BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Trung Quốc’ Category

592. ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ

Đăng bởi anhbasam on 29/07/2010

ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG

CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT

ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 22-7-2010

Tuần san châu Á số từ 11-18/7/2010 đăng bài của Giang Tấn về những ân oán trong quan hệ Trung-Việt. Theo Giang Tấn, cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1979 chủ yếu là do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định nhằm củng cố địa vị của mình.


Dẫn lời ông Nghê Sáng Huy, một người từng trải qua những năm tháng chiến tranh Trung-Việt, tác giả cuốn “Mười năm chiến tranh Trung-Việt” vừa được Nhà xuất bản Thiên Hành Kiện (Hồng Công) ấn hành vào đầu tháng 6/2010, Giang Tấn cho biết vào năm 1977, Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương 3 khóa X, khôi phục các chức vụ lãnh đạo cho Đặng Tiểu Bình, gồm Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng quân đội. Một năm sau đó, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Chính hiệp Toàn quốc. Cách mạng Văn hóa vừa kết thúc, Đặng Tiểu Bình muốn trước tiên phải lập lại trật tự, thúc đẩy đường lối tư tưởng, nên đưa ra trọng điểm công tác cho cả nước là chuyển dịch sang xây dựng kinh tế. Tuy nhiên, khi đó ở Trung Quốc, tư tưởng tả khuynh trong, ngoài đảng và ở quần chúng vẫn tiếp tục “trượt” theo quán tính. Đặc biệt là nhóm trong Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc do Hoa Quốc Phong cầm đầu vẫn chủ trương tiếp tục duy trì lý luận và thực tiễn của Cách mạng Văn hóa thêm một thời gian. Trong quân đội Trung Quốc cũng có không ít cán bộ cao cấp tỏ ra không thông với chính sách và đường lối của Đặng Tiểu Bình. Chính vì thế, Đặng Tiểu Bình thấy rằng muốn phá vỡ cục diện này, phải tiến hành cải cách mở cửa. Nhưng nếu chỉ dựa vào chức vụ của Đặng Tiểu Bình khi đó thì khó có thể xoay chuyển được tình thế, mà phải cần đến một phương thức có thể quét sạch được mọi chướng ngại của thế lực cực tả đối với cải cách mở cửa.

Theo ông Nghê, nếu như khi đó đưa ra những đánh giá lịch sử về Mao Trạch Đông, phủ định đường lối “hai phàm là” của Hoa Quốc Phong (Phàm là quyết sách Mao Chủ tịch đưa ra, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ; Phàm là chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều phải tuân thủ trước sau như một – P/v TTXVN), thời cơ vẫn chưa chín muồi. Do đó, Đặng Tiểu Bình quyết định lợi dụng chức vụ Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tham mưu trưởng và sự tín nhiệm của phái nguyên lão trong quân đội đối với mình để tìm kiến sự đột phá từ quân đội. Đặng Tiểu Bình cho rằng cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh chống lại “kẻ xâm lược”, thông qua chiến tranh để chuyển hướng đấu tranh trong nước, tái cố kết sự đoàn kết dân tộc của người dân. Đặng Tiểu Bình cũng muốn nhân cơ hội sau chiến tranh tiến hành điều chỉnh nhân sự trong quân đội. Quả nhiên, sau chiến tranh Trung-Việt, Đặng Tiểu Bình đã làm một cuộc “thay máu” đối với quân đội, đưa một loạt cán bộ trẻ, cán bộ trung niên vào vị trí lãnh đạo. Có thể nói, tiến hành chiến tranh là con đường nhanh nhất giúp Đặng Tiểu Bình xác lập quyền uy tuyệt đối trong Đảng Cộng sản và quân đội Trung Quốc, đẩy mạnh thực hiện kế hoạch cải cách mở cửa.

Ông Nghê cho rằng Trung Quốc đánh Việt Nam là do Việt Nam đưa quân vào Campuchia và Trung Quốc ủng hộ Campuchia chống lại Việt Nam. Ban đầu, Trung Quốc gọi đây là “phản kích tự vệ” sau đó lại đổi thành “đánh trả”. Cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt, theo ông Nghê, tuy đã khiến Việt Nam rút một phần quân khỏi Campuchia, phá vỡ thế bao vây chiến lược của Liên Xô đối với Trung Quốc, làm rõ quân bài chiến lược của Mỹ và Liên Xô, rèn luyện quân đội, nhưng kết quả đạt được rất hạn chế: Không lấy được đất đai của Việt Nam, cũng không lật đổ được chính quyền Việt Nam (nguyên văn là “tập đoàn thống trị Lê Duẩn”). Và mặc dù các mục đích mà Quân ủy Trung ương Trung Quốc đề ra cơ bản đạt được, nhưng nếu xét về lợi ích chỉnh thể của quốc gia, cái hại vẫn lớn hơn cái lợi. Tại sao vậy? Ông Nghê cho rằng trước tiên là cuộc chiến tranh Trung-Việt đã được các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu lấy làm cái cớ để cô lập Trung Quốc. Hai là, việc Trung Quốc xuất binh tấn công Việt Nam đã làm kinh động các nước Đông Nam Á. Ba là, cắt đứt quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới thứ ba, khiến Bắc Kinh rơi vào thế cô lập. Bốn là, Trung Quốc mất đi uy tín trong xử lý quan hệ cấp quốc gia. Năm là, chiến tranh Trung-Việt gây tổn thất nặng nề về mặt kinh tế cả cho Việt Nam lẫn Trung Quốc.

Khi nói về trình tự tiến hành chiến tranh, ông Nghê cho biết một cuộc chiến tranh tất yếu phải đi theo những trình tự do pháp luật quy định. Trước đây, quan niệm pháp trị của người Trung Quốc không cao và nó được biểu hiện trong một số cuộc chiến tranh lớn. Ví dụ: Chiến tranh Triều Tiên chủ yếu do một mình Mao Trạch Đông quyết định, Chiến tranh Trung-Việt chủ yếu do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định. Một người hoặc một vài người vội vàng quyết định tiến hành chiến tranh, theo ông Nghê, khó có thể tránh khỏi việc quyết định đó mang màu sắc tình cảm phiến diện, chủ quan của cá nhân, rất dễ phạm phải sai lầm mang tính lịch sử và hậu quả cũng vô cùng đáng sợ.

Ông Nghê cho biết chiến tranh Trung-Việt không những không được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) thảo luận thông qua, mà cũng không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Theo ông Nghê, chiến tranh phải công khai với nhân dân, cho phép nhân dân bày tỏ thái độ của mình. Nhân dân vốn là chủ nhân của đất nước, nên có quyền được biết tình hình, có quyền được bày tỏ thái độ. Việc nhân dân có thể bày tỏ thái độ một cách tự do đối với một cuộc chiến tranh cũng có lợi cho việc ngăn ngừa một số cá nhân nào đó đi ngược lại ý nguyện của đại đa số nhân dân, phát động chiến tranh./.

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | 10 phản hồi »

580. Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Đăng bởi anhbasam on 10/05/2010

The Japan Times

Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Michael Richardson

09-05-2010


SINGAPORE – Có phải Trung Quốc đang ngày càng trở nên quyết đoán hơn trong việc thực thi đòi chủ quyền nhằm kiểm soát 80% khu vực Biển Đông, yêu sách bao gồm chủ quyền đối với hàng chục hòn đảo tranh chấp với một số nước Đông Nam Á?

Những diễn biến gần đây chắc chắn cho thấy như thế. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Australia – tất cả các cường quốc có khả năng mạnh mẽ trong việc ổn định khu vực – đang quan sát tình hình chặt chẽ.

Trong một cuộc biểu dương lực lượng cho thấy về khả năng thực thi trên biển ngày càng gia tăng, tháng trước hải quân Trung Quốc đã kết thúc việc triển khai tầm xa (1) vào Biển Đông. Việc diễn tập gồm có một số tàu chiến hiện đại nhất của Trung Quốc và kéo dài gần ba tuần.

Đội tàu nhỏ từ Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc có trụ sở tại Thanh Đảo đi vào quần đảo Trường Sa, tất cả hoặc một phần của quần đảo này do Việt Nam, Philippines và Malaysia đòi chủ quyền. Các tàu Trung Quốc neo tại Đá Chữ Thập, bãi đá đã chiếm của lực lượng Việt Nam trong một trận chiến năm 1988 và bây giờ trở thành một căn cứ của Trung Quốc với một trạm radar cảnh báo sớm.

Trong khi đó, máy bay chiến đấu Trung Quốc từ nhiều sân bay khác nhau trên đất liền đã tổ chức các cuộc diễn tập khả năng tàng hình cùng các kỹ năng bay đêm, tiếp nhiên liệu trên không, gây nhiễu radar và các cuộc tấn công giả vờ ném bom vào Biển Đông.

Hai tuần trước, cơ quan thực thi nhiệm vụ ngành thủy sản của Trung Quốc đã xác nhận rằng họ bắt đầu tuần tra thường xuyên để bảo vệ tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc trong và xung quanh quần đảo Trường Sa, vài chục [hòn đảo] ở đó là nơi đồn trú của Việt Nam, Philippines và Malaysia. Cơ quan này nói rằng hai tàu mới được gửi từ đảo Hải Nam của Trung Quốc để thay thế hai tàu đã đi tuần tra trong khu vực từ ngày 1 tháng 4.

Các quan chức Trung Quốc nói rằng các tàu đánh cá bằng lưới của Trung Quốc liên tục bị quấy nhiễu và đôi khi bị Việt Nam , Philippines và Malaysia tịch thu, mặc dù thực tế họ đang hoạt động tại khu vực hàng hải của Trung Quốc.

Tuyên bố việc triển khai thường xuyên nhằm chống lại cướp biển, chống lại việc bắt giữ và chống lại những cố gắng rượt đuổi các tàu đánh cá Trung Quốc ra khỏi khu vực, ông Liu Tianrong, Phó Cục trưởng cục Quản lý Nghề cá Nam Hải của Trung Quốc cho biết, “cung cấp việc bảo vệ trong khu vực này khỏi các mối đe dọa an ninh đặc biệt sẽ giúp gia tăng các quyền chủ quyền hiện tại của Trung Quốc trên lãnh thổ”.

Cùng lúc, hải quân Trung Quốc cho thấy khả năng phối hợp sức mạnh quân sự dấn sâu vào Biển Đông, một hạm đội khác của Trung Quốc bao gồm các tàu chiến trên mặt biển hiện đại và các tàu ngầm chạy bằng hơi nước qua biển Hoa Đông đi vào Thái Bình Dương, phía Nam Nhật Bản, gặp sự phản đối ngay từ phía Tokyo sau khi máy bay trực thăng của Trung Quốc bị cáo buộc đã bay quá gần các con tàu của Nhật Bản.

Báo Global Times, tờ báo của chính phủ Trung Quốc, nhận xét hôm 27 tháng 4 rằng, khi Trung Quốc cho mình có nhiều trách nhiệm hơn trong khu vực Đông Á, sẽ có các cuộc tập trận quân sự thường xuyên hơn của Trung Quốc tại vùng biển quốc tế, đặc biệt kể từ khi Hoa Kỳ tăng cường phòng thủ ở phía Tây Thái Bình Dương.

“Đương nhiên, sự chuyển đổi của hải quân Trung Quốc sẽ mang lại thay đổi cho mô hình chiến lược ở Đông Á và phía tây Thái Bình Dương đã kéo dài trong năm thập kỷ qua”. Global Times nói thêm rằng việc chuyển đổi là tích cực bởi vì Trung Quốc không có ý định “thách thức Hoa Kỳ ở Trung tâm Thái Bình Dương hoặc tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự với Nhật Bản ở vùng biển lân cận, mặc dù Trung Quốc sẵn sàng bảo vệ lợi ích cốt lõi bằng mọi giá”.

Gần đây, báo New York Times đưa tin, trong tháng 3, Trung Quốc đã nói với hai quan chức cao cấp Hoa Kỳ đang viếng thăm rằng, Bắc Kinh sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp nào trên Biển Đông, nói rằng bây giờ Biển Đông đã là một phần các lợi ích “cốt lõi” về chủ quyền của Trung Quốc.

Các quan chức Hoa Kỳ đã được trích dẫn khi nói rằng, đây là lần đầu tiên Trung Quốc đặt Biển Đông vào danh mục lợi ích cốt lõi của quốc gia, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng.

Điều này có nghĩa là, nếu cần, Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ việc tuyên bố chủ quyền quốc gia của mình trên đất liền hoặc trên biển trong khu vực.

Trong một bài diễn văn tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế hồi tháng 3, ông Teo Chee Hean, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Singapore lưu ý rằng, Trung Quốc thường dùng phương pháp tiếp cận “mềm mại và nhẹ nhàng” trong khu vực Đông Nam Á, “trừ khi lợi ích cốt lõi quốc gia của họ bị đe dọa”.

“Chúng tôi thấy điều này qua việc phản ứng của Trung Quốc hồi năm ngoái đối với việc Malaysia – Việt Nam gửi đệ trình chung lên Ủy ban Liên Hiệp quốc về Giới hạn Thềm lục địa cho các yêu sách của mình ở Biển Đông. Trung Quốc đã trả lời lại ngay ngày hôm sau, với một yêu sách trả đũa rằng [vùng biển của họ] trải dài tới tận ngoài khơi phía Đông Malaysia và quần đảo Natuna của Indonesia “.

Biện hộ về việc gia tăng hải quân của Trung Quốc, trong một cuộc họp ở Bắc Kinh về Đối thoại Quốc phòng và An ninh ASEAN – Trung Quốc vào cuối tháng 3, ông Trần Chu Chuẩn tướng (2), thuộc Học viện Khoa học Quân sự cho biết, Trung Quốc là “thành viên duy nhất trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc không nhận sự thống nhất hoàn toàn” (3). Ông nói thêm rằng: “Chúng tôi vẫn phải đối mặt với nhiều thử thách, chẳng hạn như tranh chấp hàng hải với các nước khác.”

Sự quyết đoán rõ ràng của Trung Quốc ở Biển Đông xảy ra giữa lúc tiếp tục có các sự chia rẽ trong 10 thành viên Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về việc có phản ứng hay không và sẽ phản ứng như thế nào. Việt Nam hiện đang giữ chức Chủ tịch ASEAN, nước đang đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ cũng như chuỗi quần đảo Trường Sa, đã không thể đưa cả nhóm cùng hành động như một khối trong giao dịch với Bắc Kinh.

Nếu không có một chiến lược thống nhất [giữa các nước] ASEAN, các cường quốc quan tâm khác gồm Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và Australia, cũng sẽ thấy khó hơn để chế ngự Trung Quốc.

Michael Richardson là một chuyên viên nghiên cứu cao cấp thỉnh giảng tại Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở Singapore .


Người dịch: Ngọc Thu

Dịch từ: http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/eo20100509mr.html

———

Ghi chú:

(1) A long-range deployment: triển khai tầm xa, tức là triển khai khả năng chiến đấu xa và lâu mà không cần tiếp nhiên liệu vì các tàu đưa vào tập trận phải được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể chiến đấu xa bờ và lâu ngày.

(2) Senior Colonel: tức Brigadier General, cấp bậc ở giữa Đại tá và Thiếu tướng.

(3) Ý trong câu này: Trung Quốc thường hay bỏ phiếu ngược lại với các thành viên khác trong HĐBA Liên Hiệp quốc.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quân sự, Trung Quốc | 9 phản hồi »

579. Trung Quốc dấn sâu vào việc bảo vệ vùng biển

Đăng bởi anhbasam on 09/05/2010

South China Morning Post

Trung Quốc dấn sâu vào việc bảo vệ vùng biển

Bắc Kinh ngày càng quyết tâm bảo vệ quyền trên biển trong các tranh chấp với láng giềng

Minnie Chan and Agencies

08-05-2010


Trung Quốc nổi lên như là một cường quốc trên biển và gia tăng sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên trên đại dương, có nghĩa là Bắc Kinh sẽ kiên quyết trong các tranh chấp lãnh hải để bảo vệ lợi ích của mình, các chuyên gia nói.

Trong hai thập kỷ qua, Bắc Kinh đã giải quyết tranh chấp đất đai lãnh thổ với tất cả các nước láng giềng ngoại trừ Ấn Độ, đôi khi có những nhượng bộ được những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan xem là quá lớn, chuyên gia an ninh có trụ sở tại Thượng Hải, ông Ni Lexiong nói.

Nhưng Trung Quốc đã không thỏa hiệp bất cứ điều gì khi tranh chấp lãnh thổ trên biển bởi vì nó đã biến từ một nước nông nghiệp thành một cường quốc hàng hải.

Ông Ni nói: “Ngày càng có nhiều người bắt đầu nhận ra các nguồn tài nguyên dưới nước nhiều như thế nào. Chính phủ của chúng tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ. Sự phụ thuộc ngày càng gia tăng của Trung Quốc vào năng lượng trên biển, thương mại, và thực phẩm có nghĩa là Bắc Kinh sẽ từ chối thỏa hiệp”.

Bắc Kinh được xác định bảo vệ vùng biển mà họ xem là của riêng mình. Họ đã gửi các tàu hải quân và các tàu giám sát để tuần tra vùng đặc quyền kinh tế của họ đi xa và thường hơn trong quá khứ. Tuy nhiên, phần lớn là các khu vực tự xác định này chồng lấn với các khu vực mà các nước láng giềng xác định, thiết lập giai đoạn cho các cuộc đối đầu.

Ông Katsuya Okada, Ngoại trưởng Nhật Bản, hôm qua đã triệu tập đại sứ Trung Quốc đến để phản đối việc một tàu hải quân Trung Quốc rượt đuổi một tàu khảo sát của Nhật hôm thứ hai ở một khu vực tranh chấp trên Biển Hoa Đông, khoảng 320 km về phía Tây Bắc của hòn đảo Amami Oshima, thuộc miền nam nước Nhật, trong vùng biển mà cả hai bên đều cho là vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao cho biết, tàu Trung Quốc hành động trong quyền hạn của mình. Bà nói: “Hoàn toàn hợp pháp để một tàu khảo sát hàng hải Trung Quốc thực hiện các hoạt động bảo vệ luật pháp trong vùng biển này”.

Việc cãi vặt mới nhất này giữa hai nước xảy ra sau một phản đối hồi tháng trước về việc một chiếc trực thăng Trung Quốc đã bay quá gần một tàu khu trục của Nhật Bản.


Trung Quốc cũng có tranh chấp với các nước láng giềng khác. Việt Nam cho biết họ có kế hoạch phản đối lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc, vi phạm chủ quyền của mình trên các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông. Hai nước tham gia vào một cuộc tranh chấp lâu nay về việc kiểm soát quần đảo Trường Sa và một quần đảo khác ở phía Bắc, quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm đóng.

Giáo sư Wang Hanling, một chuyên gia về vấn đề hàng hải và luật pháp quốc tế tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết, tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa Bắc Kinh và các nước láng giềng đã trở nên nóng bỏng khi Trung Quốc nổi lên thành một cường quốc trên biển.

Ông Wang nói: “Thật vậy, các tranh chấp như thế đã tồn tại kể từ khi dầu mỏ và các nguồn tài nguyên trên biển khác đã được phát hiện ở quần đảo Điếu Ngư và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông và Biển Hoa Đông trong thập niên 70″.

“Có một đề nghị về việc thuyết phục tất cả các nước Đông Nam Á tham gia với nhau để chiến đấu với Trung Quốc về việc tranh chấp lãnh hải trong thập niên 70, điều này đã làm cho Bắc Kinh quan ngại”.

Tuy nhiên, ông cho biết, Bắc Kinh đã gạt bỏ mối quan tâm này sau khi thấy không có hành động nào hơn 30 năm sau.

Ông Wang nói: “Chúng tôi thấy các nước láng giềng có tranh chấp lãnh thổ trên biển cãi nhau ầm ĩ và có các lợi ích quốc gia để bảo vệ, điều này rất khó cho họ xây dựng một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc. Ngay cả khi họ thành công trong việc cùng tham gia với nhau, họ vẫn không đủ mạnh để đánh bại Trung Quốc”.

Với lập luận rằng quyền chủ quyền của Trung Quốc và hành chính của các đảo ở vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông đã được thành lập bằng văn bản cách đây 1.000, ông Wang cho biết Bắc Kinh sẽ bám vào lập luận này.


Người dịch: Ngọc Thu – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: , | 4 phản hồi »

577. Kornai János trả lời phỏng vấn Tạp chí Kinh Tài

Đăng bởi anhbasam on 07/05/2010

Kornai János trả lời phỏng vấn Tạp chí Kinh Tài *


Caijing (财经-Kinh Tài, đọc từ phải sang) là tạp chí kinh tế tài chính độc lập nổi tiếng, có nhiều người đọc nhất Trung Quốc. Kinh Tài do bà Hu Shuli (胡舒立- Hồ Thư Lập; sinh năm 1953) làm tổng biên tập từ 1998 đến 2009, Kinh Tài trực thuộc Ủy Ban Chứng khoán. Kinh Tài là tạp chí ra 2 số một tháng với lượng ấn bản 220.000 bản một số và là tạp chí kinh tế tài chính có lập trường độc lập. Kinh Tài đã gửi các câu hỏi phỏng vấn đến Kornai János, nhà kinh tế học Hungary nổi tiếng thế giới, giáo sư đại học Havard, hiện sống ở Budapest. Ông đã có trả lời bằng tiếng Hung ngày 27-2-2010 và bản dịch tiếng Anh ngày 21-3-2010. Bài phỏng vấn đã được Kinh Tài đăng và đã có tiếng vang lớn tại Trung Quốc. Ngày 3-4 Kornai János gửi cho người dịch bài trả lời phỏng vấn bằng tiếng Hung và bản dịch ra tiếng Anh. Trân trọng giới thiệu với độc giả tiếng Việt bài phỏng vấn này do Nguyễn Quang A dịch từ nguyên bản tiếng Hung, có tham khảo bản dịch tiếng Anh.

Câu hỏi 1.

Ông giữ quan điểm rằng các cuộc cải cách hệ thống trong chuyển đổi bao gồm nhiều phần, một số phần với các chi phí thấp (low cost), một số với chi phí cao. Trung Quốc chọn các cuộc cải cách chi phí thấp để đột phá cho nên đã có một sự chuyển đổi tương đối ổn định. Theo quan điểm của ông, cách tiếp cận Trung Quốc về cải cách đều đặn có thành công? Ông nghĩ có loại “Mô hình Trung Quốc” nào đó trong các cuộc cải cách và chuyển đổi của một nước hay không? Nếu có, lời bình của ông về mô hình này là gì?

Bạn đặt câu hỏi khó và phức tạp. Trong khả năng của mình tôi muốn cho câu trả lời càng chính xác càng tốt. Để làm việc này, một mặt tôi phải phân câu hỏi lớn thành các câu hỏi nhỏ hơn và tôi phải tìm cách làm rõ vài khái niệm có thể bị hiểu lầm.

Trong từ vựng của bạn từ “mô hình” có nghĩa là gì? Chúng tôi, các nhà kinh tế học thường gọi “mô hình” là cái kết cấu lý thuyết – đa phần với sự trợ giúp của các công thức toán học – mà trong đó chúng tôi ánh xạ (phỏng chiếu) một số quan hệ của nền kinh tế thực. Rõ ràng là bạn sử dụng từ này với ý nghĩa khác: bạn gọi  một quá trình lịch sử thực là mô hình mà nó có thể được dùng như hình mẫu, như tấm gương cho các nước khác. Thế nhưng Trung Quốc là độc nhất vô nhị và không thể bắt chước được! Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với quá khứ lịch sử dài và truyền thống văn hóa không thể so sánh được. Đối với tôi, ý tưởng về “mô hình Trung Quốc” là không thể cắt nghĩa được.

Thay vào đó tôi đề nghị, hãy phân tích các đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển Trung Quốc trong các thập kỷ vừa qua, phân tích từng đặc điểm một và chung trong quan hệ với nhau của chúng, và chúng ta thử xác định: chúng là thuận lợi hay bất lợi? Và nếu là thuận lợi, chúng có được thực hiện chỉ riêng ở Trung Quốc ư, hay cũng có thể được thực hiện ở nơi khác nữa?

Còn hai từ trong câu hỏi của bạn, mà theo quan niệm của tôi là mơ hồ, cần sự giải thích và định nghĩa rõ ràng.

Một từ như vậy là thuật ngữ có vấn đề [mà bạn dùng] là từ “ổn định”. Bạn hiểu ổn định là gì? Có phải bạn hiểu là, sản xuất của Trung Quốc từ sau cái chết của Mao đã liên tục tăng, nhiều nhất có thể nói về tốc độ có lúc tăng lúc giảm, nhưng giảm sút tuyệt đối thì không? Đây là một đặc điểm hấp dẫn nhất của sự phát triển của Trung Quốc, đặc điểm gây ấn tượng lớn cho toàn thế giới.

Những so sánh là rõ ràng. Tại các nước dân chủ mới hình thành trong khu vực của Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu trước kia, sau bước ngoặt chính trị 1989-1990, sự biến đổi hệ thống kinh tế đã bắt đầu với sự sụt giảm sản lượng lớn, với suy thoái biến đổi (transformational recession) kéo dài nhiều năm, cho đến khi lấy lại được mức sản xuất trước biến đổi.

Liên quan đến các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, tại đó cuộc suy thoái sâu và đau đớn đã xảy ra một-hai năm vừa qua và ngày nay chúng ta vẫn chưa thể nói rằng nền kinh tế đã lấy lại được đà.

Dưới ánh sáng của những so sánh này, thành tích của Trung Quốc thật đáng nể trọng.

Từ “low cost-chi phí thấp” trong câu hỏi của bạn có nghĩa là gì? Ai là người đã trả giá thấp? Đối với người tiêu dùng Âu-Mỹ đúng là “low cost”, nếu mua hàng Trung Quốc giá rẻ. Nhiều nhân tố có vai trò trong thành công của Trung Quốc bán được hàng hóa giá rẻ vào thị trường của các nước giàu. Tỷ giá (exchange rate) có ảnh hưởng đến việc này; nhưng bây giờ tôi không muốn đề cập đến vấn đề này. Thế nhưng có lẽ nhân tố quan trọng nhất là lương thấp của công nhân Trung Quốc. Ở đây không chỉ phải để ý đến số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, mà cả các khoản thuế và đóng góp xã hội trên lương, tỷ lệ với lương nữa, kể cả các khoản đóng góp để tài trợ cho hưu bổng và dịch vụ y tế. Ngoài những thứ khác, chi phí của nhà nước phúc lợi cung cấp sự chăm sóc xã hội rộng rãi cũng là gánh nặng lên chi phí lao động Bắc Mỹ và Châu Âu. Việc này làm giảm tính cạnh tranh của nhiều ngành trong cạnh tranh với các sản phẩm Trung Quốc.

Cái mà chúng ta đi đến ở đây, không phải là vấn đề kinh tế theo nghĩa hẹp, mà là các vấn đề đạo đức căn bản. Tốc độ tăng trưởng vũ bão của Trung Quốc có thể đạt được là do – bên cạnh nhiều yếu tố khác – tỷ lệ đầu tư rất cao và tương ứng  là tỷ lệ tiêu dùng thấp trong sử dụng GDP. Các thế hệ hiện thời chịu sự hy sinh – một sự hy sinh to lớn – cho các thế hệ tương lai. Đây là một giải pháp khả dĩ, có thể thực hiện được về mặt lịch sử của vấn đề phân chia giữa các thế hệ “hiện tại-tương lai” – nhưng tôi muốn nhắc nhở rằng cũng có thể có các con đường khác. Nếu chúng ta suy ngẫm lịch sử kinh tế thế giới ở tầm thế kỷ, hiện lên trước mắt chúng ta con đường của Hoa Kỳ, của các nước Bắc Âu (Scandinavian), hay của Australia. Họ đã chẳng bao giờ tăng trưởng nhanh đến mức như Trung Quốc ngày nay, thế nhưng họ vẫn đạt đến đỉnh của sự phát triển kinh tế. Và trong quá trình phát triển, tăng tiêu dùng đã tiến bước hài hòa với tăng sản xuất.

“Low cost” – một thuật ngữ như thế, khá phổ biến trong cách nói Trung Quốc ngày nay, thậm chí chỉ đánh lạc hướng sự chú ý khỏi những nan giải chiến lược thực sự quan trọng mà thôi.

Câu hỏi 2.

Nền kinh tế Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng trong nhiều năm. Ông xem xét hiện tượng này thế nào? Các lực lượng chính nào ở đằng sau sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc? Nó có bền vững?

Tôi đã trả lời một phần cho câu hỏi. Ở Trung Quốc tỷ lệ tiết kiệm-đầu tư cao độc nhất vô nhị xét về mặt lịch sử thế giới. Khó, có lẽ là không thể để xác định xem sự tiết kiệm này ở mức độ nào là tự nguyện và ở mức độ nào là tiết kiệm bị ép buộc (forced saving).

Hãy suy ngẫm lịch sử của các nước Bắc Âu. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm, nhìn lại một trăm năm, đã thấp hơn rất rất nhiều so với mức hiện nay Trung Quốc đạt được. Nhưng trong một trăm năm này nền dân chủ xã hội Thụy Điển đã hết lần này đến lần khác thắng trong các cuộc bầu cử quốc hội, được sự ủng hộ của các nghiệp đoàn và ngoài ra của đa số dân cư. Nó đã đấu tranh liên tục và thành công vì tiền lương cao hơn, vì sự an toàn việc làm, vì sự phát triển y tế, vì một hệ thống hưu bổng đảm bảo cuộc sống tuổi già tử tế.

Hay hãy nhìn lại lịch sử Hoa Kỳ. Ở đây tinh thần kinh doanh đóng vai trò đặc biệt mạnh. Đa phần những đổi mới lớn của 60-80 năm qua được đưa vào bởi các nhà kinh doanh Mỹ dẫn đầu sự phát triển công nghệ thế giới. Tất cả việc này đi cùng với việc họ cũng đi đầu trong thiết lập nhà nước pháp quyền, các hình thức tranh đua giữa các lực lượng chính trị và hiến pháp dân chủ.

Hoặc hãy ngó tới Ấn Độ. Xét về số dân chỉ có Trung Quốc vượt nước này và – giống như Trung Quốc – cho đến tận thời gian gần đây Ấn Độ vẫn thuộc vào các nước nghèo và trì trệ. Tuy nhiên kể từ khi người ta dỡ bỏ nhiều cản trở quan liêu đối với phát triển và mở không gian tự do hơn cho chủ nghĩa tư bản kinh doanh, thì tốc độ phát triển đã tăng nhanh một cách ngoạn mục. Hơn thế nữa, hình thức cai trị đại nghị vẫn tồn tại với sự thay đổi này.

“Tính bền vững-sustainability” – từ này có một ý nghĩa hẹp và một ý nghĩa rộng. Có lẽ theo nghĩa kinh tế hẹp cũng có những giới hạn có thể cản trở sự tăng trưởng: thí dụ sự đông nghẹt tăng lên của các thành phố lớn, sự tổn hại môi trường do tăng trưởng công nghiệp nhanh và sự bành trướng nhanh của xe cộ gây ra. Thế nhưng có lẽ còn quan trọng hơn để tính đến các điều kiện chính trị. Liệu cái cơ cấu chính trị đảm bảo cho tình hình kinh tế vĩ mô hiện thời, cho các tỷ lệ hiện thời của tiêu dùng và đầu tư còn có thể tồn tại được đến bao giờ mà không có thay đổi và cải cách? Tôi nghĩ, đúng hơn cần phải đặt các câu hỏi này cho các nhà nghiên cứu chuyên sâu về khoa học chính trị và lịch sử đương đại.

Sau các câu hỏi và các câu trả lời cho đến lúc này tôi cảm thấy quan trọng để đưa ra một cảnh báo nghiêm khắc. Tôi không kiến nghị Trung Quốc hãy theo “mô hình Bắc Âu”, hay “mô hình Bắc Mỹ”, hay “mô hình Ấn Độ”, cũng giống như tôi không khuyến nghị Thụy Điển, hay Hoa Kỳ hay Ấn Độ hãy theo “mô hình Trung Quốc”. Bằng việc phác họa các con đường lịch sử khác nhau tôi muốn đưa ra ý tưởng sau đây:

Không thể tiến hành được một loại phân tích chi phí-lợi ích đơn giản nào đấy mà từ đó bằng phép tính số học đơn giản có thể tính được con đường phát triển tối ưu. Trong thực tế, những niềm vui và những đau khổ, các thành quả và những sự hy sinh có thể được phân chia theo nhiều cách khác nhau cho các tầng lớp xã hội, các khu vực và các thế hệ. Và sự phân phối này liên quan không chỉ đến phúc lợi vật chất, mà cả đến những niềm vui và đau khổ mà sự hạn chế tự do cá nhân và các quyền tự do gây ra. Tôi không muốn đưa ra các đơn thuốc cho việc giải quyết các vấn đề phân phối sâu sắc này, mà là tôi muốn lưu ý đến những nan giải của sự lựa chọn.

Câu hỏi 3.

Trong chuyển đổi kinh tế một cách có hệ thống, làm thế nào để thiết kế một cách thích hợp các chức năng khác nhau của thị trường và các chức năng của chính phủ? Ở Trung Quốc, có quá nhiều thị trường hóa trong một số lĩnh vực nhưng trong các lĩnh vực khác lại có quá ít. Đây là vấn đề rất khó mà Trung Quốc phải đối mặt. Dưới ánh sáng của thực tiễn Hungary, những gợi ý của ông là gì?

Bây giờ bạn hỏi về kinh nghiệm Hungary. Ở Hungary không có sự đồng thuận về vấn đề này. Đây chính là một trong những vấn đề được tranh luận gay gắt trên các diễn đàn chính trị dân chủ, trên báo chí và trong các thảo luận của giới trí thức. Và tất nhiên đây là đề tài tranh luận không chỉ ở Hungary, mà ở khắp thế giới. Đây là một trong những vấn đề cơ bản của thời đại chúng ta mà lịch sử đã đặt ra hầu như đồng thời ở tất cả các khu vực lớn của thế giới. Ở những nơi trước kia hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ngự trị với đặc trưng nhà nước áp đảo cực độ, thì hiển nhiên người ta đã cố gắng và nay cũng đang cố gắng để giảm vai trò của nhà nước. Ngược lại, cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế nổ ra gần đây ở các nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển lại thức tỉnh họ về nhu cầu đối với sự điều tiết nhà nước hữu hiệu hơn.

Theo tôi, một trong những đặc điểm hấp dẫn nhất – thực sự đáng làm gương – của sự phát triển Trung Quốc là sự thử nghiệm. Ở nhiều nước, kể cả Hungary, các nhà cải cách nóng đầu thảo ra một ý tưởng [cải cách] mà sau đó họ muốn đưa vào áp dụng nhanh như chớp với hiệu lực phổ quát trên toàn lãnh thổ đất nước. Tôi cho rằng ở Trung Quốc trình tự thông thường của các sự kiện là khác. Mỗi thay đổi lớn thường bắt đầu với sự xuất hiện một sáng kiến địa phương. Các nhà lãnh đạo trung ương chú ý đến sáng kiến đó, ủng hộ nó và nếu thực sự thành công, thì đưa nó ra làm gương cho các địa phương khác. Nếu sáng kiến thực sự có sức sống, thì nó lan rộng, và tốc độ lan rộng thậm chí giữa chừng có thể gia tăng.

Không có tỷ lệ tổng quát và có hiệu lực phổ quát giữa điều phối nhà nước-quan liêu và điều phối thị trường, chẳng hạn 30:70, hay 50:50 hay 70:30. Các tỷ lệ khác nhau là đáng mong mỏi trong khu vực ngân hàng và giáo dục, trong ngành y tế và cảnh sát. Có các lĩnh vực mà trong đó nhà nước phải đóng vai trò chính và có các lĩnh vực trong đó thị trường phải chiếm ưu thế.

Trong khi chúng ta thử hình thành các tỷ lệ và hình thức tốt nhất cho sự phân công lao động giữa nhà nước và thị trường [trong mỗi lĩnh vực], thì trên hết rất quan trọng là chúng ta làm việc này với sự tỉnh táo cần thiết và không có những ảo tưởng. Thị trường chẳng phải là cỗ máy kỳ diệu hoạt động hoàn hảo – nhưng rừng rậm chẳng biết đâu mà lần được dùng làm lãnh thổ săn mồi của các thú dữ cũng không. Không đúng rằng nhà nước nằm trong tay các công chức biết mọi thứ, hoạt động với sự khách quan và sự chính trực hoàn hảo, không thể bị mua chuộc – nhưng cũng chẳng đúng rằng các quyết định nhà nước chỉ phụ thuộc vào những kẻ tham quyền cố vị và tham nhũng. Cả hai cơ chế còn xa mới hoàn hảo. Và cũng chẳng hề chắc chắn rằng tác động cùng nhau của hai cơ chế sẽ triệt tiêu lẫn nhau các sai sót của cả hai. Thậm chí điều ngược lại cũng có thể xảy ra: hai cơ chế tác động lẫn nhau lại hủy hoại cả cái mà trong mỗi cơ chế riêng biệt có thể là thuận lợi.

Không cần những khẩu hiệu chung chung và vô nghĩa: “Cần nhà nước mạnh hơn để chống những thái quá của thị trường!” – hay “Hãy dẹp can thiệp quan liêu đi; rồi thị trường sẽ giải quyết các vấn đề”. Thay vào đó, cần đến sự phân tích có trách nhiệm, khách quan và không định kiến về các vấn đề cụ thể của mỗi lĩnh vực bộ phận và hình thành các mức độ và giới hạn cần thiết của sự ảnh hưởng nhà nước.

Câu hỏi 4.

Một số người nghĩ rằng sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc sẽ tự động dẫn chúng ta đến những cải cách hệ thống. Ông nghĩ thế nào về quan điểm này? Những cải cách hệ thống có nhất thiết là sản phẩm phụ của tăng trưởng kinh tế?

Nếu nghiên cứu lịch sử của nhiều nước ở tầm thế kỷ, chúng ta có thể rút ra kết luận: không có mối quan hệ tự động, tất định giữa mức độ phát triển kinh tế và các hình thái chính trị. Càng ít có thể chỉ ra một loại quan hệ nhân quả đơn giản nào đó giữa tốc độ tăng trưởng và mức độ phát triển của đời sống chính trị. Sản xuất ở Liên Xô trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Stalin đã phát triển với tốc độ lớn nhất – và việc này đi cùng với làn sóng khủng bố, sự áp bức khủng khiếp. Nước Đức đã thuộc về các nước công nghiệp phát triển nhất và giàu nhất, khi rơi vào sự thống trị của Hitler và của đảng Quốc Xã-Nazi. Và ngược lại, trong một loạt các nước châu Âu đã bắt đầu hình thành nhà nước pháp quyền và nền dân chủ đại nghị ở mức phát triển [kinh tế] thấp hơn mức hiện nay rất nhiều.

Sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, sự phổ biến của cơ chế điều phối thị trường tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cải cách chính trị – nhưng không đảm bảo một cách tự động việc thực hiện cải cách chính trị.

Câu hỏi 5.

Ông đi Trung Quốc năm 1986 để dự một hội nghị về quản lý kinh tế vĩ mô. Trong hội nghị đó, ông đã gợi ý bốn mô hình mục tiêu cho các cuộc cải cách kinh tế và ông thích [mô hình] điều phối thị trường với quản lý vĩ mô hơn. Bây giờ hơn 20 năm đã trôi qua và Trung Quốc đã đi một quãng đường dài trong những cải cách định hướng thị trường, nhưng các mục tiêu cải cách thị trường của nó vẫn chưa được thực hiện: hệ thống thị trường và sở hữu tư nhân chưa được thiết lập một cách thỏa đáng; chính phủ vẫn xía vào công việc của các doanh nghiệp tư nhân; các độc quyền hành chính vẫn chưa bị nghiền nát. Mỉa mai thay, cùng lúc đó, kiểm soát vĩ mô của chính phủ đã được tăng cường. Theo ông, Trung Quốc phải có những nỗ lực gì để đạt các mục tiêu cải cách thị trường của mình?

Từ xa, từ Budapest, tôi muốn dè dặt để đừng đưa ra các lời khuyên cho chính sách kinh tế Trung Quốc. Nước các bạn có các nhà kinh tế học xuất sắc, những người hiểu kỹ hoàn cảnh, tình hình chính trị, kinh tế và xã hội – họ có tư cách hơn tôi nhiều để nói cần phải làm gì. Nhiều nhất tôi có thể đưa ra nhận xét của mình về vài vấn đề.

•  Theo cảm tưởng của tôi có các vấn đề lớn trong khu vực ngân hàng. Sự thực rằng nhiều ngân hàng Mỹ và châu Âu hiện nay lâm vào tình thế khó khăn, thậm chí một vài lâm vào tình trạng khủng hoảng, trong khi nhìn từ bên ngoài các ngân hàng Trung Quốc có vẻ vững chắc, không có nghĩa là tất cả đều ổn. Các chuyên gia Trung Quốc phải phân tích chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, cơ cấu các khoản vay, đặc biệt là việc xử lý các khoản nợ xấu với con mắt mở và phê phán.

•  Đáng sợ là, giữa sự phát triển có tốc độ rất nhanh này nảy sinh những bất cân đối và thiếu-cân bằng trong nền kinh tế mà muộn hơn có thể gây ra những rắc rối lớn. Bốn mươi năm trước tôi có viết một cuốn sách với đầu đề: “Rush versus Harmonic Growth – Tăng trưởng Hấp tấp đối lại Tăng trưởng Hài hòa.” Khi đó người ta cũng đã dịch ra tiếng Trung Quốc, nhưng tôi e là đã hết từ lâu và không còn trong các hiệu sách. Trong cuốn sách này, rút ra từ kinh nghiệm Liên Xô và Đông Âu, tôi đã lên tiếng chống lại “thói tôn sùng tốc độ tăng trưởng”. Trong khi các chính trị gia kinh tế thúc tăng trưởng GDP càng nhanh càng tốt, họ bỏ qua một số nhiệm vụ phát triển quan trọng, chẳng hạn như xây dựng nhà ở, bảo vệ môi trường, giao thông đô thị và vân vân. Trong cuốn sách cũng có một sự so sách để minh họa cho sự bất hài hòa: một người đàn ông mặc áo veston mới sang trọng, mặc quần sờn nhưng vẫn có thể dùng được, và đi chân trần. Có lẽ bõ công lại đưa cuốn sách này vào tay bạn đọc Trung Quốc.

•  Từ các số liệu mà tôi được biết cho thấy sự bất bình đẳng thu nhập đã tăng mạnh ở Trung Quốc. Điều này cũng bất lợi về mặt kinh tế, chưa kể đến việc đúng là nó xúc phạm cảm nhận công lý của người dân. Hiện tượng này sớm muộn có thể trở thành nguồn gốc của những căng thẳng xã hội nghiêm trọng.

•   Phải chuẩn bị rằng thị trường xuất khẩu của Trung Quốc có thể bị thu hẹp. Rồi tiêu dùng cá nhân và xã hội của Trung Quốc càng tăng, thì khoảng cách giữa chi phí lương của các sản phẩm sản xuất ở Trung Quốc và ở các nước phát triển sẽ càng nhỏ. Cho đến nay Trung Quốc theo đuổi chính sách kinh tế theo chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và đầu tư. Trung Quốc được chuẩn bị chưa cho việc sửa đổi chiến lược này?

•  Để cho nền kinh tế thị trường hiện đại hoạt động suôn sẻ thì không thể thiếu nhà nước pháp quyền. Các bước quan trọng đã được tiến hành để hiện đại hóa hệ thống pháp luật, nhưng – tôi tin – vẫn còn rất nhiều việc phải làm để bảo vệ cả tài sản tư lẫn tài sản công, và để buộc tôn trọng và thực thi các thỏa thuận.

Việc liệt kê các vấn đề, những lo âu và những việc cần làm là không hề đầy đủ. Tôi thành tâm hy vọng rằng chính sách kinh tế Trung Quốc sẽ tìm được các câu trả lời đúng cho các câu hỏi khó.

Câu hỏi 6.

Các nhà kinh tế học Trung Quốc nghĩ rằng nếu Trung Quốc muốn tiếp tục thực hiện cải cách của mình, nó sẽ phải chịu những chi phí nặng hơn. Ông thấy triển vọng cho cải cách của Trung Quốc thế nào? Chúng tôi có thể học những bài học gì từ Đông Âu?

Tôi kiềm chế khỏi việc rút ra những kết luận có hiệu lực phổ quát từ biến đổi Đông Âu. Dân cư của khu vực này cộng chung lại cũng không lớn hơn dân số của một tỉnh duy nhất của Trung Quốc – thế nhưng, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cỡ nhỏ và trung bình này lại muôn màu muôn vẻ đến thế nào! Nếu chúng ta khảo sát một năm cho trước, một nước vừa đạt những kết quả to lớn, ở nước khác rắc rối tích tụ lại. Trong mỗi nước thành công và thất bại luân phiên lẫn nhau. Đặc biệt quan trọng là, các nước khác hãy rút ra bài học từ những bước thành công một nửa.

•    Chủ nghĩa dân túy trong dài hạn là không thích hợp. Sớm muộn dân chúng cũng đòi truy cứu việc thực hiện các lời hứa được lòng dân, nhưng vô trách nhiệm và sẽ quét sạch những kẻ đã theo đuổi chính sách kinh tế nông nổi sang bên lề.

•   Việc áp đặt những cải cách cưỡng bức lên dân chúng là không thích hợp. Các cuộc cải cách tỏ ra bền vững là các cuộc được tranh luận rộng rãi trước đó và được sự ủng hộ rộng rãi.

•   Bóp nghẹt các quan điểm phê phán chính sách của chính phủ là không thích hợp. Trong nhiều nước Đông Âu các đảng cầm quyền đã thử bóp nghẹt các tiếng nói đối lập, đàn áp các cuộc phản đối, đe dọa những người có chứng kiến độc lập. Việc làm này đã có thể tạo trật tự một thời gian ngắn, nhưng sớm muộn vẫn phải khai mở khả năng cho sự cạnh tranh giữa các quan điểm, cho sự thể hiện tự do chứng kiến.

•  Sự ngạo mạn dân tộc chủ nghĩa, sự khoe khoang thành tích là không thích hợp. Thế giới bên ngoài có thiện cảm hơn với các nước tuyên bố: sẵn sàng học hỏi, sẵn sàng thâu nạp và thích ứng theo điều kiện địa phương những kinh nghiệm chính trị và kinh tế nước ngoài đã thành công.

Các nước kế thừa sau khi Liên Xô tan rã và các nước Đông Âu một thời dưới sự lãnh đạo cộng sản cùng nhau tạo thành một phòng thí nghiệm lớn. Việc thí nghiệm nhiều loại thể chế chính trị và kinh tế xảy ra ở đây. Tôi khuyến nghị cho các bạn Trung Quốc của mình: hãy chớp lấy cơ hội đặc biệt này. Hãy ngó quanh một cách kỹ càng trong phòng thí nghiệm khổng lồ này, hãy rút ra bài học từ những sai lầm và tận dụng khéo những kinh nghiệm thành công.

* Bài được đăng một phần trên Sài Gòn Tiếp thị. Bản ở đây là đầy đủ.

Mời đọc thêm tiểu luận: Chủ nghĩa xã hội thị trường?

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc | Tagged: | 5 phản hồi »

576. TRUNG QUỐC- CƯỜNG QUỐC BẤT ỔN

Đăng bởi anhbasam on 06/05/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC- CƯỜNG QUỐC BẤT ỔN

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Sáu, ngày 16-4-2010


Ramesh Thakur, Hiệu trưởng trường quan hệ quốc tế Balsillie, Giáo sư khoa học chính trị Đại học Waterloo (Canađa), vừa có bài viết trên báo “Công dân Ốttaoa” đánh giá về vị thế của Trung Quốc hiện nay như sau:

Quan hệ Mỹ -Trung sẽ trở thành trục then chốt của trật tự thế giới hậu đơn cực. Quan điểm của Phương Tây về Trung Quốc có xu hướng dao động giữa đối đầu và thân thiện dẫu ngày càng thổi phồng lên hoặc làm giảm đi tầm quan trọng của Trung Quốc. Đánh giá ôn hòa cho rằng Trung Quốc đang nắm giữ vị trí quan trọng, đầy trách nhiệm trong việc quản lý trật tự thế giới và khu vực. Trong khi đó, các đánh giá bi quan thì lo ngại sự cứng đầu cứng cổ của Trung Quốc trong một loạt các vẫn đề trên thế giới.

Các cuộc chiến tranh trị giá 3.000 tỷ USD tại Irắc và Ápganixtan đã làm Mỹ vỡ nợ. Và việc Mỹ chấp nhận nhập hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc cũng như dịch vụ của Ấn Độ cũng làm suy giảm khả năng của Mỹ trong việc cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ để thanh toán các chi phí Mỹ đã trang trải.

Nền kinh tế Mỹ vốn là nền kinh tế lớn nhất, cân bằng nhất, hiệu quả nhất và sáng tạo nhất. Nhưng hiện nay, kinh tế Mỹ chất đầy gánh nặng nợ nần, thâm hụt và bất ổn. Thâm hụt của Mỹ, dự kiến chiếm khoảng 11% sản lượng kinh tế trong năm 2011, sẽ vẫn chiếm khoảng 5% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 2020. Hệ thống chính trị dường như hoạt động bất bình thường của Mỹ làm thất bại tất cả các nỗ lực giải quyết các vấn đề về cấu trúc. Nếu vào cuối thập kỷ này, Mỹ vẫn còn là con nợ lớn nhất thế giới (như dự báo kinh tế Mỹ thiếu độ tin cậy trong 10 năm tới), liệu Mỹ sẽ vẫn còn là cường quốc lớn nhất thế giới?

Trung Quốc là thị trường ôtô lớn nhất thế giới tính theo số lượng, nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới và sẽ có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong thương mại thế giới trong một thời gian. Mỹ vẫn là trung tâm tài chính và tiêu thụ của thế giới nhưng trung tâm sản xuất mới của thế giới lại là Trung Quốc. Trung Quốc không còn phụ thuộc vào thị trường, bí quyết quản lý và công nghệ của Mỹ và cũng không phụ thuộc vào sức mạnh của Mỹ làm đối trọng trước mối đe dọa Liên Xô cũ. Là một quốc gia có ảnh hưởng lớn tới việc định giá năng lượng, khoáng sản và các loại hàng hóa khác, Trung Quốc cũng là quốc gia thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính lớn của thế giới (không tính trên đầu người), một thủ phạm chính gây biến đổi khí hậu toàn cầu.

Các nhà phân tích tại Mỹ lập luận rằng sự mất lòng tin về quan điểm của phương Tây đang dẫn đến sự mất uy tín đối với Oasinhtơn về các chính sách thị trường tự do, ủng hộ thương mại và toàn cầu hóa và được thay thế bằng sự nhất trí đối với Bắc Kinh về một quốc gia  có thị trường vốn được kiểm soát chặt chẽ theo chỉ đạo của nhà nước và có quá trình đưa ra quyết định độc đoán có thể gây khó khăn cho việc lựa chọn chiến lược và việc đầu tư dài hạn nhưng không bị bối rối bởi các cuộc thăm dò hàng ngày.

Mỹ càng thể hiện thiện chí bao nhiêu thì Trung Quốc càng cứng rắn bấy nhiêu. Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Barack Obama hồi tháng 11/2009 thể hiện điều đó. Việc ông Obama từ chối gặp lãnh tụ tôn giáo Đạtlai Lạtma trước chuyến thăn Trung Quốc đã củng cố thái độ tượng trưng của Mỹ. Cuộc gặp giữa Tổng thống Obama và Đạt lai Lạt ma sau đó tại Nhà Trắng đã nhận được sự cảnh báo mạnh mẽ từ Bắc Kinh.

Tuy nhiên, khi Mỹ cần Trung Quốc cung cấp tài chính cho các khoản nợ khổng lồ, thì sự suy thoái của kinh tế Mỹ đã làm giảm mạnh việc bán các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc tại thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới và cũng có thể giảm dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc.

Việc Trung Quốc vốn tin rằng trật tự thế giới với một siêu cường và nhiều cường quốc khác sẽ vẫn tiếp tục. Các cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan đẩy nhanh sự suy thoái về quân sự, tài chính và đạo đức đối với Mỹ. Để bảo vệ lợi ích của mình, một số người Trung Quốc đã cân nhắc làm thế nào họ có thể bắt kịp tốc độ phát triển của Mỹ. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính vốn đã cho thấy sự vượt trội của Trung Quốc về khả năng phục hồi, các nhà phân tích Trung Quốc đã có hàng loạt các bình luận về sự suy thoái của Mỹ.

Lần đầu tiên trong 200 năm qua, thế giới phải can dự với một cường quốc Trung Quốc thống nhất đã trở nên mạnh mẽ hơn trong nhiều vấn đề, bao gồm vấn đề biến đổi khí hậu, tự do Internet và tranh chấp biên giới với Ấn Độ. Nhưng như vậy có phải Trung Quốc đã vượt quá các điều kiện so với vị thế mới của Trung Quốc. Đế chế Trung Hoa không có thời kỳ quá độ lịch sử, triết học hay văn học về quan hệ ngoại giao như là một cường quốc trong một hệ thống các cường quốc của thế giới. Điều này sẽ trở thành vấn đề đặc biệt liên quan khi ảnh hưởng của Trung Quốc đối với toàn cầu ngày càng tăng và các lợi ích, sự hiện diện, hoạt động của Trung Quốc phát triển khắp thế giới.

Việc đối xử với Trung Quốc như một kẻ thù có thể biến thực thể này thành một quốc gia đoàn kết. Nhưng liệu Mỹ có đảm bảo cho sự trỗi dậy của một quốc gia độc đảng- đối thủ địa chính trị xứng đáng duy nhất của Mỹ hay không?

Chính sách Trung Quốc của các chính quyền cựu Tổng thống Clinton và cựu Tổng thống Bush đã cho thấy giả định rằng việc hướng tới thương mại tự do và thời đại thông tin sẽ tạo ra và tăng cường sức mạnh các lực lượng tự do và thay đổi chính trị. Nếu như giả định này sai? Các bằng chứng cho đến nay chủ yếu cho thấy theo chiều hướng ngược lại.

Việc Oasinhtơn đã thông qua việc bán vũ khí cho Đài Loan trị giá 6 tỉ USD với tính toán rằng với hơn 1.300 tên lửa của Trung Quốc hướng tới

Đài Loan, việc thúc đẩy chuẩn bị quân sự cho sau này có thể là một tuyến phòng hộ khôn ngoan hơn là phải bảo vệ Đài Loan khỏi bị tấn công. Nó đồng thời làm tăng nguy cơ thất bại và chi phí để thành công đối với Bắc Kinh khi tiến hành cuộc chiến. Bắc Kinh đã trả đũa ngay lập tức, đình chỉ trao đổi quân sự song phương và áp đặt lệnh trừng phạt các công ty bán vũ khi cho Đài Loan.

Tuy nhiên, các tính toán về sự suy giảm tương đối của Mỹ nhiều khả năng thúc đẩy Bắc Kinh hướng tới việc thực hiện biện pháp đòn bẩy đối với chính sách quốc tế của Mỹ hơn là đối đầu trực tiếp. Trung Quốc sẽ muốn xác định lại trật tự đa phương theo các điều kiện của Trung Quốc, gạt sang một bên các vấn đề về nhân quyền, các giá trị chính trị thay vào đó tập trung vào giải quyết các vấn đề thường gặp. Trung Quốc sẽ có thiện chí hơn, có khả năng hơn trước kia trong việc định hình môi trường quốc tế và trật tự thế giới theo hướng chủ động hơn là phản ứng thụ động.

Sự phát triển của Trung Quốc được người ta chào đón như là một đối trọng với sức mạnh quân sự và sự kiêu ngạo chính trị của Mỹ. Trung Quốc cũng có thể là động lực tăng trưởng của thế giới. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc không thận trọng, họ có thể phải đối phó với sự chống đối mạnh mẽ vì nhiều quốc gia, các tổ chức đa quốc gia và các tổ chức phi chính phủ bắt đầu chống lại sự độc đoán gay gắt của Trung Quốc.

Việc Google đe dọa rời khỏi Trung Quốc có thể là một điềm báo trước về tình trạng quốc tế đang thay đổi. Cuộc chiến của Google với Trung Quốc nhiều khả năng được thúc đẩy bởi tính toán thương mại hơn là sự lo ngại về tự do thông tin.

Vì hầu hết các công ty nước ngoài đã phát hiện ra không phải dễ dàng để chuyển từ tiềm năng to lớn của Trung Quốc thành lợi nhuận to lớn. 1/3 cổ phần của Google tại thị trường của Trung Quốc chỉ mang lại 5% doanh thu toàn cầu của Google. Nếu có một sân chơi bình đẳng, Google có khả năng giành thị phần tại thị trường lớn hơn từ Baidu – đối thủ cạnh tranh chính tại Trung Quốc. Việc đánh giá rủi ro về chiến lược phát triển của Bắc Kinh có thể phản ánh phân tích đắt giá này.

Trong khế ước xã hội ngầm tại Trung Quốc, các công dân ngầm bằng lòng với sự kiểm soát chính trị để đổi lại chính phủ tiếp tục đem lại sự thịnh vượng, đen lại cho họ hàng hóa và dịch vụ giống như phương Tây. Do chủ nghĩa cộng sản mất uy tín, chính phủ thiếu một hệ tư tưởng hợp pháp để tăng trưởng kinh tế. Nếu điều này đang bị đe dọa bởi sự rút khỏi Trung Quốc của Google và các công ty đa quốc gia lớn khác, sự thất bại chiến lược đối với Chính quyền Trung Quốc có thể lớn hơn khoản thất thu từ các nguồn lợi kiếm được của các công ty.

Trung Quốc đang đắm mình trong sự thừa nhận ngày càng tăng về vị thế của họ. Trung Quốc hạnh phúc với những lợi ích thu được từ vị thế của họ hiện nay, chấp nhận gánh nặng của việc trở thành một cường quốc.

Suy nghĩ đó giúp giải thích về sự kiểm soát tiền tệ nhằm bảo vệ xuất khẩu của Trung Quốc trong khi các quốc gia khác lại chịu thiệt, cũng như việc Bắc Kinh không có thiện chí cam kết việc cắt giảm có sự kiểm chứng của quốc tế về khí thải gây hiệu ứng nhà kính và tranh thủ các chế độ độc tài bị quốc tế cô lập để tiếp cận nguồn nguyên vật liệu và các nguồn tài nguyên./.

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 3 phản hồi »

572. Con rồng ngẩng đầu ra Biển Đông giở trò hung hăng

Đăng bởi anhbasam on 03/05/2010

Asia Sentinel/ Jakarta Globe

Con rồng ngẩng đầu ra Biển Đông giở trò hung hăng

02-05-2010


Chiến dịch của Trung Quốc cho thấy sự gia tăng trong việc làm từ thiện đã có nhiều tiến triển, cùng với việc giúp đỡ bằng cách hứa hẹn đầu tư hoặc đầu tư thực tế và viện trợ. Điều này đặc biệt đúng đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên – thứ mà Bắc Kinh cần – và trong các dự án cơ sở hạ tầng lớn như: nhà máy điện, đường giao thông, v.v… mà các công ty Trung Quốc có chuyên môn và có sẵn tiền mặt để có thể cung cấp các điều kiện tín dụng dễ dàng.

Nhưng một điểm gai góc khác về sự trỗi dậy của Trung Quốc ngày càng có vẻ như việc  sử dụng quyền lực cứng rắn đe dọa các nước láng giềng. Ngày 25 tháng 4, Tân Hoa Xã loan báo cục quản lý nghề cá của Trung Quốc cho biết họ đã bắt đầu tuần tra thường xuyên trong vùng Biển Đông, gửi hai tàu đến thay thế hai tàu khác hiện đang hộ tống các tàu đánh cá của Trung Quốc trong khu vực quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa và Việt Nam gọi là Trường Sa).

Phát ngôn viên của Trung Quốc cho biết các tàu tuần tra có căn cứ tại Tam Á ở bờ biển phía Nam của đảo Hải Nam , đã được gửi tới hộ tống tàu thuyền đánh cá ở Biển Đông và để củng cố quyền đánh cá quốc gia trong vùng biển quanh quần đảo Trường Sa.

Từ ngữ sử dụng ở đây phần nào dự báo điềm không may. Các tàu này không chỉ đơn giản đến đó để bảo vệ tàu thuyền đánh cá có thể bị sách nhiễu bởi tàu của các nước khác đang tranh chấp các hòn đảo, hoặc để cung cấp các phương tiện hỗ trợ y tế hay dân sự khác. Các con tàu này được sử dụng nhằm “củng cố” quyền đánh cá của Trung Quốc, ngụ ý rằng những con tàu này có thể được sử dụng để ngăn chặn quyền đánh bắt cá của những người không phải là Trung Quốc. Điều đó có thể thấy nhưng không còn nghi ngờ gì cả khi Trung Quốc gia tăng các hành động cũng như lời nói của họ trên Biển Đông theo cách có vẻ như mâu thuẫn với những lời hứa của họ trước đây là để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và cho phép khai thác các nguồn tài nguyên trên cơ sở song phương.

Lời hứa đó luôn rỗng tuếch như các thỏa thuận song phương không giải quyết được gì cho quần đảo Trường Sa, nơi có tất cả khoảng 200 đảo và bãi đá ngầm, dãy đảo trải dài này đã có ít nhất ba nước khác đòi chủ quyền. Trung Quốc đòi chủ quyền trên tất cả các dãy đảo đối với Việt Nam , Philippines , Malaysia , Brunei và Đài Loan đòi một phần. Trường Sa nằm ở phần phía Nam của biển, quá xa tính từ đảo Hải Nam so với sự tiếp cận ở bờ biển phía Nam của Việt Nam, đảo Palawan của Philippines, và Malaysia và vùng lãnh thổ Bruneian ở bờ biển phía bắc Borneo. Việc đòi chủ quyền của Trung Quốc kéo dài gần tới bờ biển của tất cả các nước này và gần sát đảo Natuna có nhiều khí đốt, thuộc Indonesia .

Trung Quốc đã và đang sử dụng vũ lực để củng cố các tuyên bố của mình trên quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Việt Nam gọi là Hoàng Sa) quần đảo chỉ có Việt Nam đòi chủ quyền. Trung Quốc đã chiếm giữ của miền Nam Việt Nam trong những ngày hấp hối của chế độ [Nguyễn Văn] Thiệu ở Sài Gòn.

Ngày 22 tháng 3, các tàu chiến Trung Quốc bắt giữ một tàu đánh cá Việt Nam được báo cáo đang đánh cá trong vùng biển ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc cũng tìm cách tăng cường chiếm giữ các đảo cát nhỏ để phát triển du lịch.

Tuy nhiên, Việt Nam ít cho thấy dấu hiệu đang bị đe doạ, bất chấp việc quan hệ thương mại giữa hai nước đang phát triển. Khi Trung Quốc tuyên bố việc tuần tra sớm hơn trong quần đảo Trường Sa vào ngày 1 tháng 4, Việt Nam đã đáp trả bằng chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến Bạch Long Vĩ, một hòn đảo nằm giữa bờ biển Việt Nam và Hải Nam. Hòn đảo do Việt Nam chiếm đóng nhưng Trung Quốc đòi chủ quyền. Trong khi đó, Việt Nam dường như tăng cường sự hiện diện trên quần đảo Trường Sa, nơi họ chiếm nhiều đảo và đá ngầm hơn bất kỳ nước nào khác đòi chủ quyền.

Việt Nam mua sáu tàu ngầm từ Nga, nước vẫn giữ quan hệ chặt chẽ với Hà Nội, và đã dần dần phát triển quan hệ với Hoa Kỳ. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam viếng thăm Washington và Paris năm nay, cùng lúc thủ tướng [Việt Nam] đến thăm Moscow. Họ đã nhận tàu của Hoa Kỳ để sửa chữa gần vịnh Cam Ranh, căn cứ hải quân do Hoa Kỳ xây dựng trong chiến tranh Việt Nam ở bờ biển Nam Trung Bộ. Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phụ trách vấn đề Đông Á – Thái Bình Dương, ông Kurt Campbell, nhận xét tại Hongkong vào ngày 26 tháng 4 rằng “không một quốc gia nào ở Đông Nam Á muốn cải thiện mối quan hệ với Hoa Kỳ nhiều hơn kẻ thù cũ của mình, Việt Nam“.

Việt Nam cũng đã và đang cố gắng làm cho quốc tế chú ý nhiều hơn tới vấn đề Biển Đông – trong tháng 11, họ đã tổ chức hội thảo tại Hà Nội về chủ đề này. Điều này đã thu hút sự tham gia không chỉ từ Trung Quốc và các quốc gia đòi chủ quyền khác, mà còn có các chuyên gia trong ngành luật và lịch sử từ các nước khác gồm có Nga, Anh, Pháp và Indonesia. Việt Nam muốn sử dụng quyền Chủ tịch Asean để làm cho vấn đề này đi xa hơn vấn đề khu vực.


Mặc dù nguồn tài nguyên ở Biển Đông – dầu mỏ, khí đốt và cá – thì đáng kể, đặc biệt đối với các nước nhỏ hơn, mục tiêu chính của Trung Quốc là chiến lược – để họ kiểm soát hiệu quả các đường vận chuyển, và do đó về thương mại, giữa Nhật Bản và Đông Nam Á và các tuyến đường chính tới Nam Á, Trung Đông và châu Âu.


Vì thế, thật là khôi hài khi vào thời điểm một số quốc gia châu Á, bao gồm Indonesia và Ấn Độ, đang muốn cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ để tránh khỏi khả năng lâu dài vùng biển trở thành “cái hồ của Trung Quốc”, Nhật Bản hủy hoại các mối liên hệ với Hoa Kỳ trong một nỗ lực nhằm loại bỏ các căn cứ của nước này ở Okinawa.


Người dịch: Ngọc Thu

Dịch từ: http://www.thejakartaglobe.com/opinion/dragon-raises-its-head-in-south-china-sea-power-play/372591

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Trung Quốc | Tagged: | 6 phản hồi »

569. Hải quân Trung Quốc phối hợp hành động với nhau và trở nên hung hăng

Đăng bởi anhbasam on 01/05/2010

Center for a New American Security

Hải quân Trung Quốc phối hợp

hành động với nhau và trở nên hung hăng

Abe Denmark

26-04-2010

Nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc kéo dài hàng thập kỷ đang có hiệu quả. Sau khi lắp ráp kho vũ khí đã được tân trang vào các con tàu mới, tàu ngầm, máy bay, và tên lửa, Hải quân Trung Quốc (1) cho thấy họ có thể sử dụng tất cả các loại vũ khí đó (2) kết hợp với nhau, trong một hoạt động xa bờ.

Việc phô trương khả năng quân sự đã được cải tiến này xảy ra cùng lúc với các thông điệp gửi tới Hoa Kỳ, cho thấy một sự tiếp cận hung hăng hơn từ Bắc Kinh về các tuyên bố của Trung Quốc đối với vùng biển đang tranh chấp ở Biển Đông. Hoa Kỳ phải đáp lại sự thách thức đang nổi lên này bằng phương pháp tiếp cận có trách nhiệm để giảm bớt căng thẳng, trong khi gửi một thông điệp rõ ràng tới Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận những nỗ lực của Trung Quốc đơn phương kiểm soát quyền hàng hải chung ở Đông Nam Á.

Báo South China Morning Post gần đây đã đưa tin, các tàu khu trục lớn, tàu khu trục nhỏ và các tàu phụ trợ (3) từ Hạm đội Bắc Hải (có trụ sở ở Thanh Đảo) đi qua eo biển Bashi giữa Philippines và Đài Loan, tiến hành “cuộc tập trận đối đầu” chính ở Biển Đông. Vài ngày sau, tàu khu trục có tên lửa điều khiển, loại Sovremenny (4), các tàu khu trục nhỏ, và tàu ngầm từ Hạm đội Đông Hải (có trụ sở tại Ninh Ba) đi qua eo biển Miyako của Nhật Bản mà không báo trước cho Tokyo và tiến hành các cuộc diễ tập về chiến tranh chống tàu ngầm ở Thái Bình Dương, vùng biển nằm phía Đông Nam Nhật Bản.

Hiện cũng có các báo cáo của các phi công hải quân từ một số căn cứ ở các vùng quân sự Nam Kinh và Quảng Châu, tiến hành các cuộc tập trận tầm xa (5), kết hợp gây nhiễu radar, các chuyến bay đêm, tiếp nhiên liệu trên không, và các vụ giả vờ đánh bom ở Biển Đông.

Trong khi khiêu khích về quyền lợi của riêng họ, những cuộc tập trận là một dấu hiệu cho thấy Hải quân Trung Quốc Mỹ đã bước một bước tiến xa về phía trước. Bài báo ở South China Morning Post dẫn lời một tùy viên quốc phòng châu Á không nêu tên: “Chúng tôi chưa từng thấy các hoạt động quy mô như thế trước đây – cuối cùng, họ cho chúng ta thấy họ có thể phối hợp tất cả các hoạt động với nhau”.


Ý nghĩa của việc “phối hợp tất cả các hoạt động với nhau” là quan trọng. Khả năng quân sự của Hoa Kỳ thống trị bầu trời ở bất kỳ chiến trường nào, không chỉ là do lợi thế về công nghệ của họ, mà là khả năng kết hợp các sức mạnh lại để hỗ trợ cho nhau. Chiến tranh chống tàu ngầm và tiếp nhiên liệu trên không là những hoạt động phức tạp và rất khó thực hiện, đòi hỏi [phải có] công nghệ cao, chỉ huy và kiểm soát hiệu quả và những người điều hành phải có tay nghề cao. Khả năng của Trung Quốc tiến hành các hoạt động này nhằm chứng minh sự thành thạo đã phát triển đáng kể trong các hoạt động quân sự phức tạp.


Các cuộc diễn tập này cũng đáng chú ý về vì vị trí và thời gian. Quá cảnh qua eo biển Miyako và hoạt động ở vùng biển gây nhiều tranh cãi, Trung Quốc đang gửi một tín hiệu tới khu vực rằng, đó là phát triển khả năng theo đuổi các tuyên bố lãnh hải của mình hơn là chỉ khoa trương. Những cuộc diễn tập đã được tiến hành vài tuần sau khi ông James Steinberg, Thứ trưởng Ngoại giao và ông Jeff Bader, Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia, đặc trách về châu Á viếng thăm Bắc Kinh. Theo tin từ báo New York Times, họ đã nói rằng Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” đối với Trung Quốc. Đây là một cụm từ quan trọng đối với Bắc Kinh – đưa tầm quan trọng của Biển Đông lên ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng – và cho thấy một cách tiếp cận mới hung hăng và khiêu khích.

Từ lâu, Trung Quốc tuyên bố rằng, Biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ, và Công ước Liên Hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) buộc quân đội nước ngoài phải có sự cho phép của Bắc Kinh trước khi quá cảnh ngang qua. Dĩ nhiên, sáu nước khác trong khu vực cũng đòi chủ quyền hầu hết hoặc một phần trên Biển Đông. Cho nên từ lâu Hoa Kỳ đã xác định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là vùng biển quốc tế mà các tàu quân sự có thể tự do đi lại.

Ông Robert Gates, Bộ trưởng Quốc phòng lưu ý trong một bài phát biểu năm 2008: “Chúng tôi không ủng hộ bên nào hay một quốc gia nào trong việc tranh chấp chủ quyền đối với một quốc gia khác. Chúng tôi hối thúc [các bên], như chúng tôi làm hôm nay, là duy trì một môi trường hòa bình và không quyết đoán, trong đó các bên tranh chấp có thể thảo luận và nếu có thể, giải quyết [vấn đề]. Tất cả chúng ta ở Châu Á phải bảo đảm sao cho các hành động của chúng ta không bị xem như là thủ thuật gây áp lực, kể cả khi chúng tồn tại song song với những biểu hiện hợp tác được thấy rõ”.

Bằng cách đóng dấu “lợi ích cốt lõi”vào Biến Đông và tiến hành các cuộc tập trận chỉ vài ngày sau đó, Trung Quốc đã đưa ra câu trả lời của họ rằng: Trung Quốc sẽ trở lại bằng những lời tuyên bố hung hăng cùng với một khả năng quân sự mạnh mẽ.

Một thông điệp khác từ Bắc Kinh tiềm ẩn hơn, có thể không rõ ràng hơn là: quân sự Trung Quốc đang phát triển khả năng tốt hơn và Hải quân Trung Quốc bây giờ là đội quân tiên phong trong các nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc. Bằng cách mua lại công nghệ quân sự tiên tiến và phát triển khả năng thực hiện các hoạt động phức tạp xa bờ, Trung Quốc đang thay đổi sự cân bằng quân sự trong khu vực với những tác động vượt xa hơn một kịch bản liên quan đến Đài Loan.

Hoa Kỳ và Trung Quốc có vị trí tương tự trước đây. Sự va chạm giữa một máy bay phản lực Trung Quốc và một máy bay EP-3E của Mỹ trong không phận quốc tế ở Biển Đông hồi năm 2001 đã gây ra sự giảm sút đáng kể trong quan hệ Mỹ-Trung. Một cách gây rối, hành động hung hăng của Trung Quốc đối với tàu hải quân Mỹ ở Biển Đông trong những năm gần đây, như đã xảy ra trong năm 2009 với tàu USS Impeccable, cho thấy sự cố hải quân EP-3 là một khả năng thấy rõ trong tương lai.

Trong khi Hoa Kỳ đang điều chỉnh lại vị thế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương để trả lời cho việc hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, Hoa Kỳ phải công nhận rằng có một trò chơi về động lực chính trị không thể bỏ qua. Biển Đông và các vùng biển phụ cận xa bờ của Indonesia, Malaysia, và Singapore sẽ là các tuyến đường biển chiến lược quan trọng nhất trong thế kỷ 21. Đã có 80% lượng  dầu nhập khẩu của Trung Quốc đi qua eo biển Malacca và Nhật Bản, tương tự Hàn Quốc cũng phụ thuộc vào việc sử dụng các vùng biển này.

Hoa Kỳ nên tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận hòa bình và không quyết đoán, đã được Bộ trưởng Gates mô tả tại Shangri-La, và đã làm như vậy thông qua đồi thoại bằng Hiệp định Tư vấn Hàng hải Quân sự (MMCA) với Trung Quốc. Tuy nhiên, có hai cách khác để Hoa Kỳ bảo đảm những tuyến đường biển quan trọng vẫn mở ra.

Trước hết, Mỹ nên phê chuẩn Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS), trong đó xác định các khu đặc quyền kinh tế (EEZ) là tuyến đường biển quốc tế, qua đó tàu chiến có thể tự nhiên qua lại. Trong khi từ lâu Hoa Kỳ hoạt động theo mệnh lệnh của họ, nhưng phê chuẩn UNCLOS sẽ giúp cho luật quốc tế có thêm trọng lượng đối với sự phản đối của Mỹ về tuyên bố chủ quyền trên vùng biển quốc tế.

Thứ hai, Mỹ nên tuân theo Luật Tổng Trọng tải, và thường xuyên tiến hành thực tập về tự do đi lại trên Biển Đông, nhằm bảo đảm rằng vùng biển này vẫn tiếp tục được mở ra [cho tất cả các nước]. Tiếp tục xem Biển Đông như vùng biển quốc tế sẽ ngăn chặn những thói quen trong việc chiều theo các yêu sách của Trung Quốc hình thành. Đây không phải là phương pháp tiếp cận hiếu chiến hay gây hấn, mà quả thật là sự tiếp tục các chính sách quốc tế lâu dài của Mỹ đối với các tuyến đường biển quốc tế.


Các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nếu không bị phản đối, sẽ làm cho Bắc Kinh trở thành trọng tài đối với tất cả các chuyến giao thông hàng hải quốc tế qua lại mà Hoa Kỳ sẽ không được phép [đi qua]. Như chúng ta thấy trong các báo cáo hàng năm cho Quốc hội Hoa Kỳ của Bộ Quốc phòng về quân sự Trung Quốc, Trung Quốc đã và đang phát triển các khả năng này trong một thời gian, và không có dấu hiệu nào cho thấy tham vọng của họ đã được thỏa mãn.

Tóm lại: đây mới chỉ là sự khởi đầu.


Người dịch: Ngọc Thu – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

————–

Ghi chú:

(1) PLAN: Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân, tức Hải quân Trung Quốc.

(2) Assets: ở đây chỉ tàu, tàu ngầm, máy bay, tên lửa và các loại vũ khí khác trên tàu, không chỉ đơn thuần là vũ khí như súng ống, đạn dược.

(3) Auxiliary ships: là tàu phụ trợ, cũng là tàu hải quân nhưng được thiết kế để hoạt động trong các vai trò hỗ trợ các tàu chiến và các hoạt động hải quân khác. Mục đích chính của tàu phụ trợ không phải để chiến đấu, mặc dù nó có khả năng chiến đấu nhưng giới hạn.

(4) Sovremenny: là tàu khu trục, dùng để chống tàu chiến trên mặt nước, là loại tàu do Hải quân Nga thiết kế.

(5) Long-range exercise: tập trận tầm xa, tức là các cuộc tập trận về khả năng chiến đấu xa và lâu mà không cần tiếp nhiên liệu và các tàu tập trận phải được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể chiến đấu ngoài biển khơi lâu ngày.

Dịch từ: http://www.cnas.org/node/4396

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | Tagged: | 1 Comment »

568. Chiến lược lớn của Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 01/05/2010

Foreign Policy

Chiến lược lớn của Trung Quốc

Daniel Blumenthal

29-04-2010


Ông Robert Kaplan đã viết một bài xuất sắc, có ý khiêu khích đăng trên Foreign Affairs. Ông lập luận rằng nhu cầu không thể thỏa mãn của Trung Quốc về năng lượng và tài nguyên thiên nhiên đang tạo nên chính sách chiến lược của họ, như việc mở rộng sự tiếp cận quân sự và ảnh hưởng của Trung Quốc lên cả đất liền lẫn trên biển ở Châu Á. Không phải Trung Quốc có một kế hoạch tổng thể nhằm thống trị thế giới, thay vào đó, như tất cả các cường quốc đang lên, (gồm cả Mỹ hồi thế kỷ 19) logic của sự tăng trưởng đòi hỏi nước này đóng một vai trò quốc tế lớn hơn.

Ở phía Tây, Trung Quốc tăng cường kềm kẹp Tân Cương và Tây Tạng. Chẳng bao lâu nữa, họ sẽ hoàn thành hai đường ống dẫn dầu chính kéo dài từ Trung Á đến Tân Cương. Ở Tây Tạng họ đang xây dựng các đường giao thông và đường sắt để lấy tài nguyên, bình định đám dân cứng cổ, và giữ không rơi vào tay Ấn Độ.

Trung Quốc cũng đang hành quân về phía nam như, gia tăng sự kiểm soát Miến Điện, điều này có thể cung cấp cho Bắc Kinh một hải cảng và việc sử dụng hàng hải ở vịnh Bengal. Và họ đang cố gắng, như ông Kaplan nói, “chia để trị” các nước ASEAN khác, những nước hưởng ứng sự lơ là của Mỹ, đang bắt đầu họp lại thành nhóm đối lập với ảnh hưởng của Trung Quốc.

Theo ông Kaplan, mục đích chính của Bắc Kinh ở bán đảo Triều Tiên là giúp Bắc Hàn phát triển thành một nhà nước “độc tài hiện đại” hơn, để Bắc Hàn vẫn là đối thủ chống lại Nam Hàn – liên minh của Mỹ. Dù vậy, ông Kaplan viết, Trung Quốc không nhất thiết phản đối một Triều Tiên thống nhất, vì lý do kinh tế, sẽ là một phần của tầm ảnh hưởng của “Trung Quốc lớn mạnh”, và cuối cùng dẫn đến việc loại bỏ quân đội Mỹ ở Nam Hàn.

Theo ông Kaplan, khi Trung Quốc trông về vùng biển dọc bờ biển phía Đông, họ cảm thấy bị bao vây. Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Indonesia, và Úc là tất cả, ở các mức độ khác nhau, các đồng minh của Mỹ không chấp nhận sự đột phá của Trung Quốc vào Thái Bình Dương. Trung Quốc đang cố gắng để thoát ra ra khỏi cái hộp này bằng việc gia tăng hạm đội tàu ngầm và hành trình thường lệ với sức mạnh tên lửa đạn đạo. Cuối cùng, theo ông Kaplan, Đài Loan là chìa khóa để hải quân Trung Quốc vượt rào. Kiểm soát Đài Loan sẽ cho phép Trung Quốc phô trương sức mạnh vượt ra khỏi chuỗi “đảo đầu tiên” (1).

Ở phía nam, Trung Quốc cố gắng kiểm soát Biển Đông, với hai lý do, thứ nhất đó là cửa ngõ vào Ấn Độ Dương và thứ hai là đó là vùng biển này rất giàu tài nguyên thiên nhiên. Để đạt được mục đích đó, Trung Quốc đã xây một căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam tại Biển Đông. Đảo Hải Nam có thể cho phép hải quân Trung Quốc không bị cản trở khi đi vào các vùng trở ngại chính trên biển.

Trong khi đánh giá của ông Kaplan về địa chiến lược của Trung Quốc nghe có lý đối với tôi, Trung Quốc cũng đã thực hiện công việc của mình với vài ý khiêu khích. Tôi sẽ cung cấp ba ý nghĩ:

Trước tiên, tôi không đồng ý rằng Trung Quốc có thể đạt được việc củng cố lục địa của họ qua nỗ lực dân số – dân số Tây Tạng, Tân Cương, người Nga ở Viễn Đông – hoặc chỉ riêng các mối quan hệ thương mại. Để làm được điều ông Kaplan đưa ra, rằng Bắc Kinh đang cố gắng – củng cố biên giới đất liền của họ, mở rộng việc vươn tới Trung Á, Miến Điện và Nam Hàn – Trung Quốc cũng cần phải phát triển lực lượng đất đai viễn chinh. Tại sao? Để đáp trả các cuộc tấn công khủng bố, để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh biên giới có thể xảy ra với Ấn Độ, và để nâng các mục tiêu trên bán đảo Triều Tiên trong trường hợp sụp đổ và hỗn loạn [xảy ra]  ở miền Bắc.

Thứ hai, ông Kaplan dường như xác nhận “kế hoạch của Garret”, đó là tìm cách đi vòng quanh Lầu Năm Góc, một kế hoạch mà trong bối cảnh các mục tiêu chính trị khu vực của Mỹ có vẻ như ương ngạnh. Ý kiến cơ bản là “bỏ các căn cứ chủ chốt” ở Nhật Bản và Nam Hàn và thay vào đó, tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở Châu Đại Dương (2) – đảo Guam và Caroline, Bắc Mariana, Solomon, và các đảo Marshal – trong khi cùng lúc mở rộng sự hiện diện bao la của hải quân Mỹ ở Ấn Độ Dương. Chiến lược này đòi hỏi Washington phải nâng cấp quan hệ quốc phòng với Ấn Độ – để sử dụng một số hòn đảo bên ngoài của họ, cũng như với Brunei, Malaysia, và Singapore. Hải quân Hoa Kỳ vẫn sẽ hợp tác với lực lượng tự vệ hàng hải Nhật Bản. Kế hoạch này, theo ông Kaplan, sẽ ít khiêu khích Trung Quốc trong khi cùng lúc vẫn cho phép Hoa Kỳ có cái gì đó để chơi, hơn là vai trò của một nước giữ cân bằng ngoài khơi.

Kế hoạch này gặp một số trở ngại. Không rõ liệu các nước mà chúng ta cần cho kế hoạch làm việc sẽ hợp tác [với chúng ta không], đặc biệt là sau khi chúng ta rút ra khỏi Nhật Bản và Nam Hàn. Việc rút khỏi các “căn cứ chính” được xem như là cam kết của Hoa Kỳ đã không còn đối với các đồng minh của mình. Và trong khi đúng là “chuỗi đảo thứ nhất” ngày càng ít phòng thủ hơn, không phải là quá muộn để thực hiện các bước cẩn trọng nhằm đảo ngược tình thế nguy hiểm này. Chúng ta vẫn chưa cứng rắn với các căn cứ không quân ở Nhật Bản, đẩy mạnh các nỗ lực phòng thủ tên lửa, hoặc tìm các lựa chọn tốt hơn trong việc chống lại lực lượng tên lửa của Trung Quốc (Việc triển khai tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo của Nhật dọc theo Ryukus (3) nhắm tới các giàn phóng của Trung Quốc thì sao?)

Thứ ba, ông Kaplan nhấn mạnh tầm quan trọng của Đài Loan về vị trí địa chiến lược, thay vì địa chính trị, là [điểm cần] tranh cãi. Đài Loan sẽ cung cấp cho Trung Quốc các cảng hiện đại và Trung Quốc có thể mở rộng khả năng giám sát hàng hải của mình. Nhưng trừ khi chúng ta phát triển hệ thống phòng thủ thích hợp, tên lửa của Trung Quốc sẽ làm cho hoạt động quân sự Hoa Kỳ quá tốn kém tại chuỗi đảo thứ nhất, cho dù Trung Quốc có sở hữu Đài Loan hay không.

Trong khi những người Mahanians (4) trong và ngoài Trung Quốc sẽ tranh luận rằng có được thêm lãnh thổ sẽ mở rộng tiếp cận hàng hải của Trung Quốc, các nhà phân tích tập trung vào sức mạnh tên lửa của Trung Quốc sẽ không đồng ý. Với khả năng hướng dẫn chính xác hơn và ở tầm xa hơn, sức mạnh tên lửa của Trung Quốc có thể, qua thời gian, sẽ cung cấp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân (5) tính ưu việt của không lực trên chuỗi đảo thứ nhất, cũng như cho phép họ nhắm vào bất kỳ con tàu nào nổi trên mặt nước hướng về Trung Quốc từ phía Tây Thái Bình Dương.

Chúng ta vẫn có thể thực hiện các bước (các căn cứ khó bị tấn công, tìm kiếm các căn cứ mới, triển khai tên lửa phòng thủ tốt hơn, đầu tư nhiều hơn vào tàu ngầm và máy bay chiến đấu tàng hình tầm xa và máy bay ném bom) sẽ làm cho các hoạt động trong chuỗi đảo thứ nhất ít rủi ro hơn, nhưng nếu các khuynh hướng hiện tại vẫn tiếp tục, Trung Quốc sẽ không cần Đài Loan để phô trương sức mạnh ở Thái Bình Dương.

Từ quan điểm địa chiến lược, Đài Loan chỉ quan trọng nếu chúng ta quyết định sử dụng nước này để chặn và đánh trả tên lửa của Trung Quốc hoặc lực lượng tàu ngầm. Nhưng chúng ta không làm điều đó bây giờ không có nghĩa là chúng ta không có khả năng thực hiện trong tương lai. Vì chúng ta quyết định không sử dụng Đài Loan như “tàu sân bay nổi” của chúng ta, Trung Quốc không cần phải xem xét nó như một rào cản đối với kế hoạch quân sự hiện tại của họ. Vị trí địa lý quan trọng của Đài Loan đối với Trung Quốc có thể bị thổi phồng.

Điều đó đưa tôi trở lại mục tiêu rộng lớn của Hoa Kỳ. Tầm quan trọng của Đài Loan cũng giống như tầm quan trọng của các đồng minh của chúng ta: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine – quan trọng về địa chính trị hơn là địa chiến lược. Những nước này đã nhận hệ thống quốc tế mà Hoa Kỳ đã tạo ra và bảo vệ sau Đệ nhị Thế chiến. Đây là những nước dân chủ với nền kinh tế thị trường tự do mà tất cả [các nước này] muốn là một phần của những gì đã từng được gọi là “phương Tây”, câu lạc bộ hiện đại trên thế giới, nền dân chủ công nghiệp tiên tiến. Lợi ích của Washington được phục vụ tốt hơn khi nền dân chủ mạnh mẽ được tự do, không bị các cường quốc khác kiểm soát -  Điều này bảo đảm hệ thống quốc tế vẫn chào đón chúng ta.

Theo tôi, về lý do địa chính trị cũng như địa chiến lược, quân đội Hoa Kỳ nên duy trì sự hiện diện (phòng thủ hơn) ở lãnh thổ của nhiều đồng minh Hoa Kỳ ở châu Á mà Hoa Kỳ được chào đón, ít nhất là cho đến khi mọi thứ có thể bảo đảm rằng Trung Quốc sẽ là một cường quốc có trách nhiệm và dân chủ, không quan tâm đến việc tạo ra đặc quyền kinh tế riêng hoặc tạo ra phạm vi ảnh hưởng về kinh tế hay quân sự. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải làm việc nhiều hơn để giúp các đồng minh của chúng ta xây dựng khả năng nhằm phản đối các kế hoạch quân sự của Trung Quốc hơn là siết lại và chủ yếu dựa vào các căn cứ nước ngoài.


Người dịch: Ngọc Thu

Ghi chú:

(1) First island chain: một dãy đảo trải dài từ Nhật Bản ở phía Bắc tới Đài Loan và Philippines ở phía Nam.

(2) Oceania: tức Châu Đại Dương là một khu vực địa lý, gồm các vùng đất chủ yếu là các hòn đảo nằm trong khu vực Thái Bình Dương và khu cận kề.

(3) Ryukus: tức Ryukyu Islands, là dãy đảo phía Nam Nhật Bản, phía Tây Thái Bình Dương.

(4) Mahanians: những người theo chủ thuyết của ông Alfred Thayer Mahan, ông là một nhà chiến lược, nhấn mạnh tầm quan trong về sức mạnh trên biển.

(5) PLA: Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, gồm có: PLA Ground Force (Lục quân?), PLA Navy (Hải quân) và PLA Air Force (Không quân).

http://shadow.foreignpolicy.com/posts/2010/04/29/china_s_grand_strategy

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | 1 Comment »

565. Hải quân Trung Quốc phô trương sức mạnh

Đăng bởi anhbasam on 28/04/2010

Sri Lanka Guardian

Hải quân Trung Quốc phô trương sức mạnh

B.Raman

27-04-2010


Từ đầu năm ngoái, Hải quân Trung Quốc đã không còn bí mật về tham vọng trở thành cường quốc hải quân ở Thái Bình Dương ngang hàng với Hoa Kỳ. [Hải quân Trung Quốc] đang áp dụng một chiến lược kép.

Chiến lược này được đánh dấu bằng việc mở rộng và ngày càng gia tăng sự quyết đoán ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và việc mở rộng thêm các khả năng phòng thủ, các khu vực hoạt động và mạng lưới hải quân ở Ấn Độ Dương cùng các khu vực vùng Vịnh.

Sự quyết đoán ở Biển Đông và Biển Hoa Đông được đánh dấu bằng việc lặp đi lặp lại đòi hỏi chủ quyền trong khu vực và quyết tâm bảo vệ các quyền lợi thuỷ sản, khoáng sản, dầu mỏ và khí đốt tại các khu vực mà họ tranh chấp. Sự quyết đoán đó cũng được đánh dấu qua việc cho thấy họ sẵn sàng sử dụng Hải quân để bảo vệ quyền lợi.

Ngày 16 tháng 5 năm 2009, Trung Quốc chính thức áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá mùa hè ở Biển Đông. Bác bỏ sự phản đối của Việt Nam chống lại lệnh cấm [bắt đánh cá] đã làm ảnh hưởng đến sinh kế của ngư dân Việt Nam, những người đã hưởng các quyền đánh cá truyền thống trong khu vực, ông Tần Cương, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nói vào ngày 9 tháng 6 năm 2009 rằng, Trung Quốc có chủ quyền “không thể tranh cãi” ở các đảo thuộc Biển Đông, gồm cả các đảo ở Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và các vùng biển phụ cận. “Đó là biện pháp hành chính thường lệ và hợp lý của Trung Quốc, đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá vào mùa hè ở Biển Đông, với mục đích bảo vệ sự bền vững nguồn tài nguyên biển trong khu vực này”, ông Tần nói. Đồng thời Trung Quốc cũng đã triển khai một số tàu tuần tra trong khu vực để thi hành lệnh cấm.

Ngày 5 tháng 1 năm 2010, bà Khương Du, phát ngôn Bộ Ngoại giao nói rằng chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo ở Biển Đông, bao gồm cả quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là không thể chối cãi. Bà (trong bài viết là “ông”) giải thích thông báo của Hội đồng Nhà nước về chủ trương phát triển du lịch ở tỉnh Hải Nam, trong đó nói rằng du lịch sẽ được đẩy mạnh ở quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và một số đảo không có người ở.

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, Công ty Dầu khí Quốc gia Ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC Ltd) thông báo rằng, đối tác của họ, Công ty dầu Husky Trung Quốc (Husky Oil china Ltd.), một công ty con của Husky Energy Inc., đã phát hiện một mỏ khí đốt mới nằm sâu dưới đáy Biển Đông. Công ty đã nói trong một tuyên bố trên website của họ rằng giếng Lưu Hoa 29-1 (LiuHua 29-1) là giếng thứ ba nằm sâu dưới đáy biển được phát hiện, thuộc lô 29/26 ở cửa Châu Giang phía đông Biển Đông, sau các phát hiện khác trong năm 2006 và 2009 . Theo Tân Hoa xã, CNOOC Ltd được liệt kê là công ty con của Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Ngoài khơi Trung Quốc, là công ty dầu ngoài khơi lớn nhất của Trung Quốc.

Ngày 26 tháng 4 năm 2010, quản lý ngành thủy sản Trung Quốc cho biết họ đã bắt đầu tuần tra vùng Biển Đông bằng cách gửi hai tàu đến thay thế hai tàu khác đang hộ tống các tàu đánh cá Trung Quốc trong khu vực. Ông Ngô Tráng, Giám đốc Cục Quản lý Nghề cá và Giám sát Cảng cá ở Biển Đông thuộc Bộ Nông nghiệp, cho biết: “Tàu Yuzheng 301 và 302 Trung Quốc sẽ thay tàu Yuzheng 311 và 202, đang tuần tra vùng biển thuộc quần đảo Nam Sa (Trường Sa) từ ngày 1 tháng 4″. Ông nói thêm rằng các tàu tuần tra đã được gửi tới hộ tống tàu đánh cá Trung Quốc ở Biển Đông và củng cố quyền đánh cá của Trung Quốc trong vùng biển quanh quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Hai tàu đi từ Tam Á, thành phố ven biển thuộc tỉnh Hải Nam .

Cùng lúc với sự khẳng định ngày càng gia tăng ở Biển Đông, Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh sự quyết đoán ở Biển Hoa Đông, vùng biển mà các tuyên bố chủ quyền và lợi ích của họ xung đột với quyền lợi của Nhật Bản. Thực tế là Tokyo có bây giờ có một chính phủ coi trọng và xử lý tốt đối với Trung Quốc hơn là các chính phủ trước đây đã làm, nhằm tăng cường các mối quan hệ của Nhật Bản với Trung Quốc, đã không theo cách quyết đoán mới ở Biển Hoa Đông.
Ngày 23 tháng 2 năm 2010, ông Tần Cương, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, khi được hỏi phản ứng của Trung Quốc đối với bản tin Nhật Bản sẽ kháng cáo lên tòa án hàng hải quốc tế nếu Trung Quốc bắt đầu sử dụng các mỏ dầu và khí đốt ở Đông Hải để sản xuất khí đốt. Ông ta trả lời như sau: “Trung Quốc và Nhật Bản có nguyên tắc chung mà hai bên đều hiểu về vấn đề Biển Hoa Đông. Trung Quốc ủng hộ và duy trì sự hiểu biết chung. Vị trí này sẽ không bao giờ thay đổi.”

Ông Tần nói thêm rằng, Trung Quốc hy vọng Nhật Bản tạo môi trường thuận lợi hơn để đưa các hiểu biết chung vào thực tế. Theo nguyên tắc chung mà hai bên hiểu, phía Nhật có thể tham gia hợp tác khai thác mỏ dầu và khí đốt Chunxiao phù hợp với luật pháp liên quan của Trung Quốc, nhưng sự hợp tác khai thác thì khác với “khai thác chung”, ông nói.

Ngày 8 tháng 4 năm 2010, Nhật báo Hải quân Trung Quốc thông báo Hạm đội Đông Hải sẽ tiến hành một cuộc tập trận quân sự với “quy mô lớn” ở Biển Hoa Đông. Sau bản tin này, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, ông Toshimi Kitazawa thông báo vào ngày 13 tháng 4 rằng, 10 tàu của Hải quân Trung Quốc (PLAN), trong đó có hai tàu ngầm và tám tàu chiến, đã qua vùng biển quốc tế giữa đảo Okinawa và Miyako, đi về hướng đông nam vào Thái Bình Dương, từ ngày 10 tháng 4.

Tin tức loan báo rằng Nhật đã gửi những thắc mắc về những hành động này tới Bắc Kinh thông qua các kênh ngoại giao. Cùng ngày hôm đó, Bắc Kinh đã chỉ ra rằng các cuộc tập trận tương tự, do các lực lượng hải quân ở các nước khác đã được tiến hành ở vùng biển quốc tế trong quá khứ. Bắc Kinh muốn nói rằng, hải quân các nước khác có thể thực hiện các cuộc diễn tập như thế ở vùng biển quốc tế, nên Trung Quốc cũng có thể tập trận.

Các nguồn tin từ Nhật Bản diễn giải các hoạt động này là để “báo hiệu một nỗ lực của Bắc Kinh, mở rộng các hoạt động hải quân trong vùng biển quốc tế với mục đích ngăn ngừa sự can thiệp của các lực lượng hải quân khác”.

Ngày 21 tháng 4, Nhật Bản phàn nàn với Trung Quốc rằng một máy bay quân sự của Trung Quốc đã bay gần một tàu hải quân của Nhật, đây là lần chạm trán thứ hai xảy ra như thế trong một tháng. Bộ Quốc phòng Nhật cho biết máy bay trực thăng cách tàu Nhật trong vòng 300 feet (90 mét) và đã bay hai vòng quanh tàu. Tàu Nhật Bản đã theo dõi các hoạt động quân sự Trung Quốc.

Tuy nhiên, hãng tin Kyodo đã trích lời Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản, ông Katsuya Okada nói rằng các tàu của Trung Quốc không vi phạm bất kỳ luật pháp quốc tế nào. Sau sự cố đầu tiên ngày 08 tháng 4, Bộ Ngoại giao Nhật đã phản đối Trung Quốc vào ngày 12 tháng 4, nói rằng bay gần như thế là “hành động nguy hiểm theo quan điểm về sự an toàn của hải quân”, và yêu cầu Trung Quốc xem xét vấn đề này. Bộ Ngoại giao cũng đã phản đối tiếp sau sự cố lần thứ hai và nhận được câu trả lời rằng chính phủ Trung Quốc sẽ cho điều tra.

Bộ Quốc phòng Nhật cho biết họ tin rằng những hành động của Trung Quốc có thể là phô trương sức mạnh, và thêm rằng, Nhật Bản dự định tăng cường phòng thủ trong khu vực. Nhật báo “Mainichi” trích lới Bộ Quốc phòng Nhật nói rằng Hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận quân sự từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 4 ở Biển Hoa Đông. Các tàu Trung Quốc đi qua vùng biển quốc tế giữa hai đảo chính, Okinawa và Miyako vào ngày 10 tháng 4 khoảng 8:00 tối và khoảng ngày 13 tháng 4 đi đến gần đảo Okinotorishima, phần cực nam của Nhật Bản.

Tóm lược tin tức truyền thông ở Bắc Kinh hôm 22 tháng 4, ông Huang Xueping, phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã bào chữa cho các cuộc tập trận của hải quân Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và khẳng định rằng hoạt động của các tàu hải quân Trung Quốc ở Biển Hoa Đông không vi phạm luật pháp quốc tế và không đặt ra mối đe dọa cho các nước khác. Ông nói thêm rằng đó là việc thực tập thường xuyên để quân đội có các cuộc tập trận ở vùng biển quốc tế, và cũng là thực tập được các nước khác thực hiện. Ông cảnh báo: “Các nước quan tâm không nên theo dõi hoặc làm gián đoạn các hoạt động của các tàu quân sự Trung Quốc tham gia vào các cuộc tập trận phòng thủ bình thường”.

Thay vì phòng thủ và xuất hiện khiêm tốn, sự quyết đoán của Hải quân Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, Chính phủ / Đảng kiểm soát các phương tiện truyền thông Trung Quốc đã công khai khẳng định sự sẵn sàng của Trung Quốc để bảo vệ các quyền lợi truyền thống và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong khu vực qua việc hiện đại hóa hải quân. Họ cho thấy sự quyết đoán ngày càng tăng như là một thông điệp rằng Hải quân hiện đại và mạnh mẽ của Trung Quốc đã đến khu vực Thái Bình Dương như là một lực lượng được tính tới.

Trả lời phỏng vấn trên “Bản tin Nhật báo Trung Quốc” (ngày 27 tháng 4), ông Jin Linbo, một nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc, cho rằng Tokyo nên nói chuyện với Bắc Kinh trước khi sử dụng bất cứ hành động đơn phương nào có thể làm cho Trung Quốc “hiểu sai”. Ông nói thêm rằng: “Việc gia tăng số lần và quy mô tập trận quân sự của chúng tôi là bình thường, chỉ cho thấy rằng lực lượng hải quân Trung Quốc mạnh mẽ hơn. Miễn là nó không vi phạm bất kỳ luật pháp nào, các quốc gia khác nên tập quen dần dần với điều đó”.
Tờ “Global Times”, nhật báo tiếng Anh do Đảng sở hữu, thuộc nhóm “Nhân dân Nhật báo”, đã viết ngày 27 tháng 4 rằng: “Khi chiến lược cân bằng đang dịch chuyển ở phía tây Thái Bình Dương, ngay cả những thay đổi nhỏ, có thể khó cho một bên chấp nhận. Luyện tập quân sự thường xuyên của các tàu hải quân Trung Quốc trong vùng biển quốc tế đầu tháng này đã gây ra chuyện ồn ào tại Nhật Bản. Truyền thông Nhật có đầy tin nóng qua vụ việc này và cố đổ lỗi cho hành vi có vẻ quyết đoán của Trung Quốc. Thừa nhận chuyện diễn tập đã xảy ra ở vùng biển quốc tế, nhưng truyền thông Nhật Bản vẫn tuyên bố rằng điều đó đã gây ra mối quan ngại ở Nhật ‘bởi vì nó chưa từng xảy ra trước đây’. Lực lượng hải quân mạnh hơn là kết quả của sức mạnh kinh tế Trung Quốc đang phát triển và việc hiện đại hóa sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang diễn ra. Đó là một yêu cầu chiến lược của một nước lớn, trong đó phải bảo vệ lợi ích tốt nhất trong khả năng của nó.

Trung Quốc cho rằng họ có trách nhiệm hơn ở khu vực Đông Á, [nên] sẽ có nhiều cuộc diễn tập quân sự thường xuyên hơn ở vùng biển quốc tế. Gia tăng các lực lượng hải quân của Trung Quốc cũng cần thiết để cho Hoa Kỳ dịch chuyển sức mạnh phòng thủ chiến lược đáng kể ở phía tây Thái Bình Dương.

Đương nhiên, sự chuyển đổi của hải quân Trung Quốc sẽ mang lại sự thay đổi về mô hình chiến lược ở Đông Á và phía tây Thái Bình Dương kéo dài trong năm thập kỷ qua. Nhưng sự biến đổi là tích cực. Trung Quốc không có ý định thách thức Hoa Kỳ ở Trung tâm Thái Bình Dương hoặc tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự với Nhật Bản ở vùng biển lân cận, mặc dù nó sẵn sàng bảo vệ lợi ích cốt lõi bằng mọi giá.

Khu vực phía tây Thái Bình Dương rất quan trọng cho hòa bình và ổn định thế giới, bảo đảm cả hai yêu cầu về sự tham gia của tất cả các nước lớn trong khu vực. Không bên nào độc quyền ở phía tây Thái Bình Dương trong tương lai. Cả Hoa Kỳ và Nhật Bản, cùng với các cường quốc khác trên thế giới, đã tích cực mở rộng khả năng hàng hải của họ, nhưng họ cần điều chỉnh quan điểm khi xem xét các hành động của Trung Quốc.

Cái thời mà các cường quốc thống trị tận hưởng “phạm vi ảnh hưởng” không chia sẻ trên khắp thế giới, giờ đã đi qua. Mục đích của việc gia tăng của hải quân Trung Quốc là để cung cấp phòng thủ ngoài khơi và để bảo vệ tuyến đường thương mại và bảo vệ công dân Trung Quốc khắp toàn cầu. Rất khó có thể tưởng tượng Trung Quốc sẽ dựa vào một hệ thống chiến lược hàng hải của Hoa Kỳ được xây nên sau Đệ nhị Thế chiến nhằm bảo vệ lợi ích toàn cầu của họ ngày nay. Hải quân Trung Quốc phát triển là một biểu tượng của việc phát triển hòa bình của Trung Quốc (*).

Nhiều quốc gia thừa nhận rằng sự gia tăng của Trung Quốc không đặt ra một mối đe dọa nào cho thế giới. Nếu họ thực sự muốn nói như vậy, họ có thể hiểu hải quân Trung Quốc đang lớn mạnh“.
Hải quân Trung Quốc phát triển và khẳng định việc đòi chủ quyền và các quyền của Trung Quốc. Thông điệp đó đã được nói to và rõ ràng.

Trong khi gia tăng sự quyết đoán bằng sự hiện diện và các hoạt động của Hải quân [Trung Quốc] ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và tây Thái Bình Dương, Trung Quốc tiếp tục giữ sự khiêm tốn hơn sự hiện diện và các hoạt động của các tàu hải quân ở Ấn Độ Dương và vùng Vịnh. Họ cho thấy họ đang giữ một vai trò phòng thủ trong việc bảo vệ các tàu buôn Trung Quốc và cung cấp năng lượng từ các cuộc tấn công cướp biển và những chuyện khác. Các nhà phân tích Trung Quốc vẫn chưa nói về bất kỳ lợi ích chiến lược nào của Trung Quốc trong việc phô trương sức mạnh ở khu vực Ấn Độ Dương.

Tác giả là Bộ trưởng (nghỉ hưu), thuộc Ban Thư ký Nội các Chính phủ Ấn Độ (**), New Delhi, và hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu các đề tài thời sự, Chennai. Ông cũng hợp tác với Trung tâm Chennai về Nghiên cứu Trung Quốc. E-Mail: seventyone2@gmail.com


Người dịch: Ngọc Thu

Dịch từ: http://www.srilankaguardian.org/2010/04/chinese-navys-power-projection.html

———

(*) A growing Chinese navy is a symbol of China ‘s peaceful rise: câu này của báo Trung Quốc đã được tờ American Thinker dẫn lại trong câu cuối như sau: Thus, the editorial’s conclusion that, “A growing Chinese navy is a symbol of China ‘s peaceful rise” (emphasis added) is not very convincing.

(**) Ông Raman từng điều khiển văn phòng đặc trách chống khủng bố, thuộc Hội đồng Bộ trưởng Quốc gia Ấn (Cabinet Secretariat Of the Govt of India), chứ không phải thuộc Ban Thư ký Nội các Chính phủ Ấn. Người điều khiển văn phòng này mang cấp Bộ trưởng, nhưng khi gặp thì mình lại chào là Giám đốc (Nếu có lỡ gọi là ông Bộ trưởng cũng không sao).

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | 3 phản hồi »

560. Uy thế Hải quân TQ mở rộng sang vùng biển Hoa Kỳ thống trị

Đăng bởi anhbasam on 24/04/2010

New York Times

Uy thế Hải quân Trung Quốc mở rộng

sang vùng biển Hoa Kỳ thống trị

EDWARD WONG

23-04-2010


Vịnh Yalong, Trung Quốc – Quân đội Trung Quốc đang tìm kiếm kế hoạch ảnh hưởng của hải quân vượt ra khỏi bờ biển Trung Quốc, từ các cảng dầu của Trung Đông tới các đường vận chuyển ở Thái Bình Dương, nơi mà Hải quân Hoa Kỳ từ lâu đã làm chủ như một lực lượng thống trị, các nhà phân tích và các viên chức quân sự nói.

Trung Quốc kêu gọi chiến lược mới “phòng thủ xa bờ”, và tốc độ mà nó phát triển các khả năng tầm xa (*) làm các quan chức quân sự nước ngoài ngạc nhiên.

Chiến lược này là một sự thay đổi lớn từ học thuyết truyền thống và thu hẹp hơn để chuẩn bị cho cuộc chiến trên hòn đảo tự trị Đài Loan hoặc bảo vệ bờ biển Trung Quốc. Hiện tại, các đô đốc Trung Quốc nói rằng họ muốn các tàu chiến hộ tống các tàu thương mại, những con tàu quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước, từ Vịnh Ba Tư cho đến eo biển Malacca ở Đông Nam Á, giúp đảm bảo lợi ích của Trung Quốc ở nơi có tài nguyên phong phú như vùng Biển Đông Trung Hoa và Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

Cuối tháng 3, hai tàu chiến Trung Quốc thả neo tại Abu Dhabi, lần đầu tiên hải quân hiện đại Trung Quốc thực hiện chuyến thăm cảng Trung Đông.

Kế hoạch tổng thể phản ánh cảm giác tự tin và sự sẵn sàng của Trung Quốc ngày càng tăng nhằm khẳng định lợi ích của họ ở khắp nơi. Tham vọng của hải quân Trung Quốc cũng đang được nhận ra, gần đây đã chứng tỏ sức mạnh với Hoa Kỳ: hồi tháng 3, các viên chức Trung Quốc nói riêng với các viên chức cao cấp của Mỹ rằng Trung Quốc sẽ không cho phép sự can thiệp của nước ngoài vào các vấn đề lãnh thổ của mình tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), một viên chức cao cấp của Mỹ về chính sách Trung Quốc cho biết.

Việc mở rộng hải quân sẽ không làm cho Trung Quốc trở thành một đối thủ quan trọng đối với quyền bá chủ của hải quân Mỹ trong tương lai gần, và có ít dấu hiệu cho thấy Trung Quốc có các ý định hung hãn đối với Hoa Kỳ hay các nước khác.

Nhưng Trung Quốc hiện nay là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới và là người thu mua số lượng khổng lồ về dầu mỏ và tài nguyên thiên nhiên khác, không còn hài lòng để giao phó sự an toàn trên các tuyến đường biển cho người Mỹ, và định nghĩa về lợi ích cốt lõi của nó đã mở rộng cùng với ảnh hưởng kinh tế.

Cuối tháng ba, Đô đốc Robert F. Willard, lãnh đạo Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã nói trong lời điều trần trước Quốc hội rằng, sự phát triển của quân đội Trung Quốc gần đây “khá ấn tượng”. Trung Quốc đã thử nghiệm các tên lửa đạn đạo tầm xa có thể sử dụng để chống lại các tàu sân bay, ông nói. Sau nhiều năm chối bỏ, các quan chức Trung Quốc đã xác nhận rằng họ dự định triển khai một nhóm tàu sân bay trong vòng vài năm.

Trung Quốc cũng đang phát triển một hạm đội tàu ngầm tinh vi, có thể ngăn chặn tàu hải quân nước ngoài xâm nhập vào vùng biển chiến lược của mình nếu một cuộc xung đột nổ ra trong khu vực, Đô đốc Willard và các nhà phân tích quân sự nói.

Đô đốc nói: “Quan tâm đặc biệt là các yếu tố hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc cho thấy đã được thiết kế để thách thức sự tự do hành động của chúng ta trong khu vực”.

Vịnh Yalong, nằm ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), là nơi có các khu nghỉ mát năm sao trên bãi biển, nằm ở phía tây của căn cứ tàu ngầm mới dưới lòng đất. Căn cứ này cho phép các tàu ngầm lặn sâu dưới nước trong vòng 20 phút và đi dạo chơi ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), vùng biển có các đường vận chuyển bận rộn nhất thế giới, là khu vực giàu dầu mỏ và khí đốt và là tâm điểm trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các quốc gia châu Á khác.

Điều đó đã gây ra mối quan ngại không chỉ cho các Tư lệnh Mỹ, mà còn cho các quan chức ở các nước Đông Nam Á, những nước đã âm thầm mua thêm tàu ngầm, tên lửa và vũ khí khác. “Các quan chức trong khu vực sửng sốt”, ông Huang Jing, một học giả quân sự Trung Quốc tại Đại học Quốc gia Singapore. “Chúng tôi đã ở trong tình trạng mù [thông tin]. Chúng tôi nghĩ rằng quân đội Trung Quốc đi sau chúng tôi 20 năm, nhưng đột nhiên chúng tôi nhận ra rằng Trung Quốc đang đuổi theo kịp”.

Trung Quốc cũng hối thúc Hoa Kỳ để ý tới tuyên bố của mình trong khu vực. Vào tháng 3, các quan chức Trung Quốc nói với hai quan chức cao cấp của chính phủ Obama đang viếng thăm, ông Jeffrey A. Bader và ông James B. Steinberg rằng Trung Quốc sẽ không tha thứ bất cứ sự can thiệp nào vào Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hiện nay là một phần “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc về chủ quyền, một viên chức Mỹ về chính sách Trung Quốc đã nói. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa chữ “lợi ích cốt lõi” vào vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng, viên chức nói.

Một yếu tố khác về chiến lược mới của Hải quân Trung Quốc là mở rộng tiếp cận hoạt động vượt ra khỏi Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và Philippines với những gì được gọi là “chuỗi đảo thứ hai” – những bãi đá và đảo san hô vòng ngoài khơi Thái Bình Dương, viên chức cho biết. Khu đó chồng lấn một cách đáng kể lên khu vực bá chủ của Hải quân Hoa Kỳ.

Nhật Bản cũng lo lắng. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật, ông Toshimi Kitazawa nói hồi giữa tháng tư rằng hai tàu ngầm Trung Quốc và tám tàu khu trục đã được phát hiện vào ngày 10 tháng 4, đang đi tới giữa hai hòn đảo của Nhật Bản trên đường đến Thái Bình Dương, lần đầu tiên một đội tàu lớn của Trung Quốc đã được nhìn thấy rất gần Nhật Bản. Khi hai tàu khu trục Nhật Bản bắt đầu theo sau tàu Trung Quốc, một chiếc trực thăng của Trung Quốc đã bay trong khoảng 300 feet gần một trong những tàu khu trục, Bộ Quốc phòng Nhật Bản nói.

Từ tháng 12 năm 2008, Trung Quốc đã duy trì ba tàu ở Vịnh Aden để góp phần vào việc tuần tra chống cướp biển quốc tế, đây là việc triển khai đầu tiên của Hải quân Trung Quốc vượt ra khỏi Thái Bình Dương. Sứ mệnh này cho phép Trung Quốc nâng cao khả năng tầm xa của hải quân của họ, các nhà phân tích nói.

Một báo cáo của Lầu Năm Góc trong năm 2009 ước tính lực lượng hải quân Trung Quốc có 260 tàu, gồm 75 tàu “chiến đấu chính” – các tàu chiến lớn – và hơn 60 tàu ngầm. Báo cáo lưu ý việc [Trung Quốc] xây dựng một tàu sân bay, và nói rằng Trung Quốc “vẫn tiếp tục quan tâm” về việc mua máy bay chiến đấu cho tàu sân bay từ Nga. Hải quân Hoa Kỳ có 286 tàu chiến và 3.700 máy bay hải quân, mặc dù so sánh giữa tàu với tàu, Hải quân Mỹ được xem là chất lượng cao so với Hải quân Trung Quốc.

Lầu Năm Góc không xếp Trung Quốc là lực lượng thù địch. Nhưng một phần trong phản ứng về sự phát triển của Trung Quốc, gần đây Hoa Kỳ đã chuyển các tàu ngầm từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương để hầu hết các tàu ngầm tấn công hạt nhân của Hoa Kỳ hiện diện ở Thái Bình Dương, ông Bernard D. Cole, cựu sĩ quan hải quân Mỹ và giáo sư tại Trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia ở Washington, cho biết.

Hoa Kỳ cũng đã bắt đầu luân phiên triển khai 3-4 tàu ngầm khỏi đảo Guam, cho thực tập trở lại, điều đã kết thúc từ hồi chiến tranh lạnh, ông Cole nói.


Các tàu Mỹ bây giờ thường xuyên khảo sát căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải Nam, và hoạt động đó đưa tới sự va chạm không thường xuyên với các tàu Trung Quốc. Một nhiệm vụ khảo sát năm ngoái của một tàu hải quân Mỹ, tàu Impeccable đưa đến kết quả là những điều mà các quan chức Lầu Năm Góc nói đã bị các tàu đánh cá của Trung Quốc quấy nhiễu. Chính phủ Trung Quốc nói họ có quyền ngăn không cho giám sát trong vùng biển này, vì đó là vùng “đặc quyền kinh tế” của Trung Quốc.

Hoa Kỳ và Trung Quốc có những định nghĩa xung đột về khu vực như thế, xác định bởi Công ước Liên Hiệp Quốc như là vùng biển trong phạm vi 200 hải lý từ bờ biển. Hoa Kỳ nói rằng luật pháp quốc tế cho phép một quốc gia ven biển chỉ giữ quyền thương mại đặc biệt tại các vùng, trong khi Trung Quốc tranh cãi đất nước có thể kiểm soát hầu như bất kỳ các hoạt động nào bên trong vùng đó.

Các nhà lãnh đạo quân sự ở đây cho rằng Hải quân Trung Quốc chỉ là một lực lượng tự vệ. Nhưng định nghĩa về tự vệ được mở rộng bao gồm lợi ích kinh tế và hàng hải rộng lớn, hai Đô đốc Trung Quốc tranh luận hồi tháng 3.


“Với chiến lược hải quân của chúng tôi hiện đang thay đổi, chúng tôi đi từ phòng thủ ven bờ tới phòng thủ ngoài khơi”, ông Trương Hoa Thần, Thiếu tướng hải quân và là phó Đề đốc Hạm đội Đông Hải, đã nói trong cuộc phỏng vấn với Tân Hoa xã, hãng truyền thông nhà nước.


Ông nói thêm: “Với việc mở rộng lợi ích kinh tế của đất nước, hải quân muốn bảo vệ các tuyến đường giao thông vận tải của đất nước tốt hơn và sự an toàn của các tuyến đường biển quan trọng của chúng tôi. Để đạt được điều này, Hải quân Trung Quốc cần phát triển song song với các con tàu lớn hơn và với khả năng toàn diện hơn”.

Hải quân sẽ hơn 1/3 tổng ngân sách quân sự Trung Quốc”, phản ánh ưu tiên mà Bắc Kinh hiện đặt ra cho hải quân như một bộ phận về an ninh quốc gia”, ông Cole nói. Ngân sách quân sự của Trung Quốc chính thức trong năm 2010 là $78 tỉ, nhưng Lầu Năm Góc nói rằng Trung Quốc chi tiêu nhiều hơn con số đó. Năm ngoái, Lầu Năm Góc ước tính tổng chi phí quân sự Trung Quốc từ $105 – $150, vẫn còn ít hơn nhiều so với chi phí quốc phòng của Hoa Kỳ. Để so sánh, chính quyền Obama đề xuất $548,9 tỉ, ngân sách điều hành cơ bản của Lầu Năm Góc cho năm tới.

Tăng trưởng ấn tượng nhất của Hải quân Trung Quốc là hạm đội tàu ngầm của họ, ông Huang, học giả ở Singapore nói. Gần đây, Trung Quốc đã xây ít nhất hai tàu ngầm loại Jin, hai tàu hoạt động thường xuyên đầu tiên trong hạm đội có khả năng sử dụng tên lửa đạn đạo, và hai tàu khác đang được xây. Hai tàu ngầm tấn công hạt nhân, loại Shang, gần đây cũng đã đi vào hoạt động.

Các nước trong khu vực đã phản ứng bằng cách tự trang bị [tàu ngầm] cho riêng mình, ông Carlyle A. Thayer, giáo sư tại Học viện Quốc phòng Úc đã nói. Trong tháng mười hai, Việt Nam đã ký một thỏa thuận mua vũ khí của Nga gồm sáu chiếc tàu ngầm loại Kilo, điều này sẽ cho Việt Nam có được hạm đội tàu ngầm ghê gớm nhất ở Đông Nam Á. Năm ngoái, Malaysia nhận một tàu ngầm đầu tiên, một trong hai chiếc đã đặt mua từ Pháp, và Singapore bắt đầu cho hoạt động một trong hai tàu ngầm loại Archer mua từ Thụy Điển.

Mùa thu năm ngoái, trong bài phát biểu tại Washington, ông Lý Quang Diệu, cựu lãnh đạo Singapore phản ánh mối lo ngại lan rộng khi ông lưu ý sự gia tăng hải quân của Trung Quốc và kêu gọi Hoa Kỳ duy trì sự có mặt trong khu vực. Ông nói: “Lợi ích cốt lõi của Mỹ đòi hỏi họ duy trì sức mạnh vượt trội ở Thái Bình Dương. Từ bỏ vị trí này sẽ giảm bớt vai trò của Mỹ trên toàn thế giới”.


Người dịch: Ngọc Thu

(*) Long-range capabilities: tàu Trung Quốc được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể ở ngoài biển khơi lâu ngày.

Đăng trong Quân sự, Trung Quốc | Tagged: | 3 phản hồi »