫn đến việc đáp lại ngày càng thù địch từ Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), những nơi đang gia tăng những lời kêu gọi ban lãnh đạo Trung Quốc để đồng nhân dân tệ tăng giá. Những lời kêu gọi này đã liên tiếp bị Bắc Kinh bác bỏ và bác bỏ với một thái độ dẫn đến việc bùng lên các căng thẳng giữa Trung Quốc và phương Tây. Phản ứng trước sự chỉ trích này, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố: “Một mặt, người ta yêu cầu để cho đồng nhân dân tệ tăng giá, và mặt khác, người ta đang áp dụng mọi cách thức của những biện pháp bảo hộ”.

Paul Krugman, người đoạt giải Nôben kinh tế năm 2008, gần đây viết trong một bài báo phê phán về chiến lược tiền tệ của Trung Quốc trên tờ “Thời báo Niu Yóoc”, cáo buộc Bắc Kinh từ chối thừa nhận vấn đề mà họ đang gây ra. Ông Paul Krugman dự báo rằng các quốc gia khác sẽ buộc phải bảo vệ các ngành công nghiệp của chính họ nhằm duy trì việc làm, trừ phi Trung Quốc cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá. Ông Krugman cho rằng chiến lược tiền tệ của Trung Quốc có thể kết thúc bằng việc giảm khoảng 1,4 triệu việc làm ở Mỹ trong vòng vài năm tới.

Ông Krugman nói: “Điểm mấu chốt là tính vụ lợi của Trung Quốc trở thành một vấn đề ngày càng trầm trọng, và những nạn nhân của tính hám lợi đó có ít thứ để mất nếu có một sự đối đầu thương mại. Do đó, Chính phủ Trung Quốc nên cân nhắc lại tính kiên quyết không chịu nhượng bộ của họ. Nếu không, chủ nghĩa bảo hộ rất ôn hoà mà Trung Quốc hiện đang phàn nàn sẽ là sự khởi đầu của một điều gì đó lơn hơn nhiều”.

Trung Quốc đã tích luỹ khoảng 2.000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ thông qua chiến lược tiền tệ của mình và một phần lớn trong số tiền này hiện được nhằm trực tiếp vào Ôxtraylia. Phản ứng của Chính phủ Ôxtraylia cho đến nay vẫn khó dự báo và không nhất quán. Thủ tướng Kevin Rudd và Bộ trưởng Ngân khố Wayne Swan đã nói rõ rằng những thực thể do chính phủ nước ngoài kiểm soát sẽ phải dối mặt với sự xem xét kỹ lưỡng hơn nếu họ tìm cách mua những tài sản chiến lược của Ôxtraylia. Tuy nhiên, cả hai nhân vật này đều không muốn làm Bắc Kinh khó chịu và làm tổn hại đến hàng xuất khẩu của Ôxtraylia. Chính nhu cầu không ngừng của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên của Ôxtraylia đã giúp cho Ôxtraylia tránh được suy thoái trong cuộc khủng hoảng kinh tế được cho là một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới.

Cơ quan duy nhất đứng giữa Bắc Kinh và các nguồn tài nguyên mà Trung Quốc rất thèm muốn là Uỷ ban Thẩm định Đầu tư Nước ngoài (FIRB) của Ôxtraylia, nơi trước đây dường như chỉ đóng vai trò như một nơi đóng dấu. Trong năm qua, FIRB đã chịu sức ép to lớn từ các doanh nghiệp Ôxtraylia vốn đang rất muốn nhận tiền từ Trung Quốc. FIRB đã đáp lại bằng cách nói lập lờ, trì hoãn và hy vọng vấn đề tự được giải quyết.

Người chỉ trích FIRB nặng nề nhất là nhà doanh nghiệp chuyên về khai mỏ ở Tiểu bang Queensland, Clive Palmer, người có những mối liên hệ kinh doanh trên diện rộng với các tập đoàn của Trung Quốc và là người hy vọng gặt hái hơn 3 tỉ AUD từ việc làm ăn của tập đoàn khai thác khoáng sản của ông ở Hồng Công. Trong bài phát biểu ở Brisbane tháng 9/2009, ông Clive Palmer cáo buộc FIRB là một “cơ quan phân biệt chủng tộc” và Giám đốc điều hành FIRB Patrick Colmer có “một lập trường không thể bào chữa được”, đồng thời đe doạ có hành động trước Toà án Tối cao khi có thể.

Trong khi những cáo buộc của ông Clive Palmer có thể là điều gây tranh cãi, chúng chỉ ra một dấu hiệu của trận chiến đang hé lộ về đầu tư của Chính phủ Trung Quốc ở Ôxtraylia giữa những người muốn gặt hái lợi nhuận từ một thị trường đang bùng nổ và những người lo ngại về các hậu quả lâu dài của hành động như vậy.

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: | Leave a Comment »

452. 2,4 nghìn tỉ của TQ kẹp chặt nền kinh tế thế giới

Đăng bởi anhbasam on 27/01/2010

The Washington Post

2,4 nghìn tỉ của Trung quốc

kẹp chặt nền kinh tế thế giới


Robert J. Samuelson

Thứ Hai, ngày 25-1-2010, từ bản báo tin, trang A17


Trung quốc vừa tiết lộ dự trữ ngoại hối của nước này năm 2009 đã lên khoảng 2,4 nghìn tỉ đôla, tăng 453 tỉ trong năm. Con số khủng khiếp nầy — và khả năng dự trữ của quốc gia nầy sẽ tăng thêm với số lượng tương tự trong năm nay — đã trở thành một thực tế tài chính, kinh tế và địa chính trị có tầm quan trọng phi thường. Tầm quan trọng không phải như nhiều người tưởng tượng là Trung quốc sẽ “phá giá” đồng đôla và hạ bệ vai trò đồng tiền quốc tế chính của nó trên thế giới, làm xói mòn sức mạnh kinh tế và uy tín của nước Mỹ. Hai phần ba hay hơn dự trữ của Trung quốc là đồng đôla. Việc phá giá đồng đôla, như là một chiến lược kinh tế, sẽ gậy ông đập lưng ông. Nó sẽ tiến đến sự tuyên bố chiến tranh kinh tế mà mọi người trong cuộc – Trung quốc, Mỹ và nhiều nước khác – đều thất bại.

Theo giả thuyết, hãy xem điều gì có thể xảy ra. Trung quốc trước tiên sẽ bán các chứng khoán đầu tư bằng đồng đôla của mình. Số nầy bao gồm chừng 800 tỉ đôla trái phiếu và chứng khoán chính phủ Mỹ, cộng với hàng tỉ cổ phiếu và trái phiếu của các công ty Mỹ. Sau khi bán chứng khóan và thu vào đôla, họ sẽ bán đôla trên thị trường ngoại hối để lấy các đồng tiền khác: đồng euro, đồng yên và đồng tiền nào nữa đố ai biết được.

Việc tống ra đồng đôla với qui mô lớn có thể châm ngòi cho một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Khi mọi người biết được việc bán ra của Trung quốc , các nhà đầu tư Mỹ và các nước khác sẽ nhảy vào cuộc, từ bỏ các chứng khoán đôla và chuyển đổi đồng tiền. Nếu hoảng loạn xảy ra, thị trường sẽ sụt giảm mạnh mẽ. Vốn và tài sản của các ngân hàng và nhà đầu tư sẽ bị hao mòn. Sự trở lại của suy thoái, thậm chí khủng hoảng tòan cầu, sẽ thu hẹp thị trường ngoại hối đối với xuất khẩu của Trung quốc (năm 2009, xuất khẩu của nó giảm 16 phần trăm). Để bảo vệ việc làm, các nước khác sẽ áp đặt hạn ngạch hay thuế lên hàng nhập khẩu từ Trung quốc.

Tại sao Trung quốc lại gây ra điều nầy cho chính mình? Câu trả lời là: Nó sẽ không làm điều đó.

Hãy nhìn ra nơi khác để thấy tầm quan trọng của lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ nầy. Đối với những người khởi đầu, họ xác nhận chính sách mậu dịch trọng thương của Trung quốc. Một quốc gia thực hiện chủ nghĩa trọng thương (mercantilism) để cố tăng xuất khẩu sẽ gây hại cho các đối tác thương mại của mình. Trung quốc đã thực hiện điều nầy bằng cách giữ đồng tiền của nó, đồng nhân dân tệ, ở hối suất thấp một cách giả tạo tạo ra lợi thế cạnh tranh cho xuất khẩu của nó trên thị trường thế giới. Thặng dư thương mại thu lại lớn khủng khiếp – ngay cả trong năm ngoái, vốn đã sụt giảm phần nào do suy thoái toàn cầu.

Người ta thường cho rằng Mỹ “mượn tiền” Trung quốc, vì Trung quốc nắm giữ quá nhiều công trái Mỹ. Điều nầy mô tả không chính xác thực tế.

Khi Trung quốc thu được đồng đôla, nó có thể sử dụng những đồng đôla đó để mua hàng nhập khẩu. Hay nó có thể hạn chế dòng đôla chảy vào bằng cách tăng giá đồng nhân dân tệ, làm cho xuất khẩu của nó đắt hơn và nhập khẩu của nó rẻ đi. Năm 2005, Trung quốc đã bắt đầu tăng giá nhẹ đồng nhân dân tệ so với đồng đôla; vào giữa năm 2008, nó dừng lại. Từ đó, đồng nhân dân tệ đã giảm giá so với nhiều đồng tiền, theo báo cáo của nhà kinh tế Nicholas Lardy ở Peterson Institute. Năm 2010, Lardy dự kiến thặng dư thương mại sẽ tăng lên. Như vậy Trung quốc tích lũy đôla là số tiền cần phải được đầu tư. Thặng dư lớn gây ra việc Trung quốc cho chúng ta và các nước khác “vay”, cho dù chúng ta có muốn “nợ” hay không.

Điều trớ trêu là, ngay cả khi Trung quốc không có thặng dư thương mại, dự trữ ngoại hối của nó cũng có thể tăng do thu nhập của nó từ dự trữ hiện có. Những dự trữ nầy phục vụ các mục tiêu chiến lược khác của Trung quốc. Chúng được sử dụng đầu tư vào nguyên liệu thô (dầu, thực phẩm, khoáng sản) và các công nghệ quan trọng trên toàn thế giới; hoặc chúng mua ảnh hưởng chính trị bằng viện trợ hay những khỏan cho vay ưu đãi. Thực tế, Trung quốc có 2,4 nghìn tỉ đôla cất giữ để thoải mái sử dụng. Cho dù kêu ca về khoản sở hữu công trái Mỹ khổng lồ, khỏan sở hữu nầy lại thúc đẩy mục tiêu kinh tế tạo việc làm của Trung quốc thông qua xuất khẩu và sự bảo hộ đối với việc khan hiếm các hàng hóa thiết yếu. Mục tiêu căn bản là củng cố việc nắm giữ quyền lực của chính quyền thông qua bảo đảm tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Dẫu vậy, Trung quốc đang cố gắng tạo ra tăng trưởng hơn nữa từ chi tiêu trong nước; tuy thế, nó vẫn xúc tiến xuất khẩu mạnh mẽ cho đến khi điều đó vẫn xảy ra.

Nhưng điều gì tốt cho Trung quốc có lẽ không tốt cho các nước khác, bao gồm cả Mỹ. Nó không đơn giản là sự định hướng lại sức mạnh kinh tế mà vấn đề là sức mạnh đó sẽ được sử dụng như thế nào, một cách có chủ ý hay không có chủ ý, để định hình trật tự kinh tế tòan cầu.

Sự phát triển kinh tế lệch lạc gây ra nhiều nguy hiểm. Chuyện đã rồi là dự trữ khổng lồ của Trung quốc — đầu tư vào trái phiếu Mỹ — bị xem như là một nguyên nhân gây ra tình trạng lãi suất thấp mang đến khủng hoảng tài chính. Sự kiềm chế giả tạo đồng nhân dân tệ làm tổn hại xuất khẩu của nhiều nước phát triển chứ không chỉ Mỹ, Châu Âu và Nhật. Trung quốc tăng trưởng bằng cách gây hại cho nước khác. Sự thao túng thương mại nầy phá hoại nỗ lực ủng hộ chính sách  thương mại mở của các nước khác. Hiện tại Trung quốc không có mong muốn thay thế đồng đôla bằng đồng nhân dân tệ làm đồng tiền chính của thế giới, tham vọng của nó lớn hơn nhiều: tạo ra một nền kinh tế thế giới phục vụ cho lợi ích của Trung quốc và chỉ nó mà thôi, không vì bất cứ ai khác.


Người dịch: CBL

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Đăng trong Trung Quốc | Tagged: | 6 phản hồi »

448. Phía sau Tường lửa Vạn Lý Trường Thành

Đăng bởi anhbasam on 24/01/2010

Guardian.co.uk

Phía sau Tường lửa Vạn Lý Trường Thành

210 triệu người Trung Quốc từng truy cập mạng và bất cứ khi nào Trung Quốc cũng có số người sử dụng nhiều hơn Hoa Kỳ. Song thay vì quyền tự do lan rộng, mạng Internet đã bị thuần phục bởi tấm lưới sắt của Bắc Kinh

Bài của Jonathan Watts tại Bắc Kinh

Thứ Bảy, ngày 9-2-2008


Có hai trận bão tuyết rất khác nhau bao phủ Trung Quốc trong quãng thời gian dẫn tới kỳ Lễ hội Mùa xuân tuần này. Trận bão thứ nhất, được loan tải qua hệ thống truyền thông quốc gia, là một thảm họa thiên nhiên được đội quân nửa triệu binh lính cùng lực lượng tình nguyện của Đoàn Thanh niên Cộng sản anh dũng chống lại. Nó đã làm 5,8 triệu người bị mắc kẹt trên đường, nhưng cuối cùng người dân cũng đã thắng thế.

Trận bão thứ hai, được phản chiếu qua lăng kính của những con người mê thích internet trong nỗi yếm thế, một thứ tai ương bị làm trầm trọng thêm bởi sự kém hiểu biết, lười biếng và những dự báo tình hình lạc quan của giới chức chính quyền. Trong khi phương tiện truyền thông bảo thủ trích dẫn “những lời lẽ chân tình” trong nỗi cảm kích cho màn phụ xướng từ chính phủ và tán dương các phóng viên “quả cảm” của nó, thì trên internet đã rộn lên những lời tố cáo giận dữ các phát thanh viên nhà nước, những nhà dự báo và các giới chức về việc khai thác những hình ảnh sai lạc.

Sự ganh đua trên công luận đó – chưa từng thấy trong 10 năm trước – đang trở nên quen thuộc ở Trung Quốc những ngày này thành trận chiến kiểm duyệt lớn nhất thế giới đối phó với sự bùng nổ internet. Với 200.000 cư dân mạng mới mỗi ngày, số người dùng trực tuyến của Trung Quốc hiện gần vượt mức của Hoa Kỳ để trở nên đông đảo nhất trên thế giới.

Giới hạn đó có thể đạt tới trong hôm nay, tuần sau, hoặc tháng sau. Theo Trung tâm Thông tin Mạng Internet Trung Quốc, có 210 triệu người dùng internet vào thời điểm cuối năm ngoái, chỉ đứng sau Hoa Kỳ 5 triệu. Song Trung Quốc lại có thêm 6 triệu người dùng mới mỗi tháng – nhanh hơn gấp mười lần so với tốc độ phát triển của Hoa Kỳ.

Vào năm có sự kiện Olympic, và lại là thời điểm tăng trưởng kinh tế dâng cao, những con số được đưa ra tựa như bằng chứng cho sự thăng tiến không gì cản nổi của Bắc Kinh. Chẳng phải mọi người đều thích thú với điều này. Các nhà hoạt động xã hội về tự do ngôn luận lo ngại rằng điều đó sẽ làm gia tăng thế lực của các nhân viên kiểm duyệt Trung Quốc trên thế giới ảo. Chính phủ các nước khác đã dấy lên mối lo ngại rằng nước này đã trở thành mảnh đất ươm mầm cho những kẻ vi phạm tác quyền, tin tặc và gián điệp mạng.

Đừng tưởng là như vậy. Sau khi internet được kết nối với Trung Quốc năm 1987, những nhà vận động cho quyền tự do cá nhân hy vọng nó sẽ là chất xúc tác cho cải cách chính trị. Song 21 năm qua, đảng Cộng sản vẫn nắm quyền lực và mô hình một hệ thống internet bị kiểm soát chặt chẽ của nó là một mảnh đất đang phát triển, giá như được tính bằng số lượng.

Một blog được nhiều người ưa chuộng nhất thế giới ? Lao Xu, được thực hiện bởi diễn viên kiêm dạo diễn Xu Jinglei, một blog tự hào với 137 triệu lượt truy cập. Nơi phát tán hình ảnh video trên mạng lớn nhất thế giới ? Tudou, từng quả quyết rằng họ đã vượt qua YouTube với trên 1 tỉ mebabytes dữ liệu được truyền tải mỗi ngày. Tiếp đến là Baidu, đã đánh bại Google trên thị trường công cụ tìm kiếm Mandarin, và Alibaba với ông chủ Jack Ma, là một người hùng dân tộc trong việc hạ nhục eBay và qua mặt các hoạt động của Yahoo ở Trung Quốc.

Ngôn ngữ, văn hóa và Tường lửa Vạn Lý Trường Thành [1]của Trung Quốc – tấm lá chắn thông tin của quốc gia – đã bảo vệ chính quyền và các đại gia trước cuộc đua tranh thương trường. Gửi tin nhắn trực tuyến và nối mạng giao lưu bị thống trị ở đây bởi dịch vụ QQ của Tuscent. Thế giới phần mềm trò chơi bị chế ngự bởi Shanda Entertainment và Giant Interactive hơn là Nintendo và Sony. Sina và Sohu có một hệ thống khóa giữ trên thị trường tin tức hàng ngày. Trên mọi lĩnh vực ở Trung Quốc, các tay chơi nội địa đứng đầu bảng. Một số lúc này bắt đầu nhắm tới thị trường nước ngoài. Baidu mới đây đã khai trương dịch vụ tại Nhật Bản.

Các nhà chuyên môn cho rằng bằng việc qua mặt Hoa Kỳ như là một thị trường người dùng lớn nhất thế giới, Trung Quốc sẽ hấp dẫn đầu tư, giao thương và kỹ nghệ. Với điều này thì họ sẽ trở nên có thế lực.

“Đây là một cột mốc quan trọng. Hoa kỳ hầu như đã đạt tới một điểm mà nó không còn có đủ khả năng để thăng tiến hơn nữa. Trung Quốc thì ngược lại. Về mặt gia tăng kinh tế và lượng kết nối, Trung Quốc dứt khoát là nơi thích hợp,” Xiao Qiang, người sáng lập Digital Times Trung Quốc đóng tại Mỹ khẳng định.

Bắc Kinh được cho là đang có một hệ thống khóa chặn tinh vi nhất hành tinh, được sử dụng cho việc bảo vệ bức tường ảo chống lại những mối đe doạ từ bên ngoài. Ở bên trong, họ dựa vào một hệ thống kiểm tra của chính quyền và tự kiểm duyệt tập thể. Hầu hết các bộ định tuyến [2] và các cơ phận khác đều được nhập từ các công ty của Hoa Kỳ, ví như Cisco. Các nhà tranh đấu nghi ngờ Trung Quốc đang chuyển giao những bí quyết kiểm duyệt cho Cuba, Việt Nam và một số quốc gia Phi châu.

“Trung Quốc đang xuất khẩu một mô hình làm cho internet trở thành một thứ công cụ phục vụ phát triển kinh tế, nối mạng giao tiếp, tiếp thị kinh doanh và tuyên truyền, nhưng không phục vụ cho việc tự do bày tỏ ý kiến. Trung Quốc rất tự hào về điều này. Họ chi hàng chục triệu euro để xây dựng hệ thống tường lửa, lực lượng cảnh sát mạng và kiểm duyệt mạng,” theo Ông Vincent Brossel của tổ chức Nhà báo Không Biên giới cho biết.


Sôi nổi

Ông nói rằng Trung Quốc đang tiến hành vận động hậu trường với một tầm mức quốc tế để có sự kiểm soát trên nhiều quốc gia hơn trên internet, một hệ thống hiện đang được quản lý bởi một tổ chức độc lập đóng tại Hoa Kỳ. “Nếu điều này xảy ra, nó sẽ kết thúc sự tự do biểu đạt ý kiến trên mạng.”

Nhưng internet cũng đang thay đổi Trung Quốc và làm nên những nét đặc trưng mà không ở nơi đâu có được. So sánh vấn đề này với Hoa Kỳ, các khảo sát gợi ra rằng những cư dân mạng ở Trung Quốc thích thú quan tâm tới web hơn, gấp ba lần với cảm giác được tự do hơn trên thế giới ảo so với trong thế giới thực, và hơn gấp hai lần với việc cho rằng mình đam mê quá.

Với một tỉ lệ trung bình là 35 tuổi trở xuống – trẻ hơn 7 tuổi so với Hoa Kỳ – họ quan tâm chủ yếu tới giải trí, và tin rằng internet đang đem tới niềm vui thú trong lĩnh vực này hơn là TV, điện ảnh, hay gặp gỡ bạn bè. Khiêu dâm, một ham thích mấu chốt trên internet tại những xứ khác, thì lại là nhân tố hạn chế ở Trung Quốc, nơi mà chính phủ thường xuyên nhắc nhở việc rà soát trên mạng trực tuyến do sự “đầu độc tâm hồn”. Tháng trước, phương tiện truyền thông nhà nước loan báo đã đóng cửa 44.000 website và bắt giữ 868 người vì bị cáo buộc đã cung cấp nội dung “không lành mạnh”.

Trang web ở Trung Quốc còn lâu mới bị coi là khô khan song trong khi “sex” là thuật ngữ tìm kiếm phổ biến nhất trên nhiều nước, thì Google loan báo rằng ở Trung Quốc đa số đề tài được tìm kiếm liên quan tới tài sản tiền bạc và công nghệ. Từ “cổ phần” nằm trong số 6 thuật ngữ được tìm kiếm nhiều nhất, đi theo với tên của 3 ngân hàng hàng đầu.

Những phương tiện để truy cập cũng rất khác nhau. Mức tăng trưởng nhanh nhất năm ngoái là ở những vùng nông thôn. Một phần ba những người vào mạng trực tuyến là tại các quán cà phê internet, nơi được gọi là wangba (web bars – quán net).

Cái cảnh trong tuần này tại một quán net vùng ngoại ô Bắc Kinh là rất đặc trưng: những người đàn ông mũ sụp trên đầu và vận áo parkas đang chọc tay lên bàn phím, nã đạn vào binh lính và những kẻ xa lạ, trong khi phụ nữ thì đắm đuối vào những bộ phim nhiều tập đẫm nước mắt của Hàn Quốc và những gameshows của Đài Loan.

Vài người chợp mắt ngay tại bàn máy tính. Một người đàn bà cau có. Đôi lúc có kẻ cười toe toét một mình. Song với đa số, chỉ có tiếng nhắp chuột và gõ bàn phím giữa một đám đông bất động và ngây ngô.

“Cuộc sống của tôi sẽ buồn tẻ nếu như không có net,” đó là lời thú nhận của Yang Jing, một sinh viên nghệ thuật 19 tuổi từ An Huy (Anhui), khi cô vừa xem xong một bộ phim phù phiếm. “Nó chỉ được lấp đầy bởi trường học và thứ này – tôi xem phim, chơi game và chat với bạn bè. Nếu chúng ta không có net, tôi không hiểu sẽ phải làm gì.”

Quán cà phê Yi You mới mở cửa một năm trước, mới nhất trong cả một hệ thống đầy kiêu hãnh vì duy nhất có tới nửa tá đại lý ở Bắc Kinh. Vào buổi tối, 300 ghế nhanh chóng được chiếm chỗ; những đại lý khác lại còn có nhiều màn hình hơn. “Kinh doanh cà phê internet đã phát triển rất nhanh trong hai năm qua. Chúng có ở khắp nơi,” người quản lý tên là Zong Cheng cho biết.

Jeremy Goldkorn, người sáng lập trang truyền thông dùng blog Danwei.org, nói rằng làn sóng những người dùng internet đang làm thay đổi Trung Quốc. “Thật vô cùng quan trọng về mức phát triển internet với tốc độ này bởi nó tạo sự dễ dàng hơn cho việc đưa thông tin ra bên ngoài,” anh nhận xét. “Tôi tin là xã hội Trung Quốc nói chung đang cởi mở hơn. Internet là căn nguyên đưa tới tình hình đó, song nó cũng là một kết quả. Nó không dẫn tới cách mạng, nhưng nó sẽ đóng vai trò là một phần của sự phát triển cho tranh luận công khai.”

Roland Soong, người có blog Zonaeuropa là một trong những nguồn thông tin đáng tin cậy nhất về các trang web của đại lục, đã tin rằng dân chúng ở Trung Quốc có những mong đợi nhiều hơn ở internet.

“Ở các nước khác, có nhiều diễn đàn cho những người dân bình thường bày tỏ ý kiến của bản thân mình. Còn ở Trung Quốc, internet là diễn đàn duy nhất cho những công dân nói lên tiếng nói của họ.”


Bịa đặt

Sự hăng hái đôi khi tự nó chứng minh cho những tình trạng đáng báo động. Soong tin rằng có nhiều câu chuyện đã được bịa đặt hơn ở những nước khác bởi những người muốn tự đề cao mình hoặc công ty của mình. Những trận chiến trực tuyến thường quay vào những cuộc săn lùng một kẻ tội đồ nào đó của cả đám đông, ví như cuộc gần đây bởi những nhóm BBS (hệ thống thông báo) mà đích nhắm là một thiếu nữa 13 tuổi đã được giới chức sử dụng để biện minh cho việc thắt chặt quản lý nội dung video trực tuyến. Trong một cuộc phỏng vấn của hệ thống truyền hình quốc gia CCTV cô miêu tả là nó “rất vàng vọt [khiêu dâm], rất bạo lực”, vụ việc đang trở thành một trong những khẩu hiệu biểu tượng của năm.

Nhưng những vụ việc khác gợi mở rằng internet đang cung cấp một lực lượng xã hội tích cực, bằng việc làm cho các chính quyền địa phương vốn không được bầu lên phải có trách nhiệm hơn. Vụ giết hại Wei Wenhua gần đây, người đã dùng điện thoại di động của mình quay phim cảnh xung đột giữa các viên chức thành phố với những dân làng, đã nhanh chóng trở thành loại tin tức toàn quốc nhờ vào sự giận dữ của các blogger trên internet. Các giới chức không có chọn lựa nào khác hơn là phải bắt giữ bốn kẻ tình nghi và xử bắn một viên chức địa phương. Tờ Quảng Đông Nhật báo tường thuật vụ một vị quan tòa bị đình chỉ công việc sau khi những hình ảnh được đưa lên mạng cho thấy ông ta đang tán gẫu bằng điện thoại di động trong lúc vẫn nghe nội dung phiên tòa. Các giới chức lâm nghiệp ở Shaanxi phải đối mặt với một phản ứng giận dữ sau khi xác thực những hình ảnh về những đe doạ cho bầy hổ ở Nam Trung Quốc là giả mạo.

Sự gia tăng nhanh chóng số lượng điện thoại di động, các dịch vụ nhắn tin và thông báo trên internet đã được ngợi ca như là một nhân tố chính cho các cuộc biểu tình trên đường phố gần đây của tầng lớp trung lưu. Vụ việc lớn nhất được thấy năm ngoái là một cuộc biểu tình của hàng nghìn người ở Xiamen, tỉnh Fujian chống lại những kế hoạch xây dựng một nhà máy hóa chất. Công luận quan tâm, nhà cầm quyền đã phải chùn bước.

Ở cấp nhà nước, Cơ quan Thông tin Hội đồng Nhà nước – ở hải ngoại là internet – có thể vẫn áp dụng việc quản lý chặt chẽ. Việc giam giữ gần đây đối với nhà hoạt động nhân quyền Hu Jia và cầm giữ vợ và con gái hai tháng tuổi của ông tại nhà đã làm nên tiêu đề tin tức hàng đầu trên khắp thế giới. Tại Trung Quốc, nó lại như là chuyện chưa bao giờ xảy ra. Hai cổng tin tức chính, Sina và Sohu, không đề cập chút nào về vụ này. Tìm kiếm trên công cụ Baidu và Google với một danh mục các trang web, nhiều trong số đó đã bị chặn. Một số trang khác bị kiểm duyệt bởi chính các công cụ tìm kiếm đó, song chỉ có Google thú nhận điều này ngay trên các kết quả tìm được. Các giới chức duy trì việc ngăn chặn thường trực trên các trang web, ví như BBC news, Ân xá [Quốc tế] hay những nguồn tin phi chính phủ về Tây Tạng, Đài Loan, cuộc thảm sát trên Quảng trường Thiên An Môn và Falun Gong. Các giới chức cơ quan tuyên truyền hàng tuần gửi một danh sách các đề tài cần hạn chế đề cập tới cho các nhà quản trị trang web, những người từ đấy được đòi hỏi phải tự kiểm duyệt nội dung của mình.

Nhưng với tình hình internet phát triển quá nhanh, có một sự giới hạn số lượng những yêu cầu ngăn chặn mà chính phủ có thể đưa ra hoặc mức độ rộng lớn nó có thể áp đặt quyền lực của mình trên các trang web nhỏ, ví như blog và những bản thông báo. Với thực trạng đó, nó buộc phải nhờ cậy vào lối tự kiểm duyệt, là thứ chẳng có gì đảm bảo.

Hong Bo, người có blog mang tên Keso, nói rằng cơ hội để nói thẳng ra ý kiến của mình trên mạng trực tuyến được yêu thích bởi một số lượng ngày càng lớn blogger và những người sử dụng hệ thống BBS.

“Internet của Trung Quốc có một đặc tính riêng biệt. Nó là một hệ thống được kiểm soát chặt chẽ nhất trên thế giới, song cách đối xử của các cư dân mạng vẫn gây lúng túng và ngạc nhiên cho những mong muốn của chính quyền. Họ có thể cấm các trang web và xóa những nội dung được đưa lên, nhưng họ chẳng có được cái gì dưới sự kiểm soát.”

Isaac Mao, một nhà tiên phong về blog và tìm kiếm trên mạng, đã nói rằng số lượng người dùng không quan trọng bằng chất lượng từ những kinh nghiệm trực tuyến của họ, lĩnh vực mà theo anh không có một khoảng cách lớn với Hoa Kỳ.

Tổ chức của anh cổ vũ các cư dân mạng nối kết với nhau trong cả cuộc sống thực và ảo thông qua blog và những cuộc thảo luận các vấn đề xã hội, gồm có vấn đề kiểm duyệt.

“Những kẻ cai trị tin là họ có thể xây dựng một hệ thống tốt hơn và bắt những người khác phải theo. Nhưng mặc dù họ muốn thay đổi internet, nó là một phần của một thế giới toàn cầu hóa và không ai có thể có đủ khả năng xây dựng một hệ thống riêng biệt.

“Tôi tin là internet sẽ biến đổi Trung Quốc hơn là Trung Quốc làm thay đổi internet.”


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


Ba Sàm chú thích:

[1] “Tường lửa” của Trung Quốc được gọi là Great FireWall (Tường lửa Vạn Lý Trường Thành), ghép theo kiểu chơi chữ từ Great Wall là Vạn Lý Trường Thành.
[2] Hộp hỗ trợ trao đổi, chuyển đổi, chia sẻ thông tin giữa các máy tính trong mạng cục bộ hoặc toàn cầu, tựa như nhà ga xe lửa.

Đăng trong Blog/Báo, Trung Quốc | Tagged: , | 2 phản hồi »