BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Văn hóa’ Category

469. Nhóm nhạc Quận Cam giữ cho văn hóa Việt Nam vẫn sống động

Đăng bởi anhbasam on 11/02/2010

Los Angeles Times

Nhóm nhạc Quận Cam giữ cho

văn hóa Việt Nam vẫn sống động

Nhóm Lạc Hồng của Little Saigon, khởi đầu bởi nghệ nhân đàn tranh gốc Việt Mai Nguyễn, đã phát triển lên đến 100 học sinh học nhạc và múa truyền thống.

My-Thuan Tran

Ngày 1-12-2008


Trước cuộc Chiến tranh Việt Nam, Mai Nguyễn là một giáo sư âm nhạc được suy tôn tại Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn. Học sinh từ những phương xa tới nhằm tìm kiếm kiến thức lão luyện ở bà về đàn tranh, một nhạc cụ giống như đàn thụ cầm [harp] thích hợp cho đôi tay trình diễn một thứ âm hưởng thanh tao và hấp dẫn như ma ám.

Khi Sài Gòn rơi vào tay quân đội cộng sản năm 1975, bà Mai là một trong hàng ngàn người tị nạn trốn khỏi đất nước bằng thuyền. Bà đã bỏ lại cây đàn tranh yêu dấu của mình và cam chịu trước ý nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ trở lại dạy học nữa.

Thế nhưng không lâu sau khi tới Quận Cam, nơi có hàng ngàn người Việt tìm quê hương mới tới định cư, những người cùng tị nạn đã bắt đầu tìm tới bà. Xin hỏi, bà có thể dạy cho con chúng tôi được không? Họ hỏi.

Bà Mai đã có được một người bạn có thể gửi chiếc đàn tranh từ Việt Nam sang cho bà.

Và bà bắt đầu dạy các em học sinh trong nhà để xe của mình.

Bà Mai, cùng với một cựu giáo sư âm nhạc khác, ông Châu Nguyễn (không phải bà con thân thuộc với bà), đã bắt đầu lập một nhóm vào năm 1989 để dạy học sinh sử dụng các nhạc cụ Việt Nam truyền thống. Lớp học bắt đầu với 10 học sinh lên lớp bằng những bài học thông thường.

Ngày nay, nhóm Lạc Hồng đã phát triển lên tới 100 học sinh tham gia vào dàn nhạc, hát đồng ca cho trẻ em và người lớn, thậm chí cả các điệu múa truyền thống. Họ tập luyện trong một căn phòng tại tầng hai của một khu buôn bán.

Vào thứ Bảy, căn phòng đầy ắp những âm thanh của đàn luýt hình mặt trăng (đàn nguyệt), đàn bầu một dây, đàn cò trông giống như cây vĩ cầm, và đàn thập lục huyền cầm 16 dây (đàn tranh), được gảy bằng những cái móng đồi mồi đeo vào các ngón tay.

“Hồi đầu, tôi nghĩ rằng không ai muốn học loại âm nhạc này, thế nhưng không bao lâu sau khi tôi đến đây, họ đã tới và hỏi thăm,” bà Mai Nguyễn kể. “Càng dạy tôi càng thấy rằng tất cả người Việt Nam đều yêu thích âm nhạc của dân tộc mình.”

Mục đích của bà là gìn giữ âm nhạc Việt Nam truyền thống tại Hoa Kỳ. Lạc Hồng là nhóm nhạc lớn nhất tại đất nước mà việc trình diễn nghệ thuật Việt Nam truyền thống được quảng bá.

Những đứa trẻ mới lên 4 đã bắt đầu hát những bản dân ca cùng hai thầy cô giáo. Sau cùng, các học sinh chọn ra một thứ nhạc cụ để học. Nhiều người vẫn tiếp tục luyện các bài học cho tới khi họ rời đây để vào đại học.

“Các học sinh không chỉ học nhạc,” bà Mai cho biết. “Họ đang học cả văn hóa.”

Các học sinh trình diễn tại các sự kiện trong cộng đồng người Việt và cả tại các lễ hội quốc tế ở Nam California. “Chúng tôi cố gắng đem nghệ thuật này, văn hóa này vào trong dòng âm nhạc chủ đạo,” bà nói.

Bà Mai nói rằng bà thấy sửng sốt khi âm nhạc Việt Nam lại tiếp tục được trình diễn tại một xứ sở mới, nơi mà bà và hàng ngàn người tị nạn khác đã tới để xây dựng lại cuộc sống của mình. Một số học sinh bắt đầu học trước hết là do họ muốn làm vui lòng cha mẹ, bà kể.

Thế nhưng nhiều người đã trở nên say mê âm nhạc, bà cho biết, thỉnh thoảng thậm chí họ còn học thêm một nhạc cụ thứ hai nữa. Có những học sinh lớn tuổi của bà đã bắt đầu dạy cho những học sinh mới tới học.

“Văn hóa của chúng ta,” bà nhận xét, “vẫn còn đó.”


Trần là Phóng viên của Times.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Hình: Cô giáo nhạc Mai Nguyễn hướng dẫn cho học sinh An Vũ, 16 tuổi, bên trái, và Hương Bùi Vũ, 17 tuổi, trong một lớp học đàn tranh 16 dây.

Đăng trong Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Văn hóa | Tagged: , | Leave a Comment »

456. Việc cứu nguy cho các ngôi nhà gỗ của VN

Đăng bởi anhbasam on 30/01/2010

International Herald Tribune

Trước việc cứu nguy cho các

Ngôi nhà gỗ của Việt Nam

Một số người coi những ngôi nhà của tổ tiên này không hơn mớ củi đun là mấy, song nhiều người khác tỏ ra hài lòng khi có được những viên ngọc quý mang giá trị lịch sử như vậy

Bài của Martha Ann Overland

Ngày 22-5-2008


Khi Loan de Leo tìm ra ngôi nhà trong mộng của mình tại miền quê Việt Nam, thì nó chính là những gì mà cô từng mong mỏi. Mái ngói cao vút, được đỡ bởi những xà rầm bằng gỗ nguyên khối, không cho thấy dấu hiệu bị võng hay uốn cong. Nó có những khung cửa gỗ từ thế kỷ 19 được khắc chạm hình những đóa hoa sen và những con trâu nước, tất cả đều trong trạng thái nguyên sơ.

Trên thực tế thì ngôi nhà đã được Ủy ban Nhân dân sử dụng, nhưng đó chỉ là tình tiết nhỏ – và, khi muốn bỏ nó đi, các cán bộ Đảng Cộng sản bày mưu kế xây lên một tòa nhà bê tông. “Trước khi các ông phá nó đi, hãy để cho tôi một vài thứ trong đó,” de Leo nài nỉ. Để khỏi mất công phá vụn các cấu trúc bằng gỗ trong đó, “trên thực tế thì họ đã giao nó cho tôi,” cô kể lại.

De Leo, một nữ thương gia người Ý gốc Việt đã thuê những người thợ thủ công dỡ ngôi nhà ra. Cô chụp ảnh từng chi tiết, và các công nhân đánh số tất cả các mảnh gỗ trước khi đóng gói chúng lại.

Những cảnh tượng liên quan tới các ngôi nhà cổ do tổ tiên lưu lại hoặc để sinh hoạt cộng đồng đang diễn ra khắp vùng Châu thổ Sông Hồng. Nhiều ngôi nhà cổ đã kết thúc như mớ củi đun bếp, ngoài ra một số được giải thoát bởi những người địa phương và người nước ngoài.

Trong trường hợp của de Leo, di chuyển ngôi nhà đến Hà Nội, mất khoảng 40 km, hoặc 25 dặm, là chuyện đơn giản. Nhưng những câu hỏi thực tế là dựng lại nó ở đâu.

Là một người ngoại quốc, de Leo không được phép sở hữu bất động sản vào thời điểm năm 2000 khi cô tìm được ngôi nhà. (Quốc hội được cho rằng sẽ sớm bỏ phiếu mở rộng quyền sở hữu đối với một số người ngoại quốc) Tuy nhiên, chủ nhà của cô đã đồng ý cho cô lắp ráp ngôi nhà Việt Nam cổ đó lên trên nóc ngôi biệt thự một tầng thời Pháp thuộc mà cô đang ở. Mặc dù cuộc hôn nhân của hai căn nhà có vẻ gì đó đáng ngờ, song nó cũng đã tạo nên một trong những ngôi nhà khác thường nhất ở Hà Nội.

Thực chất ngôi biệt thự nguyên bản ban đầu là chốn yên tĩnh. Thế nên khi những khách tham quan trèo lên cái cầu thang gỗ kẽo kẹt, nó chẳng gợi lên chút gì về cái thứ đang nằm trên nóc nhà.

Ngôi nhà cổ, có tổng diện tích 54 mét vuông, hay 580 foot vuông, với những cửa ra vào được quét sơn đen. Những cái cột màu tối đồ sộ, mỗi chiếc được xẻ ra từ một thân cây, chống đỡ cho khung mái nhà bằng gỗ uốn thành vòm, mỗi bên cao 5 mét. Ánh nắng qua khe cửa sổ trên nóc chiếu rọi qua những dóng gỗ rui mè trên bộ khung đỡ mái nhà.

Mấy ô cửa trước đây dẫn ra sân thượng, giờ mở vào hành lang gác hai, nơi Leo ngồi uống cà phê vào mỗi buổi sáng.

Những hình chạm khắc khắp trong căn nhà được người chủ cũ là một ông quan tòa ở Huế thời xưa đặt làm.

“Nếu bạn nhìn lên trên, bạn sẽ thấy mấy chữ: “Được dựng vào năm thứ năm đời Vua Thành Thái triều Nguyễn,” de Leo nói, khi cô dịch những chữ Trung Quốc khắc trên xà nhà. Thành Thái trị vì từ năm 1889 đến năm 1907, như vậy ngôi nhà có tuổi tới hơn 100 năm.

De Leo dùng căn nhà như một phòng ăn trang trọng, cô bổ sung thêm một cái bàn thờ khá ấn tượng với một bức tượng Phật đầy vẻ trầm mặc và một gian trưng bày bộ sưu tập các loại đồ gốm Việt Nam của mình, nhiều thứ có từ thế kỷ 15. Với khách tới thăm, cứ như thể được ngồi ăn trong một viện bảo tàng. Còn với de Leo, nó là ngôi nhà mà cô có được cảm giác như mái ấm của mình.

Nhà thiết kế thời trang của Pháp Valerie Gregori McKenzie đã phải lòng những căn nhà truyền thống ở vùng Châu thổ Sông Hồng từ những năm cuối 1990 khi cô du ngoạn tới vùng quê để gặp gỡ những người thợ thủ công.

Cô đã kể với một người bạn rằng mình thích có được một căn nhà như vậy trong khu vườn ở Hà Nội. “Thế rồi một ngày anh xuất hiện và bảo: “Tôi có nó rồi! Chúng ta đặt nó vào đâu đây?” cô kể lại cái ngày của năm 1997 đó.

Tháo dỡ và di chuyển cái cấu trúc đó thực sự là một công việc đơn giản, Gregori McKenzie nói, bởi vì những ngôi nhà đã được thiết kế để có thể di chuyển trong trường hợp bị lũ lụt hay chỉ do người chủ muốn thay đổi nơi cư ngụ. Trong mọi trường hợp, cần 7 người làm trong 20 ngày để lắp ráp lại ngôi nhà rộng khoảng 54 mét vuông.

“Cấu trúc của mái nhà được giữ chặt bằng một cái chốt hãm, hoặc mộng, cần phải tháo ra để gỡ toàn bộ các chi tiết bằng gỗ,” Gregori McKenzie diễn tả. Di chuyển “phần bằng gỗ không có vấn đề gì, ngoại trừ hàng nghìn miếng gạch ngói cũ là không đơn giản.”

Ngôi nhà của cô trước ở một làng quê thuộc tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 40 km. Gregori McKenzie cho biết nguyên thủy nó là của người ông của vị đứng đầu làng, vốn là một giáo làng, và nó phản ánh đúng cái tình yêu nghề của ông ta.

“Bạn có thể vẫn trông thấy phía bên trái hiên nhà vài hình chạm khắc một ông hiệu trưởng cùng học sinh đang ngồi và một con rồng lớn trên đầu họ đang ngó xuống,” cô diễn tả.

Một trong những hứa hẹn tham vọng nhất là phục chế một nhà nguyện dài 22m mà Tô Hạnh Trinh tìm thấy ở Tỉnh Nam Định, cách Hà Nội khoảng 90km. Nó đã từng được một dòng giáo dân Thiên chúa sử dụng, nhưng các thành viên của giáo sứ đã đốt bỏ nó để có chỗ xây dựng một nhà thờ theo lối tân kỳ.

“Trong vòng một tháng, tôi phải cố tìm được một chiếc xe tải để chở những thanh rầm dài tới 9m,” theo lời Trinh, chủ nhân của vài nhà hàng ở Hà Nội.

Giải pháp duy nhất là đưa căn nhà đó xuống xà lan, và nó phải được cải đổi sao cho vừa với khu nhà đất của cô.

Trinh đã đưa được bốn căn nhà về Hà Nội, trong đó có ngôi nhà nguyện. Ba ngôi nhà được đưa vào khu Moon River, một chốn nghỉ dưỡng cô mở từ năm 2003 ngoài Sông Hồng; cái thứ tư cô dùng làm phòng tiếp khách tại nhà.

Trinh đã trả 700 Mỹ kim để có được ngôi nhà nguyện vào năm 2001, bao gồm cả chi phí chuyên chở và lắp ráp; ngôi nhà tương tự như thế vào lúc này có thể bán được khoảng 50.000 Mỹ kim nếu như bạn kiếm được. Thế nhưng theo Trinh, cần xem xét tới chất lượng gỗ và vẻ đẹp tinh xảo của nó để trả giá.

Điều gì sẽ xảy ra với các căn nhà nếu như những chủ sở hữu của chúng rời Việt Nam?

Trinh đã lấy một người Úc và cô cho hay Việt Nam là chỗ ở thường trú của họ, họ có thể giao những ngôi nhà đó cho con cái.

Điều kiện trong hợp đồng thuê nhà của de Leo có khoản cô có thể đem cái dinh thự của mình đi khi không ở đó nữa; song do de Leo và chồng cô, một người Mỹ, đã có kế hoạch sống lâu dài ở Việt Nam, nên cô hy vọng sẽ không bao giờ phải có một quyết định như vậy.

Gregori McKenzie sẽ đem ngôi nhà theo, nhưng chỉ ra xa khỏi vùng trung tâm Việt Nam thôi. Cô đang sử dụng ngôi nhà cổ làm phòng may thêu đồ trang phục và văn phòng làm việc cho cửa hàng thời trang có tên là Song. Hiện nhà thiết kế thời trang này tính sẽ chuyển ngôi nhà tới thành phố ven biển Hội An, nơi cô đang cho xây dựng một trung tâm nghỉ dưỡng cuối tuần.

Bằng tình yêu của mình đối với ngôi nhà và điều kiện dễ dàng để di chuyển nó, cô cho biết sẽ không bao giờ đưa nó qua Âu châu. Phong cách Á đông sẽ không phù hợp với bên đó, Gregori McKenzie nhận xét – và cô nghĩ rằng như vậy thì rốt cục ngôi nhà cũng sẽ không thuộc về riêng cô nữa.

“Tôi muốn đưa nó đến bất cứ những nơi đâu tôi tới,” cô khẳng định. “Thế nhưng theo tôi nó phải thuộc về Việt Nam.”


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Đăng trong Văn hóa | Tagged: | 1 Comment »

455. Ngôn từ không thể diễn đạt được

Đăng bởi anhbasam on 29/01/2010

Newsweek

Ngôn từ không thể diễn đạt được

Tại Việt Nam, nghệ thuật trình diễn đang dành được sự ưa chuộng, như là một cách để xô đổ những giới hạn trong khi phải tránh né hệ thống kiểm duyệt.

Bài của Sonia Kolesnikov-Jessop

Ngày 14-7-2008, từ bản Báo in Quốc tế


Với cái nhìn thoáng qua đầu tiên, chiếc khăn quàng đỏ nhỏ bé mà nghệ sĩ trình diễn người Việt Trần Lương đang phất lên trong không khí đủ cho thấy về một đứa trẻ ngây thơ trong sáng. Thế nhưng đối với một vài thành viên trong số cử tọa người Việt Nam và Trung Quốc của ông, điều ấy mang lại những ký ức về ngôi trường tiểu học, khi họ còn đeo khăn quàng chỉ như muốn nó chứng tỏ về sự ủng hộ của họ đối với chủ nghĩa công sản. Trần Lương, 47 tuổi, vẫn ghi nhớ với những cảm giác lẫn lộn khi ông là đứa bé cuối cùng trong lớp nhận được một chiếc khăn – đã có cái gì đó nằm trong một nỗi lo âu cho cha mẹ ông. Tại buổi biểu diễn, người nghệ sĩ hiện sống ở Hà Nội này đã mời cử toạ cùng tham gia vào bằng cách cầm lấy chiếc khăn và quất vào thân hình trần trụi của ông. Hành động được lặp đi lặp lại, cuối cùng để lại những vết lằn đỏ trên làn da của ông. “Lúc đầu họ có thể còn ái ngại, song thực tế khi họ nhìn thấy màu đỏ trên cơ thể tôi, họ liền quất mạnh bạo hơn, giống như một con người hoang dã khi tỉnh giấc,” ông nói, rồi diễn tả về phản ứng “Quất,” mà ông đã trình diễn tại Bắc Kinh và Thành phố Hồ Chí Minh trong năm nay. “Tôi nghĩ là màu đỏ làm cho người ta phải suy nghĩ.”

Và cuộc trình diễn này không phải là cái gì đó dễ dàng được khuyến khích bởi những người kiểm duyệt nghệ thuật tại Việt Nam. Nghệ thuật trình diễn phần lớn vẫn được coi như là một thứ suy đồi, thứ nghệ thuật của ngoại quốc, quá xa lạ với những giá trị cổ điển của phong cách hội hoạ duy mỹ kinh viện được hưởng ân huệ bởi công an văn hóa của Việt Nam. Thế nhưng trong những năm gần đây, thể loại này đã đều đặn dành được một cách dễ dàng chỗ đứng của mình. Bởi vì bản chất linh hoạt và năng động cố hữu của nó – người nghệ sĩ cần chút ít nguyên vật liệu và có thể trình diễn tác phẩm theo lối ứng khẩu ở bất cứ đâu – những nghệ sĩ Việt Nam đã và đang sử dụng nghệ thuật trình diễn để lặng lẽ xô đổ những giới hạn của những lời bình luận chính trị và xã hội có thể chấp nhận được trong khi tránh được con mắt cảnh giác của người kiểm duyệt. “Như một hình thái biểu cảm, bản chất ngắn gọn của nghệ thuật trình diễn phô bày mọi thứ rõ ràng tới một đám khán giả đông đảo song lại vô hình đối với các nhà chức trách,” đó là nhận xét của Nora Taylor, tác giả của một số cuốn sách về nghệ thuật của Việt Nam và là một giáo sư Trường cao đẳng thuộc Viện Nghệ thuật Chicago.

Thực vậy, hệ thống kiểm duyệt nghệ thuật vẫn phổ biến tại Việt Nam. Những dự án nghệ thuật lớn và các cuộc triển lãm, trình diễn cần có những giấy phép chính thức từ công an văn hóa, và chương trình có thể bị đóng cửa mà không có sự báo trước nào. Vào năm ngoái một cuộc trình diễn sắp đặt của Trương Tân, gồm có một một cái tã khổng lồ của trẻ em được may bằng những túi áo có màu sắc và hình dạng tương tự như những túi áo của cảnh sát giao thông – một kiểu ám chỉ tới những cái túi có khả năng hấp thụ của các giới chức tham nhũng – nhưng đã đột ngột bị dỡ khỏi một cuộc triển lãm tại Viện Goethe Hà Nội [1]. Song nghệ thuật trình diễn, thứ chủ yếu vẫn còn “hoạt động ngầm” tại Việt Nam, thì rất khó lòng để kiểm soát. Các buổi trình diễn thường xảy ra mà không có bất cứ sự quảng cáo trước nào. Thay vào đó, các nghệ sĩ nhờ vào cách nhắn tin qua điện thoại di động và thư điện tử, là một mạng lưới gắn bó các bạn bè và những người hâm mộ lại với nhau để tập hợp thành một nhóm trong những không gian riêng tư, đáng chú ý nhất là căn nhà có nhiều cột kèo của Nguyễn Mạnh Đức, một người cư trú tại Hà Nội từ lâu luôn cổ vũ cho nghệ thuật.

Nghệ thuật trình diễn lần đầu tiên xuất lộ tại Việt Nam vào những năm giữa thập kỷ 90. Trần Lương đã bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật của mình như là một họa sĩ theo trường phái trừu tượng, một thành viên của Gang of Five tiếng tăm, một nhóm các nghệ sĩ trẻ nổi lên sau khi chính quyền Cộng sản cuối cùng đã mở cửa đất nước ra với thế giới vào năm 1986. Nhưng ông đã bất đồng với các bạn trong nhóm do các hoạt động của họ ngày càng mang tính thương mại đã làm ông vỡ mộng, rồi ông chuyển qua nghệ thuật trình diễn có tính chất khái niệm vào giữa những năm 1990. Thường thủ vai như là một cố vấn dày kinh nghiệm cho các nghệ sĩ trẻ tuổi hơn, ông giờ đây được coi như là một trong những bậc cha chú về nghệ thuật trình diễn ở Hà Nội cùng với Trương Tân và Đào Anh Khánh.

Trong dăm ba năm qua, các nghệ sĩ trình diễn đã cố gắng thoát ra khỏi bóng tối và thể hiện những tác phẩm của mình ra với công chúng rộng rãi hơn. Năm 2006, Trần Lương đã tổ chức lần đầu tiên “Lễ hội Trình diễn Đom Đóm” tại Hà Nội, nhờ vào sự tài trợ từ Quỹ Trao đổi Phát triển Văn hóa Đan Mạch-Việt Nam. Hai mươi hai nghệ sĩ Việt Nam đã tham gia vào buổi khai mạc lễ hội này. Năm ngoái, một số nghệ sĩ đã dàn dựng chương trình “Tuần lễ Vụng trộm”, với một loạt cuộc trình diễn theo lối ứng tác trên đường phố của Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh. Một số tác phẩm đã tỏ ra khá là khiêu khích; Vũ Đức Toàn đã chi trả cho bất cứ thứ gì mà ông cần mua vào ngày đó bằng việc sử dụng tiền trong một chiếc phong bì được gắn kín – một lời bình luận về tình trạng tham nhũng đang diễn ra trên đất nước – và chụp những bức ảnh về những phản ứng khác nhau của công chúng khi ông đi ngang qua.

Mặc dù không phụ thuộc vào một tấm giấy phép, nhưng các cuộc trình diễn trên đường phố có thể nhanh chóng thu hút sự chú ý của công an. “Bạn phải học cách chạy sao cho nhanh,” đó là tâm sự của một nghệ sĩ tham gia trình diễn chương trình “Tuần lễ Vụng trộm”. Đào Anh Khánh [2], người trên thực tế từng công tác trong lực lượng công an văn hóa, đã phải thôi không đếm số lần ông đã cãi lộn với họ. Trong nhiều năm qua, ông bị bắt vài lần, một số trong các chương trình trình diễn của ông đã phải huỷ bỏ và một số tác phẩm của ông đã bị phá hủy. Khi các nghệ sĩ trẻ xin giấy phép tổ chức một “Lễ hội Trình diễn Đom Đóm” mới tại Thành phố Hồ Chí minh vào tháng Năm, các nhà chức trách về văn hóa liền đòi xem trước các hình ảnh video về các tác phẩm trình diễn – một lối kéo dài thời gian đối với một loại hình nghệ thuật thể nghiệm đòi hỏi sự tự nhiên không bị gò bó khi thể hiện. Giờ đây họ đang cố gắng tổ chức lễ hội này vào tháng Tám, song một số nghệ sĩ từng làm việc tận lực từ ban đầu đã phải rút lui, có thể do lo ngại về những người kiểm duyệt. Ít nhất họ sẽ có được niềm khích lệ mới cho nghệ thuật của mình [3].


[1] Trên trang talawas từng có bài về cuộc triển lãm này.

[2] Đã có rất nhiều bài viết về nghệ sĩ Đào Anh Khánh (VnExpress)

[3] Cũng chủ đề quản lý, kiểm duyệt nghệ thuật, mời bà con tham khảo quan điểm của Ba Sàm qua bài “Văn hóa quản lý trong quản lý văn hóa“  (Đã đăng trên tạp chí Tia Sáng).

* Ảnh: tác phẩm “Ngôi đền của Tình yêu” của Nguyễn Quang Huy (talawas)

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

——

Words Cannot Express
In Vietnam, performance art is gaining favor as a way to push boundaries while evading censorship.

Sonia Kolesnikov-Jessop

July 14, 2008
International Edition

At first glance, the little red scarf that Vietnamese performance artist Tran Luong is snapping through the air appears innocent enough. But for some members of his Vietnamese and Chinese audiences, it brings back memories from primary school, when they wore scarves just like it in recognition of their support for communism. Tran Luong, 47, still remembers with mixed feelings being the last boy of his class to get one–something of a worry for his parents. As the performance progresses, the Hanoi-based artist invites the audience to participate by taking the scarf and whipping his bare torso. The repeated action eventually leaves deep red imprints on his skin. “They might be timid at first, but actually when they see the red on my body, they do more, like a wild person waking up,” he says, describing the reaction to “Welt,” which he has performed in Beijing and Ho Chi Minh City this year. “I think the red makes people think.”

And that is not something readily encouraged by the artistic censors in Vietnam. Performance art is still largely viewed as a decadent, foreign art form, far removed from the classical values of the academic beaux-arts painting style favored by Vietnam’s cultural police. But in recent years, the genre has been steadily gaining ground. Because of its inherent mobility and fleeting nature–the artist needs few materials and can perform the impromptu work anywhere–Vietnamese artists have been using performance art to quietly push the boundaries of acceptable social and political commentaries while avoiding the censor’s watchful eye. “As a form of expression, performance’s ephemeral nature offers visibility to a wide audience but invisibility to the authorities,” says Nora Taylor, the author of several books on Vietnamese art and a professor at the School of the Art Institute of Chicago.

Indeed, censorship of the arts remains rife in Vietnam. Major art projects and exhibitions need official permits from the cultural police, and shows can be shut down with no warning. Last year an installation by Truong Tan, involving a giant diaper lined with pockets resembling those worn by traffic police officers–a reference to the absorbent pockets of corrupt officers–was abruptly removed from an exhibition at the Goethe-Institut in Hanoi. But performance art, which remains primarily “underground” in Vietnam, is much harder to control. Performances often happen without any prior advertising. Instead, artists rely on text-messaging and e-mailing a close-knit network of friends and fans who congregate at a handful of private spaces, most notably the stilt house of Nguyen Manh Duc, a longtime supporter of the art in Hanoi.

Performance art first took off in Vietnam in the mid-’90s. Tran Luong began his artistic career as an abstract painter, a member of the renowned Gang of Five, a group of young artists who rose to pre-eminence after the Communist government finally opened up in 1986. But he fell out with his peers, whose increasingly commercial works disillusioned him, and switched to conceptual performance art in the mid-1990s. Often acting as a mentor to younger artists, he is now considered one of the fathers of performance art in Hanoi, along with Truong Tan and Dao Anh Khanh.

In the last couple of years, performance artists have tried to move out of the shadows and present their works to a wider public. In 2006, Tran Luong organized the first “Dom Dom Performance Festival” in Hanoi, thanks to funding from the Denmark-Vietnam Cultural Development Exchange Fund. Twenty-two Vietnamese artists participated in that inaugural festival. Last year several artists engineered “Sneaky Week,” a series of impromptu performances on the streets of Hanoi, Hua and Ho Chi Minh City. Some of the works were quite provocative; Vu Duc Toan paid for anything he needed that day using money in a sealed envelope–a commentary on the country’s ongoing corruption–and captured in photos the various reactions of the people he crossed paths with.

Though they don’t require a permit, street performances can quickly attract the attention of the police. “You learn how to run fast,” says one artist who performed in “Sneaky Week.” Dao Anh Khanh, who once actually worked for the cultural police, has stopped counting the number of run-ins he has had with them. Over the years, he has been arrested several times, some of his shows have been canceled and some of his works destroyed. When young artists sought permission to organize a new “Dom Dom Performance Festival” in Ho Chi Minh City in May, the cultural authorities asked to see advance videos of the performance work–a stretch for an experimental art form that is meant to be performed spontaneously. They are now trying to organize the festival for August, but some of the artists who had originally committed have backed out, maybe fearing the censors. At least they’ll have new fuel for their art.

Đăng trong Văn hóa | Tagged: , , , | Leave a Comment »

446. Ai

Đăng bởi anhbasam on 23/01/2010

Ai

Tác giả: Việt Phương

Thứ Bảy, ngày 23-1-2010

Tuần Việt Nam xin giới thiệu cùng độc giả bài thơ “Ai” của nhà thơ Việt Phương.


I

Cán bộ hành chính ta là ai

Con sâu mọt đáng đời nguyền rủa

Hành hạ dân đến tột cùng khốn khổ

Vơ vét dân đến cả mớ rau nghèo


Hay ta là người công chức gieo neo

Lương không đủ cho con theo thày học

Dẫu thương dân thì cũng đành bất lực

Cơ chế nào trói chặt sức con người


Hay ta luôn dằn vặt mãi không nguôi

Ngày hai buổi đứng ngồi vô tích sự

Vẹo sườn dưới chồng giấy tờ đồ sộ

Viết những điều cổ hủ đến buồn nôn


Ta giãy giụa trong vòng xoáy sinh tồn

Chỉ mong một môi trường không ô uế

Ta đã từng có một thời trai trẻ

Từng dưới cờ tuyên thệ quyết vì dân


Đời con người dẫu chỉ sống một lần

Khi cả nước hành quân lên hiện đại

Đến cây cằn bỗng nở mùa hoa trái

Đây là lần sống lại của đời ta


Sáng bừng lên những bài học từ xa

Qua ống kính vạn hoa thời đổi mới

Mở tầm mắt nhìn ra ngoài thế giới

Hành chính về trong nguồn cội nhân dân


Đất trời nay đang vào giữa mùa xuân

Nghe trong gió thì thầm lời nhắn nhủ

Thôi giã biệt những lối mòn xưa cũ

Đường ta đi cùng mở với bao người

II

Giám đốc doanh nghiệp ta là ai

Nửa đời chiến chinh nửa đời bao cấp

Thời đổi mới gian truân hơn đánh giặc

Đã mười năm quần quật mở thị trường


Ta là người tiên phong khai phá đường

Gánh trên vai nỗi đoạn trường cải cách

Hay ta là một con sâu luồn lách

Xoay kiến ăn trong những ngách bùn đen


Ta đọa đầy những điêu đứng triền miên

Trên búa dưới đe bốn bề chèn ép

Hay ta hưởng toàn rượu ngon gái đẹp

Khoét của dân giành hết mọi bùi thơm


Ta chất chứa bao niềm vui nỗi buồn

Bao nhiêu tủi hờn bao nhiêu uất ức

Biển quê hương đêm triều dâng rạo rực

Con sóng nào thao thức gọi bình minh


Ta chỉ là một kẻ tù binh

Cưỡi đầu hổ rùng mình không dám xuống

Hay ta là nhà thơ giàu mộng tưởng

Luôn vươn lên theo hướng mặt trời


Ta lo toan quanh quẩn cái tôi

Lo giữ ghế lo xu thời nịnh hót

Hay ta muốn dân lên người vị ngọt

Dốc đời ta chi chút trả ân tình


Ta lắng nghe đất nước chuyển mình

Từ sâu thắm lòng dân bao khát vọng

Những cay đắng và ngọt ngào cuộc sống

Đang chờ ta lồng lộng gió lên rồi

III

Là nhà khoa học ta là ai

Nhập cuộc sâu hay còn ngoài đổi mới

Ta chủ động hay ta là con rối

Được phát huy hay còm cõi góc bàn


Làm Đảng viên hay khệnh khạng làm quan

Sống chiến đấu hay sống mòn công chức

Bao câu hỏi giữa hai bờ hư thực

Ở đâu nguồn tri thức trả lời đây


Những xấu xa trắng trợn tự phơi bày

Những cơ chế trói tay người tâm huyết

Những cấp phát, xin cho và phê duyệt

Bao tiềm năng nằm liệt đến bao giờ


Ta trở về những thôn cũ làng xưa

Ta đến với những bến bờ mới lạ

Ta hỏi người, hỏi cây và hỏi đá

Hỏi núi rừng đồng lúa hỏi lòng dân


Những lực gì đang ngăn cản dòng sông

Vượt ghềnh thác muôn trùng về biển rộng

Những dự định thời thanh niên mơ mộng

Đêm đên còn cháy bỏng đốt tim ta


Sẽ đến ngày đất nước thăng hoa

Còn xa tắp hay đã là gần lắm

Đường thênh thang hay đường còn thăm thắm

Mẹ già ta đăm đắm đợi lâu rồi


Con tàu ta lướt sóng vượt ra khơi

Nào đâu lực nào đâu thời đâu thế

Cùng dân tộc ta hồi sinh sức trẻ

Nắng ban mai đã hé ở chân trời


Việt Phương (1995)

——-

* Ba Sàm chú thích thêm: Nhà thơ Việt Phương là cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng (Phan Văn Khải), thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (đã tự giải thể). Ông cũng từng làm thư ký, trợ lý cho các ông Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Duy Trinh và Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị.

Một số bài báo gần đây của ông và viết về ông: – Nhà thơ Việt Phương và chuyện khi “Cửa đã mở” (LĐộng). - PHẠM XUÂN NGUYÊN đọc thơ VIỆT PHƯƠNG (Lê Thiếu Nhơn/VNN).Biên bản cuộc họp về tập thơ Cửa mở của Việt Phương (Hội ngộ Văn chương).Nhà thơ Việt Phương và những cảm nhận về anh Sáu Dân (TuanVN)

(Hình ở đầu bài của báo VNCAND)

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Tham nhũng, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 9 phản hồi »

429. Những Tấm Ảnh Ðã Làm Thay Ðổi Thế Giới

Đăng bởi anhbasam on 10/01/2010

Những Tấm Ảnh Ðã Làm Thay Ðổi Thế Giới

(Một độc giả, BS Bảo Lương, từ Hoa Kỳ sưu tầm gửi tới)

1. Uganda – 1980: bức ảnh về nạn đói ở Châu Phi, Uganda năm 1980, miêu tả đôi bàn tay teo tóp vì đói của một đứa bé đang hấp hối trong lòng bàn tay của một nhân viên cứu trợ Liên Hiệp Quốc. Sự giúp đỡ tuy muộn màng nhưng đã nhen nhóm trong ta sự hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai


2. Kền kền chờ đợi – 1993: Bức ảnh đoạt giải Pulitzer 1994 này được chụp khi xảy ra nạn đói khủng khiếp ở Xuđăng, mô tả một em bé đang đói lả nhưng vẫn cố bò về phía trại phân phát lương thực của Liên Hợp Quốc, cách đó khoảng 1m. Con chim kền kền đang chờ đứa trẻ bị chết để nó có thể ăn thịt. Bức ảnh đã làm cho cả thế giới bàng hoàng. Không ai biết điều gì xảy ra với em bé, kể cả nhà nhiếp ảnh Kevin Carter, người đã rời ngay khỏi hiện trường sau khi chụp. Ba tháng sau, Kevin tự sát.

3. Hành hình nô lệ – 1930: Tấm ảnh được chụp bởi Lawrence Beitler miêu tả cảnh 2 nô lệ da đen bị hành hình trước 10,000 người da trắng vì tội cưỡng hiếp 1 phụ nữ da trắng và giết chết bạn trai cô ta. Mặc dù tấm ảnh được thể hiện như việc hành hình kẻ có tội, nhưng cách tra tấn dã man và sự hả hê của đám đông bên dưới cũng để lại một sự ghê rợn cho người xem.
4. Nagasaki – 1945: Đám mây hình nấm trên bầu trời Nakasaki vào ngày 9 tháng 8 năm 1945 này đã giết chết hơn 80 ngàn người và đã trở thành nỗi ám ảnh đe dọa cho hòa bình nhân loại.
5. Bữa trưa trên đỉnh New York – 1932: Bức ảnh này của Charle Ebbets chụp 11 người công nhân đang ăn trưa trên một thanh đà, tại tầng 69, công trường xây dựng tòa nhà GE ở trung tâm Rockefeller diễn tả số phận cheo leo của những người công nhân nhập cư trong thời kỳ bùng phát của chủ nghĩa tư bản.
6. Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu – 1963: Một trong những sự kiện chấn động thế giới: hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Đạo Phật của chính quyền Ngô Đình Diệm trong cuộc biểu tình ngày 11 tháng 6 năm 1963 tại góc đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là CMT8 – Nguyễn Đình Chiểu). Ngay lập tức, nó đã gây một ảnh hưởng rất lớn đến chính trị và truyền thông. Bức ảnh do Malcolm Browne chụp.
7. Bức ảnh chụp người đàn ông đang rơi từ Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York, Mỹ sau khi tòa nhà này bị 2 máy bay đâm vào trong sự kiện “11 tháng 9″ này đã gây một cảm xúc rất mạnh đến người dân Mỹ. Nhiều người cho đó là sự xúc phạm đến người đã chết. Nhưng Richard Drew, tác giả bức ảnh thì biện hộ rằng, bức ảnh đã diễn tả một quyết định giữa sống và chết của con người khi bị dồn vào đường cùng.
8. Trại tập trung Buchenwald- 1945: Trại tập trung Buchenwald của Đức Quốc xã sau khi được giải phóng năm 1945. Hơn 43 ngàn người Do Thái đã bị hành hình tại đây. Trong ảnh là những người dân Đức bị buộc phải đi xuyên qua Buchenwald để tận mắt chứng kiến những gì mà quốc gia của họ đã gây ra cho thế giới.
9. Anne Frank – 1941: Chân dung của cô gái 14 tuổi Anne Frank, một trong 6 triệu người Do Thái đã bị Đức Quốc xã hành hình trong sự kiện Holocaust. Cả gia đình, bao gồm cô vài chị gái đã bị giết chỉ 1 tháng trước khi trại tập trung nơi cô bị giam được giải phóng. Cuốn nhật ký cùng bức chân dung một cô bé 14 tuổi, với đôi mắt to đang nhìn xa xăm về một tương lai mà ai cũng biết là không bao giờ đến được với cô, đã làm xúc động cả thế giới.
10-Từ năm 1939 đến năm 1945 tội ác của phát xit Đức:
11- Lò sát sinh ở Dachau: tội ác của phát xit Đức: họ dồn các nạn nhân Do Thái vào một phòng kín nhỏ,rồi dùng hơi ngạt giết chết hàng loạt.

12- Tháng 7-1937 Vụ thảm sát Nam Kinh quân Nhật chiếm đóng thành phố mà không gặp khó khăn nào. Cảm thấy bị sỉ nhục vì không chiếm được Trung Quốc trong vòng 3 tháng như đã hứa với Nhật hoàng, quân đội Nhật tiến hành chiến dịch giết người, hãm hiếp và cướp phá để trả thù cho tới tháng 3/1938

13- Bãi tha ma sau trận chiến tại Pennsylvania – 1863: Những xác người nằm trơ trọi giữa đồng không mông quạnh dưới bầu trời xám xịt… một cảm giác rợn người khi bạn đứng trước một bãi tha ma sau cuộc chiến. Chụp trong cuộc Nội chiến Mỹ


14. Omayra Sánchez – 1985: Đôi mắt đã ám ảnh người xem này là của cô gái 13 tuổi Omaya Sánchez trong thảm họa núi lửa Nevado del Ruiz ở Colombia ngày 13 tháng 11 năm 1985, đã giết chết 25 ngàn người. Trong ảnh, Omaya đã kiệt sức vì bị mắc kẹt gần 3 ngày đêm trước sự bất lực của lực lượng cứu hộ. Cuối cùng, mọi người đã ở bên cạnh em và cùng cầu nguyện đến khi em không còn cầm cự được sau 60 giờ. Bứa ảnh được chụp bởi Frank Fournier.

15–Hãy cứu tôi : 12-29/04/1945: Tác phẩm chụp một thương binh bị bỏ lại trên chiến trường Okinawa, xen lẫn giữa những tiếng rên xiết vì đau đớn là những lời nguyện cầu mong được sống: Hãy cứu tôi !! !! !!

16- Căn cứ thủy Puerto Kabello:  4 tháng 6 năm 1962,-một tên lính bắn tỉa một thanh niên  thường dân  ngục ngã trên tay cha đạo
17- Bình Định. Tháng 9 năm 1965.Người mẹ và bọn trẻ vượt sông, thoát khỏi lửa đạn. Tác giả Kyoichi Savada

18- Bức ảnh về nạn đói ở Châu Phi: năm 1967 – 1969 Bianfra, một quốc gia nằm ở phía nam Nigeria, hơn một triệu người chết vì chiến tranh, nạn đói và dịch bệnh. Những đứa trẻ trong một trại tập trung, đang đứng trước lằn ranh giữa sự sống và cái chết. Bức ảnh của Don McCullin này đã đánh động thế giới phải can thiệp để cứu lấy số phận của những người dân Bianfra.

19- 18 tháng 12 năm 1982. Lebanon. Vụ thảm sát người Palestin cuối cùng. Tác giả Robin Moire.

20- Những năm 80 tội ác của bọn diệt chủng polpot
21- Đông Thổ Nhỹ Kỳ: Kezban Ozer tìm thấy thi thể 5 đứa con sau trận động đất. Tác giả Mustafa Bozdemir

22- 1984 – Pablo Bartholomew Bhopal, Ấn Độ, Tháng 12 năm 1984. Rò rỉ khí ga độc hại là nguyên nhân dẫn đến cái chết của đứa bé. Bức tranh thể hiện mặt trái của công nghiệp hóa.

23-Thảm kịch tại Oklahoma 1995 Người lính cứu hỏa này đã rút đôi găng tay thô ráp ra khỏi tay mình để đón lấy một đứa trẻ sơ sinh vẫn chưa biết sống chết thế nào bằng đôi tay mềm mại nhất, đôi mắt anh ta trìu mến nhìn đứa trẻ như muốn nói: “Sẽ không sao đâu, đã có chú đây!”. Hình ảnh này của Chris Porter tường thuật lại hậu quả sau đợt tấn công khủng bố bằng bom vào một tòa nhà chính phủ tại Oklahoma năm 1995 làm 168 người chết và hơn 800 người bị thương. Cho đến sự kiện 11/9 thì đây là vụ khủng bố gây hậu quả nghiêm trọng nhất tại Mỹ

24- 31 tháng 3 năm 2003. Irac. Người đàn ông cố gắng che chở cho đứa con trong nhà tù dành cho các tù binh quân sự. Tác giả Jan Mark Buzu

25- Năm 2004 thảm hoạ sóng thần tại ấn độ dương


26- Năm 2008 Động đất tại tỉnh tứ xuyên trung quốc

27- Cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn, 1989. Anh sinh viên đứng chắn trước mũi xe tăng được phái tới để đàn áp biểu tình.

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Quan hệ Quốc tế, Văn hóa | 25 phản hồi »

418. Hà Nội hướng tới tương lai với một lòng tôn kính dĩ vãng đẹp đẽ của mình

Đăng bởi anhbasam on 03/01/2010

South China Morning Post

Hà Nội hướng tới tương lai với một lòng

tôn kính dĩ vãng đẹp đẽ của mình

Thứ hai ngày 14-4-2008


Trong lúc Hà Nội hướng tới kỷ niệm 1000 năm thành lập thành phố, thì trưởng nhóm thông tín viên Á châu Greg Torode chú ý tới những biến đổi đang xảy ra trong lối sống và cơ sở hạ tầng của thủ đô nước Việt Nam này.

Để nhận rõ những gì đang thay đổi trên gương mặt của Hà Nội, hồ Hoàn Kiếm thiêng liêng tại trung tâm thành phố là một địa điểm tốt để bắt đầu. Trải qua nhiều năm tháng, cái hồ này đã làm biểu trưng cho một nhịp độ phát triển hiền hòa của Hà Nội, với những ông già đầu đội mũ cát két túm tụm đánh cờ mỗi buổi chiều tà và các cặp uyên ương dạo bước trên hè rợp bóng hàng phượng vĩ.

Tất thẩy vẫn còn đó, song giờ đây họ đang bị vây bọc bởi những dấu hiệu của lối sống đang hiện đại hóa mau lẹ khi hơn một thập kỷ tăng trưởng đều đặn đã đưa thủ đô của nước Việt Nam một thời khắc khổ tới bên hố thẳm của sự biến đổi chưa từng thấy.

Dọc ngang trong tình trạng bực bội của nó là những chiếc SUV và Humvee cùng hàng nghìn xe gắn máy đang bóp nghẹt những con phố từng do xe đạp thống trị. Tại một góc hồ, một màn hình điện tử đánh dấu từng giờ trước khi Hà Nội cử hành buổi lễ 1000 năm của mình vào tháng Mười năm 2010 – một sự kiện giờ đây đang được chuẩn bị tích cực đúng như những kế hoạch hiện đại hóa của Đảng Cộng sản, tất cả góp phần cho việc phục vụ thời khắc đó.

Tại góc khác, một ngôi biệt thự thời Pháp thuộc được phục sức bằng những tấm áp phích hình một bậc cha chú để râu. Chỉ một lần này thôi, không phải là nhà cách mạng tiền bối Hồ Chí Minh của Việt Nam mà là Colonel Sanders *. KFC đã mở một cửa hàng bên hồ – một trong những loại hình nhượng quyền kinh doanh đồ ăn lớn đầu tiên, bất chấp một thị trường đang nổi lên nhưng vẫn còn bị kiểm soát chặt chẽ của Việt Nam.

Trên một con phố gần đó, những hãng buôn đồ hiệu Âu châu xa xỉ đã mở cửa kinh doanh ồn ã, với những con người trẻ tuổi háu bở bằng giàu xổi trên thị trường chứng khoán và trò đầu cơ bất động sản.

“Thế hệ cha mẹ tôi vẫn không thể hiểu được tất cả đời sống tiêu dùng và nhu cầu cho lối sống này,” đó là lời nhận xét của Nguyễn Thị Bích Hoa, một nhà thiết kế 30 tuổi, khi cô mua một túi xách hiệu Louis Vuitton trong cửa hàng. “Các cụ cứ giữ khư khư tiền vàng. Nhưng tôi bảo họ đây là Hà Nội thời mới rồi.”

“Mọi người cảm giác phấn khởi hơn, thoải mái và dễ làm giàu hơn. Họ muốn bày tỏ ý kiến của mình và phô trương chút ít. Thế hệ của tôi muốn hướng tới những gì tốt đẹp nhất của mình.”

Đã một thời, khi những người Hà Nội trẻ tuổi hăng say nhất tụ tập lại, cuộc chuyện trò có thể xoay quanh tình họ hàng thân tộc, về chính trị, thi ca hay nghệ thuật. Còn giờ đây, nó có vẻ thiên về sự phát đạt bằng tài sản nhà đất và những căn hộ, về thị trường chứng khoán, du ngoạn nước ngoài và rượu. Gửi bọn nhóc nhà bạn tới trường nào là tốt nhất – ở Anh, Úc hay New Zealand?

Và đó không phải chỉ là lối sống đang thay đổi tới mức khó có thể nhận thấy. Theo cả quy luật tự nhiên nữa, thành phố đang biến đổi, tiếng rên từ những vết sẹo bởi sức ép phát triển và cơn lũ hàng trăm nghìn con người từ khắp các miền quê nghèo xung quanh kéo tới.

Quê hương của một trong những di sản kiến trúc quý giá nhất trong khu vực bao phủ bằng những kiểu dáng Trung Hoa, Việt Nam, Pháp và khối nhà kiểu Sô Viết, các kế hoạch gia của Hà Nội khăng khăng rằng họ phải kiên quyết bảo vệ cho trái tim thủ đô, với những toà trụ sở trang nhã, những biệt thự và quán ăn, những con đường rợp bóng cây và Khu phố Cổ. Bất chấp những hạn chế phá hủy các toà nhà cổ, các nhà kinh doanh tư nhân vẫn sai khiến việc phá bỏ hàng tá các tòa nhà nổi tiếng trong những năm gần đây.

“Thách thức của chúng tôi là xây dựng những khu vực xung quanh thành phố để khuyến khích mọi người tới đó,” theo lời của Nguyễn Việt Chiến, phó giám đốc Sở Quy hoạch và Kiến trúc thuộc Ủy ban Nhân dân Hà Nội.

“Thành phố lúc này có vẻ như không thể đối phó được ? Chúng tôi không có lựa chọn nào cho sự phát triển nếu cứ giữ để những nơi đẹp nhất của Hà Nội không bị xâm phạm.”

Cơ quan của ông Chiến đang hoàn tất một kế hoạch tổng thể tới năm 2020 trong đó là những khu vực mới cho chính quyền, khu thương xá, khu kỹ nghệ và công nghiệp được xây dựng xung quanh ngoại vi của thành phố hiện nay, tất cả được bao bọc bởi những khu dân cư và công viên cây xanh.

Ngân hàng Thế giới đang tài trợ xây dựng những con đường vành đai, trong lúcPháp và Trung Quốc đang chuẩn bị cấp vốn cho những tuyến đường sắt ngắn trong thành phố. Trong khi đó Nam Triều Tiên đang giúp dồn ép những kế hoạch phát triển khu bờ ven Sông Hồng của Hà Nội từ lâu tồn tại trong cảnh nhếch nhác bẩn thỉu. Năm chiếc cầu đã được xây hoặc lên kế hoạch.

Trong số những khu vực được giữ gìn, việc phát triển phải giữ lại nét đặc sắc cũ. Đã có vài toà nhà của chính quyền, ví như của Bộ Tài Chính, đã được xây theo những mẫu thiết kế truyền thống thời thuộc Pháp.

Tại phía tây của hồ là Khu phố Cổ, nơi trú ngụ của hơn 15.000 hộ dân và là một trong những khu vực đông đúc nhất so với bất cứ nơi đâu trong vùng. Ông Chiến nói rằng ông không muốn Khu phố Cổ bị trở thành một cái viện bảo tàng mà phải giữ lại một phần sôi động của thành phố – chỉ bao gồm một số dân cư ít hơn hẳn. “Chúng tôi phải cho họ sự lựa chọn để họ còn có thể sống được.”


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* Colonel Sanders (1890-1980), người lập ra công ty món ăn nhanh Kentucky Fried Chicken – KFC (answers.com), đang mở ra nhiều cửa hàng tại Hà Nội. Poster của hãng này luôn có hình ông với bộ râu đặc trưng.

Nhưng sau khi bài báo nầy xuất hiện một thời gian, cửa hàng KFC hình như đã không còn ở vị trí đối diện Thủy Tạ nữa (dù sao thì wikipedia cũng đã kịp lưu lại hình ảnh, ngay vị trí hiệu Kem Long Vân thuở nào). Có thể sự tồn tại của nó tương phản và dễ gây lầm lẫn với bức hình cố CTHCM bế em nhỏ-đối diện Tràng Tiền Plaza.

Đăng trong Văn hóa | 6 phản hồi »

410. Nét hiện đại và Cổ kính Hòa quyện Trong một Hà Nội Bất tận

Đăng bởi anhbasam on 28/12/2009

USA TODAY

Nét hiện đại và cổ kính hòa quyện trong một

Hà Nội Bất tận

Bài của Jerry Shriver, USA TODAY

Ngày 8-8-2008

HÀ NỘI – Cứ mỗi ngày, ngay khi ánh bình mình vừa ló dạng quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm đẹp như một viên ngọc, hàng trăm cư dân thành phố đã tề tựu hòa nhịp điệu cơ thể và tinh thần cho cuộc sống tương lai của mình. Những động tác tay chân, vươn thở hay trầm tư mặc tưởng như tín đồ Lão giáo – bất luận cách luyện tập thể dục nào cũng được miễn là cách ấy có lợi.

Vài người trong số họ tập co duỗi chân tay ngay bên dưới một màn hình video quảng cáo mới mở với những hình ảnh hào nhoáng đang đếm từng ngày cho tới dấu mốc 10-10-10 – tức ngày 10 tháng Mười, năm 2010 – khi thành phố này sẽ cử hành lễ kỷ niệm 1.000 năm thành lập. Những người khác lại chọn lối vào đền Ngọc Sơn, nơi ghi dấu “thời xa xưa,” theo như một tấm bảng trước cửa đền cho biết. Sau buổi tập của mình, vài người sẽ lang thang quanh Khu phố Cổ, có thể tới nơi làm việc tại một quán cà phê có hệ thống Internet không dây Wi-Fi, hoặc theo các du khách với công việc mời chào kẹo và bia tại ngôi đền Bạch Mã [1].

Thời gian, sự đúng lúc, sự tồn tại đời đời bất diệt – hết thảy đều tôn lên cho Hà Nội vào lúc này cái ý nghĩa lịch sử của mình. Nhịp điệu đều đặn của tấm lịch bằng hình ảnh, những âm thanh phát ra từ máy hát và tiếng động không ngớt của những đám xe máy tuôn qua các khách sạn xa hoa mới mở và những công trình xây dựng báo hiệu rằng một nền văn hóa lâu đời cùng một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trẻ trung và gần đây tỏ ra mạnh mẽ đang tiến tới tính hiện đại.

Thế nhưng ở đâu đó trong cái thành phố 3,1 triệu dân này, nơi có chức năng như trung tâm văn hóa và điểm trú đóng của một chính phủ cộng sản luôn tỏ ra cẩn trọng, thời gian như trườn đi hoặc tắc nghẹn hay xuất hiện trong sự biến dạng đến khó hiểu. Những nhắc nhở lạ thường và đôi khi khủng khiếp về một quá khứ bị vây bọc, bị xé nát bởi chiến tranh vẫn lay lắt nơi đây giữa những ốc đảo Châu thổ Hồng Hà thanh bình tươi đẹp. Và nơi đó vẫn còn sức lôi cuốn hấp dẫn.

“Hà Nội quá hấp dẫn bởi vì nó là một thành phố của những nét tương phản,” đó là nhận xét của ông Hữu Ngọc [2], 90 tuổi, một trong những nhà văn, sử gia văn hóa nổi tiếng nhất của đất nước này. “Thật thú vị để lần theo những biến đổi của nó từ cũ kỹ xa xưa cho tới nét mới ngày nay.”

Sự phát triển đang ngày qua ngày lôi cuốn mối quan tâm của thế giới bên ngoài. Như phần còn lại của Việt Nam, Hà Nội đang có được cú bùng nổ du lịch quốc tế và những lợi ích từ một nền kinh tế từng tăng trưởng 8% trong ba năm liên tiếp. Thành phố đã quyến rũ được 1,3 triệu du khách ngoại quốc vào năm ngoái, tăng 13% so với năm 2006, và một nghiên cứu của chính phủ đã dự đoán những lễ hội 10-10-10 (các chi tiết của lễ hội vẫn còn đang được giữ trong vòng bí mật) sẽ đem tới 2 triệu khách quốc tế và 1,7 tỉ Mỹ kim lợi tức du lịch.

Mức lạm phát hai con số gần đây có thể hạ nhiệt các kế hoạch kiến thiết mà cho tới giờ bao gồm việc xây dựng thêm năm khách sạn hạng sang, nhiều công trình kỷ niệm và một khu thương mại công nghệ cao. Thế nhưng động lực thúc đẩy là ghê gớm, và đáng ngạc nhiên, được căn cứ vào tình trạng đất nước này từng không có du lịch và phải ở bên bờ vực của nạn đói vào những năm đầu thập kỷ 1980 trước khi những cải cách kinh tế và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 châm ngòi cho đà tăng trưởng hiện nay.

Thành phố Hồ Chí Minh và một vài khu vực nghỉ dưỡng ven biển đã được thay đổi hoàn toàn; Hà Nội tiếp bước theo sau, mặc dù với một phương cách khác và một bước đi chậm hơn.

“Mười năm nữa, mọi thứ sẽ hoàn toàn mới mẻ,” đó nhà nhận định của Christian Porodon, tổng giám đốc khách sạn InterContinental Westlake, một tiền đồn bên bờ hồ thanh lịch vừa mới khai trương và cũng mới được đưa vào danh sách quan tâm hàng đầu [Hot List] của tạp chí CondéNast Traveler. “Ý chí và quyết tâm của dân chúng là hết sức mạnh mẽ, về những gì họ muốn đạt được và những nơi đâu họ muốn tới.”

Những dự đoán lạc quan như vậy ngày càng phổ biến trong ngành công nghiệp khách sạn này, song chúng cũng báo động cho những ai vẫn tin rằng vai trò quan trọng nhất của Hà Nội là định hướng và đặc tính của quốc gia.

“Với bất cứ ai tới thăm nơi đây, tôi luôn khuyên họ nên tới thăm miền bắc để chứng kiến tất cả những gì về đất nước Việt Nam,” ông Kurt Walter, sinh trưởng ở Thuỵ Sĩ, tổng giám đốc nhà hàng The Press Club, tâm sự. “Hiện giờ là lúc thích hợp để viếng thăm nếu như bạn muốn nhìn thấy quang cảnh thành phố, kiến trúc đô thị, cách sinh hoạt của dân chúng mà thành phố này đang có một thời.”

Hà Nội tự bộc lộ qua những gì mà nó chọn lựa để bảo tồn từ quá khứ 1000 năm ấy. Trước tiên là thân thể ánh vàng huyền bí của Hồ Chí Minh, được bảo quản trong một cỗ quan tài kính bên trong một lăng tẩm uy nghiêm có binh lính canh gác. “Bác Hồ” được yêu quý, người từng lãnh đạo chính quyền cộng sản cho tới khi qua đời năm 1969, đã được hưởng sự ái mộ hơn cả thân thế của Elvis [Presley], và mỗi năm có hàng nghìn khách ái mộ viếng thăm cái tổ hợp kềnh càng chứa đựng khu lăng mộ, ngôi nhà sàn ông từng sinh sống, một nhà bảo tàng và phủ chủ tịch.

Gợi nhớ hơn cho những người Mỹ là những vết tích của Cuộc chiến tranh Việt Nam, mà ở đây nó được gọi là Cuộc chiến tranh của Mỹ. Nhà giam Hỏa Lò, được người Pháp xây lên năm 1896 và có biệt danh sau đó là Hanoi Hilton khi giam giữ các tù binh Mỹ trong chiến tranh, giờ hầu như đã bị phá sập để giành đất xây hai tòa tháp cao làm nơi ở và văn phòng cho thuê. Nhưng một khu vực nhỏ được được giữ lại như là một viện bảo tàng buồn thảm, nơi đây một trong “những điểm nổi bật” giành trưng bày chiếc dù và bộ đồ bay mà phi công Hải quân John McCain từng sử dụng khi ông bị bắt năm 1967 sau khi chiếc phi cơ do ông lái bị bắn hạ và đâm xuống Hồ Trúc Bạch. Thật là ân cần, tấm thẻ bài của ông đã được nâng cấp để phản ánh đúng với những nỗ lực tranh cử tổng thống năm 2008 của vị đương kim thượng nghị sĩ.

Cách đó một vài khu phố, gần như ẩn phía sau mấy căn nhà trong một vùng lân cận khó tả, là vật kỷ niệm thậm chí còn kỳ dị hơn: một công trình điêu khắc trừu tượng màu trắng và một mớ những mảnh vụn đổ nát từ một trận bom B-52, nhú cao lên từ giữa Hồ Hữu Tiệp nhỏ xíu. Những gì gợi nhớ về 100 năm cai trị của thực dân Pháp đầy căm thù bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 vẫn còn đó trên những đại lộ kiểu Pháp và tòa Nhà Hát lớn, trong cách nấu nướng hậu hĩ của các nhà hàng ví như La Verticale và Le Beaulieu, và đáng kể nhất là tại Khách sạn Sofitel Metropol thượng đẳng. Được xây lên từ năm 1901 như là một trong những nơi tạm trú xa hoa nhất, khách sạn này đã trở thành một điểm ái mộ nhất của các nhà văn và nhà ngoại giao trước khi nó bị rơi vào thời kỳ kinh doanh khó khăn. Ngày nay, nhờ vào những sửa chữa phục hồi gần đây, khách có thể ngồi bên bể bơi dưới tán lá tre, nhấm nháp một ngụm rượu gin hòa với nước carbonic vắt thêm chanh, và tưởng tượng rằng giờ đang là năm 1952 và Graham Green [3] đang ngồi cạnh quầy bar phía bên kia lối đi.

Thật khác thường, thời gian hầu như bị lẫn lộn lung tung lên trong Khu phố Cổ (tên gọi khu vực 36 phố phường của Hà nội), khu này là một mạng lưới phức tạp của những con đường từ thế kỷ 13 vẫn được dùng như một trung tâm quan trọng cho giao dịch thương mại, cũng như ăn uống. Ở đây ta sẽ dễ bắt gặp những bà già đầu đội mũ rơm hình chóp, toòng teng hai sọt hàng hóa hai bên được treo trên một cái sào gỗ bắc qua vai [4]. Một cách bướng bỉnh, họ đòi chia sẻ lối đi trên các ngõ phố hẹp, rảo bước một cách quả quyết, ngược chiều với làn sóng lưu thông của xe gắn máy.

Tại Quốc lộ số 4, một quán ăn Phố Cổ chuyên về các món ăn theo cách nấu nướng miền bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Hoa truyền thống, được hiện đại hóa tạo nên một phong cách lạ lùng. Những chủ quán đã bớt dần thứ rượu lậu được ngâm với loài quạ khoang, ong, tằm và thay chúng bằng thứ rượu gạo và rượu trái cây thanh lịch với khẩu hiệu “tương lai của một truyền thống.” (Tuy nhiên, những lu rượu tắc kè giờ vẫn còn có trên thực đơn.)

Ở đâu đó, các nhà buôn ngồi chồm hỗm bên ô cửa, bán mọi thứ từ những con gà trống còn sống cho tới máy truyền hình, linh kiện xe hơi, thịt chó, đồ trang sức, những bức tranh cổ động của Đảng Cộng Sản được chuyển thành những vật trang trí có tính nghệ thuật và các loại cháo cá cháo vịt được phanh ruột ngay bên vỉa hè. Mặc dù có vẻ như không chắc một cơn lốc xoáy đem tới những gì chứa đựng trong hệ thống siêu thị Wal-Mart và Whole Foods và ký thác chúng trong sự hỗn loạn, thì hệ thống này cũng đã tồn tại được hơn 600 năm rồi.

Ông Hữu Ngọc sinh ra cách nay 90 năm tại Khu phố Cổ, ông nói rằng không biết liệu mình có được sống lâu thêm để hoài niệm khi đi bộ qua khu vực này vào ngày 10-10-10. Dẫu sao thì ngôi nhà nơi ông chào đời từ lâu đã được thay thế bằng một cửa hiệu buôn bán. Song ông có linh cảm chắc chắn rằng linh hồn của nơi này sẽ trường tồn, nếu không phải trên bề mặt mới mẻ như hiện nay, thì ít nhất cũng trong cái cốt lõi cổ kính của nó.

“Hà Nội vẫn là Hà Nội,” ông bảo. “Có rất nhiều, rất nhiều những phố phường đã đổi thay, song linh hồn Hà nội vẫn còn đó. Bạn có thể cảm nhận được về nó và trông thấy nó, ở Hồ Tây, trên những công trình kiến trúc kỷ niệm khác nhau, trên con Sông Hồng. Linh hồn này đang phiêu du.”


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


[1] Đền Bạch Mã: được coi là một trong “Tứ Trấn” của thành Thăng Long … (xem wikipedia Việt ngữ)

[2] Hữu Ngọc: Xem ” Món quà từ Hà Nội” (Tuổi Trẻ – 9/2/2007)

[3] Graham Green (1904-1939): nhà văn Anh, nổi tiếng nhất với tiểu thuyết, song cũng có nhiều truyện ngắn, kịch, ký sự và phê bình văn học (wikipedia). Có lẽ Việt Nam biết nhiều tới ông qua cuốn “Người Mỹ trầm lặng” (xuất bản 1955), được dựng thành phim năm 1958 và 2002 (wikipedia).

[4] Xin hiểu là “… những bà già đội nón lá, trên vai quẩy đôi quang gánh hàng hóa”. (Nhưng người dịch xin được dịch sát nội dung, đúng theo cách nhìn của người ngoại quốc và lối viết khôi hài của tác giả).

Đăng trong Văn hóa | 3 phản hồi »

408. Đạo diễn Trần Văn Thủy với ký ức “Hà Nội trong mắt ai”

Đăng bởi anhbasam on 26/12/2009

Đạo diễn Trần Văn Thủy với ký ức

“Hà Nội trong mắt ai”

Tác giả: Trần Ngọc Kha – Bùi Dũng

Tuần Việt Nam

26-12-2009

Trong ký ức của nhiều thế hệ độc giả, “Hà Nội trong mắt ai” là bộ phim tài liệu “có vấn đề”. Khi gợi lại câu chuyện một thời, tác giả của những thước phim đó – đạo diễn, NSND Trần Văn Thủy – còn nhớ như in từng chi tiết nhỏ.

LTS: Ngay từ khi ra đời, vào đầu những năm 1980, bộ phim tài liệu “Hà Nội trong mắt ai” (đạo diễn Trần Văn Thủy) đã trở thành sự kiện gây chú ý trong đời sống văn hóa – nghệ thuật vào “đêm trước Đổi mới”. Tác phẩm không chỉ gây chấn động dư luận lúc bấy giờ về tính ẩn dụ, mức độ hấp dẫn và góc nhìn trực diện về những “vấn đề” nóng bỏng của xã hội, mà còn vì những “sóng gió” liên tiếp mà nó và người làm nên nó vấp phải.

“Hà Nội trong mắt ai” đã bị cấm chiếu, cho đến khi được đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem và nhận xét. Vị Nguyên thủ khi đó đó đã truyền đạt mệnh lệnh: “Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt. Chiếu ngay lập tức! Nếu phát hiện ra cái gì sai thì sửa sau”. Đó là vào ngày chiều 18/10/1983.

Câu chuyện Thủ tướng “giải cứu” “Hà Nội trong mắt ai” được Tuần Việt Nam dẫn lại sau đây, qua bài viết tương đối khái quát, chân thực của tác giả Trần Ngọc Kha, in làn đầu trên báo Phát luật nhân kỷ niệm ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng, sau đó nhiều báo khác đăng lại. Tuy vậy, sự việc liên quan đến bộ phim không phải đã dừng lại ở đó. Những “sóng gió” vẫn tiếp tục đến mà vì nhiều lý do khác nhau bài viết vừa nêu chưa chạm đến….

Sau mệnh lệnh của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về “Hà Nội trong mắt ai”, chỉ một thời gian ngắn sau, bộ phim tài liệu của đạo diễn Trần Văn Thủy lại bị cấm chiếu một cách nghiệt ngã.

“Cho đến năm 1985, mình không còn cái gì nữa” – ông Thủy chua chát kể: “Kể cả điều kiện làm việc cho đến “miếng cơm manh áo”, tất tật. Vợ mình bảo mình điên, bạn bè cũng nói vậy, nhưng khổ nhất là sự cô đơn. Đồng nghiệp bảy rưỡi, tám giờ sáng tề tựu ở cơ quan lo cho ông Trần Văn Thủy… đã bị bắt hay chưa!”.

Đề cập đến câu chuyện cũ mà ý nghĩa và bài học từ nó còn nguyên giá trị, nhất là trong thờI điểm này, Thủ đô Hà Nội đang hướng tới kỷ niệm 1000 năm, đạo diễn Trần Văn Thủy kể thêm những thông thông tin mới sau khi “Hà Nội trong mắt ai”sau khi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng can thiệp:

“Sau buổi xem phim ngày 18/10/1083 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tưởng rằng mọi việc sẽ xuôi chào mát mai, nhưng “Hà Nội trong mắt ai” chỉ được chiếu tưng bừng trong Nam, ngoài Bắc vài ba tháng thì không được chiếu nữa. Trong thời gian này tôi có lệnh gọi lên để gặp ông Lê Đức Thọ tại nhà nghỉ riêng của ông Thọ ở Nghi Tàm để tường trình.

Tiếp đó, bộ phim có buổi chiếu (mà tôi cũng không nghĩ rằng đó là cuối cùng) tại Văn phòng Trung ương Đảng cho ông Trường Chinh xem. Trong buổi chiếu đó có ông Lê Xuân Đồng (Phó ban tuyên huấn – người theo chỉ thị của cấp trên cực lực phản đối bộ phim này), ông Đặng Xuân Kỳ (Viện trưởng Viện Triết học – một người rất nhiệt thành ủng hộ bộ phim này). Điều tôi không tưởng tượng được đã xảy ra liền sau đó, bộ phim đã phim tuyệt đối không được chiếu nữa, với lý do sau lưng bô phim này là một lực lượng chính trị.

Sau Đại hội Đảng VI, đầu năm 1987, rất nhiều vấn đề của đất nước đã được xem xét lạI với khẩu hiệu “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và phản ánh đúng sự thật”. Với văn học – nghệ thuật, đã từng có những câu như “Cởi trói cho văn ngệ sĩ, Không uốn cong ngòi bút, Tự cứu mình trước khi trời cứu…”.

Trong xu thế đó, vào tháng 5/1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp xem bộ phim “Hà Nội trong mắt ai” và gặp tôi. Ông hỏi: “Bộ phim chỉ có thế này thôi à?”. Tôi đáp: “Vâng, thưa Tổng Bí thư, Bộ phim chỉ có thế thôi…”. Ông nói tiếp: “Chỉ thế này thôi, tại sao lại cấm?”, không biết là câu hỏi hay lời tự vấn. Tất cả im lặng.

Theo chỉ thị của Tổng Bí thư, Ban Văn hóa – Văn nghệ lúc đó đã triệu tập một buổi chiếu “Hà Nội trong mắ ai” cho tất cả những người có liên quan, có trách nhiệm về quản lý văn hóa – văn nghệ, tỏng thư ký các hội văn hộc – nghệ thuậtt xem. Xem xong mọi người được quy định bỏ phiếu “Thuận” hay “Chống”. Và trong không khí đổi mới ấy, 100% người xem đã bỏ phiếu “Thuận”.

Ngày 25/9, Văn phòng Trung ương Đảng có văn bản truyền đạt ý kiến của Ban Bí thư, chỉ thị Ban Tuyên huấn, Bộ Văn hóa phổ biến rộng rãi bộ phim này.

Tại Liên hoan phim Việt Nam tại Đà Nẵng vào tháng 3/1988, một bộ phim từng được coi là “chống Đảng”, “dạy Đảng cầm quyền” “kêu gọi mọi người xuống đường” đã được nhận liền một lúc 4 giải thưởng cao nhất: Bông sen vàng cho phim tài liệu, Biên kịch xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất và Quay phim xuất sắc nhất…”. (Bùi Dũng ghi)

Dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội đang tới gần, xem lại những thước phim, càng thấy rõ hơn giá trị về tư liệu, lịch sử và chiều sâu ý nghĩa mà bộ phim hàm chứa. Và sau đây là “phần đầu” trong nỗi đoạn trường của câu chuyện về một thời “Hà Nội trong mắt ai”.

————-

Nhớ một thời “Hà Nội trong mắt ai”

Trong ký ức của nhiều thế hệ độc giả, “Hà Nội trong mắt ai” là bộ phim “có vấn đề”. Hồi đó, nhờ người bạn có bố công tác ở Bộ Nội vụ mà chúng tôi được xem phim. Từ ngạc nhiên, sửng sốt đến bái phục, ngưỡng mộ, đó là cảm xúc của tôi sau khi xem phim. Sao mà không ngạc nhiên, sửng sốt khi được xem bộ phim lạ như vậy? Sao mà không bái phục, ngưỡng mộ khi những ngưòi làm phim đã nói lên những điều ngay thẳng lại hay đến vậy? Đi đâu cũng thấy xôn xao, bàn tán về bộ phim, nhưng mọi người đều chung một câu hỏi: Tại sao nó bị “cấm”(?)…

Thực ra, lúc đó không có bất kỳ một văn bản nào cấm lưu hành bộ phim này. Thế nhưng, chỉ vài ba tháng kể từ khi phim được phát hành, không nơi nào còn dám công chiếu cũng như không ai dám công khai xem bộ phim. Còn đạo diễn Trần Văn Thuỷ rơi vào cảnh bị cô lập, đến mức có lần nghệ sĩ PH (nay là cố nghệ sỹ) đã hỏi thẳng: “Ơ! Cậu chưa bị bắt à?”!

Chuyện đã hơn một phần tư thế kỷ. Ông Thủy không những “thoát” khỏi hoàn cảnh khó nói mà giờ đã là “Nghệ sĩ nhân dân”. Hầu hết những người có “duyên nợ”, “ân oán” với bộ phim đã đi vào dĩ vãng. Tuy nhiên, với ông Thủy, dường như mọi việc vẫn chưa qua. Có cái gì như nghèn nghẹn nơi ông khi nhớ lại chuyện này. Và có cái gì như ngài ngại nơi những người có trách nhiệm khi buộc phải nhắc đến chuyện này. Có lẽ bởi thế mà phải đến 5 lần gọi điện tôi đều nhận được câu trả lời: “Chuyện ấy qua lâu rồi. Tôi không muốn gợi lại nữa”. Đành mạnh dạn bấm chuông nhà ông, rất may hôm ấy cái điệp khúc kia không lặp lại.

… Ngày ấy, ông Thủy nhận được kịch bản phim “Hà Nội năm cửa ô” viết về du lịch Hà Nội, về phố cũ phố mới với chùa chiền lăng tẩm, khéo tay hay làm… Nhìn lại thực tế cuộc sống, ông thấy mất mát quá nhiều. Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Hà Nội khó khăn lắm, người dân phải ăn hạt bo bo.

“Mình thấy kịch bản này không thể làm được. Nếu làm phim này lúc ấy thì chỉ có đóng mà thôi, lấy đâu ra quần chùng, áo dài…” – ông kể vậy.

Kịch bản phim liên quan nhiều đến lịch sử, phải tìm sách đọc, đi điều tra, ví dụ như đoạn: “Ngôi nhà 80 – 82 phố Hàng Gai, nếu đang đi giữa cái nắng choáng ngợp của phố phường mà ta bước chân vào ngôi nhà cổ này, có những cái gác xép cửa lùa, có tiếng chim gù trên mái ngói thì lòng ta tĩnh lại”.

Kịch bản viết thế, nhưng đi thực tế chỉ thấy một bên là cửa hiệu thêu, một bên là trụ sở HTX. Ông hỏi chủ nhà: “Cái nhà này sửa lại từ bao giờ?”, vì nom nó chẳng có gì khác biệt với những nhà cửa, phố xá, cửa hàng cửa hiệu khác. Ông đọc cho chủ nhà nghe đoạn kịch bản này. Ông chủ nhà hỏi lại: “Người viết cái này bao nhiêu tuổi?”. Ông đáp: “Cỡ bằng tuổi cháu”. Chủ nhà bèn khẳng định: “Thế thì anh ấy chép ở đâu ra ấy chứ. Năm 1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bọn Tây ở bên kia, bọn tôi ở bên này, hai bên bắn nhau chí chết thì cái nhà nó đã thế này rồi, làm gì có cảnh như anh ấy viết trong đó”.

Đến Ô Quan Chưởng tìm văn bia của Tổng đốc Hoàng Diệu, gặp ông Nguyễn Vinh Phúc, gặp cụ Trần Huy Bá ông mới bừng tỉnh ra một điều: Những giá trị tinh thần của dân tộc thì tồn tại vĩnh cửu. “Thế thì thôi, đừng làm cái đẹp về mặt cảnh quan khi nó không còn, không có nữa. Hãy tìm đến những cái có thật, đích thật, rất cần cho đời nay – những giá trị tiêu biểu cho cách trị nước yên dân như thế nào” – Đạo diễn Trần Văn Thủy rút ra sau những đắn đo suy tính.

Vào cái thời điểm đầu những năm 80 của thế kỷ trước, những điều này cần thiết biết bao! Xót xa với hiện thực của đời sống dân chúng thế nào, trọng dụng nhân tài ra làm sao?… Ông đã liệt kê ra giấy như vậy sau khi đã dày công đọc sách, điều tra.

Quan niệm của ông là làm phim tài liệu không chỉ đúng và đủ như chuẩn mực của các công trình nghiên cứu khoa học. Muốn người xem “tiêu hoá” được thì phim phải hay. Bởi thế nhiều tích chuyện hay trong sử sách đã được ông đưa vào phim, như chuyện Tổng đốc Hoàng Diệu đặt văn bia ở Ô Quan Chưởng cấm các chức quan sách nhiễu dân lành; chuyện vua Lê Thánh Tông dựng đình Quản Văn ra sao… Chuyện Nguyễn Huệ sau khi đại thắng quân Xiêm trên sông Rạch Gầm-Xoài Mút đã vào thành Thăng Long thăm vua Lê Cảnh Hưng – ông vua già mất quyền đã lâu – như thế nào? Khi vào điện rồng vị tướng Tây Sơn vẫn đeo kiếm khiến quần thần nhà Lê sợ xanh mặt, chỉ riêng quan lễ tân Phương Đình Pháp dám góp ý. Nguyễn Huệ trừng mắt nhìn Phương Đình Pháp nhưng viên quan này vẫn điềm nhiên, cuối cùng người anh hùng áo vải đã tháo kiếm rồi mới bước lên điện.

Chuyện chỉ có thế nhưng ông Thủy nhận thấy rằng: Trong mắt Quang Trung lúc bấy giờ, quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ dưới dám nói những điều ngay thẳng, còn bề trên biết nghe theo lẽ phải.

Hay là chuyện bức tượng ở Chùa Bộc (Hà Nội) bây giờ vẫn lưu giữ, trên đầu tượng có đề chữ Tâm. Trước đây nhiều nhà nghiên cứu đều chịu, không biết tượng tạc ai. Về sau cụ Trần Huy Bá mới đặt giấy bản sau bức tượng rồi dùng than củi trà lên, mới hiện ra dòng chữ: “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng”. Tức là, đúng vào cái năm Gia Long truy diệt tất cả những gì liên quan đến nhà Tây Sơn thì dân chúng Thăng Long vẫn dựng tượng Quang Trung… Rồi cả những chuyện tại sao Nguyễn Siêu lại cho dựng Tháp Bút bên Hồ Gươm? Tại sao Tổng đốc Hoàng Diệu lại cho đặt tấm bia kia ở Ô Quan Chưởng?… “Hà Nội trong mắt ai” đã ra đời và tập hợp những câu chuyện như thế!

Ông Thủy kể rằng: Ngay từ lần đầu chiếu phim để trình duyệt, Ban giám đốc Xưởng phim Tài liệu khoa học trung ương đã thấy “có gì đó không ổn”. Mời những người “có trọng trách” trong lĩnh vực tư tưởng văn hoá xem, họ kết luận ngay rằng “phim có vấn đề”!

Cuối cùng giám đốc xưởng phim Lý Thái Bảo nói với ông Thủy rằng “bộ phim không được chiếu”! Thực ra, theo ông Thủy, “là do có một vài người xem phim xong tự “vơ vào” vì họ “… giật mình”.

“Hà Nội trong mắt ai” có không ít chi tiết khiến nhiều người hiểu lầm. Như là đoạn nói về Bà Huyện Thanh Quan vào miền Trung, nơi chồng bà làm Tri huyện. Một hôm ông Huyện đi vắng, bà nhận được đơn của một người tên là Nguyễn Thị Đào xin được cải giá vì chồng đi lính thú (đóng ở biên ải) lâu ngày.

Nhớ cảnh Tây Hồ, thương cảm cho người phụ nữ xa chồng, bà đã mạnh dạn phê vào đơn: “Phó cho con Nguyễn Thị Đào/ Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai…”. Thế là cô Đào được đi bước nữa, nhưng chẳng bao lâu sau chồng cô trở về và phát đơn kiện. Hậu quả là ông Huyện bị mất chức. Và lời bình của phim rằng: “Thế mới biết cái máu me văn nghệ dính vào việc quan trường gây ra nhiều sự rắc rối là thế!” (!)…

Hay là đoạn nói về vua Lê Thánh Tông dựng đình Quản Văn, trong có đặt trống Đăng Văn cho dân chúng đến kêu oan. Phim liên tưởng: “Giá như thời Lê mạt cũng có một cái trống như vậy thì dân chúng ở đây sẽ phải đinh tai nhức óc”! Toàn là nói việc người xưa “trị nước yên dân”. Nhưng không may cho ông Thủy, có người lại nói chuyện xưa sao nó lại giống hiện thực (bấy giờ) đến thế?!

Của đáng tội phim cũng có vài đoạn theo kiểu “nhân chuyện xưa nói việc nay”, như nói về triều vua Lê Thánh Tông: Trong 38 năm vị vua này cầm quyền, đất nước thịnh trị. Vua đã cho xây dựng bộ luật Hồng Đức, thành lập hội Tao Đàn, viết Đại Việt sử ký toàn thư, dựng bia Văn Miếu… Hiếm có vị vua nào làm được nhiều việc lớn như thế. Vậy mà khi điện Huy Văn, nơi bà Ngô Thị Ngọc Giao sinh ra vua Lê Thánh Tông, bị xiêu vẹo rồi đổ nát, người ta đã dọn đi để lấy chỗ làm trụ sở UBND phường! Lẽ nào điều đó không đáng nói hay sao?

Ông Thuỷ nhớ lại: “Có lần bộ phim đã được chiếu đi chiếu lại tới bốn lượt trong một buổi sáng tại Quân uỷ Trung ương – một chuyện lạ chưa từng có. Về sau Uỷ ban Khoa học xã hội đã phải tổ chức một cuộc toạ đàm “nghiên cứu” bộ phim, có các đại biểu của Viện Sử học, Viện Triết học, Viện Hán Nôm cùng tham gia. Không đại biểu nào có thể tìm ra bất kỳ một sai sót nào của phim.

Ông Thủy tâm sự: “Phim có nhắc về quan hệ giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi gốc người làng Nhị Khê (Hà Tây) nhưng sinh thành ở Hà Nội. Ông suốt đời mang nặng tâm huyết cho sự tồn vinh của đất nước và với thân phận của người dân: “Chăn lạnh vắt vai đêm chẳng ngủ/ Suốt đời ôm mãi nỗi lo dân”.

Ông cùng Trần Nguyên Hãn từng “nếm mật năm gai” suốt 10 năm trời phò Lê Lợi, nhưng khi lên ngôi vị vua này đã nghi kỵ cận thần, phế truất cả Nguyễn Trãi, Phạm Văn Sảo và Trần Nguyên Hãn.

Khi đã tống giam Nguyễn Trãi vào ngục rồi Lê Lợi còn hỏi ông nên viết quốc nhạc như thế nào? Nguyễn Trãi bình thản mà rằng: “Thưa bệ hạ, thương yêu dân chúng thì hãy làm những việc nhân đức. Đừng vì ơn riêng mà thưởng bậy. Đừng vì giận ai mà phản bội. Đó là cái gốc trường tồn nhất của quốc nhạc!”…

Sau khi xem phim, một nhà nghiên cứu lịch sử của Học viện Nguyễn Ái Quốc quê Thanh Hoá phản đối ông Thủy ầm ầm, rằng “Lê Lợi chúng tôi chưa bao giờ được miêu tả như thế!”. Người ta tranh cãi rất dữ, rằng phim “ám chỉ ông này, ám chỉ ông kia”. Và thế là từ đấy, không ai dám nhắc đến việc tiếp tục cho chiếu bộ phim này nữa…

***

So với những sự kiện văn hóa văn nghệ diễn ra trước “thời kỳ đổi mới” như loạt bài viết về khoán 10, khoán 100, phóng sự “Cái đêm ấy đêm gì?”, tiểu thuyết “Cù lao Chàm”… hay hàng loạt vở kịch chấn động dư luận của Lưu Quang Vũ thì xét về mốc thời gian, “Hà Nội trong mắt ai” của đạo diễn Trần Văn Thủy “đi trước thời đại” hơn cả…

“Cho đến năm 1985, mình không còn cái gì nữa” – ông Thủy chua chát kể lại: “Kể cả điều kiện làm việc cho đến “miếng cơm manh áo”, tất tật. Vợ mình bảo mình điên, bạn bè cũng nói vậy, nhưng khổ nhất là sự cô đơn. Đồng nghiệp bảy rưỡi, tám giờ sáng tề tựu ở cơ quan chỉ để xem mình… đã bị bắt chưa!”.

Nhiều năm sau này, có tờ báo phỏng vấn “trong những năm “Hà Nội trong mắt ai” bị cấm, ông làm gì?”, ông Thủy trả lời rằng: “Trong quãng thời gian nhàn tản không có việc làm này, tôi đã đến những nơi mình từng đến quay phim để chiêm nghiệm, suy ngẫm. Và tôi thường thắp hương lên bàn thờ nhà mình mà khấn rằng: “Thưa các bậc tiên tổ, con có tội tình gì không?”…

“Vì sao bộ phim không được chiếu? Xin các anh chỉ bảo cho những chỗ không phải, những chỗ sai để chúng tôi sửa” – Ông khẩn khoản “kêu”. Ban giám đốc Xí nghiệp (XN) “kính chuyển” nguyện vọng này lên những người “cầm cân nảy mực”. Họ đồng ý cho sửa bộ phim, nhưng khi hỏi “cần sửa chỗ nào” thì một người thốt lên: “Bộ phim này sai đến mức không thể sửa được”(!).

Cùng kíp làm phim có Lưu Hà, con trai ông Lưu Xuân Thư, Phó giám đốc XN phim Tài liệu khoa học Trung ương lúc bấy giờ. Đây là bộ phim đầu tay anh bấm máy, đồng thời là bài thi tốt nghiệp trường SKĐA. Ông Thủy “xui” Hà đề nghị nhà trường tổ chức chiếu phim này ở Cung Thiếu nhi để “báo cáo tốt nghiệp”. Danh sách mời ngoài giáo viên của trường có các học giả, nhà nghiên cứu, lãnh đạo nhiều Cục, Vụ, Viện… Cung Thiếu nhi là điểm chiếu phim sang nhất Hà Nội lúc ấy với hơn 500 chỗ, màn ảnh cực trắng, ánh sáng cực mạnh. Ơn trời, kế họach được chấp thuận! Khán giả đến chật cứng các hàng ghế, reo hò, vỗ tay tán thưởng ầm cả rạp.

Sau buổi chiếu, lãnh đạo XN đốc hỏi ông Thuỷ: “Bây giờ ý cậu thế nào?”. Ông đáp: “Bộ phim này ra đời không chỉ bởi cá nhân tôi mà còn do cả tập thể, của cả XN. Nếu phim hay, được khen ngợi thì là công chung, nhưng tại sao phim “có vấn đề” thì cả 100 roi các anh đánh cả vào tôi?”.

Họ thành thật: “Cậu nói phải! Nhưng bây giờ sửa thế nào?”. Ông Thuỷ nói: “Sửa thế nào là chuỵện của các anh. Bác Hồ dạy phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng. Ít nhất thì các anh cũng phải chiếu cho anh chị em trong XN, rồi chiếu cho XN phim truyện, Cục Điện ảnh, Xưởng phim quân đội, cho các hội văn học, nghệ thuật để người ta góp ý”. Ban giám đốc lên danh sách khách mời…

Xem xong, nhiều người thốt lên: “Sao cái phim như thế này lại định “cấm” kia chứ?”. Không ai, kể cả các vị bên Viện Triết hay Viện Sử, Viện Hán Nôm…, có thể tìm ra bất cứ sai sót nào. Nhưng vẫn có lệnh bất thành văn từ đâu đó: “Không được chiếu bộ phim này dưới bất kỳ hình thức nào!”. Đó là vào giữa năm 1983. Ông Thủy bắt đầu hết hy vọng…

Bỗng một hôm, ông Nguyễn Việt Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) gọi điện đến XN, đề nghị mang phim “Hà Nội trong mắt ai” lên chiếu. Ông Bùi Đình Hạc (mới được bổ nhiệm Giám đốc thay ông Lý Thái Bảo) trả lời: “Đã có lệnh của cấp trên là không được chiếu!”.

Ngày 15-10-1983, Văn phòng HĐBT lại gọi xuống. Ông Hạc lại từ chối với lý do: “Phim đang được cắt ra để sửa”. Nhưng từ đầu dây bên kia, giọng ông Dũng đĩnh đạc vang lên: “Chúng tôi biết phim ấy có thể chiếu được hay không chiếu được, nhưng đây là chỉ thị của Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng!”.

Kế hoạch chiếu phim “Hà Nội trong mắt ai” cho Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng xem được ấn định lúc 3 giờ chiều ngày 18-10-1983. Ông Thuỷ đề nghị đi cùng, giám đốc Hạc bảo: “Đi sao được. Vào đấy phải qua “cổng đỏ”, người ta điểm danh đấy!”. “Anh Hạc ơi! Anh cứ cho tôi đi cùng vì tôi muốn nghe bằng chính cái tai của tôi xem Bác nói gì. Còn nếu có điều gì không phải thì chắc là Bác cũng thương mà chỉ bảo cho thôi”.

Thế nhưng ông Hạc vẫn không đồng ý. Gần đến giờ hẹn, ông Thủy lẻn lên “con” Lada trắng của cơ quan, bụng bảo dạ: “Ngày xưa khẩu hiệu ở chiến trường là “nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”, giờ tôi cũng phải nắm lấy thắt lưng anh thôi”… Kể đến đây, ông Thuỷ bật cười. Nụ cười đầu tiên tôi được chứng kiến đã xóa tan những ưu tư trên gương mặt ông…

Đến nước ấy ông Hạc đành chấp thuận. Xe lăn bánh, đến Văn phòng HĐBT, bảo vệ từ chốt gác hỏi vọng ra: “Xe nào đấy?” – “Xe xưởng phim vào chiếu cho bác Đồng xem đây!”. Ông Thuỷ bê 5 hộp phim vào phòng khách.

Có người ra thông báo: “Bác đang tiếp Phó chủ tịch HĐBT Liên Xô A-li-ep. Các anh chờ một lát”. Bỗng dưng ông Thuỷ thấy lo lo… Gần 30 phút sau bác Đồng đến. Ông Thủy kể: “Vừa trông thấy chúng tôi, Bác đã bảo: “Muốn xem một bộ phim mà khó thế à? Nếu khó quá thì tôi không phiền các đồng chí nữa”. Dù sao Bác đã phải chờ ngót nửa tháng kể từ lúc yêu cầu xem bộ phim…”.

Linh tính mách bảo ông Thủy rằng ông đang gặp may. Ông vòng tay, nói: “Xin phép Bác cho cháu được thay mặt anh em trong đoàn làm phim bày tỏ lòng biết ơn Bác, vì việc nước bận như vậy mà Bác vẫn bớt chút thì giờ…”. Nói đến đây ông Thuỷ nghẹn ngào, không cầm được nước mắt. “Cháu ngồi xuống đây! Cháu ngồi xuống đây!”. Nghe giọng nói ân cần của Bác, ông Thuỷ bình tâm trở lại nhưng vẫn chưa dám ngồi. Bác cầm tay kéo ông Thuỷ ngồi xuống bên phải mình, bên trái là Giám đốc Bùi Đình Hạc…

Khi phim hết, đèn bật sáng, Bác vẫn ngồi lặng lẽ, đầu hơi cúi, tay đặt lên trán. Những người có mặt trong phòng cũng im lặng, nghe rõ tiếng quạt trần quay lạch phạch trên đầu, tiếng chú cún con nô đùa quanh chân bác.

Một lát sau Bác hỏi: “Những ai đã được xem phim này và họ nói những gì?”. Ông Hạc trình bày: “Thưa đồng chí! Đây là bộ phim được các đồng chí có trách nhiệm đánh giá là có vấn đề, mượn xưa để nói nay. Bộ phim đã không cùng Đảng giải quyết những khó khăn hiện tại mà nuối tiếc quá khứ phong kiến và gieo rắc vào quần chúng đảng viên những bi quan, hoài nghi và tiêu cực…”.

Trong lúc ông Hạc nói, ông Thuỷ như ngồi trên đống lửa, cứ nhấp nha nhấp nhổm đến mức ông Dũng phải vít vai mấy lần… Cuối cùng, ông Hạc “chốt”: “Thưa đồng chí! Những người có trách nhiệm kết luận rằng tác giả bộ phim không phải là một nghệ sĩ cách mạng”…

Bác quay sang hỏi ông Thuỷ: “Cháu có ý kiến gì không?”. Ông Thuỷ đứng lên thưa: “Thưa bác! Nếu bộ phim này có gì sai lầm thì đó là do lực bất tòng tâm chứ bụng dạ chúng cháu không nghĩ thế. Khi chúng cháu đến mộ bà Đoàn Thị Điểm thì thực sự chỗ đó là một đống rác. Chúng cháu phải thuê người dọn mất nửa ngày, rồi xin nước vôi quét lên bia mộ của bà, mượn một số chậu cảnh bày xung quanh rồi mới quay phim, để khỏi mang tội bất hiếu với tiền nhân…”.

Linh cảm mách bảo với ông Thuỷ rằng, trong cơn bão tố cuồng phong đang trải qua, ông đã tìm được một chốn an lành để trú ngụ, đó là sự bao dung, che chở của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Cuối cùng, Bác nói: “Tôi cũng không nghĩ sự thể lại quan trọng đến mức này”. Rồi Bác phân tích đoạn phim về Nguyễn Trãi là chuyện có thật trong lịch sử và nói về thân phận của Nguyễn Trãi chứ không chủ ý nói về Lê Lợi. Từng đoạn khác cũng được bác phân tích cặn kẽ…

“Tôi thật sự kinh ngạc về trí nhớ tuyệt vời của Bác. Bác chỉ xem phim có một lần trong khi trăm công nghìn việc đang chờ đợi” – ông Thủy trầm trồ kể tiếp: “Bác kết luận: “Ý kiến thứ nhất của tôi là: Nếu đã là anh em văn nghệ với nhau thì phải biết thương yêu, bảo vệ nhau. Các anh mà không bênh vực cho nhau thì còn ai bênh vực các anh? Ý kiến thứ hai của tôi anh Dũng ghi vào biên bản để gửi sang Văn phòng Ban Bí thư: Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt. Chiếu ngay lập tức! Nếu phát hiện ra cái gì sai thì chỉnh sửa”.

Bác còn dặn dò ông Thuỷ: “Khi nào cần cứ gặp bác. Cháu phải tìm mọi cách mà chủ động liên lạc với bác”…

Không biết có phải vì bức xúc trước số phận của bộ phim hay không mà tại buổi khai mạc Đại hội Điện ảnh toàn quốc lần thứ II diễn ra tại Cung Thiếu nhi chỉ 2 ngày sau khi xem phim “Hà Nội trong mắt ai”, Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng đã có bài phát biểu hơn 1 giờ đồng hồ trước hơn 500 nghệ sĩ điện ảnh toàn quốc.

Bác nói rất kỹ, rất mạnh mẽ, rất sâu sắc, về cách thức quản lý, lãnh đạo văn nghệ: “Đừng bắt anh em văn nghệ sĩ phải chui qua một cái lỗ kim, theo một khuôn mẫu có sẵn!”.

Hẳn những người có mặt tại buổi lễ còn nhớ mãi hình ảnh đầy ấn tượng khi Bác hướng về phía Chủ tịch đoàn Đại hội mà rằng: “Tôi lạy các anh! Tôi xin các anh! Khi duyệt phim thì cố gắng rộng lượng như tôi”. Cả hội trường lập tức vỡ oà bởi những tràng vỗ tay. Ai nấy đều hiểu Bác đang nói gì.

Với đạo diễn Trần Văn Thuỷ, có lẽ hôm ấy là một ngày hạnh phúc đến tột độ… Kể đến đây, ông không kìm được nỗi xúc động: “Một phần thưởng tâm linh, vô cùng cao quý hơn bất kỳ phần thưởng nào khác trong đời đã đến với tôi” – Ông nói trong nước mắt giàn giụa…

Từ đó, bộ phim bắt đầu được công chiếu rộng khắp cho mọi tầng lớp nhân dân xem. Hàng tuần liền rạp Tháng Tám và nhiều rạp khác ở Hà Nội chiếu phim này tới 3 ca/ngày, vậy mà ca nào khán giả cũng xếp hàng mua vé đông nghịt.

Nếu như ngày ấy mà có Ghi-nét Việt Nam thì phim này chắc chắn lập kỷ lục về “phim tài liệu ăn khách nhất”. Bộ phim đã tạo nên một cơn sốt khán giả, điều chưa từng xảy ra đối với phim tài liệu “nội”, bởi từ trước đến lúc bấy giờ phim tài liệu chỉ được chiếu “chùa”, chiếu kèm phim truyện. (Theo Trần Ngọc Kha – Hà Nội Mới)

———–

Ba Sàm bổ sung:

* Mời đọc thêm: Người anh tử tế Trần văn Thuỷ (blog Gocomay)

(Hình bên: Trên đỉnh đèo Hải Vân tháng 3.1988 – trên đường vào dự LHP VN-VIII ở Đà Nẵng (Từ trái qua phải: Thanh An, Phan Sơn, Trần văn Thuỷ, Phạm Cường)

* Giao lưu giữa khán giả và đạo diễn “Chuyện tử tế” (blog Bùi Văn Phú)

* Về phim “Hà Nội trong mắt ai” trên wikipedia.

* Nghe bản “Hà Nội trong mắt ai” – do Nghệ sĩ Ưu tú Văn Vượng trình tấu.

Đăng trong Lịch sử, Văn hóa | Tagged: | 9 phản hồi »

405. AI ĐÃ ĐẶT BÚT DANH CHO PHẠM THỊ HOÀI?

Đăng bởi anhbasam on 23/12/2009

Đôi lời: Talawas là một trang tạp chí mạng nổi tiếng và có một số phận kỳ lạ, do Nhà văn Phạm Thị Hoài, tác giả cuốn tiểu thuyết đầu tay mà đình đám Thiên sứ, cùng một số trí thức người Việt ở trong và ngoài nước chủ trương.

Ra đời cách đây 8 năm, sau một thời gian ngắn, talawas bị “tường lửa”, tức là độc giả trong nước không thể truy cập theo cách thông thường. Nghiêm trọng hơn, cách đây vài hôm, cùng với trang bauxitevn.net, talawas bị hacker tấn công một cách quy mô và có vẻ mang hơi hướng chính trị.

Vậy mà sức sống của nó vẫn rất mạnh. Bằng chứng là cho đến lúc này, talawas được mạng Alexa xếp thứ 54.362 trên hơn 2 tỉ trang web-blog toàn Thế giới và 26.192/ Hoa Kỳ, 2.247/ Việt Nam.

Thêm nữa, nhiều báo chí trong nước cũng đăng lại bài vở trên talawas, như Tạp chí Xưa&Nay của Hội Khoa học Lịch sử VN, đặc biệt có cả tờ Bản tin Tham khảo Đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam ra hàng ngày. Mới đây trên tờ này, ngày 17/12/2009, đã cho đăng lại bài “Một số vấn đề về dân chủ, nhân quyền trong chính quyền Obama”, với chú dẫn “trang mạng tiếng Việt www.talawas.de vừa đăng…”

Dưới đây là một bài viết mới nhất trên tờ Tiền phong Cuối tuần của dịch giả Dương Tường về Phạm Thị Hoài.


AI ĐÃ ĐẶT BÚT DANH CHO PHẠM THỊ HOÀI?

Số 51-từ 19-25/12/2009

Trong một bài viết gần đây trên Tiền Phong Cuối tuần, nhà văn Văn Chinh đưa ra một thông tin: nhà văn Ngô Ngọc Bội đã đặt bút danh cho nhà văn Phạm Thị Hoài, khi ông đang biên tập văn xuôi của tờ Văn nghệ, còn Phạm Thị Hoài thì gửi những tác phẩm đầu tay đến. Tuy nhiên, nhà thơ, dịch giả Dương Tường lại đưa ra một thông tin hoàn toàn khác.

Tôi vừa đọc bài “Ngô Ngọc Bội – nhà văn của Chiếc áo mới mặc buổi đêm” của Văn Chinh đăng trên Tiền Phong Cuối tuần số 49 (từ 5 – 11/12/2009). Cuối bài, có in chữ đậm: “Ít người biết rằng, chính Ngô Ngọc Bội đã đặt bút danh cho Phạm Thị Hoài, nữ nhà văn này gửi đến các truyện ngắn với bút danh Phạm Hoài Nam, ông đã khuyên và cô đã nghe, bút danh Phạm Thị Hoài gợi và đặc biệt phù hợp với chất văn của cô”. Không biết Văn Chinh lấy thông tin này ở đâu, nhưng tôi không tin rằng chính Ngô Ngọc Bội đã cung cấp cho anh chi tiết hoàn toàn sai sự thật đó. Bởi vì người đầu tiên đề xuất bút danh Phạm Thị Hoài với tác giả tiểu thuyết “Thiên Sứ” chính là nhà văn quá cố Kim Lân, “bà đỡ” đầu tiên cho tiểu thuyết nói trên. Xin kể hoàn cảnh ra đời của bút danh này:

Tên thật, tên khai sinh của Phạm Thị Hoài là Phạm Thị Hoài Nam. Theo tôi nhớ, cô có dùng bút danh Phạm Hoài Nam vài lần trong những bản dịch Durrenmatt. Brecht và Jorge Amado hồi cuối năm 1988. Bút danh Phạm Thị Hoài chỉ xuất hiện khi “Thiên Sứ” được in lần đầu (với một số đoạn lược bớt) trên tạp chí Tác Phẩm Mới. Ông Kim Lân hồi đó là thư ký toà soạn của tạp chí này. Một đêm, Trần Dần và tôi đi dạo bộ, vừa đi vừa bàn về tác phẩm nói trên mà Nam đã tin cậy đưa tôi đọc đầu tiên và sau đó tôi chuyển cho Dần. Đến ngang xóm Hạ Hồi thì trời đổ mưa to, Dần bảo tôi: Hay ta ghé nhà Kim Lân trú nhờ? Kim Lân niềm nở pha trà tiếp chúng tôi. Đang dở mạch chuyện với Dần lúc trước, tôi giới thiệu luôn với Kim Lân tác phẩm của nữ tác giả mới toe Phạm Hoài Nam. Dần đế thêm: “Các cậu đăng cái này mới thật là đổi mới”. Kim Lân nghe cũng hào hứng muốn đọc. Sáng hôm sau, tôi mang bản thảo “Tiểu thuyết số 1” đến cho ông (“Tiểu thuyết số 1” là tên ban đầu Nam định đặt cho tác phẩm của mình, theo cách của các nhạc sĩ: Giao hưởng số 1, 2, 3…, Sonate số 1, 2, 3…). Khoảng một tuần sau, Kim Lân đến tôi hớn hở: “Ký tắt với tổng biên tập Nguyễn Đình Thi rồi. Sẽ đăng sớm”. Ngừng một lát, ông nói thêm: “Nhưng cái tên tác giả Phạm Hoài Nam nghe banal (thường, nhạt) và chẳng nữ một chút nào. Sao không lấy luôn tên nhân vật chính, Hoài, Phạm Thị Hoài? Ờ, Phạm Thị Hoài, nghe được đấy chứ! Cả cái tít nữa. Bảo cô ấy xem lại đi. “Tiểu thuyết số 1” thì khó hấp dẫn độc giả lắm, người ta dửng dưng”. Tôi lập tức truyền đạt ý đó với Nam và cô rất thích thú chấp nhận cái tên mới do bậc trưởng lão đề xuất. Còn cái tên sách “Thiên Sứ” thì ít lâu sau, cô mới nghĩ ra.

Đầu đuôi là như vậy.

Đăng trong Văn hóa | Tagged: | 10 phản hồi »

404. Chỉ cần quốc kỳ còn nguyên?

Đăng bởi anhbasam on 23/12/2009

RFA

Chỉ cần quốc kỳ còn nguyên?

Trân Văn, phóng viên RFA
2009-12-22

(Phỏng vấn ông Nguyễn Thành Rum-Giám đốc Sở Văn-Thể-Du)

Theo thông lệ, mỗi khi tới dịp có nhưng ngày cần kỷ niệm, Việt Nam lại dựng pano, treo băng rôn, dán áp phích, nhắc nhở mọi người.

Hồi đầu tháng này, một số pano đã được dựng tại một số khu vực ở TP.HCM, nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2009) và những pano ấy đã tạo ra một vụ tai tiếng.

Không dùng VN, chỉ tín nhiệm TQ

Năm nay, mẫu pano được chọn để kỷ niệm ngày 22 tháng 12 tại TP.HCM, có hình một đoàn quân mặc lễ phục, súng đeo trước ngực, mắt nhìn thẳng. Sau lưng đoàn quân này là bóng một vài cao ốc, cần cẩu loại lớn. Bên trên đoàn quân là quốc kỳ Việt Nam.

Tuy hình ảnh đoàn quân được đặt bên dưới quốc kỳ Việt Nam và dòng chữ “Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân” nhưng người ta thấy các quân nhân trong đoàn quân ấy, không giống quân nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chẳng hạn, các quân nhân trong đoàn quân xuất hiện trên pano không dùng AK. Những khẩu súng mà họ mang trước ngực không phải là loại vũ khí cá nhân mà Quân đội nhân dân Việt Nam trang bị cho quân nhân của mình.

Sau khi ngắm qua một tấm pano như thế ở gần trụ sở Hội Chữ thập đỏ quận Phú Nhuận, một vài blogger đã thử tìm kiếm tung tích của đoàn quân xuất hiện trên pano “Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân” và phát giác, những quân nhân trong ảnh là lính Trung Quốc.

Ảnh chụp đoàn quân Trung Quốc được lấy làm nền cho mẫu pano “Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân” hiện có trên khá nhiều trang web của Trung Quốc như: china.com.cn, xinhuanet.com,…

Khoảng đầu tháng 12, tin tức và những hình ảnh nhằm giúp đối chiếu, phân tích câu chuyện khó hiểu ấy đã được một số blog và diễn đàn điện tử loan báo qua Internet. Sau đó, một số blogger cho biết, pano dựng gần trụ sở Hội Chữ thập đỏ quận Phú Nhuận đã được dỡ bỏ.

Tuy nhiên đến ngày 12 tháng 12, một số blogger khác cung cấp thêm một số ảnh cho thấy, pano theo mẫu vừa kể lại thấy được dựng trước trụ sở UBND quận 4, TP.HCM và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, Quận ủy của quận này.

Mới đây, blogger Nguyễn Quang Vinh, đồng thời cũng là phóng viên báo Lao Động, kể trên blog của ông rằng, sau khi biết chuyện, ông đã gọi điện thoại cho ông Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Văn hoá – Thể thao – Du lịch và ông Phạm Hoa, Đại tá, Cục trưởng Cục Tư tưởng Văn hóa thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, để báo tin. Các ông này đã cho kiểm tra và hiện nay, những tấm pano theo mẫu mà blogger Nguyễn Quang Vinh gọi là “bậy bạ”, từng được dựng tại nhiều nơi ở TP.HCM, đã được tháo dỡ.

Tuy nhiên, blogger Nguyễn Quang Vinh cho biết, ông chưa đủ thông tin để trả lời thắc mắc chung của nhiều người là tại sao mẫu pano ấy ra đời và sẽ có những ai phải chịu trách nhiệm về chuyện này (?).

Để cùng mọi người tìm câu trả lời, chúng tôi đã gọi điện thoại cho ông Nguyễn Thành Rum, Giám đốc Sở Văn hoá – Thể thao – Du lịch TP.HCM. Mời qúy vị cùng nghe:

Chỉ sai về bản quyền và chưa… thương lượng?

Trân Văn: Thưa ông, chúng tôi được biết, vừa rồi tại TP.HCM có một số pano được dựng nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và hình ảnh trên những pano này lại là lính Trung Quốc. Ông có thể giải thích với thính giả của Đài RFA lý do tại sao lại xảy ra chuyện đó?

Ông Nguyễn Thành Rum: Tôi không biết là anh khẳng định như thế nào về chuyện đó?

Trân Văn: Tôi có được xem một số hình ảnh trên Internet và những hình ảnh này ghi lại cảnh pano được đặt trước một số cơ quan công quyền, thành thử chúng tôi muốn hỏi thăm chuyện đó hư, thực ra sao?

Ông Nguyễn Thành Rum: Cái đó… nói chung là thế này… trong đó anh có thấy lá cờ không?

Trân Văn: Dạ có! Có thấy quốc kỳ Việt Nam…

Ông Nguyễn Thành Rum: Ừ… Ừ… Anh có thấy những ngôi sao trên mũ của bộ đội không?

Trân Văn: Hình không được rõ lắm.

Ông Nguyễn Thành Rum: Thế thì cơ sở nào anh cho là… cái đó là… của Trung Quốc?

Trân Văn: Một số blogger có chụp lại ảnh một số trang web của Trung Quốc, trong đó có ảnh gốc…

Ông Nguyễn Thành Rum: Cho nên cái đó đó, có nghĩa là thế này nè… À… đối với một số nhân viên của tôi đó. À… Anh em nó có sơ suất cái chuyện đó nhưng mà nó đã, nó đã chỉnh sửa lại cái hình đó chứ không phải là nó lấy nguyên xi. Bị vì… anh… anh đã thấy lá cờ Việt Nam mà đúng không?

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: Ừ… nhưng mà có điều là mình sử dụng cái hình ảnh của người khác là sai về nguyên tắc bản quyền.

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: À… Cho nên cái đó là… là… sau khi anh em nó làm thì chúng tôi đã cho thu hồi cái đó.

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: Và… chúng tôi có kiểm điểm anh em vì sao sử dụng như thế (?). Bị vì một đó là mình sử dụng, mình phải tính toán đến cái tác quyền, tính toán đến cái sự thương lượng trao đổi với người ta về nhiều mặt.

Trân Văn: Dạ…

Ông Nguyễn Thành Rum: Cái đó là cái sơ suất của nhân viên tôi, của chúng tôi.

Trân Văn: …nhưng thưa ông tại sao…

Ông Nguyễn Thành Rum: Cám ơn…

Trân Văn: Thưa ông tại sao lại không dùng ảnh quân đội nhân dân Việt Nam mà dùng ảnh quân giải phóng nhân dân Trung Hoa…

Đến đây dù không có tiếng gác máy nhưng chúng tôi không thấy ông Nguyễn Thành Rum trả lời nữa. Sau khi lập lại câu hỏi nhiều lần mà không được hồi đáp, chúng tôi đành gác điện thoại.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi sự kiện này và khi có thông tin mới, chúng tôi sẽ tường thuật tiếp.

Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | 30 phản hồi »