BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

411. Việt Nam Ăn, Ngủ, và Mơ mộng Trên những chiếc Xe máy

Đăng bởi anhbasam on 29/12/2009

The Christian Science Monitor

Việt Nam ăn, ngủ, và mơ mộng

trên những chiếc xe máy

Bằng chứng về bệnh loạn trí “mô-tô”: Một gia đình bốn người cưỡi trên một chiếc xe chạy quá tốc độ trong lúc cùng ăn một giỏ gà rán.

Bài của Patti McCracken, Cộng tác viên / Từ bản báo in, ra ngày 1-10-2008

Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Tôi đứng ngay bên ngoài cửa hàng, dựa vào khung cửa chờ giao nhận hàng. Trên bề mặt vỉa hè nứt nẻ trước mặt tôi là một người đàn ông ngủ ngay trên yên chiếc xe máy của ông, đôi cánh tay ông khoanh ngang trên ngực, chân ông duỗi dài gác lên tay lái xe. Bình tâm chìm vào trong giấc ngủ giữa ban ngày, ông bị vây bọc bởi những âm thanh điên cuồng chói tai trên đường phố, nơi có từng đàn xe máy khổng lồ đổ tới với trọng tải tối đa, lao nhanh theo đủ các hướng với đủ kiểu, chẳng quan tâm chú ý gì tới các bảng hiệu đi đường, đèn tín hiệu xe, hay thậm chỉ một chút ít trật tự.

Quan sát ông ta, theo cái cách không bị ảnh hưởng gì như thế, có lẽ ông có thể chợp mắt được giữa một cuộc loạn đả, tôi một lần nữa phải sững sờ bởi cảnh chợ vỡ tới quái dị của thứ văn hóa “mô-tô” ở Việt Nam này; một khung cảnh hỗn loạn ồn ào mà đơn giản chỉ là những âm thanh nhộn nhạo vô tội đối với cư dân địa phương.

Tôi phải trông chừng khi có vài chiếc xe máy vọt lên vỉa hè, lanh lẹ né tránh những đám người đi bộ và biến tuyến vỉa hè của thành phố này thành một làn đường nhỏ cho xe qua lại. Nổi lên trong dòng người xe chuyển động này là một tài xế “mô-tô” chất đầy trên xe những chiếc hộp đựng thiết bị máy tính, anh lạng lách vòng tránh người đàn ông đang ngủ và các thứ đồ trưng bày khác trên vỉa hè. Có vẻ như anh đang lái xe về phía cửa hàng tôi đang đứng. Tôi chợt tò mò, phân vân không biết khi nào thì tay tài xế này sẽ dừng xe, hay anh ta có dừng không. Tôi vội vàng đứng né sang một bên để nhường chỗ khi anh ta lựa thế đưa chiếc xe đến trước ngưỡng cửa, chỉ chớm vào bên trong cửa hàng y như một dấu chấm. Đối với một người ngoại quốc, hình ảnh này thật ngoạn mục. Còn người Việt Nam thì coi đó là một chuyện bình thường như hương vị vanilla người ta vẫn thường làm.

Với người Việt Nam, một chiếc xe máy không phải chỉ là một phương tiện giao thông, mà nó còn là một thứ chân tay nhân tạo được điều khiển bằng máy móc. Một bức thảm biết bay. Một chiếc phản lực cơ cá nhân, có thể đưa họ đi từ những căn phòng khách (nơi mà nhiều người dùng chứa xe máy luôn) tới ngưỡng cửa của bất cứ ngôi nhà nào. Chân cẳng là những thứ hỗ trợ cho việc di chuyển, chỉ được sử dụng như là một phương sách cuối cùng.

Và những chiếc mô tô nhung nhúc chạy qua các con phố và lao lên những vỉa hè, len lỏi và nhấn còi, né tránh và quay ngoắt, thường vụng về cùng với những thứ như là tấm kính, cánh cửa, các đồ dùng trong gia đình, và thậm chí kéo theo sau cả những thiết bị sân khấu.

Số lượng xe máy đang tiếp tục tăng lên tại Việt Nam và giờ đây nó xấp xỉ 20 triệu chiếc, theo như Ngân hàng Thế giới cho biết. Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây gọi là Sài Gòn) có 3 triệu chiếc – cứ khoảng hai người thì có một chiếc xe máy. Không còn nghi ngờ gì nữa, phần lớn nhất trong số xe máy di chuyển trên đường phố Việt Nam được gọi là “mô tô”, là thứ mô tô cỡ nhỏ dung tích máy từ 50 đến 400cc.

Tôi đã có chuyến viếng thăm lần đầu và lưu lại khá lâu ở VN cách đây hơn ba năm. Ngày qua ngày, tôi có thể ngắm nhìn – qua cửa sổ taxi – cái sân khấu xoay vần đến chóng mặt của xe cộ lưu thông trên phố. Từ nơi ẩn nấp trên băng ghế sau, tôi có thể ghi chép chút ít cho mình về những chiếc xe hai – và ba bánh – qua lại quanh mình, kéo theo hàng hóa – những chiếc xích lô chở đầy dừa; những chiếc xe đạp cũ kỹ phồng lên với những giỏ thịt tươi sống; các tài xế xích lô dận lên bàn đạp với những sợi xích bánh răng quá khổ; và hết lượt xe máy này đến xe máy khác chở nặng trĩu những chiếc tủ sách lớn cỡ 2 mét, các dàn máy nghe nhạc, tủ lạnh, những chiếc thang gấp, TV, những giỏ cần xé gà đã vặt lông, những thùng nhựa đựng cá sống, và những vỏ ruột xe.

Những siêu người hùng giao hàng này có thể chuyên chở được các bộ phận của những tòa nhà cỡ nhỏ trên một thứ không lớn hơn chiếc xe Vespa. Những chiếc xe hơi có thể bò một cách khó khăn dọc theo các con phố đông nghẹt của thành phố, thế nhưng cả dòng sông những mô tô và các loại xe cộ đã được cải biến cuộn chảy mau lẹ xung quanh chúng. Qua tầm nhìn của mình từ trong taxi, tôi cảm thấy như mình là một khán giả bị rơi tõm vào giữa một đám diễu hành.

Một cảnh báo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đọc nghe như là một bản tin toàn những điều cấp bách, nó nhắc nhở người Mỹ hãy đề phòng những chiếc xe máy nguy hiểm không được điều khiển cẩn thận: “Dòng xe cộ di chuyển về bên phải, tuy nhiên nhiều lái xe thường chạy theo hướng ngược chiều với người khác. Còi xe được sử dụng liên tục, thường là không có lý do gì rõ ràng. Bên ngoài các thành phố, gia súc lấn phần đường của xe cộ. Những người lái xe không tuân thủ các nguyên tắc giao thông căn bản và có rất ít thái độ tôn trọng luật giao thông … hầu hết người Việt Nam dùng xe máy; thường thì cả một gia đình cưỡi trên một chiếc xe.”

Gần cuối những tuần đầu tiên ở Việt Nam này, người thông dịch của tôi, anh Thiên, đã thuyết phục tôi rằng yên tâm để anh ta chở tôi trên chiếc xe gắn máy của mình.

“Trời đang mưa. Và chỉ cách đây hai đường phố thôi,” anh nói. “Ông đừng lo, tôi lái xe chậm thôi.”

Tôi nhổm lên và túm chặt vai anh. Trước khi Thiên lái xe đi được khoảng nửa thước, chúng tôi bị chặn ngang bởi một chiếc mô tô đang đổi hưởng rẽ vào một con đường trước mặt. Không có gì ghê hơn là sự va chạm của những bánh xe, và cả hai người cầm lái đều gật đầu với nhau một cách lễ phép trước khi người thứ hai vội vã đi luôn, lẩn vào làn sóng xe cộ đang đến gần.

“Không sao, không sao,” Thiện nói, cố trấn an tôi lần nữa. Tôi lại nắm chặt hơn.

Mặc dù các thành phố đã thống kê một con số đáng kể các vụ tai nạn, song tai nạn trên các đường cao tốc của nước này thậm chí tệ hơn. (80% các vụ tai nạn giao thông trên thế giới xảy ra ở Đông Nam Á, theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới).

Tuy vậy, người Việt Nam vẫn có vẻ như không bận tâm về điều này. Nổi đam mê cuồng nhiệt của họ đối với xe máy vẫn còn cùng với thói phóng túng cảm tử như các phi công phong thần trước những luật lệ và an toàn giao thông. Cuối năm ngoái, một quy định bắt đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy đã có hiệu lực. Trước đó, việc nhìn thấy một chiếc mũ bảo hiểm ở đây cũng tựa như phát hiện một con cá sấu Mỹ ở Bắc Cực. Và mặc dù các công dân tuân theo quy định này, vẫn có một tâm lý ác cảm với việc đội mũ xe máy. Đó là lý do vì sao họ lại gọi chúng một cách nhạo báng là nồi cơm điện.


Kể từ chuyến viếng thăm Việt Nam đầu tiên đó, tôi đã trở lại đây vài lần. Một buổi chiều tháng Sáu, tôi bước ra khỏi khách sạn của mình và nhận thấy một vị khách người Úc đang ngồi bên bậc cửa ngắm nhìn đường phố.

“Thú vị quá, hả?” tôi hỏi khi nhận ra cái vẻ mơ màng của ông ta trước dòng người xe chuyển động trên đường.

“Không thể tin nổi. Thật là kinh ngạc,” ông nói. “Tôi đã có những kế hoạch đi ra ngoài tối nay, nhưng, tôi sẽ không đi đâu nữa cả. Tôi đã ngồi đây hơn một tiếng đồng hồ rồi và đúng là tôi không thể rời mắt khỏi cái cảnh này được.”

Tôi bước nhanh vượt qua trước mặt ông khách người Úc đang quá ngạc nhiên mà không nói được tiếng nào và nhân tiện vẫy luôn một gã xe ôm. Anh ta rồ máy, vọt lên vỉa hè và hãm xe đúng sát giày của tôi. Lối phục vụ ngay trước mũi ngón chân đó muốn cho thấy anh ta đang mở rộng năng lực phục vụ theo kiểu ở các siêu cường quốc đối với tôi, đảm bảo để cho tôi không phải bước thêm một bước không cần thiết nào nữa. Tôi nhảy lên xe, thắt dây đeo trên cằm cho cái “nồi cơm điện” của mình và chúng tôi lên đường.

Tôi không hiểu nó tới từ đâu, cái ước muốn tự ném mình vào trong sự ồn ào vô trật tự đầy hứng khởi này. Thế nhưng nó xảy ra trong cuộc hành trình thứ hai của tôi tới Việt Nam, trong một chuyến trở về giữa đêm khuya trên xe máy được một anh bạn nhà báo mời. Nó có vẻ không được lịch sự khi nói lời từ chối. Và quá là hấp dẫn khách du lịch và người ngoại quốc, và đáng sợ để gọi một chiếc xe taxi một lần nữa. Và bản hợp xướng của các cư dân địa phương đã khích lệ tôi để quyết định chấp thuận. “Không phải lo! Chúng tôi sẽ chăm sóc ông!” họ reo lên.

Và tôi đã nhanh chóng cảm thấy bớt căng thẳng để được thanh thản trên những khúc vỉa hè huyên náo, nơi diễn ra những cảnh ăn uống, đánh bài, nhậu nhẹt, mơ mộng hão huyền, tán gẫu, sửa chữa đồ đạc, âu yếm nhau, ngủ, cắt tóc, và ngồi lê đôi mách.

Khi đi bộ, tôi cảm thấy như một kẻ đang vượt qua một căn phòng khách hết sức đông đúc. Khi đi xe máy, tôi bắt đầu bớt phải ôm chặt người cầm lái. Bộ dạng của tôi đã bớt cứng nhắc hơn. Tôi không còn gắng sức lội ngược dòng, thú vui của tôi khi ngồi phía sau xe máy với cảm giác y như đi trong vùng mắt bão. Tôi bắt đầu chọn ngồi xe máy đi bất cứ khi nào có thể. Tôi dọc ngang thành phố bằng xe ôm, đúng ra là thêm một món hàng nữa đang được chở ngang thành phố. Nhưng thứ hàng hóa đó là tôi. Tôi gia nhập vào đám đông dân chúng. Tôi cũng giống như chúng tôi.

Vèo vèo dọc theo con phố, tôi ngắm nhìn khi những gã đi xe máy vọt qua tôi. Tôi bắt đầu ghi chú bằng giấy bút, kìa đàng sau một chiếc xe gắn máy, những gì tôi nhìn thấy đang chuyển động: một gia đình bốn người trên một chiếc xe máy lượn quanh với một thùng gà rán, một chồng hoa tang lễ được chở đi, một chàng lái xe máy với một thùng tôm sống khổng lồ kẹp giữa hai đùi anh ta.

Tôi quay phim video trong khi anh chàng xe ôm quay ngoắt 180 độ giữa dòng xe cộ đang đi tới trên một cây cầu, rồi tôi tua băng lại để xem cảnh vừa quay, trong khi những chiếc xe máy khác vèo vèo sát bên cạnh làm tôi phải khép chặt hai gối lại.

Nhìn lại quá khứ, tôi phát hoảng về mối nguy hiểm mà mình vừa trải qua. Việc đưa số phận mình ra cho kẻ khác định đoạt đem tới nhiều điều hơn là một mạo hiểm nho nhỏ.

Giờ đây, nằm gác trên một cái bệ lò sưởi trong phòng làm việc của tôi với một nửa cái thế giới bên ngoài là chiếc mũ bảo hiểm. Thỉnh thoảng tôi lại nhấc nó lên và thử đội, khoe nó với bạn bè và kể cho họ nghe những câu chuyện trên đường. Tôi và bộ trang phục người hùng thượng hạng, đều nép mình an toàn trong nhà.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Đăng trong Gia đình/Xã hội | 3 phản hồi »

Tin 29-12-2009

Đăng bởi anhbasam on 29/12/2009

Tin sáng (thứ Ba, 29-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Ông Tô Huy Rứa: “Ngành tuyên giáo tạo đồng thuận cao trong xã hội” (TTXVN).

- Tại Việt Nam, tin tặc dùng thư giả mạo để chia rẽ nội bộ mạng thông tin Bauxite (RFI). Phỏng vấn Nhà giáo Phạm Toàn, 78 tuổi. – Năm 2009 tại Việt Nam, không gian tự do ngôn luận cho giới trí thức ngày càng bị thu hẹp. Một bài phân tích dài, có ý kiến của Nhà văn Nguyên Ngọc, TS Nguyên Quang A, GS Huệ Chi.

- Lại thêm một hành vi can thiệp vô lý của tổ chức Ân xá Quốc tế (CAND). - Ông Trần Anh Kim bị tuyên án 5 năm rưỡi tù giam (RFA/Viet-Studies). Phỏng vấn vợ ông T.A. Kim. - Vietnamese democracy advocate gets 5 years jail (Reuters). Sao mà tụi nhà báo nầy biết hết trơn dzậy? “Analysts say these trials, plus the jailing earlier this year of nine democracy advocates, appear organised to discourage dissent in the run-up to the next Communist Party Congress scheduled for early 2011. Tin nầy có trên nhiều báo khác như: New York Times; AFP; BBC News; Wtop; The Age; Métro Montréal; ADN; Air America… Mới có xử có 1 người mà đã có 226 bài báo lớn nhỏ nước ngoài lên tiếng (đúng là tụi “các thế lực thù địch” còn rất mạnh và vẫn “âm mưu chống phá” rất dữ, không biết 4-5 người sắp đưa ra xét xử sẽ như thế nào). BS kiến nghị các cấp lãnh đạo cần tổ chức lực lượng gồm những cây viết gạo cội và chuyên gia dịch thuật giỏi để gởi bài phản biện đăng trên các báo ngoại quốc nầy cho nhân dân thế giới hiểu ta hơn.

Chà … tờ kinh tế-tài chánh khét tiếng The Wall Street Joural cũng có hẳn một bài về vụ nầy, mà lại còn nằm trong mục “Top stories in World”: Vietnam Convicts Former Army Officer of Subversion. Lại còn mở cả chủ đề này để thảo luận trên mạng: “TOEING PARTY LINE vs. ONLINE DISSIDENTS”. Recent relentless crackdown on dissidents in Vietnam has raised an alarm among intellectual within Vietnam as well as foreign observers such as the EU Parliament and State Department. Hanoi will continue its “fishing expedition” as long as it can go along with impunity and the foreign observers are only paying lip services. Buy why Hanoi has decided now to launch such as major crack down? What is the consequence for Hanoi? What are the fates for these online dissidents particularly those inside Vietnam who are encountering more hardship and suppression from Hanoi?

Cảnh cáo tờ  Wall Street Journal, đưa chủ đề vô cùng “nhạy cảm” như thế này ra thảo luận mà không cảnh báo độc giả trước bằng câu: “Discuss with your own risk” (chấp nhận rủi ro khi thảo luận), rủi độc giả vào thảo luận tự do, đụng đến chủ đề đảng và nhà nước cấm rồi họ lại bị bắt, để báo lại có tin mà đưa nữa hả? Thiệt láu cá!

- Vietnam: In Hanoi 14 new priests are ordained, government sends mixed signals and churches are broken into (Spero News).

- Tiếp tục một bài nữa của ông Nguyễn Trung: Việt Nam nên đóng vai nào trong thế giới mới? (TuanVN)

- Chống tham nhũng: Cán bộ, đảng viên phải đi đầu, chớ đừng chỉ nói rồi để cho một mình nhân dân phải vật lộn (TTXVN). – Óa … Mừng quá! 3.000 trang tài liệu vụ PCI do Nhật chuyển giao đã được chuyển ngữ (VNExpress). Còn hiệu đính, trình lên “trên” duyệt nữa chớ? Cố nửa năm nữa nha.  – Ha ha! Hết từ để xài rồi sao PLTP? Phòng chống tham nhũng: Chuyển biến nhưng chưa căn cơ. Đúng là chiến đấu với tụi giặc nội xâm nầy là phải tính toán “căn cơ”, đừng có tích cực mà lại thành … “gậy ông (quan tham) đập lưng ông (tham quan)”, nhứt là thỉnh thoảng nhá nhá thành tích chút đỉnh thôi, nha.

- Vụ Nông trường Sông Hậu: Báo chí cần đưa tin nhiều chiều (VNN). Ưở … tưởng có chỉ thị ngưng đưa tin/bài vụ nầy rồi?

KINH TẾ

- Ông Hàn Mạnh Tiến, thành viên Đoàn chủ tịch VUSTA: 2010 – năm của ‘những khoản vay nóng’ (BBC).

- Hội nghị “Cơm Áo và Tự Do” tại Malaysia (RFA).

- Sữa tăng giá kiểu ‘lách luật’ (VNExpress).  – Trong khi đó thì bà con nông dân phải ‘Nhắm mắt’ bán bò vì… giá sữa nguyên liệu giảm (ĐViệt)

- Vietnam To Sell $200 Million Treasury Bonds Tuesday – Bourse (Wall Street Journal). Giao dịch chứng khoán: Việt Nam bán $200 triệu đô la trái phiếu kho bạc hôm thứ ba.

- Vietnam entering Iranian energy sector (UPI). Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực năng lượng ở Iran.

- Authorities in Vietnam Concerned About Gloomy Outlook for FDI in 2010 (Top News). Các nhà chức trách Việt Nam lo ngại về tương lai ảm đạm về đồng vốn FDI đổ vào VN năm 2010.

- China And Vietnam Plan Tourism Cooperation Zone (China Hospitality News).

- In Southeast Asia, Unease Over Free Trade Zone (New York Times). Tại Đông Nam Á, khu vực tự do mậu dịch không dễ dàng chút nào. Không dễ dàng ở chỗ nào? Nhìn vào bản đồ xuất nhập khẩu hàng hoác của các nước ASEAN ra/vào Trung Quốc bên tay trái sẽ rõ.

VĂN HÓA-THỂ THAO

-  Nhà giáo Phạm Toàn (người mấy bữa nay đang nổi tiếng thêm về vụ hacker-bauxite nêu ở đầu mục Chính trị):  “Xay lúa thì đừng ẵm em” (TuanVN)

- Ối giời! Phó TT Nguyễn Thiện Nhân: 2020 Phấn đấu là nước mạnh về văn hóa, du lịch (TTXVN). Vậy tham khảo thêm cái nầy chút: 225.Biến báo, đây nữa: 269. Văn hóa quản lý trong quản lý văn hóa.

- Trương Định có chống lại triều đình nhà Nguyễn? (KHĐS).

- Ly kỳ bảo vật Việt Nam – Những bảo vật của vua Hàm Nghi (TNiên)

- Phát hiện hàng ngàn cổ vật quý (TNiên).

- Phát hiện mới về Thái sư Trần Thủ Độ (ĐViệt)

- Khánh Hòa phát hiện di chỉ cư trú-mộ táng 2000 năm (TTXVN).  – Khai quật nơi cư trú của cư dân cổ tại Hà Nội (TNiên)

- Hà Nội: “Chướng tai gai mắt”, văn hóa phục vụ (24h/PLXH). He he! Không phải chỉ “văn hóa phục vụ” nha, mà đủ thứ khác nữa. Đơn giản là đang từ “kiếp nô lệ”, nhảy cái rụp lên thành “dân chủ XHCN” ở thì tương lai là vậy. Cực cái là giờ thứ “văn hóa” nầy nó cũng được du nhập vô Sè Goàng và khắp các tỉnh thành phía Nam rồi. Mời ngó thêm đây chút: 48:Sĩ diện!

- “Cuộc tình tay tư” HLV Calisto, VFF, T&T HN và ĐT.LA: Những chuyện bây giờ mới kể (TTVH)

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- Giáo sư như là một bằng tốt nghiệp ? (blog Ng.V. Tuấn/Úc). “Dù đã đọc nhiều văn bản về qui trình phong hàm giáo sư ở VN tôi vẫn không thể hiểu hết và hiểu nổi những phức tạp của cái hàm này. Có lẽ chính vì thế mà những chức danh GS/PGS của VN rất độc đáo, hiểu theo nghĩa không giống ai trên thế giới này.” VN còn có  rất nhiều thứ “không giống ai” nữa.

- “Quán cóc liêu xiêu một câu thơ” ở xứ người (TPhong)

- Để nghiên cứu không ‘xếp ngăn kéo’ (ĐViệt)

- Năm 2009: Năm ‘bùng nổ’ của Mạng xã hội (VNN).  – 2009: Năm thành công nhất của Twitter, Facebook (TTXVN).

- Egypt Debates Transplant Law, Hopes to Cut Organ Trade (ABC News). Ai Cập tranh luận về luật cấy ghép, hy vọng giảm bớt việc mua bán nội tạng.

Stem cell cure for attack victim (Tehran Times). Tế bào gốc chữa lành bệnh nhân bị hỏng mắt do bị thương (không phải do bẩm sinh). “The method involves taking a small amount of stem cells from a patient’s good eye, cultivating them in a laboratory, and implanting them into the damaged cornea.” Lấy lượng nhỏ tế bào gốc trong con mắt của người khoẻ mạnh, đem nuôi trong phòng lab, sau đó đem cấy vào giác mạc của bệnh nhân. Role Of Stem Cells In Renewing The Cornea (Science Daily). Vai trò của tế bào gốc trong việc phục hồi giác mạc.

- Couples Are Better Able to Cope With Health Shocks Than Singles, Study Finds (Science Daily). Nghiên cứu tìm thấy: những người có đôi có bạn thì có khả năng đối phó với những cú sốc về sức khoẻ tốt hơn là những người độc thân.

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Phó TT Hoàng Trung Hải: Ùn tắc giao thông ở TP.HCM là vấn đề của cả nước … bất lực (TTXVN). – Chống kẹt xe: Thu phí ô tô cá nhân, phạt cao hơn (VNN). Nguyên nhân lớn nhất là quy hoạch, xây dựng TP bát nháo, là khó sửa lại nhất, vì quá tốn kém và lại dính chùm với … tham nhũng, dốt nát, vô trách nhiệm.

- Trời đất … văn minh quá! Ngồi nhà ‘click chuột’ đăng ký hộ tịch (ĐViệt). Nhưng … còn thứ văn minh đích thực mà bao năm tranh cãi vẫn không xong, đó là: bỏ phứt nó đi. Cái thứ cũng … hổng giống ai trên thế giới nầy.

- 2 nhóm tàu cá hỗn chiến đổ lỗi lẫn nhau (VNN). Cái nầy sẽ giúp nghĩ kỹ về ý định tranh bị vụ khí cho ngư dân để chống tụi “tàu lạ”.

- Tại Nga, hai phụ nữ gốc Châu Á bị kẻ lạ thảm sát (RFI).

- Nổ mỏ than liên tiếp tại Trung Quốc, 17 người thiệt mạng (ĐViệt)

- Cấu trúc mạng Internet và tính đa nguyên về nội dung (TuanVN). Cứ nghe thấy từ “đa nguyên” là tui thấy run giò, lại đi theo cái thằng Anh-tẹc-nét nữa thì nguy hiểm quá. Phải đưa vô “Tự điển húy kỵ” một số cặp đôi từ ngữ kiểu nầy mới được.

QUỐC TẾ

- Những sự kiện quốc tế đáng nhớ trong năm 2009 (phần 1) (TuanVN). Và phần 2.

- Bắc Kinh và vở kịch cân bằng quyền lực (II) (VNN)

- Fury at China over refusal to pardon Briton (Guadian). Giận dữ vì Trung Quốc từ chối ân xá ông Briton, khi ông này bị bệnh tâm thần, tưởng qua bên đó làm ca sĩ nhạc pop nổi tiếng, ai ngờ sắp bị đưa sang thế giới bên kia

- Những người lính bất đắc dĩ (BBC). Chuyện Liên Xô vào Afghanistan năm 1979.

- Người Nga vẫn tiếc nuối một Liên bang Xô viết (VNN)

- Mỹ đã âm thầm mở thêm mặt trận thứ ba chống khủng bố quốc tế (RFI).

- Chính quyền Iran càng đàn áp, biểu tình đòi dân chủ càng lan rộng (RFI).

- Hàn Quốc đề nghị viện trợ Triều Tiên 22 triệu USD (TTXVN)


Đăng trong Điểm báo/Blog | Tagged: | 6 phản hồi »

410. Nét hiện đại và Cổ kính Hòa quyện Trong một Hà Nội Bất tận

Đăng bởi anhbasam on 28/12/2009

USA TODAY

Nét hiện đại và cổ kính hòa quyện trong một

Hà Nội Bất tận

Bài của Jerry Shriver, USA TODAY

Ngày 8-8-2008

HÀ NỘI – Cứ mỗi ngày, ngay khi ánh bình mình vừa ló dạng quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm đẹp như một viên ngọc, hàng trăm cư dân thành phố đã tề tựu hòa nhịp điệu cơ thể và tinh thần cho cuộc sống tương lai của mình. Những động tác tay chân, vươn thở hay trầm tư mặc tưởng như tín đồ Lão giáo – bất luận cách luyện tập thể dục nào cũng được miễn là cách ấy có lợi.

Vài người trong số họ tập co duỗi chân tay ngay bên dưới một màn hình video quảng cáo mới mở với những hình ảnh hào nhoáng đang đếm từng ngày cho tới dấu mốc 10-10-10 – tức ngày 10 tháng Mười, năm 2010 – khi thành phố này sẽ cử hành lễ kỷ niệm 1.000 năm thành lập. Những người khác lại chọn lối vào đền Ngọc Sơn, nơi ghi dấu “thời xa xưa,” theo như một tấm bảng trước cửa đền cho biết. Sau buổi tập của mình, vài người sẽ lang thang quanh Khu phố Cổ, có thể tới nơi làm việc tại một quán cà phê có hệ thống Internet không dây Wi-Fi, hoặc theo các du khách với công việc mời chào kẹo và bia tại ngôi đền Bạch Mã [1].

Thời gian, sự đúng lúc, sự tồn tại đời đời bất diệt – hết thảy đều tôn lên cho Hà Nội vào lúc này cái ý nghĩa lịch sử của mình. Nhịp điệu đều đặn của tấm lịch bằng hình ảnh, những âm thanh phát ra từ máy hát và tiếng động không ngớt của những đám xe máy tuôn qua các khách sạn xa hoa mới mở và những công trình xây dựng báo hiệu rằng một nền văn hóa lâu đời cùng một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trẻ trung và gần đây tỏ ra mạnh mẽ đang tiến tới tính hiện đại.

Thế nhưng ở đâu đó trong cái thành phố 3,1 triệu dân này, nơi có chức năng như trung tâm văn hóa và điểm trú đóng của một chính phủ cộng sản luôn tỏ ra cẩn trọng, thời gian như trườn đi hoặc tắc nghẹn hay xuất hiện trong sự biến dạng đến khó hiểu. Những nhắc nhở lạ thường và đôi khi khủng khiếp về một quá khứ bị vây bọc, bị xé nát bởi chiến tranh vẫn lay lắt nơi đây giữa những ốc đảo Châu thổ Hồng Hà thanh bình tươi đẹp. Và nơi đó vẫn còn sức lôi cuốn hấp dẫn.

“Hà Nội quá hấp dẫn bởi vì nó là một thành phố của những nét tương phản,” đó là nhận xét của ông Hữu Ngọc [2], 90 tuổi, một trong những nhà văn, sử gia văn hóa nổi tiếng nhất của đất nước này. “Thật thú vị để lần theo những biến đổi của nó từ cũ kỹ xa xưa cho tới nét mới ngày nay.”

Sự phát triển đang ngày qua ngày lôi cuốn mối quan tâm của thế giới bên ngoài. Như phần còn lại của Việt Nam, Hà Nội đang có được cú bùng nổ du lịch quốc tế và những lợi ích từ một nền kinh tế từng tăng trưởng 8% trong ba năm liên tiếp. Thành phố đã quyến rũ được 1,3 triệu du khách ngoại quốc vào năm ngoái, tăng 13% so với năm 2006, và một nghiên cứu của chính phủ đã dự đoán những lễ hội 10-10-10 (các chi tiết của lễ hội vẫn còn đang được giữ trong vòng bí mật) sẽ đem tới 2 triệu khách quốc tế và 1,7 tỉ Mỹ kim lợi tức du lịch.

Mức lạm phát hai con số gần đây có thể hạ nhiệt các kế hoạch kiến thiết mà cho tới giờ bao gồm việc xây dựng thêm năm khách sạn hạng sang, nhiều công trình kỷ niệm và một khu thương mại công nghệ cao. Thế nhưng động lực thúc đẩy là ghê gớm, và đáng ngạc nhiên, được căn cứ vào tình trạng đất nước này từng không có du lịch và phải ở bên bờ vực của nạn đói vào những năm đầu thập kỷ 1980 trước khi những cải cách kinh tế và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 châm ngòi cho đà tăng trưởng hiện nay.

Thành phố Hồ Chí Minh và một vài khu vực nghỉ dưỡng ven biển đã được thay đổi hoàn toàn; Hà Nội tiếp bước theo sau, mặc dù với một phương cách khác và một bước đi chậm hơn.

“Mười năm nữa, mọi thứ sẽ hoàn toàn mới mẻ,” đó nhà nhận định của Christian Porodon, tổng giám đốc khách sạn InterContinental Westlake, một tiền đồn bên bờ hồ thanh lịch vừa mới khai trương và cũng mới được đưa vào danh sách quan tâm hàng đầu [Hot List] của tạp chí CondéNast Traveler. “Ý chí và quyết tâm của dân chúng là hết sức mạnh mẽ, về những gì họ muốn đạt được và những nơi đâu họ muốn tới.”

Những dự đoán lạc quan như vậy ngày càng phổ biến trong ngành công nghiệp khách sạn này, song chúng cũng báo động cho những ai vẫn tin rằng vai trò quan trọng nhất của Hà Nội là định hướng và đặc tính của quốc gia.

“Với bất cứ ai tới thăm nơi đây, tôi luôn khuyên họ nên tới thăm miền bắc để chứng kiến tất cả những gì về đất nước Việt Nam,” ông Kurt Walter, sinh trưởng ở Thuỵ Sĩ, tổng giám đốc nhà hàng The Press Club, tâm sự. “Hiện giờ là lúc thích hợp để viếng thăm nếu như bạn muốn nhìn thấy quang cảnh thành phố, kiến trúc đô thị, cách sinh hoạt của dân chúng mà thành phố này đang có một thời.”

Hà Nội tự bộc lộ qua những gì mà nó chọn lựa để bảo tồn từ quá khứ 1000 năm ấy. Trước tiên là thân thể ánh vàng huyền bí của Hồ Chí Minh, được bảo quản trong một cỗ quan tài kính bên trong một lăng tẩm uy nghiêm có binh lính canh gác. “Bác Hồ” được yêu quý, người từng lãnh đạo chính quyền cộng sản cho tới khi qua đời năm 1969, đã được hưởng sự ái mộ hơn cả thân thế của Elvis [Presley], và mỗi năm có hàng nghìn khách ái mộ viếng thăm cái tổ hợp kềnh càng chứa đựng khu lăng mộ, ngôi nhà sàn ông từng sinh sống, một nhà bảo tàng và phủ chủ tịch.

Gợi nhớ hơn cho những người Mỹ là những vết tích của Cuộc chiến tranh Việt Nam, mà ở đây nó được gọi là Cuộc chiến tranh của Mỹ. Nhà giam Hỏa Lò, được người Pháp xây lên năm 1896 và có biệt danh sau đó là Hanoi Hilton khi giam giữ các tù binh Mỹ trong chiến tranh, giờ hầu như đã bị phá sập để giành đất xây hai tòa tháp cao làm nơi ở và văn phòng cho thuê. Nhưng một khu vực nhỏ được được giữ lại như là một viện bảo tàng buồn thảm, nơi đây một trong “những điểm nổi bật” giành trưng bày chiếc dù và bộ đồ bay mà phi công Hải quân John McCain từng sử dụng khi ông bị bắt năm 1967 sau khi chiếc phi cơ do ông lái bị bắn hạ và đâm xuống Hồ Trúc Bạch. Thật là ân cần, tấm thẻ bài của ông đã được nâng cấp để phản ánh đúng với những nỗ lực tranh cử tổng thống năm 2008 của vị đương kim thượng nghị sĩ.

Cách đó một vài khu phố, gần như ẩn phía sau mấy căn nhà trong một vùng lân cận khó tả, là vật kỷ niệm thậm chí còn kỳ dị hơn: một công trình điêu khắc trừu tượng màu trắng và một mớ những mảnh vụn đổ nát từ một trận bom B-52, nhú cao lên từ giữa Hồ Hữu Tiệp nhỏ xíu. Những gì gợi nhớ về 100 năm cai trị của thực dân Pháp đầy căm thù bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 vẫn còn đó trên những đại lộ kiểu Pháp và tòa Nhà Hát lớn, trong cách nấu nướng hậu hĩ của các nhà hàng ví như La Verticale và Le Beaulieu, và đáng kể nhất là tại Khách sạn Sofitel Metropol thượng đẳng. Được xây lên từ năm 1901 như là một trong những nơi tạm trú xa hoa nhất, khách sạn này đã trở thành một điểm ái mộ nhất của các nhà văn và nhà ngoại giao trước khi nó bị rơi vào thời kỳ kinh doanh khó khăn. Ngày nay, nhờ vào những sửa chữa phục hồi gần đây, khách có thể ngồi bên bể bơi dưới tán lá tre, nhấm nháp một ngụm rượu gin hòa với nước carbonic vắt thêm chanh, và tưởng tượng rằng giờ đang là năm 1952 và Graham Green [3] đang ngồi cạnh quầy bar phía bên kia lối đi.

Thật khác thường, thời gian hầu như bị lẫn lộn lung tung lên trong Khu phố Cổ (tên gọi khu vực 36 phố phường của Hà nội), khu này là một mạng lưới phức tạp của những con đường từ thế kỷ 13 vẫn được dùng như một trung tâm quan trọng cho giao dịch thương mại, cũng như ăn uống. Ở đây ta sẽ dễ bắt gặp những bà già đầu đội mũ rơm hình chóp, toòng teng hai sọt hàng hóa hai bên được treo trên một cái sào gỗ bắc qua vai [4]. Một cách bướng bỉnh, họ đòi chia sẻ lối đi trên các ngõ phố hẹp, rảo bước một cách quả quyết, ngược chiều với làn sóng lưu thông của xe gắn máy.

Tại Quốc lộ số 4, một quán ăn Phố Cổ chuyên về các món ăn theo cách nấu nướng miền bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Hoa truyền thống, được hiện đại hóa tạo nên một phong cách lạ lùng. Những chủ quán đã bớt dần thứ rượu lậu được ngâm với loài quạ khoang, ong, tằm và thay chúng bằng thứ rượu gạo và rượu trái cây thanh lịch với khẩu hiệu “tương lai của một truyền thống.” (Tuy nhiên, những lu rượu tắc kè giờ vẫn còn có trên thực đơn.)

Ở đâu đó, các nhà buôn ngồi chồm hỗm bên ô cửa, bán mọi thứ từ những con gà trống còn sống cho tới máy truyền hình, linh kiện xe hơi, thịt chó, đồ trang sức, những bức tranh cổ động của Đảng Cộng Sản được chuyển thành những vật trang trí có tính nghệ thuật và các loại cháo cá cháo vịt được phanh ruột ngay bên vỉa hè. Mặc dù có vẻ như không chắc một cơn lốc xoáy đem tới những gì chứa đựng trong hệ thống siêu thị Wal-Mart và Whole Foods và ký thác chúng trong sự hỗn loạn, thì hệ thống này cũng đã tồn tại được hơn 600 năm rồi.

Ông Hữu Ngọc sinh ra cách nay 90 năm tại Khu phố Cổ, ông nói rằng không biết liệu mình có được sống lâu thêm để hoài niệm khi đi bộ qua khu vực này vào ngày 10-10-10. Dẫu sao thì ngôi nhà nơi ông chào đời từ lâu đã được thay thế bằng một cửa hiệu buôn bán. Song ông có linh cảm chắc chắn rằng linh hồn của nơi này sẽ trường tồn, nếu không phải trên bề mặt mới mẻ như hiện nay, thì ít nhất cũng trong cái cốt lõi cổ kính của nó.

“Hà Nội vẫn là Hà Nội,” ông bảo. “Có rất nhiều, rất nhiều những phố phường đã đổi thay, song linh hồn Hà nội vẫn còn đó. Bạn có thể cảm nhận được về nó và trông thấy nó, ở Hồ Tây, trên những công trình kiến trúc kỷ niệm khác nhau, trên con Sông Hồng. Linh hồn này đang phiêu du.”


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


[1] Đền Bạch Mã: được coi là một trong “Tứ Trấn” của thành Thăng Long … (xem wikipedia Việt ngữ)

[2] Hữu Ngọc: Xem ” Món quà từ Hà Nội” (Tuổi Trẻ – 9/2/2007)

[3] Graham Green (1904-1939): nhà văn Anh, nổi tiếng nhất với tiểu thuyết, song cũng có nhiều truyện ngắn, kịch, ký sự và phê bình văn học (wikipedia). Có lẽ Việt Nam biết nhiều tới ông qua cuốn “Người Mỹ trầm lặng” (xuất bản 1955), được dựng thành phim năm 1958 và 2002 (wikipedia).

[4] Xin hiểu là “… những bà già đội nón lá, trên vai quẩy đôi quang gánh hàng hóa”. (Nhưng người dịch xin được dịch sát nội dung, đúng theo cách nhìn của người ngoại quốc và lối viết khôi hài của tác giả).

Đăng trong Văn hóa | 3 phản hồi »

Tin 28-12-2009

Đăng bởi anhbasam on 28/12/2009

Tin tối (thứ Hai, 28-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Đoan Trang: “Nhân thân tốt” – thuật ngữ của năm 2009 (TuanVN)

- Danh Đức: CHÚNG TA ĐANG TỰ VẬN? (Viet-Studies).

- Ông Trần Anh Kim lãnh án tù 5 năm rưỡi (BBC).

- Quà Tết và hối lộ (NNVN).  – Nhưng cái nầy hay hơn: LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CÓ MỘT ĐIỀU LUẬT…” NGỘ ” (blog Ph.V Đào).

Hà Nội: Mất chức vì đặt thừa… hai mâm cỗ cưới (DTrí). Cái tổ chức và những con người nầy có lối tư duy rất hợp với thời “cải cách ruộng đất” thế kỷ trước.

- VN khai thác bauxite ở Campuchia (BBC)

KINH TẾ

- Đầu tư nước ngoài vào VN giảm mạnh (BBC). – Du lịch Việt Nam ‘hụt’ mạnh lượng khách quốc tế (VNN)

- Danh Đức: Liệu có cân đối được xuất nhập khẩu? (TTrẻ). Được chớ! Nhưng … phải chấp nhận những điều kiện … rất khó nói.

Thôi thì tạm theo như tác giả, nói một cách khéo léo như vầy: “Muốn bền vững trong thương trường, cơ bản vẫn là cố gắng bớt những tác động không đáng có của những gì ngoài khuôn khổ của “thuận mua vừa bán” để có thể sớm cất cánh.” Tức là nói trắng ra, là bớt lỗi “hữu hảo” kiểu “môi răng” với anh “bạn 16 chữ” đi, mà cứ sòng phẳng như với mọi quan hệ quốc tế khác.

- Cái gọi là “công nghiệp ô tô” trong nước quá tệ, nên cái nầy góp thêm phần cho nhập siêu: 1,17 tỷ USD để nhập ôtô nguyên chiếc (VNN).

- Chất lượng tăng trưởng thấp và đang giảm dần (SGTT)

- Ông Đỗ Quang Hiển, chủ tịch tập đoàn T&T : “Tập đoàn tư nhân rồi sẽ có quy mô như tập đoàn nhà nước” (SGTT)

- TP HCM đắt đỏ thứ 10 châu Á (VNExpress)

- Vietnam Money-Dong rates up, some banks short of funds (interactive investor)

- Vietnam To Sell $200 Million Treasury Bonds Tuesday – Bourse (WSJ)

- Vietnam Dollar Trading +40.4% In Interbank Market -Central Bank (NASDAQ)

- In Southeast Asia, Unease Ahead of Free Trade Zone (NYT).

VĂN HÓA-THỂ THAO

- VFF không thuộc luật (BBC).

- Cổng chùa Trấn Quốc từ… trên trời rơi xuống? (VNN)

- Cấm chạy sô thì diễn viên bỏ nghề mất! (VNN)

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- “Choáng” với chuẩn đầu ra ngoại ngữ (VNN)

- 123 học sinh bị nhầm điểm, Phó giám đốc Sở bị kỷ luật (VNExpress)

- Giảng viên trường nào thu nhập cao nhất? (VNN)

- Bình Phước: Cụ già 79 tuổi ủng hộ 2,4 tỷ đồng xây trường (VNN)

- Hiện tượng Trăng Xanh vào đêm giao thừa 2010 (TTXVN).

- Video: Khám phá lăng mộ Tào Tháo (KHĐS).

- Trí tuệ nhân tạo cho trò chơi điện tử (BBC).

- Cấu trúc mạng Internet và tính đa nguyên về nội dung (TuanVN)

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Dòi lúc nhúc trong hàng trăm thùng nguyên liệu mứt (DTrí). Biết đâu đó cũng là một bí quyết đem tới hương vị đặc biệt?

- “Thủy tặc” phá Tam Giang (NTNN). -  Video: Lại thêm một hồ nước tại Hà Nội bị bức tử (VNN)

- “Cát cứ” thì khổ dân (blog Bút Lông)

- TP HCM sẽ kẹt cứng ôtô trong 3 năm tới (VNExpress). Có chí đâu, chuyện nầy với bao chuyện kỳ quái khác, để mai sau con cháu nó tài giỏi, nó lo.

- Khẩn trương đến ‘nghẹt thở’ (ĐViệt) Ưở … vậy là trám xong những vết nứt hồi nào ta? “Nghẹ thở” vừa thôi chớ không là lại nứt nữa nha.

- 1.500 tỷ đồng đầu tư siêu công viên nghĩa trang (VNExpress)

- Kỳ cuối: Cây cỏ máu bí truyền của người Rục (SGTT).

- Stranded Russian sailors go on hunger strike in Vietnam (RIANOVOSTI).  – Việt Nam: thủy thủ Nga tuyên bố tuyệt thực (blog Kichbu).

- Thái Bình: Máu ghen và hành vi tàn độc (GĐXH). Tiếp tục lên án hành động hủy hoại của quý. – Nhưng đây cũng không vừa: Móc mắt vợ vì ghen (VNN)

- Đây nữa một bằng chứng “phụ nữ vùng lên” tới đâu: Ai Cập: Một nữ nhà báo với ý tưởng một vợ bốn chồng (BVPL)

- Quan điểm: Khí hậu và con người (BBC).

- Khắc phục sai lầm – không bao giờ quá muộn (TuanVN)

QUỐC TẾ

- Liên Xô đã tấn công Kabul thế nào? (BBC).

- Kinh nghiệm cho VN: Học tiếng Trung ở Bolivia (BBC)

- Ấn Độ: Trung Quốc không còn là “con rồng ẩn mình” (Vit).


Tin sáng (thứ Hai, 28-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Phỏng vấn Nhà nghiên cứu Phan Thuận An: Thêm một tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa (RFI).

- Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỷ mới (TuanVN). Nguyễn Trung, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Chính phủ (dưới thời TT Phan Văn Khải), cựu thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (đã tự giải thể).

- Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”:Những đòn tấn công nguy hiểm vào kinh tế (QĐND). Đại tá-PGS-TS HOÀNG MINH THẢO (không phải cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo).

- Xét xử Trần Anh Kim về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (CPhủ)

- Bịt miệng trên không gian ảo (RFA/Viet-Studies). - Lời kính báo của Phạm Toàn (X-cafe).   - Sự bỉ ổi có phương pháp (blog Nguyễn Quang Lập). Hic hic! … Bữa qua BS cũng nhận được cái email mấy “tài liệu” độc nầy từ địa chỉ: Toan Pham <phamtoankhjemton@gmail.com, hỏng hiểu trời trăng chi, dzục sọt rác!

- Việt Nam thăm dò khai thác bauxite tại Cam Bốt ” tổng đầu tư trong giai đoạn một của dự án này sẽ lên tới 2,5 tỷ đô la, giai đoạn hai có thể lên tới 3,5 tỷ đô la “, tiền đâu ra ta?(RFI)

- Tham nhũng và trách nhiệm người đứng đầu (PLTP). Nếu quy trách nhiệm người đứng đầu thì nguy. Chắc … “mút mùa lệ thủy”? Phải nhờ đến Ngoại viện diệt nội xâm thôi.

- Tham nhũng cũng liên quan tới cái nầy: Giám đốc Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt – Nhật FuJii Takao: “Sợ nhất là trả lương cào bằng” (TTrẻ). Nhưng chuyện nầy vẫn diễn ra ở VN suốt nửa thế kỷ nay rồi, không ai dám (ít người muốn) phá cái thằng “cơ chế”, vì … coi BS phán lý do: Đồng lương thiếu đói.

- NGUYÊN CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN VĂN AN: Tranh cử, bầu trực tiếp sẽ tạo thống nhất cao hơn (PLTP). “Trực tiếp”, “tranh” thoải mái nhưng đều phải … “cử” là ổn thôi.

- Ái dà … nhà văn nói chuyện đi buôn … Hic hic! “Phen nầy ông quyết đi buôn … ghế” Kinh doanh quyền chức – Nghề kinh doanh lãi nhất (?) (TuanVN). Nguyễn Quang Thiều. Nhưng … Hu hu! Lại phải khóc. Điểm được một hồi đã có bạn đọc báo bài biến mất rồi. Vậy xin bà con chạy qua đây nha. – Hội chứng nói mãi về Hội chứng nhiệm kỳ (VNN) mà cũng không sửa được thứ quan trọng nhất-bộ máy tổ chức, nhưng vẫn nói “đổi mới” rất ngon lành. Và bài nầy nữa, đề phòng nếu bà con bấm vô không có bài thì cũng chạy qua đây nha.

Nhưng chiều nay hai bài nầy lại xuất hiện tại địa chỉ khác, đương nhiên có đổi cái tựa chút, còn nội dung chưa kịp so coi có được sửa không. Ngộ quá há? ‘Hội chứng’ nhiệm kỳ;  “Kinh doanh” quyền chức – Một hiện tượng đáng lo ngại

- Ngoài VN, Indonesia bắt cả ngư dân Malaysia, Trung Quốc: Four fishermen return home (The Star). “Musa said that besides them there were also fishermen from other countries such as Thailand, Vietnam and China.”

- Số phận con người trước cái ác, không phải chuyện của riêng ai (blog Nhạc sĩ Tuấn Khanh).

- Why is Beijing Afraid of Liu Xiaobo? (Asia Sentinel).

- Bad Year For Journalism (Asia Sentinel)

KINH TẾ

- Reform reversal? ((Economist). Reform of Vietnam’s lumbering state-owned sector has slowed”. Cải cách trong khu vực doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, vốn trì trệ, đã bị chậm lại.

- VIETNAM: Huge World Bank Loan No Free Ride (IDN)

- Năm 2009: Vốn FDI đầu tư mạnh vào bất động sản (DĐDNghiệp). Vẫn vậy trong nhiều năm nay, mà theo một kinh tế gia thì trên thực tế nó phải chiếm tới trên 80% FDI.

- Thắt chặt tiền tệ gây yếu kém thanh khoản ngân hàng? (VNEconomy). – Âm ỉ nỗi lo ngân hàng thiếu tính thanh khoản (VNN)

- Hơn 360 ngàn tỷ đồng đầu tư hệ thống cảng biển Việt Nam (SGGP). Liệu có mâu thuẫn, hay là “đổ thêm dầu…”, hay sẽ ngăn được cái nầy: Miền Trung-Địa phương nào cũng có sân bay, bến cảng…! (TTrẻ)

- “Bác” phương án tăng giá than cho điện của TKV (VNN).

- 80% nhà sản xuất, cung ứng đã tăng giá hàng hóa (VNEconomy)

- Hàng Việt Nam: Tốt ngoài sức tưởng tượng (TTrẻ)

- Chi phí vốn trong tín dụng đang bị đẩy lên cao (ĐViệt). “Lãi suất huy động (LSHĐ) đang nóng trong ngân hàng thương mại cùng với sự khó hiểu của thị trường này càng nảy sinh những dò đoán có dấu hiệu giống giai đoạn tháng 4/2008″

- Ai là người giàu nhất Việt Nam? (TPhong)

- Vietnam alters global pepper trade scenario (The Financial Express)

- China to stand firm on yuan’s strength (Straits Times). Trung Quốc đứng vững trên sức mạnh của đồng nhân dân tệ. Chà, ông Ôn Gia Bảo phát biểu dữ quá: By keeping the Chinese renminbi stable against the United States dollar, China was contributing to the recovery in the global economy, Mr Wen said in an online interview yesterday with Xinhua news agency.” Nhưng mà xem đây: ‘Bigger the boom, bigger the bust: China is no exception to that rule’ (DNA). Bạo phát thì bạo tàn, chắc sẽ không có ngoại lệ.

- Còn đây nữa: Lie #10: China Experienced Double-Digit Growth in 2009 (Blogging Stocks). Nói dối thứ 10: Trung Quốc tăng trưởng 2 con số năm 2009. “If you think China saw double-digit growth this year, you may also believe swine flu is spread via flying pigs.” He he he… “…shows GDP growth may have been just 2% in the first quarter rather than the reported 6.1%. And even that growth is being held up by government stimulus and state banks lending money to anyone and everyone to build capacity no one needs or to invest in Chinese equities no one can fairly value since Chinese accounting is as good as Chinese government data.” Xem thêm: How to Play the Great China Crash (Options Zone). And once China is revealed as the emperor, excuse me, chairman with no clothes, the commodity market will blow up as well. Chủ tịch “cuổng chời”??? Hic hic! …

VĂN HÓA-THỂ THAO

- Điển hình tiên tiến 2009 (blog Huy Bom). BS xin bổ sung về anh Hữu Ước: nghe đâu sẽ/đã lên Phó Tổng cục trưởng, vậy là ảnh sẽ vĩnh biệt làng báo. Hu hu … Tiếc óa! Còn bình về Ba Sàm thì … còn thiếu: “người khóc nhiều nhứt trong năm” nữa chớ? Hu hu! …

- Lưu Quang Phổ: Quách Đông Phương và ám ảnh làng quê (TNiên). Bài hay, tranh đẹp-độc đáo, ảnh chân dung nhân vật cũng ấn tượng.

- Nhà văn Việt Nam được tiếp đón như thế nào ở xứ sở Vạn Lý Trường Thành? (web Lê Thiếu Nhơn). “… Có điều, ở Trung Quốc phải thừa nhận, không khí tự do sáng tác vẫn hơn Việt Nam. Các nhà văn được đề cập thỏa mái mọi đề tài, kể cả những đề tài trước đây được coi là “cấm kỵ”. Vì thế chỉ trong một thời gian ngắn, ở Trung Quốc đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học được bạn đọc  trong nước đánh giá cao, dư luận nước ngoài chú ý”.

- Lê Thiếu Nhơn: Trang Thế Hy-ổ thụ sum suê lộc biếc (SGGP).

- Trở lại với di sản , thành tựu và hạn chế (blog Vương Trí Nhàn)

- Bài hát mới-nghe được: ĐÓN CHÀO MÙA XUÂN 2010 (blog Ng. Q. Minh).

- Tạo 150 mẫu gốm cho làng gốm cổ Phước Tích (TTrẻ)

- Trần Mạnh Hùng: “Quán quân” cả Giao hưởng và Ca khúc nghệ thuật (TTVH)

- Ly kỳ bảo vật Việt Nam – Độc đáo đàn đá Khánh Sơn (TNiên).

- “Bí mật” của những chiếc… răng vàng! (blog Đỗ Doãn Hoàng).

- HLV Calisto đối diện với ‘cuộc chiến pháp lý’? (ĐViệt)

- The secret of Vietnam’s success in Vientiane? (Inquirer). Bí mật trong thắng lợi của VN ở Viên Chăn?

- Vietnam dog tags not MIAs (Honolulu). “‘After examining and analyzing hundreds of dog tags, our research has concluded that 99 percent of the dog tags being sold on the streets of Vietnam are genuine, but are not from Americans listed as’ missing in action…”  “‘Sau khi kiểm tra và phân tích hàng trăm thẻ đeo của chó, [nhóm] nghiên cứu của chúng tôi kết luận rằng 99% thẻ đeo cho chó được bán trên đường phố Việt Nam là thật, chứ không phải thẻ của người Mỹ được liệt kê là’ mất tích khi thi hành nhiệm vụ…” “Considering the fact that 2.5 million American troops served in Southeast Asia, it’s not surprising that thousands of dog tags have ended up on the streets of Vietnam…” “Xem xét trên thực tế có 2,5 triệu lính Mỹ phục vụ ở Đông Nam Á, không có gì ngạc nhiên khi hàng ngàn thẻ đeo chó có mặt trên đường phố VN”.

- Trung Quốc khai quật mộ Tào Tháo (KHĐS)

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- Sản phẩm KHCN: Nhiều rào cản trong cạnh tranh (VNN).

- Đừng đánh giá giảng viên kiểu hình thức (TTrẻ). – Còn đây là lo sợ, muốn la làng, tới độ phải bẻ chữ thiệt khốn khổ Không nên dùng khái niệm “đánh giá”: Sinh viên đánh giá giảng viên- phù hợp hay không? (TuanVN). “Tôi cho rằng dùng khái niệm “đánh giá” là một yêu cầu quá cao đối với sinh viên”. Coi thường sinh viên đến thế là cùng! Lại còn đòi “cần phải có tiêu chí, nội dung, phương pháp đánh giá”. Hic hic! Nè … tui nghe ổng giảng, tui mắc ngủ, nha! Được chưa?

- Chương trình nghiên cứu Hoa Kỳ dành cho sinh viên năm 2010 (TTrẻ).

- Mô hình trường THPT chuyên: Hơn 40 năm vẫn chưa thống nhất mục tiêu (LĐộng)

- Anh và Mĩ không có bộ giáo dục và đào tạo? (Blog Nguyễn Văn Tuấn/Úc). Bữa kia BS cũng đọc khúc nầy, bán tín bán nghi mà chưa kịp hỏi ai.

- Bình Phước: Học sinh thiếu phòng, trường bỏ hoang (PLTP). – Nhưng … yên tâm đi, chánh phủ đã hứa Tới năm 2012, xóa bỏ phòng học tạm trên toàn quốc (CPhủ).

- Biến bùn thải nguy hại thành bê tông (PLTP). Chà … đưa công nghệ nầy lên giải quyết bùng đỏ bauxtie trên Tây Nguyên thì hay quá.

- Lắp động cơ vào đầu gối (TNiên)

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Voi Đắc Lắc trước nguy cơ chỉ còn trong truyền thuyết (SGGP). Chắc chắn!

- Hàng trăm tàu đang mắc cạn trên sông Hồng (SGGP).

- “Nghệ nhân” khâm liệm xứ Huế (KHĐS)

- Tội nghiệp bà con: Ngăn chặn một vụ hỗn chiến trên biển, tưởng với tụi “tàu lạ”, hóa ra giữa ngư dân Quảng Ngãi và Thừa Thiên – Huế.” (TNiên)

- Học sinh gốc Việt ‘bị hành hung’ ở Pennsylvania (VOA). Mách mẹo vô trang nầy: sau khi bấm chuột vô tựa đề, bà con bấm tiếp vô chữ Surf màu xanh sậm là vô trang tin liền.

- Chửa lạ: Chuyện “Có bầu mà không có thai nhi”: Cần sớm làm rõ sự thật (TNiên).

- Khó phạt người hút thuốc nơi công cộng (TTrẻ). Tất cả những chuyện nầy cũng như màn tè bậy, vứt rác bừa bãi … hãy học hỏi nước khác, coi họ thực hiện ra sao: ai phạt, mức phạt, cách phạt … Chớ cứ ngồi rên hoài tới khi nào.

- Viết tiếp vụ Ông “Hội đồng” vừa chất vấn vừa… kinh doanh: ”Lửa nhiệt huyết” hay ý đồ tư lợi ? (TNiên)

- Năm 2009: 33 người chết vì ngộ độc thực phẩm (PLTP).

- Socio- Economic Development, Urbanisation Pressures Vietnam’s Rivers Of Life (BERNAMA)

QUỐC TẾ

- Tổng thống Đài Loan kêu gọi Trung Quốc hãy khoan dung chấp nhận đối lập chính trị (RFI). Ưở, vậy mà cứ hay nghe trên VTV khi nói tới Đài Loan là lại thêm chữ “Trung Quốc”, rồi bữa qua trên Tuổi trẻ cũng vậy.

- Trung Quốc chưa thể trở thành cường quốc vì thiếu sót tự do, nhân quyền (RFI)

- Cướp biển Somalia thả tàu Trung Quốc sau khi nhận tiền chuộc (DTrí). Đúng là “khôn (ao) nhà (Biển Đông) dại chợ (Ấn Độ Dương)”!

- Hoa Kỳ tỏ thái độ thất vọng trước sự kiện Bangkok sắp sửa buộc 4000 người Hmong về Lào (RFI)

- Ngoại trưởng Nhật công du Nga hầu giải quyết tranh chấp lãnh thổ (RFI)

- Nga thử nghiệm máy bay thế hệ 5 (Vit)

- Hàn Quốc ký thỏa thuận hạt nhân 40 tỷ USD với UAE (KHĐS)

- Let the Kim Regime Collapse (Wall Street Journal). Hãy để chế độ của ông Kim sụp đổ. “With protests that forced a policy change, a sanctions regime that has so far deprived Kim of at least $18 million, and uncertainty about the Dear Leader’s succession plan, it may well be that this time around Kim is truly running out of money and possibly control. Rather than bail him out, Washington should let Kim fall. It’s the best chance the U.S. has of achieving its twofold objectives: denuclearization in North Korea and the eventual unification of the peninsula.

- Joan Smith: China behaving badly. Yet again (The Independent). They scupper climate talks, jail dissidents and execute prisoners. Some leaders just don’t care what the world thinks”. Joan Smith: Trung Quốc hành xử thật tệ. Họ phá vở các cuộc đàm phán về khí hậu, bỏ tù các nhà bất đồng chính kiến và xử tử tù nhân. Một số nhà lãnh đạo không hề quan tâm thế giới nghĩ gì về họ.


Đăng trong Điểm báo/Blog | Tagged: | 13 phản hồi »

409. MỸ ĐANG HÌNH THÀNH “VÒNG VÂY MỀM” ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Đăng bởi anhbasam on 27/12/2009

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

MỸ ĐANG HÌNH THÀNH “VÒNG VÂY MỀM”

ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Thứ Tư , ngày 16-12-2009

(Tờ “Đại công báo” của Hồng Công, số ra ngày 6/12/2009)

Ngày 18/11, tờ “Thời báo hoàn cầu” của Trung Quốc đưa tin, tại Bắc Kinh, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã cùng với tổng tổng thống Mỹ Barack Obama tổ chức hội đàm phạm vi hẹp trong vòng 80 phút, thời gian tăng gấp đối với dự tính ban đầu là 40 phút. Sau hội đàm, hai bên công bố bản “Tuyên bố chung Trung – Mỹ” lần này đặc biệt nhấn mạnh cần tăng cường tin cậy chiến lược Trung – Mỹ. Obama đã trực tiếp gọi quan hệ Trung – Mỹ là quan hệ đối tác.

1-    Mỹ cố tình nêu ra “khuôn khổ G2”.

Đương nhiên, trong thời gian tổng thống Mỹ Barack Obama thăm Trung Quốc (từ 15 -18/11), việc tạo ra bầu không khí hoà giải nhất định giữa hai nước Trung – Mỹ  là cần thiết. Nhưng vấn đề là ở chỗ Mỹ càng nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ Trung – Mỹ, các nước xung quanh Trung Quốc có thể càng lo ngại hơn. Bởi phương thức phối hợp và tác động lẫn nhau của Trung Quốc đối với các nước xung quanh không rõ ràng. Ví như trước đây, mô hình lãnh đạo của Liên Xô đối với Đông Âu theo hệ thống dọc (trực tiếp), còn Mỹ trong NATO theo phương thức hợp tác, bao gồm cả việc Mỹ dùng vũ lực đối với Ấpganixtan và Irắc, mặc dù xuất hiện vấn đề, nhưng về cơ bản đồng minh của Mỹ đều đưa quân đến Ấpganixtan và Irắc.

Tháng 6/2008, trong thời gian diễn ra “Hội nghị đối thoại chiến lược kinh tế Trung – Mỹ” (SED) lần thứ tư, Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế quốc tế Peterson của Mỹ, Fred Bergsten có bài viết đăng trên tạp chí  “Ngoại giao” của Mỹ nêu rõ SED cần được nâng cấp thành cục diện nhóm hai nước (G2) và G2 cùng lãnh đạo trật tự kinh tế thế giới. Bài viết cho rằng Trung Quốc và Mỹ cần cùng nhau hưởng quyền lãnh đạo thế giới và dần đưa Trung Quốc thay thế địa vị của châu Âu. Sau đó một bài viết khác của chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), Robert B. Zoellick cũng ủng hộ thiết lập “G2” về kinh tế và lấy đó dẫn dắt Nhóm 20 nước (G20).

Cục diện “G2” do Trung Quốc và Mỹ hình thành, kỳ thực đối với Mỹ rất có lợi. Bởi các nước xung quanh Trung Quốc, trên thực tế đều ngấm ngầm hướng sang phía Mỹ, có điều là hiện nay, đà Trung Quốc hùng mạnh là khó có thể ngăn cản, cho nên hành động của các nước này tốt nhất là làm thế nào để thu lợi trong sự hợp tác cùng nhau. Các nhà phân tích chiến lược Trung Quốc nêu rõ bất kể nhìn từ góc độ nào, cụ diện “G2” đối với Trung Quốc đều có hại. Không chừng đây là sự khởi đầu của một “vòng vây mềm” mà Mỹ đang hình thành đối với Trung Quốc. Bên cạnh đó, các nước xung quanh Trung Quốc thường là “sớm Tần chiều Sở” (ý nói thay đổi liên tục), có khả năng sẽ lợi dụng để thăm dò thực lực tổng hợp của Trung Quốc. Thực ra trước đó, ngày 20/5/2009, tại cuộc họp báo về cuộc gặp lần thứ 11 giữa lãnh đạo Trung Quốc với lãnh đạo châu Âu tại Praha, Thủ đô Cộng hoà Séc, Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc Ôn Gia Bảo nêu rõ gần đây có người nói thế giới sẽ hình thành cục diện Trung Quốc và Mỹ cùng thống trị, đây là tuyên bố không có căn cứ, là sai lầm.

2- Mỹ đang hình thành “vòng vây mềm” đối với Trung Quốc.

Cái gọi là “vòng vây mềm” của Mỹ đối với Trung Quốc khác với chiến lược Mỹ lợi dụng Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á bao vây Trung Quốc trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Hiện nay cái gọi là “quyền lực mềm” mà ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đưa ra, mục đích chủ yếu nhất chính là sự bố trí nhằm vào các vấn đề trong chiến lược mở rộng của Trung Quốc. Trung Quốc đồng thời với thực lực kinh tế được tăng cường, làm thế nào để tiến hành phân phối chiến lược quốc tế hợp lý những thực lực kinh tế này, trở thành vấn đề chiến lược lớn nhất của Trung Quốc. Những tuyên bố mới đây của Cố vấn cấp cao Chính phủ Xinhgapo, Lý Quang Diệu liên quan đến việc kêu gọi Mỹ can dự vào công việc châu Á để cân bằng với Trung Quốc là một minh chứng điển hình.

Trên thực tế, do các nước xung quanh Trung Quốc có Nga rất khó đối phó; các nước Trung Á thường xuyên biến động; Ấn Độ liên tiếp đưa ra những lời lẽ chống Trung Quốc; Philippin tồn tại tranh cãi với Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền biển Nam Trung Hoa (biển Đông); ngay cả Inđônêxia cũng có tâm lý chống Trung Quốc, vì thế Xinhgapo mới có không gian đưa ra một số những tuyên bố kỳ lạ. Hơn thế, lãnh đạo Trung Quốc thích thăm các nước phương Tây nhất, thành quả cũng rất rõ ràng, nhưng lại rất ít thăm những nơi mà tại đó thế chiến lược của Trung Quóc còn rất “mỏng”, đây chính là vấn đề lớn nhất của lãnh đạo Trung Quốc hiện nay.

Đặc tính lớn nhất của “vòng vây mềm” là ở chỗ các nước xung quanh Trung Quốc còn chưa xác định rõ cách thức đối phó đối với sự phát triển của Trung Quốc. Trong lúc này, nếu như Mỹ càng chú ý tới sự bành trướng của Trung Quốc, các nước khác càng lo ngại. Như đã nói ở trên, mới đây, trong cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Mỹ, cựu Thủ tướng Xinhgapo, hiện đang là Cố vấn cấp cao Chính phủ Xinhgapo, Lý Quang Diệu đã bày tỏ Mỹ cần tham dự công việc châu Á, để cân bằng với sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Lý Quang Diệu nêu rõ hạm đội viễn dương của Trung Quốc khi đã có tàu sân bay, sẽ không chỉ để ngăn chặn thế lực bên ngoài can thiệp vào cuộc xung đột tại Eo biển Đài Loan. Nếu như Mỹ không tiếp tục tham gia công việc châu Á, để cân bằng với sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc, có thể Mỹ sẽ mất đi địa vị lãnh đạo toàn cầu.

Tuyên bố của Lý Quang Diệu đã khơi dậy sự bất bình của cư dân mạng Trung Quốc. Một lượng lớn cư dân mạng Trung Quốc thậm chí oán trách: Trung Quốc coi họ (chỉ Xinhgapo) là người Hoa, trái lại họ đã không coi người Trung Quốc là người nhà. Còn giới học giả Trung Quốc cho rằng Xinhgapo có ý đồ lớn, hoang tưởng trở thành Ixraen ở châu Á. Phó Viện trưởng Học viện quan hệ Quốc tế thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, Giáo sư Kim Sán Vinh bày tỏ tuyên bố không mấy hữu hảo đối với Trung Quốc của Lý Quang Diệu lần này, Trung Quốc sẽ không để ý tới, bởi vì phương hướng lớn của Trung Quốc là “giấu mình chờ thời”

Mặc dù tuyên bố của Lý Quang Diệu có thể coi là nhân vật quan trọng, tại địa điểm mấu chốt, nói ra những lời Mỹ muốn nghe và phản ứng của cư dân mạng Trung Quốc là chính xác, nhưng nội dung oán trách là có vấn đề. Nhìn vào thực tế, trong quá trình Trung Quốc quan hệ với ASEAN đã quá nghiêng về coi trọng Xinhgapo. Bởi vì quan chức của Trung Quốc phát hiện ra rằng trao đổi với Xinhgapo dễ có được thành tích nhất, với Malaixia và Inđônêxia có tâm lý bài Hoa nhất thời khó có thể giải quyết, còn Philíppin quá thân Mỹ và còn tranh cãi chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc, với Việt Nam thì vấn đề cũ vẫn còn tồn tại, mâu thuẫn cũng khó có thể giải quyết được ngay. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng sau khi Trung Quốc giành nhiều sự ưu ái cho Xinhgapo, năm 2009, dưới tiền đề kinh tế Xinhgapo tăng trưởng âm, tăng cường quan hệ với Mỹ chính là mấu chốt để Xinhgapo thoát khỏi khủng hoảng kinh tế trong năm 2010.

Thói quen ngoại giao của Trung Quốc rất giống với tác phong chủ quan liêu ở trong nước, chính là khi tập trung lợi ích quá độ, các nước khác chia sẻ lợi ích trong đó là rất khó. Ví như trong số các nước Đông Nam Á, đương nhiên lợi dụng Xinhgapo để đạt được mục đích ký kết trong các hiệp định của các nước Đông Nam Á. Điều này rõ ràng có tác dụng tích cực, nhưng sau đó giải quyết thế nào việc phân phối lợi ích của Trung Quốc trong các nước Đông Nam Á mới là vấn đề khó khăn. Tất cả những vấn đề khó khăn cần giải quyết nhanh này, từ những tuyên bố của ông Lý Quang Diệu đều có thể nhận thấy rất rõ.

3-    Sách lược Chiến tranh Lạnh vẫn đang được vận dụng.

Sách lược của Mỹ đối với Trung Quốc hiện nay rất giống với biện pháp năm xưa Roosevelt (Franhklin Delano Roosevelt 1882 – 1954, Tổng thống thứ 32 của Mỹ) dùng để đối phó với Stalin (Joseph Vissarrionovich Stalin 1879 – 1953). Năm xưa, khi Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp kết thúc, tại Hội nghị Yalta (Hội nghị cấp cao Chính phủ Mỹ – Anh – Liên Xô, tổ chức tại Yalta thuộc bán đảo Crưm phía Bắc Biển Đen, từ ngày 4 – 11/12/1945), Stalin đã giành được nhiều lợi ích thực chất cho Liên Xô ở Đông Âu và Đông Á. Năm đó, sách lược của Mỹ là giữ vững kinh tế của các nước Tây Âu đang đứng bên bờ vực phá sản, đồng thời thành lập Tổ chức NATO trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Phía còn lại là Liên Xô đã thành lập Tổ chức Vácsava do Liên Xô đứng đầu. Nói một cách tương đối, hồi đó Tổ chức Vácsava luôn trong thế tấn công, vào thập niên 1960, trong quá trình tiến công của Vácsava, mâu thuẫn giữa các nước Đông ÂU và Liên Xô dần dần bộc lộ, trong đó mâu thuẫn giữa Hunggari và Nam Tư với Liên Xô là gay gắt nhất. Cuối cùng sự giải thể của Tổ chức Vácsava là do hai nguyên nhân gây ra, một là Liên Xô mở rộng quá nhanh và hai là Liên Xô đã thực hiện lãnh đạo trực tiếp đối với các nước Đông Âu.

Hiện nay, vấn đề lớn nhất trong đàm phán giữa Trung Quốc với Mỹ là ở chỗ Trung Quốc mãi mãi không tin vào lời nói của Mỹ là sự thật, còn Mỹ luôn có thái độ cảnh giác cao đối với tâm lý chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc. Điều này rất giống với quan hệ của Trung Quốc và Liên Xô trong thập niên 1960, điểm khác là trong số các thứ trưởng ngoại giao của Mỹ nhất định có một quan chức rất quen thuộc về công việc của Trung Quốc, như vậy mỗi khi có vấn đề nhỏ, Chính phủ Mỹ đều có thể nắm bắt được ngay. Ngoài ra, còn một vấn đề khác là nguyên tắc lớn nhất của đội ngũ cố vấn cấp cao của Mỹ đối với Nhật Bản và Trung Quốc chính là hạn định Nhật Bản nằm trong chuỗi đảo bao vây Trung Quốc, tức Mỹ đã nâng cao địa vị chính trị của Nhật Bản. Đây là vấn đề Trung Quốc cần hết sức chú ý.

***

Trong khi đó, chuyên mục ”Tầm nhìn quốc tế” của tờ “Minh báo” Hồng Công, số ra ngày 7/12 cho rằng trong chuyến thăm Trung Quốc mới đây, những gì mà tổng thống Mỹ Barack Obama thể hiện đã khiến báo chí Mỹ kịch liệt phê phán. Thái độ của Obama là không đủ cứng rắn và rõ ràng trong vấn đề nhân quyền và vấn đề tỷ giá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. Thậm chí báo chí Mỹ còn đánh giá rằng Obama thăm Trung Quốc lần này đã không đạt được bất kỳ một nhận thức chung thực chất mới nào với phía Trung Quốc, nhất là trong vấn đề khí hậu được thảo luận trong hội nghị Côpenhagen tại Đan Mạch.

1-    Sự khởi đầu một giai đoạn mới của quan hệ Trung – Mỹ

Quan sát tường tận có thể nhận thấy, trong thời gian ở thăm Trung Quốc, Obama đã để cho báo chí chính thức của Trung Quốc “đạo diễn”. Ngoài ra còn một điểm đáng chú ý khác là không giống với những người tiền nhiệm như Tổng Thống Clinton hay tổng thống Bush, khi thăm Trung Quốc đều có cơ hội diễn thuyết tại các trường đại học danh tiếng của Trung Quốc và được đài truyền hình Trung ương Trung Quốc truyền hình trực tiếp, Obama chỉ được bố trí đối thoại với sinh viên Thượng Hải trong một hội trường khiêm tốn, các sinh viên đến tham dự là do phía Trung Quốc lựa chọn. Tất cả những biểu hiện này đã phản ánh hai thực tế: một là “sức mạnh” ngoại giao của Obama chưa đủ tầm và hai là sau khủng hoảng tài chính, địa vị quốc tế của Mỹ suy giảm.

Thế nhưng, bất kể là như thế nào, một thực tế không thể phủ nhận là chuyến thăm Trung Quốc lần này của Obama cho thấy quyền lực toàn cầu đang từ Mỹ chuyển sang Trung Quốc và xu thế này là không thể đảo ngược. Đây chính là nhân tố chính thúc đẩy quan hệ Trung – Mỹ bước vào giai đoạn mới, trong đó vị thế của Trung Quốc ngày càng được củng cố hơn. Gần đây, đã xuất hiện khá nhiều tín hiệu cho thấy khủng hoảng tài chính đã làm suy yếu địa vị của Mỹ, đồng thời khiến cho chính phủ Mỹ không thể như trước, khoa chân múa tay với tất cả các nước trên thế giới, giáo huấn các nước cần phát triển kinh tế như thế nào. Trong quá trình dịch chuyển quyền lực này, Trung Quốc rõ ràng là bên được lợi và hệ quả là kể từ hôm nay, Trung Quốc không cần thiết phải cam chịu sự chỉ đạo của người khác đối với vấn đề tỷ giá đồng nhân dân tệ của chính Trung Quốc.

2-    Khủng hoảng tài chính đã làm thay đổi địa vị nước Mỹ

Các nhà phân tích Trung Quốc cho rằng báo chí Mỹ coi cuộc gặp giữa Obama và Hồ Cẩm Đào không có kết quả là hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế, nói như vậy là đã bỏ qua một điều quan trọng: đây chính là sự nối dài tuy không ầm ĩ nhưng hữu dụng của đối thoại chiến lược và kinh tế song phương Trung – Mỹ hồi tháng 7/2009. Bản “Tuyên bố chung Trung – Mỹ” mà Obama và Hồ Cẩm Đào đưa ra sau cuộc hội đàm lần này chính là sự trình bày một cách chính thức và toàn diện nhất từ trước đến nay về lợi ích chung Trung – Mỹ. Đây hiển nhiên không phải là nhận thức ở một tầng nấc cao hơn, mà chỉ là công bố trước công chúng sự trao đổi rất rộng rãi ở cấp chính phủ giữa hai nước, biểu hiện ở hàng trăm bản thoả thuận, hàng trăm dự án hợp tác, do hàng chục ban ngành của hai nước Trung – Mỹ triển khai.

Có điều bản “Tuyên bố chung Trung – Mỹ” lần này không chỉ trình bày những gì đã xảy ra, mà quan trọng nhất là sự miêu tả của Oasinhton về tính chất quan hệ Trung – Mỹ đã thay đổi. Ban đầu cựu Tổng thống Mỹ Bush nêu rõ Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh chiến lược”. Sự hình dung của Bush vẫn còn mang theo tâm lý đề phòng Trung Quốc và cho rằng Trung Quốc sẽ gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của Mỹ. Sau khi Bush liên nhiệm, cựu đại diện thương mại của Mỹ, Robert Zoellick được Bush triệu đến để khởi thảo về một “chiến lược Trung Quốc”. Robert Zoellick nêu rõ Mỹ  cần hỗ trợ Trung Quốc trở thành “bên tham dự có trách nhiệm” trong hệ thống toàn cầu. Rõ ràng so với những phát ngôn ban đầu còn mang nặng trạng thái tâm lý đề phòng Tung Quốc, định vị của Robert Zoellick  về Trung Quốc đã có sự cải thiện nhất định, mặc dù trong đó vẫn ám chỉ “Mỹ là đàn anh, còn Trung Quốc là đàn em. Mỹ đem ân huệ đến cho Trung Quốc, cứu Trung Quốc”.

Giờ đây, sau cơn “sóng thần tài chính”, mọi người đều nhận thấy, trong hệ thống toàn cầu, Mỹ là một bên tham dự vô trách nhiệm nhất, vì thế trong quan hệ Trung – Mỹ, cần có một sự thể hiện mớivề vai trò của Trung Quốc. Trên thực tế, sự thể hiện mới này đã dược định đoạt hồi tháng 7/2009, lúc đó quan chức chính phủ Mỹ đã trình bày một cách khá rộng rãi về tình trạng kinh tế Mỹ trước quan chức chính phủ Trung Quốc. Điều này khác biệt hoàn toàn so với các vòng “đối thoại kinh tế chiến lược” Trung – Mỹ trước đó, thường là do phía Mỹ đơn phương đưa ra hàng loạt yêu cầu, còn Trung quốc thận trọng thiết lập “chướng ngại vật” để cản đường. Còn “đối thoại chiến lược và kinh tế” Trung – Mỹ hồi tháng 7 vừa qua, thực tế đã là hai bên “có đi có lại”, xác nhận mỗi bên đều có quyền lợi hợp lý trong công việc của đối phương. Lúc đó, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton còn bày tỏ rõ mục tiêu của Mỹ là trong hợp tác đa phương toàn cầu, đưa Trung quốc trở thành một đối tác hợp tác trong đó. Hàm ý trong đó là Mỹ đã coi Trung Quốc là đối đẳng, đưa vào phạm trù có thể có sự hợp tác thực chất còn về các vấn đề không có không gian để đối thoại do hình thái ý thức khác nhau, cần gạt sang một bên trước đã. Điều này không đại diện cho quyền lực từ Oasinhton đã chuyển dịch sang Bắc Kinh và Oasinhton vẫn nắm được hình thái quan hệ song phương Trung – Mỹ. Trái lại điều này đã thể hiện sự bá quyền thành thục của Mỹ, Oasinhton tin rằng quan hệ hợp tác tốt đẹp có thể khiến cho hai bên đạt được kết quả nhiều hơn, hiển nhiên điều này so với sự tự tôn tự đại của Mỹ trước đây vẫn tốt hơn rất nhiều.

3- Vấn đề tỷ giá được đưa vào “tuyên bố chung” một cách khéo léo trong bản “tuyên bố chung Trung – Mỹ” lần này, có một điều mà dư luận bên ngoài đã hoàn toàn bỏ qua. Đó chính là Obama và Hồ Cẩm Đào đã thoả thuận rộng rãi về vấn đề tỷ giá đồng nhân dân tệ, cũng như vấn đề mất cân bằng trong thương mại Trung – Mỹ và đã khéo léo, thậm chí kín kẽ đưa những gì đã thảo luận vào bản “tuyên bố chung”lần này:”Trung Quốc và Mỹ nhất trícùng nỗ lực áp dụng chính sách điều chỉnh nhu cầu trong nước và giá cả tương quan, thúc đẩy thương mại, tăng trưởng bền vững và cân bằng hơn”. Các nhà phân tích Trung quốc cho rằng “giá cả tương quan” ở đây chính là tỷ giá đồng nhân dân tệ.”Tuyên bố chung” bày tỏ rõ sự phối hợp giữa Trung Quốc và Mỹ trong chính sách kinh tế đã được tiến thêm một bước, theo đó quan chức hoạch định chính sách  của hai bên sẽ điện đàm hàng tuần.

Về vấn đề khí hậu, Trung Quốc và Mỹ đều bày tỏ rõ hai bên đã tiến gần đến chỗ đạt được một khuôn khổ chính trị, chi tiết sẽ bổ sung sau, đây là một tiến triển rất lớn. Có thể dự đoán tại “Hội nghị Copenhagen” lần này nhiều khả năng Trung Quốc sẽ công bố một cam kết mới. Còn trong vấn đề dân chủ và nhân quền, những người chỉ biết chửi bới ầm ĩ và lên án Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ đưa ra câu hỏi: rốt cuộc chửi bới ầm ĩ có tác dụng thực chất gì? Obama hiểu rõ phê phán Trung Quốc xâm phạm nhân quyền, có thể sẽ khiến cho một bộ phận người dân Âu, Mỹ hữu khuynh có được sự bằng lòng về đạo đức, nhưng sẽ rất khó để tưởng tượng những phát ngôn này có thể ảnh hưởng đến bố trí chính trị của một quốc gia khổng lồ như Trung Quốc. Mỹ muốn mở rộng tự do và dân chủ ở Trung Quốc, biện pháp tốt nhất là giải thích với người dân Trung Quốc: vì sao dân chủ tự do là giá trị phổ quát, dân chủ tự do không phải là sự độc quyền của văn hoá phương Tây.

Tại Thượng Hải, chính Obama đã làm như vậy. Bài phát biểu của Obama có tới 50 triệu cư dân mạng Trung Quốc truy cập. Tổng thống Obama nói: “Những quyền như tự do ngôn luận và tín ngưỡng, tiếp cận thông tin và tham gia chính trị được chúng tôi tin là phổ quát. Các quyền này cần dành cho mọi người, gồm cả các sắc tộc thiểu số và tôn giáo, dù họ ở Mỹ, Trung Quốc hay bất kỳ nước nào”. Trên thực tế, phát ngôn như vậy của Obama cũng là quá đủ để đáp ứng nhu cầu truyền bá tự do dân chủ của Mỹ./.

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: , , , | 5 phản hồi »

Tin 27-12-2009

Đăng bởi anhbasam on 27/12/2009

Tin tối (Chủ nhật, 27-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Ý CHÍ CỦA TỔ TIÊN VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO (blog TS Nguyễn Xuân Diện).

- Thành lập Ủy ban Biên giới đất liền Việt-Trung (BBC).  – Trung Quốc thông qua luật Bảo vệ hải đảo.

- Hải quân Việt Nam + 6 Kilos (Viet-Studies).

- TS Giáp Văn Dương: Tránh ổn định giả tạo nhờ giá đỡ phát triển (TuanVN). Ôi! Không biết các bác lãnh đạo có ai đọc loạt bài nầy cho dân nhờ hông ta?

- Đại biểu vẫn tiếp xúc chủ yếu với đại cử tri (VNN). Kêu bằng “đại cử tri” là học theo ngôn từ các nước văn minh, chớ trên thực tế những vị nầy đâu có giống “đại cử tri” theo đúng nghĩa. Hay là “cử tri” vỗ tay đại, gật đại, cười đại? … Hic hic!

- Bình luận về các vụ xử đối kháng (BBC).

- Czech Wounds Still Open, Communists Face a Ban (NYT).

KINH TẾ

- 21,48 tỷ USD vốn FDI đổ vào Việt Nam năm 2009 (VNN).

- Bình Phước: Chi tiền tỷ xây chợ rồi… bỏ hoang (VNN). Yên tâm đi, chánh phủ mới ban hành Nghị định tăng vốn đầu tư phát triển chợ nha.

- 440.000 tỷ đồng phát triển cảng biển đến năm 2020 (TTXVN)

- TS Nguyễn Quang A: Siết quản lý sàn vàng có phạm luật? (TPhong)

- Charles Darwin – Người chết sống lại (VNN).

VĂN HÓA-THỂ THAO

- BỤI TRONG NẮNG (Văn nghệ trẻ-số 52/Viet-Studies).

- Trước Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam ra nước ngoài Cửa đã mở nhưng chưa có lối đi (SGGP).

- Số hóa sách ở Việt Nam: Google thất thế và cơ hội của sách số trong nước (Phong diệp/SGGP)

- Kiếp cầm ca (DNSG/TT).

- Những bí mật quanh vụ mất trộm báu vật quốc gia năm 1961 (KHĐS)

- Từ ‘cụm hoạt động’ chọn ’sự kiện VH–TT-DL tiêu biểu’ năm 2009? (VNN). Khái niệm kỳ quặc, lựa chọn nặng chất chính trị. Vẫn lối tư duy vậy làm sao phát triển du lịch? Mời xả bức xúc chút vậy: 223.Đội đá vá hòn.

- Nghe thèm: Năm 2009, Trung Quốc có 25 nhà văn triệu phú (TPhong)

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- TRAO ĐỔI VỀ VIỆC SỬ DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ CỦA MÔN NGỮ VĂN Ở BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Phong diệp)

- Hữu Ngọc: Cái thời dân “An Nam” học tiếng Tây (SKĐS).

- 12 con giáp có nguồn gốc Việt (KHĐS). Mời đọc thêm: 282. Giả và thực / Kinh Dịch của người Việt?

- Kỹ sư người Việt đón Giáng sinh với robot kiều diễm (VNExpress)

- Nuôi cấy giống ngô có tính chống chịu mặn cao (TTXVN)

- Nước Anh thiếu tinh trùng hiến tặng (ĐViệt). Ta nhắm coi xuất khẩu được hông? Chớ “xuất” người qua nó đuổi về tội quá.

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- 2 xe khách đâm trực diện: 16 người chết và bị thương (TTXVN).

- Nhiều dự án ở Hà Nội vi phạm quy định đào đường (TTXVN). Có thể nói là đường nội đô HN nát chưa từng thấy, nên lẽ ra ngành Giao thông Công chánh khỏi phải xây những con lươn giảm tốc băng ngang nhiều đoạn đường chi cho uổng tiền, sanh cực thêm cho dân. Hay là đào kiểu nầy vậy: 05:Tàu Ngầm Đạp.

- Những khuyến nghị cho quy hoạch giao thông Hà Nội (TuanVN). Đừng mơ “quy hoạch giao thông” một khi quy hoạch thành phố bất hợp lý. Ví như cho xây búa xua những khu chung cư cao tầng giữa nội đô, phát triển những khu dân cư mới không đồng bộ (thiếu không gian cây xanh, vui chơi, trường học, …), hạ tầng nát be bét…

- An Giang: Bài 2: Khi buôn lậu sẵn sàng tỷ thí (VNN).  BS từng than, xưa “chiến tranh nhân dân”, nay “buôn lậu nhân dân”, rất khó xử lý, lực lượng đâu cho xuể. Chỉ bằng phương cách giải quyết tận gốc rễ là lo đời sống, mần ăn ổn định cho bà con thì mới đỡ được thôi. – Đâu xa, xin ngó đây: Sóc Trăng: Dân nghèo bị cán bộ ấp ăn chặn (TPhong). Nhưng đúng là khó cho một bộ máy tham nhũng quá nặng theo lối “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.

- Số ca ung thư dạ dày ở Trung Quốc tăng nhanh (TTXVN)

QUỐC TẾ

- Thủ tướng Ukraine phủ nhận lời cáo buộc từ Gazprom (Vit).  – Năm 2010: Ukraine sẽ tự khai thác khí dầu tại Biển Đen (Vit)

- Nhà hoạt động nhân quyền Mỹ vượt biên sang Triều Tiên (Vit)

- Nga giảm tuyển nhân công ngoại trong năm 2010 (ĐViệt)

- Thụy Điển điều tra âm mưu tấn công Chính phủ (ĐViệt)

- 88 Queensway của Trung Quốc và chiến lược tiếp cận Angola (phần 2) (TuanVN)


Tin sáng (Chủ nhật, 27-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Ái dà dà … nghe đã chưa: Cuối năm 2010 Việt Nam sẽ triển khai lực lượng khinh hạm tàng hình (Vit). “Tàng hình” với “bạn” thôi chớ đừng để bà con ngư dân lầm với tụi “tàu lạ” nha các chú bộ đội.

- Thiệt tếu trò ú tim quanh trang bauxitevn.info, cứ thoắt ẩn thoắt hiện.  – SỰ BÍ HIỂM CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ MÁY LUYỆN ALUMIN TÂN RAI-LÂM ĐỒNG ? (blog Phạm Viết Đào). Một trong 2660 cọc khoan nhồi có đường kính 80 cm được đào sâu 34 m và đào thủ công không sử dụng máy móc. Đây là một trong những nét bí hiểm của công trình xây dựng này: Tại sao không dùng máy khoan ? Có yểm trấn gì không ?

Chắc phải nhắc lại cái nầy: 264. Long mạch: lo nhà, bỏ quốc gia.

- Quý I-2010, ra mắt chương trình truyền hình Quốc hội (PLTP)

- Tưởng niệm Pháp chủ đầu tiên Giáo hội Phật giáo (TTXVN). – Tâm tình và trăn trở của các tu sinh trẻ Tu viện Bát Nhã (VOA).

- Hà Tĩnh: Công an xã dọa phóng viên (PLTP).  – Bình Phước: Một nghi can chết tại trụ sở công an xã.

- Đòi lại đất công: Bất lực trước 10 khu đất vàng (SGTT)

- Senate confirms L.A. attorney Dolly Gee as judge; she’ll be first Chinese-American woman on federal bench (LA Times). Mặc dù người Trung Hoa đã có mặt tại Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ 19, mãi đến 2 thế kỷ sau mới có bà Dolly Gee là người phụ nữ Mỹ gốc Trung Hoa đầu tiên được bổ nhiệm làm thẩm phán liên bang. Vẫn còn sau Việt Nam, một cộng đồng định cư ở Mỹ chưa tới 35 năm, nhưng cô Jacqueline Nguyễn là người VN đầu tiên được bổ nhiệm vào chức vụ này hồi đầu tháng 12/09.

- VALENTIN CEAUSESCU: BỐ TÔI TRỞ NÊN NGU XUẨN BỞI BỌN THAM MƯU ( AP )… (blog Ph.V. Đào).

KINH TẾ

- TS Nguyễn Quang A: Vì sao các chính sách công nghiệp thất bại (LĐCT). Ối giời! Trả lời được câu hỏi nầy thì … “đến Tết” mới nói hết được! Nào là ham “đi tắt đón đầu”, năng lực bộ đã máy kém lại tư lợi, tham nhũng, tâm lý mần ăn chụp giựt, chánh sách bất hợp lý…

- Nỗi lo quy hoạch bị phá vỡ (TBKTSG)

- Việt Nam, Campuchia ký thỏa thuận tới 6 tỷ USD (TTXVN).

- Giá tôm sú nguyên liệu tăng cao nhất trong năm (TTXVN)

- Mở rộng đối tượng được tiến hành hoạt động dầu khí (ĐBND). Sẽ như Nga, có những ông chủ dầu lửa trong tập đoàn cổ phần dầu khí như Gazprom?

- Thị trường hàng không: buồn nhiều hơn vui! (TBKTSG).Năm 2010, Vietnam Airlines nhận 16 máy bay mới  (TNiên)

- Vay mới, áp lực mới (SGTT). Nhưng tâm lý các quan nhà ta cứ thấy “tụi tư bổn giãy chết” cho vay là sướng. Nợ đâu sau con cháu trả.

- Vietnam eyes Bangladeshi mobile operator: minister (AFP). Bộ trưởng Bưu chính Viễn thông Bangladesh nói: (Viettel) Việt Nam để mắt tới việc đầu tư vào hãng điện thoại di đông Teletalk thuộc sở hữu nhà nước Bangladesh.

- Một bài phân tích rất hay về thực trạng tăng trưởng kinh tế ở TQ: Structural Flaws Will Limit China’s Rise (World Politics Review). Những sai lầm về cấu trúc sẽ hạn chế Trung Quốc phát triển kinh tế. “To put China’s growing addiction to loans from state-owned banks in perspective, its banks lent out $150 billion in 2001, $380 billion in 2003, $750 billion in 2008, and $1.13 trillion in the first 7 months of 2009 alone. In other words, growth is largely the result of state-controlled entities pouring money into fixed investment projects.Nhà nước đổ tiền vào để sửa những dự án bị hư hỏng,  (Một độc giả nhắc BS đoạn nầy dịch tầm bậy, xin sửa lại là Nhà nước đổ tiền vào các dự án đầu tư cố định (cơ sở hạ tầng, đường xá, cầu cống…) như thế sao gọi là tăng trưởng? Trong trường hợp này, GDP là con số âm thay vì cộng thêm vào. Ở VN ta cũng vậy, xây một cây cầu cũng làm tăng GDP, công trình xây cây cầu này bị rút ruột, cây cầu bị hư, bỏ tiền ra sửa lại góp phần gia tăng GDP nữa (Hic hic! Dzui dzẻ há?). Liệu GDP trong trường hợp này có thể hiện một nền kinh tế phát triển bền vững? Xem thêm sách: Will China Fail của Dr. John Lee, giá $25 Úc kim.

- China PBOC Adviser: Should Be Prepared For Policy Change (Wall Street Journal). Cố vấn của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (tức Ngân hàng Trung ương) khuyên: nên chuẩn bị cho sự thay đổi chính sách. People should be prepared for change in China’s macroeconomic policy as the country’s economic situation shifts…Người dân nên chuẩn bị cho sự thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô ở Trung Quốc khi tình hình kinh tế của đất nước thay đổi…

VĂN HÓA-THỂ THAO

- Đỗ Lai Thúy viết về Trần Quốc Vượng: Người theo nết đất (TC Sông Hương). Bài nầy lại làm BS nhớ bữa trước trên trang Nam Đàn dám đăng đoạn trích trong “Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia” của Trần Quốc Vượng, nói tới dòng dõi cố CTHCM, BS điểm hôm 6/11. Nhưng bữa nay bấm vô thấy mất tiêu rồi.

- Muốn ói! LẠI CÂU ĐỐI HỎNG TRƯỚC NƠI LINH THIÊNG (web Trần Nhương). Nhưng … mấy ông hay chữ nầy rõ là chỉ hay cái văn hóa, không biết là phải có chánh trị vô đó thì mới đảm bảo “định hướng” chớ. Chắc cú câu đối nầy phải là của cấp lãnh đạo rồi.

- Vị đại sứ thích ngoại giao kỹ thuật số (TTrẻ). Đại sứ Anh, và đây là blog của ông.

- Bữa qua điểm tin vụ đồn thổi Có những nhà thơ nữ dùng “vốn tự có” để vào Hội Nhà văn Việt Nam và ăn giải thưởng?, qua trang Tiền vệ và blog của một nhà thơ, nay điểm tin về nhà thơ nầy: Nhà thơ P.N. Thường Đoan – người đàn bà của “ba năm một lần thơ” (TTVH).

- Hội nghị quốc tế tìm giải pháp xuất khẩu sách Việt (VNExpress)

- Múa Việt: Không thiếu tài năng, chỉ thiếu tài trợ! (Tổ quốc).  – Say điệu xoè Hà Nhì (LĐộng)

- Lắp hệ thống “lọc” ca từ tại các quán karaoke (TTXVN). Chà … VN chắc lại phải qua đó học hỏi?

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- Hội Tư vấn KHCN Quản lý TPHCM (HASCON) tuyên bố sẽ Phản biện đến cùng dự thảo Chiến lược giáo dục (TPhong) dù hai lần đề nghị Bộ GD&ĐT mà chưa nhận được phúc đáp.

- Đi tìm ‘căn bệnh’ cản trở tiến bộ của khoa học công nghệ (VNExpress). Ngay đó, phải tìm đâu nữa: không coi trọng trí thức và sợ phản biện.

- Internet di động 3G: chọn mạng nào? (TTrẻ)

- Hút thuốc lá là nguyên nhân gây ra đột biến gen (TTXVN)

- Liver transplant from 1 donor helps 2 boys (Chicago Tribune). Các bác sĩ thuộc bệnh viện Nhi Chicago đã sử dụng 1 lá gan để ghép cho 2 bệnh nhân nam: 2 tuổi và 17 tuổi có cùng nhóm máu.

- Nếu bị bệnh và có sự lựa chọn, bạn nên chọn loại bệnh nào: bệnh mất trí nhớ hay bệnh ung thư? Alzheimer’s May Guard Against Cancer and Vice Versa (ABC News). People with Alzheimer’s disease may be less apt to get cancer and people with cancer may be less apt to get Alzheimer’s disease, new research hints.” Những người bị bệnh mất trí nhớ thì ít có khả năng mắc bệnh ung thư và ngược lại, những người bị bệnh ung thư thì ít có khả năng mắc bệnh mất trí nhớ.

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Gần 2.000 công nhân ở Nghệ An tổ chức đình công (KHĐS). Cty có ông chủ người Trung Quốc điều hành, mà 100% vốn nước ngoài, chắc cũng nước TQ luôn?  - Hàng nghìn công nhân sản xuất gấu bông đình công (VNExpress).

- Phú Yên: Khóc ròng nhìn lúa lép, sắn thối sau lũ (VNN).  – Sẽ có kênh TV riêng về phòng chống thiên tai (BBC).

- Khen ngợi Tuổi trẻ, bữa kia đăng tin Tử hình 5 người nước ngoài vận chuyển gần 8 tấn nhựa cần sa, được BS nhắc nhở cái từ “nước ngoài”, bữa qua đã tiếp thu liền: Vụ Vận chuyển gần 8 tấn ma túy: 5 người Trung Quốc bị tuyên tử hình.

- Ông lang Mường và tâm sự cuối năm (TPhong)

- Phóng sinh như thế, bằng mười sát sinh (TTrẻ).  – Tiến sĩ Scott Roberton, Giám đốc Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WCS) – Chương trình Việt Nam: “Chúng ta còn 01 hay 100 cá thể hổ ngoài tự nhiên?” (LĐCT)

- Bảo vệ sông Sài Gòn đòi hỏi sự hợp tác (TBKTS).

- Sớm có kết luận về vụ Công ty Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải (TTrẻ). Đang “cò kè bớt một thêm hai”. – Socio- Economic Development, Urbanisation Pressures Vietnam’s Rivers Of Life (Bernama). Phát triển kinh tế, xã hội, đô thị hoá tạo sức ép lên những con sông ở VN. Bài báo có  nhắc đến chuyện các cơ quan chính phủ “bó tay” với công ty Bột ngọt Vedan làm ô nhiễm con sông Thị Vải. The agencies do not know how to proceed with big pollution cases such as when the monosodium glutamate producer Vedan polluted the Thi Vai River.”

- Copenhagen – Đoạn kết của một sự khởi đầu? (blog Đại sứ Anh quốc tại VN – Mark Kent).

QUỐC TẾ

- Chuyện xảy ra vào ngày Giáng Sinh: U.S. rights activist crosses into North Korea: reports (Reuters). Báo cáo: Nhà hoạt động nhân quyền Hoa Kỳ vượt biên giới vào Bắc Hàn. “‘I don’t want President Obama to come and pay to get me out. But I want the North Korean people to be free,’ Park said on Wednesday before departing for China. ‘Until the concentration camps are liberated, I do not want to come out. If I have to die with them, I will. (For) these innocent men, women and children, as Christians, we need to take the cross for them. The cross means that we sacrifice our lives for the redemption of others,’ he said. Ông muốn chết trên cây thánh giá để cứu rỗi dân Bắc Hàn như Chúa Jesus đã từng chết thay cho loài người.

- Quan hệ Hàn Quốc Nhật Bản lại bị vấn đề chủ quyền đảo Dokdo / Takeshima khuấy động (RFI)

- Ukraina không còn khả năng tài chính để mua khí đốt của Nga (RFI)

- Công nghiệp vũ khí Bắc Triều Tiên bị chận ”đầu ra” (RFI).

- Ấn Độ Không thể bị lãng quên (ĐBND). – Hải quân Ấn Độ triển khai đóng loạt tàu ngầm thứ 2 (Vit).

- Mới bị hành hung bữa rồi, giờ đã thấy Thủ tướng Italia thề đánh bại mafia vào năm 2013 (TPhong).

- Quân đội Trung Quốc mạnh hơn Nga? (Vit)


Đăng trong Điểm báo/Blog | Tagged: | 15 phản hồi »

408. Đạo diễn Trần Văn Thủy với ký ức “Hà Nội trong mắt ai”

Đăng bởi anhbasam on 26/12/2009

Đạo diễn Trần Văn Thủy với ký ức

“Hà Nội trong mắt ai”

Tác giả: Trần Ngọc Kha – Bùi Dũng

Tuần Việt Nam

26-12-2009

Trong ký ức của nhiều thế hệ độc giả, “Hà Nội trong mắt ai” là bộ phim tài liệu “có vấn đề”. Khi gợi lại câu chuyện một thời, tác giả của những thước phim đó – đạo diễn, NSND Trần Văn Thủy – còn nhớ như in từng chi tiết nhỏ.

LTS: Ngay từ khi ra đời, vào đầu những năm 1980, bộ phim tài liệu “Hà Nội trong mắt ai” (đạo diễn Trần Văn Thủy) đã trở thành sự kiện gây chú ý trong đời sống văn hóa – nghệ thuật vào “đêm trước Đổi mới”. Tác phẩm không chỉ gây chấn động dư luận lúc bấy giờ về tính ẩn dụ, mức độ hấp dẫn và góc nhìn trực diện về những “vấn đề” nóng bỏng của xã hội, mà còn vì những “sóng gió” liên tiếp mà nó và người làm nên nó vấp phải.

“Hà Nội trong mắt ai” đã bị cấm chiếu, cho đến khi được đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem và nhận xét. Vị Nguyên thủ khi đó đó đã truyền đạt mệnh lệnh: “Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt. Chiếu ngay lập tức! Nếu phát hiện ra cái gì sai thì sửa sau”. Đó là vào ngày chiều 18/10/1983.

Câu chuyện Thủ tướng “giải cứu” “Hà Nội trong mắt ai” được Tuần Việt Nam dẫn lại sau đây, qua bài viết tương đối khái quát, chân thực của tác giả Trần Ngọc Kha, in làn đầu trên báo Phát luật nhân kỷ niệm ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng, sau đó nhiều báo khác đăng lại. Tuy vậy, sự việc liên quan đến bộ phim không phải đã dừng lại ở đó. Những “sóng gió” vẫn tiếp tục đến mà vì nhiều lý do khác nhau bài viết vừa nêu chưa chạm đến….

Sau mệnh lệnh của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về “Hà Nội trong mắt ai”, chỉ một thời gian ngắn sau, bộ phim tài liệu của đạo diễn Trần Văn Thủy lại bị cấm chiếu một cách nghiệt ngã.

“Cho đến năm 1985, mình không còn cái gì nữa” – ông Thủy chua chát kể: “Kể cả điều kiện làm việc cho đến “miếng cơm manh áo”, tất tật. Vợ mình bảo mình điên, bạn bè cũng nói vậy, nhưng khổ nhất là sự cô đơn. Đồng nghiệp bảy rưỡi, tám giờ sáng tề tựu ở cơ quan lo cho ông Trần Văn Thủy… đã bị bắt hay chưa!”.

Đề cập đến câu chuyện cũ mà ý nghĩa và bài học từ nó còn nguyên giá trị, nhất là trong thờI điểm này, Thủ đô Hà Nội đang hướng tới kỷ niệm 1000 năm, đạo diễn Trần Văn Thủy kể thêm những thông thông tin mới sau khi “Hà Nội trong mắt ai”sau khi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng can thiệp:

“Sau buổi xem phim ngày 18/10/1083 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tưởng rằng mọi việc sẽ xuôi chào mát mai, nhưng “Hà Nội trong mắt ai” chỉ được chiếu tưng bừng trong Nam, ngoài Bắc vài ba tháng thì không được chiếu nữa. Trong thời gian này tôi có lệnh gọi lên để gặp ông Lê Đức Thọ tại nhà nghỉ riêng của ông Thọ ở Nghi Tàm để tường trình.

Tiếp đó, bộ phim có buổi chiếu (mà tôi cũng không nghĩ rằng đó là cuối cùng) tại Văn phòng Trung ương Đảng cho ông Trường Chinh xem. Trong buổi chiếu đó có ông Lê Xuân Đồng (Phó ban tuyên huấn – người theo chỉ thị của cấp trên cực lực phản đối bộ phim này), ông Đặng Xuân Kỳ (Viện trưởng Viện Triết học – một người rất nhiệt thành ủng hộ bộ phim này). Điều tôi không tưởng tượng được đã xảy ra liền sau đó, bộ phim đã phim tuyệt đối không được chiếu nữa, với lý do sau lưng bô phim này là một lực lượng chính trị.

Sau Đại hội Đảng VI, đầu năm 1987, rất nhiều vấn đề của đất nước đã được xem xét lạI với khẩu hiệu “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và phản ánh đúng sự thật”. Với văn học – nghệ thuật, đã từng có những câu như “Cởi trói cho văn ngệ sĩ, Không uốn cong ngòi bút, Tự cứu mình trước khi trời cứu…”.

Trong xu thế đó, vào tháng 5/1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp xem bộ phim “Hà Nội trong mắt ai” và gặp tôi. Ông hỏi: “Bộ phim chỉ có thế này thôi à?”. Tôi đáp: “Vâng, thưa Tổng Bí thư, Bộ phim chỉ có thế thôi…”. Ông nói tiếp: “Chỉ thế này thôi, tại sao lại cấm?”, không biết là câu hỏi hay lời tự vấn. Tất cả im lặng.

Theo chỉ thị của Tổng Bí thư, Ban Văn hóa – Văn nghệ lúc đó đã triệu tập một buổi chiếu “Hà Nội trong mắ ai” cho tất cả những người có liên quan, có trách nhiệm về quản lý văn hóa – văn nghệ, tỏng thư ký các hội văn hộc – nghệ thuậtt xem. Xem xong mọi người được quy định bỏ phiếu “Thuận” hay “Chống”. Và trong không khí đổi mới ấy, 100% người xem đã bỏ phiếu “Thuận”.

Ngày 25/9, Văn phòng Trung ương Đảng có văn bản truyền đạt ý kiến của Ban Bí thư, chỉ thị Ban Tuyên huấn, Bộ Văn hóa phổ biến rộng rãi bộ phim này.

Tại Liên hoan phim Việt Nam tại Đà Nẵng vào tháng 3/1988, một bộ phim từng được coi là “chống Đảng”, “dạy Đảng cầm quyền” “kêu gọi mọi người xuống đường” đã được nhận liền một lúc 4 giải thưởng cao nhất: Bông sen vàng cho phim tài liệu, Biên kịch xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất và Quay phim xuất sắc nhất…”. (Bùi Dũng ghi)

Dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội đang tới gần, xem lại những thước phim, càng thấy rõ hơn giá trị về tư liệu, lịch sử và chiều sâu ý nghĩa mà bộ phim hàm chứa. Và sau đây là “phần đầu” trong nỗi đoạn trường của câu chuyện về một thời “Hà Nội trong mắt ai”.

————-

Nhớ một thời “Hà Nội trong mắt ai”

Trong ký ức của nhiều thế hệ độc giả, “Hà Nội trong mắt ai” là bộ phim “có vấn đề”. Hồi đó, nhờ người bạn có bố công tác ở Bộ Nội vụ mà chúng tôi được xem phim. Từ ngạc nhiên, sửng sốt đến bái phục, ngưỡng mộ, đó là cảm xúc của tôi sau khi xem phim. Sao mà không ngạc nhiên, sửng sốt khi được xem bộ phim lạ như vậy? Sao mà không bái phục, ngưỡng mộ khi những ngưòi làm phim đã nói lên những điều ngay thẳng lại hay đến vậy? Đi đâu cũng thấy xôn xao, bàn tán về bộ phim, nhưng mọi người đều chung một câu hỏi: Tại sao nó bị “cấm”(?)…

Thực ra, lúc đó không có bất kỳ một văn bản nào cấm lưu hành bộ phim này. Thế nhưng, chỉ vài ba tháng kể từ khi phim được phát hành, không nơi nào còn dám công chiếu cũng như không ai dám công khai xem bộ phim. Còn đạo diễn Trần Văn Thuỷ rơi vào cảnh bị cô lập, đến mức có lần nghệ sĩ PH (nay là cố nghệ sỹ) đã hỏi thẳng: “Ơ! Cậu chưa bị bắt à?”!

Chuyện đã hơn một phần tư thế kỷ. Ông Thủy không những “thoát” khỏi hoàn cảnh khó nói mà giờ đã là “Nghệ sĩ nhân dân”. Hầu hết những người có “duyên nợ”, “ân oán” với bộ phim đã đi vào dĩ vãng. Tuy nhiên, với ông Thủy, dường như mọi việc vẫn chưa qua. Có cái gì như nghèn nghẹn nơi ông khi nhớ lại chuyện này. Và có cái gì như ngài ngại nơi những người có trách nhiệm khi buộc phải nhắc đến chuyện này. Có lẽ bởi thế mà phải đến 5 lần gọi điện tôi đều nhận được câu trả lời: “Chuyện ấy qua lâu rồi. Tôi không muốn gợi lại nữa”. Đành mạnh dạn bấm chuông nhà ông, rất may hôm ấy cái điệp khúc kia không lặp lại.

… Ngày ấy, ông Thủy nhận được kịch bản phim “Hà Nội năm cửa ô” viết về du lịch Hà Nội, về phố cũ phố mới với chùa chiền lăng tẩm, khéo tay hay làm… Nhìn lại thực tế cuộc sống, ông thấy mất mát quá nhiều. Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Hà Nội khó khăn lắm, người dân phải ăn hạt bo bo.

“Mình thấy kịch bản này không thể làm được. Nếu làm phim này lúc ấy thì chỉ có đóng mà thôi, lấy đâu ra quần chùng, áo dài…” – ông kể vậy.

Kịch bản phim liên quan nhiều đến lịch sử, phải tìm sách đọc, đi điều tra, ví dụ như đoạn: “Ngôi nhà 80 – 82 phố Hàng Gai, nếu đang đi giữa cái nắng choáng ngợp của phố phường mà ta bước chân vào ngôi nhà cổ này, có những cái gác xép cửa lùa, có tiếng chim gù trên mái ngói thì lòng ta tĩnh lại”.

Kịch bản viết thế, nhưng đi thực tế chỉ thấy một bên là cửa hiệu thêu, một bên là trụ sở HTX. Ông hỏi chủ nhà: “Cái nhà này sửa lại từ bao giờ?”, vì nom nó chẳng có gì khác biệt với những nhà cửa, phố xá, cửa hàng cửa hiệu khác. Ông đọc cho chủ nhà nghe đoạn kịch bản này. Ông chủ nhà hỏi lại: “Người viết cái này bao nhiêu tuổi?”. Ông đáp: “Cỡ bằng tuổi cháu”. Chủ nhà bèn khẳng định: “Thế thì anh ấy chép ở đâu ra ấy chứ. Năm 1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bọn Tây ở bên kia, bọn tôi ở bên này, hai bên bắn nhau chí chết thì cái nhà nó đã thế này rồi, làm gì có cảnh như anh ấy viết trong đó”.

Đến Ô Quan Chưởng tìm văn bia của Tổng đốc Hoàng Diệu, gặp ông Nguyễn Vinh Phúc, gặp cụ Trần Huy Bá ông mới bừng tỉnh ra một điều: Những giá trị tinh thần của dân tộc thì tồn tại vĩnh cửu. “Thế thì thôi, đừng làm cái đẹp về mặt cảnh quan khi nó không còn, không có nữa. Hãy tìm đến những cái có thật, đích thật, rất cần cho đời nay – những giá trị tiêu biểu cho cách trị nước yên dân như thế nào” – Đạo diễn Trần Văn Thủy rút ra sau những đắn đo suy tính.

Vào cái thời điểm đầu những năm 80 của thế kỷ trước, những điều này cần thiết biết bao! Xót xa với hiện thực của đời sống dân chúng thế nào, trọng dụng nhân tài ra làm sao?… Ông đã liệt kê ra giấy như vậy sau khi đã dày công đọc sách, điều tra.

Quan niệm của ông là làm phim tài liệu không chỉ đúng và đủ như chuẩn mực của các công trình nghiên cứu khoa học. Muốn người xem “tiêu hoá” được thì phim phải hay. Bởi thế nhiều tích chuyện hay trong sử sách đã được ông đưa vào phim, như chuyện Tổng đốc Hoàng Diệu đặt văn bia ở Ô Quan Chưởng cấm các chức quan sách nhiễu dân lành; chuyện vua Lê Thánh Tông dựng đình Quản Văn ra sao… Chuyện Nguyễn Huệ sau khi đại thắng quân Xiêm trên sông Rạch Gầm-Xoài Mút đã vào thành Thăng Long thăm vua Lê Cảnh Hưng – ông vua già mất quyền đã lâu – như thế nào? Khi vào điện rồng vị tướng Tây Sơn vẫn đeo kiếm khiến quần thần nhà Lê sợ xanh mặt, chỉ riêng quan lễ tân Phương Đình Pháp dám góp ý. Nguyễn Huệ trừng mắt nhìn Phương Đình Pháp nhưng viên quan này vẫn điềm nhiên, cuối cùng người anh hùng áo vải đã tháo kiếm rồi mới bước lên điện.

Chuyện chỉ có thế nhưng ông Thủy nhận thấy rằng: Trong mắt Quang Trung lúc bấy giờ, quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ dưới dám nói những điều ngay thẳng, còn bề trên biết nghe theo lẽ phải.

Hay là chuyện bức tượng ở Chùa Bộc (Hà Nội) bây giờ vẫn lưu giữ, trên đầu tượng có đề chữ Tâm. Trước đây nhiều nhà nghiên cứu đều chịu, không biết tượng tạc ai. Về sau cụ Trần Huy Bá mới đặt giấy bản sau bức tượng rồi dùng than củi trà lên, mới hiện ra dòng chữ: “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng”. Tức là, đúng vào cái năm Gia Long truy diệt tất cả những gì liên quan đến nhà Tây Sơn thì dân chúng Thăng Long vẫn dựng tượng Quang Trung… Rồi cả những chuyện tại sao Nguyễn Siêu lại cho dựng Tháp Bút bên Hồ Gươm? Tại sao Tổng đốc Hoàng Diệu lại cho đặt tấm bia kia ở Ô Quan Chưởng?… “Hà Nội trong mắt ai” đã ra đời và tập hợp những câu chuyện như thế!

Ông Thủy kể rằng: Ngay từ lần đầu chiếu phim để trình duyệt, Ban giám đốc Xưởng phim Tài liệu khoa học trung ương đã thấy “có gì đó không ổn”. Mời những người “có trọng trách” trong lĩnh vực tư tưởng văn hoá xem, họ kết luận ngay rằng “phim có vấn đề”!

Cuối cùng giám đốc xưởng phim Lý Thái Bảo nói với ông Thủy rằng “bộ phim không được chiếu”! Thực ra, theo ông Thủy, “là do có một vài người xem phim xong tự “vơ vào” vì họ “… giật mình”.

“Hà Nội trong mắt ai” có không ít chi tiết khiến nhiều người hiểu lầm. Như là đoạn nói về Bà Huyện Thanh Quan vào miền Trung, nơi chồng bà làm Tri huyện. Một hôm ông Huyện đi vắng, bà nhận được đơn của một người tên là Nguyễn Thị Đào xin được cải giá vì chồng đi lính thú (đóng ở biên ải) lâu ngày.

Nhớ cảnh Tây Hồ, thương cảm cho người phụ nữ xa chồng, bà đã mạnh dạn phê vào đơn: “Phó cho con Nguyễn Thị Đào/ Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai…”. Thế là cô Đào được đi bước nữa, nhưng chẳng bao lâu sau chồng cô trở về và phát đơn kiện. Hậu quả là ông Huyện bị mất chức. Và lời bình của phim rằng: “Thế mới biết cái máu me văn nghệ dính vào việc quan trường gây ra nhiều sự rắc rối là thế!” (!)…

Hay là đoạn nói về vua Lê Thánh Tông dựng đình Quản Văn, trong có đặt trống Đăng Văn cho dân chúng đến kêu oan. Phim liên tưởng: “Giá như thời Lê mạt cũng có một cái trống như vậy thì dân chúng ở đây sẽ phải đinh tai nhức óc”! Toàn là nói việc người xưa “trị nước yên dân”. Nhưng không may cho ông Thủy, có người lại nói chuyện xưa sao nó lại giống hiện thực (bấy giờ) đến thế?!

Của đáng tội phim cũng có vài đoạn theo kiểu “nhân chuyện xưa nói việc nay”, như nói về triều vua Lê Thánh Tông: Trong 38 năm vị vua này cầm quyền, đất nước thịnh trị. Vua đã cho xây dựng bộ luật Hồng Đức, thành lập hội Tao Đàn, viết Đại Việt sử ký toàn thư, dựng bia Văn Miếu… Hiếm có vị vua nào làm được nhiều việc lớn như thế. Vậy mà khi điện Huy Văn, nơi bà Ngô Thị Ngọc Giao sinh ra vua Lê Thánh Tông, bị xiêu vẹo rồi đổ nát, người ta đã dọn đi để lấy chỗ làm trụ sở UBND phường! Lẽ nào điều đó không đáng nói hay sao?

Ông Thuỷ nhớ lại: “Có lần bộ phim đã được chiếu đi chiếu lại tới bốn lượt trong một buổi sáng tại Quân uỷ Trung ương – một chuyện lạ chưa từng có. Về sau Uỷ ban Khoa học xã hội đã phải tổ chức một cuộc toạ đàm “nghiên cứu” bộ phim, có các đại biểu của Viện Sử học, Viện Triết học, Viện Hán Nôm cùng tham gia. Không đại biểu nào có thể tìm ra bất kỳ một sai sót nào của phim.

Ông Thủy tâm sự: “Phim có nhắc về quan hệ giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi gốc người làng Nhị Khê (Hà Tây) nhưng sinh thành ở Hà Nội. Ông suốt đời mang nặng tâm huyết cho sự tồn vinh của đất nước và với thân phận của người dân: “Chăn lạnh vắt vai đêm chẳng ngủ/ Suốt đời ôm mãi nỗi lo dân”.

Ông cùng Trần Nguyên Hãn từng “nếm mật năm gai” suốt 10 năm trời phò Lê Lợi, nhưng khi lên ngôi vị vua này đã nghi kỵ cận thần, phế truất cả Nguyễn Trãi, Phạm Văn Sảo và Trần Nguyên Hãn.

Khi đã tống giam Nguyễn Trãi vào ngục rồi Lê Lợi còn hỏi ông nên viết quốc nhạc như thế nào? Nguyễn Trãi bình thản mà rằng: “Thưa bệ hạ, thương yêu dân chúng thì hãy làm những việc nhân đức. Đừng vì ơn riêng mà thưởng bậy. Đừng vì giận ai mà phản bội. Đó là cái gốc trường tồn nhất của quốc nhạc!”…

Sau khi xem phim, một nhà nghiên cứu lịch sử của Học viện Nguyễn Ái Quốc quê Thanh Hoá phản đối ông Thủy ầm ầm, rằng “Lê Lợi chúng tôi chưa bao giờ được miêu tả như thế!”. Người ta tranh cãi rất dữ, rằng phim “ám chỉ ông này, ám chỉ ông kia”. Và thế là từ đấy, không ai dám nhắc đến việc tiếp tục cho chiếu bộ phim này nữa…

***

So với những sự kiện văn hóa văn nghệ diễn ra trước “thời kỳ đổi mới” như loạt bài viết về khoán 10, khoán 100, phóng sự “Cái đêm ấy đêm gì?”, tiểu thuyết “Cù lao Chàm”… hay hàng loạt vở kịch chấn động dư luận của Lưu Quang Vũ thì xét về mốc thời gian, “Hà Nội trong mắt ai” của đạo diễn Trần Văn Thủy “đi trước thời đại” hơn cả…

“Cho đến năm 1985, mình không còn cái gì nữa” – ông Thủy chua chát kể lại: “Kể cả điều kiện làm việc cho đến “miếng cơm manh áo”, tất tật. Vợ mình bảo mình điên, bạn bè cũng nói vậy, nhưng khổ nhất là sự cô đơn. Đồng nghiệp bảy rưỡi, tám giờ sáng tề tựu ở cơ quan chỉ để xem mình… đã bị bắt chưa!”.

Nhiều năm sau này, có tờ báo phỏng vấn “trong những năm “Hà Nội trong mắt ai” bị cấm, ông làm gì?”, ông Thủy trả lời rằng: “Trong quãng thời gian nhàn tản không có việc làm này, tôi đã đến những nơi mình từng đến quay phim để chiêm nghiệm, suy ngẫm. Và tôi thường thắp hương lên bàn thờ nhà mình mà khấn rằng: “Thưa các bậc tiên tổ, con có tội tình gì không?”…

“Vì sao bộ phim không được chiếu? Xin các anh chỉ bảo cho những chỗ không phải, những chỗ sai để chúng tôi sửa” – Ông khẩn khoản “kêu”. Ban giám đốc Xí nghiệp (XN) “kính chuyển” nguyện vọng này lên những người “cầm cân nảy mực”. Họ đồng ý cho sửa bộ phim, nhưng khi hỏi “cần sửa chỗ nào” thì một người thốt lên: “Bộ phim này sai đến mức không thể sửa được”(!).

Cùng kíp làm phim có Lưu Hà, con trai ông Lưu Xuân Thư, Phó giám đốc XN phim Tài liệu khoa học Trung ương lúc bấy giờ. Đây là bộ phim đầu tay anh bấm máy, đồng thời là bài thi tốt nghiệp trường SKĐA. Ông Thủy “xui” Hà đề nghị nhà trường tổ chức chiếu phim này ở Cung Thiếu nhi để “báo cáo tốt nghiệp”. Danh sách mời ngoài giáo viên của trường có các học giả, nhà nghiên cứu, lãnh đạo nhiều Cục, Vụ, Viện… Cung Thiếu nhi là điểm chiếu phim sang nhất Hà Nội lúc ấy với hơn 500 chỗ, màn ảnh cực trắng, ánh sáng cực mạnh. Ơn trời, kế họach được chấp thuận! Khán giả đến chật cứng các hàng ghế, reo hò, vỗ tay tán thưởng ầm cả rạp.

Sau buổi chiếu, lãnh đạo XN đốc hỏi ông Thuỷ: “Bây giờ ý cậu thế nào?”. Ông đáp: “Bộ phim này ra đời không chỉ bởi cá nhân tôi mà còn do cả tập thể, của cả XN. Nếu phim hay, được khen ngợi thì là công chung, nhưng tại sao phim “có vấn đề” thì cả 100 roi các anh đánh cả vào tôi?”.

Họ thành thật: “Cậu nói phải! Nhưng bây giờ sửa thế nào?”. Ông Thuỷ nói: “Sửa thế nào là chuỵện của các anh. Bác Hồ dạy phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng. Ít nhất thì các anh cũng phải chiếu cho anh chị em trong XN, rồi chiếu cho XN phim truyện, Cục Điện ảnh, Xưởng phim quân đội, cho các hội văn học, nghệ thuật để người ta góp ý”. Ban giám đốc lên danh sách khách mời…

Xem xong, nhiều người thốt lên: “Sao cái phim như thế này lại định “cấm” kia chứ?”. Không ai, kể cả các vị bên Viện Triết hay Viện Sử, Viện Hán Nôm…, có thể tìm ra bất cứ sai sót nào. Nhưng vẫn có lệnh bất thành văn từ đâu đó: “Không được chiếu bộ phim này dưới bất kỳ hình thức nào!”. Đó là vào giữa năm 1983. Ông Thủy bắt đầu hết hy vọng…

Bỗng một hôm, ông Nguyễn Việt Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) gọi điện đến XN, đề nghị mang phim “Hà Nội trong mắt ai” lên chiếu. Ông Bùi Đình Hạc (mới được bổ nhiệm Giám đốc thay ông Lý Thái Bảo) trả lời: “Đã có lệnh của cấp trên là không được chiếu!”.

Ngày 15-10-1983, Văn phòng HĐBT lại gọi xuống. Ông Hạc lại từ chối với lý do: “Phim đang được cắt ra để sửa”. Nhưng từ đầu dây bên kia, giọng ông Dũng đĩnh đạc vang lên: “Chúng tôi biết phim ấy có thể chiếu được hay không chiếu được, nhưng đây là chỉ thị của Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng!”.

Kế hoạch chiếu phim “Hà Nội trong mắt ai” cho Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng xem được ấn định lúc 3 giờ chiều ngày 18-10-1983. Ông Thuỷ đề nghị đi cùng, giám đốc Hạc bảo: “Đi sao được. Vào đấy phải qua “cổng đỏ”, người ta điểm danh đấy!”. “Anh Hạc ơi! Anh cứ cho tôi đi cùng vì tôi muốn nghe bằng chính cái tai của tôi xem Bác nói gì. Còn nếu có điều gì không phải thì chắc là Bác cũng thương mà chỉ bảo cho thôi”.

Thế nhưng ông Hạc vẫn không đồng ý. Gần đến giờ hẹn, ông Thủy lẻn lên “con” Lada trắng của cơ quan, bụng bảo dạ: “Ngày xưa khẩu hiệu ở chiến trường là “nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”, giờ tôi cũng phải nắm lấy thắt lưng anh thôi”… Kể đến đây, ông Thuỷ bật cười. Nụ cười đầu tiên tôi được chứng kiến đã xóa tan những ưu tư trên gương mặt ông…

Đến nước ấy ông Hạc đành chấp thuận. Xe lăn bánh, đến Văn phòng HĐBT, bảo vệ từ chốt gác hỏi vọng ra: “Xe nào đấy?” – “Xe xưởng phim vào chiếu cho bác Đồng xem đây!”. Ông Thuỷ bê 5 hộp phim vào phòng khách.

Có người ra thông báo: “Bác đang tiếp Phó chủ tịch HĐBT Liên Xô A-li-ep. Các anh chờ một lát”. Bỗng dưng ông Thuỷ thấy lo lo… Gần 30 phút sau bác Đồng đến. Ông Thủy kể: “Vừa trông thấy chúng tôi, Bác đã bảo: “Muốn xem một bộ phim mà khó thế à? Nếu khó quá thì tôi không phiền các đồng chí nữa”. Dù sao Bác đã phải chờ ngót nửa tháng kể từ lúc yêu cầu xem bộ phim…”.

Linh tính mách bảo ông Thủy rằng ông đang gặp may. Ông vòng tay, nói: “Xin phép Bác cho cháu được thay mặt anh em trong đoàn làm phim bày tỏ lòng biết ơn Bác, vì việc nước bận như vậy mà Bác vẫn bớt chút thì giờ…”. Nói đến đây ông Thuỷ nghẹn ngào, không cầm được nước mắt. “Cháu ngồi xuống đây! Cháu ngồi xuống đây!”. Nghe giọng nói ân cần của Bác, ông Thuỷ bình tâm trở lại nhưng vẫn chưa dám ngồi. Bác cầm tay kéo ông Thuỷ ngồi xuống bên phải mình, bên trái là Giám đốc Bùi Đình Hạc…

Khi phim hết, đèn bật sáng, Bác vẫn ngồi lặng lẽ, đầu hơi cúi, tay đặt lên trán. Những người có mặt trong phòng cũng im lặng, nghe rõ tiếng quạt trần quay lạch phạch trên đầu, tiếng chú cún con nô đùa quanh chân bác.

Một lát sau Bác hỏi: “Những ai đã được xem phim này và họ nói những gì?”. Ông Hạc trình bày: “Thưa đồng chí! Đây là bộ phim được các đồng chí có trách nhiệm đánh giá là có vấn đề, mượn xưa để nói nay. Bộ phim đã không cùng Đảng giải quyết những khó khăn hiện tại mà nuối tiếc quá khứ phong kiến và gieo rắc vào quần chúng đảng viên những bi quan, hoài nghi và tiêu cực…”.

Trong lúc ông Hạc nói, ông Thuỷ như ngồi trên đống lửa, cứ nhấp nha nhấp nhổm đến mức ông Dũng phải vít vai mấy lần… Cuối cùng, ông Hạc “chốt”: “Thưa đồng chí! Những người có trách nhiệm kết luận rằng tác giả bộ phim không phải là một nghệ sĩ cách mạng”…

Bác quay sang hỏi ông Thuỷ: “Cháu có ý kiến gì không?”. Ông Thuỷ đứng lên thưa: “Thưa bác! Nếu bộ phim này có gì sai lầm thì đó là do lực bất tòng tâm chứ bụng dạ chúng cháu không nghĩ thế. Khi chúng cháu đến mộ bà Đoàn Thị Điểm thì thực sự chỗ đó là một đống rác. Chúng cháu phải thuê người dọn mất nửa ngày, rồi xin nước vôi quét lên bia mộ của bà, mượn một số chậu cảnh bày xung quanh rồi mới quay phim, để khỏi mang tội bất hiếu với tiền nhân…”.

Linh cảm mách bảo với ông Thuỷ rằng, trong cơn bão tố cuồng phong đang trải qua, ông đã tìm được một chốn an lành để trú ngụ, đó là sự bao dung, che chở của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Cuối cùng, Bác nói: “Tôi cũng không nghĩ sự thể lại quan trọng đến mức này”. Rồi Bác phân tích đoạn phim về Nguyễn Trãi là chuyện có thật trong lịch sử và nói về thân phận của Nguyễn Trãi chứ không chủ ý nói về Lê Lợi. Từng đoạn khác cũng được bác phân tích cặn kẽ…

“Tôi thật sự kinh ngạc về trí nhớ tuyệt vời của Bác. Bác chỉ xem phim có một lần trong khi trăm công nghìn việc đang chờ đợi” – ông Thủy trầm trồ kể tiếp: “Bác kết luận: “Ý kiến thứ nhất của tôi là: Nếu đã là anh em văn nghệ với nhau thì phải biết thương yêu, bảo vệ nhau. Các anh mà không bênh vực cho nhau thì còn ai bênh vực các anh? Ý kiến thứ hai của tôi anh Dũng ghi vào biên bản để gửi sang Văn phòng Ban Bí thư: Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt. Chiếu ngay lập tức! Nếu phát hiện ra cái gì sai thì chỉnh sửa”.

Bác còn dặn dò ông Thuỷ: “Khi nào cần cứ gặp bác. Cháu phải tìm mọi cách mà chủ động liên lạc với bác”…

Không biết có phải vì bức xúc trước số phận của bộ phim hay không mà tại buổi khai mạc Đại hội Điện ảnh toàn quốc lần thứ II diễn ra tại Cung Thiếu nhi chỉ 2 ngày sau khi xem phim “Hà Nội trong mắt ai”, Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng đã có bài phát biểu hơn 1 giờ đồng hồ trước hơn 500 nghệ sĩ điện ảnh toàn quốc.

Bác nói rất kỹ, rất mạnh mẽ, rất sâu sắc, về cách thức quản lý, lãnh đạo văn nghệ: “Đừng bắt anh em văn nghệ sĩ phải chui qua một cái lỗ kim, theo một khuôn mẫu có sẵn!”.

Hẳn những người có mặt tại buổi lễ còn nhớ mãi hình ảnh đầy ấn tượng khi Bác hướng về phía Chủ tịch đoàn Đại hội mà rằng: “Tôi lạy các anh! Tôi xin các anh! Khi duyệt phim thì cố gắng rộng lượng như tôi”. Cả hội trường lập tức vỡ oà bởi những tràng vỗ tay. Ai nấy đều hiểu Bác đang nói gì.

Với đạo diễn Trần Văn Thuỷ, có lẽ hôm ấy là một ngày hạnh phúc đến tột độ… Kể đến đây, ông không kìm được nỗi xúc động: “Một phần thưởng tâm linh, vô cùng cao quý hơn bất kỳ phần thưởng nào khác trong đời đã đến với tôi” – Ông nói trong nước mắt giàn giụa…

Từ đó, bộ phim bắt đầu được công chiếu rộng khắp cho mọi tầng lớp nhân dân xem. Hàng tuần liền rạp Tháng Tám và nhiều rạp khác ở Hà Nội chiếu phim này tới 3 ca/ngày, vậy mà ca nào khán giả cũng xếp hàng mua vé đông nghịt.

Nếu như ngày ấy mà có Ghi-nét Việt Nam thì phim này chắc chắn lập kỷ lục về “phim tài liệu ăn khách nhất”. Bộ phim đã tạo nên một cơn sốt khán giả, điều chưa từng xảy ra đối với phim tài liệu “nội”, bởi từ trước đến lúc bấy giờ phim tài liệu chỉ được chiếu “chùa”, chiếu kèm phim truyện. (Theo Trần Ngọc Kha – Hà Nội Mới)

———–

Ba Sàm bổ sung:

* Mời đọc thêm: Người anh tử tế Trần văn Thuỷ (blog Gocomay)

(Hình bên: Trên đỉnh đèo Hải Vân tháng 3.1988 – trên đường vào dự LHP VN-VIII ở Đà Nẵng (Từ trái qua phải: Thanh An, Phan Sơn, Trần văn Thuỷ, Phạm Cường)

* Giao lưu giữa khán giả và đạo diễn “Chuyện tử tế” (blog Bùi Văn Phú)

* Về phim “Hà Nội trong mắt ai” trên wikipedia.

* Nghe bản “Hà Nội trong mắt ai” – do Nghệ sĩ Ưu tú Văn Vượng trình tấu.

Đăng trong Lịch sử, Văn hóa | Tagged: | 8 phản hồi »

Tin 26-12-2009

Đăng bởi anhbasam on 26/12/2009

Tin tối (thứ Bảy, 26-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Hợp nhất nhưng chưa hợp sức (VNN). Vì nó luẩn quẩn. Ngó qua các quốc gia khác coi, công việc các nghị sĩ của họ có phải gom vô một cái “văn phòng” như vầy không?

- Chưa thực hiện nghiêm cơ chế thông tin (TNiên). Chà … hội thảo có vẻ quy mô, mà một cái tin ngắn vậy. Chắc chuyện nội bộ làng báo với nhau thôi, dân khỏi được biết?

- Hà Nội sắp có đô thị Khoa học-Công nghệ-Tài chính (VNN).

- Ra mắt UB Liên hợp biên giới đất liền Việt – Trung (ĐViệt).

- Lý do của vụ xử tử Ceausescu (BBC)

- 20 năm Lưu Hiểu Ba (BBC).   – Lên án vụ bỏ tù ông Lưu Hiểu Ba.

KINH TẾ

- Ngày 27.12, khởi công dự án kênh Quan Chánh Bố: Thông luồng cho tàu lớn vào sông Hậu (TNiên). Một dự án rất lớn – 200 triệu đô la – đòi hỏi những thủ tục nghiêm ngặt, tính toán khoa học, không rõ được thực hiện tới đâu, chỉ thấy đã có ý kiến phản biện từ năm ngoái của GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân: Luồng nào cho tàu biển vào sông Hậu? (ĐBND-12/10/2008) , và bài mới đây trên Đất việt: Dự án kênh Quan Chánh Bố, những vấn đề cần làm rõ, nhưng nghe chừng vẫn không rõ.

- Cuối năm, ngân hàng tiếp tục căng thẳng vốn (ĐViệt)

- Buôn lậu giáp Tết: Bài 1: Buôn lậu tấp nập như…’trảy hội’ (VNN)

VĂN HÓA-THỂ THAO

- Ha ha! Tay Bút Bi lâu lâu cũng có phát kiến ra trò há: VFF tức là “Vẫn Phọt phẹt“, “Vẫn Phỉnh phờ” , “Vẫn Phây phây” …: Vẫn Phạm pháp (TTrẻ).

- NHÀ THƠ VŨ QUẦN PHƯƠNG: Vui buồn nghề nói chuyện thơ (PLTP).  – Mới được một độc giả méc cho chuyện nầy, mời bà con tham khảo: Nhà thơ nữ Phan Ngọc Thường Đoan tố cáo: Có những nhà thơ nữ dùng “vốn tự có” để vào Hội Nhà văn Việt Nam và ăn giải thưởng? (Tiền vệ). Lưu ý là sau khi bài viết của Nhà văn PNTĐ xuất hiện, nhiều lời bình ồn ào nổi lên, nên chắc vì vậy mà bài trên blog của nhà văn nầy đã bị gỡ xuống. Riêng quan điểm BS thì những chuyện thị phi đầy dẫy, ta chỉ có thể nghe rồi bỏ đó thôi, chớ nên thổi lên thành chuyện như thực. Muốn nó thực hơn thì phải đi vào mổ xẻ những phi lý liên quan, ví như trong trường hợp nầy thì những nghi vấn, trái nguyên tắc quanh việc xét kết nạp hội viên.

- Nhưng thêm đây để càng thấy cái mô hình “hội” kiểu quốc doanh nầy đã quá mốc meo rồi, phải đổi thôi: Lôi thôi như… đại hội nghệ sĩ (ĐViệt).

- Tìm thấy 29 hiện vật đá thế kỷ XIV-XV (LĐộng)

- Chùm ảnh: Bi hài ‘rác tường’ giữa Thủ đô (VNN). Cái nầy mấy năm trước tính nhờ ngành viễn thông cúp số thuê bao điện thoại quảng cáo láo, nhưng rồi cũng chào thua.

- 1.000 nghệ nhân, công nhân phục vụ Lễ hội hoa Hà Nội, và 500 cảnh sát nữa? (ĐViệt).  Mời coi thêm BS loạn bàn: Một xã hội hỗn loạn.

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- Góp ý giáo dục ĐH: Nhiều việc bộ đang làm thay! (PLTP). Có cái từ “quyền lợi” là vậy: “quyền” đi kèm “lợi”, nhưng nó lại sanh “hại”.

- Các trường chuyên Sẽ dạy các môn chính bằng tiếng Anh (TTrẻ). Chuẩn bị được giáo viên, giáo trình, phương tiện chưa các cha ơi? Mà dám đề ra mục tiêu trên trời “đến năm 2015, 50% học sinh chuyên đạt bậc ba về ngoại ngữ theo tiêu chí do Hiệp hội Các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu ban hành. Đến năm 2020, tỉ lệ này là 70%. Gần 50.000 ‘gà nòi’, vẫn mở rộng trường chuyên? (VNN).

- Thầy Hai dạy kèm (PLTP).  – Giúp trẻ khiếm thị lướt net (NLĐộng).

- ‘Thủ dâm’ tuổi lên 5: Nỗi ám ảnh của sự cô đơn (VNN). Lại nhớ đến Nguyễn Huy Thiệp với khái niệm độc đáo “thủ dâm chính trị” trong truyện ngắn “Vàng lửa”. Rồi đã có bạn đọc thắc mắc khái niệm nầy trên Yahoo! Hỏi&Đáp. Tiếc là ở đó chưa có lời giải thích thỏa đáng. Bà con nào biết méc cho BS chút nha, chớ để phải đi hỏi các “chính trị gia” thì mệt lắm.

- Thời của “y học vân tay” đã bắt đầu: Xem vân tay, đoán bệnh tật (VNN).

- Tờ Nhân dân nên học tờ báo đảng anh em PRAVDA những màn gây sốc để hút độc giả kiểu nầy Những dự báo khoa học kinh hoàng (VNN).  Hay như đây nữa: Nhà tiên tri Vanga:Sinh vật từ Hành tinh Vamfim chuẩn bị Sự kiện Trọng đại

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Tỏ tình gây tắc đường hơn 3 giờ đồng hồ. Hu hu! Người ta chơi dưới bãi sông chớ mần chi trên cầu mà biểu “gây tắc đường”? May không có tai nạn chết người trên cầu, chớ có thì kẻ “tỏ tình” cũng chịu trách nhiệm hình sự luôn há? Tờ Thanh niên muốn bị thưa kiện không đây?

- 20 năm nữa, đàn ông Việt Nam có thể khó kiếm được vợ (TTrẻ). Nhưng đã có “bạn” chuẩn bị dần cho từ bây giờ rồi, khỏi lo.

- Dân lại khổ vì giấy nhà đất mới (SGTT/Stockbiz).

- 10 năm đạp xích lô nuôi con ăn học (PLTP)

QUỐC TẾ

- “Nóng mặt” với Tokyo, Hàn Quốc triệu tập Đại sứ Nhật (Vit). VN nên học màn “triệu đại sứ” nầy mà xử trí những vụ Trung Quốc bắt bớ ngư dân, vi phạm Trường Sa-Hoàng Sa.

- Máy bay Mỹ thoát khỏi một âm mưu tấn công khủng bố (DTrí).

- 88 Queensway của Trung Quốc và chiến lược tiếp cận Angola (TuanVN)


Tin sáng (thứ Bảy, 26-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Hiến tặng châu bản triều Nguyễn về Hoàng Sa (TNiên). BS vẫn phải nhắc anh em bên Bộ NG là khi đi “giao thiệp” với “bạn” chớ có mang theo những quốc bảo nầy nha, bị móc túi như chơi đó.

Nhân đây xin giới thiệu Khảo cứu tài liệu Lý Sơn (blog TS Nguyễn Xuân Diện), trong đó có câu ông cha căn dặnĐường biển ấy là nơi quan yếu, phải dốc sức mà thừa hành để cho công việc được mười phần trọn vẹn. Nếu bất cẩn, sẽ phạm trọng tội. Hu hu! Lo cho nhiều người chức trọng mà phạm trọng tội quá.

- Quy trình 10 điểm để Việt Nam phát triển khác Trung Quốc (P.2) (TuanVN). Phần nầy đụng tới một vấn đề mà lịch sử hàng ngàn năm luôn được coi là chân lý: “Lợi ích quốc gia là trên hết”, nhưng nửa thế kỷ nay thì … xuất hiện một lợi ích khác luôn được sánh ngang, mà nhiều khi không rõ có được đặt lên trên: thứ lợi ích được kêu bằng “giai cấp”.

- Chất lượng điều tra án tham nhũng có vấn đề (VNN). “Vụ trưởng Vụ công tác phía Nam, Văn phòng Ban chỉ đạo TƯ phòng chống tham nhũng Phan Bá nhận định chất lượng điều tra án tham nhũng “rõ ràng còn kém”. Hiếm có những lời nhận xét khá thẳng, lại về một vấn đề luôn được liệt vô hàng “nhạy cảm” như vậy.

- Chà … một câu hay và thẳng thắn nhứt trong giới lãnh đạo cao nhứt đương thời: Cơ chế sơ hở khiến nhiều người giàu bất thường họ có quyền lực nên người khác cứ đưa hối lộ cho dù họ không đòi” (VNExpress). Giờ quan trọng là phải tìm ra cái thằng “cơ chế”. Hay là tìm thằng đẻ ra “thằng cơ chế”? Mời các sếp trên ngó đây lấy chút kinh nghiệm: 287. Giả Dối là cha Gian Dối.

- TP.HCM: Nhiều vụ tham nhũng chưa bị phát hiện! Và nhiều vụ phát hiện mà chưa điều tra, nhiều vụ điều tra ra mà chưa xử, nhiều vụ xử mà chưa nghiêm, nhiều vụ xử nghiêm mà chưa …? (PLTP)

- GÓP Ý ĐỀ ÁN VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN (TP.HCM):Lắng nghe dân, hiệu quả chính sách càng cao (PLTP). Vậy thì góp ý là sửa ngay cái tên đề án nha: phải XIN, chớ không phải là LẤY. Biểu “cán bộ là đầy tớ nhân dân” mà.

- Tại Hà Nội, Đức cha Chu Văn Minh cử hành thánh lễ Giáng Sinh, “đại diện cho Đức Tổng giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt” (RFI). Trong lúc đang có tin ông Kiệt xin “nghỉ”, và không biết có liên quan tới đề nghị của chính quyền TPHN?  – Vietnam ordains record number of priests (Spero News).

- Some historical Christmas protests (Examiner). “In 1971, Nixon resumed the bombing of North Vietnam. In response, 15 members of Vietnam Veterans Against War climbed to the crown of the Statue of Liberty, barricaded themselves inside and flew an inverted American flag outside a window, an internationally recognized symbol of distress.”

- 20 năm trước: CHÍNH BIẾN ĐẪM MÁU TẠI ROMANIA (4) (NCTG)

KINH TẾ

- Độc quyền cột điện (TNiên). Không chừng tới hồi bên Giao thông công chánh lại thu tiền dựng cột điện trên vỉa hè (“của mình”)? Kế đến là ông địa chính, rồi ông tài nguyên môi trường. Chỉ có một ông to nhứt mà quyền thì bé nhứt: ông “sở hữu toàn dân”. – Nói không ngoa nha, mời coi tin và tấm hình ấn tượng nhứt về mô hình “sở hữu toàn dân” (nó cũng rất ấn tượng cho hình ảnh về mối quan hệ giữa cái cột “độc quyền” với đất đai của “toàn dân”) - Tây Ninh: Một phụ nữ trèo trụ điện đòi đền bù đất (PLTP).

Ở đây chưa bàn tới chuyện đền bù đất, mà riêng những ảnh hưởng do sóng điện từ tới sức khỏe, cuộc sống người dân cũng đủ phải bồi thường thỏa đáng và có cách hạn chế tối thiểu, vậy mà bao năm nay dân kêu trời chuyện nầy.

- Sẽ mua điện từ Trung Quốc để chống đỡ mùa khô (DTrí)

- Lo ngại khi thuế nhập khẩu thép còn 0% (PLTP)

- Giá sữa, bài toán khó của Bộ Tài chính (TBKTSG).

- Quy định của EC truy xuất nguồn gốc thủy sản : Cơ hội để DN nâng cao tính cạnh tranh (DĐDNghiệp).

- Nuôi cá sấu trong… chuồng heo (TNiên).

- Premier admits Vietnamese oil well is dry (Times Online)

- Hệ thống tài chính Mỹ đổ vỡ do lỗi nghiệp vụ MTM (Phần 1) (TuanVN).

VĂN HÓA-THỂ THAO

- 5 kỷ lục VN tại Lễ hội hoa Hà Nội  (TNiên). Cách đây mấy năm BS đã từng gợi ý ông Giám đốc Vietbook (chuyên tổ chức mấy màn nầy) là nên có “kỷ lục xấu” nữa, vậy mà không biết tới bao giờ mới có. Có chi đâu mà sợ, nó cũng như chuyện phát hiện những tính xấu của người Việt, để sửa, cho bằng thiên hạ thôi. – Còn đây cũng là thứ tâm lý chạy theo cái “nhất”: Hội hoa xuân lớn nhất từ trước đến nay (TNiên). Năm nào cũng muốn “nhất từ trước đến nay” thì nguy; kinh tế suy thoái, vui chơi, ăn Tết phải tùng tiệm chút chớ.

- Du lịch Nha Trang: một lần đi rất khó quay lại (blog Ng.V. Tuấn/Úc)

- Họa sĩ Lê Thiết Cương: Mắt vuông và thơ lục bát Nguyễn Huy Thiệp (TuanVN). Còn BS giới thiệu trang web của Nguyễn Huy Thiệp.

- Refugees’ transitions reflected in exhibit (Chicago Tribune).

- Nguyễn Đình Đăng – vị tiến sĩ tài hoa (TTrẻ).

- Yêu cầu tháo dỡ công trình xâm hại Yên Tử (VNN)

- Ra mắt cuốn Trường ca về tướng Giáp (TTrẻ).

- Cựu vô địch quyền Anh thế giới người Thái Lan bị giết ở Nga (SGGP)

- Phát hiện cửa vào lăng mộ Cleopatra (TTVH).

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- Tìm thấy vượn người hóa thạch ở Tuyên Quang (PLTP)

- Giáo dục 2010: Tăng tiền, nâng áp lực (VNN).

- Lương đã hẻo, trình độ thấp mà còn bị Lúng túng với chương trình Giáo dục mầm non mới (VNN).

- Khi con hư vì… thầy cô! (TTrẻ).

- TS Nguyễn Đức Mậu: “Phàn nàn” chất lượng đại học! (LĐộng). Ngó vô càng thấy BS từng phán cái cỗ máy giáo dục nầy nó nghiền nát sự nghiệp chánh trị của các vị lãnh đạo ngành. Nên thầy Nhân không dzọt lẹ (lên TT sau đại hội tới?) là gay.

Giáo dục đại học là một vấn đề lớn của quốc gia. Nếu chỉ phàn nàn và chê bai không thôi thì nền giáo dục đại học nước nhà vẫn không hy vọng có sự thay đổi.” Tức là phải “hành động”, bằng thay người “cầm lái”?

- Một sinh viên Việt được chọn gặp tổng thống Nga (TTrẻ).

- Úc: lựa chọn hàng đầu của du học sinh Việt Nam (TBKTSG)

- Du học sinh đối thoại với các nhà quản lý giáo dục chỉ mang tính hình thức, chớ thực chất là một buổi lễ mà thôi (TTrẻ).

- Trung Quốc: Phạt học sinh đến chết cóng, hiệu trưởng bị cách chức (TTrẻ)

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Phòng khám đông y Trung Quốc: Khi sự thật được làm rõ (SKĐS)

- Quy định mẫu tiền cho người … âm? (Thanh tra). Có lẽ phải vậy.

- Tôm cá Hồ Tây, hồ Trúc Bạch “bẩn’ nhất Hà Nội! (VNN).

- Cái tựa đặc trưng cho một lối làm báo không giống ai, nên BS phải sửa dùm chút:Tử hình 5 người Trung Quốc nước ngoài vận chuyển gần 8 tấn nhựa cần sa (TTrẻ). …cả 5 bị cáo mang quốc tịch Trung Quốc.”

Tại sao phải có vẻ nặng lời chuyện nầy? Vì rõ ràng nó gieo rắc một nỗi sợ quá mức, khuyến khích một lối”tự kiểm duyệt” thái quá. Trong khi báo chí các nước khác lại rất kỵ cái lối nói “người nước ngoài” mơ hồ vậy, vì nó lại có vẻ gì đó như “bài ngoại”. Hãy tham khảo cái tựa trên một trang báo khác, được coi là “chính thống” hơn nha: Xét xử 5 người Trung Quốc vận chuyển cần sa (VOV News).

- Ép dân đóng các khoản tự nguyện (TNiên)

- 10 loài bị đe dọa nhất trước biến đổi khí hậu (thiennhien.net)

- Scandal giả gái lừa bạn chụp nude chấn động Facebook (VNExpress)

QUỐC TẾ

- Thái Lan quyết trả người H’mong về (BBC)

- Sử gia Trung Quốc-Nhật Bản vẫn bất đồng về vụ thảm sát Nam Kinh (RFI).

- Năm 2010: Châu Á đứng trước hai rủi ro chính trị lớn (Vit).


Đăng trong Điểm báo/Blog | Tagged: | 5 phản hồi »

407. Điểm sách “TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT“

Đăng bởi anhbasam on 25/12/2009

Đôi lời: Triết gia-nhà toán học Bertrand Russell từng nói:”Sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”.

Từ một cuốn sách mua trong quán sách cũ vỉa hè, không biết tới khi nào mới được phép tái bản, nhưng lại nói lên bao điều, không phải chỉ về nội dung trong đó, mà cả về những lý do cho sự có mặt và rồi không được có mặt của nó trên giá sách “chính thống” nữa …

Tôn trọng cứ liệu lịch sử, xin được giới thiệu cùng bà con hai lời tựa của cuốn sách. Trộm nghĩ, trong cái không may bao giờ cũng có những điều may mắn.


TRƯỜNG ĐẠI HỌC XOÓC – BON

VIỆN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI


TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT

CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT

(GIƠ – NE – VƠ – 1954)

PHƠ – RĂNG – XOA GIOAY – Ô

Tiến sĩ Văn chương

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN LÝ LUẬN

HÀ – NỘI 1981

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn “Trung – quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương’’ là một công trình soạn thảo rất công phu của Phơ -răng – xoa Gioay – ô (Francois Joyaux) một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung – quốc. Công trình này được hoàn thành vào tháng 3 năm 1979, đúng vào thời điểm tập đoàn phản động Bắc – kinh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía bắc nước ta.

Để biên soạn công trình này, tác giả đã được phép khai thác nhiều tài liệu mật của cơ quan lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp như các biên bản các cuộc họp tay đôi giữa phía Pháp với phía Trung – quốc, những điện mật của đoàn Pháp báo cáo về chính phủ Pháp đánh giá diễn biến của hội nghị và thái độ của các nước dự hội nghị, những biên bản các phiên họp hẹp của hội nghị đó, những điện mật của đại diện ngoại giao Pháp ở những nước tham dự hội nghị …Như mọi người đều biết, trong hội nghị Giơ – ne – vơ năm 1954 về Đông – dương, những người lãnh đạo Trung – quốc đã cùng với đế quốc Pháp thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung – quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt – nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam – phu – chia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước Đông – dương để đảm bảo an ninh cho Trung – quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt-nam và Đông dương, đồng thời giữ vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế: Trước hết là ở Châu Á. Cho nên những tài liệu mật được tác giả nêu lên trong cuốn sách này là những tư liệu có giá trị, cung cấp cho chúng ta nhiều điều làm sáng thêm một số vấn đề trước đây đã được nghiên cứu về hội nghi Giơ – ne – vơ năm 1954.

Khi biên soạn công trình này, tác giả còn tham khảo hầu hết các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về hội nghị này, những cuốn hồi ký của nhiều nhân vật đóng vai trò chủ chốt trong hội nghị, đồng thời đọc rất nhiều báo chí của những nước tham dự hội nghị hoặc liên quan mật thiết đến hội nghị để dẫn ra những tư liệu cần thiết cho chủ đề cuốn sách. Có thể nói đây là bản tổng hợp những tài liệu chứng minh chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh đối với nước ta và các nước khác ở Đông – dương.

Giá trị của cuốn sách không chỉ dừng lại ở đó. Là một nhà nghiên cứư lịch sử, tác giả không chỉ hạn chế ở việc dẫn ra những tư liệu phân tích sâu sắc về thái độ của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương. Chính từ sự phân tích đó, qua các chính sách của Trung-quốc từ lịch sử xa xưa cho đến hội nghị Giơ-ne–vơ về Đông dương, tác giả đã khách quan làm rõ “sợi chỉ đen” xuyên suốt trong chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung – quốc đối với ba nước Việt – nam – Lào và Cam – pu – chia.

Cuốn sách này gồm 4 phần:

Phần thứ nhất chủ yếu phân tích những nhân tố quyết định thái độ của Bắc-kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương, đó là:

Vào năm 1954. Mao Trạch Đông “hoàn toàn chế ngự” Đảng, quân đội, Nhà nước, song rõ ràng tình hình kinh tế có khó khăn. Hơn nữa đã có những rạn nứt trong quan hệ Trung – Xô mà “sự liên minh bền vững trong chừng mực cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung-quốc”. Trước tình hình đó, lại muốn đạt quy chế cường quốc, Bắc- kinh “có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ bình thường với các nước phương Tây” để công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy, phá thế cô lập với các nước phương Tây là một yêu cầu chiến lược của Trung-quốc lúc đó. Pháp, Mỹ đã đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế đó “có thể đóng vai trò quyết định trong thái độ của Bắc Kinh”. Đó là “đề tài của sự mà cả ngầm” (Pháp), “lợi ích của Trung -quốc là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông – dương” (Mỹ).

Nhưng những nhân tố trên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thái độ của Trung – quốc. “Tính truyền thống lâu đời trong quan hệ Trung -Việt, và ở mức độ thấp hơn đối với Lào và Cam- Pu Chia, cũng sẽ đóng vai trò quyết định”.

Lịch sử mối quan hệ đó từ các triều đại phong kiến Trung-quốc đến Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, đều cho thấy các chế độ chính trị ở Trung – quốc luôn coi Việt – nam có một vị trí đặc biệt đối với họ. “Các đế chế Trung-hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ hoà bình kiểu Trung – quốc đối với các bờ cõi phía nam…ngày nay cũng như trước đây; điều đó đã thực sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng ở Giơ – ne – vơ”.

Trước hội nghị Giơ –ne – vơ năm 1954, trong khi ở phương Tây người ta lo ngại Trung-quốc có thể can thiệp trực tiếp vào Đông Dương thì ngược lại, Bắc kinh lại làm rùm beng, tỏ ra lo sợ Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông – dương. “ Vào mùa xuân năm 1954, Trung -quốc đã lựa chọn sự cùng tồn tại hoà bình” và đối với Bắc – kinh, “Đông – dương không được trở thành một Triều –tiên mới”. Thái độ đó bắt đầu từ sau khi đình chiến ở Triều – tiên. Trên thực tế, Bắc – kinh nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề Đông –dương bằng thương lượng từ mùa thu năm 1953, trước cả Việt – nam, và chỉ viện trợ cho Việt – nam “đủ để tạo thuận lợi cho Việt – Minh giành thắng lợi, song không vì thế mà viện trợ vô hạn độ để Việt – Minh có thể làm cho Mỹ và đồng minh của Mỹ can thiệp, dù cho lúc đó đồng minh có thể “viện trợ to lớn hơn viện trợ mà họ đã thực sự dành cho Việt Minh”.

Do đó, việc tiến hành thương lượng về Đông –dương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung – quốc: làm dịu tình hình căng thẳng ở Viễn –đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế ở Trung – quốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông – dương, tạo khả năng cho Trung – quốc chấm dứt được sự bài xích của phương Tây, chứng tỏ Trung – quốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới và tạo cơ hội cho Trung – quốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với phương Tây”.

Phần thứ hai và thứ ba của cuốn sách chủ yếu nói về diễn biến của hội nghị Giơ – ne – vơ và thái độ của giới cầm quyền Bắc –kinh đến Giơ – ne –vơ “không phải để ủng hộ quan điểm của Việt Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”.

Trong giai đoạn đầu của hội nghị đồng thời là bước đầu của Trung – quốc vào sân khấu quốc tế, thái độ của Bắc – kinh trên công khai là “cứng rắn và lập trường triệt để đứng về phía Liên – Xô”. Nhưng Bắc – Kinh cũng đã để lộ ra là “tránh không tố cáo” tuyên bố giữa Pháp và bù nhìn ngày 28-4-1954 về việc Pháp trao trả độc lập cho Việt –nam. Và từ giữa tháng 5, chỉ ít ngày sau khi khai mạc hội nghị (8 tháng 5), Bắc- kinh “nhanh chóng chứng tỏ rằng lập trường của Trung – quốc không phải chỉ phản ánh một cách đơn giản lập truờng của Liên – Xô”. Trong các phiên họp hẹp và những cuộc tiếp xúc tay đôi với Anh và đặc biệt với Pháp, họ đã nói rõ:

Ngày 18 tháng 5: “Chúng tôi đến đây không phải để ủng hộ quan điểm của Việt- Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”. Trung-quốc không nhất thiết khuyến khích hoạt động quân sự của Việt – Minh tiến về đồng bằng”.

Ngày 27 tháng 5: “Về Lào và Cam – Pu – Chia, quan điểm của Trung – quốc phù hợp với quan điểm của Pháp”; “ các vùng tập kết phải được xác định trên cơ sở hình thái quân sự chứ không phải chính trị”.

Ngày 7 tháng 6: “Chúng tôi không có điều kiện nào cả, chúng tôi chỉ đơn giản muốn hoà bình”.

Vì vậy hội nghị về vấn đề Đông-dương vẫn không tiến triển được. Ngày 15 tháng 6, hội nghị Giơ – ne – vơ về vấn đề Đông-dương chịu chung số phận đó. Trong khi đó ở Pháp, chính phủ Măng – đét Phrăng (Mendes – France) lên cầm quyền, Bắc – kinh đã chọn thời điểm phù hợp này để triển khai trở lại hội nghị về vấn đề Đông – dương “bằng cách đưa ra một đề nghị cốt tử về các vấn đề Lào và Cam – pu – chia”. Đề nghị đó “có tính chất thúc đẩy quyết định” mà Mỹ cũng hoan nghênh đó là:

Ngày 16 tháng 6: Chu Ân Lại gặp ngoại trưởng Anh, đã nói là “có thể thuyết phục Việt – Minh rút quân khỏi Lào và Cam – pu – chia” sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của chính phủ Vương quốc Lào và Cam – pu – chia. Trong phiên họp toàn thể ngay chiều hôm đó, Bắc – kinh đưa ra đề nghị 6 điểm tách riêng biệt việc giải quyết các vấn đề Lào và Cam – Pu – Chia khỏi vấn đề Việt – nam. Còn phía Việt- nam thì vẫn đòi công nhận Pa – thét Lào và Khơ – me It – xa – rắc. Và ngày hôm sau, 17 tháng 6, Chu Ân Lai nói với ngoại trưởng Pháp nội dung cụ thể giải pháp vấn đề Cam –pu – chia, được đánh giá là “chưa có một bản trình bày nào lại rõ ràng và chính xác hơn thế”. Trong bản trình bày đó, Chu Ân Lai còn nói đến một vùng tập kết quân Pa – thét Lào ở biên giới Việt – nam và Trung – quốc, nhưng cùng ngày, phía Việt- nam đòi Pa – thét Lào kiểm soát một nửa nước Lào.

Ngày 23 tháng 6, khi gặp Măng – đét- Phrăng ( Mendes France), Chu Ân Lai nói rằng Trung – quốc “không đòi đền bù gì về những nhượng bộ đối với vấn đề về Lào và Cam – Pu – chia, không lợi dụng khó khăn của Pháp để đòi chính phủ Pháp phải nhân nhượng điều gì”. Về hội nghị thì “cần thảo luận các vấn đề quân sự trước các vấn đề chính trị, và giải pháp chính trị có thể tiến hành theo nhiều bước trong một thời gian khá dài: Cần đẩy nhanh việc thương lượng về việc tập kết quân đội Việt – nam, thời hạn là ba tuần”.

Chu Ân Lai còn khẳng định sẽ “thúc đẩy đoàn đại biểu Việt – nam dân chủ cộng hoà nhích lại gần không những với nước Pháp và còn với Việt – nam của Bảo Đại”.

Tác giả nhận xét là tiếp đó, với nội dung Măng – đét – Phrăng (Mendes France) chỉ thị cho đoàn Pháp thương lượng với Việt – nam dân chủ cộng hoà (tập kết quân, đường danh giới ở vào vĩ tuyến 18…) thì “ kể từ nay việc chia cắt Việt – nam đã trở thành mục tiêu chính của đoàn đại biểu Pháp”.

Giai đoạn chót của hội nghị bắt đầu từ trung tuần tháng 7, sau ba tuần lễ dậm chân tại chỗ trong khi vắng mặt các trưởng đoàn và diễn ra cuộc gặp giữa Chu Ân Lai và chủ tịch Hồ Chí Minh từ 3 đến 5 tháng 7 vì “sự tồn tại mối bất hoà giữa Trung – quốc và Việt – Minh vào cuối tháng 6 năm 1955 là không thể nghi ngờ được”.

Ngày 13 tháng 7 gặp lại Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đề cập đến vấn đề ranh giới tạm thời giữa Nam và Bắc Việt – nam, Chu Ân Lai tin rằng nếu Pháp “tiến lên một buớc thì phía bên kia sẽ đi nhiều bước hơn để đón các ngài” và “theo sự thoả thuận”, ngay chiều hôm đó phía Pháp đưa đến cho Trung – quốc bản dự thảo về tuyên bố chính trị cuối cùng của hội nghị.

Từ đó, phía Trung – quốc “đóng vai trò nổi bật” trong việc giải quyết những vấn đề tồn tại của hội nghị, với những nhượng bộ “có ý nghĩa quyết định” của phía Trung – quốc đối với đòi hỏi của Pháp và việc gây sức ép đối với phía Việt – nam dân chủ cộng hoà, trong những vấn đề then chốt:

Với thời hạn tuyển cử: trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà đòi thời hạn 6 tháng, Chu Ân Lai đề nghị một cách phải chăng rằng “các cuộc tuyển cử nên lùi lại 2 năm cho đến năm 1956, các đại biểu hai miền Nam Bắc sẽ thoả tuận với nhau về thời hạn chính xác”.

Về giới tuyến: Trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà vẫn giữ ý kiến vĩ tuyến 16 thì Chu Ân Lai nói “ thực tế là Việt-nam dân chủ cộng hoà tuyệt đối không cần đến con đường số 9” mà phía Pháp coi đó là con đường ra biển của Lào. Sau đó khẳng định với phía Pháp là “đã làm cho Việt Minh chấp nhận” ý kiến của Trung – quốc.

Kết thúc hội nghị Giơ – ne – vơ tối ngày 22 tháng 7, Chu Ân Lai mời cơm các truởng đoàn Việt – nam dân chủ cộng hoà, vương quốc Lào và vương quốc Cam – pu – chia, và cả Ngô Đình Luyện, “tập hợp các đại biểu của bốn nước Đông – dương”. Trong bữa cơm, Chu Ân Lai chúc sức khoẻ Bảo Đại, gợi ý Nam Việt – nam đặt một Công sứ quán tại Bắc – kinh, “một gợi ý mà Việt – Minh tuyệt nhiên không được báo trước”.

Phần thứ tư của cuốn sách chủ yếu nói lên thái độ của giới cầm quyền Bắc – kinh đối với việc thi hành hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông – dương đặc biệt về vấn đề thống nhất Việt – nam và chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương.

Về vấn đề thống nhất Việt – nam, sau hội nghi Giơ – ne – vơ, “trong khi các nhà lãnh đạo và báo chí Việt – nam luôn luôn lên tiếng ủng hộ các tuyên bố của Trung- quốc liên quan đến vấn đề Đài Loan thì việc Trung – quốc bỏ qua một cách có hệ thống không nói đến vấn đề thống nhất của Vịêt – nam lại càng trắng trợn”. Điện mừng của Mao Trạch Đông, khi ký Hiệp định Giơ – ne – vơ, phát biểu của thủ tướng Chu Ân Lai khi tiếp thủ tướng Phạm Văn Đồng đi qua Bắc – kinh đầu tháng 8 năm 1954, phát biểu của đại sứ La Quý Ba khi trình quốc thư đều không nói đến vấn đề đó. Ngược lại, phía Việt–nam “ không ngừng khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng là thồng nhất đất nước”.

Từ thực tế trên tác giả nhắc lại rằng Măng – đét – Phrăng (Mendès France) khi đàm phán với Chu Ân Lai, đã tin tưởng là Trung – quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài, Việt – nam, tán thành sự tồn tại của phía nam Trung – quốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc – kinh đã hạn chế các yêu sách của Việt – Minh ở hội nghị Giơ – ne – vơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt – nam dân chủ cộng hoà phải giảm bớt “ tham vọng” đối với miền nam Việt – nam và đối với các nước khác ở Đông – dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt – nam và cả trên bán đảo Đông – dương. Ý đồ của Bắc – kinh còn ở chỗ là “ bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam – kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung – quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu” ; “ sau khi Việt – nam bị chia cắt, miền Bắc gắn bó mật thiết hơn với nền kinh tế Trung – quốc từ nay duy nhất có khả năng cung cấp cho những nhu cầu chủ yếu của một nước không thể tự cung tự cấp được. Tình trạng đó từ nay sẽ là một chủ bài quan trọng với chính sách của Trung – quốc ở Việt – nam”.

Về chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương, sự khác nhau cũng thể hiện ngay trên các tuyên bố công khai. Từ đó, tác giả cho rằng quan điểm của Trung – quốc về một Đông – dương đa dạng có nghĩa là “ Lào và Cam – Pu – Chia phải là đối trọng với Việt – nam”. Và “ lập trường của nhân dân Trung – hoa muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở Đông – dương, muốn Ban-căng hoá Đông – dương dĩ nhiên dẫn đến sự chia rẽ tình đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông – dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Cam – Pu – Chia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới”. Đó là: “ một chính sách Đông – dương nối tiếp chính sách của các triều đại hoàng đế xưa kia”, mà một trong những nét nổi bật nhất của chính sách đó là ý muốn thường xuyên duy trì hoà bình ở sườn phía nam, dựa trên thế cân bằng lập ra từ những sự cạnh tranh giữa các nước khác nhau ở trong vùng …một chính sách chia để trị cổ xưa”.

Tóm lại, tác giả kết luận, “phải chăng người ta thấy lại cách đối xử “vô tư” xưa kia, dưới cái vỏ trật tự nho giáo, thường chỉ phục vụ lợi ích chính trị của đế chế Trung – hoa”.

“Thái độ của Trung – quốc đối với Việt – Minh là thái độ của một cường quốc ủng hộ kiên quyết đồng minh của mình chừng nào mà mục tiêu của đồng minh có thể khớp với thế cân bằng (Bắc –kinh) đang tìm kiếm, nhưng cũng biết áp đặt một vài điều bó buộc trong trường hợp ngược lại”. Và Đông – dương thống nhất trong cuộc cách mạng như trước đây ở dưới chế độ thực dân nhường chỗ cho Đông – dương trở nên phức tạp biểu hiện ở bữa cơm cuả Chu Ân Lai ngày 27 tháng 7”.

Chiến lược của Bắc – kinh rõ ràng là muốn Đông – dương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ ,”đa dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung – quốc chi phối và buộc phải đi theo quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc – kinh. Cho nên Bắc – kinh ngầm tán thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt-nam, duy trì các chính phủ vương quốc ở Lào và Cam – Pu – Chia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách của các đế chế Trung – hoa. Và trong suốt mấy chục năm qua mặc dầu bối cảnh quốc tế và tình hình nội bộTrung – quốc có những đảo lộn lớn, song Bắc – kinh vẫn duy trì một cách liên tục chính sách không thay đổi đó. Sau khi Việt – nam đã thống nhất năm 1976, quan hệ Việt – Lào được tăng cường, bối cảnh căn bản khác với năm 1954 và những năm sau đó, nhưng Bắc – kinh vẫn “tiếp nối thẳng tắp thái độ ở Giơ – ne – vơ” nhằm duy trì cái gì còn có thể giữ đựơc trong chính sách “chia đề trị” ở Đông – dương. Vì vậy nếu ngày hôm qua, vào giữa những năm 1950, họ muốn có một Cam – Pu – Chia theo “chủ nghĩa quốc gia” và là một đối trọng với Việt- nam thì ngày nay, vào giữa những năm 1970, họ tạo nên một Cam – Pu – Chia “cách mạng” để chống lại nước Việt- nam thống nhất. Đó là mục tiêu không thay đổi trong chính sách Đông – dương mà tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc – kinh theo đuổi.

“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương“ là một cuốn sách mà mọi người chúng ta nên đọc để hiểu thêm về kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất của nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tuy nhiên, do tác giả đứng trên lập trường tư bản để viết nên cuốn sách này cũng có những nhận định sai lầm. Chúng ta đã có cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, một công trình nghiên cứu có hệ thống, một tài liệu đấu tranh sắc bén chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh.

Chúng tôi trích dịch cuốn sách này để bạn đọc tham khảo.

Tháng 3 năm 1981

Nhà xuất bản Thông tin lý luận

———


LỜI NÓI ĐẦU

Phải thẳng thắn thừa nhận sự ngu dốt của mình, không đem tưởng tượng và bịa đặt thay thế cho điều mình không biết. Phải kể lại chính xác các sự kiện, và sau đó chỉ đưa ra những điều suy nghĩ ngắn gọn đối với những cái mà những sự suy nghĩ ấy có thể có giá trị.

(Hồi ký của Xanh Xi –mông)

“Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa phương Đông và phương Tây, có sự tham dự của Trung – hoa, Bắc – kinh, đại sứ Giăng – Sô – ven (Jean Chauvel) trong hồi ký của mình đã nêu lên việc Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham gia hội nghị Giơ – ne – vơ như vậy.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên ư? Chắc chắn là như vậy: Nếu cuộc đàm phán quan trọng giữa Trung – quốc và Liên – xô trong những năm 1949 và 1950 ở nhiều điểm được coi là “một cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây thì ngược lại, sự giống nhau về lý tưởng của hai chế độ hiện diện đã làm cho cuộc gặp gỡ có tính chất một sự bình thường hoá quan hệ trong nội bộ khối hơn là một sự chạm trán giữa hai hệ thống. Còn cuộc thương lượng tại Bàn – môn – điếm, kết thúc chín tháng trước hội nghị Giơ – ne – vơ thì chưa bao giờ vượt qua giai đoạn của một thảo luận hạn chế về quân sự nhằm đi đến ngừng bắn ở một giới tuyến đã được số phận vũ khí định đoạt.

“Cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây” ? Triển vọng là to lớn. Nhưng chúng tôi thấy gọi như thế có vẻ đúng. Ý niệm đó thể hiện rõ ý hơn là dùng thuật ngữ “gặp gỡ Đông – Tây”. Đúng là chúng ta đang ở bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh vào thời kỳ quyết liệt, hai khối đang đối trọi nhau gay gắt. Thái độ cư xử của một Bi – đơn Xmit (Bedell Smith), của một Đa-let (Foaster Dulles), một Bi- đơn (Georges Bidault), một Mô-lô-tốp (Molotov) gần như luôn luôn nhắc tới điều đó.

Tuy vậy chúng tôi thích dùng “giữa phương Đông và phương Tây” hơn. Bởi vì Giơ – ne – vơ cũng là thái độ ôn hoà khôn khéo của một I-đơn (Anthony Eden), hay niềm tin còn nóng vội của một Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đứng trước ngoại giao quỷ quyệt khôn lường của Chu Ân Lai hoặc hơn nữa là sự giận giữ lo âu của Phạm Văn Đồng. Tấm thảm kịch của một Đông – dương chia cắt đang thoát khỏi sự ràng buộc của thuộc địa. Sự cố gắng căng thẳng của một Trung – quốc mong muốn thế giới cũ và thế giới mới chấp nhận. Một châu Á đang vươn lên, mong muốn người ta hiểu mình trên diễn đàn quốc tế lâu nay bị châu Âu hay Hoa – kỳ chi phối. Đối với chúng tôi, Giơ – ne – vơ thuộc loại các cuộc thương lượng quan trọng, từng thời kỳ một, chúng ghi lại những sự biến đổi của thế giới.

Nhưng tại sao lại tìm cách tách riêng thái độ đặc biệt của Trung – quốc như vậy?

Ít nhất là vì hai lý do, bổ sung cho nhau là đằng khác.

Trước hết, bởi vì việc nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại của Trung – quốc hiện đại – chưa được phát triển ở Pháp- đòi hỏi phải xem xét kỹ càng, từng cái một và kiên nhẫn những thời điểm có ý nghĩa nhất trong quá trình tiến triển của nó trước khi có thể nghĩ đến những bức tranh rộng rớn về chính sách đối ngoại của Trung- quốc trong một thời kỳ lịch sử, Giơ – ne – vơ, cuộc đối mặt lớn lao đầu tiên của nước Trung – hoa mới với thế giới Phương Tây, đối với chúng tôi là một trong những thời điểm đó – thời điểm đáng để chúng ta bỏ công nghiên cứu đề tài đó – đáng để chúng ta bỏ công phân tích việc nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa bước vào “hệ thống quan hệ liên quốc” (quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác) như các nhà xã hội học về quan hệ quốc tế đã viết.

Từ nhận xét này chúng tôi đi thẳng đến lý do thứ hai phải ưu tiên nghiên cứu thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương. Đây còn là một lý do về phương pháp nữa. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế hiện đại mà chỉ dựa vào kinh nghiệm phương Tây thì không hợp lý lắm, còn nói gì đến lý thuyết? Làm sao có thể thúc đẩy việc nghiên cứu tiến triển nếu chúng ta xem nhẹ tính đặc thù của các thế giới xa lạ nhất với chúng ta? Trong một tác phẩm của Vôn – te (Voltaire), khi xem xét “Trích Dự án hoà bình vĩnh cửu của ông thày dòng xanh Pi –e (Sanit – Piere)” do Rút – xô (J.J.Rousseau) công bố, Hoàng đế Trung – hoa đã nói : “Nhưng trẫm rất ngạc nhiên khi đã tìm mãi mà không thấy tên Trẫm trong danh sách”. Hai thế kỷ sau, ý nghĩ trào lộng này hình như vẫn không mất đi tính thời sự của nó.

Thật vậy, trong chừng mực nào đó, hệ thống quốc tế có cái lo-gích riêng của nó và nó buộc các nhà dương cục là các quốc gia phải tuân theo. Nhưng sự phản ứng của các quốc gia đó về căn bản cũng còn thể hiện nhân cách của mỗi nước. Bởi vậy, chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng không nên đề cập đến chính sách đối ngoại của Trung – quốc ít nhất là ở Đông – dương, giống như chính sách của Mỹ hay của Liên – xô mà công trình nghiên cứu này không đả động đến. Phải chăng đây là cuộc tranh luận triền miên giữa những “nhà nghiên cứu cái phổ biến” và những “nhà nghiên cứu cái đặc thù” ? Có thể như vậy.

Có nhiều công trình nói đến một phần đề tài chúng tôi đang quan tâm, đã được xuất bản đặc biệt là ở nước ngoài.

Một nhận xét đầu tiên, về hình thức: Ở nước Trung – hoa nhân dân chưa hề có một công trình nghiên cứu lịch sử có liên quan xa, gần đến thái độ của chính phủ Bắc – kinh đối với vấn đề Đông – dương năm 1954. Điều đó không có nghĩa là không có các nguồn Trung – quốc liên quan đến vấn đề đó, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi nói về báo chí. Giờ đây, chúng tôi chỉ muốn nói rõ rằng một vài cuốn sách tuyên truyền về vấn đề Đông-dương dương xuất bản trong những năm 1950 ở nước Trung – hoa nhân dân có thể đem lại những dữ kiện đáng chú ý. Chẳng hạn như cuốn sách nhỏ của HuCh ‘i-an tên là “Trình bày về vấn đề Đông – dương” xuất bản ở Thượng – hải năm 1954 trong đó có một chương nói về hội nghị Giơ – ne – vơ và một chương khác nói về việc giải quyết cuộc khủng hoảng (chương IX và X). Một vài tạp chí chuyên ngành hiếm hoi xuất bản ở Bắc – kinh như “Nghiên cứu về các vấn đề quốc tế” cũng có thể cung cấp những tư liệu có ích.

Ngoài ra ở Đài – loan và Hồng – công cũng đã xuất bản nhiều công trình, sách nhỏ hay bài báo liên quan đến khía cạnh này, khía cạnh khác của vấn đề, và đó là những nguồn thông tin đáng quan tâm. Ví như cuốn sách nhỏ của Chang Tachiin “Vấn đề cộng sản Lào” nói về quan hệ giữa Việt Minh, Đảng cộng sản Trung – quốc và Pa- Thét Lào. Hoặc nữa, các bài trong các tạp chí của Trung – hoa quốc gia như “Nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản Trung – quốc” (đó là tạp chí nghiên cứu về Bắc –kinh), “Những vấn đề và những đề tài nghiên cứu” xuất bản ở Đài – bắc, hoặc là “Triển vọng”, “Xuân Thu” xuất bản ở Hồng – công, …Đối với những nguồn như vậy, cần phải phê phán nghiêm túc về mặt lịch sử, nhưng sự đóng góp của chúng đôi khi có giá trị.

Ở Pháp – người ta có thể nói cả ở châu Âu – chúng tôi chỉ biết có một cuốn “Sự kết thúc của một cuộc chiến tranh” của Giăng La- cu – tuya (Jaen Lacouture) và Phi –lip Đơ – vi – le (Philippe Devillere) xuất bản ở Pa –ri năm 1960.

Cũng như thường xảy ra, sự đóng góp về nguồn tư liệu chủ yếu là của Mỹ. Sự can thiệp ngày càng tăng của Mỹ vào bán đảo Đông-dương kể từ khoảng năm 1960 đã lôi cuốn các trường đại học và trung tâm nghiên cứu của Mỹ vào việc phát triển các công trình nghiên cứu về lịch sử Đông – dương, nhất là về chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản Việt –nam cũng như về việc thủ tiêu chủ nghĩa thực dân Pháp. Một công trình tiêu biểu của Men –vin Guốc – tốp (Melvin Gurtov) là cuốn Cuộc khủng hoảng Việt – nam đầu tiên có một tiêu đề mục “Chiến lược của cộng sản Trung – quốc và sự dính líu của Mỹ, 1953-1954” do trường đại học Cô – lum – bi – a xuất bản năm 1967. Công trình của Kinh C.Chen, Trung – quốc và Việt – nam, 1938- 1954, do trường Đại học Prin –xơ – tơn xuất bản hai năm sau đó, phản ánh cùng một mối quan tâm của một nước Mỹ phiền muộn, muốn tìm hiểu sự thật. Phải kể đến công trình nghiên cứu quan trọng của Rô- be – Ran – đơn (Robert Randle) Giơ – ne – vơ 1954: việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương cũng do trường đại học Prin – xơ – tơn xuất bản năm 1969, theo chúng tôi biết, đó là công trình duy nhất nghiên cứu một cách tổng thể về hội nghị Giơ – ne – vơ kể từ khi có cuốn sách Giăng – la – cu –tuya và Phi – lip Đơ – vi – le. Hết thảy các công trình nghiên cứu đó dựa một phần vào những nguồn tư liệu gốc. Đặc biệt R.F. Ran- đơn đã cố gắng khai thác những hồ sơ lưu trữ riêng của J.F. Đa – let cũng như “Sưu tập lịch sử về Đa let” của trường đại học Prin – xơ – tơn. Nhưng nếu nguồn này có thể cung cấp những dữ kiện đáng chú ý để tìm hiểu thái độ của Mỹ trong việc giải quyết (cuộc chiến tranh Đông – dương) thì hiển nhiên là nó lại không thể đem lại những tư liệu quyết định về thái độ của Trung – hoa nhân dân, vì các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Trung Quốc như người ta sẽ thấy, là rất sơ sài trong thời gian hội nghị Giơ – ne – vơ. Không kể một vài cuộc nói chuyện với các nhân vật chính trị, những tác giả nói trên chủ yếu đã phải dựa vào các hồi ký của các nhà chính trị và các báo chí Mỹ và Trung – quốc.

Đồng thời chúng tôi cũng phải nói đến các công trình nghiên cứu của Liên – xô đã tăng lên gấp bội trong những năm gần đây, nhất là các công trình của Viện nghiên cứu Viễn đông – Mát – xcơ – va. Rõ ràng sự phát triển mối xung đột Trung – Xô đã đưa các sử gia Nga ngày càng nhấn mạnh đến những sự bất đồng giữa Liên – xô và Trung-quốc về chính trị đối ngoại. Do đó các công trình nghiên cứu của Liên–xô là một kho thông tin tư liệu quý báu có thể khai thác được. Nhưng cũng chắc chắn rằng nếu ở đâu cần phải chú ý đặc biệt đến việc phê phán về mặt lịch sử thì chính là ở các công trình này. Việc so sánh giữa hai công trình nghiên cứu của M.S. Ca-pit-sa (M.S. Kapitsa) (nguyên là thành viên của đoàn đại biểu Liên – Xô tại Giơ – ne – vơ), cuốn “Quan hệ Xô – Trung” xuất bản năm 1958 và cuốn “Nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa: hai chục năm – hai chính sách” xuất bản năm 1969, có tác dụng đặc biệt soi sáng về phương diện này. Các công trình mới xuất bản đó cũng thường đưa lại những dữ kiện mới không thể phủ nhận được. Chính vì vậy chúng tôi sẽ coi trọng các công trình đó.

Sự đóng góp của công trình nghiên cứu của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, là ở chỗ công trình đó dựa trên những hồ sơ lưu trữ, trong trường hợp đặc biệt này là những hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Pháp.

Những hồ sơ này là của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị Giơ – ne – vơ, của Vụ chính trị và của Bộ các quốc gia liên kết trước đây. Tức là những biên bản của các cuộc nói chuyện bán chính thức diễn ra tại hội nghị Giơ – ne – vơ giữa hai đoàn đại biểu Trung – quốc và Pháp và đó là những nguồn tư liệu đáng chú ý nhất. Trong số này có cả thư từ trao đổi giữa Pa-ri với Giơ – ne – vơ và Sài Gòn, cũng như Pháp và các đồng minh của mình.

Việc sử dụng những hồ sơ lưu trữ đặt ra một vấn đề phương pháp mà chúng tôi không có ý định lẩn tránh: có thể chấp nhận đến mức nào việc phân tích chính sách đối ngoại của một Nhà nước, trong trường hợp này là Trung – quốc, bằng cách dựa rất nhiều vào hồ sơ của một nước khác, như trong trường hợp này là nước Pháp, như chúng tôi sẽ làm? Cách tiến hành như vậy – có cần phải nhấn mạnh điều này không? Không thể coi là hoàn hảo. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng con đường phải đi là như vậy vì ba lý do chính:

Trước hết, vì cho đến lúc kết thúc, Đông – dương chủ yếu vẫn là một vấn đề của nước Pháp. Trong quá trình hội nghị Pháp vẫn là người đối thoại được Trung – quốc ưu đãi. Vậy thì nếu những hồ sơ lưu trữ của Pháp rõ ràng là không thể đem ra thay thế hồ sơ lưu trữ của Trung-quốc thì người ta có thể thừa nhận rằng, ngoài hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc ra, đó là những tài liệu bổ ích nhất để nắm được đâu là những phương hướng chủ yếu của nền ngoại giao Trung – quốc.

Thứ hai, vì các biên bản của các cuộc họp tiếp xúc hẹp và bí mật mà lần đầu tiên chúng tôi có thể khai thác được, cho phép nắm được, nếu không phải là nguyên nhân thì ít nhất cũng là điều kiện, bối cảnh của chính sách Trung Quốc như đã được diễn đạt đúng như thế.

Cuối cùng, vì trong một chế độ xã hội chủ nghĩa như là Trung –quốc, báo chí, đài phát thanh hoàn toàn do Nhà nước kiểm soát, cũng là một ngồn thông tin không thể xem thường được. Báo chí Trung – quốc tự một mình nó – chủ yếu là báo hàng ngày như Nhân dân nhật báo và bản tin Tân Hoa xã – không thể là một cơ sở đủ cho việc nghiên cứu lịch sử. Trái lại, đem đối chiếu với các loại tư liệu gốc thì ngược lại báo chí trở thành một loại tư liệu bổ sung cần thiết. Một thứ bổ sung cứ mỗi bước lại đưa ra những sự so sánh đôi khi khá phong phú. Về phương diện này, chúng tôi coi báo chí Trung – quốc như một nguồn nếu không phải là chủ yếu thì ít nhất cũng là quan trọng hàng đầu.

Như vậy, tính chất của ngay các hồ sơ lưu trữ của chúng tôi chắc chắn sẽ đưa đến chỗ nói quá nhiều về quan hệ Trung – Pháp. Chắc chắn là trong cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Trung-quốc và phương Tây, nước Anh cũng đóng vai trò quyết định. Vậy mà, để phân tích quan hệ Trung–Anh, chúng tôi chỉ có tập Hồi ký của ngài I-đơn (Sir Anthony Eden) người dẫn đầu đoàn đại biểu Anh đã có nhã ý trao đổi với đoàn đại biểu Pháp. Thật là ít. Chắc chắn rằng đến ngày nào có thể khai thác được hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Anh thì sẽ hài lòng được thấy rõ hơn tầm quan trọng của các cuộc hội đàm giữa người đứng đầu nền ngoại giao Anh và Chu Ân Lai nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng Đông – dương.

Những tập hồi ký của nhiều nhân vật chính giới được xuất bản từ 1954 cũng giúp đỡ chúng tôi ít nhiều. Nhưng ở lĩnh vực này, việc phê phán các nguồn tư liệu cũng phải đặc bịêt ghiêm túc.

Trước hết, bởi vì thể loại văn học này cực kỳ phức tạp. Thế nào gọi là hồi ký? Hiển nhiên là không thể nghi ngờ gì được các tập Hồi ký I-đơn, nhật ký bảy năm của Ô–ri–ôn (Vincent Auriol). Bình luận của So–ven. Hồi ký của tướng Sa–lăng (Raoul Ralan) hoặc của Ê – ly (paul Ely) thuộc thể loại này và được sử dụng như các loại hồi ký. Nhưng những trang (171-176) trong cuốn Đảng cộng sản Trung – quốc cầm chính quyền mà Ghi – éc – ma (Jacques Guilermaz) viết về hội nghị Giơ – ne – vơ phải chăng được coi là “hồi ký” bởi lẽ tác giả là thành viên của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị? Hay là những trang (108-117)- không bổ ích gì lắm-trong cuốn Vấn đề Đông – dương từ sau chiến tranh thế giới lần thứ haiQuan hệ Xô – Trung của M.S. Ca – pít – sa cũng thế, bởi vì cũng như La-vrit – sép, M.S. Ca – pít – sa có mặt ở Giơ – ne – vơ lúc đó? Chắc chắn không phải như vậy. Vì chúng tôi đã cố ý chọn những cuốn sách mà việc biên soạn đã làm cho các công trình mang tính chất nghiên cứu bậc đại học, nghiên cứu chính thức chứ không phải là hồi ký. Nhưng giữa những thái cực đó, chúng ta sẽ xếp vào loại nào cuốn sách nhỏ nhan đề Tiếng vang trung thực của đại tá Ê – vôn (Reyert B. Ek vall) nguyên là phiên dịch tiếng Trung – quốc của đoàn đại biểu Mỹ tại Giơ – ne – vơ? Đó là kỷ niệm của một cuộc hội nghị hay là những điều khó hiểu về chính trị bắt nguồn từ những sự khó khăn trong việc phiên dịch. Hoặc cuốn sách của Hoàng Văn Chi nhan đề Từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản. Đó là một công trình nghiên cứu về cải cách ruộng đất của Vịêt-Minh trong những năm 1953 – 1956 hay là chuyện kể của một nhân vật đặc biệt nhạy cảm đối với sự bành trướng về ý thức hệ của Trung – quốc ở Việt-nam? của La-vrit-sép (Alexandr Lavrisev) cũng được coi là “hồi ký” chăng ? Bởi vì tác giả cũng đã tham dự hội nghị với tư cách Tổng thư ký của đoàn đại biểu Liên – xô. Hoặc những trang (401-403) trong cuốn

Nhưng đương nhiên, những lầm lẫn về tài liệu hoặc việc “viết lại” lịch sử là những khó khăn nghiêm trọng nhất. Nhớ nhầm chăng? Đại sứ Sô – ven là ngưòi đã có mặt tại hội nghị từ ngày đầu tiên đến ngày cuối đã nhớ lại rất kỹ “cái động tác rất tiêu cực của Đa-let” lúc 20 giờ 40 ngày 15 tháng 6 khi ông này giơ tay tỏ ý không muốn hội nghị tiếp tục bàn về vấn đề Triều – tiên. Vậy mà Đa-let đã rời Giơ – ne – vơ ngày 3 tháng 5 không bao giờ trở lại đó nữa cho đến khi đạt được thoả thuận ngày 21 tháng 7. Hoặc nữa là cuộc nói chuyện dài với Chu Ân Lai ngày 19 tháng 6 khiến cho phiên họp của hội nghị phải lùi lại bốn tiếng đồng hồ, nhưng cuối cuộc nói chuyện, đại sứ Sô – ven đã dành được điều ông ta muốn. Vậy mà hồ sơ của Bộ Ngoại giao thì lại chứng minh một cách không thể bác bỏ được rằng cuộc nói chuyện đó đã diễn ra ngày 2 tháng 6 và Chu Ân Lai đã hoãn câu trả lời đến ngày hôm sau. Và người ta thường ngờ rằng nhiều tập hồi ký khác cũng có thể đưa ra nhiều ví dụ tương tự.

Tuy nhiên, nhiều công trình về thể loại đó là những nguồn thông tin có giá trị. Đặc biệt là tập hồi ký của I-đơn hay của đại sứ So-ven là những tư liệu, mặc dù có những nhầm lẫn mà chúng tôi nêu lên ở trên, đã phác một bức tranh không phải là không bổ ích về cuộc hội nghị. Chúng tôi cũng nhớ những hồi ký của các vị chỉ huy quân sự (các tướng Sa-lăng, G.Ga-tơ-ru, H.Na-va, P. Ê-li) đã cung cấp những nguồn tin quý giá về sự giúp đỡ của Trung – quốc cho Việt – Minh trong năm 1953 – 1954 hoặc về cách thức các tướng lĩnh đó đánh giá sự “đe doạ” của Trung – quốc. Cuối cùng là các hồi ký của chính khách nhà nước Pháp và nước ngoài (D.Ai-xen – hao, J.La- ni – on, V. ô – ri – ôn) là những người trước và trong cuộc khủng hoảng đã cầm vận mệnh của những nước trực tiếp dính líu đến.

Phần lớn những nhận xét của chúng tôi đối với các tập hồi ký mà chúng tôi đã sử dụng, cũng áp dụng đối với các cuộc hỏi chuyện các nhân vật Pháp và nước ngoài trực tiếp liên quan đến các sự kiện đó. Chắc chắn rằng khả năng có thể hỏi chuyện trực tiếp những người có vai trò chính lúc bấy giờ là một chủ bài đáng kể. Nhưng cũng có mối nguy hiểm hiển nhiên không kém. Một phần bởi vì hai chục năm đã trôi qua kể từ năm 1954, những kỷ niệm và cảm tưởng lúc bấy giờ đã dần dần phai nhạt trong những sự giải thích sau này. Làm sao những nhân chứng của năm 1954 và mà phần lớn tiếp tục theo dõi sát hoặc ít tiến trình chính trị ở Viễn – đông, ngày nay lại có thể dừng lại ở những điều mà họ đã từng biết, từng suy nghĩ năm 1954 mà không xen lẫn những ý nghĩ nảy sinh ra do những sự kiện mới đây hơn? Đó là một nhận xét chung nhưng càng tỏ ra thích hợp khi đối với một vấn đề mà từ hội nghị Giơ – ne – vơ đến nay luôn luôn chiếm vị trí thời sự hàng đầu.

Vả lại, – có cần phải nói rõ ra không – trong các cuộc hỏi chuyện đó, không thể hoàn toàn loại trừ ý muốn dựa vào kinh nghiệm đã qua để bào chữa cho thái độ này hoặc thái độ khác. Những cuộc tranh luận của các vị thủ tướng Bi – đôn và Măng – đét – Phrăng về vấn đề Đông – dương đã được biết đến đủ đến nỗi không cần thiết phải nhấn mạnh nhiều hơn đến những giới hạn vốn có của loại nguồn tư liệu lịch sử nói trên.

Những khó khăn đó, quá hiển nhiên, đã không làm chúng tôi hoàn toàn xa lánh việc nhờ cậy các cuộc nói chuỵện để bổ sung cho thiếu sót này hoặc thiếu sót khác trong hồ sơ lưu trữ hoặc để soi sáng trường hợp này hoặc trường hợp khác. Nhưng nói chung, chúng tôi chỉ sử dụng thông tin lượm được qua các cuộc nói chuyện như những nguồn phụ mà thôi. Không bao giờ chúng tôi dựa trên một kết quả duy nhất của một cuộc nói chuyện để nói một điểm quyết định trong luận văn của chúng tôi. Trong phần lớn trường hợp, những thông tin tập hợp được theo cách đó chỉ sử dụng ở phần chú thích ở cuối trang.

Còn về các hồ sơ lưu trữ thì điều mong muốn là các cuộc hội đàm với các nhân vật Trung – quốc. Chắc chắn là nếu không có thể hỏi chuyện được những người có vai trò hàng đầu, thì tình hình có thể khác khi hỏi đến các nhân vật cấp thấp hơn. Một vài lần tiếp xúc với ông Đào Quý Sinh (Tsao Kuet – Sheng), bí thư (hoặc phó bí thư) ở Bộ Ngoại giao Trung – quốc năm 1954, thành viên của đại biểu Trung – quốc tại Giơ – ne – vơ, mới đây là tham tán Đại sứ Trung – quốc tại Pháp đã mau chóng chỉ cho thấy điều mong muốn của chúng tôi là ảo tưởng. Có nghĩa là những cuộc hỏi chuyện về vấn đề này chỉ có thể thực hiện được với những nhân vật không cộng sản của Pháp hay của nước ngoài.

Còn một điểm cuối cùng về phương pháp mà chúng tôi muốn đề cập đến.

Thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất là do một loạt nhân tố bên trong – việc phân tích những nhân tố đó là giai đoạn đầu của cuộc điều tra của chúng tôi – và bên ngoài. Về nhân tố bên ngoài không thể đem cô lập một cách độc đoán so sánh lực lượng trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa với so sánh lực lượng giữa Đông và Tây. Tất cả những nhân tố đó gắn quá chặt chẽ với nhau mà không thể tách rời nhau. Tuy nhiên chúng tôi sẽ dành phần chủ yếu trong sự trình bày của chúng tôi cho thái độ của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa đứng trước các cường quốc của phương Tây. Nếu chúng tôi cố ý hạn chế phạm vi điều tra của chúng tôi chính là vì những hồ sơ lưu trữ mà chúng tôi dựa vào không cho phép chúng tôi đi xa hơn. Chắc chắn là chúng tôi sẽ phải luôn luôn đề cập đến mối quan hệ giữa Cộng hoà nhân dân Trung – hoa và đồng minh (Liên – xô và Việt- nam dân chủ cộng hoà) hay với các nước bạn bè (Ấn độ, nhất là Miến – điện). Vì một lần nữa, tất cả các mối quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể đề cập đến một cách nào hơn là xem xét tổng thể các mối quan hệ đó. Nhưng cũng phải rõ là mức độ “đúng đắn” của các dữ kiện của chúng tôi cũng không ngang nhau tuỳ theo khi nói về quan hệ giữa Trung – quốc và phương Tây hoặc ngược lại, giữa Trung – quốc và các đồng minh xã hội chủ nghĩa hay các nước bạn bè và châu Á. Có nghĩa là công trình nghiên cứu này có thể đi đến một vài kết luận vững chắc đối với quan niệm của Trung – quốc về cùng tồn tại hoà bình với Phương Tây năm 1954 chẳng hạn, nhưng không nên trông đợi nhiều vào những kết quả dứt khoát khi nghiên cứu về tình hình quan hệ Trung – Xô hoặc Trung -quốc – Việt – Minh trong cùng thời gian đó.

Thiếu nguồn tư liệu gốc, lại phải giới hạn mục tiêu của cuộc điều tra, một vài kết luận có thể đạt được còn mỏng manh, vậy thì làm sao lẩn tránh được câu hỏi cuối cùng nhưng cơ bản này: Ngày nay liệu người ta có thể viết lịch sử về vai trò của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất hay không?

Thực ra vấn đề này trùm lên một vấn đề khác, nghiêm trọng hơn: có thể viết lịch sử thời đại hiện nay không? Bởi vì năm 1954 đó chính là thời đại chúng ta. Không thể chối cãi rằng những sự kiện chúng ta muốn phân tích và giải thích hiện vẫn còn tồn tại một cách kỳ lạ. Vào lúc chúng tôi biên soạn công trình này, vấn đề Đông – dương chưa được hoàn toàn giải quyết. Những con người, nhiều khi vẫn là những con người ấy: Phạm Văn Đồng, Xu – pha –nu – vông, và những người khác. 25 năm sau, vẫn còn đứng ở hàng đầu thời cuộc. Có nghĩa là những ham muốn cách đây 20 năm vẫn còn là một phần những ham muốn hiện nay. Vậy thì, phải chăng đó là lịch sử?

Chúng tôi ý thức được những khó khăn do một tình hình như vậy gây ra. Nhưng chúng tôi càng không chịu bỏ cuộc.

Tất nhiên lịch sử cần một bước lùi để hiểu biết nó. Nhưng nó cũng cần nhân chứng, kể cả nhân chứng còn sống. Lịch sử không thể vô tình theo cách cảm thụ cả bản thân những người đương thời đối với những sự kiện nó. Việc khai thác báo chí, hoặc có mặt tại cuộc thương lượng có thể, theo chúng tôi, về phương diện đó, một lịch sử nào đó có thể và phải viết cùng với sự kiện diễn ra.

Vả lại – nhưng phải chăng đó là một lý lẽ? – trông chờ có được hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc, tức là chịu bó tay không biết được lịch sử trong một tương lai thấy trước. Vậy mà chính sách của Trung – quốc tiếp diễn, ở Đông – dương cũng như ở nơi khác. Những phương tiện điều tra của chúng tôi dù không hoàn hảo thì ngay từ giờ phải cố tìm hiểu. Chúng tôi cảm thấy những lý lẽ đó làm sôi sục cuộc thảo luận bất tận về chức năng của lịch sử. Bảo tồn quá khứ ư? Hướng dẫn tương lai ư? Chúng tôi không đi vào con đường đó. Nhưng có lẽ chúng tôi nhớ rằng lịch sử bao giờ cũng là con đẻ của thời đại, đã và sẽ không bao giờ có lịch sử chung cục. (?)

Vậy thì tại sao ngay từ hôm nay ít nhất lại không trình bày những nhân tố có sẵn trong tay? Chúng tôi biết rằng có những giới hạn không thể vượt qua. Giá trị duy nhất của công trình nghiên cứu của chúng tôi có lẽ sẽ là bản liệt kê những cái gì chúng tôi còn chưa biết. Nhưng phải chăng đó là cách góp phần vào tìm hiểu lịch sử?

Công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ phát triển thành bốn phần.

Phần thứ nhất muốn giới thiệu tình hình Trung – quốc năm 1954 (chương I). Vấn đề Đông – dương nhìn từ Bắc – kinh (chương II) đồng thời các cuộc thương lượng quốc tế sẽ phải dẫn đến việc mời Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham dự hội nghị Giơ – ne – vơ (chương III).

Quả thực, việc nghiên cứu tình hình chính trị và kinh tế Trung – quốc mũa xuân năm 1954 là cần thiết để phân tích và tìm hiểu những mục tiêu chủ yếu mà Chu Ân Lai theo đuổi khi đến Giơ – ne – vơ. Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, mức độ ưu tiên dành cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, tình hình bên ngoài của quốc gia trẻ tuổi và những tham vọng của nó trong lĩnh vực này sẽ quyết định ở mức độ lớn nền ngoại giao Trung – quốc tại cuộc hội nghị. Thêm vào đó là cách nhìn đặc biệt và truyền thống đối với mối quan hệ Trung-Việt, mà chúng tôi thấy cần nêu lên một số chi tiết, bởi vì cách nhìn đó sẽ đóng vai trò có lẽ là không thể coi thường được, về phía Trung – quốc cũng như về phía Việt – nam trong việc tiến hành cuộc thương lượng.

Nhưng một chính sách đối ngoại không phải chỉ là tổng hợp các lực lượng bên trong: đó còn là sự thích nghi thường xuyên các biện pháp và mục tiêu của dân tộc với các trở ngại và khả năng với các hệ thống quốc tế đem lại. Có nghĩa là cần phải đồng thời chú ý đến viện trợ chính trị, kinh tế và quân sự của Trung – quốc cho cộng sản Việt – nam và những phản ứng của phía Pháp và cường quốc phương Tây khác đối với sự viện trợ đó.

Cuối cùng, chương III, một loại chuyển tiếp đi đến nghiên cứu chính hội nghị Giơ – ne – vơ, nói về cuộc gặp gỡ ở Béc – lin, có nghĩa là việc bốn “nước lớn” khác mời Cộng hoà nhân dân Trung – quốc đến Giơ – ne – vơ và các phản ứng của chính phủ Bắc – kinh đối với lời mời đó.

Với phần thứ hai, chính là nghiên cứu diễn biến bản thân cuộc thương lượng, đánh dấu bằng sự thất bại của cuộc đàm phán về vấn đề Triều – tiên ngày 15 tháng 6 năm 1954. Giai đoạn Triều – tiên của hội nghị Giơ – ne – vơ không bao giờ được các cường quốc coi như một cuộc gặp gỡ quốc tế có tầm quan trọng hàng đầu, khi rõ ràng là không một thoả thuận nào có thể đạt được từ hội nghị đó. Tuy nhiên chắc chắn đánh giá rất sai lầm, nhất là đối với Trung – quốc, nếu tách rời hoàn toàn các vấn đề Triều – tiên và Đông – dương. Việc nghiên cứu đơn thuần trình tự thời gian các sự kiện sẽ chỉ ra rằng sự thất bại của cuộc hội nghị về Triều tiên đã thay đổi đến mức nào thái độ của Chu Ân Lai. Vấn đề này, được đề cập ngay từ chương IV nói về việc khai mạc hội nghị, sẽ là kết luận lo-gích của chương IV, đồng thời của cả phần hai. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ nói đến các cuộc gặp diễn ra “song song” ngay từ đầu, giữa đoàn đại biểu Trung – quốc với những người phương Tây trong nhiều vấn đề chính trị và kinh tế (chương V). Nếu cuộc hội nghị Giơ – ne – vơ, theo con mắt phương Tây , còn đáp ứng với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất, thì đó cũng là cơ hội để Trung – quốc tiến hành nhiều cuộc thương lượng khác nhau, không trực tiếp ảnh hưởng đến Đông – dương nhưng lại có tầm quan trọng chủ yếu đối với việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Trung – quốc trong thời kỳ này.

Thái độ của Trung – quốc trong giai đoạn hai của hội nghị – giai đoạn bổ ích nhất – sẽ là đề tài chính của phần thứ ba. Đó sẽ là dịp đề cập chi tiết hơn vấn đề Lào và Cam-pu-chia. Trong đó, thủ tướng Trung- quốc đóng vai trò quyết định (chương VII). Cũng là dịp chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu đến toàn bộ chính sách Trung – quốc ở Nam Á và Đông Nam Á bằng cách theo dõi chuyến đi thăm của Chu Ân Lai ở Niu – Đê – li và Răng – gun (chương VIII). Cuối cùng, Chu Ân Lai trở lại Giơ – ne – vơ để tiến hành mười ngày thương lượng cuối cùng (chương IX); mười ngày thiết yếu để hiểu được những mục tiêu của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng này.

Đối với ba phần đầu của công trình này, chúng tôi đã đưa ra đề mục chung: “Tự khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế”. “Ngăn cấm Mỹ vào Đông –dương” và “áp đặt các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”. Sự lựa chọn của chúng tôi là do các đề tài chủ chốt trong mỗi phần: Vị trí của cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong hàng ngũ các “nước lớn” khi nói về hội nghị Béc – lin, vấn đề quốc tế hoá cuộc chiến tranh vào giờ phút khai mạc hội nghị Giơ – ne – vơ và vấn đề năm nguyên tắc, khi nói đến quan hệ giữa Trung – quốc, Lào và Cam –pu – chia, cũng như khi nói đến cuộc đi thăm của Chu Ân Lai ở Ấn Độ và Miến – điện. Như vậy, rất rõ ràng đó là ba tư tưởng chủ đạo của toàn bộ chính sách Trung – quốc năm 1954 vào bất cứ thời kỳ nào, bất cứ vấn đề gì và ở bất cứ vùng nào trên thế giới.

Cuối cùng, phần thứ tư dành cho kết luận và suy nghĩ có thể rút ra từ cuộc gặp gỡ ở Giơ – ne – vơ giữa Trung -quốc và các cường quốc phương Tây. Để làm việc đó, chúng tôi đi theo ba hướng: Nghiên cứu các điều đã thoả thuận cách thức Trung – quốc giải thích và tôn trọng (hiệp định) để đưa chúng ta đến xác định rõ bản chất của chính sách Trung – quốc ở Đông – dương (chương X). Rồi vượt khỏi khuôn khổ địa lý chật hẹp đó, chúng tôi thử lường các hậu quả của việc giải quyết cuộc khủng hoảng đó đối với “hình ảnh” và vị trí của Trung – quốc mới trên thế giới (chương XI)…Cuối cùng đi từ cái riêng nhất đến cái chung nhất, chúng tôi cố gắng nêu bật điều chủ yếu mà việc nghiên cứu kỹ lưỡng cuộc hội nghị này có thể đem lại là phân tích những phương hướng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Trung-quốc (chương XII).

Đăng trong Chiến tranh VN, Trung Quốc, Điểm sách | 1 Comment »

Tin 25-12-2009

Đăng bởi anhbasam on 25/12/2009

Tin tối (thứ Sáu, 25-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Á… quá hay! Anh Quát được vinh danh, liên quan tới: “Năm hạn của nghề đánh máy”, vì sau anh đã có người học ngay chiêu nầy: Những phát ngôn ấn tượng năm 2009.

Nhưng xin bổ sung thêm cho Tuần VN chút, là cần dẫn bài trả lời phỏng vấn trên Tuổi trẻ, để thấy tài năng đạo đức của ảnh tới đâu.

Thêm nữa, bà con có thể đọc một bài trên tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng CSTQ ngay sau vụ lùm xùm nầy (nhưng trước khi có hình thức kỷ luật), có nhắc tới anh Quát: 302. Hình mẫu TQ có được lặp lại? (“Mới đây, ông Đào Duy Quát, tổng biên tập Báo Điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã kết luận về những kinh nghiệm cải cách và mở cửa của Trung Quốc như sau: tìm thấy một con đường phát triển phù hợp với điều kiện nước bạn, tuân theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và giữ gìn khối đoàn kết tất cả các dân tộc.” ) Không biết có phải đó là “thông điệp” nhắc nhở chi chi đó với VN không?

- Toàn văn Bản cáo trạng của VKSND Tối cao đối với Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long (X-cafe)

- TP HCM:Tha hồ trục lợi từ “mỏ vàng” công sản (VNN).

- Hà Nội: Gần như không có khả năng tự phát hiện tham nhũng (VNN). Chắc chỉ còn cách cuối cùng là “khoán” cho lãnh đạo các cơ quan, mỗi năm phải phát hiện bao nhiêu vụ tham nhũng, nếu không là giáng cấp? Hic hic!

- Rồi cái nầy nữa: phát hiện sai phạm lớn, không thấy màu “hình sự”, chỉ có Yêu cầu xử lý nhiều sai phạm tại VNPT (VNEconomy)

- 20 năm trước: CHÍNH BIẾN ĐẪM MÁU TẠI ROMANIA (3) (NCTG).

KINH TẾ

- PetroVietnam to earn over $14 bln this year (Xinhua)

- Nhiều doanh nghiệp da giày đứng trước nguy cơ phá sản (VNN) do quyết định tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với giày mũ da Việt Nam của Ủy ban châu Âu.

- Vì sao tỷ giá USD/VND đứng yên? (VNEconomy)

- Xuất khẩu rau quả: Cung không đủ cầu (VNEconomy)

- Chinese motorcycle company operating in Vietnam eyes opportunities in China-ASEAN FTA (Chinaview.com/Xinhua).

VĂN HÓA-THỂ THAO

- Triết lý nhân sinh qua món ăn của người Thái Tây Bắc (Việt văn Mới).

- Đặng Nghiêm Vạn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người (19) (web Triệu Xuân).

- Khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng tôn giáo ở đô thị miền Nam 1954-1975 (Viet-Studies).

- Chà chà … Ra mắt “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” bằng tiếng Lào (TTXVN). Nên có cả tiếng Triều Tiên, Mông Cổ, Cuba nữa.

- Quanh chuyện tiền thưởng thành tích SEA Games Cào bằng hay công bằng? (TNiên). Đúng là không ổn.

- Hoàng Thiên gây chấn động làng quần vợt Mỹ (TNiên)

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- ‘Kiểm định đại học Việt Nam theo đúng chuẩn Hoa Kỳ’ (VNN). Kết quả kiểm định 20 trường Bộ không công khai rộng rãi, tôi cũng không hiểu lí do. Tội quá! Có chi mà không hiểu được. 1- Khẩu cấp phép “có vấn đề”; 2- Giờ phải xoay xở để  giải quyết cái “vấn đề” đó; 3- Muốn giàn xếp “ổn thỏa” (tức là lại nảy sinh thêm “vấn đề” mới nữa) trước khi công bố.

Nhiều “vướng mắc” quá: Điều lúng túng nhất trong vấn đề kiểm định ĐH của Việt Nam hiện nay là vẫn chưa thành lập cơ quan kiểm định độc lập. Nghị định Chính phủ đã có nhưng đến nay chưa có thì không hiểu mắc ở khâu nào.”

- Nghịch lý thiếu – thừa giáo viên: Mạnh ai nấy làm, giáo sinh lãnh đủ (TTrẻ). Bộ GD-ĐT quản nhiều thứ chặt lắm mà sao chuyện nầy lại lỏng vậy? Bỏ tiền học hành, tốn kém, cơ cực, lãng phí nhân lực, … dân lãnh đủ.

- Tập huấn phương pháp đánh giá kỹ năng nghề (TTrẻ)

- Nhựa sinh học – công nghệ của tương lai (VNN)

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Vietnam jobless rate lower than expected (Earth Times/DPA)

- Phở muôn màu, đa sắc tộc, ở Cali (NV/Viet-Studies)

-  Tiếp tục chuyện bí ẩn: Xuất hiện nhiều ca ‘mang bầu’ kỳ quái ở Quảng Trị (ĐViệt).

- Những cô gái bán thân kêu cứu – Bài cuối: Cơ quan công an vào cuộc (TNiên). “Cứ để dành được nhiều tiền là bị bắt” nhưng vẫn biểu Không có chuyện chung chi”… Hi hi! Quá dễ hiểu. Nên phải nói là công an đã vào cuộc từ lâu rồi đó chớ.

- Hà Nội: Đầu gấu vào tận viện chém bệnh nhân (TPhong)

- Nghi chồng có bồ, vợ cắt ‘của quý’ (TPhong). Chuyện nầy BS đã lên tiếng báo động mà các ban ngành vẫn chưa có giải pháp để bảo vệ nam quyền. Đúng là Phái yếu mạnh quá!

- Bắt 26 tên móc túi trong đêm Noel (NLĐộng).  – Trống đồng Đông Sơn tại Đà Lạt đã biến mất (VNN)

- GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân: Những vấn đề cần làm rõ về Dự án kênh Quan Chánh Bố (ĐViệt).

- Chuyện xe tự chế: Mệnh lệnh, tình người và ứng xử văn hóa (ĐĐKết)

- Mối nguy từ hộp quẹt “khủng” (SGTT). Vẫn là hàng Trung Quốc.

- Đình công giảm – quan hệ lao động đã cải thiện? (SGTT).

- Hàn Quốc: Đa số cô dâu nước ngoài cầu cứu hỗ trợ là người Việt (SGTT). Dễ hiểu.

- Rác điện tử huỷ hoại tuổi thơ (SGTT).

QUỐC TẾ

- Triều Tiên sẽ thử bom hạt nhân lần 3? (KHĐS).

- Thực lực quân sự của Trung Quốc kém xa Mỹ (VNN).

- Mỹ có thực sự cô lập được Iran? (VNN).

- Nhật-Hàn lại nóng lên chuyện biển đảo (VNN)

- Trung Quốc – Đài Loan xích lại gần hơn (VNEconomy)


Tin sáng (thứ Sáu, 25-12-2009)

CHÍNH TRỊ-LUẬT PHÁP

- Hiện đại hóa quân đội không đơn giản (RFA/Viet-Studies).

- Vietnamese Minister of Defense General Phung Quang Thanh (CSIS).

- TS Trần Vinh Dự:  Thăm chiến hạm USS Chafee nghĩ về xung đột ở Trường Sa (VOA).Thăm chiến hạm USS Chafee nhớ về trận chiến Trân Châu cảng.

- Ái dà … Quy trình 10 điểm để Việt Nam phát triển khác Trung Quốc (P.1) (TuanVN). TS Giáp Văn Dương. Có mấy cái đề nghị nầy nghe cũng sướng chút: 3. Mở rộng dân chủ”, “4. Trọng dụng trí thức, chuyên gia”

- Tại Việt Nam, các đêm Giáng sinh truyền giảng Tin Lành thu hút hàng chục ngàn người tham dự (RFI).  – Giáo xứ Thái Hà đón Noel trong hy vọng vào đối thoại và hòa giải.

- Phóng Viên Không Biên Giới phản đối Việt Nam truy tố ông Lê Công Định với tội lật đổ chính quyền (RFI).

- Đánh giá cuối năm: Anh bầu tôi, tôi bầu anh (VNN). Nhân viên không được đánh giá lãnh đạo”

- Trung Quốc tức giận vì ‘bị can thiệp’ (BBC). – Trung Quốc kết án tử hình bạo động.

- Tại Rumani, chế độ cộng sản sụp đổ đã 20 năm nhưng niềm vui không trọn vẹn (RFI)

- Cha đẻ thuyết “Quyền lực mềm” nhìn nhận 2009, dự báo 2010 (TuanVN)

KINH TẾ

- TKV làm khó cho EVN (blog Mạnh Quân/SGTT). – Tháo dỡ cáp để… gây sức ép (NLĐộng)

- Nước … ngập cổ mới …la (chớ chưa “nhảy” được đâu): Phát triển công nghiệp hỗ trợ, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: “Sẽ ưu đãi mức tối đa” (TTrẻ)

- Nước mắm Phú Quốc: Mai này, ai nhớ…?! (LĐộng)

- Xuất khẩu 110 tấn gạo chất lượng cao sang Mỹ (TTXVN).

- Góp phần vô thành tích … hứa đầu tư: Dự án khu liên hợp thép – cảng biển ở Ninh Thuận: Đồng ý cho “cắt” cảng biển (TTrẻ).

- Xem xét rút giấy phép kinh doanh hàng không của Indochina Airlines (PLTP)

- TPHCM: Vốn thu hút đầu tư tại các khu chế xuất giảm 50% (VietStock)

- Cung-cầu lao động mất cân đối nghiêm trọng (TTXVN)

- Vietnam’s Niche Marketing Strategy Meets Global Realities (NYT)

- Vietnam to join world rubber cartel (Antaranews)

- Trung Quốc mua lại Volvo và Saab để thống lĩnh thị trường xe hơi thế giới (RFI).

VĂN HÓA-THỂ THAO

- Đặt tượng cụ Phan ở đâu? (TTrẻ). Câu hỏi đặt ra từ ngày … “giải phóng” (1975), giờ vẫn phải hỏi, cho một tác phẩm có giá trị nghệ thuật hiếm hoi của cả nửa thế kỷ nay về danh nhân. Cách đây mấy năm cũng đã có người từng than: Chuyện Huế  (blog TS Ng.X. Diện).
Nhưng … BS cũng bàn thêm chút. Là nếu có ai băn khoăn việc có đưa tượng Ông Già Bến Ngự ra Quảng trường Huế hay không thì cũng … có lý. Vì ở đó chắc phải có cả tượng bác Hồ nữa chớ? Mà dám chắc là  giá trị nghệ thuật (hông phải chánh trị nha) không thể sánh nổi với tác phẩm độc đáo đó của Phạm Văn Hạng rồi. Hu hu … Tội các cụ quá!

Coi thêm: Chơi Huế (blog Trương Quý).Bức tượng Phan Bội Châu của Phạm Văn Hạng đặt trong vườn. Nghe đâu người ta định đặt ở một chỗ nào khác long trọng nhưng không làm được, đành để ở đây. Như thế lại hóa hay. Mình không thích kiểu tượng đài hoành tráng giữa đại lộ hay ngàn đài hoa kính dâng lên người.”

Óa! … Một sai sót? (Bổ sung tin nầy hồi 18h cũng ngày): một độc giả gởi thơ lưu ý là tác giả của bức tượng cụ Phan không phải của Phạm Văn Hạng, mà là của điêu khắc gia Nguyễn Thành Nhơn, đã mất ở Úc. Ba Sàm liền sợt trên mạng, thì phát hiện ra: Lê Thành Nhơn (1940-2002), hoạ sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng của Việt Nam, đã có các tác phẩm sau (Nhớ Lê Thành Nhơn (1940-2002) – VOA-Nguyễn Hưng Quốc): (Nội dung bài báo của Tuổi trẻ cũng cho biết tác giả là Lê Thành Nhơn)

A.Ở Việt Nam:

Tượng Quan Thế Âm bằng đồng tại trung tâm Liễu Quán, Huế
Tượng Phan Bội Châu bằng đồng, cao 3,5 mét tại Huế.
Tượng Phật Thích Ca tại trung tâm Phật học Huệ Nghiêm ở Phú Lâm, Sài Gòn, cao 4,5 mét bằng xi măng.

B.Tại Úc:
Tượng Dr Phillip Law hiện đang bày tại đại học Monash ở Melbourne và đại học Tasmania tại tiểu bang Tasmania, Úc
Tượng Joy cao khoảng 2m5 hiện dựng trước sân trường đại học Monash (Caulfield campus), Melbourne
Tượng “Đừng bỏ rơi tôi tự do” hiện bày tại Mekong Club, Sydney,
Tượng Phật Thích Ca hiện bày tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia Úc tại thủ đô Canberra.

Vậy có lẽ thông tin trên là đúng, cám ơn độc giả đã đóng góp.

- ĐỀ CỬ DIỄN VIÊN SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG: Ai cũng xứng đáng (NLĐộng)

- Ly kỳ bảo vật Việt Nam – Những pháp bảo vô giá tại chùa Trúc Lâm (TNiên)

- Quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài: Những người đưa sách xuất ngoại (TTrẻ)

- Đà Lạt: Tượng Phật cao 17,5 m bằng hoa bất tử (PLTP).

- Họa sĩ miền Tây Nam Bộ: Mấy ai sống được với tranh! (LĐộng).

- Uy tín của truyền hình với giới trẻ (TuanVN)

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

- Hiệu Minh (cây viết đang … du học? Mỹ): Thầy đồ Việt và giáo sư Tây (TuanVN)

- Đào tạo lại vẫn không xong (NLĐộng)

- Hic hic! Đại học chưa dám áp dụng “tự trị” như Sài Gòn ngày xưa, vậy mà đã có tiểu học “tự trị” rồi đây: BÌNH PHƯỚC: Một hiệu phó bị khiếu nại vì tự ý dỡ trường (PLTP)

- Chương trình nghiên cứu Hoa Kỳ dành cho giáo viên phổ thông (TTrẻ).

- Hết những anh Hai Lúa chế tạo trực thăng, giờ tới “anh Hai” khác nghiên cứu công nghệ Bỏ tiền tỉ xây hầm mộ ướp xác mình (GĐXH).

- Chuyển giao kỹ thuật nuôi trùn cho nông dân (VNN)

- Internet đã phát triển như thế (TTrẻ). Phần 2.

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

- Hà Nội, TP.HCM: Giao thông hỗn loạn đêm Noel (VNN). – Thú vị chuyện Ông già Noel đi giao quà: Welcome to NORAD Tracks Santa. Norad giúp trẻ em truy tìm ông già Noel bằng iPhone & iPod. Ông đang rất bận rộn đi giao quà ở các nước phương Tây sau khi giao xong quà ở châu Á, hiện tại ông đang giao quà ở Sur, OmanNhững chuyện kỳ thú về lễ Giáng sinh, Ông già Noel và Cây thông Noel… (blog Ph.V. Đào).
- Bản Chất của Niềm Tin (Da màu).   – Quà Giáng Sinh. Mục sư Lữ Thành Kiến.

- Tin-video trên VNN/AP cho biết đêm Giáng sinh bữa qua tại Vatican Giáo hoàng đã bị xô ngã.

Còn dưới đây là hình ảnh trên YouTube:

- Đại lộ Đông Tây “mặc áo vá” (TNiên)

- Hà Nội loay hoay giải ‘bài toán’ điểm đỗ ô tô (ĐViệt). BS nói hoài rồi, quy hoạch loạn xạ thì ắt không thể giải quyết nổi, gây phí phạm vô cùng những toan tính thử nghiệm (như xây nhà để xe cạnh Sân Vận động HN, bỏ không mấy năm, rồi đành tống Sở KHĐT vô ngồi) như chuyện nầy và các “hầm cầu” đường bộ nữa.

- Nhà nước sẽ tăng nguồn vốn đầu tư phát triển chợ (TTXVN). Rất nhiều chợ xây xong bỏ đó, giờ lại tăng vốn đầu tư, thì Nghị định sửa đổi có tăng khả năng kiểm soát được tình trạng nầy, hay lại thêm điều kiện thuận lợi cho lãnh phí, tham nhũng ?

- Bát nháo khu du lịch Thới Sơn (NLĐộng)

- Hành trình đến thiên đường ảo (TTrẻ). Ngó thiên đường đây mà hết mơ, hết ham 7 tỉ đô kiều hối/năm nha: Hàng triệu người Mỹ không có nhà để đón Giáng sinh (ĐViệt)

- Đà Nẵng cạnh tranh danh hiệu “Hòn Ngập Viễn Đông”: Dân chịu hết nổi với úng ngập, đường hư (TTrẻ)

- Bắt được cá ngát gần 10kg ở An Giang (ĐViệt).

- Ca “sinh nở” kỳ quặc (TNiên). Hiếm muộn, tin vào trò mê tín.

QUỐC TẾ

- 9 Thượng nghị sĩ Mỹ gửi thư tới thủ tướng Thái Lan bày tỏ lo ngại về vụ trục xuất người Hmong về Lào (RFI)

- Mỹ, Pháp xâu xé chán, giờ tới TQ: Học bổng “made in China”: Chiến lược mới của Trung Quốc tại lục địa Phi (TuanVN).

- Mỹ ký hợp đồng tên lửa trị giá 1,1 tỷ USD với Đài Loan (ĐViệt)

- Campuchia cáo buộc Thái Lan muốn đảo chính (TNiên)

- Nga thử thành công tên lửa mang 10 đầu đạn hạt nhân (DTrí)

- Tòa án Nga thừa nhận chính phủ bắt giữ trái phép cổ đông của Yukos (Vit)


Đăng trong Điểm báo/Blog | Tagged: | 18 phản hồi »